Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!

Lời Thề Sông Núi

Chủ đề trong 'Các Đề Tài Khác' do Cái bóng Hư Vô khởi đầu 12 tháng Chín 2010.

  1. Cái bóng Hư Vô

    Cái bóng Hư Vô Công Dân

    Lênh đênh ba phần tư cuộc đời trong kiếp sống bon chen danh lợi phù vân, vẫn chưa trả xong món nợ thê nhi cơm áo, khi bừng tỉnh còn trắng đôi tay. Quá nửa đời người bèo dạt mây trôi, lang thang đầt khách quê người nếm bao mùi tân khổ, thân chưa thỏa mộng sông hồ, chí chưa vẹn tình sông núi.
    Chợt nhớ câu “CỐ NHÂN BỈNH CHÚC”, dưới ánh đèn mờ lần dở trang sử xưa Nước Việt, mong tìm lại gương xưa tích cũ của bao vị anh hùng nữ kiệt để soi rọi bản than, nêu gương hậu thế.

    Hãy xem kìa phận má đào, bà Trưng bà Triệu nêu cao ngọn cờ chính nghĩa. Bà Triệu khẳng định lời thề trước đầu voi ra trận:
    “Tôi muốn cỡi gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở biển Đông, quét sạch cõi bờ, để cứu dân tộc ra khỏi nơi đắm đuối, chứ không thèm bắt chước người đời cúi đầu khom lưng để làm tì thiếp người ta.”

    Hay trẻ mà không thể tham gia quốc sự, bực tức tay bóp trái cam như Trấn Quốc Toản thật hiếm thay. Già mà còn dẻo dai, đầy đảm lược, can trường như lão tướng Lý Thường Kiệt cũng không nhiều. Trước ba quân thế giặc dữ dằn, lời khai pháo vẫn còn vang vọng trên dòng Như Nguyệt:
    “Nam quốc sơn hà nam đế cư
    “Tiệt nhiên định mệnh tại thiên thư
    “Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
    “Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.”


    (Đất Nam là của dân Nam
    (Sách trời đã phân định rõ rang
    (Cớ sao bọn giặc lại xâm phạm
    (Các người sẽ bị phá cho tan.)

    Đảm lược đầy hòa khí, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng, không hề bị lay chuyển trước bả lợi danh, Trần Bình Trọng khi bị bắt, Thoát Hoan thấy người tài muốn dụ hàng hứa cho làm vương đất Bắc, ông lớn tiếng quát rằng:
    “Ta thà làm quỷ nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc.”

    Rồi thượng tướng Trần Quang Khải sau khi phá tan giặc, trước khí thế dâng cao của quân sĩ, mở tiệc khao quân tại Thăng Long thành, hứng khởi ngâm thơ đầy hào khí:
    “Đoạt sáo Chương Dương độ
    “Cầm Hồ Hàm Tử Quan
    “Thái bình nghi nỗ lực
    “Vạn cổ thử giang san.”


    (Chương Dương cướp giáo giặc
    (Hàm Tử bắt quân thù
    (Thái bình nên gắng sức
    (Non nước ấy nghìn thu.)

    Vâng, non nước này đã nghìn thu mà vẫn vững như bàn thạch dù trải qua bao lần giặc xâm lặng quấy phá, chính Thánh Tông thượng hoàng đã hạ bút hai câu thơ bất hủ:
    “Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã,
    “Thiên hà kim cổ điện kim âu.”


    (Xã tắc hai phen con ngựa đá,
    (Non sông thiên cổ tựa âu vàng.)

    Rồi như đại tướng Phạm ngũ Lão, điều binh có kỷ cương, đãi tướng như người nhà, xử với quân sĩ tình phụ tử chi binh nên đánh đâu thắng đó thường hay ngâm thơ cảm khái:
    “Hoành sáo giang sơn cáp kỷ thu,
    “Tam quan kỳ hổ khí thôn ngưu,
    “Nam nhi vị liễu công danh trái,
    “Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu.”


    (Ngọn giáo non sông trải mấy thu,
    (Ba quân hùng hổ khí thôn ngưu,
    (Công danh nếu để còn vương nợ,
    (Huống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu.)

    Đặng Dung, một vũ tướng nhà Trần, cùng con hết lòng giúp nước, sự nghiệp không thành, bị bắt vào tay giặc, đã tuẫn tiết để giử trọn khí phách, ông để lại bài thơ hoài ghi nỗi lòng mình:
    “Thế sự du du nại não hà,
    “Vô cùng thiên địa nhập hàm ca,
    “Thời lai đồ điếu thành công dị
    “Sự khứ anh hùng ẩm hận đa.
    “Trí chủ hữu hoài phù địa trục,
    “Tảy kinh vô lộ vãn thiên hà
    “Quốc thù vi phục đầu tiên bạch
    “Kỷ độ long tuyền đái nguyện ma."


    (Cuộc đời bối rối tuổi già vay,
    (Trời đất vô cùng một cuộc say,
    (Bần tiện gặp thời lên cũng dễ
    (Anh hùng lỡ bước gẫm càng cay.
    (Vai khiêng trái đất mong phò chúa
    (Giáp gột sông trời khó vạch mây
    (Thù chưa trả xong đầu đã bạc,
    (Gươm mài bóng nguyệt biết bao rày.)

    Nhưng nổi bật nhất là danh tướng song toàn đã hai lần đại phá quân Nguyên, làm rạng ngời sử Việt, vang lừng khắp đông tây kim cổ: Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn. Trước thế giặc mạnh, vua Trần Nhân Tông ngỏ ý muốn cầu hòa để cứu muôn dân, nhưng Hưng Đạo Vương khẳng khái tâu rằng:
    “Bệ hạ nói câu ấy thật nhân đức, nhưng mà tôn miếu, xã tắc thế nào ? Nếu bệ hạ muốn hàng, xin chém đầu kẻ hạ thần này trước rồi hãy hàng sau.”

    Vua quan nghe lời khí tiết vững lòng tin tưởng, tướng sĩ hăng say, Hưng Đạo Vương truyền hịch khích lệ ba quân:
    Nay các người trông thấy chủ nhục mà không biết hổ; trông thấy quốc sỉ mà không biết thẹn; thân làm tướng phải hầu giặc mà không biết tức; tai nghe nhạc để hiến ngụy sử mà không biết căm; hoặc lấy việc chọi gà làm vui đùa; lấy việc đánh bạc làm tiêu khiển; vui thú về ruộng vườn; quyền luyến về vợ con; nghĩ lợi riêng mình mà quên việc nước; hoặc mê mẩn săn bắn mà quên việc binh; thích rượu ngon hay mê tiếng hát.
    Nếu giặc đến thì cựa gà trống sao đâm lủng áo giáp; mẹo cờ bạc sao dụng nổi quân mưu.
    Dầu rằng ruộng lắm, vườn nhiều, thân ấy nghìn vàng không chuộc. Vả lại vợ bìu, con díu; ước mong trăm sự nghĩ sao ? Tiền của đâu mà mua được đầu giặc; chó săn ấy mà sao địch nổi quân thù; chén rượu ngon không làm địch say chết; tiếng hát không làm cho địch điếc tai.
    Bởi cớ sao ? Bởi giặc Nguyên cùng ta là kẻ thù không đội trời chung, thế mà các ngươi cứ điềm nhiên không nghĩ đến việc báo thù; lại không biết day quân sĩ; khác nào như quay giáo mà theo quân thù; giơ tay không mà chịu thua quân giặc; khiến cho sau trận Bình Lỗ, ta phải tiếng xấu muôn đời; thì còn mặt mũi nào đứng trong trời đất nữa …


    Hịch vừa truyền xong, Hưng Đạo Vương kéo đại quân tiến lên ngăn giặc, khi qua dòng sông Hóa, liền chỉ tay xuống mà thề rằng:
    “TRẬN NÀY KHÔNG PHÁ XONG GIẶC NGUYÊN THÌ THỀ KHÔNG TRỞ VỀ DÒNG SÔNG NÀY NỮA.”

    Nghe lời thề trung liệt quả cảm, tướng sĩ nức lòng xông lên quyết chiến, nên sau hai lần đại chiến, quân Nguyên trên 70 vạn bị phá tan tành không còn mảnh giáp, để mãi ngàn sau còn lưu danh những chiến công hiển hách: Vân Đồn, Bạch Đằng, Chương Dương, Hàm Tử, Tây Kết, Vạn Kiếp … cùng các danh tướng Phạm Ngũ Lão, Trần Quang Khải, Trần Khánh Dư, Trần Bình Trọng, Trần Nhật Duật, Trần Quốc Toản, Nguyễn Khoái …

    Nối tiếp, Lê Lợi xuất thân từ áo vải Lam Sơn, là người cương trực nuôi chí lớn, hay giúp người nghèo, phất cờ khởi nghĩa thu phục được lòng dân, văn nhân, nghĩa sĩ theo phò rất đông. Quân Minh sợ trước uy thế mỗi ngày một lớn mạnh của Lê Lợi, nên chiêu dụ Lê Lợi quy hàng sẽ cho làm quan to hưởng nhiều bổng lộc, nhưng ông chịu khuất phục và khẳng khái cự tuyệt rằng:
    “Làm trai sinh ra ở trên đời nên giúp nạn lớn, lập công to, để tiếng thơm muôn đời chứ cớ sao lại bo bo chịu làm đày tớ người.”

    Ông được tướng sĩ mến phục, nhiều nhân tài xả thân giúp như Lê Lai, đã mặc long bào liều mình xông ra tiền quân chết thay cho Lê Lợi đang bị vây khốn.

    Như Nguyễn Trãi, theo chân cha là Nguyễn Phi Khanh, bị giặc bắt về giải về Kim lăng. Đến ải Nam Quan, ông quay về khi nghe lời cha trối rằng:
    “Con phải quay về mà trả thù cho cha, rửa nhục cho nước, chứ đi theo khóc lóc mà làm gì !”

    Quay vể, Nguyễn Trãi tìm đến giúp Lê Lợi, trở thành quân sư nổi tiếng suốt mười năm, đã bày mưu kế cho Bình Định Vương dẹp tan giặc Minh, xây dựng một giang sơn hùng mạnh. Ông đã lưu lại một áng văn kiệt tác: “BÌNH NGÔ ĐẠI CÁO” phản ảnh hoài bão một vị minh quân cùng khí tiết của một dũng tướng mưu lược và trở thành kim chỉ nam cho chiến lược thu phục nhân tâm.
    Ngày nay, mỗi khi đọc lại Bình Ngô đại Cáo, ta vẫn thấy hào khí của tiền nhân trỗi dạy trong tim qua hai câu đầy nghĩa khí và nhân đạo:
    Lấy Đại Nghĩa để thắng hung tàn
    Đem Chí Nhân mà thay cường bạo.


    Và đây xin trích một vài đoạn trong Bình Ngô đại Cáo để cùng nhau luận cổ suy kim:
    ……..
    “Từng nghe
    “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
    “Quân điếu phạt chỉ vì khử bạo
    “Như nước Việt ta từ trước,
    “Vốn xưng văn hiến đã từ lâu
    “Sơn hà cương vực đã chia,
    “Phong tục Bắc Nam cũng khác
    “Từ Đinh, Lê, Lý, Trần … gây nền độc lập,
    “Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên … hùng cứ một phương
    “Dẫu cường nhược có lúc khác nhau,
    “Song hào kiệt thời nào cũng có
    “……………………..
    “Ta đây,
    “Núi Lam Sơn dấy nghĩa,
    “Chốn hoang dã nương mình,
    “Ngẫm non sông căm mối thế thù,
    “Thề sống chết cùng quân nghịch tặc
    “Đau lòng nhức óc chốc là mười mấy nắng mưa,
    “Nếm mật nằm gai, há chẳng phải một hai sớm tối
    “Quên ăn vì giận, sách lược thao suy xét đã tinh
    “Gẫm trước đến nay, lẽ hưng phấn đắn đo cũng kỹ
    “Những trằn trọc trong cơn mộng mị
    “Chí băn khoăn một nỗi đỗ hồi,
    “Vừa khi khởi nghĩa đã giấy lên,
    “Chính là lúc quân thù đang mạnh
    “………………………………..
    “Than ôi !
    “Vùng vẫy một mảnh nhung y nêu công đại định
    “Phẳng lặng bốn bê thái vũ mở hội vinh thanh
    “Báo cáo gần xa,
    “Ngõ cùng nghe biết

    ………………………..

    Người xưa nói rằng: “Mỗi ngày không đọc sách, soi gương thấy thẹn.” Ngày nay càng đọc xuyên suốt qua dòng lịch sử tổ tiên càng cảm thấy lòng mình hổ thẹn. Biết bao câu nói, lời thề đầy hào khí còn ghi lại qua những áng thơ văn mà mỗi khi đọc lại, chúng ta thấy tình tự quê hương bừng bừng nổi dậy tràn qua buồng ngực con tim, len đầy mạch máu của mỗi con dân nước Việt.
    Còn trời, còn nước, còn non,
    Còn trăng nước Việt, ta còn đứng đây.
    Năm năm, tháng tháng, ngày ngày,
    Dẫu xa Tổ quốc, lòng này sắt son.
    Dù cho sông cạn núi mòn,
    Lời thề sông núi vẫn còn khắc ghi.

    Đinh Văn Tiến Hùng.

    (Nguồn: Đặc san Cánh Dù Bốn Phương – Hội LLĐB/VN - TB/WA – 2002)
     

Chia sẻ, giới thiệu đến bè bạn