Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!

Mả táng treo

Chủ đề trong 'Phong Thủy - Thực Dụng' do SoLuuHuong khởi đầu 12 tháng Sáu 2009.

Thread Status:
Not open for further replies.
  1. SoLuuHuong

    SoLuuHuong Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng

    MẢ TÁNG TREO


    "Từ Lương Đường đến Lương Ngọc
    Nhật Nguyệt Linh Khí tụ,
    Ngũ Phụng triều dương lai,
    Thập Bát Tiến Sĩ, Tam Tể Tướng,
    Tử Tôn vinh hiển, mãn cân đai."

    của Quán Trung Lang

    Đồng bào Bắc Việt nói chung và bà con tỉnh Đông nói riêng, hẳn không mấy ai không biết, hay nghe nói đến một lần, về ngôi mả Vũ Hồn, một ngôi mả mà hài cốt không chôn sâu dưới ba thước đất như vạn, triệu mộ phần khác, mà lại được táng treo theo một phương pháp rất quái dị, thuộc địa phận làng Lương Đường.

    Làng Lương Đường ở phủ Bình Giang tỉnh Hải Dương, vốn là một đất Văn học, từng là nơi chôn nhau cắt rún của nhiều vị danh sĩ, mà sự nghiệp về văn chương đã thành bất tử, như ông Phạm Quý Thích ngày xưa và Phạm Quỳnh gần đây.

    Theo lời các vị bô lão thuật lại thì hình như sau một nạn lụt nặng nề, hai chữ Lương Đường, đã được đổi lại là Lương Ngọc.

    Điểm đặc biệt đáng lưu ý là dân cư làng này mỗi khi di cư đến lập nghiệp ở đâu, phần nhiều đều thành lập được một làng Lương Ngọc phụ, quy tụ những bà con thân thích, có xây dựng đình riêng để thờ vọng thần hoàng, như ở Hà Nội có đình Lương Ngọc tọa lạc tại phố Hàng Bông (ngoài cửa cho một tiệm bazar mướn), ở Bắc Ninh cũng có một làng Lương Ngọc nữa...

    Những làng Lương Ngọc phụ, hết thảy đều được tổ chức như ở xã chính: cũng có hội đồng Hương Chính, cũng có ngôi thứ chốn đình trung để hàng năm cứ đến ngày hội hè, cúng lể ở xã chính, các nơi phụ, cũng cử hành cuộc tế lể rất trọng thể, rồi cử một phái đoàn về tham dự cuộc tế lể ở xã chính tại tỉnh Hải Dương.

    Trước hiệp định Giơ-neo, ngôi mả táng treo vẫn còn nguyên vẹn chiếm một khu vực khá rộng, cây cối um tùm, dây leo chằng chịt, trông xa giống hệt một khu rừng nhỏ.

    Vẫn theo lời truyền tụng của những ông già bà cả sở tại mà giai thoại từng được phổ biến sâu rộng, hầu như một câu chuyện thần kỳ, làm đầu đề sôi nổi, lý thú trong những lúc trà dư tửu hậu của mọi người, thì kiểu đất có ngôi mộ táng treo là kiểu đất Ngũ Phụng triều Dương, do một thầy địa lý chính tông từ Trung Quốc qua đây tìm được, định dùng để an táng hài cốt tổ phụ, nhưng vì nhiều lẽ huyền bí, dị kỳ, nhà phong thủy tàu không làm chủ được ngôi đất quý, buộc lòng phải nhường lại nơi quý địa cho Vũ Hồn, hy vọng được "ăn có" với họ Vũ một phần nào sự phước trạch kết phát.

    Tất cả những sự bí ẩn của ngôi mả táng treo, đều tóm tắt trong mấy câu tổng kết của nhà Phong thủy Trung Hoa, lưu lại cho gia đình họ Vũ, trước khi lão đem một đứa con họ Vũ về Tàu:

    "Nhật Nguyệt linh khí tụ,
    Ngũ Phụng triều dương lai,
    Thập Bát Tiến Sĩ, Tam Tể Tướng,
    Tử Tôn vinh hiển, mãn cân đai!"


    Những lời tổng kết trên, còn được ghi rõ trong cuốn gia phả của dòng họ Vũ Hồn (chỉ có con cháu thuộc về dòng họ chính của Vũ Hồn, mới có gia phả ghi chú rõ ràng sự linh ứng của ngôi mả táng treo, các ngành họ Vũ khác, mặc dầu vẫn có liên hệ với ngành Vũ Hồn nhưng không được biên chép đầy đủ.)


    LONG MẠCH TỪ DÃY THẬP VẠN ĐẠI SƠN...

    Một người Trung Hoa họ Vương, nguyên quán tại tỉnh Triết Giang, được thụ hưởng một nền học vấn chân truyền về môn phong thủy, vì ông cha y từng đặc biệt nghiên cứu khoa học thần bí ấy từ ba đời trước.

    Nghe đồn ở miền Thập Vạn Đại Sơn có nhiều kiểu đất đế vương hay phát công hầu, khanh tướng, họ Vương liền thu xếp hành trang mạo hiểm đi đến tận nơi, lang thang suốt một năm trời ròng rả, vất vả, gian lao, nhiều lúc tưởng như nguy hiểm tới tính mạng, mới tìm được một "tổ sơn" rất quý: chỗ phát sinh một long mạch, mà nếu đo kiêm được chính huyệt, nhất định sẽ nắm được sự kết phát trong tay.

    Lần theo sự vận hành, di chuyển của mạch đất, họ Vương đến phủ Bình Giang, tỉnh Đông vào một ngày cuối mùa thu về đời vua Trần Nhân Tôn.

    Thấy long mạch vận chuyển đến phương Nam, rồi kết tụ ở vùng Lương Đường, họ Vương mừng rỡ như người sắp chết đuối bỗng vớ được mảnh gổ trôi giữa dòng sông, vội đi tìm chỗ tạm trú, ý muốn ở lại lâu ngày, để dò tìm kiếm cho ra chính huyệt, vì tuy biết long mạch kết tụ ở đất Lương Đường, nhưng cả một vùng đồng ruộng, gò, đống mênh mông, bát ngát, mà mới chỉ quan sát sơ qua, họ Vương biết sao được huyệt chính ở chỗ nào, mặc dầu y là nhà phong thủy chính tông rất tinh thông về môn địa lý?

    Vốn là người học thức, lanh lợi, bặt thiệp, họ Vương mua sắm ít lể vật, tìm vào chỗ mấy bô lão, hương chức trong làng, để ngỏ ý muốn xin ở lại đất này để sinh cơ lập nghiệp.

    Các quan chức dịch, chức sắc sở tại vui vẻ chấp thuận ngay lời yêu cầu của chú khách.

    Một ông cựu phó Tổng còn tỏ ý sốt sắng hứa cho họ Vương ở nhờ thửa đất còn thừa ngay tại phía sau nhà ông ta, chỉ cách ngôi chợ trong làng có ít bước, rất tiện lợi cho sự đi lại, buôn bán.

    Họ Vương chỉ cần tốn ít tiền, mua tre, nứa, làm sơ sài một căn nhà lá, là đã có thể ở tạm được, để lấy chỗ buôn bán, sinh sống hàng ngày rất dễ dàng.

    Họ vương hớn hở, ưng thuận liền, hai ba lần cảm tạ ông phó tổng, rồi sau đấy, lại đưa ngay tiền nhờ ông phó tổng lo liệu giúp việc đắp nền, làm nhà, viện cớ : y lạ lùng, bở ngở, ông phó tổng đã thương thì xin thương cho trọn vẹn, mai sau, nếu có cơ ăn nên làm ra, y sẽ không dám quên công ơn trời biển ấy.

    Đồng tiền đã có sức vạn năng!

    Chỉ ba hôm sau, trên nền đất của ông phó Tổng cựu, đã mọc lên một căn nhà tuy nhỏ hẹp, nhưng xinh xắn, gọn gàng.

    Và, đến phiên chợ sau, căn nhà đó, lại biến thành tiệm thuốc bắc Quảng An Đường, do họ Vương làm chủ.

    Nhờ đức tính cần mẩn, siêng năng, học vấn uyên bác, thầy lang họ Vương, chẳng mấy chốc đã mua chuộc được cảm tình của dân cư sở tại, và luôn cả bà con mấy làng tổng kế cận.

    Nhất là từ khi, nhờ thuốc của "Chú Chệt gầy", một số người mắc chứng nan trị, hay vào loại thập tử nhất sinh, được chửa khỏi, thì họ Vương đã nghiểm nhiên là một danh y, nổi tiếng như cồn ở khắp phố Bình Giang.

    Nhưng có điều lạ, là thấy lang chỉ tiếp các con bệnh từ sáng sớm cho đến tối mịt, còn từ lúc đỏ đèn trở đi, thì dù con bệnh có khẩn cầu, nài ép đến đâu, thầy lang cũng đóng chặt cửa, không chịu đi mà cũng chẳng chịu mở cửa bao giờ!

    Lúc đầu, nhiều người bất bình trước thái độ mà họ cho là kiêu căng, cậy mình "mát tay", được "thánh cho ăn lộc" lại lên mặt hợm hỉnh, cố tình làm khó dễ con bệnh.

    Có người đa nghi hơn, còn cho sự bế môn, trục khách ấy, hẳn đã bao hàm một hành động gì bí mật khả nghi.

    Nhưng lâu dần rồi cũng quen, không ai còn bàn ra tán vào, thì thầm, dị nghị nữa, mà người nọ còn bảo cho người kia biết rõ ràng về giờ khắc "Chú chệt gầy" bốc thuốc, chẩn mạch, để người nhà hay các bệnh nhân ở xa khỏi phải tốn công đi lại, chầu chực, đợi chờ vô ích!

    Dân cư quanh vùng, không một ai ngờ rằng: đêm nào thầy lang họ Vương cũng chờ cho thiên hạ, đâu đó đắm chìm vào giấc ngủ say sưa, mới lặng lẻ, khoác bộ y phục dạ hành ra đi, bước chân nhẹ nhàng nhưng chắc nịch và nhanh nhẹn dị thường, không gây ra một tiếng động nhỏ nào khả dỉ làm kinh động mọi người, nhất là những đàn chó rất thính tai và tinh mắt.

    Như một khách dạ hành mô tả trong những cuốn tiểu thuyết kiếm hiệp Trung Hoa, họ Vương thoăn thoắt bước nhanh trên con đường đất gồ ghề, mặc dầu màn đêm bao trùm khắp nơi, tối đen như mực, không nghe qua một tiếng động nhỏ nào, ngoài tiếng gió vi vu xào xạc và côn trùng rên rỉ ở các hồ ao.

    Tiến thẳng ra cổng Đông, thầy địa lý Tàu đi tuốt sang con đường lớn trước mặt, rồi rẻ luôn xuống cánh đồng Lương Ngọc, lần bước theo những bờ ruộng khập khểnh tới gần một trống canh mới ngừng chân giữa một vùng gò đống mấp mô, mà trước đấy, hắn đã nhiều lần qua lại, nhớ kỹ cả địa hình, địa thế khắp chung quanh.

    Tìm một gò đất cao nhất, họ Vương đưa mắt nhìn bốn phía, nhận xét được rõ ràng cả từ lùm cây bụi rậm, cũng như hình thể các thửa ruộng trước mặt, vì họ Vương vốn là một võ sỹ, am hiểu hết các môn nội ngoại công phu, tinh thục quyền cước và đặc biệt hơn hết còn luyện được cặp mắt cực kỳ sáng suốt có thể nhìn vào bóng đêm mà vẫn phân biệt được rành mạch các đồ vật nhỏ nhất như giữa ban ngày.

    Họ Vương gật đầu lẩm bẩm nói một mình:

    - Quả thật không uổng công lao dầm mưa giải nắng, lặn lội gió sương từ ngót một năm trời nay gian khổ. Đúng là kiểu đất Ngũ Phụng Triều Dương mà tổ sơn đã phát nguồn từ Thập Vạn Đại Sơn, không ngờ long mạch vận chuyển nhiều khe, băng ngang qua hàng trăm ngàn dãi đồi núi trập trùng, quanh co mãi mới chịu ngừng lại kết tụ tại đây, để dành cho dòng họ Vương hưởng thụ.

    Nhìn năm gò đất, tuy nằm rải rác khắp cả cánh đồng, nhưng hết thảy đều hướng đầu vào chiếc gò cao nhất về sống lưng, y mừng thầm, lấy chiếc la kinh bọc kỹ trong chiếc khăn gói nhỏ đeo trên vai, ra xem phương hướng.

    Khi đã phân biệt được rõ ràng vị trí nơi mình đứng, họ Vương mới dùng tróc long làm phép hô thần...

    Trời đất đang đắm chìm trong cảnh tỉnh mịch âm u, giữa tấm màn đêm bao la vô tận, chợt nổi lên một trận gió ào ào, làm lúa ruộng cùng một lúc chuyển động rào rào, như những tiếng reo hò của trăm vạn quân hùng tráng.

    Rồi chớp giật lia lịa, tỏa ánh sáng xanh lè rợn người, như báo hiệu một cơn mưa dử dội.

    Thầy địa lý sửng sốt trước hiện tượng lạ lùng ấy, vì suốt từ ban ngày tới bây giờ, bầu trời không có một triệu chứng gì bất thường, khả dĩ gọi được là có điềm mưa to, gió lớn.

    Nhất là từ lúc chập tối, họ Vương có ý riêng, đã chăm chú xem thiên tượng, thấy nền trời xanh ngắt, cao vòi vọi, từng đám mây xám nhạt, lững lơ bay lượn, trông đẹp mắt lạ lùng.

    Vậy mà chỉ phút chốc, cảnh trời quang mây tạnh bỗng biến mất để nhường chỗ cho gió giăng chớp giật, hung hãn dữ dội như sắp nổi cơn giông tố phủ phàng.

    Còn đang kinh nghi với những ý nghĩ bâng khuâng, lo lắng ấy, thì một tiếng sét lỡ đất, lỡ đất long trời bỗng nổ lên ngay trước mặt, tia lữa văng tung toé như ánh điện quang, làm họ Vương hoảng hốt nhắm nghiền mắt lại, đưa cả hai tay lên bịt chặt lấy lổ tai rồi cứ thế băng mình chạy vội vào tạm trú trong một cái quán hoang của nông dân sở tại dựng nên, để lấy chỗ nghỉ chân những buổi trưa hè nóng bức, vì y yên trí là với gió giăng, chớp giật, sấm rền như thế, thì thế nào mà trời chẳng đổ mưa đến nơi, nếu không mang chân tìm nơi ẩn náo, thì tránh sao cho khỏi bị tắm nước mưa bất tử?

    Nhưng họ Vương kinh ngạc xiết bao khi thấy sau tiếng sét kinh tâm táng đởm ấy, cảnh vật lại trở về với bức màn đêm triền miên yên tỉnh cơ hồ như không có gì khác lại xảy ra hết!

    Bầu trời lại cao vòi vọi, như buổi chiều tà, mây xanh kết tụ thành những hình thù quái dị vẫn lờ lững nhẹ nhàng bay theo luồng gió nhẹ nhàng vi vu mát rượi!

    Hàng ngày, hàng vạn ánh sao khuya lấp lánh trên nền trời cao vút, chứng tỏ một cách hùng hồn cho cảnh trời tươi đẹp, khiến cho họ Vương, trong một phút hoài nghi, đã tưởng là mình vừa trải qua một cơn ác mộng, chứ trời ấy, mây ấy thì làm sao mà lại có thể phát sinh được cảnh chớp giật, gió văng, sấm rền làm như bầu trời sắp sụp vậy.

    Nghĩ thế rồi, thầy địa lý vội cấu thử tay mình để xem mình tỉnh hay mê?

    Nhưng rõ ràng là y cảm thấy đau nhói, khi tự bấm mạnh hai móng tay vào da thịt.

    Vậy thì tại sao lại có những hiện tượng quái dị kia?

    Một ý nghĩ hải hùng thoáng loé lên trong trí óc, khiến cho y giật mình, hoảng hốt, không cần suy luận lôi thôi gì hơn nữa, vội cắm đầu, cắm cổ chạy nhanh về phía chiếc gò cao, nơi hắn vừa đặt tróc long để hô thần.

    Họ Vương hồi họp trống ngực đập liên thanh, rồn rập như người đang chờ đợi một sự phán quyết dứt khoát cho số mạng của mình, nên dù bị vấp ngã luôn mấy lần, vì những hố rảnh sẽ ngang sẽ dọc trên các bờ ruộng, hắn cũng không cần lưu ý rới, cứ mãi miết chạy bay về phía gò cao.

    Mười trượng... rồi tám trượng... họ Vương vẫn chạy nhanh vùn vụt, nhưng khi còn cách gò đất chừng năm trượng hắn bỗng đứng khựng lại, thở giốc, há hốc miệng muốn kêu mà không thành tiếng, cứ giương mắt nhìn trợn trừng nhìn sững về phía đặt tróc long lúc trước, da mặt nhợt nhạt như người đang chơi vơi trên một chiếc thuyền con ở giữa trùng dương trong một cơn gió bảo ghê ghớm kinh hồn.

    Trước mắt hắn chiếc tróc long bị tiếng sét vừa rồi đánh trúng, bật tung mỗi nơi một mảng, mảnh vuông lụa đỏ dùng lót tróc long cũng bị cháy xém quá mất nửa nằm trơ trỏng bên chiếc khăn gói và các thứ dụng cụ cần thiết để nghiên cứu về môn địa lý bọc ở bên trong đều bị bắn ra vương vãi mỗi nơi một ít, dính đất nham nhở chẳng ra hình tính chi hết.

    Thật là chuyện vô cùng quái dị, lần thứ nhất mới xãy ra cho họ Vương sau mấy chục năm trời theo đuổi môn phong thủy thần kỳ!

    Nếu hắn không được chứng kiến cảnh sét đánh lòe lửa ngay trước mặt, thì hắn tin làm sao được sự tan tành, đổ vở hiện thời, qua những mảnh vụn của chiếc tróc long, địa bàn, trừ vuông lụa bị cháy giở, tất cả các thứ đều như có một bàn tay bí mật nào đó đã dùng búa to đập nát, phá hủy tơi bời.

    Họ Vương về được tiệm thuốc thì trống canh đã điểm năm tiếng khô khan.

    Hắn cố làm vẻ thản nhiên, đi nằm nghỉ một lát cho đở mệt để lấy sức tiếp khách như không có việc gì xãy ra hết.
    Nhưng trên nét mặt dày dạn phong trần của hắn, vẫn in hằn vẻ ưu tư, thờ thẩn, chứng tỏ tâm trí hắn đang hoang mang đến cực độ, trước những hiện tượng vừa xảy ra đêm hồi khuya.

    Tuy chưa biết đích xác sự trở ngại sẽ đến mức độ nào, nhà phong thủy giàu kinh nghiệm cũng có thể mường tượng được rằng : ngôi đất qúy Ngũ Phụng triều dương kia, còn bao trùm nhiều sự bí ẩn, dị kỳ, mà có lẽ trong các loại sách vở khảo cứu về môn địa lý, chưa hề được ghi chép rỏ ràng, mặc dầu từ khi theo phụ thân học khoa phong thủy, họ Vương đã được nhìn thấy tận mắt, hay đọc qua cổ văn nhiều kiểu đất lạ lùng đòi hỏi những phương pháp mai táng nhiêu khê, những bùa phép quái đản!

    Linh tính như báo trước cho hắn biết là còn gặp lắm sự thất bại chua cay trong mưu toan an táng hài cốt tổ phụ hắn trong kiểu đất hiếm có giữa cánh đồng làng Lương Đường, vì thông thường, nếu không có điều gì trở ngại, thì với tài ba thông suốt cổ kim, với khả năng phong phú về môn địa lý, họ Vương đã có thể dùng tróc long tìm hiểu tường tận sự chuyển vận của long mạch dưới lòng đất và hô thần để được biết thêm các phương pháp cần thiết cho công việc mai táng hài cốt sau này, ngay từ đêm hôm qua chứ có đâu lại bị cản trỡ một cách kinh khủng, bất ngờ đến thế?


    GIỮA THANH THIÊN BẠCH NHẬT, THẦY ĐỊA LÝ TÀU GẶP DỊ NHÂN

    Tiết lộ danh tinh Vũ Hồn.

    "Vũ Hồn vi chủ,
    Ngũ Phụng Triều Dương,
    Hà Nhân chiếm cứ,
    Tất hữu tai ương"


    Đã có sự ngang trái ấy, thì hy vọng mai táng được trôi chảy ngôi mả tổ trong khu đất đặc biệt kia, quả thực là mỏng manh, hồi hộp vô cùng!

    Mười phần hẳn không chắc gì được một!

    Niềm lo âu, thắc mắc ấy, đã không cho phép họ Vương ngồi yên trên ghế lang y, để đóng vai trò cứu nhân, độ thế, như cái bề ngoài hắn đã cố ý tạo ra, từ khi mới đặt chân đến vùng này, hầu dễ dàng hoạt động cho công cuộc tìm đất!

    Vả lại, sự kiên nhẩn, chịu đựng của người ta, cũng chỉ có chừng đó!

    Họ Vương, dù là khách giang hồ, từng in gót giầy trên khắp các ngả đường, từ Thiểm Tây qua Vân Nam, Cao bằng, Lạng Sơn đến tỉnh Đông Hải Dương, cũng vẫn mang nặng những tham vọng, mong ước thông thường của thiên hạ.

    Vì vậy, chỉ chịu đựng một cách rất miển cưỡng được từ sáng sớm cho đến cuối giờ Tỵ, hôm ấy, lần tiễn chân một sản phụ đến bắt mạch, xin điều trị cho chứng bệnh đau ruột của bà ta đã mắc phải, từ khi hạ sanh đứa con trai mới được ba tháng đang bồng trên tay, thì họ Vương cảm thấy nóng lòng nóng dạ, bồn chồn thần trí, hoảng hốt tâm can, ngồi đứng không yên chỗ, cứ thở ngắn, than dài dường như gặp phải một điều gì cực kỳ khó giải quyết lắm ! Trước hắn còn cố nén, ngồi lỳ trên ghế để bắt mạch kê đơn cho bệnh nhân, sau không kiên nhẫn được nữa, hắn phải đứng vùng dậy, sửa soạn y phục ra đi.

    Đi đâu ?? Họ Vương không biết mà hắn cũng không cần biết đến làm gì!

    Sự thực, hắn chỉ muốn ra khõi căn nhà đang ở, để cầu mong những ngoại cảnh làm vơi trong khoảnh khắc nỗi ưu tư, khiến cho hắn tạm thời lãng quên được những sự kỳ dị vừa xãy ra đêm trước.

    Ôm mối tâm sự mông lung, họ Vương thả bước trên đường làng, mà ý nghĩ gửi tận nơi đâu, bất giác ngâm nho nhỏ mấy câu thơ:

    "Nhật Nguyệt Linh Khí tụ,
    Ngũ Phụng triều dương lai,
    Thập Bát Tiến Sĩ, Tam Tể Tướng,
    Tử Tôn vinh hiển, mãn cân đai."


    Chợt mây đen kéo đến mịch trời, gió thổi ào ào, báo hiệu một cơn mưa rào sắp đổ xuống.

    Thầy địa lý cuống quít chạy vội vào một ngôi miếu cô hồn ở giữa cánh đồng. Trên bệ gạch, chỉ có trơ trỏng một bình nhang xây liền với chiếc bệ, bốn bề mạng nhện giăng mắc, tạo cho ba gian miếu một quang cảnh hoang vắng, thê lương, âm u, lạnh lẽo, như đã từ lâu, không có ai đến cúng lễ !

    Bên ngoài gió vẫn rít lên từng cơn dữ dội, làm những chiếc lá bàng nối tiếp nhau, rơi rào rào xuống trước miếu. Mưa đã bắt đầu nặng hạt.

    Họ Vương cảm thấy lạnh buốt, toàn thân như có nước thấm vào da thịt, làm cho hắn rùng mình luôn mấy cái liền, phải nép người vào phía sau bệ thờ. Một lúc sau, mõi chân và rét quá, hắn đành ngồi bệt xuống nền gạch, co hai gối lên, để tỳ cầm vào như muốn che cho người đỡ lạnh.

    Quang cảnh lúc đó thật buồn nãn. Trong miếu hoang tàn đến rợn tóc gáy!

    Bên ngoài mưa mỗi lúc một thêm tầm tả, chớp giật sấm nổ đùng đùng.

    Họ Vương cảm thấy thân thể nhẹ bỗng, thần trí lâng lâng như đang bay bỗng ở giữa không trung.

    Thoáng cái đã đến một vùng thành quách nguy nga, cung điện vàng son lộng lẫy.

    Thầy địa lý còn hoang mang, chưa biết đây là nơi nào, thì bỗng thấy cửa giữa mở toang, hắn vội tiến vào với giáng điệu bâng khuâng, sợ hãi.

    Kỳ dị làm sao, quang cảnh ở phía trong lại giống hệt cánh đồng làng Lương Đường mà mới đêm trước, hắn đã dùng phép hô thần, nhưng lại bị thổ thần phá hủy tan nát.

    Đưa tay lên dụi mắt mấy lượt để cố nhìn ra chung quanh, thì quả nhiên là hắn không nhận định sai lầm một chút nào hết : đây kia rõ ràng là năm thửa ruộng, nàm thoai thoải như những con Phượng Hoàng thu mình, chầu cả vào một gò đất ở ngang giữa cánh đồng nơi mà hắn tin chắc là chỗ kết tụ long mạch của kiểu đất Ngũ Phụng triều dương.

    Lão chưa kịp quan sát kỷ lưỡng hơn nữa ở hai bên tả, hữu thì trên gò đất, bỗng hiện lên một đám mây ngũ sắc, thấp thoáng ẩn hiện ánh hào quang, mà lạ lùng thay giữa đám mây ngũ sắc, bay lượn lơ lững ở ngay giữa nơi mà hắn cho là chánh huyệt bỗng nổi bật lên những dòng chữ son đỏ chói:

    "Vũ Hồn vi chủ,
    Ngũ Phụng Triều Dương,
    Hà Nhân chiếm cứ,
    Tất hữu tai ương!"


    Thế rồi, những tia chớp ngoằn ngoèo, xanh lè, chợt lại tung ra liên tiếp, sấm sét ầm ầm, mà kỳ dị làm sao, lại chỉ như nhắm vào chính giữa huyệt chiếu thẳng xuống, không sai chệch một ly.

    Họ Vương ngây mặt, theo dõi những hiện tượng quái đản đó một lúc lâu, đang muốn liều mạng đến gần để nhìn cho rõ, bỗng một luồng chớp từ phía xa phóng mạnh tới, xẹt ngang mặt hắn, khiến hắn nhắm vội mắt lại, nghiêng hẳn đầu qua bên trái, đến lúc mở mắt ra, thì cả quang cảnh kỳ ảo biến đâu hết.

    Giật mình, họ Vương cố trấn tỉnh nhìn quanh, thì thấy vẫn đang ngồi co ro trong hoang miếu gió bên ngoài từng cơn, vẫn thổi vào xào xạc, ray rứt, hòa cùng tiếng mưa rơi tầm tả, tạo cho khu miếu hoang một vẻ buồn tê tái, lạnh lẽo, mơ hồ!

    Thầy địa lý bâng khuâng tự hỏi: những cảnh mình vừa được chứng kiến là mộng hay thực.

    Bảo là mộng, thì sao những địa hình, địa thế lại hiển hiện theo đúng như sự an bài của Tạo Hóa trên cánh đồng làng Lương Ngọc, giống như đúc chung một khuôn vậy ! Chính họ Vương, người đã từng tha thiết vơi khu đất quý ấy, người đã tốn phí bao nhiêu tâm huyết lẫn công phu mới theo dõi được sự vận chuyển long mạch rất phức tạp, kỳ công, từ dãy Thập Vạn Đại Sơn, xuyên qua biên giới đến các tỉnh miền Thượng Du Bắc Việt và giờ đây kết tụ ở miền Hải Dương, nhưng thực ra, cũng vẫn chưa "nhập tâm" được toàn bộ địa hình, địa thế kiểu đất Ngũ Phụng triều dương, vậy thì không thể nào nói được là một cơn mộng mị hảo huyền do ảnh hưởng của sự tưởng tượng quá phong phú trong trí não, tâm tư của thầy địa lý tạo ra, khiến cho lúc ngồi rỗi, mơ màng nhớ đến kiểu đất quý, nhà phong thủy lại có dịp mơ màng ra hình dung khu linh địa ấy!

    Nhưng nếu đã không phải là ảo mộng, thì đó phải là sự thực, một sự thực do một mảnh lực huyền bí kỳ ảo bày ra để cảnh cáo thầy địa lý.

    Bất giác, họ Vương nhớ lại tất cả mấy dòng chữ lấp lánh hào quang ẩn hiện trong đám mây ngũ sắc bay lơ lững trên khu chánh huyệt:

    "Vũ Hồn vi chủ,
    Ngũ Phụng Triều Dương,
    Hà Nhân chiếm cứ,
    Tất hữu tai ương!"


    Nhà phong thủy lim dim cặp mắt mơ màng nghĩ đến lúc bị lật đổ tróc long, rồi thở dài, lẩm bẩm:

    - Những hiện tượng quái dị đêm qua, cùng những việc vừa xảy ra trước mắt, nửa như thực, nửa như mơ, đều chỉ nhằm một dụng ý: khuyên ta không nên nghĩ đến kiểu đất Ngũ Phụng triều dương nữa. Nếu không chịu tuân theo ý trời, cứ cố tình cưỡng lại, thì sớm muộn, thế nào cũng phải chịu tai hoạ!

    Hắn nghiến răng, chua chát nói tiếp:

    - Hừ, tai họa? Trong đời làm thầy địa lý, mình đã phải chịu bao nhiêu tai họa, mỗi khi tìm được một kiểu đất đẹp, mà mộ chủ, lại không phải là nhà có đầy đủ phước trạch để hưởng thụ ân sủng của Thượng Đế?

    Nhưng dù sao, đó chỉ là những kiểu đất thường, sự kết phát chỉ hời hợt, mong manh, không lấy gì làm huy hoàng, vĩnh cữu. Vã lại, đấy toàn là việc thiên hạ, do mình nhẹ dạ, nhận lời giúp đỡ cho người khác, không phải vì tư lợi, mà thực ra, chính là có cơ hội học hỏi thêm, thu thập kinh nghiệm thêm, để khi có căn bản chắc chắn về môn học cao siêu, huyền bí đó, sẽ tự tìm lấy cho nhà mình một ngôi đất quí, có thể đem lại được sự kết phát hoàn toàn về cả các thứ phúc, lộc, thọ.

    Trải bao vất vả, phong sương, gian lao, nguy hiểm, mình mới đến được đây và khám phá được kiểu đất quý báu đáng gọi được là hãn hữu trên thế gian.

    Nhà phong thủy chợt ngừng bặt, đưa ký ức trở về với giấc mộng để cố nhớ lại cả bốn dòng chữ hiện hình, giữa đám mây ngũ sắc rồi lại thở dài, lẩm bẩm thêm:

    - Thập bát Tiến Sĩ, Tam Tể Tướng ! Kết phát nhiều đến thế, thì nhất định là đại quý rồi! Là được hưởng phúc lộc lâu dài lắm rồi! Quả thật không còn ngôi đất nào tốt đẹp hơn thế nữa?

    So với những kiểu đất đế vương thì nó có kém thật đấy!

    Nhưng để bù lại sự phú quý, Thượng Đế đã cho con cháu mộ chủ được hưởng phúc lâu dài!

    Coi đi, kéo lại, mình có thể nói được rằng: đó cũng không kém gì kiểu đất đế vương đâu?

    Vậy mà, đau đớn thay, hắn lại không hô được thần, kiểm soát được hướng chuyển vận của long mạch. Trong đêm trước, và mới đây, giữa lúc vào miếu tránh mưa, lại còn mơ màng, nữa tỉnh, nữa mê, được chứng kiến những hiện tượng dị kỳ, huyền ảo, không hiểu có phải do Thần linh, Thổ địa linh thiêng, cố tình an bài, bố trí, để cảnh cáo cho họ Vương, gián tiếp mách bảo cho họ Vương biết rằng ngôi đất quý ở cánh đồng làng Lương Đường, đã được Thượng Đế dành riêng cho Vũ Hồn, không ai được phép tranh giành, chiếm đoạt. Ai cố ý làm trái ý Trời, sẽ bị Thần linh nghiêm phạt.

    Nhưng Vũ Hồn là ai?

    Đấy mới là điều thắc mắc mà họ Vương đã mang nặng trong tâm khảm từ sau khi vào miếu Cô Hồn tránh mưa!
    Trời đã ngớt mưa. Những đám mây đen bao phủ không trung, phút chốc tan biến gần hết, chỉ còn vương vấn lại mấy áng bạch vân, lờ mờ như sương khói mơ hồ, bay theo luồng gió từ phía Đông Nam tới, và chỉ mấy phút sau, cũng tản mác dần, trả lại vẽ quang đảng cho bầu trời.

    Thầy địa lý vùng đứng lên, sửa soạn lại y phục, thong thả bước ra cửa miếu, vừa đi vừa bâng khuâng nghĩ đến những hiện tượng mới xãy ra, mà hắn không biết là mộng hay thực.

    Họ Vương luôn mồm lẩm bẩm:

    - Vũ Hồn vi chủ, Vũ Hồn vi chủ!
    - Hừ, Thế là nghĩa lý gì? Chẳng lẽ khu đất này lại thuộc về quyền sở hữu của Vũ Hồn sao? Mà Vũ Hồn là ai mới được chứ?

    Thật là rắc rối, khó hiểu vô cùng.

    Hắn đang vò đầu, bứt tai, đăm chiêu, khổ sỡ, thì chợt có tiếng chân chạy huỳnh huỵch, từ phía xa vọng lại, mỗi lúc một gần, khiến hắn giật mình, đứng khựng lại, ngơ ngác nhìn quanh, hồi họp ngó chừng...

    Rồi... tiếng chân người rõ hẳn... Từ khúc quẹo đằng đầu đường, một bóng đen chợt ló hình qua một bụi khúc tần rậm rạp, giây tơ hồng chằng chịt còn ướt đẩm nước mưa, lóng lánh như những hạt kim cương.

    Bóng người rõ dần, rõ dần, hướng thẳng vào cửa miếu bước nhanh.

    Họ Vương vội đứng nép mình, tựa lưng vào khuôn cửa gổ mọt, sẳn sàng như người thủ thế, sẳn sàng chờ đợi đối phó với những sự bất ngờ.

    Người mới xuất hiện là một nông dân thuần túy, qua lớp áo quần lam lũ, dày cộm, dính đầy bùn đất, mặt mày tuy đen sạm, in hằn dấu vết dày dạn phong sương nhưng hai mắt trợn trừng, sáng quắc, lại long lanh như hai tia chớp có mảnh lực, làm nổi gai óc những người đứng trước mặt.

    Họ Vương hoảng hốt, vừa muốn quay gót, tránh mặt bỏ vào trong miếu, thì người nông dân lực lưỡng lạ mặt đã bước lẹ đến bên cạnh, nhìn thẳng vào giữa mặt nhà phong thủy, gằn giọng, tiếng nói sang sảng như chuông đồng:

    - Ngũ Phụng triều dương của Vũ Hồn, nghe chưa? Thượng Đế đã dành cho họ Vũ ngôi mả ấy! Không một ai được quyền xâm phạm tới! Nhà ngươi nên tìm Vũ Hồn, rồi giúp họ Vũ thì thế nào cũng được hưởng chung phước trạch!

    Dứt lời, người nông dân lạ mặt, quay ngoắt mình về lối cũ đi thẳng...

    Thầy địa lý toan chạy theo, nhưng hai chân cứng nhắc, không nhút nhít. Hắn hốt hoảng gọi thất thanh liền mấy tiếng, nhưng kỳ lạ làm sao, hắn chỉ ú ớ trong cổ họng, chứ không làm sao nói được thành tiếng rõ ràng như thường nhật, đành cứ đứng tựa lưng vào khung cửa gổ, mặt ngơ ngác nhìn theo bóng dáng người nông dân lạ mặt, khuất dần quá bụi khúc tần rậm rạp ngay chỗ khúc quẹo vào đường làng.

    Với tâm trí bàng hoàng; họ Vương đứng nguyên như thế tới một khắc đồng hồ, cho đến lúc bóng dáng người nông dân khuất hẳn sau lùm cây, hắn mới cất nhắc được chân tay, liền hốt hoảng chạy theo người lạ mặt, nhưng bốn bề vắng ngắt, trên con đường đất chạy từ miếu Cô hồn vào trong làng, chẳng có một ai hết.

    Họ Vương lo sợ như kẻ mất hồn, bước thấp, bước cao trở về tiệm, lòng hoang mang trăm mối nghi ngờ thắc mắc...

    Vì thế, họ Vương thường phải vắng nhà luôn. Việc trông nom săn sóc cửa nhà, hoàn toàn được trao phó cho người vợ họ Trần và Vũ Hồn đảm nhiệm.

    Bà chủ tiệm thuốc Bắc là một thiếu phụ nhan sắc khá diểm kiều, bản chất lại thông minh lanh lợi, nàng sở dĩ phải kết hôn với họ Vương chỉ là vì nhà nàng quá nghèo túng, khổ sở, không trả nợ mấy món nợ quan trọng đã đến kỳ hạn phải bồi hoàn cả gốc lẫn lãi. Hơn nữa, thân mẫu nàng lại mắc phải một chứng bệnh hiểm nghèo, gần đất xa trời mà trong nhà quá bê bối, không đủ sức tìm thầy, chạy thuốc.

    Vì vậy, khi được họ Vương tình nguyện điều trị giúp, lại hứa trao tặng một số tiền lớn làm sính lể, cha mẹ nàng liền nhận lời gả cho họ Vương, vừa để đền ơn cứu mạng của họ Vương vừa để lấy chỗ nương nhờ về mai hậu.

    Mối tình chồng vợ giữa cô gái họ Trần và thầy lang họ Vương, bởi thế, chỉ có bề ngoài chứ không nồng nàn, thắm thiết chan chứa yêu đương như những đôi uyên ương mới xây dựng tổ ấm gia đình khác.

    Ví dù cho họ Vương có tử tế, rộng lượng đến đâu, trước mặt Trần thị, thầy lang cũng chỉ là người ngoại chủng, ngôn ngữ bất đồng, mà theo quan niệm hôn nhân của thời đại phong kiến thì con gái những gia đình nền nếp không bao giờ chịu lấy chồng Tàu, chồng Chệt!

    Đấy là chưa nói đến số tuổi quá chênh lệch, giữa đôi bên: họ Vương đã ngoại tứ tuần, trong lúc cô gái họ Trần mới có 19 cái xuân xanh, khiến cho sau hôn lễ, mỗi khi có dịp phải đi sóng đôi với chồng ra ngoài đường những trẻ con quanh vùng, thường vỗ tay reo hò, chế diễu, hát nheo nhéo câu ca dao:

    "Tiếc thay con ngựa bạch lại thắng giây cương bằng thừng,
    Tiếc cho con người thế ấy lại nâng lưng ông cụ già!
    Lạy chú, chú bỏ con ra,
    Ra đường ai biết rằng cha hay chồng,
    Nói ra đau đớn trong lòng,
    Ấy cái nợ truyền kiếp, há phải là chồng em đâu?"

    Lúc đầu tiên, cô gái họ Trần, từ địa vị một thiếu nữ bần hàn, quần nâu, áo vải, chân lấm tay bùn, quanh năm vật lộn với luống cày, đổi bát mồ hôi mới kiếm nổi miếng cơm, nên khi được họ Vương cưới về làm vợ, nàng rất thỏa mản, vì ngoài sự sung sướng về vật chất, nàng còn báo hiếu được cho cha mẹ, nhờ số tiền dẫn cưới khá quan trọng của ông chủ tiệm thuốc Bắc để cha mẹ nàng có thể thanh tóan hết các món nợ nần, bê bối từ mấy năm nay.

    Nhưng sau lể vu quy chỉ chừng một tháng, mỗi khi ra ngồi ngoài quầy tủ thuốc, nhất là những dịp có việc phải đi với chồng ra đường, thiên hạ hiếu kỳ, tệ hơn hết là những trẻ con trong làng, đã vỗ tay reo hò, chạy theo chế riễu nàng thậm tệ, khiến cho nàng tủi thẹn vô cùng.

    Lòng tủi thẹn mỗi ngày một nặng nề đưa dần đến sự chán ghét người bạn gối chăn khác dòng giống.

    Do đấy, cô gái họ Trần thường chỉ thích chuyện trò với anh quản gia Vũ Hồn mà nàng tin rằng dù sao, cũng vẫn là người đồng hương, cùng chung một tiếng nói với nàng, thì hẳn là phải biết kính trọng nàng hơn hẳn là chú Chệt, lúc nào cũng ngô nghê như Chú Tàu nghe kèn, chẳng xứng đáng một chút nào với áng nhan sắc diểm kiều, duyên dáng của nàng, từ xưa tới nay, vẫn nổi tiếng là một thôn nữ xinh đẹp nhất phủ Bình Giang!

    Trước Vũ Hồn còn sợ hải, dè dặt, không dám suồng sả, đùa cợt với cô chủ trẻ tuổi, mặc dầu cô chủ cứ luôn luôn tỏ ra vô cùng dể dãi.

    Nhưng chỉ ít lâu sau đấy, nhằm một buổi tối, nhân cơ hội họ Vương phải đi coi mạch cho một bệnh nhân ở trên Sặt, đường xá xa xôi, bắt buộc thầy lang phải ngủ lại nhà con bệnh đến sáng hôm sau mới có thể về được, nên cô chủ trẻ tuổi đã sai Vũ Hồn đóng kín cổng ngỏ, ngay từ lúc sẩm tối, viện cớ là nhà vắng người, bà chủ cần phải đề phòng những sự bất trắc bất ngờ.

    Bề ngoài thì thế, nhưng sự thực bên trong lại khác hẳn!

    Đó là một điều tính toán rất kỷ, chín chắn của một thiếu phụ, trời cho nhan sắc mặn mà, khôn ngoan tháo vát, nhưng trớ trêu, lại sinh trưởng nhằm cảnh gia đình nghèo khổ, túng thiếu, đến nổi một đoá hoa mơn mởn sắc hương, phải lọt vào tay một chú Chệt đáng tuổi cha, ông, khiến cho cô gái hẩm hiu duyên số ấy, dù được sống trong nhung gấm, vàng son, tha hồ ăn ngon, mặc đẹp, kẻ hạ người hầu, cũng cảm thấy tủi buồn, đau khổ, suốt ngày đêm rầu rỉ, thở vắn, than dài.

    Không những thế, họ Vương thường viện cớ bận rộn, săn sóc bệnh nhân, để có khi vắng mặt đến ba, bốn ngày đêm liên tiếp, làm cho tình gối chăn lạnh nhạt, so với vẻ quyến luyến keo sơn của những cặp vợ chồng mới cưới khác, thì quả thực là cách biệt nhau một vực, một trời.

    Tính tình chú Chệt chủ tiệm thuốc lại mỗi lúc một thêm khó khăn, khắc khổ. Đối với cô gái họ Trần chú không mấy khi cười nói, tỏ vẽ yêu thương, đi vắng thì không sao, êm thắm cửa nhà, mà cứ về đến tiệm là thế nào chú Chệt cũng la lối om sòm, phiền trách vợ, rày mắng người giúp việc, chẳng lúc nào ngớt tiếng.

    Sức chịu đựng của thiếu phụ họ Trần chỉ có chừng!

    Nàng không thể chôn vùi mãi tuổi xuân tràn trề nhựa sống của những ngày mới vu quy vào chốn sầu thành vô tận, bên cạnh một người chồng ngoại chủng, khắc khổ như một nhà truyền đạo, lạnh nhạt như một kẻ tu hành.
    Đã đến lúc nàng phải đi tìm một nguồn an ủi khác, kẻo nay lần mai lữa, năm tháng cứ vùn vụt trôi qua, chôn vùi một kiếp hồng nhan đang tha thiết yêu đời, dưới hố sâu hờn tủi của kẻ vị vong, có chồng mang tiếng phòng không trọn đời.!

    L.T.G. (Lời tác giả) Trước khi viết về ngôi mả táng treo, chúng tôi đã cố gắng đi dò hỏi những vị bô lão nguyên quán ở vùng Hải Dương Bắc Việt để mong tìm hiểu rõ ràng hơn, chính xác hơn những chi tiết bao quanh ngôi mả, có thể gọi được là kỳ lạ, độc nhất vô nhị ở Việt Nam, mà sự kết phát chẳng những đã lâu dài, lại còn hiển hách, bất cứ dưới thời đại nào!

    Nhưng qua những lời truyền tụng hay chiếu theo một vài tài liệu đã sưu tầm được, thì chúng tôi chỉ thấy hoang mang không biết đâu là sư thực, vì có người nói thế này, lại có người bảo thế khác, tam sao thất bản, khiến cho chúng tôi, càng cảm thấy thất vọng, đành chỉ còn biết: lựa chọn những giả thuyết gần sự thực hơn hết, có lý hơn hết, để nêu ra, với hy vọng ấy, mong chờ sự chỉ giáo của qúy vị cao minh, nhất là những bậc lão thành ở tỉnh Đông.

    Thì sự mong chờ của chúng tôi quả đã không đến nổi thất vọng! Mới đây chúng tôi có tiếp được bức thơ của một vị lão thành, tự nhận là dòng họ Vũ ( rất tiếc là Vũ Lão tiên sinh lại không muốn cho chúng tôi nêu rõ quý tính cao danh và địa chỉ, nên ở đây chúng tôi phải chiều ý Vũ lão tiên sinh, mong bạn đọc thân mến, lượng tình thông cảm) đã cho chúng tôi biết thêm nhiều chi tiết quý giá, mạc dù chúng tôi vẫn còn một vài nghi vấn, muốn được hầu truyên cùng Vũ Lão tiên sinh trong một kỳ sau.

    Trước khi thuật lại đầy đủ những chi tiết bổ ích ấy để cống hiến quý vị độc giả thân mến, chúng tôi xin chân thành cảm tạ thịnh tình chiếu cố của Vũ Lão tiên sinh, đã không quản công phu, sốt sắng giúp đở cho chúng tôi, có những tài liệu dồi dào để hoàn thành công cuộc biên khảo này.

    Một lần nữa xin Vũ Lão tiên sinh nhận cho ở đây lời cảm tạ thành thực của chúng tôi.

    Trong một bài trước, chúng tôi có nói đến làng Lương Đường, sau được đổi thành Lương Ngọc.

    Nay được biết đó chỉ là tên hợp nhất của hai làng Lương Đường và Ngọc Cục, cũng thuộc địa phận phủ Bình Giang, tỉnh Hải Dương Bắc Việt.

    Còn ngôi mả táng treo thì thuộc phạm vi làng Vạn Nhuế, huyện Nam Sách, cũng trong địa giới tỉnh Hải Dương.
    Theo gia phả của họ Vũ, được đặt ở ngôi thờ tại đình làng Vạn Nhuế, thì lai lịch của ông tổ được ghi chép như sau: "Vũ Hồn, An Nam Đô Hộ Sứ", và cũng chính Vũ Hồn đã tự tìm lấy được kiểu đất: "Cửu Thập Bát tú triều dương" lúc đang đảm nhiệm trọng trách An nam Đô Hộ Sứ (chúng tôi sẽ có dịp thảo luận về nghi vấn này trong một số báo sau ).

    Kiểu đất có ngôi mả treo gồm tới 98 (cửu thập bát tú) cái gò nhỏ nằm rải rác bao quanh một cái gò lớn, ở chính giữa (gò thứ 99) mà trên đỉnh gò là mả Vũ Hồn.

    Điểm đặc biệt là phong cảnh quang đảng của khu vực "Cửu thập bát tú triều dương", vì ngoài 99 cái gò, tuyệt nhiên không còn có cây cối chi khác.

    Vẫn theo gia phả của họ Vũ đã ghi chép, thì sau khi khám phá được kiểu đất tuyệt đẹp, cực kỳ quý báu đó, Vũ Hồn liền trở về Trung Quốc, xin triều đình cho phép mình được đem họ hàng con cháu, di cư sang An Nam lập nghiệp.Chính do đấy, mà hài cốt của Vũ Hồn, sau lúc ông từ trần, mới được an táng tại làng Vạn Nhuế.

    Trước khi tìm được kiểu đất để dành cho việc mai hậu, Vũ Hồn còn tìm được một khu đất khác, dùng làm nơi sinh cư lập nghiệp cho bà con trong họ, theo mình từ Trung Quốc qua. Nơi đó là làng Khả Mộ, sau được cải lại là Mộ Trạch, thuộc tổng Tuyền Cử, huyện Năng An, phủ Bình Giang, tỉnh Hải Dương.

    Địa hình địa thế làng Mộ Trạch cũng đặc biệt vô cùng, thu gọn trong một khu vực vuông vắn như được cắt sén, gọn gàng, không hề có chỗ nào lồi lõm hay khúc khuỷu.

    Dân làng hết thảy đều là họ Vũ, con cháu của Vũ Hồn.

    Ngoài ra không có một dòng họ nào khác tới cư ngụ hay tá túc cả. Ngay tại hai bên cổng ngôi đình thờ ông tổ Vũ Hồn vẫn còn có đôi câu đối:

    "Vi tử tôn lập vạn thế cơ, Khanh, Tướng, Công vô trị loạn.”
    "Dữ Thiên Địa dồng nhất, nguyên khí, Hoàng, Vương, Đế, Bá hữu Long ô"

    dịch nôm là: Vì con cháu, lập nên cơ sở vạn năm Khanh, Tướng, Công Hầu vì thời bình hay thời loạn cũng đều có; Cùng với nguyên khí của Trời Đất, Hoàng, Vương, Đế, Bá ở thời thịnh hay suy cũng vẫn có.

    Đồng thời, gia phả cũng còn ghi lại: lúc Cao Biền đuổi quân Nam Chiêu, khi đi ngang qua làng Mộ Trạch, họ Cao vốn là tay thông kim bác cổ, có chân tài, thực học về môn phong thủy, lúc ấy cũng phải ngẩn ngơ trước kiểu đất quý báu, hiếm có kia, rồi gò cương ngựa, rơ roi mà khen ngợi rằng: "Tiến Sĩ sào!" (Cái tổ của các vị Tiến Sĩ).

    Vì vậy tại cổng Đông làng Mộ Trạch, người ta mới thấy có tấm bia, khắc ba chữ "Tiến Sĩ sào" để kỷ niệm lời ca ngợi một kiểu đất văn học tuyệt vời do chính một người thông hiểu địa lý như Cao Biền đã phải thốt ra.

    Có lẽ cũng vì địa hình địa thế đẹp đẻ tuyệt vời của làng Mộ Trạch, và căn cứ vào lời khen ngợi "Tiến Sĩ sào" do tự miệng một nhà phong thủy kỳ tài như Cao Biền thốt ra mà số người thành đạt ở làng Mộ Trạch lại có rất nhiều, chứ không phải "Thập Bát Tiến Sĩ, tam Tể Tướng" như chúng tôi từng đề cập đến trong một kỳ trước.

    Ngoài một số đông sĩ tử thi đậu cao khoa, làng Mộ Trạch còn có nhiều người làm đến Công Hầu, Khanh Tướng.
    Vì thế trong gia phả, mới thấy ghi chú "Thập Bát Quận Công, tam Tể Tướng". Nhưng danh tính các vị quận công hiển đạt trong dòng họ Vũ cho đến bây giờ, vẫn chưa ai tra cứu được, mặc dầu tại Văn Miếu Hà Nội còn có những danh bia Tiến Sĩ ghi danh tính những Ông Nghè ở dưới triều Lê, Nguyễn.

    Muốn minh chứng sự khác biệt giữa hai làng Luơng Đường và Mộ Trạch chỉ cách nhau co trên dưới ba cây số ngàn, Vũ Lão Tiên Sinh đã cho chúng tôi biết thêm : trong gia phả của dòng họ Vũ còn thấy ghi rằng:

    "Mộ Trạch quan, thiên hạ an,
    Lương Đường quan, thiên hạ loạn ..."

    Như thế đủ rõ hai làng không liên hệ chi với nhau hết.

    Về ngôi mả táng treo, Vũ Lão Tiên Sinh cũng không cho là lạ lùng chi hết, mà đó chỉ là một cái huyệt, được đào rộng ra, bốn góc trồng bốn cây cột, đầu cột có giây xích liên lạc với nhau, hài cốt đặt trong tiểu và để trên các giây xích ấy, xong rồi cho đổ đất lấp kín như các ngôi mộ khác.
     
  2. SoLuuHuong

    SoLuuHuong Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng

    VẪN CÒN NHIỀU NGHI VẤN


    Với mục đích tôn trọng dư luận, chúng tôi đã trích đăng tất cả những tài liệu liên quan đến ngôi mả táng treo, do chính một bậc lão thành trong dòng họ Vũ, hiện diện ở miền Nam, nay đích thân viết cho chúng tôi, để đính chính những chi tiết chúng tôi từng đưa ra từ mấy số trước, mà Vũ Lão Tiên Sinh cho là quá hoang đường!

    Sự thực, tài liệu sưu tầm của chúng tôi nếu có bị sai lạc, lầm lẩn, thì đó cũng không phải là lổi sơ sót của chúng tôi, vì chúng tôi cũng chỉ làm công việc của một người tường thuật lại những lời truyền tụng trong dân gian về ngôi mả táng treo, mà qua sự kết phát hiển hách lâu dài đã thành một giai thoại rất phô thông của quảng đại quần chúng.

    Sự suy luận của chúng tôi không phải là vô căn cứ, vỉ đồng bào Bắc Việt nào, trước đây, không đã có hơn một lần, được nghe "thiên hạ đồn" về ngôi mả táng treo, cùng sự lựa chọn đứa con bé sinh đôi, nặng đồng cân hơn đứa con lớn, để đem về Trung Quốc của thầy địa lý Tàu, sau khi nhường kiểu đất quý cho Vũ Hồn - vì tự biết nhà mình bạc phước vân vân và vân vân.

    Sau khi đăng tải đầy đủ những chi tiết về ngôi mả táng treo, do chính một vị lão thành, trong dòng họ Vũ đưa ra, chúng tôi xin nêu ra đây những nghi vấn đã khiến cho chúng tôi phải thắc mắc khá nhiều qua những tài liệu nói trên.

    Căn cứ vào tài liệu ghi trong gia phả của họ Vũ thì Vũ Hồn là một vị đại thần Trung Quốc, không biết rõ đời nào, được bổ nhiệm làm An nam Đô Hộ Sứ, qua đây tìm được kiểu đất "Cửu Thập Bát Tú Triều Dương", có thể phát được tới "Thập Bát Quận Công, tam Tể Tướng, nên đã về Tàu, xin Triều đình cho phép mình được đem họ hàng qua lập nghiệp tại Mộ Trạch, một địa điểm cũng vô cùng đặc biệt về phong thủy, đến nổi nhà phong thủy chính tông cừ khôi là Cao Biền từ đời nhà Đường, được cử qua An nam làm Đô Hộ Sứ khi đuổi giặc Nam Chiếu, về qua làng Mộ trạch, thấy phong cảnh kỳ tú, địa thế vuông vắn, đã phải nghi ngờ trước kiểu đất Văn Học, tuyệt vời, mà gò cương chỉ roi ngựa, khen là "Tiến Sĩ sào"!

    Theo những lời ghi chú trên, thì ta có thể tin tưởng được rằng: Vũ Hồn sanh vào đời nhà Đường bên Tàu, vì sau khi chinh phục được nước ta, năm Kỷ mảo, vua Cao Tôn nhà Đường, mới chia xứ Giao Châu thành 12 Châu, 59 huyện và thiết lập An Nam Đô Hộ Phủ.

    Nước ta được gọi là An Nam, bắt đầu từ đây.

    Trong gia phả của họ Vũ, có ghi "Vũ Hồn An Nam Đô Hộ Sứ." thì lời phỏng đoán của chúng tôi trên đây, hẳn không quá xa sự thực?

    Tuy nhiên, chúng tôi vẫn còn thắc mắc, vì qua những tài liệu lịch sử còn sót lại, chúng tôi đã cố sức dò kiếm, mà trong số quan lại nhà Đường được phái sang An Nam, tuyệt nhiên không có vị nào là họ Vũ hết!

    Kể từ đời Lý Uyên, vị vua dựng lên nghiệp nhà Đường xưng hiệu là Cao Tổ Hoàng Đế, trong sử cũng chỉ thấy chép : vị quan được nhà vua cử sang cai trị Giao Châu là Đại Tổng Quản Khâu Hoa.

    Sau đấy là Quang Sở Khách, Dương Tư Húc, Trương Bá Nghi, Cao Chánh Biện, Triệu Vương, Cao Biền v...v...
    Không có một viên quan tàu nào họ Vũ, nhất là chức Đô Hộ Sứ cả!

    Ngoài nghi vấn trên, chúng tôi còn không khỏi ngạc nhiên, về đoạn nói về Cao Biền.

    Như ai nấy đều biết, không những qua lời nhân dân truyền tụng từ cửa miệng người này qua cửa miệng người khác, mà còn được ghi chép trên nhiều tài liệu giấy trắng, mực đen khác về Cao Biền thì nhà chính trị kiêm quân sự Trung Hoa này, còn có biệt tài về môn phong thủy, học được dị thuật hú gió, gọi mưa, mới nghe cứ như chuyện phong thần vậy!

    Về tài năng và sự nghiệp của Cao Biền thì chính sử gia, kiêm học giả Trần Trọng Kim, đã viết trong cuốn V.N. sử Lược như dưới đây:

    Mùa thu năm Giáp Thân (864) Vua nhà Đường sai tướng Cao Biền sang đánh quân Nam Chiếu ở Giao Châu.

    Cao Biền vốn là danh tướng của nhà Đường văn vỏ toàn tài, rất được quân sĩ mến phục. Năm Ất Dậu (865) Cao Biền cùng quan Giám quân Lý Duy Chu đem quân sang đóng ở Hải Môn. Nhưng họ Lý không ưa Cao Biền, thường tìm mưu hãm hại.

    Hai người bàn định tiến binh, Cao Biền dẫn 500 quân đi trước hẹn họ Lý đi sau tiếp ứng. Nhưng họ Lý không chịu xuất binh, Cao Biền vẫn thắng được quân giặc trong lúc chúng đang gặt lúa không kịp đề phòng.

    Sau đấy nhờ có tướng Vi Trọng Tề vâng mệnh vua Đường, đem 7000 quân sang tiếp viện cho Cao Biền, nên Cao Biền lại thắng luôn mấy trận nữa, khiến cho quân Nam Chiếu hoảng sợ, chỉ lo giữ gìn thế thủ, chư không dám tấn công như trước nữa.

    Cao Biền thấy thế liền viết biểu gửi vể Tàu báo tin. Nhưng sứ giả về đến Hải Môn, lại bị Lý Duy Chu bắt giữ, không cho họ Cao Biền liên lạc với Triều Đình.

    Vua Đường trông đợi mải, không thấy tin tức gì của Cao Biền, phải sai sứ giả sang hỏi, thì Lý Duy Chu lại tâu dối rằng : Cao Biền án binh ở Phong Châu không chịu giao binh cùng quân giặc.

    Vua Đường nghe tin ấy, nổi giận lập tức, hạ chiếu sai Vương An Quyền sang làm tướng đánh Cao Biền và triệu họ Cao về triều hỏi tội.

    Ngay tháng ấy, Cao Biền phá tan được quân Nam Chiếu rồi lại tiến binh vây hãm La Thành, đã được hơn mười ngày, sắp hạ thành, bỗng nhận được tin Vương An Quyền và Lý Duy Chu sẽ sang thay mình thì biết ngay mưu kế hiểm độc của bọn gian thần, liền trao phó binh quyền cho Vi Trọng Tề rồi cùng mấy tên gia nhân thân hành đi suốt đêm về triều.

    Nhưng trước đó, Cao Biền cũng đã sai người bí mật lén về kinh đô dâng biểu, trần tấu về tình trạng ở phương Nam, và nhân mạnh luôn cả sự đố kỵ của họ Lý để xin nhà vua minh xét...

    Vua Đường xem biểu, biết rõ sự tình cả mừng, vội xuống chiếu thăng chức cho Cao Biền và sai họ Cao trở lại phương Nam, tiếp tục cầm binh chinh phạt Nam Chiếu.

    Chẳng bao lâu binh Đường đã dẹp yên quân giặc.

    Đất Giao Châu lại bị nội thuộc nhà Đường, sau 10 năm bị quân Nam Chiếu phá lại.

    Vua Đường phong cho Cao Biền làm Tiết Độ sứ và đổi đất An Nam làm Tỉnh Hải...

    Cao Biền trị dân có phép tắc nên ai cũng kính trọng mến phục.

    Vì vậy, nhiều người tôn là Cao Vương, Cao Biền đắp lại thành Đại La ở bờ sông Tô Lịch...

    Sử chép rằng Cao Biền thường dùng phép phù thủy, khiến thiên lôi phá hủy những thác gềnh ở các sông ngòi trong xứ, để cho thuyền bè đi lại dể dàng.

    Tục truyền rằng: Cao Biền thấy ở bên Giao Châu ta lắm đất đế vương thường cứ cưỡi diều giấy đi yểm đất, phá hủy những chỗ sơn thủy đẹp và triệt hạ mất nhiều long mạch...

    Ngoài tài liệu của Trần tiên sinh, trong dân gian còn đồn đải rằng: họ Cao thường đi khắp núi cao rừng rậm, ngõ hẽm, hang cùng, thấy nơi nào địa thế kỳ khu, phong cảnh xinh đẹp, khả dỉ nghi được là chỗ quy tụ những long mạch kết phát, là tìm cách trấn yểm, phá hủy cho kỳ được.

    Đó không phải là ý riêng của Cao Biền, mà chính là y đã vâng mật chiếu của triều đình: dùng mọi phương pháp yểm trừ những huyệt đế vương, cũng như những kiểu đất kết phát khác, để mong cũng cố nền móng đô hộ lâu dài trên đất nước này.

    Với trọng trách ấy, một người có căn bản vững chắc về môn phong thủy như Cao Biền, một danh tướng kiêm chính trị gia lổi lạc, đã từng xây được thành Đại La lại đào cả sông Tô Lịch để cắt đứt long mạch của chốn cố đô, thì bao giờ y lại chịu bỏ qua kiểu đất "Cửu Thập Bát Tú triều dương" và luông cả khu quý địa làng Mộ Trạch?

    Bảo rằng Vũ Hồn đã tìm thấy được ngôi đất đặc biệt đó, từ trước ngày Cao Biền được vua Đường cử sang nhậm chức Đô Hộ Sứ ở An Nam, chúng tôi e rằng giả thuyết đó cũng không được vững lắm, vì ngoài lý do không có một viên quan nhà Đường nào họ Vũ, ta còn phải kể đến những sự phiền toái, phức tạp của công cuộc di cư những con cháu trong dòng họ Vũ qua lập nghiệp ở làng Mộ Trạch, mà sau khi tìm được địa diểm hợp ý, Vũ Hồn đã về Tàu, xin phép triều đình cho đem họ hàng qua đây, lập riêng thành một kiểu giang sơn quy tụ toàn người trong họ Vũ.

    Sự kiện đó có đúng không ? Nếu đúng, thì thời gian Vũ Hồn được cử làm Đô Hộ Sứ ở An Nam là năm nào, mà vị đại thần Trung Quốc ấy lại có thể tìm được đất, di cư đem con cháu qua lập nghiệp, phát đạt hiển hách làm được cả đền thờ, viết được cả câu đối, ghi nhớ công ơn người khai sáng, để khi Cao Biền có dịp đi qua, chỉ còn biết ngẫn ngơ, trước kiểu đất văn học tuyệt vời đó!

    Nếu bảo rằng Vũ Hồn sang An Nam sau Cao Biền, thì giả thuyết ấy e rằng không đúng!

    Vì cái chức An Nam Đô Hộ Sứ chỉ được đặt ra về đời Vua Cao Tôn nhà Đường, đồng thời với danh từ An Nam Đo Hộ Phủ.
    Nhưng đến khi Cao Biền đánh thắng được quân Nam Chiếu, nước ta trở lại nội thuộc nhà Đường, thì vua Đường lại đổi An Nam làm Tỉnh Hải và phong cho Cao Biền làm Tiết Độ Sứ.

    Do đấy mà chúng tôi tin rằng ngôi Mả Táng Treo chỉ có thể được an táng từ trước ngày Cao Biền qua nước ta, căn cứ vào số quan Trung Quốc "Thiên Triều" phải qua đây, trong những thời kỳ nước ta bị Bắc thuộc, không đời nào còn thấy có chức An Nam Đô Hộ Sứ nữa!

    Tóm lại chúng tôi không tin rằng: ngôi mả táng treo, được táng sau thời Cao Biền đem binh sang đánh quân Nam Chiếu, vì một lẽ dể hiểu: nếu được thấy kiểu đất ấy thì một người tinh thông phong thủy như họ Cao, có đâu lại chịu bỏ qua, nhường chốn cát địa cho người khác hưởng thụ.

    Nhưng ngôi mộ nếu đã không được táng trong thời kỳ Cao Biền sang bình định nước ta, thì mả ấy được táng từ đời nào? trước đấy hay sau đấy.

    Điều đáng cho ta thắc mắc nhiều hơn hết là cái chức An Nam Đô Hộ Sứ của Vũ Hồn, vì như chúng tôi đã trình bày trong kỳ trước: Xứ Giao Châu chỉ được đổi tên là An Nam từ đời Vua Cao Tôn Nhà Đường cũng như chức vị Đô Hộ Sứ, chỉ được đặt trong thời gian ít năm gần đây, cho đến khi Cao Biền dẹp tan quân Nam Chiếu, dâng biểu về triều báo tiệp, thì vua Đường lập tức đổi An Nam là Tỉnh Hải, và đặt ra chức Tiết Độ Sứ để cai trị nước ta.

    Nếu bảo khu đất "Cửu Thập bát Tú triều dương" và làng Mộ Trạch, còn là những vùng hoang địa cho đến khi Cao Biền đi qua thì thật là vô lý!

    Một nhà phong thủy kỳ tài lỗi lạc như Cao Biền, lại mang nặng chiếu mạng của vua Đường: phải triệt hạ trấn yểm cho kỳ hết, những kiểu đất trong những miền sơn thủy kỳ khu, quy tụ long mạch đế vương, hay công hầu, khanh tướng, thì có bao giờ lại chịu bỏ qua một kiểu đất văn học tuyệt vời như nơi có ngôi mả táng treo của Vũ Hồn và nơi quy tụ con cháu dòng họ Vũ tức là làng Khả Mộ, mà theo tài liệu ghi chú trong gia phả họ Vũ, sau được đổi tên là làng Mộ Trạch. Nhất định Cao Biền không thể nào giữ thái độ thản nhiên, bất động như thế được.

    Một là nhà địa lý tài ba ấy phải chiếm đoạt lấy, để an táng hài cốt tổ phụ, nhất là vào hoàn cảnh của họ Cao lúc đó, đang bị kẻ thù âm mưu hãm hại, tìm đủ cách sàm tấu với triều đình thì một nhân vật lổi lạc văn võ song toàn, trí mưu gồm đủ như Cao Biền, rất có thể xưng hùng một cõi bằng cách tạo lập riêng biệt cho mình một sự nghiệp, bắt đầu bằng ngôi mả "Cửu Thập bát Tú", và sau đó, dùng làng Mộ Trạch để quy tụ con cháu làm vây cánh, há không phải là mưu kế vạn toàn sao?

    Hai là, nếu Cao Biền không muốn hoạt động cho sự tư lợi của mình, thì chiếu theo chiếu mạng của nhà vua, nhà phong thủy đó cũng phải phá huỷ kiểu đất, triệt hạ long mạch, để không cho một ai, lợi dụng khu cát địa ấy, ngóc đầu lên được?

    Vậy mà cả hai giải pháp trên, đều không được Cao Biền xử dụng, thì đủ hiểu vùng đất đai kỳ tú đó đã có chủ từ lâu, hoặc giả Cao Biền không hề được đặt chân đến vùng Lương Đường, Ngọc Cục một lần nào hết!

    Đặt giả thuyết là ngôi mả táng treo được an táng từ khi bắt đầu có chức Đô Hộ Sứ và xứ Giao Châu được mang tên là xứ An Nam, nghĩa là vào đời vua Cao Tôn nhà Đường bên Tàu.

    Đồng thời ta cũng cứ tạm tin Vũ Hồn là quan Đô Hộ Sứ đầu tiên do nhà Đường bổ nhiệm sang cai trị đất An Nam, theo như lời ghi chú trong gia phả họ Vũ mà tài liệu còn được đặt thờ trên ngai, mặc dầu trong sử sách, chúng tôi đã tốn công tra cứu, không hề thấy một viên quan văn võ, lớn nhỏ nào của nhà Đường, được phái qua đất An nam, mang họ Vũ, chứ đừng nói là chức Đô Hộ Sứ, một chức vụ nếu chúng tôi không lầm, không thua kém gì chức Thái Thú về trước, hay chức Tiết Độ sứ sau này, cũng do nhà Đường đặt ra.

    Nếu tạm tin là có quan Đô Hộ Sứ Vũ Hồn, từ bên Tàu qua cai trị đất này, rồi đặt thêm một câu hỏi phụ : họ Vũ đóng doanh trại ở đâu mà lại có thể tìm được kiểu đất "Cửu Thập bát Tú triều dương" và làng Mộ Trạch để có thể sau đấy, về triều đình xin phép nhà vua cho di cư con cháu qua An nam lập nghiệp?

    Thời gian tìm kiếm được đất, trở về Tàu, rồi lại qua An Nam, theo sự chuyển vận ngày xưa, đường lối giao thông không thuận tiện, nào qua suối băng rừng, nào trèo non, vượt bể liệu mất bao nhiêu ngày tháng?

    Đó là chưa kể đến những sự trở ngại khác, rất có thể xãy ra, về phương diện chính trị, cho một viên quan nhận mệnh vua đi trấn nhậm phương xa chưa làm được điều gì đặc biệt đã lại về triều xin đem con cháu qua lập nghiệp ở nơi mình đang cai trị, thì há không sợ nhà vua nghi ngờ, và các bạn đồng liêu dị nghị rồi tìm cách ngăn cản sao?

    Ai cũng biết rằng cái nghề làm quan ỡ bên Tàu, một khi được bổ đi trấn nhậm các vùng bị nội thuộc là có một cơ hội làm giàu chắc chắn, tha hồ mà vơ vét, đục khoét, làm mưa, làm gió với đám dân đen bản xứ!

    Vậy thì trước miếng mồi ngon béo bở ấy, các triều thần văn vỏ nhà Đường, đâu có dại gì mà để cho Vũ Hồn được độc quyền hưởng thụ?

    Mà không những chỉ hưởng thụ một mình, Vũ Hồn lại còn về đem con cháu, họ hàng qua An nam lập nghiệp, một cách quá dể dàng, khiến cho giờ đây, khi đọc đến đoạn này, người ta đã phải bâng khuâng tự hỏi: Trong thời đại phong kiến cực thịnh, vấn đề di dân lại thực hiện nhanh chóng đến thế sao?

    Nếu tính cộng tất cả thời gian từ lúc Vũ Hồn sang An Nam làm Đô Hộ Sứ, cho đến khi tìm được đất về Tàu, xin nhà vua đem con cháu qua thành lập làng Mộ Trạch, rồi lại tiếp tục cai trị dân An Nam, cho đến lúc chết để được mai táng trong kiểu đất Cửu Thập Bát Tú triều dương, thì thời gian tổng cộng đó là mấy năm ?, mà đến khi Cao Biền qua đấy, mọi việc đã đâu vào đấy cả rồi, nghĩa là đã có ngôi mả táng treo và làng Mộ Trạch đàng hoàng rồi, khiến cho Cao Biền đành chỉ còn nhìn kiểu đất mà tỏ ý tiếc hận.

    Qua mấy kỳ vừa rồi, chúng tôi đã trình bày những nghi vấn về thời gian chính xác, của ngôi mả táng treo, và tin rằng, nếu Vũ Hồn có quả là người Trung Hoa thật sự, được làm quan tới chức Đô Hộ Sứ, thì ngôi mả ấy phải được táng trong khoảng thời gian từ năm quan Đô Hộ Sứ Khâu Hòa được bổ qua đấy đến năm quan Đô Hộ Sứ (sau là Tiết Độ Sứ) Cao Biền đem quân sang đánh quân Nam Chiếu, mặc dầu trong số các quan lại nhà Đường (xin nhắc lại thêm một lần nữa) đặt chân lên đất An nam, không hề có một ai mang họ Vũ hết, kể cả các quan lớn, nhỏ văn, võ!

    Vả lại, nếu tài liệu được ghi trong gia phả của họ Vũ là đúng, thì Vũ Hồn đã xuất chinh làm quan to từ trước khi thấy kiểu đất Cửu Thập bát Tú triều dương và vùng Khả Mộ, nghĩa là họ Vũ vẫn là một thế gia lệnh tộc ở Trung Quốc từ lâu rồi, chứ đâu phải do kiểu đất Cửu Thập bát Tú triều dương đem lại được sự kết phát, tạo ra cho Vũ Hồn cái địa vị vinh quang, hiển hách ấy?

    Vậy thì những linh khí nhật nguyệt, kết tụ thành kiểu đất đặc biệt, có một không hai ở dưới gầm trời này, há chẳng bị giảm mất một phần nào sự hiệu nghiệm ư?

    Rút kinh nghiệm của những kiểu đất quý báu từ xưa tới nay, mà sự kết phát kỳ dị, qua những hiện tượng lạ lùng, có khi gần như hoang đường, quái đản, đã được phổ biến sâu rộng trong dân gian, khiến cho những giai thoại ấy được truyền tụng, thông thường không kém gì những câu ca dao tục ngữ, hoặc do tự chúng tôi sưu tầm được, thì những kiểu đất đặc biệt, phần nhiều điều đem lại sự kết phát rất bất ngờ, huyền diệu: từ dây rơm, áo vải đến mũ mảng, cân đai, từ hàn sĩ, không có đất cắm dùi, đến ông Nghè, ông Bảng nghênh ngang, võng lọng chớ ít khi thấy một kiểu đất quý đem lại sự kết phát cho một gia đình, đang được kết phát như trường hợp của quan An Nam Đô Hộ Sứ Vũ Hồn lúc mới được bổ nhiệm qua đây.

    Hơn thế nữa, các Cụ nhà ta trước kia, mỗi khi có cơ hội đề cập đến chuyện mồ mả, đất cát, thường bao giờ cũng đem câu: "Tiên tích đức, hậu tầm long" ra, để khuyên bảo con cháu, không phải dụng ý khuyến thiện: cần phải tu nhân, tích đức, làm điều lành, tránh điều dữ trước đi, rồi sau mới có thể nghĩ đến truyện tìm thầy địa lý để nhờ kiếm cho một kiểu đất kết phát!

    Ở đời, ai cũng biết đồng tiền có sức mạnh vô biên!

    Vì đồng tiền, người ta có thể thay đen, đổi trắng, vẻ phấn bôi son mặc sức mua danh, bán lợi theo ý muốn của mình!

    Nhưng riêng về việc mồ mả, đất cát thì đồng tiền quả thật không tạo được nổi một mảy may ảnh hưởng nào dù cho những nhà đại phú giàu có vào loại Thạch Sùng, Vương Khải ngày xưa, cũng đành tâm bó tay chịu phép, không thể ỷ mình dư vàng ngọc, dư tiền bạc, để mà tha hồ mượn thầy địa lý tìm những kiểu đất quý báu, hầu hy vọng một sớm, một chiều, từ địa vị phú hộ, nhảy lên quan lớn, muốn chém giết ai tùy thích!

    ******************************************************

    Lão còn phân trần rành rẻ cho mọi người khỏi nghi ngờ thắc mắc:

    - Sở dĩ lão muốn dùng kiểu đất có một không hai ở dưới gầm trời này, để an táng hài cốt họ Vũ, mà không chiếm đoạt lấy cho riêng mình, là vì lão đã biết chắc rằng tổ tiên họ Vũ rất dày âm công, phước trạch, nên Trời Phật mới dành riêng kiểu đất ấy cho họ Vũ, không một ai được phép xâm phạm.

    Vả lại, Vũ Nghĩa là con trai thứ của Vũ Hồn, từ nay đã mang họ Vương, là con nuôi của lão, thì nhiều ít, dù muốn, dù không, sau này vận mạng của nó cũng phải liên hệ với mộ phần thân phụ nó.

    Như vậy, lão dù có tặng họ Vũ kiểu đất đặc biệt song nghĩ cho cùng không thiệt thòi gì, vì chính con nuôi lão (Vũ Nghĩa) cũng được hưởng thụ một phần phước trạch của ngôi mả kết phát.

    Trần thị vui vẻ bằng lòng. Họ Vương chọn ngày cải táng xong xuôi, rồi đem Vũ Nghĩa, nay đổi là Vương Nghĩa về Tàu!

    Trần thị nhắn tin mời thân phụ nàng qua chơi để tiếp đải họ Vương, hầu tránh những lời dị nghị của dân làng, vì dù đã có hai con với Vũ Hồn, lại thêm mang vòng khăn tang trên đầu với chuổi ngày buồn tẻ của kiếp sống vị vong, người trong thôn xóm cũng vẫn không quên mối tình duyên ngắn ngủi giữa nàng với thầy lang họ Vương năm trước.

    Đêm hôm ấy, nhân bàn đến chuyện cải táng Vũ Hồn, họ Vương vui miệng, đã thú thật các việc đã qua: từ khi lão theo dõi long mạch cho đến lúc tìm thấy huyệt quý, nhưng thử đi, thử lại nhiều lần, lão đành khoanh tay khuất phục số mạng, không sao cưỡng nổi mệnh trời, vì qua bao nhiêu hiện tượng quái đản, dị kỳ, lão tự biết, nhà mình bạc phước, chưa đủ âm công hưởng thụ kiểu đất kết phát hiển hách đó, mà Thượng Đế đã dành riêng cho Vũ Hồn.

    Lão cũng không dấu những sự hiển linh ghê ghớm, khi bị sét đánh trúng tróc long, một mảnh lực huyền ảo nào đó đã phá tan luôn cả bùa phép, ngăn cản không cho lão hô thần, chiêu tập âm binh, và sau đấy, còn báo mộng cho lão biết lòng trời, chỉ ban kiểu đất cho họ Vũ, ai cố tình chiếm đoạt nhất định sẽ gặp tai họa.

    Nghe lão thuật chuyện người nông dân xuất hiện, giữa một cơn mưa gió, gió mưa tầm tả, lúc lão phải vào tạm trú trong miếu cô hồn, để mách bảo rành mạch cho lão biết đích xác danh tánh người được hưởng thụ phước trạch của thánh thần, cả hai cha con Trần thị cùng ngơ ngác nhìn nhau nhu dò hỏi, nhưng cả hai đều không biết người nông dân kỳ dị ấy là ai, mặc dù họ Vương đã phác tả lại rõ ràng tỷ mỷ nét mặt và giáng điệu của người nông dân lạ lùng đó.

    Cả hai cha con cùng một lượt, điểm danh dân làng ở từng thôn, từng xóm, xem có ai vào cở tuổi ấy, có tầm vóc người và nét mặt như thầy lang vừa phác tả.

    Song họ chỉ thất vọng, ngao ngán nhìn nhau, lắc đầu, vẻ băn khoăn in hằn trên hai khuôn mặt một già, một trẻ!

    Thấy thế, họ Vương chỉ còn biết kết luận mơ hồ: đó có lẻ là thổ thần hiển linh, chứ nếu là người ở trong vùng thì cha con họ Trần, vốn là dân sở tại, lẻ tất nhiên phải biết chứ có lý đâu lại chẳng có thể nào đoán ra được là ai?

    Họ Vương thuật tiếp đến sự dò hỏi cố tìm cho kỳ được Vũ Hồn.

    Lão thú thật: Khi chưa tìm thấy họ Vũ , thâm tâm lão vẫn hoài nghi, không tin chắc sự hiển linh của thổ thần mách bảo, cũng như sự tiết lộ dị kỳ của người nông dân ở miếu Cô hồn. Nhưng đến khi tìm được Vũ Hồn, mướn được họ Vũ về làm quản gia cho tiệm thuốc, nhất là sau nhiều cuộc dò xét kín đáo, biết được rõ ràng về lai lịch, gốc tích cùng nền tảng âm công, tu nhân tích đức của tổ tiên họ Vũ thì lão mới thật sự giật mình, hoảng kinh hồn vía trước lẻ trời huyền bí, và bàn tay an bài kỳ diệu của Hóa Công. Nhờ đấy, lão mới tự nguyện, khấn vái cùng thánh thần, xin tuân theo mệnh trời, nhường kiểu đất quý đã tìm được cho Vũ Hồn, mà chỉ xin ghé hưởng một phần phước trạch.

    Qua bao nhiêu đêm thao thức không ngũ, lão suy tính kỷ lưỡng, để tìm cơ mưu thực hiện ý định trên. Mãi sau mới suy nghĩ được cách mượn giống, nghỉa là cố sức gầy dựng cho Vũ Hồn sớm thành gia thất, rồi xin một đứa con họ Vũ đem về Tàu làm con nuôi cho mang họ Vương chính thức. Như vậy, vừa nên tình, nên nghĩa, lại vừa tạo được phước trạch cho riêng họ Lão mà vẫn không trái với lòng trời.

    *** HẾT ***

    Mộ Trạch: Làng Tiến Sĩ

    "Làng Mộ Trạch thì nặng bằng một nửa thiên hạ" (Vua Tự Đức)

    Đó là làng Mộ Trạch, xã Tân Hồng huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Một làng nhỏ có tới 36 tiến sĩ, nếu kể cả ba vị do các cơ sở khoa học Trung ương và tỉnh phát hiện nhưng các cụ của làng còn đang đối chiếu với ngọc phả hương thôn và tộc phả các dòng họ thì là 39. Dường như hỏi bất cừ người dân trưởng thành nào trong huyện về làng tiến sĩ là được chỉ tới nơi đây. Vào làng hỏi bất cứ công dân trưởng thành nào cũng được kể cho nghe về xuất xứ tên gọi cũng như người khai sinh ra bờ tre ngõ lối của làng!

    Kể rằng:

    Vũ Công Huy là quan chức đời Đường đã sáu mươi tuổi vẫn không con cái. Quá buồn chán, Vũ Công Huy cáo từ quan và xin phép vua Đường cho du hành về phương Nam. Thấy đất Thanh Lâm nay là vùng Nam Sách, Hải Dương có nhiều gò đống rất đẹp và linh thiêng ngài bèn đem hài cốt cha sang mai táng. Rồi Vũ Công Huy gặp một người con gái nết na, thuỳ mị, xinh xắn nhất vùng tên là Nguyễn Thị Đức bèn lấy làm vợ. Họ đưa nhau trở về Trung Quốc. Năm 804 vợ chồng sinh hạ một người con trai tuấn tú đặt tên là Vũ Hồn. Năm bảy tuổi Vũ Hồn đã đọc thông viết thạo. Năm mười hai tuổi học đâu nhớ đấy. Năm mười tám tuổi thi đình đỗ cao, được bổ làm quan, rồi được vua Đường phong chức Đô Ngự xứ ở quận Giao Châu tức Việt Nam ta lúc đó còn đang trong thời kỳ Bắc thuộc.Đô Ngự xứ Vũ Hồn đi kinh lý thấy vùng đất Bách nhạn hồi sào ở vùng Bình Giang ngày nay, cho rằng nơi đây mến mộ lòng người, dân chúng có thể phát về đường khoa cử bèn lập ấp đem mẹ từ phương Bắc sang nuôi dưỡng và gọi vùng đất này là Khả Mộ. Tên có từ ngày ấy. Dần dần lưu truyền đời con đời cháu đọc chệch đi nên làng mang tên Mộ Trạch như ngày nay.

    Mẹ mất. Vũ Hồn đưa về mai táng ở thôn Kiêt Đặc thuộc vùng núi Phượng Hoàng, Chí Linh bây giờ. Ngày 23 tháng Chạp năm Quý Dậu (853) Vũ Hồn 49 tuổi không bệnh mà hoá. Dân chúng khiêng đi mai táng gặp buổi chiều mưa giông sấm sét dữ dội mãi lâu không ngớt đành bỏ về. Sáng hôm sau trời quang mây tạnh họ ra để tiếp tục công việc thì không thấy thi xác đâu cả. Như là đã biến thành thần và bay vút lên trời. Dân chúng bèn bẩm tâu lên các quan cai trị. Vua Đường cho người về xem xét thấy đúng bèn ra sắc phong Dương Cảnh thành hoàng - Lâu đài cý sĩ. Nhân dân nhớ ơn rước bài vị của vua Đường ban chiếu cùng hương hồn ông vào đình ngự lẫm ngôi vị thành hoàng của làng.

    Con đường đèn sách

    Xứ Đông ngàỵ xưa bao cả vùng đất rộng lớn gồm Hải Dương, Hưng Yên, Hải Phòng... sự nghiệp giáo dục phát triển mạnh vào thời Lê và truyền thống học tập đỗ đạt của con em xứ Đông ngày càng được phát huy, số người đỗ đạt từ thi hương đến thi hội ngàỵ càng nhiều. Hiện nay 82 bia tiến sĩ còn lại ở Văn Miếu, Hà Nội, ta dễ dàng tìm thấy phần khá lớn khoa bảng thành đạt thời xưa xuất thân từ xứ Đông và đặc biệt người làng Mộ Trạch có trên 18 văn bia.

    Xét trên phạm vi đơn vị huyện của xứ Đông, mật độ tiến sĩ tập trung khá cao ở Văn Giang, Ân Thi, Chí Linh, Thanh Lâm, Đường An, nhưng trong phạm vi một làng xóm thì Mộ Trạch là điếm sáng rực rỡ mãi mãi toá ánh hào quang từ ngàn xưa cho tới hôm nay. Làng Mộ Trạch nhỏ bé tới tận năm 1945 mới có xấp xỉ1000 nhân khẩu và hôm nay có hơn 700 hộ với 2800 nhân khẩu. Ấy vậy mà dưới những năm tháng u tịch của mười thế kỷ trước đã lần lượt xuất hiện tới 36 vị tiến sĩ, chưa kể đến cử nhân, tú tài, đứng vào bậc nhất cả nước về trình độ học vấn. Đặc biệt có những khoa thi, những kỳ thi, sĩ tử ra đi từ làng Mộ Trạch đã giành thành tựu vẻ vang xứng danh tổ tiên dòng tộc. Ngọc phả của làng cũng như trên bia số 18 tại Văn Miếu - Hà Nội còn ghi rõ khoa thi năm Bính Thân, niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ tư (1656) dưới thời Lê Thần Tôn và Trịnh Tráng có tới 3000 người dự mà chỉ được chọn đỗ sáu thì đệ tam giáp làng Mộ Trạch là Vũ Trác Lạc, Vũ Đãng Long, và Vũ Công Lượng, nghĩa là chiếm tới một nửa những con người thành đạt của cả thiên hạ. Tiếp đến là khoa thi Kỷ Hợi năm 1659 Mộ Trạch lại có tới bốn người đỗ tiến sĩ là Vũ Cầu Hối, Vũ Công Đạo, Vũ Duy Hải và Lê Công Triều.

    Hầu hết danh sĩ làng Mộ Trạch đều để lại những tác phẩm văn học có giá trị cho đời sau: Lê Cánh Tuân có Vạn ngôn thư và 12 bài trong Toàn Việt thi lục. Lê Thiếu Đình có Tiệt trại thi tập. Vũ Hữu có Đại thành toàn pháp. Vũ Quỳnh có Đại Việt thông giám và Lĩnh nam trích quái. Vũ Cán có Tùng niên thi tập và Tứ lục bi lâm. Lê Nại có Việt sử thông giám. Vũ Phương Đề có Công dư tiếp ký 43 tập. Vũ Huy Tấn có Văn tế quân Thanh... và nhiều người có công với nước hoặc tài trí đặc biệt hơn người được dân gian lưu danh muôn thuở như: Vũ Nạp, phó tướng của Trần Quốc Bảo đã thay mặt chủ tướng khi Trần Quốc Bảo tử trận, xông pha giữa mũi tên hòn đạn, chỉ huy quân sĩ phá tan thế trận của giặc Nguyên trên sông Bạch Đằng bắt sống tướng giặt là Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp. Sau này ông được vua nhà Trần ban cho bài vị Đồng Giang hầu Vũ tướng công. Hai con trai ông là Vũ Nghiên Tá và Vũ Hán Bi cùng đỗ Thái học sinh khoa Giáp Thìn (1304) triều vua Trần Anh Tôn. Rồi Lê Thiêu Dĩnh, Lê Thúc Hiển và con trai là Lê Cảnh Tuân đã vào tận xứ Thanh phò tá Lê Lợi góp phần diệt tan giặc Minh được liệt vào hàng danh sĩ công thần nhà Lê. Rồi trạng ăn Lê Đỉnh, trạng chạy Vũ Cương Trực, trạng vật Vũ Phong, trạng cờ Vũ Huyên và trạng toán Vũ Hữu. Mỗi ông trạng đều có danh tính thật trong sử sách của làng cùng với công trạng kiệt xuất và sự thêu dệt do lòng ngưỡng mộ tôn kính đời đời.

    Làng Mộ Trạch nghèo. Dân từ ngàn xưa thuần nông cầy cấy, dệt vải, nhưng vẫn hết sức chăm lo đèn sách. Các bậc già nhất của làng kể lại là làng có quán khảo văn. Hàng năm, trước khi sĩ tử trảy hội thi hương hay thi đình do Nhà nước tổ chức đều phải qua kỳ thi làng ở quán khảo văn. Tại đây các môn sinh chẳng những nâng mình lên trong tầm hiểu biết mà còn làm quen tới cách thức, thể lệ. Những quán văn ấy của thời xa xưa chắc chắn bằng tranh tre nứa lá không thể tồn tại đến ngày nay những nó được ghi mãi trong lòng người truyền tụng từ đời này qua đời khác. Chẳng phải ngẫu nhiên mà Đức Dực Tôn Anh Hoàng Đế Tự Đức vốn thông minh hay chữ đã phải thốt lên Mộ Trạch nhất gia bán thiên hạ tức là riêng làng Mộ Trạch tài năng bằng một nửa thiên hạ.

    Gia phả họ Vũ của làng còn ghi một giai thoại: Lại bộ tả thị lang Nguyễn Văn Phong lục vấn rằng người làng Mộ Trạch có tý xảo thần thế gì đó mới nhiều người đỗ đến thế. Kỳ thi hương năm Canh Trị thứ tý (1666) ông xin về xứ Đông làm đề điệu (chủ khảo). Ông cho đào mỗi thí sinh một hố, trên đắp liếp, người thì ngồi trong đó làm bài. Ông chọn những câu văn hóc hiểm làm đề thi, lại truyền cho hai ban sơ khảo và phúc khảo chỉ được chọn những quyển nào viết chữ rõ ràng, không dập xoá, sửa chữa. Quan trường chấm bài xong, tuyển được ba mươi quyển hợp cách trình quan đê điệu chấm lại. Nguyễn Văn Phong chỉ lựa được sáu quyển, còn đánh trượt. Sau khi xếp thứ bậc rồi khớp phách để yết bảng, thì người đỗ đầu là Vũ Văn Hiên, 18 tuổi, đậu ngay giải nguyên. Người thứ hai lã Vũ Bật Lại. Người thứ ba là Vũ Chấn, đều ra đi từ làng Mộ Trạch. Ba người kia là của khắp thiên hạ.

    Mộ Trạch xưa nhiều người làm quan là vậy nhưng không giàu. Người dân mang hết nghị lực cho sự nghiệp học hành của con em mình. Chữ thánh hiền được nâng niu quý trọng. Đàn ông tiêu biểu của làng là làm quan hoặc làm nghề dạy học. Thầy đồ Chằm (tên nôm làng Mộ Trạch) nổi tiếng về tài nãng và trọng nhân cách, là thầy dạy dỗ từ bước đi đầu tiên của bao cử nhân, tiến sĩ. Dân gian quanh vùng có câu: Tiền làng Đọc. Thóc làng Nhữ. Chữ làng Chằm. Làng Đọc có nghề nhuộm cổ truyền mỗi năm thu hàng bồ tiền của thiên hạ. Làng Nhữ ruộng nhiều và tốt lắm thóc nhất vùng. Còn làng Chằm, như ta đã biết, nổi tiếng hay chữ, nhiều người đỗ đạt cao và thầy đồ học sâu hiểu rộng. Tại các cuộc thi thử hay quán khảo văn của làng, các bậc đại nho nghiêm khắc với bài vở và phong độ của những người ôm chữ thánh hiền là các môn sinh. Khuyến khích nhau hoc hành chuyên cần, nghiêm túc, có hệ thống đã trở thành nếp sống văn hoá mang truyền thống đặc sắc và là nguyên nhân quan trọng bậc nhất tạo sự thành đạt cho các môn sinh làng Mộ Trạch.

    Nơi an toạ của các vị thần

    Đó là đình! Giữa vùng địch hậu Liên khu Ba suốt thời kháng chiến chống Pháp thật hiếm thấy còn có ngôi đình đồ sộ với đây đủ tiền cung, hậu cung, các hoành phi câu đối, vững vàng hàng cột lim vòng tay người ôm mới xuể trên từng trụ đá. Đình thờ thần hoàng Vũ Hồn có công lập ra làng Khả Mộ và đem chữ thánh hiền từ phương Bắc về tận nơi đây. Tới triều Lê Mạt các cuộc khởi nghĩa nổi lên khắp nơi trong đó có cuộc khởi nghĩa vang dội của quận He Nguyễn Hữu Cầu. Đình bị tàn phá. Bà Nhữ Thị Nhuận là người rất có tâm huyết với dân, với nước, thấy vậy liền bỏ tiền ra tu chỉnh ngôi đình. Bà là người tài ba lỗi lạc thương nước thương dân nên khi có giặc cướp nổi lên ở trấn Nghệ An vua liền cử bà vào dẹp giặc. Đội quân của bà toàn nữ. Giặc cướp trông thấy cờ hiệu nữ tướng Nhữ Thị Nhuận thì lần lượt tan rã hoặc bỏ vũ khí đầu hàng. Bà còn đùng cây quế chữa bệnh cho dân nghèo nên được vua phong Quận quế phu nhân và được dân phong là hậu thần có bia ở cạnh đình.

    Đình làng Mô Trạch có tới 12 sắc phong của các triều vua và hiện nay vẫn còn giữ được tám. Đình được Nhà nước ta công nhận di tích văn hoá ngày 2 tháng 4 năm 1991.

    Thăm đình làng Mộ Trạch sau khi ghi nhận những bản sắc văn hoá của kiến trúc ta dễ chú ý tới những tên tuổi đã vĩnh hằng tồn tại qua năm tháng. Danh sách 36 tiến sĩ được treo trang trọng. Tiếp đến là danh sách năm vị tiến sĩ có công bảo vệ Tổ quốc. Đó là cụ Vũ Nạp như đã đề cập tới. Tiếp đến là Lê Thiêu Dĩnh tham gia khởi nghĩa Lam Sơn dưới cờ nghĩa của Lê Lợi và Nguyễn Trãi. Ông trở thành công thần nhà Lê và từng được cử cầm đầu đoàn sứ bộ sang Trung Quốc. Người thứ ba là cụ Vũ Dự dưới thời Lê Trịnh đã cùng Cường quốc công Nguyễn Xí năm 1459 trừ bọn gian thần Phạm Bàn, Phạm Đôn đưa vua Lê Thánh Tôn lên ngôi mở đầu thời kỳ Hồng Đức phát triển rực rỡ nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Thời Lê trung hưng có cụ Vũ Trác Oánh lãnh đạo nông dân Hải Dương nổi lên chống tham quan ô lại. Người thứ năm là cụ Vũ Tấn, đỗ phó bảng năm Ất Mùi 1778 từng phụng mệnh vua Quang Trung đi sứ nhà Thanh.

    Dân Mộ Trạch say sưa kể lịch sử ngôi đình - một di tích lịch sử văn hoá đồng thời ai ai cũng có thể kể về năm tiến sĩ biệt tài được phong trạng. Trạng ăn: Lê Nại, Trạng cờ: Vũ Huyên, Trạng Vật: Vũ Phong, Trạng Toán: Vũ Hữu, Trạng chạy: Vũ Cương Trực.

    Con đường hôm nay

    Chúng tôi về thăm làng Mộ Trạch vào buổi chiều một ngày cuối năm. Ai cũng bận rộn. Bí thư Đảng uỷ xã Vũ Xuân Đoàn, trưởng thôn Vũ Huy Tuệ, phó Chủ tịch hội Cựu chiến binh Vũ Quốc Ái, cùng nhiều cán bộ và bà con thôn xóm vừa kế chuyện vừa đưa chúng tôi đi thăm đình, thăm miếu.

    Làng hôm nay có 13 dòng họ nhưng dòng họ Vũ đông hơn cả và thành đạt hơn cả. Một ngàn năm trôi qua chi nhánh của họVũ toả đi khắp nơi, đỗ cao thành đạt khắp nơi, nhưng đâu đâu cũng nhớ về tổ tiên Vũ Hồn một thời khẩn hoang lập làng, lập xóm. Sử sách còn ghi lại thuỷ tổ họ Đặng Vũ ở làng Hành Thiện, Nam Định là Đặng Vũ Thiên Thế do làm con nuôi họ Đặng mà được mang họ như vậy. Và khi Vũ Hồn được vua Đường cử sang làm Đô hộ xứ Giao Châu ông cũng để lại một chi ở vùng Phúc Kiến, Trung Quốc. Khi ông Đặng Quốc Kiều con cháu họ Đặng Vũ, Nam Định tham gia Việt Nam Quang phục hội theo tìm cụ Phan Bội Châu ở Nhật Bản đúng lúc Chính phủ Nhật trục xuất sinh viên Việt Nam. Ông Kiều chạy sang Trung Quốc và đến Phúc Kiến tìm lai lịch con cháu Vũ Hồn tại nơi đâỵ. Bà con họ Vũ đã tiếp đón ông vô cùng niềm nở, vui mừng vì đã trên ngàn năm, con cháu dòng tộc họ Vũ ở hai chi, một chi Trung Quốc, một chi Việt Nam, mới gặp lại nhau. Biết ông còn tiếp tục sang Xiêm La (Thái Lan) hoạt động Cách mạng họ đã giúp ông khoản tiền lớn để đi đường và bố trí giúp ông vào làm bồi cho một gia đình người Âu tại Vọng Các (Băng Cốc).

    Đời sống dân làng đổi thay nhanh chóng. Người đói không có và tỷ lệ gia đình nghèo chỉ còn năm phần trăm. Con cháu làng Mộ Trạch nay toả khắp nơi trong nước và ngoài nước làm ăn và khá nhiều người thành đạt. Dân Mộ Trạch có truyền thống lấy ngày 8 tháng Giêng Âm lịch hàng năm làm hội làng. Ngày hội làng vừa qua có chương trình độc đáo gọi là tôn vinh tiến sĩ. Những tiến sĩ thời nay! Những người có học hàm học vị và cả những người có thành tựu lớn lao trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội và kinh tế. Người ta nhắc đến những tên tuổi như tiến sĩ Vật lý nguyên tử ở Nhật Bản Vũ Khắc Thịnh, Giáo sý tiến sĩ Vũ Tuyên Hoàng, nhà giáo Vũ Đình Liên, cụ Vũ Đình Hoè từng làm Bộ trưởng Bộ Tư pháp dưới thời Cụ Hồ, tiến sĩ Vũ Phương Nghi ở Pháp gửi thư về có đoạn viết: Có thể nói, nhờ lòng tự hào về làng Mộ Trạch mà tôi đã phấn đấu vươn lên mọi khó khăn để đạt bằng tiến sĩ văn học ở Paris.

    Chúng tôi tới làng Mộ Trạch đúng vào dịp đài truyền hình vừa làm đoạn phim phóng sự về anh thương binh Vũ Hồng Quang. Anh bị cụt tay trái, cụt bốn ngón của bàn tay phải và nhiều vết khác trên mình với loại thương tật một trên bốn. Hoàn cảnh gia đình khó khăn nhưng anh Quang đã gắng hết sức nuôi nấng con cái trưởng thành. Ba con đều tốt nghiệp đại học, hai con tốt nghiệp cao đẳng và gần đây con gái Vũ Thị Đào của anh đã bay sang Pháp làm luận án tiến sĩ. Ngày nay ở làng Mộ Trạch chẳng ai ngây thơ làm việc xây lại Quán khảo văn hay Kỳ Anh Hội lão nhưng nhà nào cũng có chỗ học cho con cái, cũng động viên thế hệ trẻ noi theo truyền thống cha ông mà nắm lấy tri thức phục vụ cho đất nước, làm vẻ vang cho gia đình, họ tộc và thôn xóm. Đặc biệt họ Vũ ở Mộ Trạch xưa và nay đều chiếm đầu bảng về học hành đỗ đạt. Họ Vũ có nhiều nhà thờ. Nhưng chỉ có một nhà thờ được lấy tên là Thế Khoa Đường do vua Lê phong tặng vì có ba người nối dõi liên tiếp đều là con trưởng thi đỗ tiến sĩ. Con cháu họ Vũ nói riêng và con em làng Mộ Trạch nói chung đang say sưa lao động xây dựng thôn xóm, xây dựng cuộc sống, và gắng hết mình học hành để vươn lên tầm cao mới của trí tuệ.
     
  3. SoLuuHuong

    SoLuuHuong Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng

    TỪ CUỐN GIA PHẢ DẤU KÍN TRONG HANG CHÚA
    ...ĐẾN KIỂU ĐẤT LƯỠNG NGƯU ẨM THỦY...
    MẢ TỔ VI-VĂN-ĐỊNH Ở ĐÂU



    Trong thời lệ thuộc, đồng bào Bắc Việt, và có khi ở cả Trung Nam phần, không mấy ai không biết đến cái tên Vi Văn Định: một quan đại thần được Triều đình Huế phong tới Hiệp Tá Đại Học Sỹ, thay họ Hoàng, làm Tổng Đốc tỉnh Hà Đông, một địa điểm kế cận cố đô Thăng Long, chỉ cách Hà Nội có 11 cây số.

    Đối với thực dân, họ Vi tuy không được kính trọng bằng họ Hoàng, nhưng thục sự lại được tín nhiệm hơn nhiều, vì một lẽ rất dễ hiểu: Vi Văn Định trung thành tuyệt trần với... Mẫu Quốc, bất cứ trường hợp nào hay hoàn cảnh nào cũng đều hết lòng xả thân thờ nhà nước Bảo Hộ, để sẳn sàng diệt trừ tất cả mọi mầm mống, mà y gọi là phản loạn, muốn khuynh đảo... nước Mẹ!

    Thiên hạ cho rằng: y sở dĩ bạo ngược, ác độc tới mức độ dã man, mọi rợ ăn xương, uống máu người Việt Nam không biết hôi tanh, không cần tiêu ớt, chỉ là vì y không có một chút máu huyết Lạc Hồng nào trong huyết quản, mà thực sự là con cháu người Thổ ở miền Lạng Sơn, Cao Bằng gì đó...

    Người ta đã trưng thêm bằng cớ: họ Vi hiện thời, còn có nhiều sản nghiệp dinh cơ ở đất Lạng Sơn gần sông Kỳ Cùng, để minh chứng cho lời kết tội trên là đúng!

    Nhưng sự thực ra sao? Vi Văn Định là người Việt hay là người Thổ?

    Đó là điều thắc mắc mà ai cũng muốn tìm cho ra lời giải.

    Hồi ấy, tôi còn nhớ rõ về mùa hè năm 1941, nhờ có một người bạn học làm Tri Châu ở Bắc Quang, tôi đã lên thăm phong cảnh tỉnh Hà Giang và ở chơi Bắc Quang tới hơn ba tháng trời.

    Một thầy Nho già, người giúp việc án từ rất đắc lực cho quan Châu huyện, tuy là dân miền suôi, nhưng vì lưu lạc lên mạn ngược từ thuở ấu thời, nên rất am hiểu phong tục, địa dư trong các thôn bản ở khắp tỉnh Hà Giang, đã thuật lại cho tôi nghe nhiều giai thoại cực kỳ huyền bí, quái dị, mà nếu ai không sống qua một thời gian nào đó với dân chúng miền sơn cước, hẳn cũng khó tin là chuyện thực.

    Một hôm, đáp bè xuống Ngòi Xảo, nhìn thấy phong cảnh đẹp như tranh vẽ, núi non trùng điệp, vươn mình sừng sững trên dòng sông cuồn cuộn nước chảy về suôi, tôi hỏi thì thầy Nho già chỉ về phía một trái đồi ở ngay đầu bến Vạn, nơi các lái buôn gổ thường kết bè, thả cây về miền Việt Trì, Hà Nội mà nói rằng:

    - Đấy kìa là đồi Tướng, trên đó có ngôi mả tổ của Vi Văn Định, lúc đó đang làm Tổng Đốc Hà Đông.

    Nói rồi, thầy Nho bắt trạm phu phải ghé bè cho tôi lên bộ, đoạn hướng dẫn tôi lên đồi xem phong cảnh.

    Dây leo chằng chịt, những cổ thụ lớn tay ôm, đa số là loại cây bồng sắc (gổ quý) sần sùi, cao vút, cành lá rậm rạp đan kết thành một vòm trời xanh thẳm, khiến cho khu đồi núi mát rượi, mặc dầu lúc đó đang là giữa mùa hè nóng bức.

    Rẽ lau, vạch lá một cách khó khăn tới hơn nửa giờ, chúng tôi mới lên được tới đỉnh đồi. Đến trước một ngôi mả lớn, cỏ mọc xanh um, thầy Nho nói:

    - Mả tổ họ Vi này, theo lời bô lão thổ dân thuật lại thì đã được an táng từ đời nhà Lê Trung Hưng. Rồi bể dâu biến chuyển, họ Vi di cư qua đất Lạng Sơn, xưng hùng, xưng bá một cỏi giang sơn, không khác gì một vị tiểu vương quyền khuynh thiên hạ.

    Thầy Nho điểm nụ cười nhạt nhẻo nói tiếp:

    - Mà đúng thật! Dù không được quyền khuynh thiên hạ thì họ Vi cũng là anh hùng một cõi, đúng với lời dân chúng sở tại vẫn còn truyền tụng cho đến bây giờ những lời đồng giao về kiểu đất quý báu, hiếm lạ này:

    "Lưỡng Ngưu ẩm thủy,
    Bột phát Công Khanh,
    Huynh đệ hiển danh,
    Anh hùng nhất Khoảnh..."

    Nói xong, thầy Nho sợ tôi không hiểu, vội đưa tay chỉ qua hai gò đất, đứng cao sừng sửng ở hai phía tả hửu Ngòi Xảo giải thích thêm:

    - Đấy ông coi, có phải hai cái gò ở bên bờ Ngòi bên kia giống hệt hai con trâu mộng, đang cúi đầu xuống dòng nước không?

    Đó là "lưỡng ngưu ẩm thủy" đấy!

    Chỉ tay về đàng trước mặt, thầy nói tiếp lời:

    Nếu đây là chánh huyệt, thì ngôi mả này trông thẳng ra trái Cao Sơn, một hòn núi cao ngất tới trời xanh mà thiên hạ đồn đải là có một làng Mèo sống biệt lập ở trên núi cao ấy từ đời nhà Trần, khi Chiêu văn Vương Trần Nhật Duật đem quân triều đình đến điều phạt mấy động chúa ở vùng Lĩnh Nam. Ngôi mả tổ của họ Vi trông thẳng ra ngọn núi Cao Sơn kia, tựa lưng vào dãy Trường Sơn, tay long, tay hổ là hai dãy đồi thoai thoải chạy dài theo dòng sông Cả, tạo thành một kiểu đất kỳ thú vô cùng quý báu, mà theo lời thuật lại của các bô lão sở tại thì hình như Bà chúa Rừng đã cố ý để dành riêng cho dòng họ Vi vậy.

    Rồi vừa dẫn tôi đi coi quanh khu đồi, thầy Nho vừa thuật lại giai thoại mà chính thầy đã được nghe thổ dân kể lại rất rõ ràng về những sự tình cờ kỳ dị xảy ra chung quanh ngôi mả dòng họ Vi, lúc đó đang là những nhân vật hét ra lửa ở đất Bắc Hà.

    CON CHÁU HOÀI-ÂM HẦU HÀN TÍN

    Sau khi đem hết sức học bình sinh và tài kinh bang tế thế, định quốc, an bang ra giúp sức cho anh Đình Trưởng họ Lưu dựng nên cơ nghiệp nhà Hán, lưu truyền được tới trên 400 năm, thì Hoài Âm hầu Hàn Tín bị vua Hán tru di tam tộc (do Lã Hậu hạ lệnh thì đúng hơn).

    Một gia tướng trung nghĩa của họ Hàn, đem dứa con nhỏ của Hàn Tín chạy trốn về phía Nam, mai danh, ẩn tích, đổi thành họ Vi (một nửa chữ Hàn) sống lẫn lút ở vùng biên giới Việt Hoa.

    Đến đời nhà Trần, họ Vi lúc đó làm Tù Trưởng ở động Lĩnh Nam, lại bị quân sĩ của Chiêu văn Vương Trần Nhật Duật kéo đến chinh phạt.

    Binh đơn, tướng thiểu Tù Trưởng Vi Đạt bị tấn công cả bốn mặt, một lần nữa, lại phải đội đứa con thơ là Vi Thành mới lên ba tuổi ở sau lưng, rồi nhảy lên mình ngựa, đánh phủ trùng vây, chạy về lánh nạn ở Ngòi Xảo, phó mặc gia quyến cho sự rủi may, của cơn binh lửa phũ phàng.

    Sống giản dị chung đụng với thổ dân trong một túp lều siêu vẹo ở Ngòi Xảo, Tù Trưởng Vi Đạt ban ngày phải đai con trên lưng vào rừng lấy măng tìm gỗ quý, cũng như trăm ngàn người khác ở địa phương này, tối về, hai cha con lại hú hý với nhau ở bên bếp lửa, cuộc sống của viên Tù Trưởng thất thế, như vậy, cũng gọi là tạm yên.

    Năm Vi Thành lên bảy tuổi, ông Vi Đạt ngoài việc dạy học chữ, còn bắt Thành phải tập luyện cả võ nghệ, hy vọng sau này, con trai sẽ trở nên hữu dụng, văn võ toàn tài.

    Đất sơn cước hiếm nhân tài, ông Vi Đạt phải tự đảm nhiệm lấy công việc dạy bảo con trai, và do đó một số dân cư sở tại cũng nô nức cho con em đến nhà ông Vi Đạt, để nhờ ông dạy chữ, dạy võ.

    Một buổi kia, chợt có một lão hành khất cùi đến xin ăn ở các nhà trong vùng Ngòi Xảo.

    Thấy ông lão mặt mũi sần sùi, ngón tay bị cụt, bàn chân lỡ loét, gớm ghiếc, ruồi nhặng bu chung quanh, mỗi khi xê dịch, tiếng vo ve nổi lên rào rào như đàn ong vỡ tổ.

    Trẻ con chạy theo ở tít xa xa, vỗ tay hò reo chế diễu, còn người lớn thì ghê tởm nếu không đưa tay bịt mũi, khạc nhổ thì cũng lãng đi chỗ khác, chớ không dám đến gần.

    Vì vậy, ông lão đi đến đâu, cũng bị xua đuổi, không một ai chịu bố thí cho một chút gì, khiến ông lão đói khát quá, lã đi nằm co quắp trên nền miếu Sơn Thần, cơ hồ không còn đủ sức gượng dậy, để lê bước đi nơi khác nữa khi bị tuần đinh đến hạch hỏi, đòi bắt giải lên quan Châu Bắc Quang để đưa về nhà thương Vòi ; một bệnh xá chuyên trị những người cùi, sống riêng biệt trong một khu vực rộng mông mênh, có hàng rào giây kẽm gai ngăn cách với thế giới bên ngoài.

    Thuở ấy, thiên hạ ghê tởm, kinh sợ bệnh hủi hơn tất cả mọi chứng bện nan trị khác! Cứ thấy ai mắc phải bệnh ấy, là người ta đi báo quan đến bắt đem nhốt trong nhà thương Vòi ở Bắc Giang để điều trị.

    Lão hành khất nằm ở miếu Sơn Thần mỗi ngày một thêm yếu đuối, trước còn lăn lộn rên la thành tiếng, sau hình như đói khát quá cơ thể suy nhược quá độ, đến nổi lão chỉ nằm co quắp, thoi thóp thở chờ chết.

    Mấy bô lão thổ dân và viên Chánh Tổng sở tại bàn luận với nhau, rồi nhất định cho trai tráng trong bản khiêng lão bỏ ra ngoài thung lũng ở cách xa đấy chừng hai dặm đường, để tránh trách nhiệm, vừa sợ quan trên quở trách là có người mắc bệnh hủi đến quanh quẩn trong vùng, mà không chịu đi báo, vừa ngại bị tốn kém, lôi thôi, phải chôn cất cho kẻ xấu số, nếu lão hành khất không còn đủ sức chống chọi với tử thần.

    Đúng lúc ấy, ông Vi Đạt đi săn về, vai vác con nai tơ, lưng đeo cung tên, lầm lũi đi ngang miếu Sơn Thần, thấy viên Chánh Tổng đang đứng sai phái mấy thanh niên trong bản đem võng ra khiêng lão hành khất bỏ ngoài thung lũng, một nơi nổi tiếng là nhiều hổ báo, lợn rừng thường về phá phách ngô khoai của dân cư sở tại và bắt các gia súc đem vào núi sâu ăn thịt.

    Ông Vi Đạt nghĩ đến cảnh hoạn nạn của mình năm nào, giọt lệ anh hùng bất giác tuôn rơi tầm tả, động lòng thương kẻ tuổi cao, tác lớn, không may bị sa cơ lỡ bước, gần phơi gửi xương nơi đất khách, liền đặt con nai xuống, chạy vội vào trong miếu, trước vẻ mặt ngơ ngác của các bô lão đất Ngòi Xảo.

    Không quản ngại mùi hôi tanh nhức óc, máu mũ đầm đìa, ông già họ Vi dơ cao chiếc khăn bịt đầu phất ngang một cái mạnh, để xua đuổi những đàn ruồi nhặng bay vo vo như tiếng sáo diều ở chung quanh lão hành khất, rồi ngồi bệt xuống nền miếu, sờ ngực nạn nhân, mím môi, lắng tai nghe ngóng.

    Thấy toàn thân lão hành khất vẫn còn hơi nóng, mạch vẫn còn thoi thóp đập đều, mặc dầu rất yếu, ông Vi Đạt mừng rỡ, vội đứng phắt lên, đến gần viên Chánh Tổng, tha thiết yêu cầu cho mình được đem nạn nhân về nhà chạy chữa.

    Viện cớ câu cửa miệng: "cứu nhất nhân, đắc vạn phúc" để kích thích lòng bác ái, từ bi của hương chức sở tại, ông Vi Đạt tin tưởng rằng các bô lão sẽ vui lòng cho phép ông gánh giúp họ gánh nợ mười đời ấy, nhưng không ngờ ông bị thất vọng hoàn toàn, vì viên Chánh Tổng cương quyết đuổi lão hành khất ra khỏi vùng Ngòi Xảo, sợ để lão ở quanh quẩn trong bản, sẽ gây nguy hại cho cả dân cư sở tại.

    Lỡ ra quan Châu biết thì họ tránh sao khỏi sự quở trách?

    Ông Vi Đạt tha thiết nói thế nào, họ cũng không chịu nghe, khiến cho ông già họ Vi tức bực quá không còn biết làm cách gì để cứu mạng lão hành khất.

    Nghĩ đi, nghĩ lại mãi, sau ông Vi Đạt phải đem con nai cho người bạn vẫn đi săn với mình, để nhờ làm thịt rồi muối mặn, để dành ăn dần dần, còn ông thì hăng hái đứng chờ, đi theo lão hành khất cho đến cùng, chớ ông không nở bỏ rơi người bạc số, mắc nạn giữa đường.

    Sở dĩ ông Vi Đạt dám có ý định táo bạo ấy, là vì ông sinh sống ở vùng này từ lâu, biết rõ địa dư đồi núi, chỗ nào có hang có động, nơi nào có quán, có miểu, nên ông đoán được rằng, nếu bọn trai tráng khiêng lão hành khất đem bỏ ra ngoài thung lũng thì gần đấy có cái nhà mồ bỏ hoang không biết từ bao giơ, tuy siêu vẹo, tiều tụy, song tạm thời cũng có thể che mưa tránh nắng được trong cơn gấp rút này.

    Nghĩ thế rồi, ông chạy vội về nhà, đem thằng con trai là Vi Thành đến gửi một người hàng xóm, rồi thu xếp quần áo với mấy món cần dùng, đi theo lão hành khất.

    Quả nhiên các việc đã xảy ra đúng như sự dự đoán của ông Vi Đạt.

    Ngay sau khi hai thanh niên trong bản cuốn võng, đem về Ngòi Xảo phục lệnh viên Chánh Tổng, ông Vi Đạt cố nâng lão hành khất vào nhà mồ, chỉ ở cách đấy chừng ba mẫu ruộng.

    Sinh trưởng miền rừng rậm núi cao, ông Vi Đạt rất thạo về tính dược các loại cây cỏ, vẫn được dân cư địa phương dùng chửa các chứng bệnh hiểm nghèo, nên vừa thu xếp yên ổn nơi ăn chốn ở cho hai người, họ Vi liền chạy vào rừng, tìm thuốc chửa bệnh cho lão già hủi.

    Thuốc gia truyền tuy rất giản dị nhưng lại cực kỳ hiệu nghiệm, nên chỉ ba ngày sau đó, lão hành khất đã tỉnh táo, nói năng, cử động được.

    Vả lại, lão hành khất vốn bị đói khát, khổ cực quá độ, sức khoẻ suy giảm nhanh chóng, khiến chứng bệnh hoành hành dữ dội đến ngất lịm đi, bề ngoài giống in người đang hấp hối.

    Nhưng sự thực, tình trạng lão không đến nổi nào!

    Phần nhờ các phương thuốc gia truyền, phần được sự săn sóc chu đáo, tận tâm của ông Vi Đạt, lão hành khất có cơm ăn, thuốc uống đầy đủ, nên chẳng bao lâu đã đi lại được một mình, không còn phải dìu giắt như mấy hôm trước nữa.

    Trong thời gian ấy, ông Vi Đạt vẫn thỉnh thoảng về Ngòi Xảo thăm con.

    Vi Thành tuy nhỏ song vốn là con nhà tướng, được rèn luyện quyền cước, tập tành võ nghệ từ khi mới chập chửng biết đi, nên mạnh dạn phi thường, một mình dám cầm thanh mả tấu, đi sâu vào rừng núi lấy măng để đem về đổi gạo giúp đở cho nhà một phần nào, giải quyết sinh kế gia đình.

    Từ hôm được thân phụ đem gửi ở nhà hàng xóm, Thành nhớ bố, thuờng cứ lần mò tìm đến nhà mồ thăm cha, sau giờ học, mặc dầu đã bị ông Vi Đạt cấm đoán nghiêm ngặt. Ông chỉ sợ con trai gặp thú dữ ở dọc đường, hay rủi ro bị lạc lối thì khốn.
     
  4. SoLuuHuong

    SoLuuHuong Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng

    VÀO HANG SÂU TÌM DI CHÚC


    Sau thấy Thành mạnh tợn, có lần đánh nổi một con heo rừng, lại khôn ngoan, quyền biến, hiếu thảo, thông minh, ông mới yên tâm, ngày nào ông không về bản được, lại cho phép con đến thăm, để luôn tiện mang theo các thứ thực phẩm cần thiết cho hai người ở ngoài thung lũng.

    Một tháng trời trôi qua.

    Bệnh tình lão hành khất đã thuyên giảm rõ rệt, mặc dầu lão vẫn còn phải chống gậy mỗi khi muốn xê dịch.

    Thấy thế, Vi Đạt liền tính chuyện đưa lão hành khất về bản cho tiện việc săn sóc, và đỡ phiền phức trong sự làm ăn của mình, nhưng lại sợ các bô lão vẫn còn giữ thành kiến không hay với ông già bệnh hoạn.

    Vì vậy, ngay ngày hôm sau, họ Vi phải đi thăm các hương chức để dò xét ý kiến của mấy người nắm quyền hành trong bản.

    Các hương chức thấy bệnh tình lão hành khất đã gần bình phục, hơn thế, người hàng ngày sống gần bệnh nhân là họ Vi, vẫn khoẻ mạnh, cường tráng như thường nên họ cũng không quá khắc nghiệt khó khăn như trước, bằng lòng cho họ Vi rước lão hành khất về nhà.

    Vi Đạt mừng rỡ quá, vội chạy ra nhà mồ, thuật lại tin đó cho lão hành khất biết, rồi ung dung dẫn lão về nhà.

    Vị Thành cũng hớn hở theo chân hai người, trên vai vác một bọc đồ dùng cần thiết.

    Đến lúc ấy, lão hành khất mới cho biết : lão họ Lương tên Nhất Kiếm, vốn là người Trung Hoa, nguyên quán ở huyện Lịch Thanh, qua Việt Nam từ hơn hai chục năm nay, vẫn quanh quẩn ở vùng biên giới Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, sống bằng nghề xem tướng số.

    Vi Đạt thấy người bạn già đã tỉnh táo, vui vẻ vô cùng, ngoài ra họ Vi không hề nghĩ gi đến sự đền ân đáp nghĩa của Lương lão.

    Nhưng ba hôm sau, vào hồi quá nửa đêm, giữa lúc cha con họ Vi đang say sưa trong giấc ngũ ngon lành thì Lương lão chợt đến bên, lay gọi cha con Vi Đạt dậy, bảo Thành đi sửa soạn pha trà uống, để lão nói một câu chuyện cực kỳ quan trọng cùng ông Vi Đạt.

    Cha con họ Vi kinh ngạc, ngỡ ngàng nhìn lão già, tưởng Nhất Kiếm cuồng ngôn, loạn trí...

    Nhưng thoáng thấy, nét mặt nghiêm trang trịnh trọng của Lương lão, không chứa đựng một vẻ điên dại hay đùa giởn, diểu cợt gì, nên cũng lẳng lặng làm theo lời yêu cầu của Lương lão.

    Ấm trà tươi vừa pha xong, lão hành khất cầm chén nước trên tay, nhưng không uống, lại đăm đăm nhìn thẳng vào mắt chủ nhà, luồng nhỡn quang như muốn xoáy chặt lấy người đối diện.

    Họ Vi chợt rùng mình, khi nhận thấy ánh mắt của Lương lão lúc nãy sáng ngời một cách kỳ dị, không lờ đờ, đần độn, ngây dại, chất phác như bình nhật nữa.

    Vi Đạt bất giác rùng mình, lơ láo nhìn quanh như muốn tìm một cái gì để tự vệ.

    Không! Nhất định tổ phụ lão không lầm lộn đâu ! Cứ xem cách thức các cụ dấu diếm cuốn gia phả nơi thâm sơn cùng cốc, khó khăn, gian hiểm, cũng đủ hiểu mức độ quan trọng của khu linh địa.

    Vậy như lời lão vừa trình bày, ngày mai đây, lão sẽ cùng đi với tiên sinh đến Hang Chúa, để tìm tập sách quý, mà theo chúc thư, có ghi chú rõ ràng phương pháp hộ thần, án hướng, tự mình phân kim an táng lấy, chứ không cần phải nhờ thầy địa lý.

    Đó là một lối đề phòng rất cẩn thận, chu đáo của các Cụ, ví các Cụ sợ kẻ tiểu nhân, sẽ lợi dụng cơ hội này, để chiếm đoạt khu đất quý.

    Sau khi đã tìm được cuốn gia phả, ghi dấu rành mạch phương hướng rồi, tiên sinh sẽ trở về quê quán kiếm hài cốt ông cha, còn lão thì nằm... chờ chết ơ Ngòi Xảo, vì lão biết mình, lão không sông được mấy ngày nữa đâu?

    Lương lão thở dài, đoạn cười gượng:

    - Làm người ai không một lần phải chết! Huống chi sinh, ký, tử, quy (sống gửi thác về), người có nhẹ nợ, mới sớm được về với cát bụi. Vì thế, lão tính rằng : muốn cho khỏi lỡ việc, chúng ta phải đi ngay vào Hang Chúa mới kịp!

    Vi Đạt vội dơ tay phác một cử chỉ phản đối, rối nghiêm nghị cắt ngang:

    - Không được! Sao lão trượng lại nghĩ quẩn như vậy! Đã biết có huyệt tốt, thì cứ đánh dấu đấy, ai dám tranh cướp mà sợ! Người đang khoẻ mạnh sao lão trượng lại bàn đến chuyện chết chóc làm chi?

    Lão trượng cùng tôi đi thăm đường đất, rồi lão trượng cứ về đã, chung sống với tôi, bao giờ Trời Phật rước đi, sẽ hay! Tiên sinh đừng câu nệ, nghi ngại chi hết. Bốn bể đều là anh em cả mà!

    Lương lão nắm chặt cánh tay họ Vi, tỏ ý bùi ngùi, cảm động:

    - Lão rất đội ơn chiếu cố của Tiên sinh, nhưng lão nói vậy không phải là không tính toán, suy nghĩ, kỷ lưỡng đâu ? Lão biết vận mệnh của mình lắm!

    Vậy tiên sinh khá yên tâm, đừng thắc mắc chi cho số phận của lão, mà cứ lưu ý lo việc riêng của Tiên sinh, chỉ cốt sao cho khỏi lỡ làng đại sự, thì dù lão nhắm mắt, cũng được ngậm cười nơi chín suối.

    Trọn đêm đó, đôi bạn già nằm nói truyện cho tới sáng, mới sai Vi Thành đi đun nước, pha trà, khi cơm nước xong suôi, hai người dắt nhau đi lần vào núi sâu, trèo đèo, vượt suối, rẽ lau, vạch sậy cực kỳ vất vả, gian nan, nhiều chỗ hiểm trở quá họ Vi lại phải nâng đở, dìu dắt hay cõng Lương lão lên lưng mới vượt qua được những gềnh đá cheo leo, chung quanh toàn đá tai mèo nhọn hoắt, sắc bén chơm chởm như mớ giáo gươm dựng ngược, kẻ yếu bóng vía rùng mình, cơ hồ muốn xây xẩm mặt mày, ngã lộn nhào xuống những vượt sâu thăm thẳm.

    Đốt nến xem lại bản di chúc, Lương lão đi lần vào phía sau, tìm được một cái rương đã gắn liền với vách Hang.

    Vi Đạt dùng rìu bổ mạnh, nắp rương bật ra, để lộ ra một gói lớn, bọc vải sơn, chằng buộc rất kỷ lưỡng bằng gân nai. Lấy dao găm cắt đứt dây và mớ bọc vải ra, thì thấy bên trong có một cái địa bàn, một lá cờ ngũ sắc, trên vẽ chi chít những hình bát quái và ghi nhiều chữ triện rất dị kỳ, lạ mắt.

    Trong một cái hộp đồng vuông, còn có một con rùa đất, miệng ngậm đầy bùa chú và một lọ thủy tinh gắn kín, ngoài ghi rõ hai chữ: cấm mở!

    Cuốn gia phả được xếp gọn dưới đáy hộp.

    Trái vời sự dự đoán của hai người, cuốn gia phả của tổ phụ họ Lương không dày lắm, mà chỉ có vỏn vẹn có 5 tờ giấy bản khổ lớn chia ra: 3 tờ đầu dạy về phương pháp an táng, cách thức hô thần, trấn yểm, phân kim, án hướng, tờ thứ tư là bản đồ ghi chú địa điểm rõ ràng của hai khu đất " Lưỡng ngưu ẩm Thủy " phía dưới có mấy câu, viết bằng sơn đỏ chói:

    "Mình nằm Ngòi Xảo,
    Đầu gối Núi Rồng,
    Chân đạp Cầu Vòng,
    Tay dang Nam, Bắc,
    Hạn kỳ bách nhật,
    Bột phát công khanh,
    Huynh đệ hiển danh,
    Quyền uy nhất khoảnh..."

    So với lời truyền tụng trong dân chúng ở vùng Bắc Quang, thì mấy câu tổng kết này có hơi khác, nhưng tựu trung, ý nghĩa cũng vẫn là ca ngợi kiểu đất "lưỡng ngưu ẩm thủy".

    Tờ cuối cùng, dạy về cách lễ tạ ơn, sau khi mả đã được an táng xong xuôi, cũng như khi quán khí hoặc mỗi lúc không may bị động trệ.

    Mỗi thời kỳ phải sắm sửa lễ vật và phải theo phương pháp cúng vái khác hẳn nhau, không thứ nào giống thứ nào hết.

    Mới thoạt đọc những tên Núi Rồng, Cầu Vồng... hai người không ai hiểu nơi ấy ở đâu, nhất là Vi Đạt, đến ngụ cư vùng này đã khá lâu, mà vẫn tuyệt nhiên, chưa hề được nghe ai nói đến những cái tên lạ lùng, có vẻ huyền bí thiêng liêng đó lần nào!

    Nhưng nhìn kỷ vào bản đồ, một lúc lâu, vì chữ viết nhỏ như con kiến, ông Vi Đạt mới nhận được những vị trí trên. Thì ra Núi Rồng là ngọn núi chỉ cách dãi Cao Sơn chừng hai dặm. Còn Cầu Vồng là cái đồi uốn cong đối diện với dãy Cao Sơn ở phía sau Bản Tỵ, chỗ nọ cách chỗ kia hàng vài ba chục dặm.

    Vi Đạt còn đang ngẫn ngơ suy nghĩ về vị trí xa xôi, diệu vợi ngăn cách các nơi có ghi tên trong gia phả, thì Lương lão đã hiểu rõ sự băn khoăn của bạn, vội nói ngay:

    - Các Cụ dạy thế, chỉ là có ý bảo mình phải an táng hài cốt theo những phương hướng ấy, chứ có bắt buộc mình phải đặt hài cốt gối hẳn đầu lên Núi Rồng, đạp hẳn chân lên đồi Cầu Vồng đâu?

    Chỉ cốt đầu nằm về phía Núi Rồng, chân đạp về phía đồi Cầu Vồng, là đủ rồi, tiên sinh ạ!

    Khác hẳn sự an táng hài cốt ở những mộ phần của thiên hạ, trong khu linh địa "Lưỡng Ngưu ẩm thủy", huyệt chôn hài cốt ở hai bên bờ Sông Cả là huyệt bằng, còn chính huyệt thì lại nằm giữa lòng sâu, trên một hòn núi cao, phải trấn yêmbằng con rùa và chiếc lọ đậy kín, không biết bên trong chứa đựng những gì, cùng lá cờ bát quái vẻ chi chít những hình thù quái đản.

    Đặc biệt hơn hết, là sau khi an táng cả hài cốt ở hai bên huyệt bằng, lúc ấy mới được khởi sự trấn yểm huyệt chánh bằng cách đọc bài chú, ghi ở trang cuối cùng cuốn gia phả, chờ cho nước sông đang lên mới được thả những lễ vật xuống vào đúng nửa đêm thanh vắng.

    Nếu đúng phương hướng và cách thức trấn yểm, thì nội bách nhật, hòn núi giữa lòng sông sẽ biến mất, sau một cơn bảo tố ngất trời.

    Thế là hài cốt bắt đầu quán khí, đúng như lời di chúc của tổ phụ họ Lương.

    Trở về Ngòi Xảo được ba ngày thì Lương lão trở bệnh, lên cơn sốt mê man chừng một trống canh, rồi bỗng mở choàng mắt ra, nhìn quanh, có vẻ rất tỉnh táo, nắm chặt lấy tay Vi Đạt mà rằng:

    - Tiên Sinh! Duyên bèo mây xui khiến cho lão gặp Tiên Sinh, được Tiên Sinh lấy mắt xanh đoái tưởng, khiến cho lão lưu được chút sống thừa, vừa đủ thời gian cho lão hoàn thành nguyện ước của tổ phụ. Đồng thời, nhờ đó, lão cũng không đến nổi uổng phí công lao vất vả liên tiếp hơn hai chục năm trời ! Tất cả những sự may mắn ấy, đều do bàn tay bác ái, từ thiện của Tiên Sinh, đã tận tình thương mến lão, giúp đở lão vượt qua mọi cơn sóng gió ! Sống lão ghi tâm khảm, chết lão nguyện sẽ phù hộ cho Tiên Sinh.

    Ngừng lại một lát, Lương lão thở hổn hễn như có vẻ mệt mỏi, đau đớn lắm, đoạn đưa hai bàn tay khẳng khiu, run rẩy lần theo gấu áo, theo đường chỉ lấy ra một tờ giấy nhỏ cuốn dài, dấu kín ở bên trong mâng mê đưa cho họ Vi rồi nói tiếp:

    - Trước khi lìa giả cỏi đời, lão còn một việc nữa, phải nhờ Tiên Sinh thương tình nhận lời giúp đở cho, thì lão mới đành tâm nhắm mắt được.

    GỀNH ĐÁ CÓ BỊ CHÌM SÂU DƯỚI NƯỚC THÌ MẢ MỚI BẮT ĐẦU KẾT PHÁT…

    Số là lão vâng theo di chúc của tổ phụ, sang đây tìm cuốn gia phả và nghiên cứu kỷ lưỡng ngôi đất, đã do tổ phụ lão dày công lựa chọn, từ hơn hai mươi năm nay, bao phen cứ tưởng phải bỏ xác xứ này, trước khi tìm được cuốn gia phả kia.

    May sao, khi lần mò tới vùng Ngòi Xảo, lại kiếm được Hang Chua, và nhờ một sự tình cờ nữa, còn được kết giao với Tiên Sinh, để hợp tác với Tiên Sinh, cùng hưởng chung ân lộc của Trời Phật đã dành riêng cho hai họ Vi, Lương của chúng ta.

    Có lẽ cũng vì lòng trời, mới xui khiến cho chúng ta được gặp nhau, hiểu nhau và mến thương nhau không khác chi anh em ruột thịt.

    Dứt lời, có lẽ vì cố gắng quá, Lương lão nhắm mắt, ngất lịm đi, thiêm thiếp mê man.

    Một lúc sau, lão bừng mở mắt nhìn họ Vi tha thiết nói thêm:

    - Lão cần căn dặn Tiên Sinh một điều cực kỳ trọng hệ, có liên quan chặt chẽ đến vận mạng con cháu chúng ta về mai hậu: là kiểu đất Lưỡng ngưu ẩm thủy, cứ theo lời di chúc của tổ phụ lão, vốn là một kiểu đất đặc biệt, cổ kim không co một nơi nào có được một khu quý địa như thế đâu?

    Bởi vậy, khi lão nhắm mắt rồi, nếu có người am tường môn phong thủy, được xem qua kiểu đất, mà có nói ra nói vào điều gì hay bàn luận, thêm bớt nào, cũng xin Tiên Sinh thận trọng tuyệt đối không được nghe theo lời họ, vì họ chỉ biết quan sát bề ngoài, đánh giá sự kết phát theo địa hình địa thế, chứ biết sao được những lẽ huyền bí, kỳ ảo, phát sanh từ nơi khác, ở cách xa đây hàng vạn dậm, có lẽ cao xa, hóc hiểm lắm, nên cá Cụ chỉ di chú lại qua loa cho mình biết thôi không cần phải dài dòng giải thích.

    Tóm lại, thầy địa lý nào, xem kiểu đất của mình mà phân kim, án hướng, mai táng hài cốt theo lề lối thông thường của khoa phong thủy thì nhất định sẽ bị thần linh trừng phạt tức khắc, sự kết phát trong trường họp ấy đã hiển nhiên hõng hết, mà thầy địa lý cũng khó lòng giữ gìn được cho vô sự.

    Vi Đạt hứa làm theo lời Lương lão căn dặn. Họ Lương cảm tạ, rồi nấc lên một tiếng, từ từ nhắm mắt lại, hơi thở nhẹ dần, rồi im bặt.

    Sau khi chôn cất Lương lão ở khu đất phía hữu sông Cả mồ yên mả đẹp, đúng như phương pháp tổ phụ họ Lương đã ghi chép từng chi tiết nhỏ nhặt nhất. Vi Đạt liền thu xếp hành trang đem con trai đến vùng Lĩnh Nam dò xét tông tích thân quyến, và đem hài cốt thân phụ về Ngòi Xảo an táng.

    Nhưng Vi Đạt chỉ cải táng được phần mộ chớ không dò hỏi được tí tin tức gì của người nhà hết, vì theo lời dân cư sở tại thuật lại, thì sau cơn khói lửa kinh khủng, khiến Vi Đạt phải bôn tẩu giang hồ, cả thân quyến họ Vi cũng tản mát, mỗi người một ngả, chẳng còn ai biết được họ sống chết còn mất thể nào?

    Cuối cùng, dọ hỏi khắp nơi, thì Vi Đạt còn một người em, theo lời thuật lại của họ Phùng thì người em này đang bị giam ở trong tù. Vi Đạt đau đớn vô cùng. Anh em phải thất lạc bao nhiêu năm trời, khi tìm được tung tích, không ngờ em lại bị vạ gió tai bay, mà mình bất lực, không có phương gì giải cứu. Càng nghĩ, họ Vi càng tức bực, nhiều lúc muốn bạo động, song e quả bất địch chúng, họa hổ bất thành, chắc lại nguy hiểm thêm cho tính mạng Vi Hoành.

    Sau khi viên Tù Trưởng cùng bọn thủ hạ áp giải kẻ bị tình nghi đi rồi, họ Phùng mới cho Vi Đạt biết rằng: viên Tù Trưởng họ Hoàng, vốn là một kẻ tham tàng, bạo ngược, từ khi được nối chức cha, đã gieo bao tan tóc đau thương cho dân chúng trong vùng.

    Y lại còn liều lĩnh hơn nữa, thường tìm cách xâm lấn ruộng rẫy, đem gia nhân thân tín đến các khu rừng núi kế cận, thuộc quyền cai trị của các Lang Đạo khác, để lấy các thứ lâm sản và săn bắn, thường xuyên gây sự bất hòa với các động ở gần quanh Hoàng Su Phì, khiến cho dân cư bị ảnh hưởng lây, cũng luôn luôn bị các bộ lạc thù địch đến đánh phá cướp đoạt trâu bò, thóc lúa, làm cho người dân Hoàng Su Phì không mấy khi dám ra khỏi địa hạt.

    Theo lời vợ con của họ Phùng thuật lại thì vụ Vi Hoàng bị bắt cũng không có gì quan trọng, vì viên Tù Trưởng chỉ tình nghi qua giáng điệu lực lưỡng, khoẻ mạnh của Hoành, chớ không hề tìm được một bằng cớ rõ rệt nào khả dĩ chứng minh được là Hoành to rập với đám cướp để đưa đường đánh phá họ Hoàng.

    Họ Phùng bàn luận với Vi Đạt, rồi định sáng hôm sau, sẽ thân hành lên động Tù Trưởng, để biếu lão một ít lể vật, xin tha cho Vi Hoành.

    Không ngờ sáng hôm sau, giữa lúc hai người vừa định sửa soạn ra đi, thỉ bỗng được tin tráng đinh trong bản phi báo rằng: vào hồi nữa đêm hôm qua, viên Tù Trưởng ở gần đấy, kéo thủ hạ đến đánh cướp dinh họ Hoàng, giết được họ Hoàng, và toan kéo nhau vào phá kho thóc, cướp vàng bạc, trâu bò, thì đám tù nhân, ước chừng năm chục người, toàn là những thanh niên vũ dũng do Vi Hoành cầm đầu, tức giận, đã nổi cả lên, phá ngục thất, cưỡng hiếp đám lính canh phòng, đoạt chìa khóa kho vũ khí rồi cùng hợp lực, kéo nhau ra đánh đuổi bọn cướp.

    Bị phản công bất ngờ, viên Tù Trưởng địch phải bỏ hết trâu bò, thóc lúa, hô thủ hạ chạy trốn vào rừng.

    Nhưng chúng cũng bị hạ sát tới 5 tên, vứt lại nhiều giáo mác và ba con ngựa thồ.

    Dân chúng và binh linh ở động Hoàng Su Phì cảm mến ân đức ấy của Vi Hoành, hơn nữa lại quá căm thù oán ghét Tù Trưởng họ Hoàng đã hèn nhát lại tham nhũng, nên đồng lòng tôn Vi Hoành lên làm Tù Trưởng.

    Sau đó, một thời gian ổn định. Vi Hoành đã cho người về đón Vi Đạt lên động chơi, để anh em có dịp hàn huyên cho thỏa lòng nhớ thương trong bao ngày lạc lõng chia ly.

    Vi Đạt mừng rỡ quá, vội sửa soạn hành trang đem Vi Thành cùng đi với người dân ở Hoàng Su Phì, lên động thăm em, ở chơi gần nửa tháng mới cáo biệt, theo họ Hoàng đi Nước Hai, để tìm mua mấy thứ thổ sản, đem về bán buôn cho các Hoa thương ở Hà Giang.

    Không ngờ trong chuyến du hành này, họ Vi một lần nữa, lại gặp một điều vô cùng may mắn khác.
     
  5. SoLuuHuong

    SoLuuHuong Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng

    DUYÊN MAY NGÀN DẶM

    Theo tục lệ thổ dân ở vùng Nước Hai, tỉnh Cao Bằng, hằng năm, cứ đến cuối mùa Xuân, lại có tục gieo cầu, trai tráng các nơi, không luận sang hèn, giàu nghèo, cứ miễn là thanh niên khoẻ mạnh biết cưởi ngựa, bắn nỏ, thông thạo võ nghệ, đều được dự thí, miễn được thiếu nữ nào ném trúng quả tú cầu thêu vóc hồng thì được cha mẹ cô gái ấy, mời về nhà khoản đải, gả con gái cho, rồi dựng nhà chia trâu, chia ruộng, gây dựng cơ nghiệp cho con rể, cho tới bao giờ vợ chồng con rể tạo được cơ nghiệp căn bản vững vàng mới thôi.

    Do đó, nhằm tiết cuối xuân, các thanh thiếu niên trai tráng, chẳng cứ ở Nước Hai, mà co khi còn ở những vùng xa xôi, cũng rũ nhau tìm đến dự hội gieo cầu, để hy vọng chiếm được người đẹp và có cơ hội gây dựng cơ nghiệp lâu dài.

    Năm ấy trên khu đồi gần đình quan Lang, nơi vẫn đươc chọn làm bải gieo cầu cho những nam thanh, nữ tú, đã được trang trí rực rỡ, khác hẳn thường lệ, vì năm nay có con gái quan Lang Nước Hai đến tuổi gieo cầu, cũng theo chân các bạn đồng trang lứa, dự hội du xuân, để thử xem số mạng.

    Tin đó như một ánh lửa loè sáng giữa đêm khuya tăm tối, đã có mảnh lực thu hút được hàng trăm thanh niên, đủ giai cấp ở miền sơn cước, nô nức kéo nhau đến Nước Hai để ... "tìm duyên nợ"!

    Sự nô nức đó cũng không có gì đáng ngạc nhiên cho lắm vì con gái quan Lang, vốn nổi danh tài mạo, tuyệt vời, nhan sắc chẳng những hoa nhường nguyệt thẹn, cá lặn, nhạn sa, mà khác hẳn với những sơn nữ khác, các môn cầm kỳ thi họa, nàng đều làu thông, không kể cái biệt tài võ nghệ.

    Thiên hạ thường đồn đải với nhau rằng vị thiên kim tiểu thư, con gái duy nhất của quan Lang Nước Hai, vẫn luôn luôn ăn vận nam trang, một mình cưỡi ngựa vào rừng sâu săn bắn, đã có lần hạ luôn một lúc được hai mảnh hổ, một con dùng tên bắn, một con nàng dùng bàn tay nhỏ bé mềm mại như nhung để giáng một cái thôi sơn, vào giữa đầu cọp, khiến chúa sơn lâm vỡ sọ, chết tươi, không kịp rống lên một tiếng giả biệt núi rừng.

    Nhưng dù võ nghệ vào loại bạt sơn, cử đỉnh, vị tiểu thư lá ngọc cành vàng ấy, vẫn không quên cái địa vị cao quý của một giai nhân sinh trưởng nơi trường gấm màn the, ra hài, vào hán, mổi lời sai bảo, trăm tiếng dạ vang, muốn gì được nấy, cha mẹ nưng niu, chiều chuộng như trứng mỏng trên tay, nên những lúc chiều tà đối bóng, Đinh tiểu thư thường gây một lò trầm hương ở căn lầu trông thẳng ra vườn hoa, mà nàng đã đặt cho cái tên rất thơ mộng là Nghênh hương các, để nhìn trăng, gảy khúc đàn tuyệt diệu, gửi tâm tình qua những âm hưởng thanh cao, du dương, thảnh thót, của chiếc nguyệt cầm, không kém gì tiếng giây tơ huyền ảo của những tay danh cầm, tuyệt kỹ thuở xưa, mà tên tuổi còn được lưu lại trong những áng diểm tình giai thoại, muôn ngàn thu, còn có tác dụng rung chuyển lòng người!

    Khác hẳn lối giáo huấn khắc nghiệt của thời phong kiến, mà giá trị người con gái không hơn gì một món đồ chơi, hay một cái máy để khi ở nhà tuỳ thuộc quyền cha mẹ, khi xuất giá, làm tôi mọi cho chồng, dở hay sướng khổ đều không do tự mình quyết định, vợ chồng quan Lang Nước Hai thấy con gái tài sắc vẹn toàn, công dung, ngôn hạnh gồm đủ, văn võ gồm tài, cầm kỳ thông thạo, nên để mặc cho nàng tự kén lấy bạn trăm năm, chứ không ép uổng con gái như những gia đình khác, vì cả hai ông bà cũng tin rằng: Nàng có đủ trí sáng suốt tìm được ý trung nhân để trao sương gửi thịt.

    Vã lại quan Lang cũng hiếm hoi, dưới gối chỉ có một mình nàng, nên hai ông bà cũng muốn cho nàng kén được người tuấn tài để mai sau nối nghiệp ông cha.

    CHÚA TỂ ĐẤT LẠNG SƠN

    Sau khi an táng hài cốt tổ phụ vào huyệt tả ngạn sông Cả, ở ngay cửa Ngòi Xảo, họ Vi đi buôn trên miệt Hoàng Su Phì, gặp được em ruột là Vi Hoành bị thất lạc từ khi có cuộc biến loạn ở Lĩnh Nam. Nhờ tài võ dũng quả cảm, Vi hoành đánh ta bọn giặc ở vùng Bắc Mục, nhân lúc bất ngờ kéo đến cướp đoạt trâu bò, vàng bạc của dân cư sở tại, nên được mọi người tri ân, tôn lên làm Tù Trưởng.

    Vi Đạt cùng con trai là Vi Thành, sau đấy lại qua phủ Nước Hai ở Cao Bằng để mua ngựa tốt, nhằm đúng hội gieo cầu, được quan Lang Nước Hai kén Vi Thành làm giai tế, húa cho nối nghiệp khi từ trần, ví quan Lang không có con trai kế tự.

    Họ Vi hiển đạt, làm chúa tể hai miền sơn cước hưng thịnh, trù phú, cha truyền con nối cho đến năm Minh Mạng thứ tám, mới di cư qua đất Lạng Sơn, cầm đầu các động thổ dân, rất được mọi người kính nể, tuyệt đối phục tùng.
     
  6. SoLuuHuong

    SoLuuHuong Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng

    MẢ PHÁT TO
    nhưng nhiều người bị bất đắc kỳ tử...


    Khi Vi Văn Định làm Tổng Đốc tỉnh Thái Bình, nhờ có quan Tri Châu Bắc Quang họ Cao giới thiệu, được quen biết một nhà phong thủy chánh tông họ Triệu từ tỉnh Triết Giang bên Tàu trốn qua Việt Nam tỵ nạn, sau cuộc âm mưu khởi nghĩa định lật đổ đế chế Mãn Thanh bị thất bại, khiến cho một số lớn đồng chí của họ Triệu phải rơi đầu trước lưỡi gươm đẩm máu tàn bạo của bọn vua quan nhà Thanh, không ngần ngại gì, thường thẳng tay chém giết những người Trung Hoa, không chịu theo chúng, để củng cố chiếc ngai vàng mục nát.

    Vi Văn Định tiếp đải họ Triệu rất trọng hậu, dùng lể thượng khách đối xử một cách cực kỳ cung kính.

    Họ Triệu thấy Định đang đắc thời, đắc thế, được người Pháp tin dùng, tuy chỉ cầm đầu có một tỉnh, mà quyền uy khét tiếng khắp nơi, hách dịch như một vị tiểu vương, nghênh ngang một mình một cỏi biên thuỳ, nên muốn được sống yên thân nơi xứ lạ cũng hết lòng cung kính, tận tâm, tận lực phụng thừa Vi Văn Định, coi Đinh như thần hộ mạng, có đủ thế lực che chở cho mình trong lúc sa cơ thất thế.

    Bởi vậy, khi được Định đưa lên Ngòi Xảo phúc lại ngôi mả tổ tiên tả ngạn dòng sông Cả, họ Triệu đã một mình lăn lội vào rừng thẩm, núi cao, tận dụng tài học sở trường về môn phong thủy, để nghiên cứu kỷ lưỡng, địa hình, địa thế khắp vùng "Lưỡng Ngưu ẩm thủy", tới gần nửa tháng trời, mới nói cho Vi Văn Định biết rằng:

    - Quả đúng là đất đại quý, sự kết phát sẽ bền vửng lâu dài bất cứ triều đại nào, họ Vi cũng được coi là anh hùng một cỏi giang sơn riêng biệt.

    Nhưng so sánh hai ngôi mộ ở tả hữu ngọn sông Cả trong vùng Ngòi Xảo, thì mả của họ Lương đắc dịa hơn nhiều.

    Cứ nhìn qua bề ngoài của hai ngôi mộ, người không biết gì về khoa địa lý cũng có thể phân biệt được sự hơn kém: mả tổ phụ họ Lương không cần trông coi, bồi đắp mà quanh năm, lúc nào cũng to lớn, nổi cao lên như một cái đồi nhỏ, cỏ mọc xanh rờn, dây leo chằng chịt, trông xa như một tấm thảm nhung biếc, đẹp mắt vô cùng.

    Còn mả tổ họ Vi, dù thường xuyên vẫn có gia nhân, canh gác, đắp đất, rẩy cỏ rất cẩn thận mà cỏ vẫn kém tươi, mộ phần cũng chỉ bằng tám phần mười ngôi mả của họ Lương, mặc dù phong cảnh cũng xinh đẹp lạ lùng. Sở dĩ có sự khác biệt ấy, theo sự nhận xét của nhà phong thủy họ Triệu, thì nguyên do chỉ là vì con hỏa nằm án ngữ cách minh đường ngôi mộ chừng nữa dậm.

    Đó là một gò đất nổi lên, nằm trơ vơ phía trái miếu sơn thần, chạy thoai thoải đến gần mộ phần, trong giống như một mủi dùi nhọn đâm thẳng vào ngôi mả.

    Vì thế, sự kết phát bị giảm súat mất một phần nhỏ.

    Không những thế, nó còn là điềm bất đắc kỳ tử cho nhiều người trong họ nữa.

    Vi Văn Định lo sợ, vội năn nỉ tha thiết yêu cầu thầy địa lý tìm cách trấn yểm giúp cho con Hỏa không nổi dậy, tác quái, nhiểu hại cho con cháu trong dòng họ, nhưng họ Triệu khăng khăng từ chối và cho biết: con Hoả ấy nằm sát long mạch, không có phương thế chi để diệt trừ, hay trấn áp được hết, vì chỉ hơi động đến là long mạch bị thương tổn ngay tức khắc, chẳng những không có lợi chi mà còn có thể gây thêm nguy hại cho sự kết phát sau này, uổng phí cả tâm cơ của tổ tiên ngày trước.

    Vả lại, cứ như sự suy luận của họ Triệu thì các kiểu đất quý, phần nhiều đều có một vài nét khuyết điểm, nhẹ nặng tuỳ theo phước trạch của ông cha, đó là luật thừa trừ rất nhiệm mầu kỳ bí của Hoá công, chứ chẳng mấy khi được toàn mỹ, chỉ có kết mà không có đọng trê bao giờ

    Chỉ cốt sao cho sự kết phát được nhiều hơn sự nguy hại, cũng đã là một điều đại hạnh cho gia chủ lắm rồi!

    Ta không nên đòi hỏi quá nhiều mà vô tình cưỡng lại mệnh trời, tạo thêm sự thất đức, làm giảm bớt cả tính cách linh ứng của kiểu đất hiếm có, mà dám chắc, trên cỏi đời này, chưa chắc đã tìm được một kiểu đất tương tự thứ hai!

    Cuối cùng muốn an ủi quan Tổng Đốc Thái Bình, họ Triệu đã đem nhiều chuyện thi ân, bố đức, cầu phước, khuyến thiện ra nói với dụng ý kín đáo, ngầm khuyên Vi Văn Định nên tu nhân, tích đức, làm điều lành, tránh điều dữ, để may ra có thể cứu vãn được phần nào sự nguy hại do con Hoả gây ra cho con cháu họ Vi.

    Những lời khuyên kín đáo của thầy địa lý Tàu như bị rơi vào sa mạc, vì như ai nấy đều biết: Vi Văn Định khi còn nắm quyền sinh sát ở tỉnh Thái Bình, cũng như sau đấy, ở tỉnh Hà Đông, vẫn luôn luôn thẳng tay sát hại đồng bảo lương thiện, nhất là những nhà cách mạng nuôi chí lắp bể vá trời, muốn đánh đuổi thực dân,để khôi phục nền độc lập cho giang sơn tổ quốc.

    Muốn được mẫu quốc ghi công để ban thưởng cho mề đay, kim khánh, tiến chức, thăng quan nhanh chóng hơn diều gặp gió. Vi Văn Định đã chẳng chút ngại ngần, trút hết cả mọi nổi khổ lên đầu các chiến sĩ cách mạng, sáng chế ra nhiều loại hình phạt, cực kỳ dã man hiểm độc, đến nổi chỉ nghe nói qua đến những thủ đoạn của họ Vi làm Tổng Đốc tỉnh này, người yếu bóng vía cũng đã thấy rùng mình sởn gai óc.

    Bà con ở Thái Bình di cư vào Nam, hẳn còn nhớ thời kỳ họ Vi làm Tổng Đốc, đã có ra một nghiêm lịnh quái ác: triệt để bắt các hương lý chức dịch các làng xóm phải diệt cho kỳ được loai bèo Tây, mà có nơi quen gọi là sen Nhật Bản, một giống bèo có sứ bành trướng mạnh mẽ phi thường, sinh sôi nẩy nở nhanh chóng, nhiều vô số kể trong một thời gian ngắn ngủi, có rễ dài, nổi lềnh bềnh trên mặt nước cả hoa màu tím và lá màu xanh mới trông cũng khá đẹp mắt.

    Nhưng vì nó sinh sản nhiều quá lẹ quá, nên vẻ đẹp thuở ban sơ, đột nhiên biến mất, để nhường chỗ cho sự chán ghét trong tâm khảm mọi người.

    BÁC SĨ T. EM RUỘT VI-VĂN-ĐỊNH BỊ NGỰA DẨM CHẾT DƯỚI LÒNG SUỐI

    Theo lời những ông già, bà cả kể lại, thì khi thứ bèo hoa tím, lá xanh, hình cánh quạt mới xuất hiện tại biển đông nhiếu nhà quan quyền ,phú hộ, cường hào đã không quản ngại tốn kém, mướn người đi lấy về để thả trong bể, cho bèo nổi trôi quanh hòn non bộ, giống hệt những chiếc thuyền bồng bềnh giữa bể khơi, coi đó như một môn giải trí thanh cao, thích thú cho những người giàu sang, nhàn rỗi.

    Nhưng người đời, xưa nay vẫn ham tân, chuộng lạ, chỉ say sưa mê thích những cái gì khan hiếm ít khi tìm thấy được dễ dàng ở trên thế gian, chớ nếu nơi nào cũng đầy rẩy, chất đống cao như cây rơm , cây rạ ở thôn quê, thì còn có nghĩa lý gì.

    Giá trị nó lúc ấy, quả thật không còn đáng được nửa đồng. Thứ bèo Nhật Bản kia cũng vậy!

    Những gia đình quyền quý, thừa tiền, thừa bạc, khi thuê người đem thứ bèo đó về thả vào bể nước, thấy nó sinh con đẻ cháu nhanh chóng, mạnh mẽ lạ lùng, lúc đầu còn vui thích, sung sướng, nâng niu, lấy giống đem thả xuống hồ, xuống ao.

    Chỉ mấy hôm sau, hồ, ao cũng đầy ứ loại hoa tím lá xanh, khiến chủ nhân không còn muốn "thưởng thức" cái loại hoa kỳ lạ đó nữa.

    Hơn thế, những loại rau muống hay sen trắng, sen đỏ trồng sẳn ở trong hồ ao từ trước, lại còn bị thứ bèo mới tới lấn át, đến phải héo hắt, chết dần, chết mòn, suốt lượt.

    Thứ bèo trồng chơi từ bể nước, vì vậy đã bị mất địa vị danh hoa, phải đem ra quăng cả ra hồ ao, cống rãnh.

    Và kỳ lạ hơn hết, là ở đâu, bất cứ rạch bần ao rộng hẹp thể nào, giống bèo đó cũng sinh sản nhanh hơn cỏ dại.

    Người ta vứt ra ngoài ruộng chiêm ngập nước thì chỉ vài ba hôm cả cánh đồng đã tím ngắt màu... sen Nhật Bản.

    Thuở bấy giờ nhằm kỳ nghỉ lể, em ruột quan Tổng Đốc Thái Bình là Bác sĩ Vi Văn T... được nghỉ mấy hôm, về thăm quê nhà ở Lạng Sơn, một hôm Bác sĩ T. cưỡi ngựa dạo chơi quanh vùng, khi vượt qua một con suối nông cạn mà mực nước không ngập quá gối, Bác sĩ T. lại bị ngã ngựa, rồi bị ngựa cuống quít dẫm chết luôn ở giữa lòng suối.

    Mọi người chung quanh đấy vội đổ xô đến cứu cấp, nhưng không kịp.

    Thì ra con ngựa của Bác sĩ T. lúc lội qua suối, bị vướng phải rễ bèo tây, cuống cẳng nên ngã quỵ ngay xuống suối, quăng luôn cả Bác sĩ T. xuống nước.

    Khi con ngựa vùng vẫy thoát khỏi đám rễ bèo, nó lại hoảng hốt lội mau lên bờ, chẳng ngờ rủi ro làm sao, lại dẩm bẹp ruột Bác sĩ T. khiến Bác sĩ T. chết liền không kịp kêu cứu.

    Tin dữ bay xuống tỉnh Thái Bình, làm cho Vi Văn Định tức giận như kẻ điên cuồng, phần thương tiếc đứa em mới thành tài, chưa kịp hưởng thụ đúng mức sự giàu sang cho bõ công học hành vất vả, đã phải bỏ mình vì một tai nạn không có nghĩa lý gì, nên ngay lúc ấy, liền hạ lệnh cho tất cả tổng lý, hương chức các làng xã trong toàn hạt Thái Bình phải trừ tiệt loại bèo tây, nơi nào trái lệnh, sẽ bị nghiêm trị theo pháp luật.

    Các hương lý, chức dịch thôn quê ở Thái Bình lúc bấy giờ thật đã vô cùng điêu đứng, khổ cực, trước cái lệnh quái gỡ của vị quan đầu tỉnh, vì giống bèo tây sống dai hơn đĩa đói, dù vớt lên bờ phơi khô, mà các bèo gặp trời mưa to, trôi xuống hồ ao cống rãnh, vẫn có thể hồi sinh, đã đẻ ra con, ra cháu, nhiều vô số kể và nhanh như chớp. Vì vậy, cứ vớt sạch được chỗ này, thì chỗ kia đã lại có bèo mọc. Nhiều nơi dân chúng không còn làm ăn được gì nữa mà chỉ lo đi vớt bèo cũng vẫn không xong.

    Nhiều đêm, quan Tổng Đốc đã bất thình lình, mặc thường phục vi hành đến thăm các làng tổng, thôn xóm xa xôi trong địa phương, nếu thấy nơi nào còn sót ít nhiều bèo tây trong hồ ao, là lý dịch sở tại bị gọi ngay ra đình, cho quan đầu tỉnh sĩ vã chẳng tiếc lời và nọc nằm thẳng cẳng trên nền gạch, bắt lính hầu phải dùng ba toong to bằng cườm tay, quật cho quắn đít, liền chỉ hồ điệp hàng hai ba chục chiếc đến nứt da, nứt thịt, máu me chảy đầm đìa, mới chịu buông tha cho các nạn nhân sau khi đã buông thêm lời cảnh cáo : nếu còn tái phạm, sẽ bị trừng trị nặng nề ghế ghớm hơn nhiều.

    Tiếng tàn ác của Vi Văn Định lan rộng khắp nơi. Nhiều đoàn thể chánh trị, thấy y lợi hại quá, e trở ngại cho các hoạt động của các đảng phái yêu nước, đã tìm cách để ám hại y, nhưng lần nào Vi Văn Định cũng thoát chết.

    Hôm mới được tin em ruột chết trước một tai nạn hầu như quá vô lý, vì người nào đã từng ở Lạng Sơn, hay có qua đó một vài lần, cũng phải công nhận rằng : con suối mà Bác sĩ Vi Văn T. đã cưởi ngựa vượt qua mực nước thực sự chỉ sâu chừng hai gang , đứng trên bờ, bất cứ giờ nào cũng trông rõ cả lớp cuội trắng nằm lấp lánh dưới đáy.

    Vậy mà khi Bác sĩ T. cho ngựa lội xuống suối, lại bị rể bèo quấn cẳng, khiến con tuấn mả của họ Vi, vốn khét tiếng là giống ngựa tốt, phải ngã quị, quăng luôn cả chủ nhân xuống nước.

    Lạ lùng làm sao, là khi bị té nhào, xuống suối, Bác sĩ T. lại không thế nào đứng vùng lên được, mặc dầu ngày thường, Bác sĩ T. rất khoẻ mạnh, ham chuộng tập dượt chạy nhảy, lại thêm am hiểu cả võ Tây và võ Nhật. Bác sĩ cứ nằm chịu trận dưới lòng suối cho đến lúc bị con ngựa dẩm chết mà vẫn không có một ai biết hết.

    Cho mãi tới khi con ngựa theo đường cũ chạy về nhà, người nhà họ Vi thấy con ngựa hí vang rầm, khắp mình ướt sủng nước mà Bác sĩ T. lại không cùng về, nên lo sợ chia nhau đi tìm kiếm khắp nơi.

    Một bọn gia nhân vừa ra tới bờ suối, đã thấy Bác sĩ T. nằm thẳng cẳng dưới lòng nước.

    Chúng hè nhau lội xuống đem lên bờ, thì Bác sĩ đã tắt thở tự bao giờ, thân thể lạnh toát khắp mình, bị vó ngựa dẩm xây xát, tím bầm.

    Sau khi nhận được hung tinh, Vi Văn Định la hét vang dinh Tổng Đốc Thái Bình.

    Lúc đầu, Định chỉ tưởng là một tai nạn rủi ro : nhưng sau phút cáo giận, y chợt nhớ tới lời tiên đoán của thầy Địa lý năm nào, khi được mời đến Ngòi Xảo để phúc lại phần mộ Tổ phụ an táng trong kiểu đất "Lưỡng Ngưu ẩm thủy", y mới giật mình, hoảng sợ, vội đi tìm cuốn gia phả coi lại những lời ghi chú về nơi đất quý địa ấy.

    Thì rõ ràng, tổ phụ họ Vi cũng đã có dặn lại, là sự động trệ sẽ kèm theo với sự kết phát để trong dòng họ, luôn luôn có người bị bất đắc kỳ tử do con Hỏa ở trước mộ phần gây ra.

    Vi Văn Định tức bực, vỗ án rầm rầm, muốn lên ngay Ngòi Xảo để cải táng ngôi mả tổ đi, vì y được thấm nhuần ít nhiều Tây học, không tin mạch đất lại có thể giáng phúc, tạo được sự kết phát cho con cháu lâu dài.

    Y viết thư gửi cho các em, nói rõ ý định ấy, làm cho em ruột y là Vi Văn L., Tri Phủ Nước Hai hoảng sợ, phải dùng ngay xe hơi nhà, đi suốt đêm về Thái Bình để ngăn cản ý định điên rồ ấy của Định.

    Sau khi thấy anh đã nguôi giận, Vi Văn L. liền giới thiệu với Định một thầy Dịa lý nguyên quán ở miền Trung, lúc đó đang ngồi dạy học tại nhà quan Phủ Nước Hai, để ủy thác cho người này tìm phương trấn yểm con Hỏa.

    Vi Văn Định cho em biết là trước kia, y cũng đã cho người phúc lại ngôi mả và yêu cầu người ấy trấn yểm con Hỏa, song nhà phong thủy Trung Hoa này viện cớ con Hoả nằm liền sát long mạch, nếu động tới, e sẽ làm thương tổn cho sự vận chuyển của mạch đất.

    Vi Văn L. nhất định, tin tưởng vào tài ba của thầy Địa lý miền Trung nên hết lời phân trần với Định, để xin về đưa nhà phong thủy qua Ngòi Xảo làm bùa phép trấn yểm. Nễ em qua, Định đành phải nghe lời, cho phép Vi Văn L. được trọn quuyền hành đông.

    * Địa lý có phải là hoang đường như nhận xét thiển cận của số người vẫn tự nhận là ... Tân học không?
    * Chôn nơi tốt, hài cốt nở ra bóng lộn có khi kết thành tượng, chằng chịt tơ hồng.
    * Táng nơi xấu, xương bị hao mòn dần, lâu ngày thành đất vụn.

    NHƯ MỘT BÌNH ĐIỆN...

    Vừa trở về đến Nước Hai quan Phủ Vi Văn L., sai lính hầu đi mời ngay thầy đồ Nghệ đến tư thất, nói rõ cho nhà phong thủy biết sự hoài nghi của anh ruột mình về tính cách động trệ do ngôi tổ mộ được kết phát ở Ngòi Xảo gây ra, để yêu cầu thầy địa lý kiếm cách trấn áp con Hỏa, cho dòng họ Vi từ nay, tránh khỏi nạn bất đắc kỳ tử.

    Nhà phong thủy xứ Nghệ An, ôn tồn đáp:

    - Nhiều người được thấm nhuần Tây Học thường nghi ngờ môn địa lý, cho đó là một sự mê tín dị đoan, chứ một khi đã chết rồi, người khôn ngoan đến đâu, cũng chỉ là một mớ xương khô, theo năm tháng thời gian, mục nát với cỏ cây, hỏi còn biết gì là giáng phúc hay gieo họa cho con cháu nữa. Không cứ quan Tổng Đốc Thái Bình mới không tin việc linh ứng của mồ mả, đất cát, mà bất cứ một người nào, từng có ít nhiều cơ hội tiếp xúc với nền văn minh Tây Phương, cũng đều có ý nghĩ như thế cả.

    Đó quả thực là một sự xét đoán sai lầm đáng tiếc, mà nếu chịu khó suy nghĩ ra sẽ thấy ngay sự nhận xét nông cạn, hầu như bất công của những người Tân Học đa nghi.

    Ngay từ khi mới bắt đầu nghiên cứu về môn phong thủy, tôi (lời thầy địa lý) đã được sư phụ tôi cho biết rằng : địa lý hay nói cho đúng hơn, là môn địa ý, chỉ là một khoa học, căn cứ vào sự thuận mát đúng như ý muốn của mọi người nghĩa là phải chú trọng vào sự cân đối sáng sủa phong quan, có núi non, gò đống có cây cối, sông ngòi.

    Ví vụ một người ngồi ung dung nơi thư phòng, thì trên ghế ngồi phải có tay dựa mà thiên hạ quen gọi là tay ngai, đàng trước mặt phải có án thư, phí sau phải có chỗ tựa lưng.

    Thi hài nằm dưới đất cũng thế, Chánh huyệt là nơi an nghĩ ngàn thu, cũng phải trông ra một nơi quang đảng, sơn thủy hửu tình, đó là án minh đường, nói theo danh từ chuyên môn của khoa phong thủy, sau lưng phải gói vào gò đống kỳ khu, đó là hậu trẩm.

    Còn tay ngai đễ tựa hai tay là tay long với tay hổ.

    Cứ tìm được nơi nào, có đầy đủ những điều kiện cốt yếu như vậy thì ngôi mả nhất định sớm muộn gì cũng phải kết phát không thể nào sai chạy được.

    Người Âu Mỹ dù không tin sự linh ứng của mồ mả nhưng không phải như thế có nghĩa là họ chẳng chú trọng gì đến môn địa lý đâu?

    Sự thực, khi họ làm nhà, họ cũng vẫn luôn luôn xây dựng dinh cơ trên những thửa đất vuông vắn, quang đảng, trông về những hướng mát mẻ, để hưởng thụ, gió sớm, trăng khuya.

    Mà nhà cửa nào có khác gì phần mộ đâu, vì nó cũng đem lại kết quả tốt đẹp hay ảnh hưởng nguy hại cho chủ nhân nếu gặp những khu đất làm nhà hợp ý hoặc miển cưỡng.

    Còn về sự kết phát hay động trệ tại đó cũng là việc rất thường, không thể gọi được là huyền bí, mờ ám chi hết!

    Như ai nấy đều biết giữa người sống và người chết, cùng chung một huyết khí, bao giờ cũng có sự thông cảm trực tiếp với nhau.

    Do đấy, nếu hài cốt được an táng vào một nơi đẹp mắt, tiền, hậu, tả, hửu đều có những phong cảnh kỳ khu tươi tốt, thì lẽ tất nhiên mớ xương khô nằm đó, cũng được thấm nhuần linh khí thiên địa, phát sanh được những "tia điện" thiêng liêng, để truyền thứ tú khí đó cho con cháu, hay những bà con thân thích, có liên hệ huyết thông với người nằm dưới đáy mộ.

    Nếu có thể ví dụ mà không sợ sai lầm, thì thi hài chôn trong lòng đất, được coi như một bình điện, tốt xấu, mạnh yếu tuỳ theo địa thế mộ phần, để có thể phát xuất những "luồng điện", đem lại sự kết phát hoạt động hổ trợ cho người sống.

    Chính bởi sự kết phát hay động trệ ấy, mà nảy sanh ra những chuyện ly kỳ có khi đến quái đản, gần như chuyện hoang đường thời Phong thần, khiến cho những "Ông Tân thời" mới căn cứ vào đấy để chỉ trích, dè biểu, chế giểu.

    Họ có biết đâu rằng : bộ xương khô, một khi được an táng vào một khu địa huyệt đẹp mắt, có sự an bài sắp đặt kỳ dị của hóa công, sẽ phát xuất một sức mạnh kỳ ảo mà tôi (vẫn lời thầy địa lý) dám chắc, không có một luồng điện nào ở trên cõi đời này lại có thể hùng mạnh bằng và có thể so sánh kịp!

    Cũng vì thế, mới xui khiến ra những sự kết phát lạ lùng: đang từ một kẻ ngu si dốt nát, trong một sớm một chiều, đã "phúc chí tâm linh" biến thành một người thông minh xuất chúng, có biệt tài thay đổi thời cơ, lật ngược hoàn cảnh, hay đang nghèo mạt rệp, đói khát, khổ sở, chợt gặp gỡ những điều may mắn dị thường để thay đổi hẳn địa vị nghèo khổ thành giàu sang, phú quý!

    Trái lại, nếu mả động, thì sự nguy hại cũng nhanh chóng không kém : người khỏe mạnh bỗng lăn ra chết bất ngờ , hoặc mắc phải những chứng bệnh hiểm nghèo không có một thứ thuốc men nào chửa khỏi, vậy mà chỉ cải táng được mộ phần là lập tức
    bình phục ngay trong nháy mắt.

    Hài cốt táng nơi tốt sẽ nở ra, bóng lộn, có khi kết thành tượng. Chôn phải đất xấu, sẽ bị hao mòn dần, có khi biến thành đất vụn.

    Chuyện mả chôn trong bụng một con ngựa đá dưới sông, của ông Đinh Bộ Lĩnh ngày xưa, tuy thuộc vào loại hoang đường, song nghĩ cho kỹ, cũng không phải là hoàn toàn vô lý vậy!

    Có những chuyện dị kỳ xảy ra, mới co thể minh chứng được sức mạnh của các ngôi mả kết phát hay động trệ!

    Thầy địa lý nói tiếp: nếu không do ngôi mả gây ra, thì sao " quan đốc" lại có thể bị chết đuối, khi vướt qua một con suối, chỉ nông chưa tới gối mà hàng ngày trâu, ngựa vẫn lội qua từng đám một cách rất dễ dàng?

    Quan Tri Phủ Nước Hai Vi văn L. chăm chú ngồi nghe lời giải thích của nhà phong thủy vả ngỏ ý mời thầy địa lý ngay sáng hôm sau, đi Ngòi Xảo làm lể trấn yểm.

    Đích thân Vi Văn L. hướng dẫn nhà phong thủy đến Ngòi Xảo, đưa đi coi tường tận cả hai ngôi mả tổ của họ Lương và họ Vi.
    Thầy địa lý lặng lẻ theo chân quan phủ Nước Hai, chăm chú quan sát địa hình, địa thế các nơi, nhất là gò đất có con Hỏa nằm đâm thẳng vào tổ mộ họ Vi, đoạn chỉ tay về phía ấy, mới nói Vi Văn L. rằng:

    Vừa đi quan sát một lượt quanh khu tả ngạn Sông Cả, nhà phong thủy xứ Nghệ đã lắc đầu nói vơi Vi Văn L. sau khi đã lần đốt tay tính toán:

    - Kiểu đất quý thiệt!

    Nhưng sự tác hại của con Hỏa nằm trước mộ phần, quả cũng vô cùng ghê gớm.

    Nếu không trấn áp được gò đất ấy, thì cứ 15 năm trong dòng họ Vi, thế nào cũng lại có một người bị bất đắc kỳ tử mới thôi.
    Đấy kìa, quan lớn thử trông: con Hoả nằm án ngữ minh đường, chỉa thẳng mủi nhọn vào chánh huyệt, nào có khác gì một người cầm dao sắt, đâm vào cổ người nằm ở trong ngôi mộ này ! Như thế, hỏi con cháu mà làm sao sống yên ổn được.
    Vi Văn L. lo lắng nhìn nhà phong thủy hỏi vộ:

    - Nhưng thầy thử coi kỹ giúp! xem chi nào trong dòng họ Vi bị nạn bất đắc kỳ tử ấy?

    Thầy địa lý lắc đầu:

    - Chưa thể nói đích xác được. Còn việc trấn yểm cũng cần phải chờ xem xét kỹ lưỡng hơn nữa rồi mới có thể định liệu được.
    Công việc chưa biết sẽ còn phải kéo dài tới mấy hôm.

    Vậy nếu quan lớn bận công vụ, thì xin mời Ngài cứ về phủ trước đi. Tôi ở lại đây, sau khi hiểu rõ địa hìng địa thế sẽ tự ý lo liệu việc trấn yểm , quan lớn bất tất phải mãi công chờ đợi làm chi cho phí thời giờ vàng ngọc của Ngài.
     
  7. SoLuuHuong

    SoLuuHuong Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng

    CON HỎA

    Một gò đất dài, như một mũi giáo nhọn, đâm vào cổ người nằm trong mả, nếu không trừ được, cứ 15 năm, lại có một người trong họ bị bất đắc kỳ tử.

    Vi Văn L. gật đầu ưng thuận:

    - Ừ được ! thầy nói thế cũng phải! Ta xin nghe theo. Nhưng muốn cho thầy có người sai bảo, ta xin lưu lại đây hai tên lính tâm phúc, toàn là người trong họ của ta đã theo hầu ta từ trên mười năm nay. Thầy có thể phóng tâm tín cẩn mà không cần phải đề phòng, ngần ngại chi hết.

    Dứt lời, L. từ giả lên ngựa cùng đoàn tùy tùng quay về Nước Hai.

    Ngay đêm ấy, nhà phong thủy lần ra mả, làm phép hô thần rồi chôn ngay dưới chân con Hỏa, một chai thuốc, mà lão đã bí mật đem theo từ phủ Nước Hai để hy vọng có thể làm tiêu thổ cái gò đất nguy hiểm đó.
    Khi lảo trở về đến nhà viên chánh tổng sở tại được dùng làm nơi tạm ở Ngòi Xảo, thì gà rừng đã gần gáy rạng đông..

    Lão mỏi mệt, vội lên giường ngủ thiếp đi lúc nào không biết.

    Tối thứ hai, lão lại lần ra mả, tiếp tục làm lể trấn yểm, nhưng sớm hơn đêm trước, lúc lão trở về nhà viên chánh tổng, thì trống canh ngoài điểm mới điểm có bốn tiếng.

    Lão ngồi uống tàn một ấm trà tàu, rồi lên giường nằm nghỉ.

    Mơ màng lão thấy như có người gọi đích danh lão rồi một vị lảo trượng, đầu râu tóc bạc, bỗng xuất hiện, cầm chiếc roi mây, chỉ thẳng vào mặt lão, mà lớn tiếng mắng rằng:

    - Thằng kia! Mi cậy mình pháp thuật cao cường, ý muốn giúp kẻ dữ, định cưỡng lại mệnh trời sao?
    Mi phải biết rằng: tổ phụ họ Vi tu nhân tích đức, nên Thượng đế mới ban phước cho chúng ngôi đất quí, dưới quyền ta cai quản vùng này.

    Nhưng từ hai mươi năm trở lại đây, con cháu họ Vi bỗng thay lòng, đổi dạ, giết người, hại kẻ hiền lương, nên con Hoả mới có cơ hội, vùng lên: để vật chết những kẻ tham tàn, bạo ngược.

    Đó là lẽ trời chí công, chí chính mà mi là kẻ từng đọc sách thánh hiền, phải hiểu rõ luật phước họa, ân oán ấy, chứ có đâu lại nhắm mắt làm liều như hành động của mi từ hôm qua tới bây giờ?

    Trước khi tới đây, ta cảnh cáo mi, ta đã hiển linh phá tan cả bùa phép của mi rồi đó!

    Dứt lời, một trận gió ào ào cuốn tới, trong chớp mắt, vị lão trượng biến đâu mất tích!

    Bàng hoàng tỉnh giấc, thầy đồ Nghệ toát mồ hôi cùng mình, vì lão biết đó không phải là mộng mị hảo huyền, mà có lẽ đã do một nguyên nhân thần bí nào xui khiến.

    Với niềm thắc mắc nặng chĩu trong tâm khảm, thầy địa lý trằn trọc mãi, không sao ngủ lại được, bất đắc dĩ đành phải trở dậy, chong đèn thức tới sáng.

    Mặt trời vừa lấp ló ở dãy núi sau miếu Chúa, thầy địa lý đã chỉnh tề khăn áo, đi ra ngoài tả ngạn sông Cả với sự hồi hộp lạ lùng trong trí óc.

    Vừa đến nơi, lão kinh ngạc, suýt kêu lên một tiếng thất thanh, khi thấy chỗ chôn chai thuốc với bùa chú, ở ngay dưới chân Con Hỏa, một địa hình dài và nhọn như một chiếc giáo khổng lồ, nằm im lìm trước tổ mộ họ Vi, chỉ còn là một hố sâu hoắm, bùn đất tung tóe, lẫn lộn với những mảnh bùa chú và mấy vị thuốc đặc biệt, không hiểu vì lý do gì, bị tan vỡ nát vụn từng mảnh nhỏ như cát bụi, hình như do một bàn tay kỳ ảo nào đào bới, phá hủy vậy.

    Cúi rạp nhìn xuống hố sâu, thầy đồ Nghệ chỉ thấy đen ngòm, không biết nông sâu thế nào, liền bẽ vội cành cây, đâm thẳng xuống hố.

    Chiếc hố cơ hồ như không có đáy, sâu ngập hết cả cành cây khô dài ngoằn, mà vẫn chưa tới đất, phía dưới cơ hồ vẫn còn bị trống rỗng!

    Lão còn đang nghi ngờ, định kiếm cho kỳ được một sợi dây dài, buộc một đầu bằng một hòn đá nặng, để thả xuống hố sâu, hầu đo lường mức sâu nông của nơi chôn bùa phép, thì chợt từ dưới hố sâu, hình như phát xuất giữa lòng đất, một tiếng nổ lách tách như pháo tép, rồi có tiếng rào rào như tiếng nước sông gầm thét khi con đê bao quanh bị phá vở, rồi từ dưới hố sâu, một luồng khói xanh cuồn cuộn bốc lên, khét lẹt như mùi thuốc súng, mơ hồ giống hệt hình thù một con hổ kết họp toàn bằng sương khói.

    Hoảng hốt, thầy địa lý vội lùi lại phía sau mấy bước, toàn thân run bắn như người bị sốt rét ngả nước lâu ngày.

    Sau một phút định thần, lão mới bàng hoàng chợt tỉnh, vùng đứng phát lại, hai mắt trừng trừng nhìn thẳng xuống lòng hố sâu, rồi nghiến răng cắn lưỡi, phun máu vào giữa luồng khói mờ ảo, tay bắt quyết ngũ lôi, miệng niệm thần chú lầm rầm.

    Trong một phút chốc, giữa lúc trời quang mây tạnh mặc dầu ở trên đỉnh núi vấn vương rất ít nhiều sương lam cũa miền rừng núi, bỗng từ trên không trung, nổi lên liên tiếp năm tràng sấm inh ỏi, xé trời.

    Và kỳ lạ hơn hết, tất cả sấm sét đều như hướng hết về phía hố sâu giáng xuống.

    Luồng khói xanh mờ ảo, chợt đứng yên một chỗ, mơ hồ cuồn cuộn trên miệng hố.

    Đồng thời, từ dưới lòng đất, những tiếng nổ rì rào, lẹt đẹt cũng im bặt.

    Thầy địa lý đang hí hỡn mừng thầm là pháp thuật của mình đã chế ngự được tác quái của Con Hỏa, thì bỗng lại có tiếng nổ to như muốn phá toang lòng đất, rồi luồng khói như được một sức mạnh kỳ diệu trợ lực lại tiếp tục bốc lên cuồn cuộn như trước, mà trái lại còn có phần hung hản, hùng mạnh hơn trước nhiều.

    Thầy địa lý rùng mình, toàn thân ớn lạnh, gai óc nổi cùng người, đang luống cuống chưa biết phải đối phó thế nào, thì cảm thấy mắt hoa, đầu váng, lảo đảo một lúc lâu, rồi ngả lăn quay bên miệng hố, ngất lịm.

    Đang lúc lão mơ màng thần hồn như phiêu diêu cảnh non bồng, nước nhược, chợt văng vẳng có người lay gọi bên cạnh, liền mở mắt nhìn quanh và ngạc nhiên xiết bao, khi thấy quan Tri Phủ Nước Hai Vi Văn L., cùng đoàn tuỳ tùng đang sớn xác, lo sợ săn sóc bên mình.
     
  8. SoLuuHuong

    SoLuuHuong Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng

    SAU HAI ĐÊM TRẤN YỂM CON HOẢ
    NƠI CHÔN BÙA PHÉP BỊ ĐÀO PHÁ TUNG TOÉ.


    Từ giữa lòng đất, bốc lên một luồng khói mờ ảo vô cùng kỳ dị.

    Thì ra quan phủ Nước Hai, dù bận công vụ phải về phủ, nhưng sau hai ngày nóng ruột quá, lại cùng đám gia nhân, cưỡi ngựa qua Ngòi Xảo, để xem kết quả việc trấn yểm của Thầy đồ Nghệ ra sao?
    Không ngờ lúc đến nơi, vào nhà viên Chánh Tổng không thấy có ai, quan Phủ đoán là nhà phong thủy đã ra thăm mộ phần, nên vội giắt lính hầu đi thẳng đến tả ngạn sông Cả, vừa đúng lúc thầy địa lý ngã gục bên miệng hố.

    Nhà phong thủy vừa tỉnh dậy thấy quan phủ Vi Văn L. liền thuật sơ qua các việc đã xảy ra rồi chỉ tay xuống hố sâu, lúc ấy vẫn còn cuồn cuộn bốc khói lên ngùn ngụt sặc sụa mùi diêm tiêu muốn nghẹt thở rồi nói rằng:

    - Đây, quan lớn trông! Tôi đã dùng phương pháp đặc biệt chế tạo những thứ thuốc tiêu thổ rất hiệu nghiệm, mà chính sư phụ tôi đã bí truyền riêng cho một mình tôi, trong đám đông cả mấy chục đệ tử.

    Theo đúng phép chế biến đó, thì nhà phong thủy, có thể, tùy theo địa hình, địa thế, những nơi đất mình muốn dùng để an táng hài cốt hoặc tạo thêm gò đống hay tiêu trừ bớt những mô hình nào, xét ra đã gây trở ngại cho sự kết phát của mộ phần.

    Tôi yên trí rằng sẽ được thành công một cách dễ dàng sau đêm bắt đầu làm lể trấn yểm với các thứ bùa chú cực kỳ linh ứng.

    Nào ngờ chỉ được có một ngày yên ổn, thì mới rồi, vào hồi canh khuya đêm qua, tôi bỗng lại nằm mộng thấy thổ thần vùng Ngòi Xảo hiện về báo cho biết họ Vi vì kém phước trạch, nên Thượng Đế nhất định không cho phép được diệt trừ con Hỏa.
    Đồng thời, thổ thần còn hiển linh phá hủy tất cả bùa phép và chai thuốc tiêu thổ.

    Vừa nói, lão vừa chỉ tay về phía những mảnh vụn chai lọ, bùa chú nằm ngổn ngang gần đây.

    Sáng nay, vừa trở dậy, tôi lật đật ra ngay đây xem xét, thấy sự kỳ dị này liền niệm chú ngủ lời, bắt ấn yểm trừ lại.

    Không ngờ tà khí xung kích quá mạnh, khiến cho tôi xây xẩm mặt mày, ngã lăn xuống đất. Nếu không được quan lớn đến kịp, cứu chửa cho, thì không biết, sẽ còn bị nằm mê man đến bao giờ nữa?

    Dứt lời, lão thở dài thườn thượt.

    Quan Tri Phủ Vi Văn L. tức giận, nói to như gắt gỏng:

    - Sao lại có sự lạ lùng ấy!

    Đã vậy, xin Tiên sinh lại thử chế thuốc và làm bùa khác đi, rồi đích thân tôi, sẽ tự tay đem chôn xuống đây biết đâu, tôi là mệnh quan của Triều đình, lại không được thổ thần kiêng nể sao! Tà thắng sao được chính mà Tiên Sinh e ngại?

    Thầy địa lý tuy không cho lời nói đó là phải, nhưng vì kính nể quan Phủ, không dám làm phật ý con người hiếu thắng ấy, nên đành phải miển cưỡng gật đầu.

    Cả bọn kéo nhau về nhà viên chánh Tổng nghĩ ngơi.

    Trong lúc chủ nhà hốt hoảng, chạy ngược, chạy suôi lo giết gà, giết heo để thết đãi thầy trò quan Tri Phủ Nước Hai, thì thầy đồ Nghệ đáp bè lên chợ Bắc Quang mua sắm các thứ cần dùng để làm lể trấn yểm lần thứ hai.

    Quá ngọ ngày hôm sau, thầy đồ Ngệ mới về đến Ngòi Xảo, chỉ nghỉ ngơi một lát cho đở mệt, là bắt tay vào việc, đóng chặt cửa buồng nhỏ về phía trái bên Đông của ngôi nhà ngang, mà viên chánh tổng đã dành riêng cho nhà phong thủy, theo lời yêu cầu của lão.

    Thầy trò quan Phủ Vi văn L. kiên nhẩn ngồi chờ ở bên ngoài, không ai dám nói to, đi mạnh, sợ làm kinh động, gây trở ngại cho sự luyện bùa phép của Thầy địa lý.

    Trong thời gian này nhà phong thủy giử gìn trai giới rất cẩn thận, suốt ngày chỉ dùng trái cây và nước mưa những khi đói khát, không uống nước, không uống rượu, không uống thuốc, lại tắm gội sạch sẽ bằng nước lá thơm, rồi đúng giờ Tí đêm sau, mới cùng thầy trò quan Phủ lặng lẻ ra ngoài thung lủng, người nào cũng nhón bước, cố bước nhẹ nhàng để không gây một tiếng động nào khả dỉ làm xáo trộn bầu không khí âm u, lạnh lẻo, hiu quạnh, hoang vu miền sơn cước.

    Nền trời xám ngắt, sương khuya, gió đêm thổi vi vu từng cơn như cắt xé ruột gan da thịt, khiến đoàn người phải nghiến chặt hàm răng, co ro đi sát vào nhau, như muốn truyền sức nóng cho nhau để hy vọng làm giảm bớt phần nào nạn rét buốt!

    Xa xa, từng tiếng gầm rống lanh lảnh của loài dã thú, hòa cùng tiếng vỗ cánh phành phạch của những con đà điểu, càng tạo cho cảnh rừng núi thêm mang dại đến rợn người.

    Ra tới tả ngọn sông Cả, đoàn dạ hành đi tuốt đến gò đất: nơi con Hoả nằm án ngữ ngôi tổ mộ của họ Vi.

    Lòng hố sâu vẫn phun khói cuồn cuộn khét lẹt, sặc sụa mùi diêm tiêu khiến cho Vi Văn L. hắt hơi liên hồi, phải đứng lên phía trên chiều gió và dùng khăn tay bịt kín mồm mũi, trong lúc thầy Địa lý, đặt khăn gói xuống đất, thận trọng mở vuông vải, tay dò lấy ra chiếc tróc long với một bọc bùa chú, lể vật gói kín trong một vuông lụa bạch, mà ngoài thầy Địa lý ra, không hề một ai được biết bên trong chứa đựng những gì.

    Với dáng điệu cực kỳ, nghiêm trang, trịnh trọng, nhà phong thủy dùng quẹt đốt nhang hướng về bốn phương trời, vái lạy, lâm râm khấn vái, hú từng hơi dài trước khi cất tiếng trầm trầm đọc chú, đoạn bắt quyết hô thần, sai âm binh giúp sức diệt trừ con Hỏa.

    Làn khói xanh trong lòng hố sâu, phút chốc tắt ngấm. Những tiếng rì rào như nước chảy xiết ở dưới địa huyệt cũng im bặt!

    Mùi thuốc pháo khó ngửi cũng không còn bốc ra u uất như trước nữa.

    Thầy địa lý cả mừng.

    Xuyên qua ánh than đỏ rực của bó nhang đang ngùn ngụt cháy, quơ qua quơ lại theo những hình vẻ kỳ dị trên không trung, mọi người nhìn thoáng thấy nét mặt hớn hở, đắc ý của nhà phong thủy, rồi nhanh như cắt lão ngửa mặt lên trời thét to một tràng dài những tiến líu lo quái dị, đoạn vung bó nhang vừa đi, vừa khoán bùa quanh một khu vực chùng ngót một sào ruộng, ở ngay phía Đông Nam gò đất, cách cái hố trước chỉ độ năm trượng !
    Khoán xong, lão lại đốt giấy tiền và bùa chú, tung ra từng nắm gạo, đã được manh sẳn theo trong khăn gói mà thầy trò quan Phủ không một ai được biết trước.

    Ba lần làm phép, ba lần hô âm binh, tung gạo, đậu muối và vẫy một thứ nước thoang thoảng mùi trầm quế, đựng trong một cái lọ con rất xinh xắn, nhà phong thủy mới cầm bó nhang đang cháy dở vào đúng giữa khu đất lão vừa khoán bùa, sai một tên lính hầu của Quan Phủ dùng thuổng đào sâu chừng bảy thước, tròn như một cái giếng nhỏ. Thầy địa lý đốt bùa, giấy vàng, giấy tiền, rồi trải một lượt giấy tráng kim xuống đáy hố sâu, bắt quyết đúng bảy lượt, mới đặt gói bùa phép và các thứ lể vật, gói kín trong vuông lụa bạch, phủ lên trên bằng ba lớp gạo, đậu, muối, rồi lại đốt giấy tiền, bùa chú, bắt quyết an thần và rẩy nước phép, rồi mới sai lắp đất kín, san bằng như cũ.
    Xong suôi đâu đó, thì gà rừng vừa gáy rộ trong bản xa xa, báo hiệu trời sắp sáng.

    Nhà phong thủy, xoa hai tay vào nhau thở phào như đã trút hết được một gánh nặng trên vai vui vẻ nói với quan phủ Nước Hai:

    - Thôi thế là tạm yên! Nếu không có gì trỡ ngại,, thì với kỷ thuật tôi vừa sử dụng, nội trong vòng bách nhật, con Hỏa này thế nào cũng phải tan biến hết!

    Bây giờ thì xin mời quan lớn hãy về nghỉ, kẻo trọn đêm đứng ngoài sương lạnh, tôi e quan lớn sẽ không chịu nổi những chướng khí lam sơn của miền núi rừng lạnh lẽo.

    Từ trên cành cây trước mặt, tiếng chim rừng chợt nổi lên thảnh thót: "Bắc Quang, Bắc Mục, Hà Giang nước độc!"

    Sương khuya mỗi lúc một dày thêm, lạnh thêm, làm cho quan Phủ Vi Văn L. không đợi cho nhà phong thủy phải thúc dục đến lần thứ hai, vội bảo nhau thu xếp đồ đạc thuổn, cuốc, lẳng lặng theo con cũ trở về nhà viên Chánh Tổng.

    Thấy mọi người có vẻ mỏi mệt vì phải thức trọn đêm vì sương gió lạnh lùng, chủ nhà vội lấy nước nóng mời quý khách rửa mặt, pha trà quan Phủ điểm tâm, rồi thu xếp giường chiếu để cho mọi người ngả lưng chốc lát cho lại sức.

    Nhưng chỉ mới đến giờ Thìn, đang lúc thầy địa lý say sưa trong giấc ngũ nặng nề, thì chợt thấy có người lay gọi...

    Lão vội mở choàng mắt ra, gấp gáp nhìn quanh, thì thấy một chú linh đồng, bộ hạ thân tín của viên Chánh Tổng hấp tấp nói rằng:

    - Thưa... Thưa Cụ , lạ lắm! Có chuyện lạ lạ lắm nên nhà cháu mới dám làm kinh động cụ, xin cụ thứ tội cho. Số là nhà Cháu vừa ra ngoài rẩy, tình cờ đi qua đồi Tương chợt thấy "ngôi mả quan" (thổ dân vẫn quen gọi ngôi mộ của họ Vi là "ngôi mả quan"- có mùi tanh hôi ghê ghớm, và quái dị hơn nữa, lại có một chút nước gì đỏ ngầu như máu tươi chảy dài từ ngôi mả tới cái gò đất ở đằng sau miếu sơn thần!...

    Thầy địa lý bất giác kêu thoát lên một tiếng thất thanh, mặt tái nhợt, lạnh toát người, cơ hồ muốn ngất lịm đi trước cái tin bất ngờ, quá đột ngột ấy!
    Lão thở dài lẩm bẩm:

    - Thôi thế là hết! Uổng phí công lao vất vả, khổ tử, lao tâm suốt mấy ngày trời quên ăn, bỏ ngủ!
    Vừa nói, lão vừa uể oải nặng nhọc đứng lên, đi lần về phía sập gụ, nơi quan Tri Phủ Nước Hai đang thiêm thiếp giấc nồng.

    Quan Phủ như được linh tính báo động, vùng ngồi dậy, hốt hoảng hỏi vội:

    - Cái gì ? cái gì mà tiên sinh thất sắc thế hử?

    Nhà phong thủy không muốn gieo mối thất vọng nảo nề cho vị quan phụ mẩu nên chợt úp mở trả lời:
    - Cũng chưa biết đích xác ra sao? Lời chú linh đồng mơ hồ lắm, không thể nào tin được? Vậy xin mời quan lớn sửa soạn ra bờ sông xem thử...

    Vi Văn L. không nói gì lẳng lặng sửa soạn y phục, rồi lên ngựa, đi cùng nhà phong thủy, không cần đem theo lính hầu như thường lệ.

    Còn cách xa ngôi mộ tới nửa dậm đường, hai người đã thoáng ngửi thấy một mùi hôi thúi dị kỳ, không giống một thứ un khí nào trong thiên hạ hết!

    Phân người hay phân muôn thú? Xác người hay xác thú vật bị chết chương chết sình?

    Đều không phải! Mùi khó ngửi bốc ra nồng nặc mỗi lúc một nặng nề kỳ quái hơn, theo đà tiến của vó ngựa hai người...

    Không ai bảo ai, họ cùng rút khăn tay đưa lên bịt mũi, rồi giật cương phi nhanh...

    Đến nơi, họ buông cương, nhảy vội xuống đất không buồn nghĩ đến chuyện cột ngựa vào gốc cây, mà hấp tấp bước mau qua một gò đất nhỏ, đến bên ngôi mả cao, to như một trái đồi con...

    - Vừa đúng lúc bấy giờ chợt có tiếng răng răc trên lùm cổ thụ phía Tây Bắc, rồi một cành cây lớn đột nhiên gảy rớt xuống đất, mặc dầu trời không có mưa to gió lớn chi hết.

    Nhà phong thủy giật mình, đi quanh ngôi mả, bất ngờ lại thấy có vết đất bị cầy lên, giống như một luống cày nhỏ, mà kỳ dị hơn nửa, ở hai bên mả thứ cỏ tươi ngày thường vẫn mọc xanh rờn, lại héo hắt hẳn đi, in hệt quang cảnh điêu tàn sau một cơn hỏa hoạn vậy.

    Đồng thời, trên mặt đất cằn cổi đó, còn nhớp nhúa một chất nước nhày nhụa đỏ ngầu như máu tươi, chạy thẳng một vệt dài, ăn thông từ gò đất hình con Hỏa đến mộ phần.

    Mùi hôi thúi chính do từ chất máu ấy phát ra.
    Nhìn kỷ vết máu, thầy địa lý sửng sốt, ngơ ngác một lúc lâu, rồi mới lầm bầm qua nét mặt tái nhợt, hải hùng:

    - Kỳ dị! Đúng đây là dấu vết quái vật từ con Hỏa bò tới ngôi mả, tác hại, nên long mạch mới bị đứt, rớm máu! Hừ, nguy hiểm thiệt!... Quan Phủ họ Vi vội hỏi:

    - Có chuyện gì mà Tiên sinh kinh nghi, lo sọ thế?

    Nhà phong thủy nhìn quan Phủ, ngập ngừng mãi, rồi mới chậm rải trả lời:

    - Thấy các hiện tượng vừa xảy ra, tôi chợt nhớ tới lời ghi chú trong một cuốn cổ văn, khảo cứu về các kiểu đất. Tổ sư môn địa lý đã từng dạy rằng, khi nào có "quái vật xuất hiện bất thường, đoạn long, phạt mộc thị tai ương", thì sớm muộn thế nào cũng sẽ có tin dữ đưa tới!

    - Không thế nào tránh khỏi.

    Quan Phủ có vẻ hoài nghi, hỏi lại:

    - Nhưng đoạn long, phạt mộc thì tôi được thấy, còn quái vật thì đâu?

    Thầy đồ nghệ chỉ vào một vệt máu dài, giải thích:

    - Cứ như mùi uế khí với dấu vết còn ghi lại, thì nhất định từ hôm qua tới nay, phải có một loại quái vật, mà tôi ngỡ là giống "Kim Tâm cổ" một thứ độc trùng kỳ dị, xuất hiện bất ngờ, do con Hoả tạo ra, để tác hại cho gia đình quan lớn... Nếu lời cổ nhân dạy không sai lầm thì rồi đây, thế nào cũng phải có chuyện không hay ...

    Quan Phủ Nước Hai không nói gì, buồn bả đi theo nhà phong thủy qua gò Con Hỏa.

    Gần đến nơi, mọi người cùng đứng khựng lại, vì trước mặt họ, những bùa chú, chai lọ, chỉ ngũ sắc, giấy vàng bạc mới được trấn yểm đêm trước, nay bị vứt tung toé, bừa bải khắp nơi, như có một bàn tay huyền bí quái ác nào vừa đào lên, đem liệng bỏ ở bên gò đất.

    Không hẹn, mà cả Vi Văn L. cùng thầy địa lý đều thở dài ngao ngán.

    Họ đang muốn sai người dọn dẹp các thứ cho gọn ghẻ, thì chợt thấy viên cai lệ Nước Hai, từ đằng xa phi ngựa tới, hốt hoảng đưa trình quan Phủ L. một tấm giấy xanh.

    Đó là bức điện tín của Vi Văn Định gửi cho Vi Văn L. báo tin về vụ người em út, đang làm kỷ sư ở Hải Phòng, không biết vì buồn phiền chuyện gì trong gia đình, đã dùng súng lục tự sát. Vì vậy, Định yêu cầu L. phải xuống ngay Hải Phòng để cùng Định lo liệu việc tống táng đứa em xấu số.
    Vi Văn L. cầm bức điện tín, tay run bần bật, hai mắt đỏ hoe đẩm lệ, thẩn thờ nhìn quanh một vòng, rồi nắm tay thầy đồ Nghệ, nói qua giọng nghẹn ngào:

    - Thôi muôn việc đều không tránh khỏi số trời. Xin tiên sinh thu xếp về Nước Hai nghỉ ngơi, để tôi đi Hải Phòng lo liệu việc nhà.

    Việc trấn yểm con Hỏa không cần nữa.
     
Thread Status:
Not open for further replies.

Chia sẻ, giới thiệu đến bè bạn