Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!

Lời Chúa Hằng Ngày - Tuần 4 Mùa Chay

Chủ đề trong 'Công Giáo' do KhucCamTa khởi đầu 11 tháng Ba 2018.

  1. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Tứ Đẳng Tình Nguyện Viên

    12.03.2018 – Thứ Hai Tuần 4 Mùa Chay

    Con ông sống

    Lời Chúa: Ga 4, 43-54

    43 Sau hai ngày, Đức Giê-su bỏ nơi đó đi Ga-li-lê.44 Chính Người đã quả quyết: ngôn sứ không được tôn trọng tại quê hương mình.45 Khi Người đến Ga-li-lê, dân chúng trong miền đón tiếp Người, vì đã được chứng kiến tất cả những gì Người làm tại Giê-ru-sa-lem trong dịp lễ, bởi lẽ chính họ cũng đã đi dự lễ. 46 Vậy Đức Giê-su trở lại Ca-na miền Ga-li-lê, là nơi Người đã làm cho nước hoá thành rượu. Bấy giờ có một sĩ quan cận vệ của nhà vua có đứa con trai đang bị bệnh tại Ca-phác-na-um.47 Khi nghe tin Đức Giê-su từ Giu-đê đến Ga-li-lê, ông tới gặp và xin Người xuống chữa con ông vì nó sắp chết.48 Đức Giê-su nói với ông: “Các ông mà không thấy dấu lạ điềm thiêng thì các ông sẽ chẳng tin đâu! “49 Viên sĩ quan nói: “Thưa Ngài, xin Ngài xuống cho, kẻo cháu nó chết mất! “50 Đức Giê-su bảo: “Ông cứ về đi, con ông sống.” Ông tin vào lời Đức Giê-su nói với mình, và ra về.51 Ông còn đang đi xuống, thì gia nhân đã đón gặp và nói là con ông sống rồi.52 Ông hỏi họ con ông đã bắt đầu khá hơn vào giờ nào. Họ đáp: “Hôm qua, vào lúc một giờ trưa thì cậu hết sốt.”53 Người cha nhận ra là vào đúng giờ đó, Đức Giê-su đã nói với mình: “Con ông sống”, nên ông và cả nhà đều tin.54 Đó là dấu lạ thứ hai Đức Giê-su đã làm, khi Người từ miền Giu-đê đến miền Ga-li-lê.

    Suy niệm:
    Trong các sách Tin Mừng, chúng ta thường gặp nỗi sợ hãi, lo lắng
    của những bậc cha mẹ trước căn bệnh hiểm nghèo của con mình.
    Ông trưởng hội đường Giairô khẩn khoản nài xin Đức Giêsu
    “Con bé nhà tôi gần chết. Xin Thầy đến và đặt tay trên nó” (Mc 5, 23).
    Bà dân ngoại gốc Canaan kêu lên: “Xin thương xót tôi,
    vì con gái của tôi bị quỷ ám trầm trọng lắm” (Mt 15, 22).
    Người cha có đứa con bị động kinh cũng nài van Đức Giêsu:
    “Xin Thầy chạnh lòng thương mà cứu giúp chúng tôi” (Mc 9, 22).
    Trong bài Tin Mừng hôm nay viên sĩ quan, có lẽ của vua Hêrôđê, cũng năn nỉ:
    “Xin Ngài xuống cho, kẻo cháu nó chết mất !” (c. 49).
    Bệnh tật và cái chết đang đe dọa đứa con khiến cha mẹ khổ đau và bối rối.
    Họ không muốn mất đứa con đã trở nên một phần của đời họ.
    Họ vội vã đến với Đức Giêsu như đến với một nơi có thể cấp cứu kịp thời.
    Họ tin vào sự hiện diện của Ngài, vào sự chữa lành mà Ngài đem lại.
    Lòng tin của viên sĩ quan đã lớn lên từ từ.
    Ông tin nhờ nghe người ta nói về những gì Đức Giê su đã làm ở vùng Giuđê.
    Ông gặp Ngài vì tin Ngài có thể chữa đứa con trai đang nguy tử của ông
    bằng cách đi với ông về nhà ở Caphácnaum (c. 49).
    Nhưng sau đó ông tin vào uy quyền của lời Đức Giêsu :
    “Ông cứ về đi, con ông sống!”
    nên ông vâng lời đi về nhà một mình (c.50).
    Chẳng cần sự hiện diện, chỉ cần lời của Ngài nói từ xa cũng đủ con ông khỏi bệnh.
    Lòng tin của ông được vững vàng hơn khi ông kiểm chứng và biết rõ
    chính vào giờ Ngài nói thì con mình được chữa lành (c. 53).
    Bây giờ hẳn ông đã tin trọn vẹn vào chính con người Đức Giêsu.
    Lòng tin ấy lôi cuốn cả gia đình ông tin theo.
    Sau khi dấu lạ xảy ra, không thấy nói gì về thái độ ngạc nhiên của gia quyến.
    Kết quả tuyệt vời của dấu lạ là chính lòng tin của mọi người trong nhà.
    Họ sẽ được ông kể cho nghe từng chi tiết câu chuyện gặp gỡ.
    Trong tiệc cưới ở Cana, lòng tin của Đức Maria đã dẫn đến dấu lạ đầu tiên.

    Dấu lạ này đã khiến các môn đệ Đức Giêsu tin vào Ngài (Ga 2, 11).
    Trong dấu lạ thứ hai này ở Cana, lòng tin của viên sĩ quan, của một người cha,
    đã dẫn đến lòng tin của những người thân thuộc.
    Lòng tin thật sự bao giờ cũng có khả năng thu hút, lôi kéo, lan rộng.
    Ngay trước đoạn Tin Mừng này,
    chuyện người phụ nữ Samari cũng cho ta thấy điều đó.
    Từ lời chứng của chị, dân thành Xykha đã tin vào Đức Giêsu (Ga 4,39).

    Đời chúng ta cũng có những lúc tưởng như tuyệt vọng,
    khi ta thấy tuột khỏi tay mình những gì rất quý mà mình muốn ôm giữ.
    Hãy nhìn lên thánh giá để khỏi mất lòng tin.
    Hãy chấp nhận đi vào những nẻo đường lạ lẫm mà Chúa đang mời gọi.
    Như viên sĩ quan, ta sẽ gặp tin vui ngay trên đường về nhà.​

    Cầu nguyện:
    Lạy Cha từ ái,
    đây là niềm tin của con.
    Con tin Cha là Tình yêu,
    và mọi sự Cha làm đều vì yêu chúng con.
    Cả những khi Cha mạnh tay cắt tỉa,
    cả những khi Cha thinh lặng hay vắng mặt,
    cả những khi Cha như chịu thua sức mạnh của ác nhân,
    con vẫn tin Cha là Cha toàn năng nhân ái.
    Con tin Cha không chịu thua con về lòng quảng đại,
    chẳng để con thiệt thòi khi dám sống cho Cha.

    Con tin rằng nơi lòng những người cứng cỏi nhất
    cũng có một đốm lửa của sự thiện,
    được vùi sâu dưới những lớp tro.
    Chỉ một ngọn gió của tình yêu chân thành
    cũng đủ làm đốm lửa ấy bừng lên rạng rỡ.

    Con tin rằng chẳng có giọt nước mắt nào vô ích,
    thế giới vẫn tồn tại nhờ hy sinh thầm lặng của bao người.
    Con tin rằng chiến thắng cuối cùng thuộc về Ánh sáng.
    Sự Sống và Tình yêu sẽ chiếm ngự địa cầu.
    Con tin rằng dòng lịch sử của loài người và vũ trụ
    đang chuyển mình tiến về với Cha,
    qua trung gian tuyệt vời của Chúa Giêsu
    và sức tác động mãnh liệt của Thánh Thần.
    Con tin rằng dần dần mỗi người sẽ gặp nhau,
    vượt qua mọi tranh chấp, bất đồng,
    mọi dị biệt, thành kiến,
    để cùng nắm tay nhau đi qua sa mạc cuộc đời
    mà về nhà Cha là nơi hạnh phúc viên mãn.

    Lạy Cha, đó là niềm tin của con.
    Xin Cha cho con dám sống niềm tin ấy. Amen.

    Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.
     
  2. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Tứ Đẳng Tình Nguyện Viên

    13.03.2018 – Thứ Ba Tuần 4 Mùa Chay

    Muốn trở nên lành mạnh

    Lời Chúa: Ga 5, 1-3a.5-16

    1 Sau đó, nhân dịp lễ của người Do-thái, Đức Giê-su lên Giê-ru-sa-lem.2 Tại Giê-ru-sa-lem, gần Cửa Chiên, có một hồ nước, tiếng Híp-ri gọi là Bết-da-tha. Hồ này có năm hành lang.3 Nhiều người đau ốm, đui mù, què quặt, bất toại nằm la liệt ở đó.
    5 Ở đó, có một người đau ốm đã ba mươi tám năm.6 Đức Giê-su thấy anh ta nằm đấy và biết anh sống trong tình trạng đó đã lâu, thì nói: “Anh có muốn trở nên lành mạnh không? “7 Bệnh nhân đáp: “Thưa Ngài, khi nước khuấy lên, không có người đem tôi xuống hồ. Lúc tôi tới đó, thì đã có người khác xuống trước mất rồi! “8 Đức Giê-su bảo: “Anh hãy trỗi dậy, vác chõng mà đi! “9 Lập tức người ấy trở nên lành mạnh, vác chõng và đi được. Hôm đó lại là ngày sa-bát. 10 Người Do-thái mới nói với kẻ được khỏi bệnh: “Hôm nay là ngày sa-bát, anh không được phép vác chõng! “11 Nhưng anh đáp: “Chính người đã làm tôi được lành mạnh: “Anh hãy vác chõng mà đi! “12 Họ hỏi anh: “Ai là người đã bảo anh: “Vác chõng mà đi”? “13 Nhưng người đã được khỏi bệnh không biết là ai. Quả thế, Đức Giê-su đã lánh đi, vì có đám đông ở đấy.14 Sau đó, Đức Giê-su gặp người ấy trong Đền Thờ và nói: “Này, anh đã trở nên lành mạnh. Đừng phạm tội nữa, kẻo lại phải khốn hơn trước! “15 Anh ta đi nói với người Do-thái: Đức Giê-su là người đã chữa anh khỏi bệnh.16 Do đó, người Do-thái chống đối Đức Giê-su, vì Người hay chữa bệnh ngày sa-bát.


    Suy niệm:
    Các Tin Mừng Nhất lãm chẳng khi nào nói đến chuyện
    Đức Giêsu chữa bệnh cho ai ở vùng Giêrusalem.
    Riêng Tin Mừng Gioan nói đến chuyện ngài chữa bệnh cho một anh bất toại
    tại một cái hồ, gần Cửa Chiên dẫn vào khuôn viên Đền thờ Giêrusalem.
    Hồ Bết-da-tha này khá lớn, có hình chữ nhật, được ngăn làm hai phần.
    Chính vì thế có đến năm hành lang, nơi đây người bệnh nằm la liệt.
    Họ mắc đủ thứ bệnh hoạn tật nguyền khác nhau,
    nhưng ai đến đây cũng nuôi hy vọng khỏi bệnh.

    Giữa bao người ốm đau tàn tật đó, dường như Đức Giêsu chỉ thấy một mình anh.
    Ngài biết anh mắc bệnh đã lâu, nằm trên chõng một thời gian dài.
    Ba mươi tám năm, thời gian bằng một nửa đời người.
    Chính Đức Giêsu là người đến với anh và mở lời bằng một câu hỏi:
    “Anh có muốn trở nên lành mạnh không ?” (c. 6).
    Câu hỏi có vẻ thừa này thật ra lại chạm đến nỗi khát khao sâu thẳm của anh.
    Nó đụng đến chờ đợi mòn mỏi của anh từ nhiều năm qua.
    Anh bất toại không trả lời câu hỏi của Đức Giêsu, người với anh vẫn còn xa lạ.
    Nhưng anh lại muốn trải lòng cho người lạ này thấy cái ngõ cụt của mình,
    những lý do khiến mình phải nằm ở đây lâu đến vậy.
    “Tôi không có người đem tôi xuống hồ, khi nước động”: đó là lý do thứ nhất.
    Tôi không có được sự trợ giúp từ phía bạn bè thân thuộc.
    Tôi cô đơn, trơ trọi một mình.
    Giá mà tôi có ai đó giúp tôi lúc cơ may đến…
    “Lúc tôi tới đó, thì người khác đã xuống trước tôi rồi” : đó là lý do thứ hai.
    Khi phải lê đi bằng chính sức của mình, thì tôi bao giờ cũng là người đến sau.
    Tôi đã cố gắng nhiều lần, nhưng luôn phải cam chịu thất bại.
    Bây giờ tôi còn dám tin vào mình nữa không ?

    Anh bất toại mong có một người bạn đem anh xuống nước đầu tiên.
    Anh mơ thấy ngày trồi lên từ hồ nước, ướt sũng, nhưng đi lại bình thường.
    Anh chẳng tin rằng ngày ấy là hôm nay.
    Người bạn anh mong đang ở gần, kéo anh ra khỏi nỗi cô đơn.
    Anh sẽ được khỏi bệnh mà người vẫn khô ráo.
    “Anh hãy trỗi dậy, vác chõng mà đi !”: đây là lời mời hay mệnh lệnh ?
    Bất ngờ, nhanh chóng và dễ dàng, anh đã đứng lên và đi được.
    Cái chõng đã vác anh, bây giờ anh vác nó.
    Hãy nhìn những bước đi đầu tiên của người ba mươi tám năm bất toại.
    Anh đã trở nên lành mạnh, dù anh không xin hay bày tỏ lòng tin nào (cc. 6, 9,14).
    Giêsu đến với anh như một người bạn làm anh trở nên lành mạnh (cc. 11,15).
    Vì chữa bệnh cho anh này vào ngày sabát, ngài đã bắt đầu bị chống đối (c.16).

    Hôm nay Đức Giêsu cũng hỏi tôi : Con có muốn trở nên lành mạnh không?
    Con có muốn ra khỏi sự bất toại kinh niên của mình không ?
    Ngài mời tôi đứng lên và mạnh dạn bước đi, bỏ lại quá khứ tội lỗi.
    Sau khi được chữa lành, ngài dặn tôi đừng phạm tội nữa (c. 14).​

    Lời nguyện
    Lạy Cha,
    thế giới hôm nay cũng như hôm qua
    vẫn có những người bơ vơ lạc hướng
    vì không tìm được một người để tin ;
    vẫn có những người đã chết từ lâu
    mà vẫn tưởng mình đang sống ;
    vẫn có những người bị ám ảnh bởi thần ô uế,
    ô uế của bạc tiền, của tình dục, của tiếng tăm;
    vẫn có những người mang đủ thứ bệnh hoạn,
    bệnh hoạn trong lối nhìn, lối nghĩ, lối sống ;
    vẫn có những người bị sống bên lề xã hội,
    dù không phải là người phong…
    Xin Cha cho chúng con nhìn thấy họ
    và biết chạnh lòng thương như Con Cha.

    Nhưng trước hết,
    xin cho chúng con
    nhìn thấy chính bản thân chúng con.

    Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.
     
  3. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Tứ Đẳng Tình Nguyện Viên

    14.03.2018 – Thứ Tư Tuần 4 Mùa Chay

    Không thể làm gì tự mình

    Lời Chúa: Ga 5,17-30

    17 Đức Giê-su đáp lại: “Cho đến nay, Cha tôi vẫn làm việc, thì tôi cũng làm việc.”18 Bởi vậy, người Do-thái lại càng tìm cách giết Đức Giê-su, vì không những Người phá luật sa-bát, lại còn nói Thiên Chúa là Cha của mình, và như thế là tự coi mình ngang hàng với Thiên Chúa. 19 Đức Giê-su lên tiếng nói với họ rằng: “Thật, tôi bảo thật các ông: người Con không thể tự mình làm bất cứ điều gì, ngoại trừ điều Người thấy Chúa Cha làm; vì điều gì Chúa Cha làm, thì người Con cũng làm như vậy.20 Quả thật, Chúa Cha yêu người Con và cho người Con thấy mọi điều mình làm, lại sẽ còn cho người Con thấy những việc lớn lao hơn nữa, khiến chính các ông cũng phải kinh ngạc.21 Chúa Cha làm cho kẻ chết trỗi dậy và ban sự sống cho họ thế nào, thì người Con cũng ban sự sống cho ai tuỳ ý.22 Quả thật, Chúa Cha không xét xử một ai, nhưng đã ban cho người Con mọi quyền xét xử,23 để ai nấy đều tôn kính người Con như tôn kính Chúa Cha. Kẻ nào không tôn kính người Con, thì cũng không tôn kính Chúa Cha, Đấng đã sai người Con.24 Thật, tôi bảo thật các ông: ai nghe lời tôi và tin vào Đấng đã sai tôi, thì có sự sống đời đời và khỏi bị xét xử, nhưng đã từ cõi chết bước vào cõi sống.

    25 Thật, tôi bảo thật các ông: giờ đã đến – và chính là lúc này đây – giờ các kẻ chết nghe tiếng Con Thiên Chúa; ai nghe thì sẽ được sống.26 Quả thật, Chúa Cha có sự sống nơi mình thế nào, thì cũng ban cho người Con được có sự sống nơi mình như vậy,27 lại ban cho người Con được quyền xét xử, vì người Con là Con Người.28 Các ông chớ ngạc nhiên về điều này, vì giờ đã đến, giờ mọi kẻ ở trong mồ sẽ nghe tiếng người Con29 và sẽ ra khỏi đó: ai đã làm điều lành, thì sẽ sống lại để được sống; ai đã làm điều dữ, thì sẽ sống lại để bị kết án.

    30 Tôi không thể tự ý mình làm gì. Tôi xét xử theo như tôi được nghe, và phán quyết của tôi thật công minh, vì tôi không tìm cách làm theo ý riêng tôi, nhưng theo ý Đấng đã sai tôi.


    Suy niệm:
    Văn Cao chẳng những là một nhạc sĩ tài hoa,
    mà còn là một họa sĩ, một văn sĩ, một thi sĩ.
    Có một bài thơ rất ngắn ông làm năm 1967, mang tựa đề là Không Đề.
    Con thuyền đi qua
    để lại sóng
    đoàn tàu đi qua
    để lại tiếng
    đoàn người đi qua
    để lại bóng
    tôi không đi qua tôi
    để lại gì?
    Theo Văn Cao, chỉ ai đi qua mình, dám vượt qua cái tôi của mình,
    người ấy mới có gì để lại cho hậu thế.

    Đức Giêsu đã sống mầu nhiệm vượt qua suốt đời.
    Ngài không sống cho mình, nhưng cho Thiên Chúa Cha.
    Giới lãnh đạo Do-thái giáo coi Đức Giêsu là kẻ phạm thượng
    vì Ngài đã dám nói : “Cha tôi vẫn làm việc, và tôi cũng làm việc” (c. 17).
    Thật ra Đức Giêsu chẳng bao giờ phạm thượng đến Cha.
    Ngài không hề tự coi mình là Thiên Chúa (c. 18).
    Đơn giản Ngài là Con, vâng phục Cha.
    Đơn giản Ngài là người được Cha sai, chẳng hề làm theo ý riêng.

    Sống tùy thuộc trọn vẹn vào Thiên Chúa Cha,
    đó là nét nổi bật nơi con người của Đức Giêsu.
    Con không thể làm hay nói bất cứ điều gì tự mình.
    Con chỉ làm điều mình thấy Cha làm (c. 19).
    Con chỉ nói điều mình nghe Cha nói (Ga 8, 26).
    Người ta tưởng Con bị vong thân,
    nhưng chính khi lệ thuộc vào Cha mà Con được tự do trọn vẹn.
    Con thật là mình khi sống đúng bản chất của Con là quy hướng về Cha.
    Mà bản chất của Cha là trao cho Con tất cả những gì Cha có.
    Cha chẳng giữ cho riêng mình những gì có thể trao được.
    Đơn giản vì Cha yêu Con (c. 20).

    Cha cho Con được quyền tùy ý ban sự sống như Cha (c. 21).
    Cha cho Con được như Cha, nghĩa là có sự sống nơi chính mình (c. 26).
    Cha cho Con có toàn quyền xét xử (cc. 22. 27),
    và có quyền gọi kẻ chết ra khỏi mồ để chịu phán xét (c. 28).
    Cha muốn mọi người phải tôn kính Con như tôn kính Cha (c. 23).
    Con được quyền năng như Cha là vì Con đã nhận tất cả từ Cha.
    Tuy được chia sẻ mọi giàu sang của Cha,
    nhưng Con chẳng quên Cha là nguồn cội, là cùng đích.
    Mùa Chay, ta hãy đến với Giêsu, người Con yêu dấu, người được Cha sai.
    Hãy sống lệ thuộc vào Thiên Chúa để được tự do hoàn toàn như Giêsu.
    Tôi không đi qua tôi, để lại gì?
    Ta sẽ để lại được nhiều điều cho đời, nhờ biết vượt qua mình như Giêsu.
    Lời nguyện
    Lạy Chúa Giêsu,
    ai trong chúng con cũng thích tự do,
    nhưng mặt khác chúng con thấy mình dễ bị nô lệ.
    Có nhiều xiềng xích do chính chúng con tạo ra.
    Xin giúp chúng con được tự do thực sự :
    tự do trước những đòi hỏi của thân xác,
    tự do trước đam mê của trái tim,
    tự do trước những thành kiến của trí tuệ.
    Xin giải phóng chúng con khỏi cái tôi ích kỷ,
    để dễ nhận ra những đòi hỏi tế nhị của Chúa,
    để nhạy cảm trước nhu cầu bé nhỏ của anh em.

    Lạy Chúa Giêsu,
    xin cho chúng con được tự do như Chúa.
    Chúa tự do trước những ràng buộc hẹp hòi,
    khi Chúa đồng bàn với người tội lỗi
    và chữa bệnh ngày Sabát.
    Chúa tự do trước những thế lực đang ngăm đe,
    khi Chúa không ngần ngại nói sự thật.
    Chúa tự do trước khổ đau, nhục nhã và cái chết,
    vì Chúa yêu mến Cha và nhân loại đến cùng.
    Xin cho chúng con đôi cánh của tình yêu hiến dâng,
    để chúng con được tự do bay cao.
    Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.
     
    Điều chỉnh mới nhất vào lúc: 14 tháng Ba 2018
  4. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Tứ Đẳng Tình Nguyện Viên

    15.03.2018 – Thứ Năm Tuần 4 Mùa Chay

    Chúa Cha làm chứng cho tôi

    Lời Chúa: Ga 5,31-47

    31 Nếu tôi làm chứng về chính mình, thì lời chứng của tôi không thật.32 Có Đấng khác làm chứng về tôi, và tôi biết: lời Người làm chứng về tôi là lời chứng thật.33 Chính các ông đã cử người đến gặp ông Gio-an, và ông ấy đã làm chứng cho sự thật.34 Phần tôi, tôi không cần lời chứng của một phàm nhân, nhưng tôi nói ra những điều này để các ông được cứu độ.35 Ông Gio-an là ngọn đèn cháy sáng, và các ông đã muốn vui hưởng ánh sáng của ông trong một thời gian.36 Nhưng phần tôi, tôi có một lời chứng lớn hơn lời chứng của ông Gio-an: đó là những việc Chúa Cha đã giao cho tôi để tôi hoàn thành; chính những việc tôi làm đó làm chứng cho tôi rằng Chúa Cha đã sai tôi.37 Chúa Cha, Đấng đã sai tôi, chính Người cũng đã làm chứng cho tôi. Các ông đã không bao giờ nghe tiếng Người, cũng chẳng bao giờ thấy tôn nhan Người.38 Các ông đã không để cho lời Người ở mãi trong lòng, bởi vì chính các ông không tin vào Đấng Người đã sai đến.39 Các ông nghiên cứu Kinh Thánh, vì nghĩ rằng trong đó các ông sẽ tìm được sự sống đời đời. Mà chính Kinh Thánh lại làm chứng về tôi.40 Các ông không muốn đến cùng tôi để được sự sống.

    41 Tôi không cần người đời tôn vinh.42 Nhưng tôi biết: các ông không có lòng yêu mến Thiên Chúa.43 Tôi đã đến nhân danh Cha tôi, nhưng các ông không đón nhận. Nếu có ai khác nhân danh mình mà đến, thì các ông lại đón nhận.44 Các ông tôn vinh lẫn nhau và không tìm kiếm vinh quang phát xuất từ Thiên Chúa duy nhất, thì làm sao các ông có thể tin được?

    45 Các ông đừng tưởng là tôi sẽ tố cáo các ông với Chúa Cha. Kẻ tố cáo các ông chính là ông Mô-sê, người mà các ông tin cậy.46 Vì nếu các ông tin ông Mô-sê, thì hẳn các ông cũng tin tôi, bởi lẽ ông ấy đã viết về tôi.47 Nhưng nếu điều ông ấy viết mà các ông không tin, thì làm sao tin được lời tôi nói? “


    Suy niệm:
    Để hiểu được bài Tin Mừng hôm nay, chúng ta cần đọc từ đầu chương năm.
    Đức Giêsu chữa anh bất toại bên hồ nước gần Đền thờ Giêrusalem (cc. 1-9).
    Anh được khỏi và vác chõng đi vào ngày sabát theo lệnh Đức Giêsu.
    Chuyện đó dẫn đến việc người Do-thái chống đối ngài (c. 16).
    Khi nghe ngài nói: “Cho đến nay, Cha tôi vẫn làm việc, thì tôi cũng làm việc”
    họ tìm cách giết ngài, vì cho rằng ngài mắc tội phạm thượng,
    dám gọi Thiên Chúa là Cha và coi mình ngang hàng với Thiên Chúa (c. 18).
    Không chút sợ hãi, Đức Giêsu khẳng định quyền mình đã nhận được từ Cha :
    quyền làm cho kẻ chết sống lại và quyền phán xét trong ngày sau hết (cc. 19-30).
    Dù có quyền, lúc nào ngài cũng là Con làm theo ý Cha, Đấng sai ngài.

    Trong bài Tin Mừng này, Đức Giêsu như người bị đứng trước tòa, bị kết án tử.
    Vì không được tự làm chứng cho chính mình,
    nên ngài phải tìm những lời chứng để biện hộ cho lời nói, việc làm của ngài.
    Trước hết là lời chứng của Gioan Tẩy giả (cc. 33-35).
    Ông là ngọn đèn làm chứng về ánh sáng, về Đức Giêsu (Ga 1, 8-9).
    Nhưng người ta đã không đón nhận lời chứng ấy.
    Kế đến là những công việc Cha giao mà ngài đã hoàn thành (c. 36).
    Lẽ ra chúng phải là lời chứng thuyết phục cho thấy ngài được Cha sai.
    Cuối cùng là lời chứng của Chúa Cha (cc. 37-40).
    Cha làm chứng bằng những lời của Cha trong Kinh Thánh (c. 39).
    Nhưng họ không giữ lời Cha ở lại trong lòng,
    nên chẳng tin, cũng chẳng muốn đến với Đấng được Cha sai (c. 38. 40).

    Những lời chứng trên đây trở nên vô ích
    đối với những ai không có lòng yêu mến Thiên Chúa (c. 42),
    không tìm vinh quang Thiên Chúa mà chỉ tôn vinh lẫn nhau (c.44).
    Đức Giêsu đã phải chấp nhận sự từ khước này
    mà ngài biết cuối cùng sẽ dẫn đến cái chết.

    Làm sao ta có thể ra khỏi những thành kiến để đón lấy sự thật,
    ra khỏi những tư lợi ích kỷ để dám tin vào tình yêu.
    ra khỏi cái tôi chật hẹp để dám sống cho người khác.
    Hãy tin vào Giêsu, Đấng được Cha sai (c. 38).
    Hãy đến với Giêsu để được sống (40).
    Lời Nguyện
    Lạy Thiên Chúa, đây lời tôi cầu nguyện:
    Xin tận diệt, tận diệt trong tim tôi
    mọi biển lận tầm thường.
    Xin cho tôi sức mạnh thản nhiên
    để gánh chịu mọi buồn vui.

    Xin cho tôi sức mạnh hiên ngang
    để đem tình yêu gánh vác việc đời.

    Xin cho tôi sức mạnh ngoan cường
    để chẳng bao giờ khinh rẻ người nghèo khó,
    hay cúi đầu khuất phục trước ngạo mạn, quyền uy.

    Xin cho tôi sức mạnh dẻo dai
    để nâng tâm hồn vươn lên khỏi ti tiện hằng ngày.

    Và cho tôi sức mạnh tràn trề
    để âu yếm dâng mình theo ý Người muốn.
    Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.
     
  5. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Tứ Đẳng Tình Nguyện Viên

    16.03.2018 – Thứ Sáu Tuần 4 Mùa Chay

    Giờ của Người chưa đến

    Lời Chúa: Ga 7, 1-2.10.25-30

    Khi ấy, Ðức Giêsu thường đi lại trong miền Galilê; Người không muốn đi lại trong miền Giuđê, vì người Do Thái tìm giết Người. Lễ Lều của người Do Thái gần tới, tuy nhiên, khi anh em Người đã lên dự lễ, thì chính Người cũng lên, nhưng không công khai và hầu như bí mật.

    Bấy giờ có những người ở Giêrusalem nói: “Ông này không phải là người họ đang tìm giết đó sao? Kìa, ông ta ăn nói công khai mà họ chẳng bảo gì cả. Phải chăng các nhà hữu trách đã thực sự nhìn nhận ông là Ðấng Kitô? Ông ấy, chúng ta biết ông đến từ đâu rồi; còn Ðấng Kitô, khi Người đến thì chẳng ai biết Người đến từ đâu cả.”

    Lúc giảng dạy trong Ðền Thờ, Ðức Giêsu nói lớn tiếng rằng: “Các ông biết tôi ư? Các ông biết tôi đến từ đâu ư? Tôi đâu có tự mình mà đến. Ðấng đã sai tôi là Ðấng chân thật. Các ông, các ông không biết Người. Phần tôi, tôi biết Người, bởi vì tôi từ nơi Người mà đến và chính Người đã sai tôi.” Bấy giờ họ tìm cách bắt Người, nhưng chẳng có ai tra tay bắt, vì giờ của Người chưa đến.


    Suy niệm:
    Lễ Lều là một đại lễ hàng năm qui tụ đông đảo dân chúng lên Đền thờ.
    Đây là một lễ rất vui, kéo dài cả tuần (Lv 23, 34-36).
    Mục đích chính là để tạ ơn Chúa vì hoa trái mùa màng Ngài ban,
    và còn để nhớ lại tình thương Chúa trong thời gian 40 năm đi trong hoang địa.
    Lễ Lều là một lễ hội tưng bừng và long trọng bậc nhất.
    Những người tham dự cắm trại trong các lều làm bằng cành lá,
    được dựng trên mái nhà, gần nhà hay ngoài đồng.
    Mỗi buổi sáng có lễ rước nước từ hồ Silôam để rưới lên bàn thờ.
    Mỗi tối, tiền đình phụ nữ nơi Đền thờ rực rỡ ánh nến và vang tiếng múa hát.

    Đức Giêsu đã không muốn bỏ qua lễ hội này,
    dù lên Đền thờ Giêrusalem bây giờ thật là nguy hiểm đến tính mạng,
    vì người Do Thái, nghĩa là giới lãnh đạo Do Thái giáo, đang tìm cách giết Ngài.
    Đức Giêsu đã chọn giải pháp lên Đền thờ một cách kín đáo (c.10).
    Nhưng vào giữa kỳ lễ, Ngài đã giảng dạy công khai, không chút sợ hãi (c. 14).
    Đức Giêsu dám đối mặt với thế lực đang đe dọa Ngài.
    Ngài bình tĩnh giảng ngay nơi Đền thờ,
    trước những thượng tế, những người Pharisêu, và dân cư ngụ ở Giêrusalem.
    Họ chẳng dám làm gì Ngài, vì giờ của ngài chưa đến (c. 30).

    Xảy ra cuộc tranh luận giữa Ngài với dân cư ngụ ở Giêrusalem.
    Chẳng có chút thiện cảm nào với Ngài, họ chỉ muốn làm hại Ngài.
    Họ tin vào điều này một cách vững chắc :
    “Khi Đấng Kitô đến, chẳng ai biết Người đến từ đâu” (c. 27).
    Nguồn gốc của Đấng Kitô, đối với họ, phải là một điều bí ẩn.
    Họ không tin Đức Giêsu là Kitô, bởi lẽ họ “biết ông này đến từ đâu.”
    Chắc họ đã nghĩ Đức Giêsu là dân vùng Nazareth,
    làm nghề thợ mộc, sống với cha mẹ là Giuse và Maria.
    Tự hào về cái biết đúng nhưng không đủ ấy của họ,
    đã khiến họ ngừng lại nơi nguồn gốc trần thế của Đức Giêsu.

    Đức Giêsu thật là Đấng Kitô.
    Và đúng như dân Giêrusalem đã tin, nguồn gốc của Ngài thật không dễ biết.
    Đức Giêsu biết nguồn gốc của mình.
    Ngoài gốc nhân loại, Ngài còn gốc thần linh, gốc từ trời.
    Ngài không tự mình mà đến, nhưng từ Thiên Chúa chân thật mà đến.
    Ngài xuất thân từ Thiên Chúa và được Thiên Chúa sai đi (cc. 28-29).
    Dân Giêrusalem không thấy được trọn vẹn con người Đức Giêsu.
    Họ đã giết Đấng Kitô đang ở gần bên họ, vì họ mơ một Đấng Kitô bí ẩn khác.
    Làm sao tôi có thể nhận ra Đức Kitô cao cả
    đang ở bên những người tầm thường tôi gặp mỗi ngày?
    Cầu nguyện:
    Xin hãy dẫn dắt con
    đi từ cõi chết đến sự sống,
    từ lầm lạc đến chân lý.

    Xin hãy dẫn dắt con
    đi từ thất vọng đến hy vọng,
    từ sợ hãi đến tín thác.

    Xin hãy dẫn dắt con
    đi từ ghen ghét đến yêu thương,
    từ chiến tranh đến hòa bình.

    Xin hãy đổ đầy bình an
    trong trái tim chúng con,
    trong thế giới chúng con,
    trong vũ trụ chúng con.

    (Mẹ Têrêxa Calcutta)

    Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.
     
    Điều chỉnh mới nhất vào lúc: 15 tháng Ba 2018
  6. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Tứ Đẳng Tình Nguyện Viên

    17.03.2018 – Thứ Bảy Tuần 4 Mùa Chay

    Ông này là Đấng Kitô

    Lời Chúa: Ga 7,40-53

    40 Trong dân chúng, có những người nghe các lời ấy thì nói: “Ông này thật là vị ngôn sứ.”41 Kẻ khác rằng: “Ông này là Đấng Ki-tô.” Nhưng có kẻ lại nói: “Đấng Ki-tô mà lại xuất thân từ Ga-li-lê sao?42 Nào Kinh Thánh đã chẳng nói: Đấng Ki-tô xuất thân từ dòng dõi vua Đa-vít và từ Bê-lem, làng của vua Đa-vít sao? “43 Vậy, vì Người mà dân chúng đâm ra chia rẽ.44 Một số trong bọn họ muốn bắt Người, nhưng chẳng có ai tra tay bắt.

    45 Các vệ binh trở về với các thượng tế và người Pha-ri-sêu. Họ liền hỏi chúng: “Tại sao các anh không điệu ông ấy về đây? “46 Các vệ binh trả lời: “Xưa nay chưa hề đã có ai nói năng như người ấy! “47 Người Pha-ri-sêu liền nói với chúng: “Cả các anh nữa, các anh cũng bị mê hoặc rồi sao?48 Trong hàng thủ lãnh hay trong giới Pha-ri-sêu, đã có một ai tin vào tên ấy đâu?49 Còn bọn dân đen này, thứ người không biết Lề Luật, đúng là quân bị nguyền rủa! “50 Trong nhóm Pha-ri-sêu, có một người tên là Ni-cô-đê-mô, trước đây đã đến gặp Đức Giê-su; ông nói với họ:51 “Lề Luật của chúng ta có cho phép kết án ai, trước khi nghe người ấy và biết người ấy làm gì không? “52 Họ đáp: “Cả ông nữa, ông cũng là người Ga-li-lê sao? Ông cứ nghiên cứu, rồi sẽ thấy: không một ngôn sứ nào xuất thân từ Ga-li-lê cả.”53 Sau đó, ai nấy trở về nhà mình.


    Suy niệm:
    Bài Tin Mừng hôm qua cho thấy người Do-thái không tin Đức Giêsu là Kitô
    vì đối với họ, Đấng Kitô phải là người mà họ không biết xuất thân từ đâu.
    Còn Đức Giêsu thì họ tự hào đã quá biết gốc gác của Ngài (Ga 7, 27).
    Bài Tin Mừng hôm nay lại tiếp tục cuộc tranh luận về căn tính của Đức Giêsu.

    Đức Giêsu gây ra một sự chia rẽ trong dân chúng
    đang nghe Ngài giảng tại Đền thờ Giêrusalem (cc. 40-45).
    Có những người tin Ngài là Vị Ngôn sứ được ông Môsê tiên báo (Đnl 18, 15).
    Có người lại cho Ngài là Đấng Kitô (c.41).
    Có người không đồng ý như thế, vì Đức Giêsu xuất thân từ Galilê,
    còn Đấng Kitô thì phải xuất thân từ Belem, quê của vua Đavít (c.42).
    Thật ra chuyện gốc Đức Giêsu ở đâu, chẳng quan trọng mấy.
    Chuyện quan trọng là Đức Giêsu Nadarét ấy xuất thân từ Thiên Chúa.

    Đức Giêsu còn gây ra sự chia rẽ trong giới lãnh đạo.
    Các thượng tế và người Pharisêu đã sai các vệ binh đi bắt Đức Giêsu (c.32).
    Nhưng họ đã không tuân lệnh các nhà lãnh đạo ấy,
    chỉ vì họ bị ngây ngất trước lời giảng dạy đầy quyền uy của Đức Giêsu.
    “Xưa nay chưa hề có ai nói năng như người ấy” (c. 46).
    Nhận xét của họ còn đúng mãi đến tận thế.
    Trước chuyện bất phục tùng của các vệ binh, người Pharisêu cảm thấy bực bội.
    Họ không thể hiểu được tại sao các vệ binh lại có thể bị lừa dối dễ đến thế.
    Vì khinh bỉ những người tin vào Đức Giêsu,
    Họ gọi những người này là bọn dân đen, dốt nát không biết Lề Luật.
    Ai không biết Lề Luật thì cũng chẳng thể giữ Lề Luật,
    nên đây đúng là những người bị Thiên Chúa nguyền rủa (c. 49).
    Thật ra không phải là không có thủ lãnh nào trong dân tin vào Đức Giêsu.
    Ông Nicôđêmô là một thủ lãnh (Ga 3,1) đã đến gặp Đức Giêsu ban đêm.
    Ngay bây giờ ta sẽ thấy ông dám lên tiếng để bênh vực cho Ngài (c. 50).
    Ông đòi Đức Giêsu phải có tiếng nói trước khi bị kết tội (x. Đnl 1, 16-17).
    Khi kết án Ngài cách vội vã, Thượng Hội Đồng Do-thái đã phạm luật.
    Nhưng tiếng nói của ông Nicôđêmô đã không được nghe nghiêm túc.
    Bất chấp vai vế của ông, ông cũng bị chế nhạo :
    “Cả ông nữa, ông cũng là người Galilê sao ?” (c.52).
    Người Galilê là hạng người bị coi khinh vì ít giữ Luật so với người Giuđê.
    Nhưng đừng quên từ Galilê cũng có ngôn sứ Giô na, con ông Amíttai (2V 14, 25).

    Thái độ của những thượng tế và người Pharisêu thật đáng ta suy nghĩ.
    Họ khép lại trong thành kiến với Đức Giêsu.
    Họ vùi dập bất cứ ai có cái nhìn ngược với họ, dù là vệ binh hay Nicôđêmô.
    Họ không ngại châm biếm hay khinh miệt những người khác quan điểm.
    Xin Chúa cho ta hồn nhiên như các vệ binh,
    và can đảm nói sự thật như ông Nicôđêmô.
    Lời nguyện:
    Chỉ mong tôi chẳng còn gì,
    Nhờ thế Người là tất cả của tôi.

    Chỉ mong ý muốn trong tôi chẳng còn gì,
    Nhờ thế tôi cảm thấy Người ở mọi nơi,
    Đến với Người trong mọi sự,
    Và dâng người tình yêu trong mọi lúc.

    Chỉ mong tôi chẳng còn gì,
    Nhờ thế tôi không bao giờ muốn tránh gặp Người.

    Chỉ mong mọi ràng buộc trong tôi chẳng còn gì,
    Nhờ đó tôi gắn bó với ý muốn của Người
    Và thực hiện ý Người trong suốt đời tôi.

    R. Tagore
    Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.
     

Chia sẻ, giới thiệu đến bè bạn