Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!

Lời Chúa Hằng Ngày - Tuần Thánh

Chủ đề trong 'Công Giáo' do KhucCamTa khởi đầu 14 tháng Tư 2019.

  1. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Tứ Đẳng Tình Nguyện Viên

    15.04.2019 – Thứ Hai Tuần Thánh

    Ba Chị Em và Mầu Nhiệm Vượt Qua của Đức Giê-su

    LỜI CHÚA: Ga 12, 1-11

    1 Sáu ngày trước lễ Vượt Qua, Đức Giê-su đến làng Bê-ta-ni-a, nơi anh La-da-rô ở. Anh này đã được Người cho sống lại từ cõi chết.

    2 Ở đó, người ta dọn bữa ăn tối thết đãi Đức Giê-su; cô Mác-ta lo hầu bàn, còn anh La-da-rô là một trong những kẻ cùng dự tiệc với Người.3 Cô Ma-ri-a lấy một cân dầu thơm cam tùng nguyên chất và quý giá xức chân Đức Giê-su, rồi lấy tóc mà lau. Cả nhà sực mùi thơm.4 Một trong các môn đệ của Đức Giê-su là Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, kẻ sẽ nộp Người, liền nói:5 “Sao lại không bán dầu thơm đó lấy ba trăm quan tiền mà cho người nghèo? “6 Y nói thế, không phải vì lo cho người nghèo, nhưng vì y là một tên ăn cắp: y giữ túi tiền và thường lấy cho mình những gì người ta bỏ vào quỹ chung.7 Đức Giê-su nói: “Hãy để cô ấy yên. Cô đã giữ dầu thơm này là có ý dành cho ngày mai táng Thầy.8 Thật vậy, người nghèo thì bên cạnh anh em lúc nào cũng có; còn Thầy, anh em không có mãi đâu”.

    9 Một đám đông người Do-thái biết Đức Giê-su đang ở đó. Họ tuôn đến, không phải chỉ vì Đức Giê-su, nhưng còn để nhìn thấy anh La-da-rô, kẻ đã được Người cho sống lại từ cõi chết.10 Các thượng tế mới quyết định giết cả anh La-da-rô nữa,11 vì tại anh mà nhiều người Do-thái đã bỏ họ và tin vào Đức Giê-su.


    (Bản dịch của Nhóm Phiên Dịch CGKPV)

    SUY NIỆM:

    Bước vào Tuần Thánh, với bài Tin Mừng của ngày thứ hai hôm nay, Giáo Hội mời gọi chúng ta nhìn ngắm Ba Chị Em, Mác-ta, Maria và Ladarô, trong tương quan với Đức Ki-tô đang bước vào mầu nhiệm Vượt Qua.
    Xin cho chúng ta cũng biết “đọc lại” đời mình dưới ánh sáng của mầu nhiệm Vượt Qua và định hướng đời mình qui về mầu nhiệm Vượt, như chính Đức Giê-su đã thực hiện cho Ba Chị Em.

    Giống như trình thuật kể lại phép lạ Đức Giê-su làm cho anh La-da-rô được hồi sinh, vốn là bài Tin Mừng của Chúa Nhật V, Mùa Chay, năm A, chúng ta được mời gọi chiêm ngắm trong bài Tin Mừng này tương quan của ba chị em Martha, Maria và Ladarô với Đức Giê-su.

    Ba chị em, mỗi người mỗi “việc”; và chúng ta cũng có thể hiểu “việc” ở đây theo nghĩa biểu tượng, nghĩa là mỗi người mỗi cách thức phục vụ Đức Giê-su, mỗi người một cách thức đi theo Đức Giê-su, mỗi người một ơn gọi khác nhau; và như thế, mỗi người được mời gọi tôn trọng sự khác biệt của nhau, không giản lược người khác vào mình (nghĩa là buộc người khác phải giống như mình và làm như mình), và cũng không giản lược mình vào người khác (nghĩa là mình muốn giống như người khác và làm như người khác). Điều quan trọng nhất là lòng mến Đức Ki-tô.

    1. Cô Mác-ta

    Cô Mác-ta lo hầu bàn. Nếu đặt trình thuật Luca (x Lc 10, 38-42) như khởi điểm của hai trình thuật tiếp theo trong Tin Mừng Gioan (x. Ga 11 và 12), chúng ta có thể nhận ra sự “lớn lên” của cô Mác-ta trong tương quan với Đức Kitô, với những người khác và với công việc: chị đã từng quan tâm đến công việc của mình đến độ tuyệt đối hóa nó, nên trách em và trách Thầy : « Thưa Thầy, em con để mình con phục vụ, mà Thầy không để ý tới sao? Xin Thầy bảo nó giúp con một tay! » (Lc 10, 40); tiếp đến, chị thương em Ladarô của chị đến độ trách “yêu” Đức Giêsu: “Nếu Thầy ở đây em con đã không chết” (Ga 11, 32); và sau cùng, ngay trước ngưỡng của cuộc Thương Khó của Đức Giêsu, như bài Tin Mừng hôm nay kể lại, chị chẳng nói gì nữa, chúng ta chỉ nhìn thấy cô âm thầm lo hầu bàn. Giống như Đức Giê-su trong cuộc Thương Khó, chị như đạt được ơn bình an sâu thẳm trong tâm hồn:
    • Bình an, nghĩa là nhận ra « những ơn huệ Chúa ban » (x. Ga 10, 10) ; vì thế trong mọi sự, sống và hành động với tâm tình biết ơn.
    • Bình an, nghĩa là tự do với mọi sự để yêu mến và phục vụ Đức Giêsu vẫn với và ngang qua công việc phục vụ nhỏ bé không tên của mình.
    • Bình an, nghĩa là tôn trọng sự khác biệt nơi những ngôi vị khác và đi vào hiệp thông, nguồn dẫn đến hiệp nhất, thay vì giản lược những ngôi vị khác vào chính mình.
    2. Cô Maria

    Cô Ma-ri-a lấy một cân dầu thơm cam tùng nguyên chất và quý giá xức chân Đức Giê-su, rồi lấy tóc mà lau. Cử chỉ diễn tả lòng mến Chúa và ước ao trao tặng tất cả cho Chúa. Chị muốn đổ tất cả những gì mình là và những gì mình có vào chân Chúa. Thánh Gioan ghi nhận một chi tiết thật hiển nhiên, nhưng đầy ý nghĩa: “Cả nhà nực Hương Thơm” (c. 3).

    Một cử chỉ đầy ý nghĩa như thế, nhưng lại bị người ta nhìn một cách tiêu cực; người ta không chỉ cảm thấy khó chịu trong lòng mà còn tỏ thái độ: họ xầm xì với nhau, rồi sau đó quay ra hằn học với chị (theo Mc 14, 3-9). Người ta đây là những ai? Đó là “một số người” theo Mác-cô, là “các môn đệ” theo Mát-thêu, là “Giuđa” theo Gioan. Tóm lại, họ toàn là đàn ông!

    Qua hình ảnh dầu thơm cam tùng nguyên chất và quý giá xức vào chân Đức Giê-su, chúng ta được mời gọi đọc ra tình yêu vô ngần vô hạn mà cô Maria dành cho Đức Giêsu. Nhưng lại có người cho là uống phí và đánh giá quà tặng này bằng tiền bạc! Họ đưa ra những lý do rất hợp lý và hợp tình: hợp lý vì dầu thơm đáng giá cả năm trời làm lụng mà đổ “trớt quớt” đi hết như thế; hợp tình vì nếu đem bán đi sẽ có tiền đi giúp người nghèo. Nhưng những thứ “hợp” này chỉ là vẻ bề ngoài, vấn đề là con tim của họ hướng về đâu: người nghèo, Đức Giêsu hay tiền bạc? Tin Mừng Gioan, qua nhân vật Giuđa, nói thẳng ra đó là vì lòng ham tiền (Ga 12, 6). Người ta cảm thấy tiếc tiền hơn là nghĩ đến người nghèo và càng không nghĩ đến số phận của Đức Giêsu, “Người Nghèo của Giavê”. Người nghèo, nhưng ai là người nghèo? Chẳng lẽ Đức Giêsu không phải là “Người Nghèo” đích thật đáng để nhận một quà tặng như thế?

    Cái nhìn của Đức Giêsu là cái nhìn đón nhận, khác hẳn cái nhìn của những người kia: “Hãy để cho cô yên.” Ngài bênh vực chị, một lời bênh vực có tầm mức chưa từng thấy.
    • “Cô đã giữ dầu thơm này là có ý dành cho ngày mai táng Thầy”. Đức Giê-su hướng quà tặng của cô Maria tới cuộc Thương Khó mà Ngài sắp trải qua. Như thế, “Hương Thơm Bêtania” được tháp nhập vĩnh viễn vào Cuộc Thương Khó của Đức Giêsu, và cả Sự Phục Sinh nữa, vì hương thơm là biểu tượng của sự sống.
    • “Người nghèo thì bên cạnh anh em lúc nào cũng có; còn Thầy, anh em không có mãi đâu”. Đức Giêsu đồng hóa mình với người nghèo (x. Mt 25, 35), nhưng Ngài vẫn muốn mình được ưu tiên hơn mọi người nghèo mỗi khi ngài hiện diện. Bởi vì Ngài là Người Nghèo đích thật của Thiên Chúa (x. 2 Cr 8, 9; Pl 2, 5-11).
    3. Anh Ladarô

    Anh Ladarô là “sướng nhất”, được ngồi dự tiệc với Đức Giê-su. Ngang qua trình thuật kể lại biến cố Đức Giê-su làm cho anh hồi sinh, chúng ta biết rằng, anh được Đức Giê-su ưu ái đặc biệt: “Thưa Thầy, người Thầy thương mến đang bị đau nặng” (Ga 11, 3), “Thưa Thầy, nếu có Thầy ở đây, em con đã không chết” (c. 21 và 32), “Đức Giê-su liền khóc. Người Do Thái mới nói: kìa xem, ông ta thương Ladarô biết mấy!” (c. 35-36).

    Tin Mừng chẳng hề nói một chi tiết nào về con người của anh, về “đức hạnh” của anh; và anh cũng chẳng phải là một trong các môn đệ đã bỏ mọi sự để đi theo Đức Giê-su rong ruổi cực khổ vất vả. Về anh, Tin Mừng như muốn làm nổi bật lên tình yêu nhưng không tuyệt đối Đức Giê-su dành cho anh. Giống như trường hợp của Đức Maria, tình yêu nhưng không tuyệt đối Đức Giê-su dành cho anh, chính là để anh cũng có thể dâng lại vô điều kiện cho Chúa tất cả, để anh thi hành “sứ mạng đặc biệt”, đó là cùng chết với Đức Giê-su và như Đức Giê-su, nghĩa là trong sự hiền lành tuyệt đối không chút phản kháng: “Các Thượng Tế quyết định giết cả anh Ladarô nữa” (Ga 12, 10).

    * * *

    Như thế, cả ba chị em đều thông phần trọn vẹn vào Mầu nhiệm Vượt Qua, chết và phục sinh của Đức Ki-tô, theo cách của mình, bởi lòng mến Đức Giê-su dành cho ba chị em và vì lòng mến mà ba chị em dành cho Chúa.

    Tuần Thánh 2019
    Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc



    <°)))>< . <°)))><


    Suy Niệm Lời Chúa, Thứ Hai 15/04/2019

     
    Điều chỉnh mới nhất vào lúc: 16 tháng Tư 2019 at 8:03 PM
  2. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Tứ Đẳng Tình Nguyện Viên

    16.04.2019 – Thứ Ba Tuần Thánh

    Phản bội và thất hứa trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa

    LỜI CHÚA: Ga 13, 21-33.36-38


    21 Nói xong, Đức Giê-su cảm thấy tâm thần xao xuyến. Người tuyên bố: “Thật, Thầy bảo thật anh em: có một người trong anh em sẽ nộp Thầy.”22 Các môn đệ nhìn nhau, phân vân không biết Người nói về ai.23 Trong số các môn đệ, có một người được Đức Giê-su thương mến. Ông đang dùng bữa, đầu tựa vào lòng Đức Giê-su.24 Ông Si-môn Phê-rô làm hiệu cho ông ấy và bảo: “Hỏi xem Thầy muốn nói về ai? “25 Ông này liền nghiêng mình vào ngực Đức Giê-su và hỏi: “Thưa Thầy, ai vậy? “26 Đức Giê-su trả lời: “Thầy chấm bánh đưa cho ai, thì chính là kẻ ấy.” Rồi Người chấm một miếng bánh, trao cho Giu-đa, con ông Si-môn Ít-ca-ri-ốt.27 Y vừa ăn xong miếng bánh, Xa-tan liền nhập vào y. Đức Giê-su bảo y: “Anh làm gì thì làm mau đi! “28 Nhưng trong số các người đang dùng bữa, không ai hiểu tại sao Người nói với y như thế.29 Vì Giu-đa giữ túi tiền, nên có vài người tưởng rằng Đức Giê-su nói với y: “Hãy mua những món cần dùng trong dịp lễ”, hoặc bảo y bố thí cho người nghèo.30 Sau khi ăn miếng bánh, Giu-đa liền đi ra. Lúc đó, trời đã tối.

    31 Khi Giu-đa đi rồi, Đức Giê-su nói: “Giờ đây, Con Người được tôn vinh, và Thiên Chúa cũng được tôn vinh nơi Người.32 Nếu Thiên Chúa được tôn vinh nơi Người, thì Thiên Chúa cũng sẽ tôn vinh Người nơi chính mình, và Thiên Chúa sắp tôn vinh Người.

    33 Hỡi anh em là những người con bé nhỏ của Thầy, Thầy còn ở với anh em một ít lâu nữa thôi. Anh em sẽ tìm kiếm Thầy; nhưng như Thầy đã nói với người Do-thái: “Nơi tôi đi, các người không thể đến được”, bây giờ, Thầy cũng nói với anh em như vậy.

    36 Ông Si-môn Phê-rô nói với Đức Giê-su: “Thưa Thầy, Thầy đi đâu vậy? ” Đức Giê-su trả lời: “Nơi Thầy đi, bây giờ anh không thể theo đến được; nhưng sau này anh sẽ đi theo.”37 Ông Phê-rô thưa: “Thưa Thầy, sao con lại không thể đi theo Thầy ngay bây giờ được? Con sẽ thí mạng con vì Thầy! “38 Đức Giê-su đáp: “Anh sẽ thí mạng vì Thầy ư? Thật, Thầy bảo thật cho anh biết: gà chưa gáy, anh đã chối Thầy ba lần.”


    (Bản dịch của Nhóm Phiên Dịch CGKPV)

    SUY NIỆM:

    1. “Có một người trong anh em sẽ nộp Thầy”

    Trong bài Tin Mừng theo Thánh Gioan của Thứ Ba Tuần Thánh, Đức Giê-su tiên báo trước hành vi phản bội của ông Giu-đa, bởi vì đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến cuộc Thương Khó của Người:

    Thật, Thầy bảo thật anh em:
    “có một người trong anh em sẽ nộp Thầy.”
    (c. 21)

    Ngay trước đó, trình thuật kể lại biến cố Đức Giê-su rửa chân cho các môn đệ (x. Ga 13, 1-20), mà chúng ta sẽ nghe lại trong Thánh Lễ Tiệc Ly vào chiều Thứ Năm Tuần Thánh, cũng được đánh dấu rõ nét bởi hành vi phản bội này: ở phần đầu (c. 2), phần cuối (c 18) và phần giữa (c. 11).
    • “Ma quỉ đã gieo vào lòng Giu-đa…” (c. 2 và 27), ở đây Giuđa được nhìn như là nạn nhân của Sự Dữ.
    • “Người biết ai sẽ nộp Người” (c. 11), trong lời tường thuật này của thánh sử Gioan, Giuđa được nhìn như là tác nhân.
    • “Nhưng phải ứng nghiệm lời Kinh Thánh sau đây: Kẻ đã cùng con chia cơm sẻ bánh lại giơ gót đạp con” (c. 18; trích Tv 41, 10). Trong lời nói này của chính Đức Giê-su, Giuđa được nhìn trong Kế Hoạch cứu độ của Thiên Chúa.
    Lắng nghe lời của thánh sử Gioan và lắng nghe lời của chính Đức Giê-su, chúng ta được mời gọi nhận ra rằng, bản chất đích thực của hành vi phản bội phức tạp hơn chúng ta tưởng ; thực vậy, cùng với Giuđa, còn có ma quỉ (x. Ga 13, 2 và 27; Lc 22, 3) và hơn nữa, cả hai được tháp vào trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa!

    2. Kế hoạch cứu độ

    Thật vậy, về hành động của Giuda, nếu chúng ta so sánh bốn Tin Mừng, chúng ta sẽ nhận ra rằng, mỗi Tin Mừng nói về ông một cách khác nhau. Bởi vì chúng ta chỉ biết hành vi thôi, chứ không thấy được những động lực phức tạp của nội tâm. Tin Mừng theo thánh Mát-thêu nhấn mạnh đến lý do tiền bạc: “Tôi nộp ông ấy cho quí vị, thì quí vị muốn cho tôi bao nhiêu?” (Mt 26, 15). Tuy nhiên, những gì diễn ra sau đó, cho thấy Giu-đa không phải hành động vì tiền: ông đã hội hận và trả lại tiền; nhưng ông đã không mở lòng ra để đón nhận lòng thương xót, nhưng tự làm quan tòa của chính mình. Hơn nữa, lời loan báo của Đức Giê-su về Giu-đa cũng ẩn dấu nhiều bí ẩn:

    (1) Lời loan báo hướng tới một người, nhưng ai cũng buồn rầu và thấy mình có liên quan: “Chẳng lẽ con sao?” (Mc 14, 19). Về chuyện này, không ai chắc chắn về mình cả. Có sức mạnh nào đó vượt quá các tông đồ, các môn đệ, vượt quá Giuđa, vượt quá mỗi người chúng ta.

    (2) Đức Giêsu biết trước, nhưng tại sao Ngài như vẫn chấp nhận và thậm chí đón nhận Giuđa, ít nhất là trong bữa ăn này? “Nhóm Mười Hai” cùng tới đầy đủ, cùng vào bàn, cùng ăn (Mc 14, 17); và lời nói này có nguồn gốc từ một Thánh Vịnh, Tv 41, 10. Và sự bao dung này của Chúa dành cho từng người chúng ta vẫn diễn ra hằng ngày trong Thánh Lễ.

    (3) Và lời của Đức Giê-su về Giu-đa là một lời than, chứ không phải chúc dữ: “Bất hạnh cho kẻ nào nộp Con Người: thà nó đừng sinh ra thì hơn!”. Nhưng dù sao, lời này cũng quá nghiêm trọng. Biến cố hoài thai, vốn là một ân huệ, một công trình tạo dựng kỳ diệu (x. Tv 139, 13), trở nên không đáng có.

    Và chúng ta cũng có thể liên kết tội của Giu-đa với tội nguyên tổ: vô ơn, ham muốn, nghi ngờ. Nếu là như thế, tội của Giu-đa, là nơi hội tụ của mọi tội. Tội này có nguyên nhân là Con Rắn, và Tội này cũng dẫn đến ơn cứu độ là Thập Giá Đức Giê-su.

    * * *

    Đây là mầu nhiệm trên hết mọi mầu nhiệm. Câu chuyện của Giuse trong sách Sáng Thế giúp chúng hiểu được phần nào mầu nhiệm này: “Ông Giuse nói với họ: Đừng sợ! Tôi đâu có thay quyền Thiên Chúa! Các anh đã định làm điều ác cho tôi, nhưng Thiên Chúa lại định cho nó thành điều tốt, để thực hiện điều xảy ra hôm nay, là cứu sống một dân đông đảo” (St 50, 19-20).

    Thật vậy, Giuđa, và cùng với Giuđa là Satan, không những không ngăn cản được tình yêu của Đức Giêsu, nhưng vô tình làm cho tình yêu ấy trở nên tuyệt đối và đi đến cùng. Tình yêu đến cùng dành cho các môn đệ, trong đó có Giuđa, cho từng người chúng ta. Chính vì thế, chính khi Giuđa ra đi, bước vào trong bóng tối, Đức Giê-su nói:

    Giờ đây, Con Người được tôn vinh, và Thiên Chúa cũng được tôn vinh nơi Người. Nếu Thiên Chúa được tôn vinh nơi Người, thì Thiên Chúa cũng sẽ tôn vinh Người nơi chính mình, và Thiên Chúa sắp tôn vinh Người. (Ga 13, 31-32)

    3. « Gà chưa gáy, anh đã chối Thầy ba lần!»

    Đức Giê-su từ cung lòng của Thiên Chúa Cha, sinh ra trong thế giới của chúng ta bởi quyền năng của Thánh Thần, và từ thế giới của chúng ta, Người về với Chúa Cha, sứ mạng của Người là bày tỏ “tình yêu đến cùng” của Ba Ngôi Thiên Chúa cho loài người và cho từng người.

    Như thánh Gioan xác tín, khi tường thuật hành vi Đức Giê-su rửa chân trong bữa tiệc ly: “Người “biết giờ của Người đã đến, giờ phải bỏ thế gian mà về với Chúa Cha. Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng” (Ga 13, 1).
    Ông Phê-rô chưa thể nhận ra hành trình Vượt Qua của Thầy Giê-su, ngang qua sự chết, sự dữ, sự phản bội và cả sự thất hứa của ông, để bày tỏ tình yêu đến cùng của Thiên Chúa cho con người, nên ông hỏi:

    Thưa Thầy, Thầy đi đâu vậy? (c. 36)

    Nơi Thầy đi, bấy giờ, ông chưa thể theo đến được, nhưng sau khi Thầy hoàn tất hành trình Vượt Qua, ông sẽ đi theo (c. 36b). Tương tự như khi Thầy rửa chân cho ông, lúc ấy ông vẫn chưa hiểu, vì ông chỉ hiểu và sống “mầu nhiệm rửa chân”, sau khi Đấng Phục Sinh tỏ mình ra cho ông (x. Ga 21, 1-19), để ông được thông phần với Người (x. Ga 13, 6-11).

    Như thế, Giáo Hội và mỗi người chúng ta chỉ có thể đi theo Đức Giê-su đến cùng, khi hiểu mầu nhiệm Vượt Qua và để cho Người tái hiện mầu nhiệm Vượt Qua trên cuộc đời chúng ta mà thôi.

    * * *

    Ông Phêrô nổi bật trong lời cam kết đến hai lần: Khi Chúa báo trước tất cả các môn đệ sẽ vấp ngã vì Chúa, Phêrô thưa: “Ngay cả khi mọi người vấp ngã vì Thầy, phần con, con sẽ không bao giờ vấp ngã”. Và khi Chúa nói một cách chính xác với Phêrô rằng ông sẽ chối Chúa đến ba lần ngay đêm hôm ấy trước khi gà gáy, Phêrô nói với Chúa: “Con sẽ không chối Thầy, dù có phải chết với Thầy”.

    Các môn đệ khác cũng vậy: trong bữa tiệc ly, nghe lời Thầy và đón nhận bánh và rượu Thầy trao, nhưng dường như các môn đệ chẳng hiểu gì; họ cùng theo Chúa đến núi Ôliu và họ được Chúa báo trước rằng họ sẽ vấp ngã tất cả vì Chúa; nhưng cùng với Phêrô, họ tuyên hứa với Thầy là sẽ không bao giờ chối bỏ Thầy. Họ dựa vào lời mình hơn là lời Chúa.

    Cần phải cương quyết như thánh Phêrô, nhưng trong trường hợp này, ông Phêrô như đụng đến giới hạn của mình mà không biết, nhưng Chúa lại biết rõ. Tôi đã có bao giờ vấp ngã chưa, khi đối diện với con đường thực sự trở nên tấm bánh của Chúa Giêsu hay khi đối diện với lời mời gọi để cho Chúa Giêsu trở nên bánh, trong đời sống đức tin và nhất là trong đời sống thánh hiến của tôi? Tôi có kinh nghiệm chối Đức Giêsu, như ông Phêrô chưa?

    Để theo Chúa đến cùng trên con đường của Chúa, chúng ta không thể duy ý chí và dựa vào sức mình được, nhưng còn phải dựa vào lòng trung tín và lòng thương xót của Chúa. Giáo Hội được xây dựng « Đá Tảng Phêrô », nhưng « Tảng Đá Phêrô » lại dựa vào lòng thương xót.

    * * *​

    Không ai có thể đứng vững trước « Giờ Con Người bị nộp vào tay phường tội lỗi » sắp đến, chỉ có một mình Đức Giêsu có thể đối đầu được thôi, vì trong cuộc Thương khó, Kẻ Nghịch chính là Sự Dữ hành động nơi những con người cụ thể, và vì đó là kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa, như lời Kinh Thánh đã chép: “Ta sẽ đánh người chăn chiên và chiên sẽ tan tác”.

    Vì thế, Ngài đón nhận tất cả, bao dung tất cả và còn hứa qui tụ các môn đệ, qui tụ tất cả chúng ta lại, sau khi đã Vượt Qua và chiến thắng Sự Dữ và Sự Chết.

    Tuần Thánh 2019
    Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc



    <°)))>< . <°)))><


    Suy Niệm Lời Chúa, Thứ Ba 16/04/2019


     
  3. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Tứ Đẳng Tình Nguyện Viên

    17.04.2019 – Thứ Tư Tuần Thánh

    Giu-đa và Kế Hoạch Cứu Độ của Thiên Chúa

    LỜI CHÚA: Mt 26, 14-25


    14 Bấy giờ, một người trong Nhóm Mười Hai tên là Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, đi gặp các thượng tế 15 mà nói: “Tôi nộp ông ấy cho quý vị, thì quý vị muốn cho tôi bao nhiêu.” Họ quyết định cho hắn ba mươi đồng bạc.16 Từ lúc đó, hắn cố tìm dịp thuận tiện để nộp Đức Giê-su.
    17 Ngày thứ nhất trong tuần bánh không men, các môn đệ đến thưa với Đức Giê-su: “Thầy muốn chúng con dọn cho Thầy ăn lễ Vượt Qua ở đâu? “18 Người bảo: “Các anh đi vào thành, đến nhà một người kia và nói với ông ấy: “Thầy nhắn: thời của Thầy đã gần tới, Thầy sẽ đến nhà ông để ăn mừng lễ Vượt Qua với các môn đệ của Thầy.”19 Các môn đệ làm y như Đức Giê-su đã truyền, và dọn tiệc Vượt Qua.

    20 Chiều đến, Đức Giê-su vào bàn tiệc với mười hai môn đệ.21 Đang bữa ăn, Người nói: “Thầy bảo thật anh em, một người trong anh em sẽ nộp Thầy.”22 Các môn đệ buồn rầu quá sức, lần lượt hỏi Người: “Thưa Ngài, chẳng lẽ con sao? “23 Người đáp: “Kẻ giơ tay chấm chung một đĩa với Thầy, đó là kẻ nộp Thầy.24 Đã hẳn Con Người ra đi theo như lời đã chép về Người, nhưng khốn cho kẻ nào nộp Con Người: thà nó đừng sinh ra thì hơn! “25 Giu-đa, kẻ nộp Người cũng hỏi: “Ráp-bi, chẳng lẽ con sao? ” Người trả lời: “Chính anh nói đó! “

    (Bản dịch của Nhóm Phiên Dịch CGKPV)

    SUY NIỆM:

    1. Ông Giu-đa tác nhân


    Không kể hai Bài Thương Khó, được công bố vào ngày Chúa Nhật Lễ Lá và vào ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, các bài Tin Mừng của ba ngày liên tiếp, thứ ba, thứ tư và thứ năm, đều được ghi dấu đậm nét bởi hình ảnh Giu-đa (Ga 13, 21-33.36-38; Mt 26, 14-25; Ga 13, 1-15). Và chắc chắn, mỗi khi tưởng niệm cuộc Thương Khó của Đức Giê-su, Giu-đa cũng là một trong những khuôn mặt gây phản ứng, thắc mắc, đánh động, chất vấn… nơi chúng ta nhiều nhất.

    Cũng như xưa kia, lời loan báo phản bội hướng tới một người, nhưng ai cũng buồn rầu và thấy mình có liên quan: “Thưa Thầy, có phải con không?” (Mt 26, 22; Mc 14, 19); “Các môn đệ nhìn nhau, phân vân không biết Người nói về ai” (Ga 13, 22). Về chuyện này, không ai chắc chắn về mình cả. Như thế, khả thể Giuđa có ở nơi mọi người, với những mức độ và cách thể hiện khác nhau.

    Tại sao Giu-đa lại đi nộp Thầy của mình? Tin Mừng theo thánh Mát-thêu nhấn mạnh đến lý do tiền bạc: “Tôi nộp ông ấy cho quý vị, thì quí vị muốn cho tôi bao nhiêu?” (Mt 26, 15). Tuy nhiên, những gì diễn ra sau đó, cho thấy Giuda không phải hành động vì tiền: ông đã hối hận và trả lại tiền; vấn đề là ông đã không mở lòng ra để đón nhận lòng thương xót, nhưng tự làm quan tòa của chính mình. Tuy vậy, động lực “tiền nong” cũng không phải là không có trong cách chúng ta đi theo Chúa, làm việc cho Chúa.

    Như thế, chắc là ông có một động lực khác nghiêm túc hơn, rồi nhân đó, kiếm thêm chút tiền bỏ vào quỹ chung. Đó có thể là vì ông thất vọng về cách hành xử của Thầy mình, và tâm tình này ít nhiều gì cũng có nơi các môn đệ khác; vì thế, đã có những người bỏ đi (Ga 6, 66). Do đó, ông muốn đặt Thầy của mình vào một tình huống buộc Thầy phải hành động bằng quyền năng để thoát thân, và nhân đó, tái lập Vương Quyền bằng sức mạnh thần linh. Nhưng ông đã không ngờ là Ngài không hành động gì, mà lại còn để cho mình bị kết án tử.

    Giuđa phản bội, nhưng Đức Giê-su dùng chính hành động này để thể hiện tình yêu đến cùng của Ngài dành cho tất cả những người thuộc về Ngài, theo kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa. Như thế, Giu-đa đã không những không ngăn cản được tình yêu của Đức Giê-su, nhưng vô tình làm cho tình yêu ấy đi đến cùng. Tình yêu đến cùng dành cho mọi người, trong đó có Giuđa. Chính vì thế, Đức Giê-su nói với Giu-đa: “Anh làm gì thì làm mau đi” (Ga 13, 27 và Mt 26, 50) và chính khi, Giu-đa ra đi thực hiện hành vi phản bội, Đức Giê-su nói: “Giờ đây, Con Người được tôn vinh, và Thiên Chúa cũng được tôn vinh nơi Người” (Ga 13, 31). Những gì xảy ra trong lịch sử cứu độ đạt tới cao điểm ở đây: Thiên Chúa Ba Ngôi dùng chính hành vi phản bội, cũng như dùng chính tội lỗi của chúng ta, dùng chính hành động của Sa-tan, để “hiển dung”.

    2. Ông Giu-đa nạn nhân

    Một đàng, Giu-đa phạm trọng tội (Mc 14, 10; Mt 26, 14-15); và chính Đức Giê-su cũng có những lời than vãn (than vãn chứ không phải chúc dữ) về Giu-đa: “Bất hạnh cho kẻ nào nộp Con Người: thà nó đừng sinh ra thì hơn!” (Mt 26, 24b). Đàng khác, chính Satan hành động nơi Giu-đa: “Xa-tan đã nhập vào Giu-đa, cũng gọi là Ít-ca-ri-ốt, một người trong Nhóm Mười Hai” (Lc 22, 3); “Ma quỷ đã gieo vào lòng Giu-đa, con ông Si-môn Ít-ca-ri-ốt, ý định nộp Đức Giê-su”; và “Y vừa ăn xong miếng bánh, Xa-tan liền nhập vào y” Ga 13, 2 và 27). Nếu là như thế, Giu-đa cũng là nạn nhân trong hành động phản bội Thầy của mình. Tương tự như trường hợp “tội nguyên tổ”, chính Con Rắn là nguyên nhân chính: “Con Rắn, người phụ nữ nói với Thiên Chúa, đã lừa dối con, nên con ăn” (St 3, 13).

    Và đàng khác nữa, tất cả là để cho Kinh Thánh được hoàn tất, nghĩa là chương trình thông ban sự sống và cứu độ của Thiên Chúa được thực hiện cách trọn vẹn: “Đã hẳn Con Người ra đi theo như lời đã chép về Người” (Mt 26, 24a); “Phải ứng nghiệm lời Kinh Thánh sau đây: Kẻ cùng con chia cơm sẻ bánh lại giơ gót đạp con” (Ga 13, 18; trích Tv 41, 10).

    Như thế, bản chất đích thực của hành vi phản bội nơi Giu-đa phức tạp hơn chúng ta tưởng; thực vậy, cùng với Giuđa, còn có ma quỷ và hơn nữa cả hai được tháp vào trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa. Chúng ta vẫn thường nghĩ rằng, vì sự phản bội của Giu-đa mà Đức Giêsu bị bắt, bị xét xử và bị hành hình. Không phải hoàn toàn như thế, bởi vì Người đã biết và dự báo từ trước cuộc Thương Khó, và ngay cả sự phản bội của Giuđa, Ngài cũng biết rõ. Các bài Tin Mừng trong những ngày này đặc biệt nhấn mạnh đến điều này. Vấn đề là Ngài cứ để cho tuần tự xảy ra tất cả những gì sẽ dẫn ngài đến cái chết. Tại sao vậy?
    • Giuse nói với các anh: “Đừng sợ! Tôi đâu có thay quyền Thiên Chúa! Các anh đã định làm điều ác cho tôi, nhưng Thiên Chúa lại định cho nó thành điều tốt, để thực hiện điều xảy ra hôm nay, là cứu sống một dân tộc đông đảo” (St 50, 19-20). Điều này đúng trong lịch sử cứu độ và cũng đúng trong cuộc đời chúng ta.
    • Thánh Phaolô nói: « Tội càng nhiều, ơn sủng càng chứa chan »,
    • Và ngài còn nói: « Đức Giê-su chết cho chúng ta ngay khi chúng ta còn ở trong tội ».
    Như thế, điều xấu là do con người làm cho nhau và làm cho Chúa, nhưng Người dùng chính điều dữ này để cho chúng ta nhận ra lòng thương xót vô biên của Chúa. Nhìn ngắm Giuđa, chúng ta được mời gọi nhận ra sự nghiêm trọng nơi tội của ông và nhận ra tội của chúng ta ở mức độ nào đó, nhưng không phải để lên án Giuđa và lên án mình, nhưng như thánh Gioan nói, chính là để nhận ra lòng thương xót của Chúa lớn hơn tội của chúng ta.

    * * *

    Vậy thì phải “xét đoán” làm sao về Giu-đa? Đơn giản là ngưng ngay hành động xét đoán! Vì Đức Giê-su muốn như thế: “anh em đừng xét đoán!” (Mt 7, 1). Và chúng ta cũng chẳng có thể xét đoán được, nếu nhìn vấn đề một cách toàn diện theo các Tin Mừng; và nhất là chúng ta chỉ biết hành vi thôi, chứ không thấy được những động lực phức tạp của nội tâm, mà chỉ có một mình Chúa biết.

    Thật vậy, chứng kiến tận mắt hành động bách hại và giết hại chính mình, Đức Giê-su cầu nguyện: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23, 34). Giu-đa chắc chắn cũng không biết hết được việc mình đang làm, là làm cho Satan; và một cách nhiệm mầu, cũng là “làm” cho Thiên Chúa. Vì chính khi Giu-đa ra đi, bước vào trong bóng tối, Đức Giê-su nói:

    Giờ đây, Con Người được tôn vinh, và Thiên Chúa cũng được tôn vinh nơi Người. Nếu Thiên Chúa được tôn vinh nơi Người, thì Thiên Chúa cũng sẽ tôn vinh Người nơi chính mình, và Thiên Chúa sắp tôn vinh Người. (Ga 13, 31-32)

    3. Mầu Nhiệm Vượt Qua và Kế Hoạch Cứu Độ

    Ý định giết chết Đức Giê-su có từ rất sớm (Mc 3, 6; 14, 1-2); vì thế, không có sự phản bội của Giu-đa, ý định chết chóc này cũng tất yếu sẽ đi đến cùng. Và “Giờ” đã đến; không chỉ là Giờ của Sự Dữ nhưng còn là Giờ của Thiên Chúa. Đó là thời điểm mà mọi sự đều đạt tới cực điểm: qua lời nói và việc làm, Đức Giê-su đã bày tỏ căn tính đích thực của mình trong tương quan với Thiên Chúa và con người; người Do Thái không chấp nhận và quyết định giết Đức Giê-su; và Lễ Vượt Qua, cũng là một cực điểm, là thời điểm thuận tiện nhất cho cả hai phía, Đức Giê-su và người Do Thái, đi vào “cuộc chiến” quyết định.

    Lễ Vượt Qua là lễ lớn nhất trong năm của người Do Thái, nhằm tưởng nhớ ơn giải thoát khỏi Ai Cập và tưởng nhớ những ân huệ Thiên Chúa ban cho dân. Và chính trong bầu khí tưởng nhớ và hiện tại hóa ơn sự sống Thiên Chúa ban, mà Đức Giê-su quyết định làm hoàn tất, nghĩa là đẩy cho “đến cùng” ý định thông truyền sự sống cho Dân của Ngài, ngang qua Bí Tích Thánh Thể và mầu nhiệm Vượt Qua; và cũng chính trong bầu khí “ơn huệ sự sống” này mà các thượng tế và luật sĩ tạo ra bầu khí “bạo lực chết chóc”, là lập mưu, bắt lấy Đức Giê-su và giết đi. Những gì mà họ muốn làm cho Đức Giê-su, về những lần Ngài chữa bệnh vào ngày sa-bát (Mc 3, 1-6), vốn cũng là ngày tưởng nhớ ơn huệ, đạt tới đỉnh cao ở đây.

    Như thế, chúng ta được mời gọi vừa nhận ra Khuôn Mặt đích thật của Thiên Chúa, ngang qua cung cách của Đức Giê-su trong cuộc Thương Khó, và vừa nhận ra diện mạo của chính Sự Dữ, mang tên Satan, hành động nơi những con người cụ thể. Đức Ki-tô đến là vì giờ phút này, làm cho Sự Dữ hiện ra nguyên hình và giải phóng sự sống của loài người chúng ta khỏi Sự Dữ. Bởi lẽ, Ngài không thể giải thoát chúng ta khỏi Sự Dữ, mà không cho chúng ta thấy bộ mặt thật của Sự Dữ. Trong chương trình cứu độ, có mặc khải Sự Dữ. Thoáng nhìn lại lịch sử cứu độ, chúng ta dễ dàng nhận ra mặc khải thiết yếu này, nhưng hay bị bỏ quên. Vì thế, chúng ta được mời gọi khám phá ra bộ mặt thật của Sự Dữ từ từ trong suốt hành trình chiêm ngắm cuộc Thương Khó của Đức Giê-su. Nhưng vào lúc Thượng Hội Đồng họp ngay trong đêm để xét xử vội vàng Đức Giê-su, Sự Dữ đã để lộ ra ba đường nét thuộc về bản chất của nó:

    a. Dùng mưu để bắt và dùng bạo lực để hành hạ và giết chết, để chứng minh sự chết là mạnh nhất, sự chết là điểm tận cùng, có thể “giải quyết” được tất cả, “giải quyết” ở đây không phải là đưa ra ánh sáng, nhưng dùng bóng tối để chôn vùi tất cả, như người ta tìm cách phi tang, “giải quyết” theo nghĩa “mọi sự rốt cuộc đều như nhau”, “huề cả làng”.

    b. Tố cáo và lên án vô cớ; và trong trường hợp của Đức Giê-su, Satan không chỉ lên án người vô cớ, mà còn lên án Người Vô Tội, vô tội tuyệt đối. Như thế, càng tố cáo, điều xấu càng lộ ra không phải nơi Đấng Vô Tội, nhưng nơi Kẻ Tố Cáo. Thế mà “Kẻ Tố Cáo” là một trên gọi khác của Satan (Kh 12, 7-10).

    c. Gian dối là chiều kích nền tảng có trong mọi đặc tính của Sự Dữ: lên án vô cớ là gian dối, dùng mưu là gian dối; và chiều kích này được thể cách rõ ràng nhất ở điều này: dùng điều tốt, để thực hiện ý đồ đen tối, ý đồ loại trừ và giết chết. Ở đây, điều tốt đẹp là bầu khí lễ Vượt Qua, là dấu hiệu tình bạn với Giu-đa và cả Lề Luật nữa (Rm 7, 7-13). Thật vậy, trong cuộc xét xử, vị Thượng Tế đã dùng công thức đức tin long trọng nhất: “Nhân Danh Thiên Chúa Hằng Sống…”, nhưng không phải để đi tìm sự thật, nhưng là với ý định khép tội chết, bằng cách giăng bẫy, tố cáo và kết án tử (Mt 26, 63); do đó, chính khi Vị Thượng Tế lên án Đức Giê-su phạm thượng, thì ông đang phạm thượng. Ông không chỉ “kêu tên Đức Chúa Trời vô cớ”, nhưng còn dùng Danh của Thiên Chúa, làm cớ để giết Đấng Thánh của Thiên Chúa. Và tất cả đều diễn ra trong “Đêm Tối”, vốn là hình ảnh của Sự Dữ.

    * * *

    Khi để cho mình bị đóng đinh, Chúa muốn cho chúng ta nhìn thấy nơi Thập Giá, hình thù rất thật và rất cụ thể của SỰ DỮ và TỘI LỖI.
    Nhưng thay vì bị lên án, loài người chúng ta được mời gọi nhìn lên Đấng Chịu Đinh với lòng tin để đón nhận ơn tha thứ, ơn chữa lành và ơn cứu độ, nghĩa là được giải thoát khỏi sự dữ và sự chết. Như chính Người đã nói:

    Như ông Mô-sê đã giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy, để ai tin vào Người thì được sống muôn đời.

    Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời.
    (Ga 3, 14-16)

    Tuần Thánh 2019
    Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc


    <°)))>< . <°)))><


    Suy Niệm Lời Chúa, Thứ Tư 17/04/2019


     
  4. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Tứ Đẳng Tình Nguyện Viên

    18.04.2019 – Thứ Năm Tuần Thánh

    « Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian,
    và Người yêu thương họ đến cùng »

    LỜI CHÚA: Ga 13, 1-15


    1 Trước lễ Vượt Qua, Đức Giê-su biết giờ của Người đã đến, giờ phải bỏ thế gian mà về với Chúa Cha. Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng.
    2 Ma quỷ đã gieo vào lòng Giu-đa, con ông Si-môn Ít-ca-ri-ốt, ý định nộp Đức Giê-su.3 Đức Giê-su biết rằng: Chúa Cha đã giao phó mọi sự trong tay Người, Người bởi Thiên Chúa mà đến, và sắp trở về cùng Thiên Chúa,4 nên trong một bữa ăn, Người đứng dậy, rời bàn ăn, cởi áo ngoài ra, và lấy khăn mà thắt lưng.5 Rồi Đức Giê-su đổ nước vào chậu, bắt đầu rửa chân cho các môn đệ và lấy khăn thắt lưng mà lau.

    6 Vậy, Người đến chỗ ông Si-môn Phê-rô, ông liền thưa với Người: “Thưa Thầy! Thầy mà lại rửa chân cho con sao? “7 Đức Giê-su trả lời: “Việc Thầy làm, bây giờ anh chưa hiểu, nhưng sau này anh sẽ hiểu.”8 Ông Phê-rô lại thưa: “Thầy mà rửa chân cho con, không đời nào con chịu đâu! ” Đức Giê-su đáp: “Nếu Thầy không rửa cho anh, anh sẽ chẳng được chung phần với Thầy.”9 Ông Si-môn Phê-rô liền thưa: “Vậy, thưa Thầy, xin cứ rửa, không những chân, mà cả tay và đầu con nữa.”10 Đức Giê-su bảo ông: “Ai đã tắm rồi, thì không cần phải rửa nữa; toàn thân người ấy đã sạch. Về phần anh em, anh em đã sạch, nhưng không phải tất cả đâu! “11 Thật vậy, Người biết ai sẽ nộp Người, nên mới nói: “Không phải tất cả anh em đều sạch.”

    12 Khi rửa chân cho các môn đệ xong, Đức Giê-su mặc áo vào, về chỗ và nói: “Anh em có hiểu việc Thầy mới làm cho anh em không?13 Anh em gọi Thầy là “Thầy”, là “Chúa”, điều đó phải lắm, vì quả thật, Thầy là Thầy, là Chúa.14 Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau.15 Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em.

    (Bản dịch của Nhóm Phiên Dịch CGKPV)

    SUY NIỆM:

    1. Đức Giê-su rửa chân (c. 1-5)
    a. Rửa chân và bí tích Thánh Thể
    b. Rửa chân và hành vi phản bội
    c. Chiêm ngắm Đức Giê-su rửa chân
    2. Không hiểu (c. 6-11)
    3. Đức Giê-su giải thích hành vi rửa chân (c. 12-15)


    * * *

    Như cách chúng ta phân đoạn trình thuật Tin Mừng của thánh Gioan về việc Đức Giê-su rửa chân cho các tông đồ trong bữa ăn, phần trung tâm nói về sự không hiểu (c. 6-11), không hiểu của ông Phê-rô, của các tông đồ, của loài người và của từng người chúng ta thuộc mọi thời. Như chính Người nói:

    Việc Thầy làm, bây giờ anh chưa hiểu”… (c. 7)

    Thật vậy, Đức Giê-su rửa chân cho các các môn đệ trong bối cảnh, Người “biết giờ của Người đã đến, giờ phải bỏ thế gian mà về với Chúa Cha. Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng… (Người) bắt đầu rửa chân cho các môn đệ” (c. 1-5).

    Đức Giê-su từ cung lòng của Thiên Chúa Cha, sinh ra trong thế giới của chúng ta bởi quyền năng của Thánh Thần, và từ thế giới của chúng ta, Người về với Chúa Cha, sứ mạng của Người là bày tỏ “tình yêu đến cùng” của Ba Ngôi Thiên Chúa cho loài người và cho từng người. Như thế, hành vi “rửa chân” của Đức Giê-su hướng tới mầu nhiệm Vượt Qua, để diễn tả mầu nhiệm tình yêu của Thiên Chúa.

    Vậy, khi chiêm ngắm “mầu nhiệm rửa chân”, như cách nói của truyền thông thiêng liêng trong Giáo Hội, xin Chúa ban cho chúng ta ơn nhận ra điều Chúa muốn thông truyền cho chúng ta, chính là tình yêu đến cùng và sự sống viễn mãn của Người, và để cho con tim của chúng ta được chinh phục hôm nay, suốt đời và mãi mãi; như Người nói với thánh Phê-rô:

    Nếu Thầy không rửa cho anh,
    anh sẽ chẳng được chung phần với Thầy.
    (c. 8)

    1. Đức Giê-su rửa chân (c. 1-5)

    a. Rửa chân và bí tích Thánh Thể

    Tại sao thánh sử Gioan không tường thuật biến cố Đức Giê-su lập bí tích Thánh Thể ? Có thể là vì ba Tin Mừng nhất lãm đã tường thuật rồi, nên thánh Gioan cảm thấy không cần phải nhắc lại, nhưng muốn làm bật lên ý nghĩa « hiện sinh » của mầu nhiệm Thánh Thể, nghĩa là Giáo Hội được mời gọi không chỉ cử hành, nhưng còn sống mầu nhiệm Thánh Thể ; hay đúng hơn, cử hành và sống mầu nhiệm Thánh Thể phải là hai chiều kích hướng về nhau trong cùng một hành trình đi theo Đức Ki-tô trong cuộc sống. Hơn nữa, đối với thánh Gioan, lòng ước ao trao ban chính mình như là của ăn và của uống, đã có từ rất sớm và đã được Chúa bày tỏ rồi (x. Ga 6).
    Như thế, thay vì chỉ hiểu hành vi rửa chân như là một bài học thực hành, một gương mẫu, về việc phục vụ khiêm tốn, chúng ta được mời gọi hiểu dưới ánh sáng của mầu nhiệm Thánh Thể:

    [​IMG]

    So sánh hai trình thuật, chúng ta có thể nhận ra rằng hành vi rửa chân cho các môn đệ mang tầm mức Thánh Thể : một bên, Đức Giêsu trở nên của ăn, một bên, Ngài trở nên người tôi tớ phục vụ bàn ăn. Cả hai đều là hành vi trao ban chính ngôi vị : một đàng là sự sống, một đàng là danh dự. Cả hai cử chỉ đều diễn tả tình yêu tuyệt đỉnh : « Người yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng » (c. 1). Chính vì thế mà, Đức Giêsu nói với Phêrô : « việc Thầy làm bây giờ anh chưa hiểu, nhưng sau này anh sẽ hiểu ».

    Như thế, cũng như mầu nhiệm Thánh Thể, hành vi rửa chân muốn diễn tả tình yêu đến cùng của Đức Giê-su dành cho các môn đệ. Tuy nhiên, như chính hành vi rửa sạch gợi ra, qua hành vi rửa chân, Đức Giê-su làm cho các môn đệ trở nên thanh sạch tận căn, làm cho chúng ta nên công chính tận căn, bằng chính ngôi vị của Ngài, bằng sự sống của Ngài, bằng máu của Ngài.

    b. Rửa chân” và hành vi phản bội

    “Trình thuật rửa chân” của Tin Mừng theo thánh Gioan được đánh dấu rõ nét bởi hành vi phản bội: ở phần đầu (c. 2), phần cuối (c 18) và phần giữa (c. 11).
    • “Ma quỉ đã gieo vào lòng Giu-đa…” (c. 2 và 27), ở đây Giuđa được nhìn như là nạn nhân của Sự Dữ.
    • “Người biết ai sẽ nộp Người” (c. 11), trong lời tường thuật này của thánh sử Gioan, Giuđa được nhìn như là tác nhân.
    • “Nhưng phải ứng nghiệm lời Kinh Thánh sau đây: Kẻ đã cùng con chia cơm sẻ bánh lại giơ gót đạp con” (c. 18; trích Tv 41, 10). Trong lời nói này của chính Đức Giê-su, Giuđa được nhìn trong Kế Hoạch cứu độ của Thiên Chúa.
    Như thế, bản chất đích thực của hành vi phản bội phức tạp hơn chúng ta tưởng ; thực vậy, cùng với Giuđa, còn có ma quỉ và hơn nữa cả hai được tháp vào trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa. Giuđa, và cùng với Giu-đa là Satan, không những không ngăn cản được tình yêu của Đức Giêsu, nhưng vô tình làm cho tình yêu ấy trở nên tuyệt đối và đi đến cùng. Tình yêu đến cùng dành cho các môn đệ, trong đó có Giuđa, cho từng người chúng ta.

    c. Chiêm ngắm Đức Giê-su rửa chân

    Vậy, chúng ta hãy dừng lại thật lâu để chiêm ngắm Đức Giê-su rửa chân: Nhìn Đức Giê-su và từng người; lắng nghe sự thinh lặng và tiếng nói nội tâm; quan sát cử chỉ rửa chân và phản ứng của từng người. Và nếu Đức Giê-su rửa chân cho tôi thì sao?

    Chúa muốn nói gì với chúng ta ngang qua hành vi rửa chân? “Đôi chân” của chúng ta ở vị trí nào trong cơ thể, sạch đẹp ra sao, dùng để làm gì, nói lên điều gì, mang những ý nghĩa nào? (thấp nhất, bẩn nhất, hay đi “lung tung”, mang nhiều dấu ấn và dấu vết cuộc đời nhất…). Ngài không nói, nhưng chúng ta có nghe tiếng lòng của Ngài không, nghe được tiếng lòng của các môn đệ không? Không có mùi thơm của nước hoa (ngược lại là mùi hôi chân!), nhưng chúng ta có ngửi ra được mùi thơm tình yêu cho đi đến cùng và một cách nhưng không của Đức Giê-su không? Chúng ta có nếm được sự ngọt ngào của tình yêu này không? Đức Giê-su đụng đến chân của các tông đồ: lòng của ngài xúc động thế nào, lòng các môn đệ và lòng chúng ta có xao động không? Chúng ta có kinh nghiệm được Chúa “rửa chân” chưa?

    Đặc biệt là Ngài rửa chân cho từng người (chứ không phải, Ngài rửa chân cho một môn đệ, rồi môn đệ này rửa chân cho môn đệ kia). Ngài tự làm lấy tất cả. Hành vi này tương ứng với hành vi trao “bánh” cho các môn đệ trong các trình thuật Nhất Lãm. Qua hành vi này, Ngài ước ao chia sẻ chính ngôi vị của Ngài và những gì thuộc về Ngài, như Ngài sẽ nói với tông đồ: “Nếu Thầy không rửa chân cho anh, Ngài nói với Phêrô, anh sẽ chẳng được chung phần với Thầy” (c. 8). Chứ không phải chỉ là làm mẫu cho chúng ta bắt chước. Chúng ta đừng quên ánh mắt và tâm tình của các môn đệ.

    2. Không hiểu (c. 6-11)

    Không có tông đồ nào phản ứng, chỉ có một mình tông đồ Phêrô thôi. Thật đáng khâm phục ! Vì không thể để cho Thầy của mình, Chúa của mình cúi xuống rửa chân cho mình được. Chúng ta hãy lắng nghe cuộc đối thoại giữa ông Phê-rô và Đức Giê-su: “Thầy mà rửa chân cho con sao?” Trong câu trả lời, Đức Giêsu nói rằng: “việc Thầy làm, bây giờ anh chưa hiểu”. Thật lạ lùng, đồng thời cũng diễn tả tình yêu đến cùng của Người: ông chưa hiểu, nhưng Ngài vẫn cứ rửa, vẫn cứ trao ban; như hàng ngày Đức Giêsu vẫn cứ rửa cho chúng ta qua rất nhiều ân huệ, nhất là qua Mình và Máu Ngài, cho dù chúng ta không hiểu, hay đúng hơn, không thèm hiểu. Đó là bởi vì, Ngài hi vọng rằng, có một ngày “đẹp trời” nào đó, chúng ta sẽ hiểu ra. Ngoài ra, nơi Phê-rô và các môn đệ, không chỉ có vấn đề không hiểu, nhưng còn có vấn đề chưa hoàn hảo. Ngài vẫn “rửa chân” cho chúng ta, trong bí tích Thánh Thể, như thế đó. Bởi vì ơn huệ ở ngọn nguồn, luôn luôn là ơn huệ nhưng không.

    Phêrô vẫn chưa chịu, vì ông đóng kín mình trong cách hiểu của mình: “Thầy mà rửa chân cho con, không đời nào con chịu đâu”. Đức Giêsu đành phải mặc khải cho ông lời hứa chung phần. Mặc khải quá lớn, nhưng điều kiện cũng không kém lớn: đó là để cho Thầy cúi xuống rửa chân, để cho Thầy trở thành lương thực cho anh, để Thầy trở thành sự sống cho anh.

    Lời hứa “chung phần”, nhưng là phần gì đây, đối với Phêrô và đối với chúng ta? Có vẻ Phêrô ngộ ra, nên ông chịu để cho Thầy rửa chân. Nhưng lời của ông để lộ ra cách ông hiểu vẫn còn nhiều vấn đề: “Vậy, thưa Thầy, xin cứ rửa, không những chân, mà cả tay và đầu con nữa”. Rửa “nhiều phần” như vậy, phải chẳng là để được “nhiều phần” hơn người khác. Và “nhiều phần”, phải chăng là chỗ ngồi bên phải hay chỗ ngồi bên trái, bên phải, là bổng lộc, là đỗ đạt, là vinh dự…?

    3. Đức Giê-su giải thích (c. 12-15)

    Hãy lắng nghe lời giải thích của Đức Giê-su. Chúng ta có thể chú ý đặc biệt đến lời sau đây: “Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em”. “Như Thầy đã làm cho anh em”, nghĩa là như Thầy đã “rửa chân” cho từng người trong anh em. Vì thế, lời của Đức Giê-su không dừng lại ở mức độ, Ngài đã nêu gương hạ mình phục vụ, và chúng ta được mời gọi bắt chước. Điều này cũng đúng nhưng chưa đủ, vì Thầy và trò vẫn còn ở bên ngoài nhau, và trò bắt chước Thầy một hồi là đuối! Chính chúng ta phải có kinh nghiệm được Đức Giê-su đích thân “rửa chân”, lúc ấy chúng ta mới có lòng ước ao và có sức mạnh nội tâm “rửa chân” cho nhau.

    Nhưng rửa chân có nghĩa là gì, phải chăng là một nghi thức mà mỗi năm chúng ta lập lại một lần hay nghe kể lại một lần? “Như Thầy đã làm cho anh em”, cho từng người trong anh em, là một điều không dễ hiểu, như Đức Giêsu vừa nói với Phêrô: “việc Thầy làm bây giờ anh chưa hiểu, nhưng sau này anh sẽ hiểu”; và càng không dễ đón nhận, vì quá nhưng không. Chúng ta thích cái gì sòng phẳng hơn, vì như thế mình làm chủ được. Hành vi “rửa chân” được Tin Mừng Gioan đặt vào chỗ của mầu nhiệm Thánh Thể, nên cũng là một mầu nhiệm: Ngài trao ban chính sự sống và ngôi vị cho chúng ta, dù chúng ta ở trong tình trạng nào, để chúng ta “được chung phần” với Ngài. Chính tình yêu nhưng không này mới làm cho chúng ta có thể “rửa chân” cho nhau theo cách của Đức Giê-su.

    * * *

    Sau khi rửa chân cho các môn đệ (Ga 13, 3-5) và giải thích ý nghĩa (c. 12-15), Đức Giê-su nói:

    Thật, Thầy bảo thật anh em: tôi tớ không lớn hơn chủ nhà, kẻ được sai đi không lớn hơn người sai đi. Anh em đã biết những điều đó, nếu anh em thực hành, thì thật phúc cho anh em! (c. 16-17)

    Nghe lời này của Đức Giê-su, chúng ta có thể hiểu ngay rằng, để hưởng mối phúc, chúng ta được mời gọi, trong mọi sự, sống tương quan với Người theo khuôn mẫu chủ và tớ, hay khuôn mẫu người sai đi và người được sai đi. Tuy nhiên, nếu chúng ta nối kết lời nói này của Đức Giê-su với hành động rửa chân Ngài vừa thực hiện và với lời giải thích, chúng ta sẽ hiểu hoàn toàn khác hẳn. Thật vậy, ngay sau khi rửa chân cho các Tông Đồ, Người nói:

    Anh em có hiểu việc Thầy mới làm cho anh em không? Anh em gọi Thầy là Thầy, là Chúa, điều đó phải lắm, vì quả thật, Thầy là Thầy, là Chúa. Vậy nếu Thầy là Chúa, là Thầy mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. (c. 12-14)

    Như thế, đây mới là việc thực hành mang lại mối phúc mà Đức Giê-su muốn thông truyền cho chúng ta: trong các mối tương quan gia đình, xã hội và Giáo Hội, sự khác biệt “người trên kẻ dưới” là không thể tránh được, nhưng chúng ta được mời gọi “rửa chân cho nhau”, và nhất là người trên “rửa chân” cho kẻ dưới, chủ nhân “rửa chân” cho tôi tớ, người sai đi “rửa chân” cho người được sai đi, như chính Thầy Đức Giê-su, vốn là Đức Chúa của chúng ta, đã “rửa chân” cho từng người chúng ta.

    Tuy nhiên, trong mầu nhiệm Thập Giá, Đức Giê-su còn đi xa hơn hành vi rửa chân, hay đúng hơn hành vi rửa chân đã loan báo mầu nhiệm Thập Giá rồi, khi Ngài nói: “Chính Thầy biết những người Thầy đã chọn, nhưng phải ứng nghiệm lời Kinh Thánh sau đây: Kẻ đã cùng con chia cơm sẻ bánh lại giơ gót đạp con” (c. 18).

    Đức Giê-su cúi mình xuống rửa chân cho từng người chúng ta; nhưng có người lại “giơ gót đạp Ngài”. Cả hành vi này, Ngài cũng đón nhận trong bình an và bao dung, ngang qua cái chết trên Thập Giá (x. Mt 26, 50). Đó chỉ có thể là sự khôn ngoan và sức mạnh thần linh, mời gọi chúng ta nhận ra Đức Giê-su Ki-tô là Con Thiên Chúa, là Đấng Hằng Hữu: “Thầy nói với anh em điều đó ngay từ lúc này, trước khi sự việc xảy ra, để khi sự việc xảy ra, anh em tin là Thầy Hằng Hữu” (c. 19). Xin cho sức mạnh và sự khôn ngoan của Thập Giá chinh phục con tim của chúng ta.

    * * *​

    Trong đời sống xã hội, cũng như trong đời sống đức tin và ơn gọi, sự phân cấp là không thể không có, Đức Giê-su không phá bỏ, nhưng thay đổi những tương quan này ở chiều sâu. Chẳng hạn, Ngài nói, chúng ta chỉ có một Cha và một Thầy, còn chúng ta đều là anh chị em của nhau. Thực vậy, nhờ mầu nhiệm Vượt Qua, Đức Ki-tô phục sinh làm cho chúng ta trở nên Con của Cha, giống như Ngài là Con của Cha, trở nên “anh chị em” của Ngài và “anh chị em” của nhau, vì tất cả chúng ta đều có cùng một Cha. Điều này có nghĩa là, cho dù chúng ta xưng hô như thế nào, tương quan ruột thịt như thế nào, chúng ta đều được mời gọi sống tình “huynh đệ” dưới mắt Chúa Cha và theo gương Đức Giê-su.

    Như thế, tuy có sự khác biệt, chúng ta được mời gọi sống không phân biệt, vì tình yêu dâng hiến Đức Ki-tô dành cho từng người chúng ta; như thánh Phaolô nói: trong Đức Ki-tô, không còn phân biệt Do thái hay Hy lạp, đàn ông hay phụ nữ, tự do hay nô lệ. Nghĩa là, chúng ta được mời gọi sống sự hiệp thông “huynh đệ” để làm chứng cho Tin Mừng của Đức Ki-tô, như chính Ngài muốn hiệp thông trọn vẹn với chúng ta:

    Thật, Thầy bảo thật anh em: ai đón tiếp người Thầy sai đến là đón tiếp Thầy, và ai đón tiếp Thầy là đón tiếp Đấng đã sai Thầy. (c. 20)

    Lời này của Đức Giêsu diễn tả sự hiệp thông trọn vẹn giữa môn đệ, Thầy và Cha. Sự hiệp thông này là kết quả của “mầu nhiệm” rửa chân, và nhất là của nhiệm tích Thánh Thể. Đó là chính là mối phúc mà Đức Ki-tô muốn ban tặng nhưng không cho chúng ta:

    Anh em đã biết những điều đó,
    nếu anh em thực hành, thì thật phúc cho anh em!
    ( c. 17)

    Tuần Thánh 2019
    Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc



    <°)))>< . <°)))><


    Suy Niệm Lời Chúa, Thứ Năm 18/04/2019

     
    Điều chỉnh mới nhất vào lúc: 16 tháng Tư 2019 at 8:25 PM
  5. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Tứ Đẳng Tình Nguyện Viên

    19.04.2019 – Thứ Sáu Tuần Thánh

    Tưởng Niệm Cuộc Thương Khó của Chúa
    Cùng với Đức Maria chiêm ngắm Đức Giê-su chịu đóng đinh

    LỜI CHÚA: Ga 19, 17-42

    17 Chính Người vác lấy thập giá đi ra, đến nơi gọi là Cái Sọ, tiếng Híp-ri là Gôn-gô-tha;18 tại đó, họ đóng đinh Người vào thập giá, đồng thời cũng đóng đinh hai người khác nữa, mỗi người một bên, còn Đức Giê-su thì ở giữa.

    19 Ông Phi-la-tô cho viết một tấm bảng và treo trên thập giá; bảng đó có ghi: “Giê-su Na-da-rét, Vua dân Do-thái.”20 Trong dân Do-thái, có nhiều người đọc được bảng đó, vì nơi Đức Giê-su bị đóng đinh là một địa điểm ở gần thành. Tấm bảng này viết bằng các tiếng: Híp-ri, La-tinh và Hy-lạp.21 Các thượng tế của người Do-thái nói với ông Phi-la-tô: “Xin ngài đừng viết: “Vua dân Do-thái”, nhưng viết: “Tên này đã nói: Ta là Vua dân Do-thái”.”22 Ông Phi-la-tô trả lời: “Ta viết sao, cứ để vậy! “

    23 Đóng đinh Đức Giê-su vào thập giá xong, lính tráng lấy áo xống của Người chia làm bốn phần, mỗi người một phần; họ lấy cả chiếc áo dài nữa. Nhưng chiếc áo dài này không có đường khâu, dệt liền từ trên xuống dưới.24 Vậy họ nói với nhau: “Đừng xé áo ra, cứ bắt thăm xem ai được.” Thế là ứng nghiệm lời Kinh Thánh: Áo xống tôi, chúng đem chia chác, cả áo dài, cũng bắt thăm luôn. Đó là những điều lính tráng đã làm.

    25 Đứng gần thập giá Đức Giê-su, có thân mẫu Người, chị của thân mẫu, bà Ma-ri-a vợ ông Cơ-lô-pát, cùng với bà Ma-ri-a Mác-đa-la.26 Khi thấy thân mẫu và môn đệ mình thương mến đứng bên cạnh, Đức Giê-su nói với thân mẫu rằng: “Thưa Bà, đây là con của Bà.”27 Rồi Người nói với môn đệ: “Đây là mẹ của anh.” Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình.

    28 Sau đó, Đức Giê-su biết là mọi sự đã hoàn tất. Và để ứng nghiệm lời Kinh Thánh, Người nói: “Tôi khát! “29 Ở đó, có một bình đầy giấm. Người ta lấy miếng bọt biển có thấm đầy giấm, buộc vào một nhành hương thảo, rồi đưa lên miệng Người.30 Nhắp xong, Đức Giê-su nói: “Thế là đã hoàn tất! ” Rồi Người gục đầu xuống và trao Thần Khí.

    31 Hôm đó là ngày áp lễ, người Do-thái không muốn để xác chết trên thập giá trong ngày sa-bát, mà ngày sa-bát đó lại là ngày lễ lớn. Vì thế họ xin ông Phi-la-tô cho đánh giập ống chân các người bị đóng đinh và lấy xác xuống.32 Quân lính đến, đánh giập ống chân người thứ nhất và người thứ hai cùng bị đóng đinh với Đức Giê-su.33 Khi đến gần Đức Giê-su và thấy Người đã chết, họ không đánh giập ống chân Người.34 Nhưng một người lính lấy giáo đâm vào cạnh sườn Người. Tức thì, máu cùng nước chảy ra.

    35 Người xem thấy việc này đã làm chứng, và lời chứng của người ấy xác thực; và người ấy biết mình nói sự thật để cho cả anh em nữa cũng tin.36 Các việc này đã xảy ra để ứng nghiệm lời Kinh Thánh: Không một khúc xương nào của Người sẽ bị đánh giập.37 Lại có lời Kinh Thánh khác: Họ sẽ nhìn lên Đấng họ đã đâm thâu.

    38 Sau đó, ông Giô-xếp, người A-ri-ma-thê, xin ông Phi-la-tô cho phép hạ thi hài Đức Giê-su xuống. Ông Giô-xếp này là một môn đệ theo Đức Giê-su, nhưng cách kín đáo, vì sợ người Do-thái. Ông Phi-la-tô chấp thuận. Vậy, ông Giô-xếp đến hạ thi hài Người xuống.39 Ông Ni-cô-đê-mô cũng đến. Ông này trước kia đã tới gặp Đức Giê-su ban đêm. Ông mang theo chừng một trăm cân mộc dược trộn với trầm hương.40 Các ông lãnh thi hài Đức Giê-su, lấy băng vải tẩm thuốc thơm mà quấn, theo tục lệ chôn cất của người Do-thái.41 Nơi Đức Giê-su bị đóng đinh có một thửa vườn, và trong vườn, có một ngôi mộ còn mới, chưa chôn cất ai.42 Vì hôm ấy là ngày áp lễ của người Do-thái, mà ngôi mộ lại gần bên, nên các ông mai táng Đức Giê-su ở đó.


    (Bản dịch của Nhóm Phiên Dịch CGKPV)

    SUY NIỆM:

    Cả ngày hôm này, chúng ta sẽ “đi đàng Thánh Giá” gồm bảy chặng, theo Tin Mừng của thánh Gioan. Trong bữa tiệc ly, qua cử chỉ rửa chân, Đức Giê-su muốn diễn tả tình yêu đến cùng của Người dành cho các môn đệ; nơi Thập Giá, tình yêu đến cùng của Người được thực hiện trọn vẹn. Cũng trong bữa tiệc ly, Người cũng đã muốn trở thành Tấm Bánh nuôi sống chúng ta, và “đàng Thánh Giá”, chính là “đường đi” của Tấm Bánh Hằng Sống.

    So với các trình thuật nhất lãm, trình thuật Tin Mừng theo thánh Gioan không có gì lạ lùng xẩy ra, nhưng lại nêu bật chiều kích thần linh của mầu nhiệm Thập Giá, nghĩa là “Dung Nhan Rạng Ngời” của Đức Ki-tô. Sau đây là “Đàng Thánh Giá” bảy chặng theo Tin Mừng của thánh Gioan:
    1. Chặng thứ nhất (v. 17-18): Đức Giêsu chịu đóng đinh
    2. Chặng thứ hai (v. 19-22): Giê-su Nazareth, Vua dân Do Thái (INRI: Iesus Nazarenus Rex Iudaeorum)
    3. Chặng thứ ba: Chia áo (c. 23-24)
    4. Chặng thứ tư: Sự sống mới (c. 25-27)
    5. Chặng thứ năm: Mọi sự đã hoàn tất (c. 28-30)
    6. Chặng thứ sáu: Máu cùng nước chảy ra (c. 31-34)
    7. Chặng thứ bảy (c. 35-42): “Họ sẽ nhìn lên Đấng họ đã đâm thâu”
    Con số bảy nhắc chúng ta bảy Sự đau khổ của Đức Maria theo truyền thống của Giáo Hội và chúng ta được mời gọi tôn kính vào ngày 15/09, Lễ Đức Maria Đau Khổ. Sau đây là « bảy sự » của Đức Mẹ :
    1. Lời của cụ ngôn sứ Simêon về Đức Maria (Lc 2, 25-35)
    2. Trốn sang Ai-cập (Mt 2,13-15)
    3. Lạc mất Đức Giê-su (Lc 2,41-52)
    4. Đức Mẹ nhìn Đức Giê-su vác thập giá (Lc 23,27)
    5. Đức Mẹ đứng dưới chân thập giá (Ga 19,25-27)
    6. Đức Mẹ đón nhận thân xác đã chết của Đức Giê-su (Ga 19,38-40)
    7. Đức Mẹ ở bên mộ Đức Giê-su (Ga 19,41-42)

    « Bảy Sự » trải dài suốt cuộc đời làm Mẹ của Đức Maria. Tất cả đều có liên quan đến Đức Giê-su, con của Mẹ, và đều hướng về mầu nhiệm Thập Giá của Người; một cách chụ thể, trong bảy Sự, có đến bốn Sự thuộc về mầu nhiệm Thương Khó. Như thế, cả cuộc đời của Mẹ hướng về mầu nhiệm Thập Giá, đồng hành với Đức Giê-su vác Thập Giá, hiện diện và đứng vững dưới chân Thập Giá trong thinh lặng, để chiêm ngắm, lắng nghe và “ghi nhớ tất cả mọi biến cố và suy đi nghĩ lại trong lòng”. Vì vậy, Mẹ hiểu mầu nhiệm Thập Giá và mầu nhiệm hơn ai hết.

    Chúng ta hãy xin mẹ dạy chúng ta biết nhìn ngắm cuộc Thương Khó của Đức Ki-tô, với ánh mắt và con tim của Mẹ. Xin Mẹ cầu bầu cho chúng ta, để chúng ta cũng được ơn « đứng vững » dưới chân Thập Giá như Mẹ Maria. Xin Mẹ đồng hành với chúng ta, để cũng như Mẹ, chúng ta nhận ra và đón nhận Chân Dung Rạng Ngời của Đức Giê-su, Con của Mẹ, để chúng ta trở thành Con Thiên Chúa, người thân của Đức Ki-tô, Con của Mẹ và anh chị em của nhau, như thánh Gioan nói : « Còn những ai đón nhận, tức là những ai tin vào danh Người, thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa ».

    * * *

    1. Chặng thứ nhất (c. 17-18): Đức Giêsu vác Thập Giá
    a. Đức Giê-su vác Thập Giá

    Thánh sử Gio-an kể về hành trình vác Thập Giá của Đức Giê-su rất ngắn gọn, nhưng trong thực tế chắc chắn đã diễn ra rất dài, vừa theo nghĩa thời gian, vừa theo nghĩa nặng nhọc, đau đớn :

    Chính Người vác lấy Thập Giá đi ra. (c. 17)

    Cây Thập Giá là dụng cụ hành hình và kẻ bị hành hình phải tự vác lấy. Chúng ta có thể nghiệm ra tình trạng bị bỏ rơi tận căn của Đức Giê-su : kiệt sức và sắp phải chết, nhưng không được phép nhận bất cứ sự giúp đỡ nào. Điều này càng trở nên triệt để, khi Đức Giê-su là Đấng Vô Tội. Nhưng cây Thập Giá, đối với chúng ta còn mang nhiều ý nghĩa khác, như Đức Giê-su từng nói : « Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo » (Mc 4, 34). Vậy, chúng ta hãy dành nhiều thời giờ để suy xét về ý nghĩa của Thập Giá, Thập Giá của Đức Ki-tô và « thập giá mình ».

    Tuy nhiên, chúng ta được mời gọi ngang qua lời kể này của Thánh Sử Gioan : « Chính Người vác lấy Thập Giá đi ra », nhận ra sự chủ động của Đức Giê-su, và nhớ lại một câu nói của Người khi giảng dạy ở Biển Hồ : « Các người nghe đây, người gieo giống đi ra gieo giống » (Mc 4, 3), hay nhớ lại lời ca tụng Thiên Chúa của sách Thánh Vịnh, khởi đi công trình sáng tạo :

    Thái dương xuất hiện như tân lang rời khỏi loan phòng,
    và vui sướng lên đường như tráng sĩ.
    Từ chân trời này, thái dương xuất hiện,
    rồi chuyển vần mãi đến chân trời kia,
    chẳng có chi tránh khỏi ánh dương nồng.
    (Tv 19, 6-7)

    Thực vậy, nơi mầu nhiệm Thập Giá, Đức Ki-tô không chỉ gieo hạt giống Lời Chúa, nhưng còn gieo Hạt Giống Chính Mình, để để chinh phục con tim của chúng ta, để đụng chạm đến mọi sự, hoàn tất mọi sự và làm sinh hoa kết quả Sự Sống gấp trăm.

    b. Đức Giê-su bị đóng đinh vào Thập Giá

    Đến đồi Golgotha (tiếng Do-thái là cái sọ), họ đóng đinh Người vào Thập Giá : vừa nãy, Người vác Thập Giá, nhưng giờ đây ở cuối chặng đường, Người như trở nên một với Thập Giá. « Người như trở nên một với Thập Giá » là hình ảnh mà chúng ta vẫn nhìn thấy, nhưng không « ghi nhớ và suy đi nghĩ lại trong lòng », để hiểu và cảm điều Thiên Chúa muốn bày tỏ cho chúng ta. Cây Thập Giá là dụng cụ hành hình tử tội, là biểu tượng của Tội, nhưng Thánh Phao-lô lại nói :
    • Đức Giêsu tự nguyện trở thành « đồ bị nguyền rủa , vì có lời chép: Đáng nguyền rủa thay mọi kẻ bị treo trên cây gỗ! » (Gl 3, 13).
    • Ngài lại tự nguyện trở nên “giống như thân xác tội lội” (Rm 8, 3).
    • Ngài “đồng hóa mình với tội” (2 Cr 5, 21)
    Chúng ta có thể dừng lại thật lâu ở cảnh đóng đinh này, để nhìn, nghe và quan sát. Tin Mừng chỉ kể có một câu, nhưng trong thực tế, chắc chắn là không quá nhanh : « tại đó, họ đóng đinh Người vào thập giá ». Hơn nữa, chúng ta cũng được mời gọi cảm nếm và đụng chạm nữa, vì chắc chắn có nhiều cảm xúc nơi nội tâm người đóng đinh, người bị đóng đinh và người xem cảnh người đóng đinh người. Ơn gọi của con người là làm con Thiên Chúa, qua đó hiệp nhất với nhau trong tình huynh đệ, nhưng ở đây, chúng ta chứng kiến con người sống theo thú tính : con người hành hạ và loại trừ con người, con người hành hạ và loại trừ người vô tội. Điều này không chỉ xẩy ra hôm qua, nhưng còn xẩy ra hôm nay và còn trong tương lai.

    Họ cũng đóng đinh hai tử tội khác nữa, một bên phải và một bên trái : « tại đó, họ đóng đinh Người vào thập giá, đồng thời cũng đóng đinh hai người khác nữa, mỗi người một bên, còn Đức Giê-su thì ở giữa ». Như thế, Đức Giê-su không chỉ làm bạn và ăn uống với những người thu thuế và những người tội lỗi ; nhưng Ngài còn đi xa hơn: bị lên án và hành quyết như là tử tội và ở giữa các tử tội. Khi chúng ta chiêm ngắm Đức Giê-su chịu đóng đinh, chúng ta đừng quên hai người tử tội ở hai bên. Hình ảnh này nói với chúng ta điều gì? Có khi nào chúng ta ghi ngờ lòng thương xót, chúng ta hãy trở lại với hình ảnh này.

    Trong cầu nguyện, khi chiêm ngắm thân xác càng ngày càng nát tan của Đức Giê-su trên trên thập giá, xin cho chúng ta nhận ra Dung Ngan Rạng Ngời của Người, Thánh Tâm của Người, sự khôn ngoan và sức mạnh của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi Người. Vì đó chính là nguồn sống, nền tảng và niềm hi vọng của hành trình đức tin đi theo Đức Ki-tô trong một ơn gọi, ơn gọi gia đình hay ơn gọi đời sống Thánh Hiến.

    2. Chặng thứ hai (c. 19-22): INRI (Iesus Nazarenus Rex Iudaeorum)

    Bản án được viết bằng ba thứ tiếng : Híp-ri, La-tinh và Hy-lạp ; sự kiện này nói lên tính phổ quát của biến cố Thập Giá. Nhưng đâu là thâm ý của quan Phi-la-tô, khi cho biết bản án này? Và đâu là ý nghĩ của các thượng tế khi để nghị sửa lại :

    Các thượng tế của người Do-thái nói với ông Phi-la-tô:
    “Xin ngài đừng viết: Vua dân Do-thái, nhưng viết:
    Tên này đã nói: Ta là Vua dân Do-thái”.

    Ông Phi-la-tô trả lời: “Ta viết sao, cứ để vậy!
    ” (c. 21-22)

    Chữ INRI hẳn là quan trọng, vì mãi mãi gắn liền với Thập Giá Đức Ki-tô; và hơn nữa có cả một lịch sử: Triều Đại Đa-vít được sứ thần nói tới khi truyển tin cho Đức Maria; người ta muốn Đức Giê-su làm vua (x. Ga 6), quan Phi-la-tô chất vấn về Vương Triều của Ngài; người ta chế nhạo Đức Giê-su như là Vị Vua, và cuối cùng người ta đóng đinh Ngài với bản án INRI. Chữ INRI được con người dùng để diễu cợt, nhưng Chúa dùng để bày tỏ chính mình, và cách ngài làm vua, giống như lính Roma nhạo báng Chúa, trước khi đem đi đóng đinh.

    Trên Thập Giá, Đức Giê-su không giảng dạy bằng lời, nhưng chữ INRI có thể được coi là một lời giảng của Ngài, vì dòng chữ này nói lên cách Đức Giêsu làm Vua Dân Do Thái và Vua loài người. Khi người ta đã từng muốn tôn Đức Giêsu lên làm vua theo kiểu Vua Chúa trần gian, thì Ngài không chịu; nhưng khi người ta muốn bắt và đóng đinh Ngài trên Thập Giá, và dùng danh hiệu « Vua Dân Do Thái » để nhạo báng, thì Ngài lại chịu. Tại sao vậy?

    [​IMG]

    Bởi vì, Đức Giêsu không muốn làm vua theo kiểu loài người, bắt người khác phải phục vụ và trao ban; Người muốn làm vua theo cách thức của Thiên Chúa, đó là phục vụ và trao ban chính mình cho muôn người.

    3. Chặng thứ ba: Chia y phục (c. 23-24)

    Sau đó, họ chia nhau và bắt thăm y phục của Người. Theo các nhà chuyên môn, luật Roma cho phép làm điều này, nghĩa là chia nhau “của cải” người tử tội để lại. Nhóm trực tiếp thi hành hình phạt đóng đinh có bốn người:
    • “Áo xống”, nghĩa là áo bên ngoài: họ chia làm bốn phần (khi rửa chân cho các môn đệ, Đức Giê-su đã bỏ áo bên ngoài ra).
    • Áo dài của Đức Giê-su, chính là áo bên trong: họ bắt thăm, vì là một tấm vải dệt, không có đường khâu.
    Chúng ta không cần biết hết và biết chính xác mọi chi tiết liên quan đến các loại áo; nhưng chúng ta được mời gọi chiêm ngắm biến cố, hiểu ý nghĩa và để cho mình được đánh động. Chiếc áo tượng trưng cho nhân phẩm, như người cha nói với người con trở về: “Mau đem áo đẹp nhất ra đây mặc cho cậu” (Lc 15, 22) : lúc rửa chân cho các môn đệ, Đức Giêsu đã cởi áo ngoài, bây giờ thì cho luôn và cho tất cả, áo ngoài lẫn áo trong (x. Mt 4, 40). Như thế, Đức Giê-su thực sự chẳng còn gì, trao ban sự sống và trao luôn danh dự! Theo vẻ bề ngoài trên
    Thập Giá, Đức Giêsu mất hết phẩm giá, nhưng một cách nghịch lý và mầu nhiệm trong cùng một biến cố, phẩm giá thần linh của Người lại được “hiển dung”. Chúng ta hãy xin ơn được nhận ra và rung cảm trước phẩm giá thần tính rạng ngời của Đức Giê-su trên thập giá. Và theo lời kể của thánh sử Gioan, biến cố chia áo không hề là một chi tiết nhỏ, vì điều này làm ứng nghiệm lời Kinh Thánh:

    Áo mặc ngoài chúng đem chia chác,
    còn áo trong cũng bắt thăm luôn.
    (Tv 22, 19)

    Theo lời nguyện của Thánh Vịnh 22, hành vi chia áo cũng là hành vi cuối cùng của cuộc rượt bắt và bách hại người vô tội; và tiếp theo, sẽ là hành động kết liễu (x. Tv 22, 20-22). Đó chính là cách Ngài “hoàn tất” nỗi thống khổ của Dân Chúa được kể lại trong Kinh Thánh và của cả loài người: “hoàn tất” là mang tất cả vào thân mình để đưa vào cung lòng của Thiên Chúa Cha, nguồn Tình Yêu và Sự Sống, với tư cách là Con yêu dấu duy nhất, là Ngôi Lời.

    Chúng ta đừng quên nhìn, nghe và cảm với đôi mắt, đôi tai và con tim của Mẹ Maria, khi chứng kiến cảnh chia áo này, chiếc áo mà chính mẹ đã dệt với lòng tin, lòng mến và niềm hy vọng.

    4. Chặng thứ tư: Sự sống mới (c. 25-27)

    Chúng ta hãy dừng lại bao lâu có thể, để nhìn ngắm Đức Giêsu đang hấp hối, đúng hơn là đang trao ban sự sống, đang thể hiện tình yêu đến cùng; chiêm ngắm cộng đoàn nhỏ bé dưới chân Thập Giá, đại diện cho Giáo Hội và nhân loại mới, đau khổ, nhưng được Đức Ki-tô chịu đóng đinh giang tay bao bọc, mang lấy, cưu mang và làm hồi sinh cho sự sống mới.

    Trong cộng đoàn này, chúng ta chú ý đặc biệt đến Mẹ Maria, nhưng cũng đừng quên để ý tâm tình của người môn đệ “Đức Giê-su thương mến” và những bà khác, nhất là Maria Magdala, được chữa lành khỏi bảy quỉ. Mẹ có sầu bi, như người ta vẫn nói, hay như chúng ta hình dung không? Tư thế “đứng” nói cho chúng ta điều gì? Chúng ta nên đi lại hành trình của Mẹ Maria, từ biến cố “Truyền Tin”, để hiểu được tại sao Mẹ đứng vững, không còn “cực lòng” như xưa (x. Lc 2, 48). Chúng ta cũng cần đi theo Đức Kitô như Mẹ, để có thể đứng vững dưới chân Thập Giá. Đấng Sáng Lập Dòng Đức Mẹ Đồi Can-vê, chân phước Pierre Bonhomme (1803-1861), nói : « Từ gốc cây Thập Giá, phát sinh những điều lớn lao ».

    Không cần phải đợi đến biến cố phục sinh, nhưng ở tột đỉnh của sự trao ban, nghĩa là trao ban đến không còn gì, đến tận cùng, chúng ta được mời gọi nhận ra sự sống mới phát sinh, phát sinh gấp trăm thật đồi dào, phát sinh từ Lời sự sống của Đức Giêsu được thốt lên ngay nơi chết chóc và vào lúc Ngài đang chết đi:
    • Đức Giê-su trao ban sự sống, thay vì đang bị lấy đi sự sống.
    • Ngài cũng trao ban luôn Người Mẹ và Người Môn Đệ Ngài thương mến, vốn là hình ảnh của tất cả các môn đệ thuộc mọi thời.
    Và như thế, một Gia Đình mới phát sinh. Thực vậy, Đức Giê-su, nhìn Mẹ, và nói: “Thưa Bà, đây là con của Bà”. Chúng ta hãy dừng lại để cảm nếm lời của Đức Giê-su nói với Mẹ của Người: “con của Bà”. Như thế, chính lúc Mẹ đang mất đi người con này, mẹ trở thành Mẹ của người con khác; và từ người con này, dưới sức mạnh của Đấng Phục Sinh, sẽ trở thành đông đúc, trong đó có cả con trai lẫn con gái! Chính lúc Mẹ bình an dâng hiến người con Duy Nhất, Mẹ nhận lại gấp trăm, nơi “Người Môn Đệ Đức Giê-su thương mến”. Và Mẹ cũng không mất đi Người Con Duy Nhất của Mẹ, vì Ngài sẽ chiến thắng sự chết và hiện diện luôn mãi ở nơi anh chị em mới của Ngài.

    Rồi Ngài nói với người môn đệ: “Đây là mẹ của anh”. Đó là quà tặng tuyệt vời mà Đức Giê-su đang chịu chết ban cho người môn đệ, đại diện cho Giáo Hội đang được cưu mang: các môn đệ có cùng một Mẹ với Thầy Giê-su, và vì thế, trở thành anh em của nhau. Sau này, Đấng Phục Sinh sẽ nói: “Thiên Chúa của thầy của là Thiên Chúa của anh em; Cha của thầy, cũng là Cha của anh em” (Ga 20, 17). Đó chính là hành trình của hạt lúa mì, là kinh nghiệm « đảo ngược » (renversement) : cho đi → nhận lại, nhỏ bé → lớn lao, ngỏ cụt → đường đi, tan biến → sinh sôi, sự chết → sự sống… Như thế mầu nhiệm Thập Giá giúp chúng ta hiểu nhiều lời nghịch lý của Đức Giêsu. Xin cho chúng ta có được « kinh nghiệm đảo ngược » với niềm vui (x. Thông điệp Evangelii Gaudium của Đức Thánh Cha Phan-xi-cô và Tông Thư về Năm Đời Sống Thánh Hiến), khi đi theo Đức Ki-tô trong ơn gọi mà Chúa ban cho mỗi người chúng ta, ở giữa bối cảnh xã hội và thế giới hôm nay.

    Từ hi sinh Thập Giá, giữa cơn thử thách, ngay trong sự chết, một nhân loại mới phát sinh: những gì của con là của Mẹ; những gì của Thầy là của anh. Cái chết của Đức Giêsu đã làm phát sinh sự sống: Mẹ trở thành Mẹ của Người Môn Đệ Đức Giê-su yêu mến, đại diện cho tất cả các môn đệ thuộc mọi thời; khi dâng hiến người con duy nhất, Mẹ không mất đi, nhưng nhận lại Ngài nơi các môn đệ, nơi cả một đàn con đông đúc. Bởi vì, Đức Giê-su sẽ đi vào sự sống mới và hiện diện bên cạnh, ở giữa và bên trong các môn đệ nam nữ của Ngài ở mọi thời.
    Và theo lời kể của Thánh Sử Gioan: “Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình”. Như người môn đệ “được Đức Giê-su thương mến”, chúng ta được mời gọi đón nhận quà tặng tuyệt vời, mà Đức Ki-tô chịu đóng đinh ban tặng cho chúng ta, để thể hiện tình yêu đến cùng của Người. Chúng hãy rước Mẹ về “Nhà” chúng ta, vào nội tâm, cuộc đời và đời sống chung của chúng ta. Và chúng được mời gọi yêu mến Mẹ, bởi vì, chúng ta không thể yêu Con mà không yêu Mẹ, và không thể yêu Mẹ mà không yêu Con.

    5. Chặng thứ năm: Mọi sự đã hoàn tất (c. 28-30)

    Trước hết, trong đêm canh thức chiêm ngắm Đức Giê-su chịu chết trên Thập Giá, chúng ta hãy lắng nghe lời nói cuối cùng của Người, theo lời kể của thánh Gioan:

    “Thế là đã hoàn tất !”

    Lời nói cuối cùng của Đức Giê-su trên thập giá là: “Đã hoàn tất”, chứ không phải là “Đã qua rồi!” Không phải là những thử thách, thử luyện, kiểm chứng hay là những lao nhọc, để được xét là xứng đáng nhằm hưởng vinh quang, hoặc là những hình phạt bởi tội đã kết thúc rồi, hay những điều không đáng có đã xong rồi, hết rồi, qua rồi.

    Chúng ta hãy nhớ lại tâm trạng hãi hùng của Đức Giê-su trong Vườn Dầu, đến độ Người nói : « Tâm hồn Thầy buồn đến chết được ! » (Mc 14, 34), để cảm nhận được tâm hồn của Người trên Thập Giá, khi Người nói : « Đã hoàn tất ! »

    Trên Thập Giá, Đức Giê-su nói: “Thế là đã hoàn tất ! » Lời này nhắc nhớ ngày thứ bảy sáng tạo, trong ngày đó « Thiên Chúa hoàn thành mọi công trình » (St 2, 1-4a). Như thế, câu nói cuối cùng này của Đức Giê-su trên thập giá diễn tả sứ mạng của Ngài, với tư cách là Con Thiên Chúa, đã hoàn tất mĩ mãn.

    Như thế, mọi đau khổ Ngài đã chịu trong cuộc Thương Khó, không phải là những điều không đáng có, giờ đã qua đi, nhưng tất cả đều mang ý nghĩa, và là hành trình, là đường đi để “hoàn tất mọi sự”. Thương Khó và Thập Giá là hành động và là điều dữ được thực hiện bởi những con người cụ thể, và đàng sau những con người này là chính Satan, như ông Giuse nói với các anh: “sự ác các anh làm cho tôi”, nhưng Thiên Chúa lại làm thành con đường, thành cách thức để “hoàn tất mọi sự”, con đường bày tỏ “tình yêu muôn ngàn đời”, khi Người mang lấy “mọi bệnh hoạn tất nguyền của chúng ta”, cả về thân phận lẫn tội lỗi, để bày tỏ sự cảm thông, tình yêu thương xót đến cùng và hướng đến niềm hi vọng sự sống mạnh hơn sự chết.

    Vậy, khi chiêm ngắm Chúa chịu chết trên Thánh Giá và khi nghe được lời của Người: “Đã hoàn tất”, xin Chúa cho chúng ta con mắt tâm hồn chúng ta nhận ra:

    CÔNG TRÌNH KỲ DIỆU CỦA CHÚA
    CÔNG TRÌNH KỲ DIỆU
    TRƯỚC MẮT CHÚNG TA.

    Chúng ta hãy cảm nhận sự bình an sâu xa của Đức Giê-su, và Đức Mẹ hiện diện và đứng dưới chân Thập Giá chắc chắn đã nghe được lời này của Chúa và cảm nhận sự bình an sâu xa của Người trong đức tin. Tương tự như khi chúng ta hoàn thành một công trình lớn lao, mà chúng ta rất gắn bó, tha thiết và mong cho hoàn tất, vì chất chứa lẽ sống, diễn tả cả một đời và hướng về niềm hi vọng sự sống mạnh hơn sự chết, về niềm tin Thiên Chúa có quyền năng làm cho « Tảng Đá » bị thợ xây loại bỏ, sẽ trở thành « VIÊN ĐÁ GÓC TƯỜNG ».

    * * *

    Thật vậy, thánh sử Gioan nói: “Đức Giê-su biết rằng mọi sự đã hoàn tất”. Vậy, “mọi sự” được Người hoàn tất là những gì?
    • Đó là điều Ngài vừa làm, thiết lập Gia Đình mới, trên nền tảng tương quan mới giữa Đức Maria và người môn đệ Ngài thương mến.
    • Đó là cuộc Thương Khó, và toàn bộ hành trình làm người của Người, hướng tới mầu nhiệm Vượt Qua.
    • Đó là toàn bộ Kinh Thánh, kể lại ơn huệ Sáng Tạo, kể lại lịch sử cứu độ, vốn là hình ảnh của lịch sử loài người và từng người, trong đó diễn ra những thăng trầm thuộc thân phận, số phận con người, trong dó có tội và sự dữ.
    Xin cho Đức Giêsu cũng hoàn tất, bởi MẦU NHIỆM VƯỢT QUA của Người, mọi sự trong cuộc đời mỗi người chúng ta, mọi sự trong hành trình ơn gọi Chúa ban cho chúng ta, mọi sự trong gia đình, trong cộng đoàn và trong Hội Dòng của chúng ta.

    * * *

    Trước đó trên Thập Giá, Đức Giê-su nói : “Tôi khát” (Tv 69, 22 và Tv 22, 16). Lời này của người mang thật nặng ý nghĩa : ngang qua cơn khát nước, Người khát Thiên Chúa (x. Tv 42 và 63 : « tâm hồn con khát Ngài, Lạy Chúa »), Người khát bày tỏ chính ngôi vị của mình cho loài người và cho từng người chúng ta, như cơn khát xưa kia của Người bên bờ giếng Giacóp ở miền Samari (ở đó, không chỉ là cơn khát thể lý), Người khát mong cho tất cả Kinh Thánh được hoàn tất, Người khát mong cho công trình của Thiên Chúa được thực hiện, nghĩa là mọi người tin vào Đấng Cha sai đến, cho Thần Khí lan tràn trong lòng và trong nhóm những người tin Chúa…

    Hiểu như thế, chúng ta được mời gọi nhận ra rằng, không phải quân lính chế diễu bằng cách cho Người uống dấm chua, nhưng làm theo lời người, khi nghe Người thốt lên trên Thập Giá « Ta khát », và không phải Người trút hơi thở cuối cùng, những là Người trao banThần Khí. Như thánh sử Gioan kể lại cho chúng ta :

    Rồi Người gục đầu xuống
    và trao Thần Khí.


    6. Chặng thứ sáu: « Máu cùng nước chảy ra » (c. 31-34)

    Theo lời kể của Thánh Sử Gioan: “Khi quân lính đến gần Đức Giêsu, và thấy Ngài đã chết, họ…”. Lời kể này xác thực một biến cố quan trọng: Chúa đã chết, chết thực sự và được xác nhận. Thánh sử Mác-cô đặc biệt nhấn mạnh sự kiện này: Đức Giê-su đã chết thực sự (x. Mc 15, 42-47). Biến cố mai táng được kể lại, chính là để củng cố thêm biến cố này.

    Nhưng tại sao lại phải xác nhận và củng cố sự kiện Đức Giê-su đã chết? Đó là vì cái chết của Đức Giêsu làm cho thành sự tất cả những gì Ngài đã nói và đã làm: đừng chống lại kẻ dữ, chiên vào giữa bầy sói, hãy yêu thương kẻ thù, không có tình yêu nào lớn hơn của người hi sinh mạng sống mình, Ngài đã liên đới với những người đau khổ, Ngài đã muốn trao ban chính bản thân Ngài làm lương thực cho chúng ta qua bí tích Thánh Thể, Ngài đã rửa chân cho các môn đệ…

    Rộng lớn hơn nữa, cái chết của Đức Giêsu còn làm cho thành sự toàn bộ Kinh Thánh, nghĩa là lịch sử cứu độ: Khi tạo dựng con người, Thiên Chúa không bủn xỉn, không tính toán hay muốn sòng phẳng, nhưng muốn cho đi tất cả, và cho đi chính bản thân mình một cách hoàn toàn nhưng không.

    Nhưng, như hạt lúa mì, Đức Giêsu chết, nhưng không phải là hết, bởi vì Thiên Chúa mạnh hơn sự chết, nếu không Thiên Chúa không còn Thiên Chúa nữa. Và nếu Chúa không chết, thì làm sao chiến thắng sự chết? Trong kế hoạch của Thiên Chúa, cái chết là con đường dẫn đến sự sống mới, và đem lại sự sống mới cho muôn người.

    * * *

    Quân lính đập gãy chân để cho chết, nếu người bị hành hình chưa tắt thở. Nhưng Đức Giêsu đã tắt thở rồi, nghĩa là Ngài đã trao ban “thần khí”, chứ không phải bị lấy đi. Và lưỡi đòng đâm vào lồng ngực là cho chắc chắn, chứ không để giết chết, nhưng lại là hình ảnh mang đầy ý nghĩa.

    Máu tượng trưng cho sự chết, và máu cũng chứng thực mầu nhiệm nhập thể: Con Thiên Chúa thực sự làm người, bị đổ máu và đã chết. Nhưng cái chết đổ máu của Người lại diễn tả cho chúng ta LÒNG THƯƠNG XÓT của Thiên Chúa và mang lại cho chúng ta ơn tha thứ, như Người nói trong Bữa Tiệc Ly và Người nói mỗi ngày trong Thánh Lễ: “Này là chén máu Thầy, Máu Giao Ước mới và vĩnh cửu, sẽ đổ ra cho các con và nhiều người được tha tội. Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy”.

    Nước vừa diễn tả ơn huệ sự sống và vừa diễn ơn huệ Thần Khí làm cho tái sinh, như Người đã nói với người phụ nữ Samari: “Ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời.” Nhất là Thần Khí sẽ làm cho Cây Thập Giá trổ sinh hoa trái, bằng cách dẫn chúng ta vào trong tất cả sự thật của Đức Ki-tô (x. 1Ga 5, 6-8), để mang lại sự sống dồi dào cho chúng ta.

    Nước và Máu còn là cội nguồn trao ban các bí tích trong Giáo Hội, nhất là bí tích Thánh Tẩy (Nước) và bí tích Thánh Thể (Máu); qua các bí tích, Đức Ki-tô tiếp tục mỗi ngày và cho đến tận thế ban ơn tha tội và làm cho chúng ta sống sự sống mới, bởi Thánh Thần của Người.
    Vậy, chúng ta hãy đến chiêm ngắm ĐỨC GIÊ-SU CHỊU ĐÓNG ĐINH, MÁU CÙNG NƯỚC CHẢY RA TỪ TRÁI TIM CỦA NGƯỜI, mỗi khi chúng ước ao hiểu biết và yêu mến Chúa hơn, mỗi khi chúng ta thấy cần được thêm sức, để sống sự hiền lành và đi con đường của tấm bánh, con đường của hạt lúa mì, hay nhất là những khi chúng ta yếu đuối phạm tội, hay những lúc chúng ta nghi ngờ tình yêu Thiên Chúa. Những lúc như thế, chúng ta hãy đến chiêm ngắm ĐỨC GIÊ-SU CHỊU ĐÓNG ĐINH, MÁU CÙNG NƯỚC CHẢY RA TỪ TRÁI TIM CỦA NGƯỜI, để cảm nghiệm được điều mà thánh Gioan đã nói trong bữa tiệc ly:

    “Đức Giêsu yêu những người thuộc về Ngài
    và Người yêu cho đến cùng.”

    7. Chặng thứ bảy: “Họ sẽ nhìn lên Đấng họ đã đâm thâu” (Ga 19, 35-42)

    Cả ngày hôm nay, chúng ta được mời gọi “nhìn lên Đấng họ đã đâm thâu”. Xin cho chúng ta nhận ra và được ơn cảm nếm vòng tay rộng mở của Đức Giê-su Chịu Đóng Đinh trên thập giá và Thánh Tâm của Người bị đâm thâu

    Mang lấy tất cả,
    Tha thứ tất cả,
    Chữa lành tất cả.

    Trong đó, có con người trọn vẹn của “tôi”, bẳng tình yêu đến cùng của Người. Và chúng ta hãy đón nhận Thần Khí Người ban để sống sự sống mới hôm nay và mãi mãi.

    a. Hình ảnh của Tội và Sự Dữ

    Khi nhìn lên Thập Giá, chúng ta thường bị cuốn hút vào một mình Chúa với sự đau đớn thể xác. Nhưng thánh Gioan muốn nhấn mạnh hình ảnh của “Đấng, họ đã đâm thâu”, muốn chúng ta nhìn thân thể nát tan và bị đẩm thủng của Đức Giê-su do hành động của “họ”, nhìn ra hình dạng thật sự của Tội và Sự Dữ hiện hình nơi Đức Ki-tô chịu đóng đinh.

    Đức Giê-su để cho mình bị treo trên thập giá, được đặt trên đồi cao, thân thể nát tan, chính là để chúng ta nhìn thấy những điều thật hữu hình, thật cụ thể, đập vào mắt loài người chúng ta. Chúa muốn chúng ta nhìn thấy những gì loài người chúng ta đã làm cho Chúa, và vẫn còn đang làm cho Chúa qua thân thể của Ngài là những còn người bé nhỏ, bất hạnh, bị bỏ rơi, chịu thiệt thòi vì hoàn cảnh, chịu thiệt thòi ngay khi sinh ra (mù, điếc, khiếm khuyết, tâm thần), người nghèo, người vô tội…

    Thực vậy, thánh Phaolô nói, Ngài lại tự nguyện trở nên “giống như thân xác tội lội” (Rm 8, 3) ; và Ngài “đồng hóa mình với tội” (2Cr 5, 21 và Gl 3, 13). Tội có bản chất là ẩn nấp, khó nắm bắt, giống như con rắn, nhưng đã phải hiện ra nguyên hình nơi thân xác nát tan của Đức Kitô. Thánh Giá Đức Kitô mặc khải cho loài người chúng ta hình dạng thật của Tội. Chúng ta được mời gọi nhìn lên:
    • thân thể nát tan vì roi vọt, kết quả của lòng ghen ghét, của sự phản bội, của sự bất trung, và của vụ án gian dối;
    • đầu đội mạo gai, tượng trưng cho những lời nhạo báng, diễu cợt trên ngôi vị;
    • chân tay bị đanh đâm thủng và ghim vào giá gỗ, cho thấy con người đã đánh mất nhân tính, và hành động theo thú tính;
    • và vết thương sau cùng: lưỡi đòng đâm thấu con tim: bạo lực của con người đã đi tới tận cùng, và tất yếu là như vậy. Sự dữ luôn muốn đi tới tận cùng.
    b. Công lý của con người

    Ngoàira, chúng ta còn được mời gọi nhìn lên cây giá gỗ, trên đó Đức Giêsu chịu đóng đinh, là một dụng cụ thi hành công lý của Lề Luật. Thập giá là hình phạt tiêu biểu mà Lề Luật dành cho người phạm trọng tội. Vì thế, thập giá là biểu tượng cho công lý của con người. Thế mà, người chịu đóng đinh là chính Đức Giêsu, Đấng hoàn toàn vô tội, Đấng công chính hoàn hảo; vì thế, sự công chính của con người chỉ là giả tạo, gian dối và chỉ có vẻ bề ngoài.

    Thập Giá mời gọi chúng ta không kết tội Chúa cho dù Sự Dữ ngang qua những con người cụ thể kết tội Chúa, vì Chúa vô tội, và cũng không kết tội loài người và chính mình, khi hiểu Chúa phải « chịu tội » thay cho chúng ta. Và chúng ta cũng không kết tội bản thân mình và những người khác, và không « kết tội », nghĩa là kêu trách, cả Chúa nữa, khi chính chúng ta, người khác, nhất là những người thân yêu gặp thử thách và tai họa. Bởi vì :
    • Kết tội tự nó là điều dữ. Khi kết tội Đức Ki-tô, Sự Dữ bị lộ nguyên hình, trong mức độ nó tự cho thấy kết tội là điều dữ ; tội ở nơi người kết tội, chứ không phải nơi người bị kết tội.
    • Và cho dù mình và người khác đáng bị kết tội, thì nơi cuộc Thương Khó, Chúa đã mang hết tội lỗi của loài người chúng ta vào mình rồi với lòng bao dung, và Người ban sự công chính của Người cho chúng ta, để chúng ta đừng kết tội mình và kết tội nhau : « Trong Đức Ki-tô, không còn lên án nữa » (Rm 8, 1)
    c. Ơn tha thứ và ơn chữa lành

    Chúa muốn cho chúng ta nhìn thấy nơi Thập Giá, hình thù rất thật và rất cụ thể của SỰ DỮ và TỘI LỖI. Nhưng thay vì bị lên án, loài người chúng ta được mời gọi nhìn lên Đấng Chịu Đinh với lòng tin để đón nhận ơn tha thứ và được chữa lành.

    Ơn tha thứ. Thánh Giá, chính là lời diễn tả tình yêu thương xót nhưng không của Thiên Chúa. Vì thế, khi nhìn lên Thập Giá Đức Kitô, chúng ta còn được mời gọi nghiệm được tình yêu nhưng không và thương xót của Thiên Chúa, một tình yêu có thể chịu đựng mọi tội lỗi của con người đến như thế trên Thập Giá.

    Ơn chữa lành bởi cây Thập Giá. Thập Gía mặc khải cho con người bản chất của Tội, nhưng không phải là để lên án con người, mà là để cứu sống con người. Thiên Chúa không thể tha thứ cho con người mà không đồng thời chữa lành, bằng cách làm cho con người nhìn ra tội. Đó là trường hợp của Giuse với các anh của mình trong sách Sáng Thế: “Đừng sợ! Tôi đâu có thay quyền Thiên Chúa! Các anh đã định làm điều ác cho tôi, nhưng Thiên Chúa lại định cho nó thành điều tốt, để thực hiện điều xảy ra hôm nay, là cứu sống một dân đông đảo.” (St 50, 19-20)

    Ơn chữa lành khỏi vẻ bề ngoài. Sâu rộng hơn, nơi Thập Gía, Đức Kitô muốn giải thoát chúng ta một cách chính xác khỏi sự công chính, đến từ chính chúng ta, dựa vào việc giữ Luật; bởi vì sự công chính này, xét cho cùng chỉ có vẻ bề ngoài, không đụng chạm và không thể đụng chạm đến chốn sâu thẳm và thầm kín của đời người và của nội tâm. Và Ngài muốn trao ban cho chúng ta sự công chính của chính Ngài, sự công chính đích thật của con Thiên Chúa. Như thánh Phao-lô đã xác tín:

    Tuy nhiên, vì biết rằng con người được nên công chính không phải nhờ làm những gì Luật dạy, nhưng nhờ tin vào Đức Giê-su Ki-tô, nên chúng ta cũng tin vào Đức Ki-tô Giê-su, để được nên công chính, nhờ tin vào Đức Ki-tô, chứ không phải nhờ làm những gì Luật dạy. Quả thế, không phàm nhân nào sẽ được nên công chính vì làm những gì Luật dạy. (Gl 2, 16)

    Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Ki-tô sống trong tôi. Hiện nay tôi sống kiếp phàm nhân trong niềm tin vào Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu mến tôi và hiến mạng vì tôi. Tôi không làm cho ân huệ của Thiên Chúa ra vô hiệu, vì nếu người ta được nên công chính do Lề Luật, thì hoá ra Đức Ki-tô đã chết vô ích. (c. 20-21)


    Chữa lành khỏi hình ảnh sai lầm về Thiên Chúa. Trên tất cả, nơi thập giá của Đức Kitô, chúng ta được mời gọi nhìn ra khuôn mặt đích thật của chính Thiên Chúa. Thật vậy, Thập Giá muốn nói với chúng ta rằng thân phận con người không phải là một hành trình dẫn đến chỗ chết. Con người muốn vươn lên bằng Thiên Chúa, nhưng Con Thiên Chúa làm người và làm người đến tận cùng, để nói với chúng ta rằng, Thiên Chúa tạo dựng nên con người không phải để đầy đọa, thử thách và lên án, và thân phận con người, dù có như thế nào, là con đường dẫn đến Thiên Chúa, nguồn Sự Sống; như thánh Phaolô xác tín:

    Không có gì có thể tách chúng ta ra khỏi lòng mến của Thiên Chúa,
    được thể hiện nơi Đức Kitô chịu đóng đinh trên Thánh Giá.
    (Rm 8, 39)

    * * *

    Ở biến cố tận cùng này, lại một lần nữa, sự ứng nghiệm của Lời Kinh Thánh được đặc biệt nhấn mạnh:
    • Các việc này đã xảy ra để ứng nghiệm lời Kinh Thánh: “Không một khúc xương nào của Người sẽ bị đánh giập”, trích Tv 34, 21 và Xh 12, 46 (về chiên Vượt Qua).
    • Lại có lời Kinh Thánh khác: “Họ sẽ nhìn lên Đấng họ đã đâm thâu”; thánh sử Gioan đã trích sách Dacaria 12, 10.
    Một vài câu Kinh Thánh được trích dẫn, để mời gọi chúng ta nhận ra rằng, toàn bộ Kinh Thánh, nghĩa là lịch sử cứu độ, qua đó lịch sử cuộc đời của chúng ta được hoàn tất bởi mầu nhiệm Vượt Qua của Đức Ki-tô, như Đức Ki-tô Phục Sinh tuyên bố với các môn đệ:

    Khi còn ở với anh em, Thầy đã từng nói với anh em rằng
    tất cả những gì sách Luật Mô-sê, các Sách Ngôn Sứ
    và các Thánh Vịnh đã chép về Thầy
    đều phải được ứng nghiệm
    . (Lc 24, 44)

    d. Mai táng

    Đi theo Đức Giê-su, có những môn đệ công khai và cũng có những môn đệ “ẩn danh”, đó là ông Gio-xếp và ông Ni-cô-đê-mô. Hai ông được Thánh Sử Gioan nêu danh ở đây, để nói với chúng ta rằng sự sống mới được lộ diện và trổ sinh, ngay từ cái chết của Chúa.

    Đức Giê-su được mai táng, theo đúng tục lệ. Như thế, Ngài đã sống thân phận con người đến cùng, đến độ đi vào cõi chết như bất cứ ai trên cuộc đời này. Chúng ta có thể nhớ lại hình ảnh của La-da-rô đã chết và được Đức Giê-su cho hồi sinh; điểm khác biệt là, Ngài đi vào sự sống mới, chứ không phải trở lại sự sống này để chết một lần nữa như ông La-da-rô.

    Đức Giê-su đã đi đến cùng trong thân phận con người: Người không chỉ chết, nhưng còn được mai táng, nghĩa là đi vào trong thế giới của những người chết. Đó chính là để đáp lại niềm hi vọng của chúng ta, niềm hi vọng được ghi khắc vào bản tính con người, đó là sự sống của con người quá kì diệu, và cái chết không thể mạnh hơn và kết liễu sự sống. Nếu không thân phận con người thật bi đát: có niềm hi vọng, nhưng chẳng giờ được lấp đầy.

    Hình ảnh ngôi mộ mới diễn tả niềm hi vọng của con người và lời đáp của Thiên Chúa nơi Đức Giê-su Ki-tô: Người dẫn dầu những người chết hôm qua, hôm nay và ngày mai, để dẫn đầu những người được tái tạo dựng từ cõi chết, như “Trưởng Tử của một đàm em đông đúc”.

    * * *

    Lời nguyện

    Lạy Chúa Giê-su-Ki-tô chịu đóng đinh.

    Chúng con tạ ơn Chúa đã cho chúng con, trong ngày hôm nay, được chiêm ngắm Người trong hành trình vác Thập Giá, và đêm nay, được cùng nhau hiện diện trong giờ canh thức « Chúa Chịu Đóng Đinh và Chịu Chết trên Thập Giá », với khung cảnh và bầu khí rất tĩnh lặng và thanh vắng này.

    Chúng con đặc biệt tạ ơn Chúa, đã ban tặng cho chúng con Người Mẹ, là Đức Maria Mẹ của Chúa, từ trên Thập Giá, để chúng con cũng có được « mối phúc thần linh », là được làm con của Mẹ, được làm anh chị em của Chúa và được làm anh chị của nhau, trong cùng một Gia Đình Mới của Cha trên Trời.

    Theo mẫu gương của Mẹ Maria và nhờ lời cầu bầu hiền mẫu của Người, xin cho chúng biết lắng nghe, suy đi nghĩ lại trong lòng và sống lời hằng sống của Người, để chúng con có thể đi theo Người đến cùng, đến tận chân Thập Giá và đứng vững cùng với Mẹ.
    Và hiện diện dưới chân Thập Giá cùng với Mẹ Maria, xin cho chúng con luôn biết lắng nghe, mỗi ngày và suốt đời, lời sau cùng của Người, trong sự hiểu biết sâu sa, trong niềm tin, lòng mến và hi vọng : « Mọi sự đã hoàn tất ! » ; nhất là mỗi khi chúng con tuyên xưng, khi cử hành mầu nhiệm đức tin, là Mình và Máu Thánh Chúa : « Lạy Chúa, chúng con loan truyền Chúa chịu chết, và tuyên xưng Chúa sống lại, cho tới khi Chúa đến ! »

    Chúa đã « Hoàn Tất Mọi Sự » trong mầu nhiệm Vượt Qua. Xin Chúa cũng hãy hoàn tất mọi sự trong cuộc đời của từng người chúng con, bằng tình yêu và lòng thương xót đến cùng của Người.

    Người là Đấng hằng sống và hiển trị cùng Thiên Chúa Cha, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần, đến muôn thủa muôn đời. Amen


    Tuần Thánh 2019
    Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc



    <°)))>< . <°)))><


    Suy Niệm Lời Chúa, Thứ Sáu 19/04/2019

     
  6. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Tứ Đẳng Tình Nguyện Viên

    20.04.2019 – Thứ Bảy Đêm Vọng Phục Sinh

    “Người không còn đây nữa, nhưng đã trỗi dậy rồi"

    LỜI CHÚA: Lc 24, 1-12


    1 Ngày thứ nhất trong tuần, vừa tảng sáng, các bà đi ra mộ, mang theo dầu thơm đã chuẩn bị sẵn.2 Họ thấy tảng đá đã lăn ra khỏi mộ.3 Nhưng khi bước vào, họ không thấy thi hài Chúa Giê-su đâu cả.4 Họ còn đang phân vân, thì bỗng có hai người đàn ông y phục sáng chói, đứng bên họ.5 Đang lúc các bà sợ hãi, cúi gầm xuống đất, thì hai người kia nói: “Sao các bà lại tìm Người Sống ở giữa kẻ chết?6 Người không còn đây nữa, nhưng đã trỗi dậy rồi. Hãy nhớ lại điều Người đã nói với các bà hồi còn ở Ga-li-lê,7 là Con Người phải bị nộp vào tay phường tội lỗi, và bị đóng đinh vào thập giá, rồi ngày thứ ba sống lại.” 8 Bấy giờ các bà nhớ lại những điều Đức Giê-su đã nói.

    9 Khi từ mộ trở về, các bà kể cho Nhóm Mười Một và mọi người khác biết tất cả những sự việc ấy.10 Mấy bà nói đây là bà Ma-ri-a Mác-đa-la, bà Gio-an-na, và bà Ma-ri-a, mẹ ông Gia-cô-bê. Các bà khác cùng đi với mấy bà này cũng nói với các Tông Đồ như vậy.11 Nhưng các ông cho là chuyện vớ vẩn, nên chẳng tin.

    12 Dầu vậy, ông Phê-rô cũng đứng lên chạy ra mộ. Nhưng khi cúi nhìn, ông thấy chỉ còn có những khăn liệm thôi. Ông trở về nhà, rất đỗi ngạc nhiên về sự việc đã xảy ra
    .

    (Bản dịch của Nhóm Phiên Dịch CGKPV)

    SUY NIỆM:

    1. Các phụ nữ và mầu nhiệm Phục Sinh


    Sự hiện diện của các phụ nữ đi theo Đức Giê-su không được nhắc tới nhiều trong giai đoạn rao giảng Tin Mừng của Đức Giêsu ; chỉ có mỗi một lần, các bà được nhắc đến một cách long trọng trong Tin Mừng theo thánh Luca: “Cùng đi với Người, có Nhóm Mười Hai và mấy người phụ nữ đã được Người trừ quỷ và chữa bệnh. Đó là bà Ma-ri-a gọi là Ma-ri-a Mác-đa-la, người đã được giải thoát khỏi bảy quỷ, bà Gio-an-na, vợ ông Khu-da quản lý của vua Hê-rô-đê, bà Su-san-na và nhiều bà khác nữa” (Lc 8, 1-3).

    Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu tiên của biến cố Phục Sinh, sự hiện của các bà được đặc biệt nhấn mạnh, như bài Tin Mừng theo thánh Luca, được long trọng công bố trong Đêm Canh Thức Vượt Qua, kể lại.
    • Ba bà được nêu đích danh, chứ không phải được gọi bằng danh từ “các bà” chung chung. Đó là bà Gioanna, bà Maria mẹ ông Gia-cô-bê và bà Maria Magdala, vị thánh nữ nổi danh. Ngoài ra còn “các bà khác” nữa (c. 10).
    • Các bà gắn bó với Đức Giê-su một cách vô vị lợi. Thật vậy, các bà vẫn hướng về Ngài vào những lúc thử thách nhất, bi đát nhất và đen tối nhất trong cuộc Thương Khó; và các bà vẫn một lòng gắn bó với Ngài, khi Ngài chẳng còn là gì hơn là một thân xác nát tan, đã được chôn cất.
    Và chính khi đi tìm Đức Giê-su đã chết và muốn chăm sóc cho thân xác đã chết của Đức Giê-su, các bà được nghe loan báo Tin Mừng Phục Sinh của Ngài, không phải của người phàm, nhưng là của thiên sứ, và không phải của một nhưng là của hai vị:

    Hai người kia nói: “Sao các bà lại tìm Người Sống
    ở giữa kẻ chết? Người không còn đây nữa, nhưng đã trỗi dậy rồi.
    ” (c. 5-6)

    Vẫn chưa hết sự ưu ái Thiên Chúa dành cho các bà, vì theo lời kể của thánh sử Mác-cô và cả thánh sử Gioan nữa, các bà là những người đầu tiên được trao cho sứ mạng loan báo Tin Mừng phục sinh, không phải cho các dân tộc xa xôi, nhưng cho chính các Tông Đồ, nghĩa là cho “những trụ cột” của Giáo Hội:

    Xin các bà về nói với môn đệ Người và ông Phê-rô rằng Người sẽ đến Ga-li-lê trước các ông. Ở đó, các ông sẽ được thấy Người như Người đã nói với các ông. (Mc 16, 7)

    Trong lời trao sứ mạng này, ông Phê-rô được nêu tên cách đặc biệt, tách khỏi nhóm các môn đệ. Ông Phê-rô là Đá Tảng, trên đó Đức Ki-tô phục sinh sẽ xây dựng Giáo Hội của Ngài; nhưng ở điểm khởi đầu trọng đại này, Đá Tảng Phê-rô được mời gọi mở lòng ra để lắng nghe lời loan báo Tin Mừng của các phụ nữ. Và không phải một Tin Mừng nói về các bà cách đặc biệt vào thời điểm hệ trọng này, nhưng cả bốn Tin Mừng đều nói và nói theo những cách khác nhau, như Giáo Hội sẽ cho chúng ta nghe lại trong Mùa Phục Sinh (x. Mt 28, 1-10; Mc 16, 1-8; Lc 24, 1-7 và Ga 20, 1-2. 11-18).

    Như thế, hình ảnh người phụ nữ được đưa lên hàng đầu trong thời điểm trọng đại : khởi đầu mới của Đức Kitô, của các môn đệ và Giáo Hội, của toàn lịch sử và nhân loại. Vai trò của các phụ nữ được ưu tiên trong giai đoạn mới của lịch sử cứu độ. Nhưng đây không phải là lần đầu, hay là điều bất thường, nhưng là sự ưu ái xuyên suốt của Thiên Chúa dành cho các phụ nữ, trong sáng tạo và lịch sử: bà Evà, bà Sara, bốn người phụ nữ được nêu danh trong chính gia phả của Đức Giê-su (Tama, Ra-kháp, Rút và Batseva), trong Tin Mừng theo thánh Mát-thêu (Mt 1, 1-17), và nhất là Đức Maria.

    Ngày nay, sự lựa chọn ưu ái này của Thiên Chúa dành cho nữ giới vẫn còn được duy trì, ngang qua đức tin, hoạt động mục vụ và nhất là ơn gọi thánh hiến rất phong phú trong Giáo Hội, để loan báo sự sống mới của Đức Ki-tô Phục Sinh bằng chính “Hương Thơm” đời mình.

    2. Dấu chỉ Sự Sống Mới

    Các bà đi tìm Đức Giê-su đã chết và muốn chăm sóc cho thân xác đã chết của Ngài. Điều này diễn tả tình yêu vô vị lợi của các bà dành cho Đức Giê-su. Vậy, bởi đâu các bà có tình yêu vô điều kiện như thế dành cho Đức Giê-su, nếu không phải là kinh nghiệm sâu đậm về ơn huệ, ơn huệ tha thứ và chữa lành. Đó cũng phải là hành trình đi theo Đức Ki-tô của chúng ta trong ơn gọi Chúa ban cho chúng ta.

    Các bà gắn bó với Thầy đã chết; tuy nhiên, toàn bộ khung cảnh, toàn bộ thế giới nhỏ bé bao quanh các bà, tràn ngập dấu chỉ Sự Sống Mới của Đấng Phục Sinh.

    a. Trước hết, đó là dấu chỉ thiên nhiên: “Ngày thứ nhất trong tuần, vừa tảng sáng”.
    • “Ngày thứ nhất trong tuần”, nghĩa là tuần cũ đã qua, hình ảnh của mọi tuần, khởi đi từ tuần đầu tiên được sáng tạo, mà chúng ta đã nghe trong bài đọc 1, trích sách Sáng Thế (x. St 1, 3). Hình ảnh này loan báo tuần mới và sáng tạo mới, đã bắt đầu rồi. Và Đức Ki-tô phục sinh chính là Ngôi Lời ánh sáng, theo Ga 1, 9.
    • “Vừa tảng sáng”, nghĩa là vào lúc ánh sáng đẩy lui bóng tối của đêm đen. Hình ảnh thiên nhiên này diễn tả sự chiến thắng trên sự chết của Đức Ki-tô phục sinh.
    Những dấu chỉ thiên nhiên này, nói về sự sống của Đức Ki-tô phục sinh và loan báo sự sống mới của chúng ta trong Đức Ki-tô, vẫn được ban cho chúng ta mỗi ngày.

    b. Tiếp đến là dấu chỉ “ngôi mộ trống”. Chúng ta nên gọi là « ngôi mộ mở » thì hay hơn. Đó là dấu chỉ mà cả bốn Tin Mừng đều kể lại, vì có tầm quan trọng mặc khải đặc biệt. Vì thế, Giáo Hội luôn đón nhận đó như là dấu chỉ hàng đầu của Mầu Nhiệm Phục Sinh:

    Họ thấy tảng đá đã lăn ra khỏi mộ. Nhưng khi bước vào, họ không thấy thi hài Chúa Giê-su đâu cả. (c. 2-3)

    Ông Phê-rô cũng đứng lên chạy ra mộ. Nhưng khi cúi nhìn, ông thấy chỉ còn có những khăn liệm thôi. (c. 12)

    Mộ phần, tượng trưng cho sự chết, vốn là sức mạnh tột đỉnh của sự dữ, không giam hãm được Đức Ki-tô và đã bị Đức Kitô vượt qua. Hình ảnh « ngôi mộ trống » nghiêng về ý nghĩa tiêu cực nhiều hơn, vì « trống » có nghĩa là người chết bị lấy đi hay biến mất tiêu, như bà Maria nói với các Tông Đồ : « Người ta đem Chúa đi khỏi mộ ; và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu » (Ga 19, 2). Bà nhìn thấy « ngôi mộ mở », nhưng lại nghĩ rằng đó là « ngôi mộ trống »!

    c. Và sau cùng, đó là dấu chỉ “sứ điệp thần linh”, bởi vì Tin Mừng Phục Sinh được chính sứ thần Thiên Chúa công bố:

    Sao các bà lại tìm Người Sống ở giữa kẻ chết? Người không còn đây nữa, nhưng đã trỗi dậy rồi. Hãy nhớ lại điều Người đã nói với các bà hồi còn ở Ga-li-lê, là Con Người phải bị nộp vào tay phường tội lỗi, và bị đóng đinh vào thập giá, rồi ngày thứ ba sống lại. (c. 5-7)

    Bởi vì chiến thắng sự chết chỉ có thể là quyền năng của Thiên Chúa và chỉ có thể được chính sứ thần của Thiên Chúa công bố mà thôi. Và như chúng ta đều biết và có kinh nghiệm, để đón nhận Tin Mừng Phục Sinh, đó cũng vẫn là công trình của Thiên Chúa thực hiện nơi tâm hồn và cuộc đời của chúng ta.

    3. Sự cứng tin

    Chúng ta hãy lắng nghe các chứng nhân chia sẻ kinh nghiệm gặp gỡ Đức Ki-tô phục sinh, trong sự sợ hãi nhưng chắc chắn với niềm hi vọng, nhất là khi nhớ lại những gì Người nói về mầu nhiệm Vượt Qua, khởi đi từ Kinh Thánh:

    Hãy nhớ lại điều Người đã nói với các bà hồi còn ở Ga-li-lê, là Con Người phải bị nộp vào tay phường tội lỗi, và bị đóng đinh vào thập giá, rồi ngày thứ ba sống lại.” Bấy giờ các bà nhớ lại những điều Đức Giê-su đã nói. (c. 6-8)

    Nhưng rốt cuộc, các bà hẳng đã « hụt hẫng » như thế nào, khi Nhóm Mười Một không tin:

    Khi từ mộ trở về, các bà kể cho Nhóm Mười Một và mọi người khác biết tất cả những sự việc ấy… Nhưng các ông cho là chuyện vớ vẩn, nên chẳng tin. (c. 9 và 11)

    Theo lời kể của thánh sử Gioan, các môn đệ đóng kín cửa phòng (x. Ga 20, 19), hình ảnh của việc đóng kín tâm hồn, không chịu ra khỏi mình để nhớ lại lời loan báo của Đức Ki-tô, và nhất là lời loan báo của Kinh Thánh, và đọc các biến cố Đức Ki-tô và những biến cố liên quan đến đời mình dưới ánh sáng của lời Kinh Thánh. Đức tin và ơn gọi của chúng ta dựa trên lời chứng của Giáo Hội và của rất nhiều người xa gần. Chúng ta đã từng ở trong tình trạng không tin như thế chưa?

    Chính vì thế, khi đích thân tỏ mình ra cho các Tông Đồ, Người khiển trách các ông không tin và cứng lòng, đối với các chứng nhân (x. Mc 16, 14). Như thế, Chúa coi trọng việc chúng ta làm chứng cho nhau như thế nào: lời của của người khác dành cho chúng ta, lời chứng của chúng ta dành cho người khác.

    * * *

    Như thế, Đức Ki-tô mời gọi chúng ta, trước khi trở thành chứng nhân, chúng ta được mời gọi mở lòng ra để lắng nghe các chứng nhân. Và điều này phải làm chúng ta ngặc nhiên : kinh nghiệm này cũng phải có, ngay cả đối với các tông đồ, vốn là các chứng nhân ưu tuyển!

    Thật vậy, trước khi trở thành chứng nhân, chính các tông đồ cũng đã phải trải qua kinh nghiệm lắng nghe các chứng nhân khác, vốn đã được chính các thiên sứ công bố Tin Mừng Phục Sinh: “Người không còn đây nữa, nhưng đã trỗi dậy rồi” (x. 6), thậm chí họ được ban ơn gặp gỡ Đức Ki-tô phục sinh trước (x. Mt 28, 9-10; Mc 16, 11 và Ga 20, 18). Xin Chúa Thánh Thần ban cho chúng ta mối phúc mà Đức Ki-tô mời gọi chúng ta đón nhận hôm nay:

    Phúc cho những ai không thấy mà tin.

    Đêm Canh Thức Vượt Qua 2019
    Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc


    <°)))>< . <°)))><

    Suy Niệm Lời Chúa, Thứ Bảy 20/04/2019

     
    Điều chỉnh mới nhất vào lúc: 19 tháng Tư 2019 at 8:21 PM

Chia sẻ, giới thiệu đến bè bạn