Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Mười 2017 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2017 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!

Lời Chúa Hằng Ngày - Tuần 3 Mùa Chay

Chủ đề trong 'Công Giáo' do KhucCamTa khởi đầu 19 tháng Ba 2017.

  1. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    20.3.2017 - Lễ Trọng Kính Thánh Giuse

    Thánh Giuse trở nên công chính nhờ niềm tin vào Thiên Chúa

    1/ Bài đọc I: 2 Sm 7:4-5a, 12-14a, 16 - Nhưng ngay đêm ấy, có lời Đức Chúa phán với ông Na-than rằng:
    5 "Hãy đi nói với tôi tớ của Ta là Đa-vít: Đức Chúa phán thế này: 12 Khi ngày đời của ngươi đã mãn và ngươi đã nằm xuống với cha ông, Ta sẽ cho dòng dõi ngươi đứng lên kế vị ngươi - một người do chính ngươi sinh ra - và Ta sẽ làm cho vương quyền của nó được vững bền.
    13 Chính nó sẽ xây một nhà để tôn kính danh Ta, và Ta sẽ làm cho ngai vàng của nó vững bền mãi mãi. 14 Đối với nó, Ta sẽ là cha, đối với Ta, nó sẽ là con.
    16 Nhà của ngươi và vương quyền của ngươi sẽ tồn tại mãi mãi trước mặt Ta; ngai vàng của ngươi sẽ vững bền mãi mãi."


    2/ Bài đọc II: Rm 4:13, 16-18, 22 - Thật vậy, không phải chiếu theo Lề Luật, mà Thiên Chúa đã hứa cho ông Áp-ra-ham và dòng dõi ông được thế gian làm gia nghiệp; nhưng ông được lời hứa đó, vì đã trở nên công chính nhờ lòng tin. 16 Bởi vậy, vì tin mà người ta được thừa hưởng lời Thiên Chúa hứa; như thế lời hứa là ân huệ Thiên Chúa ban không, và có giá trị cho toàn thể dòng dõi ông Áp-ra-ham, nghĩa là không phải chỉ cho những ai giữ Lề Luật, mà còn cho những ai có lòng tin như ông. Ông là tổ phụ chúng ta hết thảy, 17 như có lời chép: Ta đã đặt ngươi làm tổ phụ nhiều dân tộc. Ông là tổ phụ chúng ta trước mặt Thiên Chúa, Đấng ông tin tưởng, Đấng làm cho kẻ chết được sống và khiến những gì không có hoá có.
    18 Mặc dầu không còn gì để trông cậy, ông vẫn trông cậy và vững tin, do đó ông đã trở thành tổ phụ nhiều dân tộc, như lời Thiên Chúa phán: Dòng dõi ngươi sẽ đông đảo như thế.
    22 Bởi thế, ông được kể là người công chính.


    3/ Phúc Âm: 1:16, 18-21, 24a - Gia-cóp sinh Giu-se, chồng của bà Ma-ri-a, bà là mẹ Đức Giê-su cũng gọi là Đấng Ki-tô.
    18 Sau đây là gốc tích Đức Giê-su Ki-tô: bà Ma-ri-a, mẹ Người, đã thành hôn với ông Giu-se. Nhưng trước khi hai ông bà về chung sống, bà đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần. 19 Ông Giu-se, chồng bà, là người công chính và không muốn tố giác bà, nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo. 20 Ông đang toan tính như vậy, thì kìa sứ thần Chúa hiện đến báo mộng cho ông rằng: "Này ông Giu-se, con cháu Đa-vít, đừng ngại đón bà Ma-ri-a vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. 21 Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giê-su, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ."
    24 Khi tỉnh giấc, ông Giu-se làm như sứ thần Chúa dạy.


    * * *

    SUY NIỆM: Thánh Giuse trở nên công chính nhờ niềm tin vào Thiên Chúa.

    Con người luôn bị giằng co giữa hai thái cực: một bên là đức tin tuyệt đối vào sự khôn ngoan của Thiên Chúa, một bên là sự suy luận theo lý trí của con người. Khi có sự xung đột, con người phải chọn đàng nào? Nhiều người cho họ chỉ tin những gì lý trí con người có thể hiểu được; ngoài ra là mê tín dị đoan. Nhưng Thiên Chúa đã tuyên sấm qua miệng tiên tri Isaiah: “Tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi, và đường lối của Ta cũng không phải là đường lối của các ngươi. Như trời cao hơn đất thế nào, tư tưởng và đường lối của Ta cũng cao hơn các người như vậy” (Isa 55:8-9). Lịch sử nhiều lần chứng minh: vâng lời làm theo ý Thiên Chúa mang lại những kết quả quá lòng mong đợi của con người; ngược lại, bất tuân thánh ý Thiên Chúa để làm theo ý riêng mình sẽ gây ra muôn vàn khổ đau cho con người.

    Các Bài Đọc hôm nay nêu bật những mẫu gương của những người thi hành thánh ý Thiên Chúa cho dẫu họ không hiểu kế hoạch của Ngài. Trong Bài Đọc I, Thiên Chúa hứa với vua Đa-vít dòng dõi ông sẽ làm vua cai trị tới muôn đời. Điều này được thực hiện qua Đức Kitô, Ngài thuộc dòng tộc Đa-vít và sẽ cai trị tới muôn đời. Trong Bài Đọc II, Thiên Chúa hứa sẽ ban cho Áp-ra-ham một dòng dõi đông như sao trên trời, trong khi ông chỉ có hai người con duy nhất: Isaac bởi Sarah và Ismael bởi Hagar. Lời hứa này cũng được làm trọn nơi Đức Kitô, tất cả những ai tin vào Đức Kitô, họ trở thành con cháu của tổ phụ Áp-ra-ham. Trong Phúc Âm, thánh Giuse chấp nhận đón Đức Mẹ về chung sống; sau khi được sứ thần của Thiên Chúa cho biết việc Đức Mẹ chịu thai là do quyền năng của Thánh Thần.

    1/ Bài đọc I: Nhà của ngươi và vương quyền của ngươi sẽ tồn tại mãi mãi trước mặt Ta.

    1.1/ Lời Thiên Chúa hứa với vua Đa-vít: Sau khi đã ổn định đất nước, vua Đa-vít nói với tiên tri Nathan ý định muốn xây nhà cho Thiên Chúa tại thành của Đa-vít; nhưng ngay đêm ấy, có lời Đức Chúa phán với ông Nathan rằng: "Hãy đi nói với tôi tớ của Ta là Đa-vít: Đức Chúa phán thế này: Khi ngày đời của ngươi đã mãn và ngươi đã nằm xuống với cha ông, Ta sẽ cho dòng dõi ngươi đứng lên kế vị ngươi - một người do chính ngươi sinh ra - và Ta sẽ làm cho vương quyền của nó được vững bền.”

    Không phải Đa-vít sẽ xây nhà cho Thiên Chúa; nhưng chính Thiên Chúa sẽ xây nhà cho ông. Nhà ở đây ám chỉ dòng dõi của Đa-vít; từ dòng dõi này sẽ xuất hiện Đấng Thiên Sai và uy quyền cai trị sẽ tồn tại đến muôn đời.

    1.2/ Lời Hứa của Thiên Chúa: Thiên Chúa cho biết người sẽ xây nhà cho Ngài là Solomon, con kế vị của vua Đa-vít: “Chính nó sẽ xây một nhà để tôn kính danh Ta, và Ta sẽ làm cho ngai vàng của nó vững bền mãi mãi. Đối với nó, Ta sẽ là cha, đối với Ta, nó sẽ là con. Nhà của ngươi và vương quyền của ngươi sẽ tồn tại mãi mãi trước mặt Ta; ngai vàng của ngươi sẽ vững bền mãi mãi."

    Lời Hứa của Thiên Chúa bị đe doạ bởi sự bất trung của hậu duệ của vua Đa-vít. Có những lúc tưởng chừng như nhà Đa-vít sẽ hết người nối ngôi, như thời kỳ bị lưu đày; nhưng Thiên Chúa vẫn quan phòng cách khôn ngoan, cho đến ngày Đấng Thiên Sai ra đời từ dòng dõi Đa-vít.

    2/ Bài đọc II: Áp-ra-ham được lời hứa đó, vì đã trở nên công chính nhờ lòng tin.

    2.1/ Đe dọa của niềm tin: Khi Thiên Chúa hứa sẽ ban cho Áp-ra-ham một dòng dõi, ông vẫn chưa có lấy một người con dù đã quá tuổi sinh con (Gen 15). Làm sao một người có thể có con đông như sao trên trời và như cát dưới biển, khi chưa có lấy một người con trong lúc tuổi già?

    2.2/ Đức tin của tổ phụ Áp-ra-ham: Nhưng Áp-ra-ham hoàn toàn tin vào Lời Thiên Chúa hứa, và đó là lý do Áp-ra-ham được trở nên công chính, như lời thánh Phaolô viết: “Thật vậy, không phải chiếu theo Lề Luật, mà Thiên Chúa đã hứa cho ông Áp-ra-ham và dòng dõi ông được thế gian làm gia nghiệp; nhưng ông được lời hứa đó, vì đã trở nên công chính nhờ lòng tin.”

    Thánh Phaolô muốn đả phá một quan niệm sai lầm của người Do-thái: con người trở nên công chính bằng việc giữ cẩn thận các Lề Luật. Ngài dùng chính những gì đã xảy ra cho Áp-ra-ham để đả phá quan niệm này:

    (1) Lời Hứa được Thiên Chúa ban cho Áp-ra-ham cách nhưng không: Áp-ra-ham không làm gì để xứng đáng được hưởng những gì Thiên Chúa hứa, như Phaolô xác tín: “Vì tin mà người ta được thừa hưởng lời Thiên Chúa hứa; như thế lời hứa là ân huệ Thiên Chúa ban không, và có giá trị cho toàn thể dòng dõi ông Áp-ra-ham, nghĩa là không phải chỉ cho những ai giữ Lề Luật, mà còn cho những ai có lòng tin như ông.” Hơn nữa Lề Luật được Thiên Chúa ban cho con người sau này, thời của Moses trong cuộc Xuất Hành ra khỏi Ai-cập. Thời của Áp-ra-ham, làm gì đã có Lề Luật để tuân giữ!

    (2) Dòng dõi Áp-ra-ham được trở nên đông đúc không do di truyền; nhưng do bởi niềm tin của các tín hữu vào Đức Kitô. Phaolô viết: “Ông là tổ phụ chúng ta hết thảy, như có lời chép: Ta đã đặt ngươi làm tổ phụ nhiều dân tộc. Ông là tổ phụ chúng ta trước mặt Thiên Chúa, Đấng ông tin tưởng, Đấng làm cho kẻ chết được sống và khiến những gì không có hoá có.”

    (3) Con người trở nên công chính bằng đức tin: Áp-ra-ham không sống trên dương gian để nhìn thấy Lời Thiên Chúa được thực hiện; hơn nữa, Áp-ra-ham còn chịu rất nhiều thử thách đe doạ niềm tin này. Ví dụ, việc Thiên Chúa muốn ông sát tế Isaac, con ông, trên núi Moriah. Trong mọi hoàn cảnh khó khăn và thử thách, “mặc dầu không còn gì để trông cậy, ông vẫn trông cậy và vững tin, do đó ông đã trở thành tổ phụ nhiều dân tộc, như lời Thiên Chúa phán: Dòng dõi ngươi sẽ đông đảo như thế. Bởi thế, ông được kể là người công chính.”

    3/ Phúc Âm: Khi tỉnh giấc, ông Giuse làm như sứ thần Chúa dạy.

    3.1/ Đức tin của Giuse bị thử thách: Cuộc đính hôn của thánh Giuse với Đức Mẹ chắc chắn được Thiên Chúa quan phòng; nhưng Giuse không thể chấp nhận việc Đức Mẹ mang thai khi hai người chưa ăn ở với nhau.

    (1) Tình trạng pháp lý: Truyền thống Do-thái về việc cưới hỏi cũng giống như phong tục của Việt-nam. Có ba giai đoạn trong việc cưới hỏi: thứ nhất là giai đoạn hứa hôn, được làm bởi cha mẹ hai bên khi hai trẻ vẫn còn nhỏ. Giai đoạn này không bị ràng buộc nếu sau này một trong hai trẻ không đồng ý tiến tới; thứ hai là giai đoạn đính hôn, thường kéo dài trong khoảng một năm. Theo Luật Do-thái, hai người chính thức thành vợ chồng tuy chưa ăn ở với nhau; nếu muốn ly dị phải theo thủ tục pháp lý. Thánh Giuse và Mẹ Maria ở trong giai đoạn này. Sau cùng là giai đoạn kết hôn, khi hai người ăn ở với nhau.

    (2) Cách giải quyết: Một điều Giuse biết chắc chắn là bào thai Đức Mẹ đang cưu mang không phải là của mình. Là người công chính, Giuse không thể chấp nhận bào thai của Đức Mẹ, và ông có hai cách để giải quyết: hoặc tố cáo và Đức Mẹ sẽ bị ném đá vì tội ngoại tình, hoặc bỏ Đức Mẹ cách kín đáo. Vì có lòng nhân từ, Giuse không muốn Đức Mẹ bị ném đá, ông “định tâm bỏ bà cách kín đáo.”

    3.2/ Đức tin của Giuse: Khi ông đang toan tính như vậy, thì sứ thần Thiên Chúa hiện đến báo mộng cho ông rằng: "Này ông Giuse, con cháu Đa-vít, đừng ngại đón bà Maria vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giêsu, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ."

    Để hiểu việc làm của Giuse, chúng ta cần tìm hiểu truyền thống Do-thái hiểu biết về Thánh Thần. Theo Kinh Thánh, Thánh Thần có ít nhất 4 nhiệm vụ như sau:

    (1) Ngài là người mang sự thật từ Thiên Chúa đến cho con người (Exo 31:3; Num 11:25; 27:18; Deut 34:9; 1 Sam 10:10; 2 Sam 23:2; Job 32:8; Psa 32:2);

    (2) Làm cho con người hiểu biết sự thật (Gen 41:38; Num 24:2; Psa 32:2; Joel 2:28; Lk 12:12; Jn 14:17; 15:26);

    (3) Ngài cùng với Thiên Chúa tạo dựng (Gen 6:3; Jdg 14:6; 1 Sam 11:6; Job 27:3; 33:4; Psa 33:6; 104:30);

    (4) Tái tạo dựng con người (Gen 1:2; Jdg 6:34; 11:29; 13:25; 15:9; 1 Sam 10:6; Psa 51:10; 143:10; Job 33:4; Eze 37:1-14; Acts 2:1-4).

    Thấm nhuần truyền thống trên, Giuse chấp nhận bào thai của Đức Mẹ dẫu biết bào thai không phải là của mình, ông cũng không đòi cắt nghĩa “việc chịu thai bởi Chúa Thánh Thần;” nhưng tin Thánh Thần là nguyên nhân tạo dựng bào thai đó. Suốt cuộc đời chăm sóc Đức Mẹ và Chúa Giêsu, thánh Giuse luôn để Chúa Thánh Thần hướng dẫn mọi việc và vâng lời làm theo những gì sứ thần truyền. Kinh Thánh tường thuật ba sự kiện: thứ nhất, thánh Giuse chấp nhận đính hôn với Đức Mẹ để trở thành cha nuôi của Đấng Cứu Thế; thứ hai, thánh Giuse chấp nhận đưa Đức Mẹ và Chúa Giêsu trốn sang Ai-cập lúc đang đêm; ngài không nại lý do đang đêm hay làm gì sinh sống nơi đất lạ quê người; sau cùng, ngài chấp nhận đưa gia đình hồi hương và lập nghiệp tại Nazareth; không than phiền phải di chuyển đến nơi ở mới một lần nữa.

    Nói tóm, tuy thánh Giuse không để lại một lời nào cho hậu thế; nhưng ngài để cho chúng ta một tấm gương luôn biết lắng nghe và mau mắn thi hành Lời Chúa. Ngài hoàn toàn tin tưởng nơi quyền năng Thiên Chúa, và khiêm tốn thi hành những gì Thiên Chúa truyền, vì Ngài biết trí khôn của mình không thể hiểu nổi sự quan phòng của Thiên Chúa.

    ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:

    - Chúng ta được trở nên công chính nhờ niềm tin vào Thiên Chúa và vào Đức Kitô; chứ không nhờ những việc chúng ta làm.

    - Thử thách và đau khổ trong cuộc đời là những cơ hội giúp chúng ta chứng tỏ đức tin nơi Thiên Chúa. Chúng ta hãy biết sống theo sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần.

    - Thiên Chúa luôn trung thành giữ những gì Ngài hứa; vì thế, chúng ta cần đặt trọn vẹn niềm tin tưởng nơi Ngài.


    Lm. Anthony Đinh Minh Tiên, OP
     
  2. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    21.3.2017 - Thứ Ba Tuần 3 Mùa Chay

    Tha thứ như đã được thứ tha

    1/ Bài đọc I: Đn 3:25, 34-43 - (25) A-da-ri-a đứng giữa đám lửa và cất tiếng cầu nguyện rằng: (34) Ôi ! Vì danh thánh Chúa, xin đừng mãi mãi bỏ rơi chúng con, đừng huỷ bỏ giao ước của Ngài!
    (35) Vì tình nghĩa với bạn thân Ngài là Áp-ra-ham, với tôi tớ Ngài là I-xa-ác, và kẻ Ngài thánh hoá là Ít-ra-en, xin Ngài đừng rút lại lòng thương xót đã dành cho chúng con.
    (36) Ngài đã hứa làm cho dòng dõi họ đông đảo như sao trên bầu trời, như cát ngoài bãi biển.
    (37) Thế mà hôm nay, lạy Chúa, vì tội lỗi chúng con, chúng con đã thành dân nhỏ nhất, đã nếm mùi ô nhục trên khắp hoàn cầu. (38) Ngày nay chẳng còn vị thủ lãnh, chẳng còn bậc ngôn sứ, chẳng còn người chỉ huy. Lễ toàn thiêu, lễ hy sinh đã hết, lễ tiến, lễ hương cũng chẳng còn, chẳng còn nơi dâng của đầu mùa lên Chúa để chúng con được Chúa xót thương.
    (39) Nhưng xin nhận tâm hồn thống hối và tinh thần khiêm nhượng của chúng con, thay của lễ toàn thiêu chiên bò, và ngàn vạn cừu non béo tốt.
    (40) Ước gì hy lễ chúng con thượng tiến Ngài hôm nay cũng làm đẹp ý Ngài như vậy. Ước gì chúng con theo Ngài mãi đến cùng, vì những ai tin cậy vào Ngài, đâu có phải ê chề thất vọng.
    (41) Và giờ đây, chúng con hết lòng đi theo Chúa, kính sợ Ngài và tìm kiếm Thánh Nhan. Xin đừng để chúng con phải thẹn thùng xấu hổ. (42) Nhưng xin Ngài tỏ lòng nhân hậu và lòng thương xót vô biên của Ngài khi Ngài đối xử với chúng con. (43) Xin làm những việc lạ lùng kỳ diệu mà giải thoát chúng con và tôn vinh danh Ngài, lạy Chúa.


    2/ Phúc Âm: Mt 18:21-35 - 21 Bấy giờ, ông Phê-rô đến gần Đức Giê-su mà hỏi rằng: "Thưa Thầy, nếu anh em con cứ xúc phạm đến con, thì con phải tha đến mấy lần? Có phải bảy lần không?" 22 Đức Giê-su đáp: "Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy."
    23 Vì thế, Nước Trời cũng giống như chuyện một ông vua kia muốn đòi các đầy tớ của mình thanh toán sổ sách. 24 Khi nhà vua vừa bắt đầu, thì người ta dẫn đến một kẻ mắc nợ vua mười ngàn yến vàng. 25 Y không có gì để trả, nên tôn chủ ra lệnh bán y cùng tất cả vợ con, tài sản mà trả nợ. 26 Bấy giờ, tên đầy tớ ấy sấp mình xuống bái lạy: "Thưa Ngài, xin rộng lòng hoãn lại cho tôi, tôi sẽ lo trả hết." 27 Tôn chủ của tên đầy tớ ấy liền chạnh lòng thương, cho y về và tha luôn món nợ. 28 Nhưng vừa ra đến ngoài, tên đầy tớ ấy gặp một người đồng bạn, mắc nợ y một trăm quan tiền. Y liền túm lấy, bóp cổ mà bảo: "Trả nợ cho tao!" 29 Bấy giờ, người đồng bạn sấp mình xuống năn nỉ: "Thưa anh, xin rộng lòng hoãn lại cho tôi, tôi sẽ lo trả anh."
    30 Nhưng y không chịu, cứ tống anh ta vào ngục cho đến khi trả xong nợ. 31 Thấy sự việc xảy ra như vậy, các đồng bạn của y buồn lắm, mới đi trình bày với tôn chủ đầu đuôi câu chuyện. 32 Bấy giờ, tôn chủ cho đòi y đến và bảo: "Tên đầy tớ độc ác kia, ta đã tha hết số nợ ấy cho ngươi, vì ngươi đã van xin ta, 33 thì đến lượt ngươi, ngươi không phải thương xót đồng bạn, như chính ta đã thương xót ngươi sao? " 34 Rồi tôn chủ nổi cơn thịnh nộ, trao y cho lính hành hạ, cho đến ngày y trả hết nợ cho ông. 35 Ấy vậy, Cha của Thầy ở trên trời cũng sẽ đối xử với anh em như thế, nếu mỗi người trong anh em không hết lòng tha thứ cho anh em mình."


    * * *

    SUY NIỆM: Tha thứ như đã được thứ tha.

    Có hai thái độ thường xảy ra khi con người lâm vào cảnh gian nan khốn khó: Họ có thể chọn thái độ tiêu cực: trách Trời và trách tha nhân đã xô đẩy họ vào hòan cảnh đau khổ như chiến tranh, thiên tai, nghèo đói, thất nghiệp … Hay họ có thể chọn thái độ tích cực: đấm ngực xét mình xem tại sao những điều này xảy ra; sau đó biết thống hối ăn năn, thú tội, và sửa sai để những điều đó đừng xảy ra nữa.

    Các Bài Đọc hôm nay tập trung trong chủ đề con người phải biết ăn năn và trông cậy vào tình thương tha thứ của Thiên Chúa. Trong Bài Đọc I, Daniel công khai thú tội của Israel từ đám lửa, và nài xin Thiên Chúa nhớ đến tình thương và giao ước Ngài đã hứa với các Tổ phụ, mà tha thứ cùng cứu thóat ba trẻ từ lò lửa và Israel khỏi cảnh lưu đày. Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu đưa ra một dụ ngôn để dạy các môn đệ phải tha thứ không điều kiện, và Ngài cảnh cáo các ông: “Cha của Thầy ở trên trời cũng sẽ đối xử với anh em như thế, nếu mỗi người trong anh em không hết lòng tha thứ cho anh em mình.”


    1/ Bài đọc I: Daniel cầu xin Thiên Chúa tha thứ từ trong lò lửa.

    1.1/ Daniel tích cực cậy trông vào lòng thương xót của Thiên Chúa: Trong lò lửa, Daniel biết chỉ có Thiên Chúa mới có thể giải thóat ông, hai bạn, và Israel khỏi chết. Ông dựa vào hai điều để van xin lòng thương xót của Thiên Chúa:

    (1) Danh Thánh của Thiên Chúa: Israel là dân riêng được Thiên Chúa tuyển chọn, và chính Thiên Chúa đã ký kết giao ước với các Tổ-phụ để bảo vệ dân. Các dân tộc chung quanh Israel đều biết điều này. Vì thế, Daniel xin Thiên Chúa đừng để cho các dân tộc khinh thường Danh Chúa vì Ngài đã không bảo vệ được Dân Ngài: “Ôi! Vì danh thánh Chúa, xin đừng mãi mãi bỏ rơi chúng con, đừng huỷ bỏ giao ước của Ngài!”

    Theo Giao-ước của Thiên Chúa với Tổ-phụ Abraham, “Ngài đã hứa làm cho dòng dõi họ đông đảo như sao trên bầu trời, như cát ngoài bãi biển. Thế mà hôm nay, lạy Chúa, vì tội lỗi chúng con, chúng con đã thành dân nhỏ nhất, đã nếm mùi ô nhục trên khắp hoàn cầu.” Israel đã mất tất cả: quê hương, Đền Thờ, và nhất là tình thương của Thiên Chúa: “Ngày nay chẳng còn vị thủ lãnh, chẳng còn bậc ngôn sứ, chẳng còn người chỉ huy. Lễ toàn thiêu, lễ hy sinh đã hết, lễ tiến, lễ hương cũng chẳng còn, chẳng còn nơi dâng của đầu mùa lên Chúa để chúng con được Chúa xót thương.”

    (2) Tình nghĩa của Thiên Chúa với các Tổ-phụ: Daniel biết sở dĩ Thiên Chúa đã ký kết giao ước với Israel, là vì niềm tin tuyệt đối của các Tổ-phụ. Vì thế, Daniel dựa vào lòng trung tín của các Tổ-phụ để xin Thiên Chúa tỏ tình thương tha thứ với dân tộc Israel: “Vì tình nghĩa với bạn thân Ngài là Abraham, với tôi tớ Ngài là Isaac, và kẻ Ngài thánh hoá là Israel, xin Ngài đừng rút lại lòng thương xót đã dành cho chúng con.”

    1.2/ Khiêm nhường ăn năn và xin thay đổi đời sống.

    (1) Khiêm nhường thống hối: Daniel biết mình và con dân Israel không có công trạng gì để được Thiên Chúa xót thương, vì tất cả đều xúc phạm đến Ngài; nhưng ông biết Thiên Chúa sẽ tỏ tình thương những cho những ai biết ăn năn xám hối như lời Thánh Vịnh “một tấm lòng tan nát dày vò, Ngài sẽ chẳng khinh chê,” nên ông cầu xin Thiên Chúa: “Xin nhận tâm hồn thống hối và tinh thần khiêm nhượng của chúng con, thay của lễ toàn thiêu chiên bò, và ngàn vạn cừu non béo tốt.” Tuy không còn Đền Thờ để dâng của lễ; nhưng Thiên Chúa “muốn tình yêu chứ đâu muốn hy lễ!” Vì thế, bất cứ ở đâu, con người đều có thể dâng tình yêu để đền tội.

    (2) Tuyên hứa thay đổi đời sống: Tội lỗi gây rất nhiều thiệt hại cho con người. Vì thế, khi đã nhận ra hậu quả của tội, con người phải dốc lòng chừa và cố gắng đừng tái phạm nữa. Một trong những điều chính yếu con người phải nhận ra khi xét mình: Những lời chỉ dạy của Thiên Chúa luôn đúng, hành động con người sai trái vì làm ngược lại những gì Ngài dạy. Vì thế, để có thể sống tốt đẹp hơn, con người phải vâng lời làm theo những gì Thiên Chúa dạy: “Ước gì chúng con theo Ngài mãi đến cùng, vì những ai tin cậy vào Ngài, đâu có phải ê chề thất vọng. Và giờ đây, chúng con hết lòng đi theo Chúa, kính sợ Ngài và tìm kiếm Thánh Nhan. Xin đừng để chúng con phải thẹn thùng xấu hổ.”

    2/ Phúc Âm: “Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy.”

    2.1/ Điều kiện để được tha thứ: Con người phải tha thứ vì đã được thứ tha. Phêrô thắc mắc: "Thưa Thầy, nếu anh em con cứ xúc phạm đến con, thì con phải tha đến mấy lần? Có phải bảy lần không?" Phêrô tự nghĩ “quá tang 3 bận;” nhưng để cho chắc ăn, ông tăng lên gấp đôi và cộng thêm một lần nữa. Nhưng ông ngạc nhiên khi Chúa Giêsu trả lời ông: "Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy." Lý do đơn giản Chúa muốn nói với Phêrô: Hãy tha thứ nhiều lần như Thầy đã tha thứ nhiều lần cho con.

    2.2/ Hậu quả nếu không chịu tha thứ: Để dẫn chứng tình thương tha thứ bao la của Thiên Chúa và sự ích kỷ nhỏ mọn của con người, Chúa Giêsu đưa ra một dụ ngôn:

    (1) Đã được tha thứ 10,000 yến vàng: Đây là một số nợ khổng lồ. Một lạng vàng trị giá thị trường hôm nay khỏang 1000 dollars; 10,000 lạng tương xứng với 10 triệu đồng. Nhà Vua chạnh lòng thương và sẵn sàng tha thứ hết cho tên đầy tớ khi ông ta van xin.

    (2) Không chịu thứ tha 100 quan tiền: Nhưng vừa ra đến ngoài, tên đầy tớ ấy gặp một người đồng bạn, mắc nợ y một trăm quan tiền. Món nợ 100 quan tiền tương đương với khỏang 10 dollars, một món nợ quá nhỏ so với 10 triệu dollars; thế mà y liền túm lấy, bóp cổ mà bảo: "Trả nợ cho tao!" Bấy giờ, người đồng bạn sấp mình xuống năn nỉ: "Thưa anh, xin rộng lòng hoãn lại cho tôi, tôi sẽ lo trả anh." Nhưng y không chịu, cứ tống anh ta vào ngục cho đến khi trả xong nợ.

    Thấy sự việc xảy ra như vậy, các đồng bạn của y buồn lắm, mới đi trình bày với tôn chủ đầu đuôi câu chuyện. Bấy giờ, tôn chủ cho đòi y đến và bảo: "Tên đầy tớ độc ác kia, ta đã tha hết số nợ ấy cho ngươi, vì ngươi đã van xin ta, thì đến lượt ngươi, ngươi không phải thương xót đồng bạn, như chính ta đã thương xót ngươi sao?" Rồi tôn chủ nổi cơn thịnh nộ, trao y cho lính hành hạ, cho đến ngày y trả hết nợ cho ông. Chúa Giêsu kết luận: “Cha của Thầy ở trên trời cũng sẽ đối xử với anh em như thế, nếu mỗi người trong anh em không hết lòng tha thứ cho anh em mình."

    ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:

    - Khi phải vương vào cảnh gian nan khốn khổ, chúng ta đừng vội đổ lỗi cho Thiên Chúa và cho tha nhân; nhưng hãy biết khiêm nhường xét mình để tìm hiểu lý do tại sao chúng ta lâm vào tình trạng khốn khổ đó.

    - Thiên Chúa là Đấng giàu lòng thương xót. Ngài không chấp tội chúng ta và sẵn sàng tha thứ hết mọi tội lỗi; nhưng Ngài đòi chúng ta phải biết xám hối và cũng sẵn lòng tha thứ cho tha nhân như vậy.

    - Tội vừa làm thiệt hại cá nhân vừa làm thiệt hại cộng đòan. Sau khi đã được tha thứ, chúng ta hãy tránh xa tội và canh tân đời sống bằng cách thực thi những gì Chúa dạy bảo.

    Lm. Anthony Đinh Minh Tiên, OP
     
  3. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    22.3.2017 - Thứ Tư Tuần 3 Mùa Chay

    Ai coi nhẹ một trong những điều răn

    Bài đọc I: Ðnl 4:1, 5-9
    Giờ đây, hỡi Ít-ra-en, hãy nghe những thánh chỉ và quyết định tôi dạy cho anh em, để anh em đem ra thực hành. Như vậy anh em sẽ được sống và sẽ được vào chiếm hữu miền đất mà ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của cha ông anh em, ban cho anh em.
    5 Hãy xem: tôi đã dạy cho anh em những thánh chỉ và quyết định như ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của tôi, đã truyền cho tôi, để anh em đem ra thực hành trong miền đất mà anh em sắp vào chiếm hữu. 6 Anh em phải giữ và đem ra thực hành, vì nhờ đó anh em sẽ được các dân coi là khôn ngoan và thông minh. Khi được nghe tất cả những thánh chỉ đó, họ sẽ nói: "Chỉ có dân tộc vĩ đại này mới là một dân khôn ngoan và thông minh! " 7 Phải, có dân tộc vĩ đại nào được thần minh ở gần, như ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa chúng ta, ở gần chúng ta, mỗi khi chúng ta kêu cầu Người? 8 Có dân tộc vĩ đại nào được những thánh chỉ và quyết định công minh, như tất cả Lề Luật mà hôm nay tôi đưa ra trước mặt anh em?
    9 Nhưng anh em hãy ý tứ và cẩn thận giữ mình đừng quên những điều mắt anh em đã thấy, và suốt đời, đừng để cho những điều ấy ra khỏi lòng anh em; trái lại, anh em hãy dạy cho con cháu anh em biết.


    Phúc Âm: Mt 5,17-19
    17 “Anh em đừng tưởng Thầy đến để bãi bỏ Luật Mô-sê hoặc lời các ngôn sứ. Thầy đến không phải là để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn.18 Vì, Thầy bảo thật anh em, trước khi trời đất qua đi, thì một chấm một phết trong Lề Luật cũng sẽ không qua đi, cho đến khi mọi sự được hoàn thành.19 Vậy ai bãi bỏ dù chỉ là một trong những điều răn nhỏ nhất ấy, và dạy người ta làm như thế, thì sẽ bị gọi là kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời. Còn ai tuân hành và dạy làm như thế, thì sẽ được gọi là lớn trong Nước Trời.

    * * *

    Suy niệm: Bạn nhìn lề luật của Thiên Chúa cách tiêu cực hay tích cực? Thái độ của Ðức Giêsu đối với lề luật Thiên Chúa có thể tóm tắt trong lời cầu nguyện của thánh vịnh 119: “Ôi, con yêu mến luật Chúa biết bao! Thánh chỉ Ngài, con suy gẫm đêm ngày.” Đối với dân Israel, “lề luật” thường ám chỉ mười điều răn hay 5 quyển sách của Môisen, được gọi là ngũ thư, sách giải thích các điều răn và những huấn lệnh của Chúa dành cho dân Người. “Lề luật” cũng nhắm tới toàn bộ giáo huấn hay cách sống mà Thiên Chúa ban cho dân Người. Người Dothái thời Ðức Giêsu cũng sử dụng nó như sự diễn tả của luật truyền khẩu hay văn bản. Không cần phải nói, các kinh sư đã thêm thắt nhiều điều vào lề luật hơn Thiên Chúa dự định. Đó là lý do tại sao Ðức Giêsu thường lên án lề luật của các kinh sư. Nó đặt những gánh nặng trên người ta mà Thiên Chúa đã không đưa ra. Tuy nhiên, Ðức Giêsu đã tuyên bố rõ ràng rằng bản chất của luật Thiên Chúa – các điều răn và đường lối sống của Người, phải được thực hiện.

    Ðức Giêsu dạy sự tôn kính lề luật Thiên Chúa – tôn kính chính Thiên Chúa, ngày của Chúa, tôn kính cha mẹ, tôn trọng sự sống, của cải vật chất, danh tiếng của người khác, tôn trọng chính mình và tha nhân để những ước muốn sai trái và nguy hại không làm chủ chúng ta. Sự tôn kính các điều răn của Thiên Chúa dạy chúng ta cách thức yêu thương – mến Chúa và yêu người.

    Hoạt động biến đổi của Chúa Thánh Thần

    Điều gì không thể đối với con người thì đều có thể đối với Thiên Chúa và những ai đặt niềm tin cậy vào Thiên Chúa. Ngang qua hồng ân của Chúa Thánh Thần, Chúa biến đổi chúng ta và làm cho chúng ta nên giống Người. Chúng ta là thụ tạo mới trong Đức Kitô (2Cor 5,17) bởi vì “tình yêu Thiên Chúa đã tuôn đỗ vào lòng chúng ta ngang qua Chúa Thánh Thần đã được ban cho chúng ta” (Rm 5,5). Thiên Chúa ban cho chúng ta ơn sủng để yêu thương như Người yêu thương, để tha thứ như Người tha thứ, để suy nghĩ như Người suy nghĩ, và để hành động như Người hành động.

    Chúa yêu thích sự công chính và nhân từ nhưng Người ghét mọi hình thức độc ác và tội lỗi. Người muốn giải thoát chúng ta khỏi những ước muốn phóng túng và những thói quen tội lỗi của mình, để chúng ta có thể chọn lựa sống mỗi ngày trong bình an, vui mừng, và công chính của Thánh Thần (Rm 14,17). Từ bỏ tội lỗi là quay lưng lại với những gì tai hại và phá huỷ tâm trí chúng ta, và chính cuộc đời chúng ta. Là những môn đệ của Người, chúng ta phải yêu mến và tôn kính các điều răn của Người và chê ghét mọi hình thức tội lỗi. Bạn có yêu mến và tôn kính các điều răn của Chúa không?

    Lạy Chúa Giêsu, xin chúc lành cho ngày hôm nay, hướng dẫn và thánh hóa, thống trị và cai quản hồn xác chúng con, để tất cả mọi tư tưởng, lời nói, và việc làm của chúng con có thể phù hợp với lề luật của Chúa Cha, và nhờ đó chúng con có thể được cứu độ và bảo vệ nhờ sự trợ giúp phi thường của Chúa.


    Don Schwager
    (dailyscripture.servantsoftheword.org/readings)
    Bro. Paul Thanh Vu – chuyển ngữ
     
  4. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    23.3.2017 - Thứ Năm Tuần 3 Mùa Chay

    Nước Thiên Chúa đã ở giữa anh em

    Bài đọc I: Gr 7:23-28
    23 Nhưng điều Ta truyền cho chúng là: Hãy nghe tiếng Ta thì Ta sẽ là Thiên Chúa các ngươi, và các ngươi sẽ là dân của Ta. Hãy bước theo mọi đường lối Ta truyền dạy, để các ngươi được hạnh phúc. 24 Nhưng chúng chẳng nghe, chẳng để tai, cứ theo những suy tính của mình, theo tâm địa ngoan cố xấu xa; chúng đã lùi chứ không tiến. 25 Từ ngày cha ông chúng ra khỏi đất Ai-cập tới nay, ngày này qua ngày khác, Ta không ngừng sai tất cả các tôi tớ của Ta là các ngôn sứ đến với chúng; 26 nhưng chúng đã không nghe, cũng chẳng để tai, lại ra cứng đầu cứng cổ. Chúng hành động còn xấu hơn cả cha ông chúng nữa. 27 Vậy, ngươi sẽ nói với chúng tất cả những điều ấy, nhưng chúng chẳng nghe đâu; ngươi sẽ gọi chúng, chúng chẳng trả lời đâu. 28 Bấy giờ ngươi sẽ nói: Đây là dân tộc không biết nghe tiếng ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của mình, không chấp nhận lời sửa dạy: sự chân thật đã tiêu tan và biến khỏi miệng nó.

    Phúc Âm: Lc 11:14-23
    14 Bấy giờ Đức Giê-su trừ một tên quỷ, và nó là quỷ câm. Khi quỷ xuất rồi, thì người câm nói được. Đám đông lấy làm ngạc nhiên.15 Nhưng trong số đó có mấy người lại bảo: “Ông ấy dựa thế quỷ vương Bê-en-dê-bun mà trừ quỷ.”16 Kẻ khác lại muốn thử Người, nên đã đòi Người một dấu lạ từ trời.17 Nhưng Người biết tư tưởng của họ, nên nói: “Nước nào tự chia rẽ thì sẽ điêu tàn, nhà nọ đổ xuống nhà kia.18 Nếu Xa-tan cũng tự chia rẽ chống lại chính mình, thì nước nó tồn tại sao được?… bởi lẽ các ông nói tôi dựa thế Bê-en-dê-bun mà trừ quỷ.19 Nếu tôi dựa thế Bê-en-dê-bun mà trừ quỷ, thì con cái các ông dựa thế ai mà trừ? Bởi vậy, chính họ sẽ xét xử các ông.20 Còn nếu tôi dùng ngón tay Thiên Chúa mà trừ quỷ, thì quả là Triều Đại Thiên Chúa đã đến giữa các ông.21 Khi một người mạnh được vũ trang đầy đủ canh giữ lâu đài của mình, thì của cải người ấy được an toàn.22 Nhưng nếu có người mạnh thế hơn đột nhập và thắng được người ấy, thì sẽ tước lấy vũ khí mà người ấy vẫn tin tưởng và sẽ đem phân phát những gì đã lấy được.23 “Ai không đi với tôi là chống lại tôi, và ai không cùng tôi thu góp là phân tán.

    * * *


    Suy niệm: Sự bảo vệ tốt nhất đem lại sự an toàn mãi mãi cho cuộc đời bạn là gì? Kinh thánh nói với chúng ta rằng bình an và sự an toàn đích thật đến với những ai tin cậy vào Thiên Chúa và vâng phục lời Người. “Hãy nghe tiếng Ta và bước theo mọi đường lối Ta truyền dạy, để các ngươi được hạnh phúc” (Gr 7,23). Sự giằng co giữa việc chọn lựa làm điều tốt hay điều xấu, việc quy phục giữa ý tôi hay ý Chúa, đường lối của Chúa hay đường lối của tôi, không thể tự chiến thắng bởi sức mạnh loài người hay bởi sức mạnh của ý chí. Ma quỷ, kẻ thù của chúng ta hiệp sức với “thế gian” (những gì chống lại Thiên Chúa và chân lý và sự công chính của Người) và “xác thịt” của chúng ta, để lôi kéo chúng ta xa rời sự bình an, niềm vui, và an toàn mà Thiên Chúa ban cho những ai đặt lòng tin cậy vào Người.

    Thánh Phêrô tông đồ nói với chúng ta “Ma quỷ, thù địch của chúng ta, như sư tử gầm thét, rảo quanh tìm cách làm hại các linh hồn” (1Pr 5,8-9). Ma quỷ chống lại Thiên Chúa và hắn tìm cách lôi kéo chúng ta xa rời kế hoạch và ý định của Thiên Chúa dành cho cuộc sống chúng ta. Thiên Chúa ban cho chúng ta ơn sủng và sự bảo vệ nếu chúng ta sẵn sàng vâng phục lời Người và chống lại ma quỷ. Bởi vì bạn có Chúa làm nơi trú ẩn, có Đấng Tối Cao làm chỗ nương thân. Bạn sẽ không gặp điều ác hại, và tai ương không bén mảng tới nhà. Bởi chưng Người truyền cho thiên sứ, giữ gìn bạn trên khắp nẻo đường (Tv 91,9-11). Chúa ban cho chúng ta sự bình an và bảo đảm về vương quốc của Người, những thứ sẽ tồn tại mãi mãi và sẽ không có quyền lực nào có thể thắng được.

    Vương quốc của Thiên Chúa đem lại sự chữa lành và sự giải thoát khỏi những quyền lực phá hoại của tội lỗi và Satan

    Vô số lần trừ quỷ của Ðức Giêsu đem lại sự giải thoát cho nhiều người bị khổ sở và áp lực bởi hoạt động của các thần dữ. Chính Ðức Giêsu đã đương đầu với sự đối lập của bản thân và chiến đấu với Satan khi Người chịu thử thách trong hoang địa trước khi sứ mệnh công khai của Người. Người đã chế ngự ác thần qua sự vâng phục ý Cha. Vài người lãnh đạo Do thái phản ứng kịch liệt trước những lần chữa lành và trừ quỷ của Ðức Giêsu và họ chống đối Người với sự phỉ báng độc ác. Làm thế nào Ðức Giêsu có thể có quyền năng để giải thoát người ta khỏi ảnh hưởng và kiểm soát của Satan? Họ cho rằng Người thông đồng với Satan. Họ cho rằng quyền lực của Người so với Satan lớn hơn quyền lực so với Thiên Chúa.

    Ðức Giêsu trả lời sự buộc tội của họ với hai cuộc tranh luận. Vào thời Chúa Giêsu có rất nhiều nhà trừ quỷ ở Palestine. Cho nên Ðức Giêsu vặn lại họ bằng việc nói rằng họ cũng đổ tội cho người họ hàng của mình trừ quỷ. Nếu họ kết tội Ðức Giêsu thì họ cũng kết tội chính họ. Trong cuộc tranh cãi thứ hai, Người quả quyết rằng không có vương quốc nào tự chia rẽ lại có thể tồn tại lâu dài được. Chúng ta đã chứng kiến rất rõ về những cuộc nội chiến trong thời đại của mình để chứng minh sức tàn phá ở đây về sự hủy hoại toàn bộ dân tộc và đất đai của mình. Nếu Satan lấy quyền lực của mình để chống lại những lực lượng của chính mình thì hắn đã tàn. Làm thế nào một người khỏe mạnh bị đánh bại nếu không phải bởi một người mạnh hơn sao? Ðức Giêsu quả quyết sức mạnh và uy quyền của Người xua đuổi ma quỷ là dấu chỉ rõ ràng về triều đại của Thiên Chúa.

    Sự ám chỉ của Ðức Giêsu về ngón tay của Thiên Chúa nhắc lại sự đương đầu của Môisen với vua Pharoah và các nhà phù thủy, những kẻ đã đại diện cho Satan và vương quốc tối tăm (Xh 8,19). Ðức Giêsu tuyên bố đang đi theo truyền thống của Môisen, người có những phép lạ giải thoát dân Israel khỏi ách nô lệ nhờ ngón tay của Thiên Chúa. Sức mạnh của Thiên Chúa rõ ràng được bày tỏ trong những lần trừ quỷ mà Ðức Giêsu thực hiện và chúng đưa ra bằng chứng rằng nước Thiên Chúa đã đến.

    Đức Giêsu có phải là Chủ cuộc đời bạn không?

    Ðức Giêsu tuyên bố dứt khoát rằng không có phe trung lập. Chúng ta ủng hộ Ðức Giêsu hay chống lại Người, ủng hộ vương quốc của Thiên Chúa hay chống lại nó. Có hai vương quốc đối lập nhau – vương quốc của Thiên Chúa và vương quốc của bóng tối dưới sự thống trị của Satan. Nếu chúng ta không vâng phục lời Chúa, chúng ta mở cửa cho quyền lực của tội lỗi và Satan vào cuộc đời mình. Nếu chúng ta muốn sống trong sự giải thoát khỏi tội lỗi và Satan, thì căn nhà của chúng ta – cuộc đời chúng ta và tất cả những gì chúng ta có – phải được Ðức Giêsu ngự trị, nơi Ngài được tôn phong là Chúa và là Đấng cứu độ. Chúa Giêsu có phải là Chủ gia đình, linh hồn, lý trí, và ý chí của bạn không?

    "Lạy Chúa là Thiên Chúa chúng con, chúng con cầu xin Chúa ban ơn cho chúng con kiên nhẫn trong phiền muộn, khiêm tốn trong sự sung túc, kiên định trong cám dỗ, và chiến thắng trên tất cả mọi kẻ thù thiêng liêng. Xin ban ơn cho chúng con biết đau buồn vì những tội lỗi của mình, cảm tạ về những ơn lành của Chúa, sợ hãi sự xét xử của Chúa, yêu thích lòng thương xót của Chúa, và ý thức về sự hiện diện của Chúa; bây giờ và mãi mãi." (Lời cầu nguyện của John Cosin)


    Don Schwager
    (dailyscripture.servantsoftheword.org/readings)
    Bro. Paul Thanh Vu – chuyển ngữ
     
    Điều chỉnh mới nhất vào lúc: 23 tháng Ba 2017
  5. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    24.3.2017 - Thứ Sáu Tuần 3 Mùa Chay

    Mến Chúa và yêu người là hai cột trụ của cuộc đời

    1/ Bài đọc I: Hs 14:2-10 - 2 Hỡi Ít-ra-en, hãy trở về với ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa của ngươi.
    Chính vì tội ác của ngươi mà ngươi đã vấp ngã.
    3 Hãy trở về với ĐỨC CHÚA, mang theo lời cầu nguyện.
    Hãy thưa với Người:
    "Xin thứ tha mọi gian ác, xin vui nhận lời ngợi khen chúng con dâng lên Ngài
    làm lễ vật thay thế bò tơ.
    4 Chúng con sẽ không cầu cứu với Át-sua,
    sẽ không cậy nhờ vào chiến mã,
    cũng chẳng gọi là thần những sản phẩm tay chúng con làm ra,
    vì chỉ ở nơi Ngài kẻ mồ côi mới tìm được lòng thương cảm."
    5 Ta sẽ chữa chúng khỏi tội bất trung,
    sẽ yêu thương chúng hết tình,
    vì cơn giận của Ta sẽ không còn đeo đuổi chúng.
    6 Với Ít-ra-en Ta sẽ như làn sương mai làm nó vươn lên như bông huệ,
    cho bén rễ sâu như cây ngàn Li-băng.
    7 Họ sẽ đâm chồi nẩy lộc, sum sê tựa ô-liu tươi tốt, toả hương thơm ngát
    như rừng Li-băng.
    8 Chúng sẽ trở về cư ngụ dưới bóng Ta,
    sẽ làm cho lúa miến hồi sinh nơi đồng ruộng,
    tựa vườn nho, chúng sẽ sinh sôi nẩy nở,
    danh tiếng lẫy lừng như rượu Li-băng.
    9 Ép-ra-im còn liên hệ gì với các ngẫu tượng?
    Còn Ta, Ta đã nhậm lời và đoái nhìn đến nó.
    Ta như một cây trắc bá xanh tươi,
    chính nhờ Ta mà ngươi trổ sinh hoa trái.
    10 Ai đủ khôn ngoan để hiểu được điều này,
    đủ thông minh để biết được điều ấy?
    Quả thật đường lối ĐỨC CHÚA rất mực thẳng ngay.
    Trên con đường này, người công chính sẽ hiên ngang tiến bước,
    còn kẻ gian ác sẽ phải té nhào.


    2/ Phúc Âm: Mc 12:28b-34 - Thấy Đức Giê-su đối đáp hay, ông đến gần Người và hỏi: "Thưa Thầy, trong mọi điều răn, điều răn nào đứng đầu?"
    29 Đức Giê-su trả lời: "Điều răn đứng đầu là: Nghe đây, hỡi Ít-ra-en, Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất. 30 Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi. 31 Điều răn thứ hai là: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Chẳng có điều răn nào khác lớn hơn các điều răn đó."
    32 Ông kinh sư nói với Đức Giê-su: "Thưa Thầy, hay lắm, Thầy nói rất đúng. Thiên Chúa là Đấng duy nhất, ngoài Người ra không có Đấng nào khác.
    33 Yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết trí khôn, hết sức lực, và yêu người thân cận như chính mình, là điều quý hơn mọi lễ toàn thiêu và hy lễ."
    34 Đức Giê-su thấy ông ta trả lời khôn ngoan như vậy, thì bảo: "Ông không còn xa Nước Thiên Chúa đâu!" Sau đó, không ai dám chất vấn Người nữa.


    * * *

    SUY NIỆM: Mến Chúa và yêu người là hai cột trụ của cuộc đời.

    Phạm tội là xúc phạm đến Thiên Chúa và tha nhân. Khi phạm tội, con người mất tình nghĩa với Thiên Chúa, và làm tổn thương mối liên hệ với tha nhân. Để nói lại nhưng mối liên hệ này, con người phải ăn năn trở lại và yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn; và yêu tha nhân như chính mình.

    Các Bài Đọc hôm nay xoay quanh hai điều căn bản này. Trong Bài Đọc I, tiên-tri Hosea kêu gọi Israel hãy nhận ra tội của họ đã xúc phạm đến Thiên Chúa và tha nhân mà ăn năn trở lại. Thiên Chúa là Đấng xót thương, Ngài sẽ tha thứ mọi tội, cho dân trở về, và giúp dân sinh hoa kết trái trong cuộc sống. Trong Phúc Âm, khi một người muốn tìm hiểu đâu là giới răn quan trọng nhất trong cuộc đời, Chúa Giêsu đã tuyên bố long trọng và rõ ràng hai giới răn: Mến Chúa và yêu người.


    1/ Bài đọc I: Hãy trở về với Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi.

    1.1/ Khi sống xa Chúa, con người phải chịu mọi hình phạt: Tiên-tri Hosea họat động trước thời kỳ vương quốc miền Bắc bị rơi vào tay đế quốc Át-sua (721 BC). Đọan văn chúng ta đọc hôm nay là chương cuối cùng của Sách, có lẽ được viết trong hay sau thời gian lưu đày tại Át-sua. Tội lớn nhất của Israel là tội phản bội Thiên Chúa, quay lưng lại với Ngài để sụp lạy các tà thần, nhất là Thần Baal. Tiên tri đã nhiều lần cảnh cáo Vua cũng như dân, nhưng họ không chịu nghe lời, và Tiên-tri quả quyết: “Chính vì tội ác của ngươi mà ngươi đã vấp ngã.”

    Tuy nhiên, Israel vẫn còn hy vọng, vì Thiên Chúa là Chúa của tình thương. Tiên-tri kêu gọi họ: “Hỡi Israel, hãy trở về với Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi. Hãy trở về với Đức Chúa, mang theo lời cầu nguyện.” Lòng xám hối thực sự phải kèm theo lời thú tội và cầu nguyện, không phải chỉ dâng các lễ vật hy sinh hời hợt bên ngòai. Hãy thưa với Người: "Xin thứ tha mọi gian ác, xin vui nhận lời ngợi khen chúng con dâng lên Ngài làm lễ vật thay thế bò tơ.”

    Israel sa ngã là vì đã không tin tưởng nơi sức mạnh của Thiên Chúa, mà trông cậy nơi sức mạnh lòai người. Việc trở lại đòi họ nhận ra sự điên rồ của niềm cậy dựa này: “Chúng con sẽ không cầu cứu với Át-sua, sẽ không cậy nhờ vào chiến mã, cũng chẳng gọi là thần những sản phẩm tay chúng con làm ra, vì chỉ ở nơi Ngài kẻ mồ côi mới tìm được lòng thương cảm."

    1.3/ Khi sống trong Chúa, con người sinh hoa kết trái: Thiên Chúa xác tín lời khuyên bảo của Tiên-tri. Ngài bảo đảm niềm hy vọng, nếu họ thực tình ăn năn trở lại: “Ta sẽ chữa chúng khỏi tội bất trung, sẽ yêu thương chúng hết tình, vì cơn giận của Ta sẽ không còn đeo đuổi chúng. Với Israel Ta sẽ như làn sương mai làm nó vươn lên như bông huệ, cho bén rễ sâu như cây ngàn Li-băng. Họ sẽ đâm chồi nẩy lộc, sum sê tựa ô-liu tươi tốt, toả hương thơm ngát như rừng Li-băng. Chúng sẽ trở về cư ngụ dưới bóng Ta, sẽ làm cho lúa miến hồi sinh nơi đồng ruộng, tựa vườn nho, chúng sẽ sinh sôi nẩy nở, danh tiếng lẫy lừng như rượu Li-băng.”

    Liên hệ giữa Thiên Chúa và Israel được ví như cây và trái. Israel chỉ có thể sinh hoa kết trái nếu gắn liền với cây: “Ta như một cây trắc bá xanh tươi, chính nhờ Ta mà ngươi trổ sinh hoa trái.” Hình ảnh này cũng được Chúa Giêsu dùng trong Tin Mừng Gioan: “Hãy ở lại trong Thầy như Thầy ở lại trong anh em. Cũng như cành nho không thể tự mình sinh hoa trái, nếu không gắn liền với cây nho, anh em cũng thế, nếu không ở lại trong Thầy. Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái, vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15:4-5).

    Câu 10 được thêm vào, theo văn chương khôn ngoan, có lẽ bởi các kinh-sư, những người viết Sách TT Hosea: “Ai đủ khôn ngoan để hiểu được điều này, đủ thông minh để biết được điều ấy? Quả thật đường lối Đức Chúa rất mực thẳng ngay. Trên con đường này, người công chính sẽ hiên ngang tiến bước, còn kẻ gian ác sẽ phải té nhào.”

    2/ Phúc Âm: Điều răn nào đứng đầu?

    2.1/ Điều răn đứng đầu là: “Nghe đây, hỡi Israel, Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất. Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi.”

    - Thiên Chúa là Chúa duy nhất; ngòai Ngài ra, chẳng còn ai khác. Điều đơn giản như thế, nhưng không phải ai cũng nhận ra. Có những người vì lợi nhuận nên đã tạo ra bao thứ thần để chính mình và người khác tôn thờ: Thần Tài, Thần Vệ-Nữ, Thần Mặt Trời, Thần Sông, Thần Núi.

    - Vì Thiên Chúa yêu thương con người, nên Ngài đã dựng nên mọi sự, quan phòng, và sắp xếp để con người được hưởng hạnh phúc cả đời này và đời sau; nên con người phải đáp trả bằng cách yêu thương Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực của con người. Có những người thay vì yêu thương Thiên Chúa, và biết khôn ngoan dành thời giờ và nỗ lực cho Ngài, lại khờ dại yêu thương những tạo vật Thiên Chúa dựng nên: tài tử, minh tinh, thần tượng thể thao, nhà cửa, xe cộ … và dành hầu như tất cả thời gian cho các lòai thọ tạo này.

    2.2/ Điều răn thứ hai là: “Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Chẳng có điều răn nào khác lớn hơn các điều răn đó."

    - Sau Thiên Chúa là đến con người. Con người phải yêu tha nhân như chính mình vì nhiều lý do: (1) Mọi người đều là con của Cha chung trên trời: điều gì làm cho tha nhân là làm cho chính Chúa; (2) Tất cả là chi thể của một thân thể là Đức Kitô: một chi thể đau là tòan thân đau; và (3)Tất cả đều góp phần vào việc làm cho đời sống tốt đẹp hơn: mỗi người phụ trách một công việc, thiếu việc nào cũng gây xáo trộn trong cuộc sống.

    - Những tội xúc phạm đến tha nhân: (1) Đặt của cải và lợi lộc vật chất lên trên con người, điều này gây ra những bất công xã hội; (2) Khinh thường dùng tha nhân như đồ vật thay vì coi trọng tha nhân như một con người; (3) sống ích kỷ chỉ biết quan tâm tới chính mình.

    ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:

    - Hai mối liên hệ nền tảng trong cuộc sống là mối liên hệ với Thiên Chúa và với tha nhân. Để gìn giữ hai mối liên hệ này luôn tốt đẹp, chúng ta phải yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự, và yêu thương tha nhân như chính mình vậy.

    - Phạm tội là làm tổn thương cả hai mối liên hệ này. Để hàn gắn, con người phải xám hối quay về để làm hòa với Thiên Chúa qua Bí-tích Giải Tội, và làm hòa với nhau trong cuộc sống.

    - Một khi đã sống hòan hảo hai mối liên hệ căn bản này, chúng ta đã đạt được đích điểm của cuộc đời, và không gì có thể ngăn cản chúng ta vào Nước Thiên Chúa.

    Lm. Anthony Đinh Minh Tiên, OP
     
  6. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    25.3.2017 - Thứ Bảy Tuần 3 Mùa Chay - Lễ Truyền Tin
    Lễ trọng

    Bà đẹp lòng Thiên Chúa

    Bài đọc I: Is 7:10-14
    Một lần nữa ĐỨC CHÚA phán với vua A-khát rằng: 11 "Ngươi cứ xin ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa của ngươi ban cho ngươi một dấu dưới đáy âm phủ hoặc trên chốn cao xanh."
    12 Vua A-khát trả lời: "Tôi sẽ không xin, tôi không dám thử thách ĐỨC CHÚA."
    13 Ông I-sai-a bèn nói: "Nghe đây, hỡi nhà Đa-vít! Các ngươi làm phiền thiên hạ chưa đủ sao, mà còn muốn làm phiền cả Thiên Chúa của tôi nữa?
    14 Vì vậy, chính Chúa Thượng sẽ ban cho các ngươi một dấu: Này đây người thiếu nữ mang thai, sinh hạ con trai, và đặt tên là Em-ma-nu-en.


    Bài đọc II: Hr 10:4-10
    Thật thế, máu các con bò, con dê không thể nào xoá được tội lỗi. 5 Vì vậy, khi vào trần gian, Đức Ki-tô nói: Chúa đã không ưa hy lễ và hiến tế, nhưng đã tạo cho con một thân thể. 6 Chúa cũng chẳng thích lễ toàn thiêu và lễ xá tội. 7 Bấy giờ con mới thưa: Lạy Thiên Chúa, này con đây, con đến để thực thi ý Ngài, như Sách Thánh đã chép về con.
    8 Trước hết, Đức Ki-tô nói: Hy lễ và hiến tế, lễ toàn thiêu và lễ xá tội, Chúa đã chẳng ưa, chẳng thích, mà đó chính là những thứ của lễ được dâng tiến theo Lề Luật truyền. 9 Rồi Người nói: Này con đây, con đến để thực thi ý Ngài. Thế là Người bãi bỏ các lễ tế cũ mà thiết lập lễ tế mới. 10 Theo ý đó, chúng ta được thánh hoá nhờ Đức Giê-su Ki-tô đã hiến dâng thân mình làm lễ tế, chỉ một lần là đủ.


    Phúc Âm: Lc 1,26-38
    Bà Ê-li-sa-bét có thai được sáu tháng, thì Thiên Chúa sai sứ thần Gáp-ri-en đến một thành miền Ga-li-lê, gọi là Na-da-rét,27 gặp một trinh nữ đã thành hôn với một người tên là Giu-se, thuộc dòng dõi vua Đa-vít. Trinh nữ ấy tên là Ma-ri-a.28 Sứ thần vào nhà trinh nữ và nói: “Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà.”29 Nghe lời ấy, bà rất bối rối, và tự hỏi lời chào như vậy có nghĩa gì.30 Sứ thần liền nói: “Thưa bà Ma-ri-a, xin đừng sợ, vì bà đẹp lòng Thiên Chúa.31 Và này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giê-su.32 Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao. Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đa-vít, tổ tiên Người.33 Người sẽ trị vì nhà Gia-cóp đến muôn đời, và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận.”34 Bà Ma-ri-a thưa với sứ thần: “Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng! “35 Sứ thần đáp: “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa.36 Kìa bà Ê-li-sa-bét, người họ hàng với bà, tuy già rồi, mà cũng đang cưu mang một người con trai: bà ấy vẫn bị mang tiếng là hiếm hoi, mà nay đã có thai được sáu tháng.37 Vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được.”38 Bấy giờ bà Ma-ri-a nói: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.” Rồi sứ thần từ biệt ra đi.

    * * *

    Suy niệm: Thiên Chúa bày tỏ ơn nghĩa với chúng ta thế nào? Trong Thánh Vịnh chúng ta cầu nguyện “Lạy Chúa, xin tỏ cho con dấu chỉ của ân nghĩa Chúa” (Tv 86,17). Trong Cựu ước, Thiên Chúa thực hiện nhiều dấu lạ để chứng tỏ tình yêu và lòng thương xót dành cho dân Người, như sự giải thoát của họ khỏi ách nô lệ ở Ai Cập và việc đi trên đất khô lạ lùng giữa lòng Biển Đỏ (Tv 78,43-53). Khi Agia, vua Giuđa và là hậu duệ của ngai vàng Đavít (735 B.C.) bị bao vây bởi những lực lượng, đe doạ tiêu diệt ông và dân của ông, Thiên Chúa đã ban vua Ahaz một dấu chỉ để bảo đảm với dân Người rằng Thiên Chúa sẽ không huỷ bỏ lời hứa Người đạ thực hiện với Đavít và con cháu của ông. Tuy nhiên, vua Agia đã mất hy vọng vào Thiên Chúa và từ chối để xin một dấu chỉ ân nghĩa. Thế nhưng, Thiên Chúa đã ban cho một dấu hiệu để bảo đảm với dân Người rằng Người sẽ thật sự ban cho họ Đấng Cứu độ, Đấng sẽ cai trị với sự bình an và công chính (Is 7,11).

    Kế hoạch cứu độ của TC đang mở ra
    Chúng ta thấy sự hoàn thành lời tiên tri của Isaia và sự mở ra kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa trong những sự kiện hướng tới mầu nhiệm Nhập thể, sự sinh ra của Vua Mêsia. Thời đại mới của sự cứu độ khởi đầu với sự mang thai lạ lùng của Đức Giêsu trong lòng Maria. Đứa trẻ sắp sinh này được thụ thai bởi tác động ơn sủng của Chúa Thánh Thần trên Maria, người được nghĩa với Thiên Chúa (Lc 1,28). Như Eva là mẹ của chúng sinh trong tội lội thế nào, giờ đây Maria trở nên mẹ của Ađam mới, Đấng sẽ là Cha của chúng sinh do bởi ơn sủng của Người (Rm 5,12-21). Con trẻ này được thụ thai trong lòng Maria là sự hoàn thành của tất cả lời hứa của Thiên Chúa. Người sẽ nên “cao trọng” và là “Con của Đấng Tối cao” và là “Vua”, và tên Ngài sẽ được gọi là “Giêsu” (Lc 1,31-32), nghĩa là “Chúa cứu”. “Người sẽ cứu dân Người khỏi mọi tội lỗi” (Mt 1,21). Sứ thần lập lại với Maria, con gái của dòng họ Đavít, lời hứa với Vua Đavít rằng: “Đức Chúa, Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai báu tổ phụ Đavít của Người, và Người sẽ ngự trị nhà Gia Cóp đến muôn đời; và vương quốc của Người sẽ vô tận” (2Sm 7,12-16; Is 9,6-7; Lc 1,32-33).

    Đức Maria đáp trả lời Chúa qua sứ thần Gabriel thế nào? Maria biết mình đang nghe những điều vượt sức của con người. Đó chắc hẳn là một phép lạ cả thể vượt trổi hơn tất cả những gì Thiên Chúa đã thực hiện trước đó. Câu hỏi của Maria, “điều này xảy đến thế nào, vì tôi chưa có chồng” không phải phát xuất từ sự nghi ngờ, nhưng bởi sự kinh ngạc! Cô là người lắng nghe lời Chúa thật sự, và nhanh chóng đáp lại với lòng tin tưởng và trông cậy. Lời đáp trả “xin vâng” nhanh chóng của Maria với sứ điệp của Chúa là mẫu gương đức tin cho tất cả mọi tín hữu.

    Maria tin tưởng những lời hứa của Chúa ngay khi chúng xem ra không thể thực hiện. Maria đầy ơn sủng bởi vì cô trông cậy rằng những gì Thiên Chúa đã nói đều là sự thật và sẽ được thực hiện. Maria sẵn sàng và tha thiết thực thi thánh ý Chúa, thậm chí có khó khăn hay đòi hỏi giá đắt mấy đi nữa. Maria là “Mẹ Thiên Chúa” bởi vì Thiên Chúa đã nhập thể khi Người mặc lấy xác phàm trong lòng Mẹ. Khi chúng ta đọc kinh Tin kính, chúng ta tuyên xưng niềm tin của mình vào mầu nhiệm cao cả này: “Vì loài người chúng tôi, và để cứu rỗi chúng tôi, Người đã từ trời xuống thế. Bởi phép Đức Chúa Thánh Thần, Người đã nhập thể trong lòng Trinh nữ Maria, và đã làm người”.

    Tin tưởng và suy phục trước ơn sủng của TC
    Thiên Chúa ban cho chúng ta ơn sủng và Người mong đợi chúng ta đáp trả với cùng sự tự nguyện, vâng phục, và tin tưởng hết lòng như Mẹ Maria đã làm. Khi Thiên Chúa truyền lệnh, Người cũng ban ơn sủng, sức mạnh, và những phương thế để chúng ta đáp trả. Chúng ta có thể suy phục ơn sủng của Người hay chống lại và đi theo con đường riêng của mình. Bạn có tin tưởng vào những lời hứa của Thiên Chúa và bạn có suy phục ơn sủng của Người không?

    "Lạy Cha trên trời, Cha ban cho chúng con ơn sủng, lòng thương xót, và sự tha thứ dư dật ngang qua Con của Cha, là Đức Giêsu Kitô Chúa chúng con. Xin giúp con sống một cuộc đời tràn đầy ơn sủng như Mẹ Maria đã sống, nhờ tin vào những lời hứa của Cha, và qua sự tiếng “xin vâng” hoàn toàn trước thánh ý Cha và kế hoạch của Cha dành cho cuộc đời con."

    Don Schwager
    (dailyscripture.servantsoftheword.org/readings)
    Bro. Paul Thanh Vu – chuyển ngữ
     

Chia sẻ, giới thiệu đến bè bạn