Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!

Những mảnh của cuộc đời - Nguyễn Kim Phụng

Chủ đề trong 'Bạn Đọc Sưu Tầm' do MyLe18 khởi đầu 29 tháng Bảy 2015.

  1. MyLe18

    MyLe18 Người thân

    Vietinfo.eu


    Cuốn tự truyện này tôi đã có ý định viết từ lâu xong cứ như mọi sự đều có duyên. Sau khi viết và được trang mạng vietinfo.eu đăng tải bài báo với tiêu đề "30-4, Việt Nam sau 40 năm sau ngày thống nhất“" một bài báo có nhiều phản hồi, khen cũng nhiều mà chê trách, dọa nạt cũng có, tôi quyết định bắt đầu viết tự truyện này. Tôi hy vọng nó sẽ ít nhiều bổ ích cho nhân sinh quan – thế giới quan của bạn đọc và mong nhận được những ý kiến đóng góp chân thành của bạn đọc. "Chỉ có Chúa mới cứu được linh hồn loài người và chỉ có sự thật mới giải phóng được tâm hồn con người..."

    Dành cho những người tôi yêu mến!


    Mấy lời mở đầu

    Ngẫm suy muôn sự tại Trời
    Trời mà đã bắt làm người có thân.
    Bắt phong trần, phải phong trần,
    cho thanh cao mới được phần thanh cao
    Có đâu thiên vị người nào,
    chữ Tài, chữ Mệnh dồi dào cả hai...

    (Truyện Kiều – Nguyễn Du)

    I. Tôi được sinh ra vào tháng 5 năm 1961, năm tương đối hòa bình ở Việt Nam, mặc dù đất nước vẫn đang chia cắt hai miền Nam – Bắc và những năm 1959, 1960, 1961 kinh tế ngay ở miền Bắc cũng tàm tạm, nông nghiệp mấy năm được mùa nên đời sống của nông dân cũng như của cán bộ, công nhân viên nhà nước khá ổn định. Mẹ tôi kể lại, rằng những năm 60, 61, gạo mậu dịch, loại gạo mà cán bộ, công nhân viên nhà nước được mua định lượng theo Sổ Gạo, đây thường là gạo cũ, hay bị ẩm, mốc, nhiều sạn, nhà tôi toàn bán cho người ta làm bún, làm bánh cuốn rồi lấy tiền mua gạo chợ, loại gạo mới do nông dân say xát thóc mới rồi đem bán hay đổi lấy gạo Mậu Dịch, về ăn. Cũng từ hòan cảnh thực tế của những năm này mà để mừng xuân 1961 được nhà thơ Tố Hữu hứng khởi viết:

    "Tôi viết bài thơ xuân,
    ngàn chín trăm sáu mốt,
    cành táo đầu hè rung rinh quả ngọt,
    nắng soi sưong giọt long lanh...
    Chào 61 đỉnh cao muôn trượng
    Ta đứng đây mắt nhìn bốn hướng.
    Trông lại trời Nam, trông tới mai sau
    Trông Bắc, trông Nam, trông cả địa cầu...!"


    Tôi là con trai thứ ba trong nhà, trên là hai ông anh nữa và dưới còn những 5 đứa em! Bố mẹ tôi đã "thuê" ô-sin, thực ra chỉ là thuê bà vú nuôi để chăm sóc ba anh em chúng tôi. Cuộc đời cũng lắm chuyện éo le. Bố tôi (áng chừng là sinh năm 1928-1930 theo lời ông kể chứ đâu có giấy khai sinh như sau này) vốn thuộc thành phần bần cố nông chính hiệu, cái thành phần nòng cốt của Đảng đấy!!! Quê ở Kim Thành, Hải Dương. Khi còn nhỏ, bố tôi đâu có được đi học mà phải đi ở cho một nhà địa chủ trong vùng.

    Chỉ có hai chú tôi, đây là hai em trai cùng cha khác mẹ với bố tôi, còn được đi học. Sau Cách Mạng Tháng 8.1945, bố tôi theo Việt Minh và từ đó đi bộ đội luôn. Tới năm 18 tuổi thì đã được kết nạp Đảng. Ông đã trực tiếp tham gia trận Điện Biên Phủ, có bị thương nhẹ và cũng đã được nhận Huy Chương Chiến Công Hạng Nhất và Huân Chương Chiến Công Hạng Ba. Sau hiệp định đình chiến Giơ–Ne–Vơ, ông cùng đơn vị bộ đội về đóng tại thành Bắc Ninh. Thành cổ Bắc Ninh là công trình kiến trúc nghệ thuật quân sự tiêu biểu của tỉnh Bắc Ninh, được xây dựng từ năm 1805 thời Vua Gia Long, triều Nguyễn, trên địa phận các làng Ðỗ Xá, huyện Võ Giàng, Hòa Ðình (Tiên Du) và làng Yên Xá, huyện Yên Phong (nay thuộc phường Vệ An, thành phố Bắc Ninh), tất cả những làng, xã nói trên nay đều thuộc thành phố Bắc Ninh. Gắn bó mật thiết với đời sống văn hóa của cư dân nơi đây, thành Bắc Ninh từng đi vào câu ca Quan Họ với niềm tự hào "Trong sáu tỉnh người đã chưa tỏ, ngoại năm thành chỉ có Bắc Ninh".

    Tới năm 1957 thì ông chuyển ngành ra làm ở cơ quan thực phẩm huyện Quế Võ, giáp gianh với thị xã Bắc Ninh. Trong thời gian đóng quân tại thành Bắc Ninh, Bố đã quen với Mẹ và đã lấy nhau vào năm 1956. Ngược lại với Bố, Mẹ tôi là con nhà dòng dõi họ Bạch, dòng họ này bất cứ ai là dân Bắc Ninh gốc đều phải biết. Đơn giản vì một điều là bố của mẹ tôi, tức ông ngoại tôi, cho tới năm 1945 làm Lý trưởng, dân Bắc Ninh gốc khi gặp cụ đều chào "ông Lý", còn anh ruột của ông ngoại tôi làm chánh tổng, dân gặp đều chào là "cụ chánh".

    Nhờ gia thế nên các bác, các cô cậu trong nhà ngoại và mẹ tôi đều được đi học từ nhỏ và đã là dân Bắc Ninh thì ngoài biết hát quan họ ra còn buôn bán, kinh doanh rất giỏi. Như vậy, mối nhân duyên của bố – mẹ tôi nghe chừng rất "chênh lệch", Bố thì "chém to kho mặn", ăn nói ngắn gọn nếu như không muốn nói là hơi thô lỗ, cục cằn, nhát gừng, Mẹ thì thanh lịch, ăn nói nhỏ nhẹ, dễ nghe. Chẳng ngạc nhiên gì khi trong lịch sử Việt Nam, các bậc vua – chúa đều tìm về đất Kinh Bắc (mà Bắc Ninh chính là trung tâm của vùng Kinh Bắc này) kén vợ, dù họ đã có vài ba bà vợ trước đây rồi nhưng là người nói tiếng Thanh Hóa, tiếng Nghệ Tĩnh, Quảng Bình hay tiếng vùng Bình Định - Phú Yên (trường hợp ba anh em họ Nguyễn – Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ).

    Thị xã Bắc Ninh là một trấn nhỏ rất thanh bình, nằm cách Hà Nội 30 km về phía bắc. Cho tới tận những năm cuối thập kỷ 80, thị xã Bắc Ninh chỉ vẻn vẹn có 3 phố chính, Tiền An, Vệ An và Ninh Xá, nối vào đó là những phố nhỏ khác như phố Đường 18, phố Nhà Chung (sở dĩ có tên phố Nhà Chung vì đây vốn là đất của giáo hội địa phận Bắc Ninh, nằm bên hông Nhà Thờ Lớn Bắc Ninh), phố Dốc Đặng, (phố) đường 38. Theo lời mẹ tôi kể thì tới tận năm 1954, trước khi có hiệp định đình chiến Giơ–Ne–Vơ, phố Đường 18 là nơi buôn bán sầm uất, chợ Bắc ninh cũng nằm kẹp giữa phố này với phố Nhà Chung, trên phố đường 18 có rất nhiều hiệu vàng nổi tiếng như hiệu vàng Kim Thành, hiệu vàng Đại Tín (khác với nhãn vàng Bảo Tín ở Hà Nội sau này) và mẹ tôi cũng một thời làm nghề buôn bán vàng.

    Tuy nhiên họ ngoại nhà tôi, mặc dù thuộc thành phần "tư sản – địa chủ" nhưng lại là địa chủ tư sản yêu nước và đã tham gia Việt Minh, giúp đỡ Việt minh. Mấy ông bác tôi đều theo cách mạng từ nhỏ và một ông đã làm tới chức thứ trưởng trong chính phủ Phạm Văn Đồng từ những năm 60-70 của thế kỷ trước. Mẹ tôi và các bà bác là dân quan họ gốc, hát rất hay, đã từng kể, rằng có một lần lính Pháp truy đuổi cán bộ Việt Minh qua phố Vệ An và nghe chừng nguy kịch, các bà (tất nhiên hồi đó còn vừa trẻ, vừa xinh) liền xông ra hát quan họ "như thật" và hay tới mức là quan quân Pháp, tất nhiên trong số đó có rất nhiều lính Ta xỏ nhầm giầy Tây, phải dừng lại để xem và nghe. Nhờ thế cán bộ Việt Minh mới chạy thoát vào các làng giáp phía sông Cầu, chay qua làng Vân, làng nấu rượu nổi tiếng, làng Thổ Hà, làng làm đồ gốm, rồi thoát về chiến khu.

    Sinh ra và lớn lên ở Miền Bắc, được cắp sách tới trường, tôi đã được nhồi nhét những tư tưởng Cộng Sản giáo điều từ nhỏ. Lại được Trời phú cho trí thông minh nên đọc gì cũng nhớ, học gì cũng thông. Lịch sử Việt Nam, Trung Quốc hay các nước khác tôi thuộc làu làu. Tôi còn nhớ, rằng ông bác đằng họ ngoại tôi có mấy bộ sách – truyện Tàu rất quý, như Tam Quốc Diễn nNhĩa, Thủy Hử, Đông Chu Liệt Quốc hay Tây Du Ký, ông cho vào bao tải và cất lên xà nhà, vào những năm 60, sách truyện ít lắm, đâu như bây giờ bày bán tràn lan, tôi nằn nì hỏi mượn. Lúc đó tôi mới có 6-7 tuổi đầu nhưng thấy tôi thông minh, ngoan ngõan nên ông bác vẫn cho muợn, tất nhiên là từng quyển một, xem hết, trả lại và nếu giữ sách hẳn hoi thì mới cho mượn tiếp.

    Nói ra sợ bị chê cười là khoe khoang, tự mãn, là kiêu ngạo nhưng tôi đã được bạn bè hay thầy cô dạy cấp 1 cho là thần đồng từ nhỏ. Mới học lớp 2, lớp 3 mà tôi đã giải tóan lớp 4, lớp 5 nhanh như chảo chớp, còn luôn thuộc thành phần "vở sạch, chữ đẹp" và ngay môn văn thì cũng luôn thuộc hàng đỉnh. Có thể nói, cho tới khi học hết lớp 10, tôi luôn luôn là học sinh giỏi, gương mẫu và nếu không làm lớp trưởng thì cũng lớp phó phụ trách học tập của lớp. Những năm học cấp 1, cấp 2 thì còn làm đội trưởng hay đội phó đội Thiếu Niên Tiền Phong, ba năm cấp 3 tôi luôn làm bí thư Chi Đoàn Thanh Niên CS HCM của lớp và là thành viên trong ban bí thư đoàn trường cấp 3 (Quế Võ). Tôi chẳng cần phải học thêm học nếm gì, ngoài 1 tháng học thêm sau khi thi tốt nghiệp cấp 3 và chuẩn bị thi vào đại học và tôi đi học thêm chỉ vì Mẹ tôi cứ nằn nì, bắt tôi phải đi, nhưng thi cử đều trót lọt.

    Thi tốt nghiệp 10 (4 môn) được 37 điểm, một trong hai học sinh có điểm thi tốt nghiệp cao nhất tỉnh Hà Bắc (ngày xưa Bắc Ninh và Bắc Giang gộp lại thành tỉnh Hà Bắc) năm 1978, thì đại học (Toán-Lý-Hóa) được 26,5 điểm, cũng từ 2 tỉnh này luôn (người trên tôi được 27 điểm). Tôi nói những điều này không phải để khoe mà là để nói nên sự thật, rằng đúng thời đó tôi quả là "một con cừu ngoan trong bầy cừu đang được nuôi ở Trại Gia Súc“.
     
  2. MyLe18

    MyLe18 Người thân

    Quê hương ngày hai buổi đến trường,
    nhớ quê hương qua từng trang sách,
    ai bảo chăn trâu là khổ?...


    Tôi sinh tháng năm năm 1961, đến tháng chín năm 1967 tôi bắt đầu đi học lớp 1, so với nhiều bạn là sớm được mấy tháng vì ai sinh sau tháng 9 sẽ phải đi học muộn mất 1 năm. Giờ đây tôi chỉ còn nhớ mang máng, rằng cái lớp 1 của chúng tôi được đặt trong một ngôi chùa nhỏ, nằm ngay trên mặt phố Vệ An, đoạn gần với cổng chính của trường Trung Cấp Thống Kê Bắc Ninh. Đằng trước lớp học có một cây đa, chắc tuổi cũng vài trăm năm vì rễ mẹ, rễ con rủ xuống nhiều tầng, nhiều lớp. Một điều đặc biệt là trong lớp này có tới 3-4 anh chị em họ ngoại nhà tôi cùng học với nhau.

    Năm 1968, để trả đũa lại chiến dịch tết Mậu Thân, Mỹ leo thang chiến tranh ở miền Bắc, máy bay Mỹ bỏ bom nhiều. Hơn nữa, nhà ga Bắc Ninh và cầu Đáp Cầu, bắc qua sông Cầu, lại là hai điểm máy bay hay đánh phá nên bố tôi quyết định cho tôi đi sơ tán về quê, về Kim Thành, Hải Dương, gửi tôi cùng đứa em gái sau tôi về cho ông nội trông.

    Hai anh trai cùng với cậu em kế tiếp ở lại với bố mẹ. Ở nhà với bố mẹ ăn sướng hơn vì dù sao nhà tôi cũng thuộc loại khá giả nhưng về với ông nội thì khổ thật! Nhà quê thời đó, gạo không có đủ mà ăn, phải ăn độn. Ở cái huyện Kim Thành này, đồng chua, nước lợ nên năng suất lúa rất thấp.

    Dân ở đây thời đó toàn phải ăn độn với khoai lang. Đây không phải là khoai lang luộc hay nướng, ngon và hiếm như bây giờ!, mà là khoai lang sắt con chì, giống như người ta sắt khoai tây để làm món khoai tây rán – Hranolky, và phơi khô. Mỗi khi nấu cơm lại cho vào nấu cùng gạo.

    Có khi 1 phần gạo 3, 4 phần khoai. Khi sới ra bát, chỉ thấy khoai là chính còn hạt cơm thì bám trên các thanh khoai lang đó, đôi lúc còn bị những miếng khoai lang hà, ăn đắng ngoét. Mấy bữa đầu tôi còn cố nuốt nhưng sau đó thì cứ gạt khoai ra mà chỉ ăn cơm, đôi lúc nước mắt rưng rưng. Có lẽ tôi là đứa cháu học giỏi nhất trong dòng họ và lại có phần ngoan ngoãn nên ông nội rất thương. Những lúc như thế, ông liền gạt hết phần cơm của mình sang cho cháu ăn, còn mình thì ăn khoai không và trong khi ba bốn đứa cháu khác vẫn phải chịu ăn theo "chế độ chung". Đây là những đứa con của chú ruột tôi, chú Lực, thời gian này đang làm trung đoàn trưởng thuộc sư đoàn tình nguyện quân Việt Nam đóng ở Sầm Nưa – Siêng Khoảng bên Lào, tới năm 1975 đã lên chức đại tá bốn sao và làm sư trưởng (hay là chính ủy?) của sư đoàn quân tình nguyện đó, còn bà Thím, vợ của chú Lực, lúc đó đang làm bí thư chi bộ xã Đại Đức, thuộc huyện Kim Thành.

    Thương con, mẹ tôi thỉnh thoảng làm ruốc thịt, ruốc cá gửi về quê. Ở quê cũng có cái hay. Vào mùa tháng Bảy, tháng Tám, ông tôi đôi lúc ra sông Cái vớt rươi và chúng tôi lại được cải thiện một bữa ngon. Có lúc thì ông bắt đâu về được con ba ba to bự, chắc cũng nặng cả ký.

    Chúng tôi lại xúm xít quanh ông nội xem ông làm thịt ba ba. Ông cho con ba ba cắn vào chiếc đũa rồi kéo chiếc đũa ra. Đặc tính của con ba ba là đã cắn vào cái gì là không có nhả ra và vì thế, khi ông kéo chiếc đũa ra, cái đầu con ba ba cũng từ từ thò ra khỏi chiếc mai bảo vệ.

    Phập, ông liền hạ dao chặt một nhát, cái đầu ba ba liền rời khỏi thân. Ông cầm thân con ba ba và dốc ngược xuống, cho tiết chảy hết ra bát. Ông bắt mỗi đứa cháu uống một chút và nói uống tiết ba ba là để chống bệnh hen xuyễn! Như vậy là tôi học lớp 2 ở quê.

    Tới cuối tháng 8 năm 1969, tình hình chiến sự ở miền Bắc đã dịu đi nên bố mẹ tôi lại quyết định đón tôi về nhà. Giao thông khi đó đâu có như bây giờ, ông tôi và cả nhà chú thím tôi lại nghèo, bà thím có mỗi chiếc xe đạp còng cọc, hình như là chiếc xe Thống Nhất, dùng để đi công tác, nên hai ông cháu phải đi bộ hơn 30 km từ nhà ra ga tàu hỏa, nếu tôi không lầm thì ra ga Phú Xá, gần thị xã Hải Dương.

    Từ đó hai ông cháu lên tàu tới ga Gia Lâm rồi chuyển tàu đi về Bắc Ninh. Từ nhà ga Bắc Ninh về đến nhà tôi, khi đó còn ở dốc Cầu Gỗ, là đoạn đầu của phố Vệ An, chỉ có mấy trăm mét. Số 4 CầuGỗ là khu nhà của ông ngoại tôi – của ông Lý (lý đây là lý trưởng, chứ thú thực là tôi đã không nhớ tên thật của ông nữa).

    Mẹ tôi đã góp tiền vào và mua lại được gian nhà phía trước của khu này, mặt trông ra dốc Cầu Gỗ. Ông nội ở lại đây mới được có mấy ngày thì không may, ban đêm đi giải bị trúng gió độc, đưa lên viện 10 cấp cứu nhưng không được rồi mất. Thật đáng tiếc là những hình ảnh của ông không còn đọng mấy trong tôi do khi đó tôi còn quá nhỏ và thời gian ở với ông cũng không nhiều.

    Lớp 3, lớp 4 tôi lại theo học ở trường cấp 1 Vệ An và luôn đứng nhất nhì trường!

    Như tôi đã nói sơ qua, nhà tôi lúc này ở Cầu Gỗ, trông đối diện với mặt phía bắc của Thành Bắc Ninh. Một điều đáng tiếc rằng cái ao, mà người Bắc Ninh cũ vẫn gọi là Hồ Thành, vốn chạy bao gần hết chu vi thành cổ, nay đã bị lấp gần hết để lấy đất xây nhà. Những năm cấp 1, tôi và bạn bè gắn bó nhiều với nó.

    Chúng tôi, tụi trẻ con choai choai, bao lần tắm ở đây, bắt cá ở đây mà bắt cá kiểu "không giống ai". Hai đứa song song đi trước, cách xa nhau độ 2 – 3 mét. Mỗi đứa cầm một thanh gậy, ở đầu dưới buộc dây chăng ngang. Như thế khi đi, sợi dây sẽ quét xuống mặt bùn ở đáy ao.

    Lũ cá, chủ yếu là cá chép, động vào sợi dây sẽ rúc xuống bùn nhưng tăm cá vẫn sủi lên, đứa thứ ba đi đằng sau, nhìn vào nơi tăm cá sủi lên mà dùng nơm úp chụp vào chỗ đó. Đôi lúc chúng tôi cũng vớ bẫm, kiếm được vài ba chú cá chép nặng mấy lạng, kỷ lục là túm được con tới hơn 2 cân, có ria mép vàng và miệng vàng khè. Cái đáng nói nhất của Hồ Thành chính là Sen – hoa Sen.

    Cứ từ khoảng tháng 3, tháng 4 là lá Sen đã xanh mướt mặt hồ, các nụ hoa đã nhô lên tầng tầng, lớp lớp và tháng 5, tháng 6 hồ đã đỏ rực hoa Sen. Ngày ấy, nhà tôi cách hồ chỉ có 40, 50 mét, mặt trước nhà lại không bị che chắn gì cả, nên khi có gió đông nam thổi, hương thơm của hoa Sen, của lá Sen lại thoang thoảng khắp nhà.

    Tôi đã đi nhiều nơi nhưng vẫn cho rằng cái hồ Sen ngày xưa ở Bắc Ninh là một trong những hồ Sen đẹp nhất nước. Hình như hồ Sen do tổ bô lão quản lý thì phải. Chỉ thấy các cụ chèo thuyền lấy lá Sen, hoa Sen và bát Sen để bán. Lá Sen bán cho người dùng để gói xôi, gói cốm bán, hoa Sen bán cho nhà chùa, cho người đi chùa hay cho người dùng nó để ướp chè mạn, còn bát Sen để lấy hạt Sen.

    Hạt Sen làm gì thì ai mà chẳng biết, làm mứt Sen, nấu chè Sen hay làm một vị thuốc Nam chẳng hạn. Chúng tôi cũng hay ra hồ vặt trộm, trộm bát Sen là chính và lý do là để chén hạt Sen chứ ít khi lấy hoa. Sang mùa Đông, Sen rụng hết lá và thân Sen cũng thối mủn dần đi, phần gốc (rễ), được gọi là ngó Sen, thì nằm sâu dưới bùn. Chúng tôi cũng đôi lúc bơi hồ, ngụp lặn để đào ngó Sen. Ngó Sen dài, trắng tinh, tròn như thanh gậy nhỏ, phân nhiều nhánh, bên trong có nhiều lỗ rỗng và ăn rất mát, rất bùi.

    Mọi người đều biết giá (giá đỗ để ăn chứ không phải giá cả hàng hóa) là gì nhưng các bạn có biết làm giá cầu kỳ thế nào không? Ngày nay có thể làm giá bằng dàn máy móc bán tự động chứ cái thời xa vắng xưa toàn làm bằng tay hết. Công đoạn đầu tiên là đạp đỗ!

    Những ai có máu buồn không thể làm việc này được vì khi lòng bàn chân bạn chạm vào hạt đỗ, mà đây là cả thúng đỗ, bạn sẽ bị buồn đến bủn rủn hết cả người. Thường là 4 – 6 cân đỗ một mẻ được cho vào thúng, bạn cứ dội nước vào và hai chân trần thì cứ liên tục dẫm đạp lên đỗ khoảng nửa tiếng, kỹ thì một giờ đồng hồ. Mục đích là cho hết những chất bẩn bám vào vỏ hạt đỗ và vỏ cũng mỏng đi, mầm dễ ra.

    Sau đó hong cho khô và nhặt đỗ, tức là nhặt bỏ ra ngoài những hạt đỗ nhăn nheo vỏ hay bị đen đầu, loại này chỉ để nấu xôi, nấu chè chứ không làm giá được. Sau đó cứ một nồi, đây là loại nồi đất nung, nồi sành, có dung tích chừng 15 lít – 20 lít, cho vào khoảng 1 kg đỗ đã nhặt sạch, rồi dùng lá tre, đã rửa thật sạch, phủ kín lên trên và dùng que bằng tre, nứa gài chặt lá vào thành nồi.

    Giá ngon là loại giá thân mập, dài chừng hai đốt hay hai đốt rưỡi ngón tay, rễ trắng và ngắn, đầu (ngọn) giá vẫn trắng tinh chứ không được trở thành lá xanh. Để có được điều này cần phải hội tụ đủ 4 điều kiện, đỗ sạch, lá tre sạch, nước dùng để tưới (dân làm giá gọi là nước dùng để đổ giá) phải trong mát, tốt nhất là nước giếng khơi, lấy từ những mạch ngầm sâu dưới lòng đất trên 15 mét và đổ nước đều đặn, đủ và đúng thời gian, mỗi ngày tốt nhất là 4 lần, cách nhau 6 tiếng.

    Chỉ cần một sơ sểnh nhỏ, như dùng nước đục hay nước quá ấm để đổ giá, là cả nồi có thể đi tong – giá bị thối ngay. Ngon nhất là giá 5 ngày tuổi nhưng dân làm giá bán thường để 6 ngày mới dỡ bán. Nếu để 5 ngày, mỗi cân đỗ chỉ cho 4 tới 5 cân giá, để 6 ngày bạn sẽ có tới 6 cân, tính toán kinh tế đã chiến thắng ở đây. Chỉ khi dùng cho gia đình thì bạn mới có loại giá 5 ngày tuổi để ăn.

    Sở dĩ tôi biết rõ như vậy vì chính tôi đã 3-4 năm liền làm cái công việc này giúp mẹ khi tôi đang đi học từ lớp 3 tới lớp 5. Giai đoạn này, mẹ tôi làm giá, một là cung cấp cho các đơn vị bộ đội ở Bắc Ninh, dạng như cung cấp hàng hóa theo hợp đồng bây giờ và một phần là đem ra chợ Bắc Ninh bán. Qua việc làm giá, lòng bàn chân tôi tới nay không hề biết buồn là gì, cho cù thoải mái mà không thể làm tôi buồn bật cười được.

    Năm 1971 là một năm có dấu ấn lớn trong nhà tôi. Hè năm 1971, trận lụt lớn, có thể nói ít có trong lịch sử, đã xảy ra. Trước tiên là đê sông Cầu bị vỡ, nước tràn về Bắc Ninh nhưng chỉ ở một phía, bên phía Tây, vì đường tàu hỏa rất cao, từ Hà Nội đi Lạng Sơn và qua Trung Quốc, chạy xuyên qua giữa thị xã, chắn nước lại. Được khoảng 1 tuần, nước bên Tây chưa kịp rủ đi thì nước bên Đông lại tràn tới.

    Tôi nghe người lớn bàn tán với nhau, rằng nước sông Hồng quá to, chính phủ sợ đê vỡ nước sẽ tràn ngập thủ đô Hà Nội nên "ngầm ra lệnh" phá đê sông Đuống, cho nước đổ về phía tỉnh Hà Bắc. Dòng nước cuộn đỏ phù sa lại ập tới Bắc Ninh, cũng cao luôn ngấp nghé mặt đường tàu, như vậy là hè năm 1971, Bắc Ninh được hưởng cùng một lúc hai loại nước lụt – nước xanh của sông Cầu và nước đỏ của sông Đuống (nhánh của sông Hồng).

    Dân thị xã Bắc Ninh hết chỗ chạy lụt, cũng không thể ở tạm mãi trên mặt đường tàu hỏa được, đành phải "tản cư trốn lụt" và nhà tôi cũng phải chạy lên làng Cổ Mễ, làng ở gần đền thờ Bà chúa kho, ở nhờ. Sau khoảng 1 tháng nước mới rút đi hết. Khi quay trở lại Bắc Ninh, bố mẹ tôi đã quyết định mua nhà ở ngoài phố Tiền An. Năm đó, Bố Mẹ đã phải trả cho chủ nhà 3000 đồng, cộng thêm vào đó là mấy chục lót tay để người khác đang sống "nhờ" ở ngôi nhà đó chuyển đi chỗ khác ở. Ba ngàn đồng thời đó to lắm.

    Bố tôi đi làm ở công ty thực phẩm, lương tháng được có quanh quẩn 40 đồng, cộng thêm vài đồng phụ cấp công tác. Tôi nghĩ là đa phần số tiền kia là của Mẹ tôi dành dụm được từ thời Pháp vì ông anh họ, hơn tôi 5 tuổi, mãi những năm 80 sau này, một lần có nói với tôi "Mẹ mày ngày xưa giàu lắm. Vàng Kim Thành cả xấp". Tôi muốn nói thêm, rằng ngày xưa, vàng lá Kim Thành được dập một lá là 4 chỉ. Một điều trùng hợp là ông anh cả tôi cũng được đặt tên là Kim Thành, không hiểu bố mẹ tôi có hàm ý gì khi đặt tên con....

    Ngôi nhà bố mẹ mới mua nằm ở đoạn giữa phố Tiền An. Để bạn đọc dễ hình dung, nếu đi từ Hà Nội về, cứ theo đường số 1, đường cũ ngày xưa chứ không phải Quốc Lộ 1 mới ngày hôm nay, sau khi đã qua làng Hòa Đình hơn 500 mét là bạn đã vào địa phận thị xã Bắc Ninh và cũng là điểm đầu của phố Ninh Xá (cũ), sau khoảng 1 km nữa là gặp ngách rẽ lên nhà ga tàu hỏa Bắc Ninh, đi tiếp độ 500 mét tới ngã tư, được gọi là Cổng Ô.

    Ở ngã tư này, nếu rẽ phải theo đường số 38 (cũ) sẽ đi tới đồi Ba Huyện, một địa điểm mà nhiều người Việt, dù quê quán ở tận đẩu, tận đâu, nhưng nếu như ngày xưa từng sang Tiệp Khắc, Ba Lan, Đông Đức, Nga... học nghề hay đi thực tập, cũng sẽ biết và nhớ tới nó vì họ đã từng được (phải) tập trung tại đây mấy tháng để học "chính trị" hay để được huấn thị những điều cần thiết trước khi đi nước ngoài.

    Tiếp tục đi thẳng thì chỉ độ 300 mét nữa là tới Cửa Hàng Ăn Uống thị xã Bắc Ninh, cũng nằm bên phải đường. Ở ngã tư Cổng Ô, bạn không được phép rẽ trái vì đoạn này là đường một chiều. Đi thẳng tiếp độ hơn 500 mét là bạn tới trung tâm thị xã, được gọi là Cột Cờ.

    Có lẽ trước năm 1954, đây là quảng trường thành phố Bắc Ninh. Trước năm 1954, Bắc Ninh vốn là thành phố, dân ở đây có điện, có nước máy dùng đàng hoàng. Khi cuộc Toàn Quốc Kháng Chiến nổ ra, Việt Minh đặt bom mìn cho phá hủy cả nhà máy điện lẫn nhà máy nước nên sau năm 1954, dân mất nhờ luôn. Mãi tới năm 1971 – 1972 điện mới được cấp lại và hạn chế cho các phố chính, còn nước máy thì mãi tới những năm cuối thập kỷ 90 mới có!) theo mô - đen Châu Âu vì ở bên phải, đối diện với cột cờ, là Nhà Thờ Lớn Bắc Ninh, đây là một trong những nhà thờ Thiên Chúa to và đẹp loại nhất nhì miền Bắc và Tòa Thánh Bắc Ninh cũng quản một địa hạt (giáo xứ) rất rộng lớn.

    Tôi vẫn nhớ, cứ mỗi lần lễ Giáng Sinh vào dịp 24.12 hay lễ Phục Sinh, dịp cuối tháng Ba đầu tháng Tư, giáo dân ở rất nhiều nơi đổ về đông nghịt thị xã nhỏ này. Trước cửa chính vào nhà thờ là một cái sân rất rộng, tụi trẻ con hay ra đây đá bóng "trộm" vì thực ra đây không phải chỗ để đá bóng.

    Tôi nghĩ, Tòa Thánh Bắc Ninh trước năm 1954 rất giàu và mạnh. Toàn bộ cơ ngơi của trường cấp 2 Ninh Xá, một tòa nhà 3 tầng xây theo kiến trúc Châu Âu và một cái vườn, được gọi là "vườn sinh vật" cho học sinh học thực tế môn sinh vật, nằm sát với bức tường cao khoảng 2,5 mét ngăn trường với khu vực thuộc nhà thờ, có lẽ cũng do chính quyền "ép" nhà Chung phải hiến tặng nhà nước làm trường học.

    Trong khu vực thuộc nhà thờ, ngoài tòa nhà thờ chính ra còn cả khu nhà phụ phía sau, dùng để làm nơi nghỉ ngơi của các Cha hay làm các lớp học kinh thánh hay học hát thánh ca. Vào những ngày thứ Bảy hay sáng Chủ Nhật, ở trường học chúng tôi vẫn nghe được tiếng hát thánh ca vọng sang.

    Từ vị trí trung tâm này, nếu tiếp tục đi thẳng lên phía bắc theo đường 1 thì bắt đầu vào phố Tiền An, nếu rẽ trái, lên dốc Cầu Gỗ và vượt qua đường tàu hỏa thì sang phố Vệ An. Từ điểm Cột Cờ này theo đường 1 đi thẳng chỉ độ 800 mét nữa là tới nhà bố mẹ tôi mới mua, tất nhiên là đã đi qua cả ngã ba, nơi đường 1 cắt với xuất phát điểm của đường 18, dẫn đi Phả Lại, Đông Triều, Quảng Ninh.

    Một đặc điểm của các phố xá ở Bắc Ninh là hai bên vỉa hè thường được trồng cây Bàng, lác đác kèm thêm cây Phượng Vĩ. Chỉ khi đã ra khỏi địa phận phố cổ, tức là những phố có trước 1954, thì hai bên đường mới được trồng cây Xà Cừ, chúng tôi, lũ trẻ con, cứ gọi nôm na nó là cây Báng Súng, hay một vài loại cây khác nữa.

    Không biết khi thiết kế đường phố, các kỹ sư người Pháp có nghiên cứu gì không trong việc cho trồng các loại cây này, nhưng tôi thấy nó hợp lý. Cây Bàng "mùa Đông lá đỏ, mùa Hạ lá xanh" và cây Phượng Vĩ, thân không cao lắm, Bàng thì có tán và lá thì như cái quạt nhỏ, Phượng thì lá tia ra như lông gia cầm và chúng cùng rụng lá về mùa đông.

    Bạn thấy không, mùa Hè oi bức, nóng nực thì ta có tán lá cây che mát, đến mùa Đông ta cần ấm, cần ánh sáng mặt trời thì lá cây lại rụng gần hết, không chắn lại ánh sáng chiếu xuống đường, xuống nhà nữa, quả là hợp lý. Gốc và rễ của cây Bàng hay Phượng Vĩ lại không quá to, không đội gồ lên như rễ cây Xà Cừ nên nó cũng ít khi làm vỉa hè bị đội lên hay làm ảnh hưởng đến móng của các ngôi nhà xây gần chúng.

    Chúng tôi cũng hay trèo cây để vặt quả Bàng, khi chín màu vàng hoặc màu đỏ tía, hay quả Phượng Vĩ để ăn. Nhiều nhà nghèo, không có tiền mua than củi, đến mùa lá Bàng rụng lại đi quét lá đem về để đun nấu. Ngày nay, không biết mấy ông kỹ sư, kiến trúc sư Hà Nội có nghiên cứu gì không trong việc cho chặt cây cổ thụ ở Hà Nội và thay vào đó là cho trồng cây mỡ, hay cũng giống như Đảng ta, cứ làm đi rồi "sai thì sửa"!

    Lớp 5 tôi lại theo Bố xuống ở tại Phố Mới, huyện Quế Võ, nơi bố làm việc, cách thị xã Bắc Ninh 10 km và học ở trường cấp 2 Phượng Mao. Do là một đứa "lạ hoắc", lại là dân "tỉnh" về nên các bạn trong lớp không quen, không biết. Vì thế chức lớp trưởng được học sinh và giáo viên chủ nhiệm giao cho một bạn tên là Phượng (con trai chứ không phải con gái), nhưng sau 1 tháng thì lớp phó phụ trách học tập trao cho tôi. Tôi nhắc đến năm học lớp 5 này vì nó liên quan tới 3 năm học cấp 3 sau này tại trường cấp 3 Quế Võ.

    Lên lớp 6, bố mẹ lại cho tôi về Bắc Ninh, ở cùng với Mẹ và hai năm lớp 6, lớp 7 tôi đi học ở trường cấp 2 Ninh Xá, chính là cái trường liền sát với Nhà Thờ Bắc Ninh như đã nói. Mẹ, sau một trận ốm kéo dài, đã thôi không làm giá bán nữa mà chuyển sang bán giày dép ở Chợ Lớn Bắc Ninh.

    Buổi sáng, cứ khoảng 6 giờ rưỡi sáng, tôi lại dậy và gánh hàng ra chợ, đưa đến "quầy" rồi nếu sớm thì bày hàng luôn, sau đó mẹ sẽ ra bán, rồi vội vàng cắp luôn cặp sách tới trường. Nhiều lúc, mẹ vì bận cho các em nhỏ hơn ăn uống ở nhà, lúc này nhà tôi không còn nuôi bà "Ô Sin" nữa, nên ra muộn, tôi phải nhờ các bà, các cô bán hàng bên cạnh quầy mẹ trông hộ. Cũng may, Chợ Lớn Bắc Ninh cách trường Ninh Xá chỉ có mấy trăm mét, tôi lại đi tắt qua khuông viên sân nhà thờ nên cũng ít khi bị đi học muộn.

    Những năm này tôi như có sẵn "lịch làm việc". Sáng dậy gánh hàng ra chợ và bày hàng – đi học. Hết giờ học về nhà ăn cơm rồi xách túi du lịch, ra chỗ Mẹ lấy tiền, ra bến xe khách (xe bus bây giờ) Bắc Ninh, bến xe cũng nằm ngay gần nhà thờ, sát dốc Cầu Gỗ, mua vé đi Hà Nội, sang chợ Đồng Xuân – Bắc Qua mua hàng giày dép về cho Mẹ bán.

    Ở Hà Nội về, nếu sớm, tức là tầm 5 giờ, 6 giờ chiều thì lại ra chợ trông và bán hàng cho Mẹ để Mẹ về nấu cơm, nếu muộn 7 giờ, 8 giờ tối rồi thì ra thẳng chợ, gánh hàng cho Mẹ về nhà. Thời ấy, xe khách ít và chạy thưa lắm. Tuyến Hà Nội – Bắc Ninh, giờ cao điểm thì cứ 30 phút có 1 chuyến, thường là buổi sáng từ 8 giờ tới 11 giờ và buổi chiều từ 3 giờ tới 5 giờ, trong những thời gian còn lại phải 1 giờ mới có1 chuyến xe chạy.

    Khách đi tuyến này lại rất đông, đặc biệt là những người buôn chuyến, buôn rau quả hay buôn hàng khô, rượu, thịt, gà vịt... mang từ Bắc Ninh sang Hà Nội bán. Nhiều khi quầy bán vé mở cửa, bán vé cho từng chuyến xe một, mới bán được độ 5-6 vé lẻ là người bán vé đã đóng sập ô cửa sổ lại và nói là hết vé mặc dù mỗi xe khách đều bị nhồi nhét tới 50 – 70 người. Hóa ra cái quan hệ "đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn" đã được áp dụng triệt để trong việc "mua vé xe khách này".

    Dù là bạn mua được vé đầu tiên ở phòng bán vé, khi ra đến xe đã thấy cả chục người ngồi trên đó và thường chỉ còn chỗ để đứng chứ ghế ngồi đã hết từ lâu rồi! Như vậy, những người tử tế, đàng hoàng, bị "nhồi sọ" nên cứ tưởng câu chuyện thêu dệt "Lê Nin xếp hàng trong hiệu cắt tóc" là có thật, luôn bị thiệt. Ngay cả khi chen chúc xếp hàng đàng hoàng nhưng khi đến lượt vẫn không mua được vé nên lỡ chuyến xe, có nhiều người đã phải ngủ lại vật vờ qua đêm trên bến xe Bắc Ninh vì không mua nổi vé xe đi Hà Nội.

    Là đứa "sáng dạ" nên tôi đã nhìn thấy ngay mấu chốt vấn đề nằm ở đâu. Vé xe chính thức Hà Nội - Bắc Ninh khi đó là khoảng 5 hào/người thì phải, nếu hôm nào tôi có thời gian xông xênh thì vẫn đi xếp hàng mua vé bình thường, những hôm về học muộn do có nhiều tiết học, nhất là khi tôi đã lên lớp 7, tôi cứ thủng thẳng ra luôn chiếc xe chuẩn bị tới lượt chạy, dù là phụ xe đang bán vé trong phòng bán vé, còn lái xe và một đứa "ăn theo nhà xe", thường thuộc thành phần vô công rỗi nghề và đầu gấu ở bến xe, đang trấn hai cửa lên xe, và rút ra 1 đồng dúi vào tay người soát vé – thế là xong.

    Tôi ung dung lên xe và đương nhiên là có chỗ ngồi đàng hoàng, mặc xác những người đang đánh cãi, chửi nhau vì tranh chỗ xếp hàng ở trong kia! Đây mới là những năm 70 của thế kỷ trước, khi mà tuyệt đại đa số nhân dân Việt Nam vẫn "ngây thơ, trong trắng" và tin tưởng tuyệt đối vào Chủ Nghĩa Xã Hội, Chủ Nghĩa Cộng Sản, kể cả tôi, nhưng học thuyết "đi đâu cứ có BÁC HỒ dẫn đường" luôn được áp dụng sáng tạo và luôn luôn đạt được hiệu quả cao!

    Trong công việc làm "Brigáda" giúp mẹ này cũng có nhiều kỷ niệm khó quên. Thứ nhất, miền Bắc Việt Nam, đi theo đường lối xã hội chủ nghĩa nên việc "ngăn sông, cấm chợ" là chủ trương xuyên xuốt trong các nghị quyết của Đảng. Nhà nước cho thành lập Đội Quản Lý Thị Trường và nhân viên của đội này rất tích cực trong việc "lục soát, kiểm tra hàng hóa" của hành khách đi xe, lập các bốt, trạm chặn đường kiểm tra xe và người đi lại ở các điểm nút giao thông và cũng tích cực làm "bảo kê và ăn hối lộ" cho cánh buôn chuyến.

    Những điều này tôi được chứng kiến tận mắt, chính tai nghe thấy hàng ngày. Bắc Ninh và vùng phụ cận là nơi trù phú, đất đai màu mỡ nên trồng hoa màu, rau tươi như xu hào, cải bắp, súp lơ, xà lách rất thuận lợi, cũng nhờ đó ngành chăn nuôi gia súc, gia cầm cũng phát triển, tất nhiên chỉ là trong các hộ gia đình mà thôi. Chính vì thế đây là một đầu mối cung cấp hoa quả và thịt cá, ngoài ra cả rượu "lậu", rượu làng Vân nổi tiếng cả nước, cho Hà Nội thủ đô.

    Các chuyến xe ca, chạy từ Bắc Ninh, qua những làng như Hòa Đình, làng Ó, làng Nhồi, thị trấn Lim..., tới Từ Sơn, Đình Bảng, qua Yên Viên, Gia Lâm rồi về Bến Nứa (bến xe Long Biên – gọi một cách chính thức). Từ đây, mọi thứ lại được chuyển về chợ Đồng Xuân – Bắc Qua.

    Các chuyến xe khách Bắc Ninh – Hà Nội vì thế lúc nào cũng chất đầy rau, củ, quả hay gà vịt ngan ngỗng, đôi lúc còn thêm mấy chú lợn kêu eng éc, kể cả để bên trong xe hay chất ngất ngưởng trên nóc xe. Khổ nhất và mạo hiểm nhất là cánh buôn rượu lậu. Rượu được chứa trong các túi nilon dán trong săm ô tô cũ và cho vào bao tải để che hay thậm chí là cho vào túi cao su, đây vốn là các túi để đựng nước nóng chườm bụng khi đau bụng, sản xuất tại Liên Xô hay Trung Quốc, rồi quấn vào người, dùng áo mặc ngoài che dấu đi.

    Dù đã phải "nộp tiền bảo kê" đều đặn cho Đội Quản Lý Thị Trường nhưng hàng hóa của họ vẫn bị mất như chơi, chẳng hạn khi có những đợt kiểm tra đột xuất hay có những toán di động mà họ chưa quen, chặn xe lại kiểm tra. Những lúc như vậy, chẳng ai dám nhận hàng cả vì "tiền đằng nào cũng mất rồi, vớ vẩn còn mang vạ vào thân" và thế là tòan bộ hàng hóa rơi vào tay đội kiểm tra. Tất nhiên những hàng hóa này lại chạy cửa sau tới những người tiêu thụ còn tiền thì "đố ai biết về đâu?".
     
  3. MyLe18

    MyLe18 Người thân

    Trong những năm 70 – 80, chợ Đồng Xuân – Bắc Qua là chợ lớn nhất của miền Bắc. Những nhà sản xuất, thường là các hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp hay các hộ gia đình cá thể, thêm vào đó là những người buôn chuyến từ các tỉnh xa, đem hàng tới đây "đổ" cho các sạp bán hàng và những người buôn tỉnh lẻ lại tới đây để "cất hàng" về bán.

    Thôi thì thượng vàng - hạ cám, đủ các kiểu. Phần bên chợ Bắc Qua có khu bán thực phẩm, cá, tôm, cua, gà vịt hay thịt lợn, thịt trâu, thịt bò... Mỗi lần phải đi ngang qua đây, tôi đều bịt mũi vì cái mùi tanh tưởi cứ sộc lên, không thể chịu nổi. Cũng may, tôi chuyên đi mua dép nhựa, dép cao su tại các quầy chuyên về mặt hàng này, chúng thường nằm trong một dãy và cũng sạch sẽ, ít mùi.

    Ông cậu, em ruột mẹ tôi, lại có nhà ở 78 Hàng Giấy, trông đối diện với cửa chính chợ Đồng Xuân nên khi mua xong những thứ cần thiết ở chợ, tôi lại đem sang nhà cậu gửi tạm. Nếu còn dư thời gian, tôi lại "đảo một vòng", một là đi ngó nghiêng phố phường Hà Nội và hai là đi "tăm tia" hàng hóa trong các cửa hàng Bách Hóa Tổng Hợp của thủ đô. Nếu đi bộ thì tôi ngó các phố Hàng Đào, Hàng Ngang, lên tới Bờ Hồ thì vào một cửa hàng Bách Hoa ở đây, nếu xa hơn nữa thì đi tàu điện tới hẳn cửa hàng Bách Hóa Tổng Hợp. Thời đó, hàng hóa ít và khan hiếm lắm.

    Chẳng hạn loại dép nhựa Tiền Phong, do nhà máy nhựa Hải Phòng sản xuất, hay dép nhựa Hà Nội, thường được sản xuất với hai màu – trắng và nâu, rất ít khi có bán tự do trong các cửa hàng nhà nước. Loại màu trắng đắt và được ưa chuộng lắm.

    Đến khi dép đi mòn, đứt hết quai hay vẹt cả đế rồi mà vẫn còn "thừa sức" đem đổi lấy một đôi dép gia công mới toanh. Thậm chí những đôi dép trắng cũ còn dày dặn, nặng cân, khi khách hàng đổi còn được chủ quầy trả thêm tiền. Vì thế, có những khách hàng ma lanh, trước khi đem dép cũ đi đổi, hay bán, cố tình nhét thêm các viên sỏi hay nhét đất sét cho đầy vào các khe, các lỗ dưới đế dép để cân cho nặng hơn.

    Mỗi khi thấy chúng được bán tự do, không cần phải kèm "giấy giới thiệu" mới bán, là tôi xếp hàng mua ngay. Gặp cô bán hàng dễ tính thì mua được 2-3 đôi, gặp cô khó tính thì mỗi lần xếp hàng chỉ mua được 1 đôi. Những lúc như vậy, tôi mua xong rồi lẳng lặng đi ra chỗ khác, xa xa một chút, dấu đôi dép vào bụng rồi quay lại xếp hàng để mua lần 2.

    Những người bán hàng "Pốt" Việt Nam ngày nay tại Séc, mỗi khi có đợt hạ giá ở các cửa hàng siêu thị, như Kaufland hay Interspar... phải vòng đi vòng lại đôi ba lần mua hàng hạ giá vì chúng được bán theo định lượng, cũng là như vậy, nhưng họ đã áp dụng cái know-how này sau tôi tới 30, 40 năm!

    Những lần "trúng quả" thế này, mẹ thường thưởng cho tôi mấy đồng để ăn quà, thế nhưng số tiền này tôi không dùng để ăn tiêu gì mà toàn dùng để mua sách truyện. Chế độ quản lý thị trường hà khắc khiến mọi người làm gì, mua bán gì cũng đều phải "dấu diếm". Ngay loại hàng hóa giày dép cũng vậy.

    Riêng dép cao su – một loại được làm ra từ các lốp xe ô tô cũ đã mòn thì rẻ tiền, loại dép cao su đúc, ta gọi là dép đúc, thì đắt hơn, không bị kiếm tra và đánh thuế, còn bất cứ loại dép nào khác, làm từ nhựa hay da, đều bị "quản lý". Sau khi mua đủ hàng rồi, tôi phải xếp những đôi dép nhựa xuống đáy túi du lịch, sau đó dùng mấy đôi dép cao su ngụy trang trên bề mặt, rồi lại lệ khệ xách túi hàng này ra bến Nứa để lên xe khách về Bắc Ninh.

    Thường thì tôi ra thẳng xe và trả cho phụ lái 1 đồng rưỡi, gấp 3 lần giá vé chính thức. Có một lần, tại bến xe này, tôi đã bị đội Quản Lý Thị Trường túm sống. Họ đưa tôi vào đồn và bắt dỡ túi hàng ra, rồi lập biên bản tạm thu hàng để phạt thuế. Tôi, một đứa trẻ con khi ấy mới 12, 13 tuổi đầu, bị bắt vào đồn là đã sợ lắm rồi. Sau khi bị lập biên bản giữ hàng, họ thả tôi ra và bảo gọi người nhà, tất nhiên là người lớn, đến làm việc.

    Tôi chạy về nhà ông cậu ruột ở Hàng Giấy, khóc hu hu và thổn thức "Cậu ơi, bọn Quản Lý Thị Trường nó bắt hết hàng của cháu rồi!". Thế là ông cậu lại phải dẫn tôi ra đồn nộp thuế rồi tôi lại nhận được hàng trả lại rồi đem về nhà. Ở cái thời bấy giờ, những người buôn bán, được liệt vào thành phần tiểu thương, rất bị coi thường và khinh rẻ trong con mắt xã hội - "cái bọn con buôn ấy mà".

    Tôi cũng rất sợ cái chuyện "đi buôn bị bắt“ này lọt đến tai nhà trường và các bạn cùng lớp. Nếu chuyện này đổ bể, tôi có thể bị nhà trường kỷ luật và sẽ là trò cười trong con mắt bạn bè. Sau lần bị bắt, tôi cương quyết không đi Hà Nội lấy hàng giúp mẹ nữa. Vì thế, mẹ lại phải "nhờ vả" những người buôn chuyến, họ là những người buổi sáng đem hàng sang chợ Đồng Xuân - Bắc Qua bán, khi chiều về thường đi người không, lấy hàng cho mẹ tôi. Tất nhiên, giá cả bị "thêm thắt" và đôi khi hàng hóa không đúng chủng loại mẹ tôi cần nhưng vẫn bị họ "ép phải lấy".

    Nhân khẩu nhà tôi lúc này lên con số 10, hai bố mẹ và 8 anh chị em, bố tôi vẫn làm ở công ty thực phẩm Quế Võ, đồng lương vẫn mấy chục, thời gian này được khoảng 60 đồng kể cả phụ cấp, nên mẹ tôi vất vả lắm mới xoay sở cho đủ ăn, đủ tiêu. Thương mẹ, hai ba tháng sau lần bị bắt, tôi lại tiếp tục lên đường đi buôn!
     
  4. MyLe18

    MyLe18 Người thân

    Mỗi lần ngã là một lần bớt dại,
    Ai nên không mà chẳng dại đôi lần!


    Năm 1974 tôi học lớp 6B và năm 1975 thì là lớp 7B trường cấp II Ninh Xá. Tôi không còn nhớ rõ trong lớp có bao nhiêu bạn học nữa nhưng có mấy người bạn tôi còn lưu lại trong đầu. Người bạn, có thể nói là thân nhất từ nhỏ tới nay, là Trần Quang Trung.

    Trần Xanh là bố của Trung, người mà khi còn sống tôi vẫn gọi là chú Xanh. Chú Xanh là người Hà Tĩnh, sinh năm 1927. Theo lời kể thì chú cũng tham gia cách mạng (Việt Minh) từ nhỏ. Vào năm 1961, chú Xanh cùng một đoàn học sinh sang Liên Xô học (Nguyễn Quang Tiến, Trần Nhẫn, Nguyễn Văn Ninh, Hồ Sĩ Hưu, Lê Thanh Cảnh...) đầu tiên là ở Học Viện Pháo Binh tại Moskva, sau đó chuyển xuống Học Viện Phòng Không Kijev (thủ đô nước Ukrajna bây giờ). Sau khi tốt nghiệp với tấm bằng đỏ, chú về nước vào năm 1964 (thì phải) và cũng vào thời điểm đó, Quân Đội Nhân Dân Việt Nam cho thành lập Bộ Đội Phòng Không, tức bình chủng Phòng Không bây giờ.

    Ngày 7.1.1965, Trung Đoàn Cao Xạ 236 (Đoàn Sông Đà), mà thực chất là đây là trung đoàn tên lửa đầu tiên của QĐNDVN được Bộ Quốc Phòng ra quyết định cho thành lập, tới năm 1965 lập thêm một trung đoàn nữa, 238 (Đoàn Hạ Long). Vào năm 1967, chú Xanh, được cử làm trung đoàn trưởng Trung Đoàn Tên Lữa 236, tới năm 1969 được lên chức tham mưu trưởng Sư Đoàn Phòng Không 361 (do hai trung đoàn kia sáp nhập lại), năm 1971 lên phó tư lệnh Sư Đoàn 361, năm 1979 lên sư đoàn trưởng Sư Đoàn 361 này.

    Từ năm 1982 là phó tư lệnh quân chủng phòng không kiêm cục trưởng Cục Huấn Luyện Nhà Trường thuộc Bộ Quốc Phòng. Năm 1984 được phong hàm thiếu tướng. Nên nhớ, trước năm 1989, số tướng lĩnh của Việt Nam, cả trong quân đội lẫn bên cảnh sát, rất ít vì hồi đó không có chuyện "mua bán chạy chức" như bây giờ, khi mà "giá mua hàm thiếu tướng ngày nay độ 100,000 USD" cho nên cả bên Văn Phòng Chính Phủ lẫn bên Văn Phòng Chủ Tịch Nước "tranh giành nhau" việc phong tướng này!!!. Chú Xanh đã mất năm 1988, 4 năm sau khi tôi tốt nghiệp Đại Học Bách Khoa Praha và về nước vào cuối năm 1984.

    Cô Từ, vợ chú Xanh, là người Bắc Ninh gốc và mẹ tôi biết rất rõ về gia đình bố mẹ cô Từ. Hơn nữa, trước đó cũng có chuyện mối lái để cô Từ lấy cậu Diệp, em ruột mẹ tôi, nhưng không thành vì hôn nhân cũng phải có duyên số. Đây chính là ông cậu có cửa hàng ở 78 Hàng Giấy, Hà Nội. Dòng họ Đỗ, họ của cô Từ, vợ chú Xanh, cũng là một dòng họ nổi tiếng ở vùng Từ Sơn – Đình Bảng, cũng là trấn thuộc Kinh Bắc. Anh trai thứ hai trong nhà cô Từ, Đỗ Hữu Nghĩa, là một trong số mấy thanh thiếu niên đầu tiên được Bác Hồ cứ đi học nước ngoài. Trước là học ở Trung Quốc, và sau năm 1954 thì đi Liên Xô học. Bố của bác Nghĩa, cô Từ cũng đã từng làm quan trong triều đình Bảo Đại.

    Bác Nghĩa đã đeo lon đại tá quân đội từ những năm đầu thập kỷ 60, sau đó do có cuộc "thanh trừng xét lại" trong Đảng Lao Động Việt Nam (đảng Cộng Sản Việt Nam khi ấy mang tên như vậy) và trong quân đội, nhiều cán bộ cao cấp, được đào tạo chính quy từ Liên Xô về bị phe Lê Duẩn, khi đó đang ngồi trên ghế bí thư thứ nhất đảng Lao Động Việt Nam, "đánh tơi bời", nên bác Nghĩa bị giáng chức xuống trung tá và cứ "dậm chân tại chỗ" với cái chức này, thậm chí tôi còn nghe phong thanh, rằng vì cuộc thanh trừng xét lại, bác Nghĩa cả một thời gian dài không được sử dụng, thậm chí còn bị theo dõi, bị "giam lỏng". Cho đến tận cuối những năm 80, bác mới được phục hồi và rồi sau được phong tướng.

    Thời Lê Đức Anh làm chủ tịch nước, nghe đâu bác Nghĩa là cố vấn cho ông chủ tịch nước này, đồng thời thành viên quan trọng trong phái đoàn Việt Nam đàm phán với Trung Quốc về vấn đề biên giới phía Bắc sau khi Việt – Trung bình thường hóa quan hệ với nhau sau cuộc chiến năm 1979. Bác Nghĩa nay cũng đã mất. Có thể nói, đây là hai cán bộ cao cấp Cộng Sản mà tôi đã từng có duyên gặp gỡ, nói chuyện và được họ coi như con cháu trong nhà, là hai người có cả học thức và cả Tâm!

    Gia đình chú Xanh – cô Từ cũng ở trong một ngôi nhà mặt tiền phố Tiền An, chỉ cách nhà tôi có độ 300 mét. Đây là nhà của nhà nước, tầng mặt đất là hiệu thuốc quốc doanh (tức là của nhà nước) mà cô Từ bán ở đó, tầng hai là nơi gia đình sống. Khi học ở Nga về năm 1964, chú Xanh cũng mua được một cái TV đen trắng, hình như nó là TV Saturn hay Nepturn thì phải và nó vẫn còn hoạt động nhờ những cái bóng đèn điện tử to tướng chứ chưa có những con chíp bán dẫn nhỏ như các thế hệ TV sau này và vào những năm 70, nhà nào có TV là oách lắm.

    Cả cái phố Tiền An khi đó chỉ có độ 3-4 nhà có TV. Mỗi khi có phim hay, hoặc là có đá bóng, người trong, người ngoài đến xem lúc nhúc. May là vì nhà chú Xanh ở tầng 2 nên chỉ có người nhà hay con cháu mới lên "xem TV nhờ" được. Tôi còn nhớ mãi giải bóng đá thế giới năm 1974 tổ chức ở Tây Đức. Năm đó, phe XHCN có 4 đội được lọt vào vòng chung kết, khi đó vòng chung kết giải vô địch bóng đá thế giới chỉ có 16 đội, 14 đội qua đấu loại + đội chủ nhà (Tây Đức) và đội đương kim vô địch (Brasil), đó là Bungari, Ba Lan, Đông Đức và Nam Tư. Đội Ba Lan khi đó với các cầu thủ tên tuổi như thủ môn Lubanski, các tiền đạo như Szarmach, Boniek hay hậu vệ Lato, được ví như Con Đại Bàng Trắng. Dân chúng Việt Nam khi ấy cổ vũ (tất nhiên là ngồi cạnh màn hình TV) cho Ba Lan rất nhiều. Một trận đáng lưu ý là trận Đông Đức thắng Tây Đức 1-0 trong trận đấu ở bảng.

    Thế nhưng vào giai đoạn này, lối đá tổng lực của Hà Lan (Cơn Lốc Màu Da Cam, với các danh thủ còn lưu danh đến ngày nay như Johan Cruijft, Rob Renssenbrink hay hai anh em ruột Van de Kerhhof... ) được người xem ủng hộ nhất. Đáng tiếc, họ chỉ giành được huy chương bạc. Huy chương vàng phải để lại cho đội chủ nhà – Tây Đức, với những cầu thủ xuất sắc nhất thế giới bấy giờ, như Franz Beckenbauer (đội trưởng), Gerd Muler, Rummeninger hay thủ môn Maier. Nhờ bạn Trung mà tôi đã được xem bóng đá thế giới từ những năm 74 là vì thế.

    Chú Xanh ở đơn vị phòng không nên chỉ thỉnh thoảng mới về nhà. Khi về nghỉ phép, thường 1 tuần, chú có xe com-măng-ca (xe u–oát của Nga) đưa về. Vào những hôm trời nắng đẹp mùa hè, chú lại cho mấy đứa con (chú Xanh, cô Từ có ba con trai – Trung, Quang và Thảo và cả ba học cùng giỏi) và cả tôi đi xe lên sông Cầu để bơi sông. Nói đến tỉnh Bắc Ninh, ngoài những thứ khác ra, người ta bao giờ cũng nhắc đến dòng sông Cầu thơ mộng. Nó khiến tôi nhớ đến bài thơ - Nhớ con sông quê hương của nhà thơ Tế Hanh:

    Quê hương tôi có con sông xanh biếc
    Nước gương trong soi tóc những hàng tre...


    Sông Cầu, trước đó còn có tên gọi là sông Như Nguyệt (thời Lý, Trần) hay sông Nguyệt Đức hay Vũ Bình. Bắt nguồn từ đỉnh núi Phia Bioóc, thuộc tỉnh Bắc Kạn ngày nay, chảy ngoằn ngòeo qua hai dãy núi Ngân Sơn và Sông Gâm, qua tỉnh Thái Nguyên rồi về tới tỉnh Bắc ninh. Nó là ranh giới giữa hai huyện Việt Yên (thuộc Bắc Giang) và Yên Phong (thuộc Bắc Ninh) rồi khi đến vùng Phả Lại thì hợp lưu với sông Thương (chảy qua tỉnh Bắc Giang) để tạo thành sông Thái Bình. Đoan sông chảy gần thị xã Bắc Ninh có thể nói là đẹp nhất. Nước trong xanh, hiền hòa. Chúng tôi hay đi bơi ở đoạn cách cầu Đáp cầu mất trăm mét về phía thượng lưu.

    Tôi biết bơi giỏi cũng nhờ được chú Xanh dạy mấy chiêu, từ bơi trườn sấp tới bơi ngửa, hay bơi Bướm, bơi ếch. Đại loại là mấy kiểu bơi cơ bản. Những lúc đi tắm sông, tôi lại cùng bạn bè được chứng kiến cảnh những người đi thuyền buồm trên sông vất vả như thế nào. Cái thời ngày xưa, thuyền hay ca nô gắn máy ít lắm. Trên sông người ta hoặc là dùng buồm chạy hay phải gò lưng ra mà kéo thuyền mỗi khi ngược dòng và không có gió thổi. Hai hoặc ba người mình trần nhễ nhại, khoác vào vai những chiếc chão to tướng quàng chéo qua vai, đầu kia được buộc chạy vào cái thuyền, rồi từng bước lê đi theo bờ sông để con thuyền từ từ lội ngược dòng chảy. Nếu không nhìn thấy tận mắt thì ai cũng nghĩ ngồi thuyền buồm, để thuyền cho gió thổi tự bơi, rồi ung dung uống rượu ngắm trăng quả là tuyệt vời phải không?

    Lớp 6 B và sau đó là 7B nơi tôi học là lớp tập trung nhiều học sinh giỏi của trường cấp II Ninh Xá. Nếu tôi không lầm thì trường Ninh Xá khi đó có 4 lớp7 (A, B, C, D), 5 lớp 6 từ A tới E và 6 lớp 5. Sau mỗi năm học, một số học sinh bị đúp, không được cho lên lớp, vì thế số lượng lớp học giảm theo chiếu đi lên trên là vì thế. Đội học sinh giỏi toán của trường (ứng với từng khối, chẳng hạn khối lớp 7, khối lớp 6...) có 8 bạn thì lớp tôi đóng góp tới 5 (Toàn, Yêm, Trung, Phụng và Hồng – toàn con trai). Tuy tôi học văn khá nhưng không muốn tham gia vào đội học sinh giỏi văn của trường. Tôi còn nhớ tới một bạn khác cùng lớp, tên là An, con của một gia đình cán bộ tập kết. Bố của An vốn là cán bộ Việt Minh, ở Đà Nẵng thì phải. Vào năm 1954, sau khi Hiệp Định Giơ-Ne-Vơ được ký kết, theo thỏa thuận, các cán bộ Việt Minh (theo Cộng Sản) được đưa ra miền Bắc, tức là lên phía Bắc của vĩ tuyến 17, gianh giới tạm chia cắt hai miền Nam–Bắc khi ấy. Những người ra bắc được gọi là "cán bộ tập kết". An làm quản ca của lớp và sau ngày 30.4 năm 1975, An lại về miền Nam theo bố mẹ. Với người bạn tên An này tôi có một kỷ niệm khó quên. Vào thời ấy, những loại sách truyện tình "ướt lướt thướt" hay có chút sếch si bị cấm tiệt, ai lưu hành có thể bị công an bắt bỏ tù.

    Một đứa bạn cùng lớp, chẳng hiểu kiếm đâu ra được bản chép tay truyện "Vụ Án Thành Ba Lê (thành Paris)“ với nội dung về một cô gái làm nghề điếm, kiếm tiền nuôi thân. Tất nhiên trong truyện này cũng có những đoạn mô tả thân hình gợi cảm của phụ nữ hay những đoạn làm tình với nhau thế nào. Là một đứa "cứ cái gì có chữ là đọc", tôi cũng cố mượn bản chép tay đó bằng được để đọc chơi! Không ngờ việc này bị An phát hiện và tôi đã phải "hối lộ" An bằng một bữa ăn sáng, tôi không nhớ, đó là cái bánh mì, củ sắn luộc hay một gói xôi, giá 2 hào thì phải. Ở thời kỳ này, một bát phở "có người lái hẳn hoi", giá có 5 hào, để bạn An khỏi đem chuyện này ra mách cô giáo chủ nhiệm - cô Thủy!
     
  5. MyLe18

    MyLe18 Người thân

    Cái thủa ban đầu lưu luyến ấy,
    ngàn năm hồ dễ đã ai quên!


    Không biết có phải do ảnh hưởng của tiểu thuyết hay không mà tới khi học lớp 7 trong tôi đã bắt đầu nảy sinh tình cảm yêu đương. Trong trường cấp II Ninh Xá này tồn tại một người nữa mà tới ngày hôm nay tôi vẫn không thể nào quên được.

    Dương Kiều Hoa!


    Bạn thấy cái tên nghe có kêu, nghe có "sướng tai" không? Kiều Hoa khiến tôi liên tưởng tới một người:

    Vân xem trang trọng khác vời
    Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang,
    Hoa cười, ngọc thốt đoan trang
    Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da.


    Kiều càng sắc sảo mặn mà,
    So bề tài sắc, lại là phần hơn!
    Làn thu thủy, nét xuân sơn,
    Hoa ghen đua thắm, liễu hờn kém xanh.

    Một hai nghiêng nước, nghiêng thành,
    Sắc đành đòi một, tài đành họa hai!

    Cái ác là ở chỗ đây là một nữ sinh đã học giỏi, hát hay lại còn "hơi bị đẹp!". Ai đã từng cắp sách tới trường ở miền Bắc trước đây hẳn còn nhớ, cứ sáng thứ hai hàng tuần là có buổi "chào cờ“ ở sân trường. Thường là thầy giáo hiệu trưởng hoặc hiệu phó lên tổng kết những gì của tuần trước hay tháng trước, sau đó tới "các nhiệm vụ cùng phương hướng sắp tới" và phần kết thúc là một học sinh gương mẫu trong trường lên "hứa quyết tâm" hay lên hát một bài hát.

    Kiều Hoa là người hay được chọn lên đây nhất và tôi còn nhớ mãi bài hát mà cô nữ sinh năm dưới này thường hát - bài "Em mang cơm cho mẹ em đi cày", trong đó có đoạn "Mẹ ơi mẹ nghỉ tay, trời trưa vừa tròn bóng, mẹ ăn cơm cho nóng, mẹ để trâu cho con chăn, ...“. Bài hát vốn được sáng tác trong thời gian chiến tranh Nam – Bắc đang khốc liệt, hầu hết trai tráng miền Bắc đều đi lính (đi bộ đội) hết, ở nhà chỉ còn đàn bà, trẻ em, nên người phụ nữ phải ra đồng cày ruộng, một công việc nặng nhọc mà người đàn ông phải gánh vác, thay cho người chồng hay con trai đang ở chiến trường.

    Cứ mỗi sáng thứ Hai, khi xếp hàng, tôi luôn cố đứng đầu hàng, chí ít cũng thứ hai, thứ ba để nhìn ngắm Kiều Hoa cho rõ. Đâu có phải như thời hiện đại này, muốn có thông tin về người mình "thầm yêu trộm nhớ" chỉ cần bấm vài số telefon hay qua Fây (Facebook) hỏi giao lưu là biết được ngay. Tôi chỉ biết mẹ của Kiều Hoa tên là Trầm và cũng (từng) làm giáo viên. Mẹ tôi nói, rằng nhà cô giáo Trầm cũng thuộc gia đình có tài sản, sau năm 54 cũng đã "hiến cho nhà nước" cả tòa nhà để làm trường học, chỉ giữ lại có một ngôi nhà nhỏ để ở.

    Ngôi nhà này trông chéo qua bên kia đường là Cửa Hàng Bách Hóa Tổng Hợp thị xã Bắc Ninh, và nếu đi xuôi xuống vài chục mét nữa là đến Đồn Công An Bắc Ninh. Nhà Kiều Hoa ở lại gần với nhà cô Thủy, vừa là giáo viên chủ nhiệm lớp 7B chúng tôi, vừa là giáo viên dạy môn văn. Chồng cô Thủy tên là Phú, cũng là giáo viên dạy cấp 1. Gia đình cô Thủy có hai con, một trai, một gái. Cậu con trai học dưới chúng tôi 3 lớp, còn cô em gái, tên là Giang, thì tới 4 hay 5 lớp.

    Thầy Phú rất cao ráo, đẹp trai và cô Thủy cũng rất xinh, ăn nói lại rất nhẹ nhàng. Hai đứa con thầy cô học hành đều giỏi và ngoan ngoãn. Đến khi tôi vào Thanh Xuân học tiếng thì Giang lên lớp 7 thì phải và lúc này cô bé trông đã rất xinh. Có điều, tôi lại coi Giang như một đứa em gái, mặc dù sau này, khi tôi đã tốt nghiệp đại học ở Tiệp Khắc về nước năm 84, thầy Phú vẫn mong là tôi sẽ "để mắt" tới Giang.

    "Dưới mặt biển phẳng lặng là một cơn sóng ngầm cuồn cuộn
    Dưới vẻ bình yên, đầm ấm của một gia đình là một bị kịch cao trào!“


    Năm tôi học lớp 9 ở trường cấp 3 Quế Võ, một hôm tôi được bạn bè báo tin là cô Thủy đã mất, dù lúc này cô mới độ 40 tuổi. Chúng tôi đã cùng nhau đi viếng cô và lúc đó tôi mới biết nguyên nhân cái chết của cô Thủy – Cô đã nhảy xuống giếng tự tử!? Bạn bè kể lại, rằng nhà cô Thủy chuyển chỗ ở, từ cái gian nhà bé tí tì ti (chưa đầy 20 mét vuông) ở thị xã Bắc Ninh, về nhà bố mẹ thầy Phú ở gần Đáp cầu.

    Nhà có cái giếng rất sâu và nước rất trong, rất ngọt vì đây thuộc khu vực sườn đồi, đào thật sâu mới tới mạch nước ngầm. Không hiểu quan hệ vợ chồng giữa thầy Phú – cô Thủy có gì sứt mẻ trầm trọng không mà cô Thủy phải tìm tới cái chết thảm thương như vậy? Chỉ biết rằng mấy năm sau, thầy Phú "tái giá" lấy một người phụ nữ khác, nếu đem so sánh về nhan sắc với cô Thủy thì quả là "một trời – một vực": Người vợ thứ hai của thầy Phú, người thấp lại hơi béo nên tạo ra cảm giác "tròn trùng trục", mặt nhiều tàn nhang hay sẹo để lại do đậu mùa?, mũi to và lúc nào cũng đỏ.

    Nếu xét về nhan sắc thì đúng là "chẳng còn gì để nói". Trong khi đó, thầy Phú, khi đó vẫn trẻ (mới quanh quẩn 40 chứ đâu có nhiều), lại cao to đẹp trai, ăn nói đâu ra đấy. Thế mới biết:

    Chữ Duyên đã buộc vào ai
    Cố tình lẩn tránh – phí hoài thời gian!


    Có lẽ, vẻ đẹp "ẩn" mới là cái đẹp đích thực của con người và phải trải qua các kiểm nghiệm người ta mới hiểu sâu sắc được về nó. Bản thân tôi cũng gặp và tiếp xúc với người vợ hai này của Thầy Phú vài lần và tôi cũng cảm nhận được một điều – cô là người rất tốt.

    Nếu không lầm thì Kiều Hoa có tất cả 3 anh chị nữa, chị cả là Dương Thu Hương, thời còn trẻ đi Thanh Niên Xung Phong. Hai anh trai là Dương (Thanh?) Phong và Dương Hoài Nam. Hoa là con út trong nhà. Dương Thu Hương sau này trở thành một văn sĩ khá nổi tiếng của Việt Nam với các tiểu thuyết – Bên Kia Bờ Ảo Vọng, Những Thiên Đường Mù...

    Anh Phong thì vào học khoa văn Đại Học Tổng Hợp Hà Nội. Anh Nam, có vẻ "lẹt đẹt nhất nhà", đi làm công nhân ở nhà máy thuốc lá Bắc Sơn (sản xuất loại thuốc Sông Cầu mà những người hút thuốc lá ai mà không biết!). Lên cấp 3, Kiều Hoa được chọn đi học chuyên tóan tại trường Đại Học Tổng Hợp Hà Nội, ít khi ở nhà. Chuyện yêu đương ngày xưa nó "phức tạp và khó khăn" lắm lắm! Thứ nhất, ngay với người lớn, yêu nhau cũng còn phải lén lén lút lút, thì thà thì thụt, huống chi là lũ choai choai.

    Nếu thực sự muốn tìm hiểu và tiến tới hôn nhân thì trước tiên phải "báo cáo tổ chức" cái việc này đã. Tổ chức đây là gì? Đó là các phòng tổ chức cán bộ, ban lãnh đạo cơ quan nơi làm việc hay các chi bộ đảng, nếu không dễ bị quy chụp là "quan hệ bất chính", dễ bị kỷ luật và đuổi việc như chơi. Với học sinh thì là kỷ luật đuổi học thẳng cổ ngay. Hồi tôi học lớp 9, một bạn học cùng lớp, tên là Huy, đã bị ban giám hiệu nhà trường đuổi học vì "trót yêu bạn học khác".

    Nghĩ đến việc này tôi lại bật cười vì nhớ một câu chuyện có thật mà "như đùa" sau đây. Chuyện này đã xảy ra vào năm 1979, khi tôi đang học tiếng Séc ở Đại Học Ngoại Ngữ Thanh Xuân, chuẩn bị để đi Tây. Số là có một nữ sinh, học trường Đại Học X ở Hà Nội, bị đưa ra ban giám hiệu của trường để xem xét kỷ luật và cho thôi học vì đã có quan hệ yêu đương bất chính. Một ông thầy dạy trong trường X này, tất nhiên ông ta là đảng viên CSVN (chỉ có đảng viên mới độc ác và vô lương tâm như vậy!) chứ các giáo viên khác, nhất là đã dạy đại học, có tầm nhìn cao hơn và tấm lòng bao dung hơn nhiều!), đã bắt "quả tang" cô sinh viên này cùng với bạn học đang ôm ấp nhau, trong trạng thái "tay người này trong quần người kia". Trước khi ra quyết định kỷ luật, chủ tịch hội đồng có hỏi cô nữ sinh "Em có muốn nói gì trước khi chúng tôi ra quyết định không?".

    Cô nữ sinh mếu máo "Dạ, em chỉ muốn nói một điều, rằng từ trước tới nay, em cứ tưởng cái Ấy là của em chứ không biết nó là của Đoàn (Thanh Niên), của Đảng nên em trót dại tự ý sử dụng!

    Dạ, từ nay em xin cạch luôn và mỗi khi có ý định muốn làm gì, em sẽ báo cáo và xin phép tổ chức trước ạ!!!"

    Sự thật về "tự do" trong cái Trang Trại Gia Súc nó thô thiển, nó trần truồng như vậy đấy. Vậy mà mới có 14, 15 tuổi đầu, trong trái tim tôi đã lởn vởn "một bóng hồng", tôi quả là liều mạng!

    Nhà tôi hai tầng lại ở mặt phố. Trên ban công mẹ và cả tôi nữa trồng rất nhiều loại hoa. Đặc biệt nhất là hoa Quỳnh và hoa Nhài, loại hay dùng để ướp trà. Hai loại hoa này hợp với khí hậu nóng ẩm nên phát triển tốt lắm. Cây hoa Nhài nhà tôi khi rất sum suê và cao gần tới gần 1 mét, còn cây Quỳnh có những năm ra tới cả chục bông hoa một lúc.

    Qua sách vở tôi cũng biết là hoa Quỳnh nở vào ban đêm vào thời điểm quanh quẩn 24 giờ. Hoa nở từ từ, ta có thể "chiêm ngưỡng tận mắt", mùi thơm nhè nhẹ cứ lan tỏa khắp phòng. Có điều hoa đẹp và thơm nhưng lại chóng tàn! Chỉ 1-2 tiếng sau là các cánh hoa đã cụp vào và rũ xuống. Có những lần tan trường, nếu không đi Hà Nội mua hàng cho mẹ, tôi lại cố đi nhanh về nhà, rồi chạy lên ban công để "ngóng" xem Kiều Hoa đã đi qua chưa!

    Năm 1975, đúng vào lúc chúng tôi sắp tốt nghiệp lớp 7 thì miền Nam "được giải phóng“. Như những chú cừu non và ngoan ngoãn được "thưởng" một mớ cỏ tươi, chúng tôi, lũ trẻ con, cũng như người lớn, đều vui mừng khôn xiết. Chúng ta đã đánh cho Mỹ, một siêu cường thế giới, phải "cút", chúng ta đã đánh cho Ngụy nhào. Nước ta từ nay đã liền một giải và không còn bất cứ trở ngại nào trên con đường đưa nước ta tới Thiên Đường Xã Hội Chủ Nghĩa, nơi mọi người "làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu!". Cái không khí tưng bừng phấn khởi, cái niềm "tự hào" của người dân Việt Nam, như của David khi chiến thắng người khổng lồ Goliás, tràn ngập trong từng người.

    Vào dịp Quốc Khánh 2.9 năm 75 ấy có một chuyện khá động trời xảy ra ở cái thị xã Bắc Ninh êm đềm này, đó là chuyện đức cha giám mục của Tòa Thánh Xứ Bắc Ninh bị công an bắt. Thấy mọi người kể là mấy xe co-mang-ca của công an chạy tới nhà thời Bắc Ninh từ sáng sớm và còng tay ngài giám mục đưa đi. Nguyên nhân "nhìn thấy" chính là việc Cha giám mục đã chỉ thị cho con chiên dùng đó, lờ, nơm (những thứ dùng để bắt tôm, cá, cua...) làm các vật trang trí cho chiếc cổng chào, cổng chính vào nhà thờ, nhân dịp Quốc Khánh. Mọi người bàn ra tán vào, cho đó là sự "nhục mạ quốc thể", là bôi bác chế độ, là phản động nên công an mới bắt. Lũ chúng tôi đã làm sao có "trình" để mà xen vào chuyện chính trị, chính em khi đó. Chỉ biết nghe và gật đầu mà thôi.

    Rồi hai năm học lớp 6 lớp 7 cứ thế êm đềm trôi qua. Kết thúc lớp 7, tôi được lên thẳng lớp 8, không cần thi chuyển cấp vì cả 3 năm học cấp 2, điểm trung bình các môn đều trên 8 phẩy, trừ môn văn được 7,5 thì phải.

    Vào một ngày cuối tháng 8 năm 75, chúng tôi được tập trung lại ở trường cấp 2 Ninh Xá để nghe ông hiệu phó trường cấp 3 Hàn Thuyên - Bắc Ninh, thầy Quý, huấn thị về việc thi tuyển sinh vào cấp 3 và công bố danh sách học sinh được nhận thẳng vào lớp 8. Chúng tôi ngồi bệt dưới đất theo hàng lối để nghe. Mấy đứa bạn ngồi phía sau cứ lấy sỏi, cát ném vào người tôi. Nói mãi không được, tôi đứng dậy quay lại phía sau và nói lớn tiếng "chúng mày thôi đi".

    Thật không may, thầy Quý nhìn và nghe thấy thế và tuyên bố luôn là tôi là đứa học sinh "vô kỷ luật", trong giờ phút "nghiêm chỉnh, trọng đại" như vậy mà vẫn đùa nghịch, gây mất trật tự. Tôi trình bày luôn, rằng đó là tại mấy bạn ngồi đằng sau cứ ném sỏi, cát vào người tôi chứ "em có làm gì trêu các bạn đâu". Thay vì nhắc nhở những bạn kia, ông Quý tuyên bố "đuổi học" tôi luôn, dưới hình thức "Trường cấp 3 Hàn Thuyên không nhận loại học sinh vô kỷ luật như tôi".

    Đấy – ngay trong nhà trường đã có sự "mất dân chủ" như vậy, thử hỏi ngoài xã hội còn khiếp đến thế nào. Ngày hôm sau, tôi tự nguyện viết đơn xin chuyển trường và đưa lên thầy Quý. Không ngần ngừ, ông thầy này đã cầm bút ký ngay vào đơn. Lúc đầu, tôi cứ nghĩ là ông thầy này đã "nghĩ lại" về quyết định hôm qua của mình là có hơi quá đáng nên đã ký nhưng đến sau này tôi mới hiểu lý do. Vào năm 1975 đó, trong tỉnh Hà Bắc có ban hành quyết định không cho học sinh chuyển trường khi thi hết cấp 2, ngoại trừ những lý do đặc biệt.

    Việc tôi "tự ý" xin chuyển trường chẳng khác nào tôi "tình nguyện bỏ học!" và ông Thầy Quý – quý hóa này, đã giúp tôi thực hiện ý định bỏ học mà không bị áy náy dằn vò gì trong lương tâm. Tất nhiên mỗi người có một số phận của mình. Bố tôi khi đó có quen biết một số người trên Sở Giáo Dục tỉnh Hà Bắc và vì thế đến phút chót họ đã ký quyết định cho tôi chuyển trường – về học tại trường cấp 3 Quế Võ, nơi bố tôi đang công tác ở cơ quan thực phẩm của huyện này.

    Thế hệ chúng tôi, sinh ra ở miền Bắc, được học hành dưới mái trường "xã hội chủ nghĩa" và luôn bị "bồi đắp" về lý tưởng Cộng Sản, về những cống hiến quên mình, về cách sống "Mình vì mọi người và mọi người vì mình!". Vào những năm 60, 70 thậm chí đến giữa những năm 80, trong tủ sách của nhiều nhà đều có cuốn truyện Thép Đã Tôi Thế Đấy! của nhà văn Nga, Nikolai A.Ostrovsky. Hầu như lũ học sinh choai choai chúng tôi đều cố gắng phấn đấu để được "vào Đoàn" - trở thành đoàn viên Đòan Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh. Bản thân việc "vào đoàn" này cũng đem theo những lợi ích thiết thân, chẳng hạn nếu không phải là đòan viên thì không thể vào học tại các trường của cảnh sát hay quân đội và nói chung cũng khó mà được nhận vào học đại học, dù bạn có học giỏi đến ấy đi chăng nữa. Những người "chăm lo về đội ngũ kế cận của Đảng" luôn nghĩ tới điều này và họ làm đủ mọi cách để "lớp đàn em" phải tuyệt đối trung thành, phải tuyệt đối ngoan ngoãn vâng lời. Tóm lại phải thực sự là "những con cừu đã được tẩy não sạch trơn!".

    Khi chuyển xuống trường cấp 3 Quế Võ học, tôi đã "được" kết nạp Đoàn vào giữa học kỳ 1 vì thành tích học tập cũng như vì đạo đức tốt. Năm lớp 8 Phượng làm lớp trưởng vì Phượng vốn là lớp trưởng của đa số thành viên trong lớp từ những năm học ở trướng cấp 2 Phượng Mao, còn tôi lại mới chuyển từ thị xã Bắc Ninh xuống đây học nên tôi được bầu làm lớp phó phụ trách học tập. Từ lớp 9 tới hết lớp 10, tôi đã được "tín nhiệm" bầu làm lớp trưởng kiêm luôn bí thư chi đoàn lớp. Vào đầu năm học có chút trục trặc vì trường thiếu giáo viên dạy ngoại ngữ. Tháng 9 lớp tôi được dạy tiếng Nga, sang tháng 10 thì lại học tiếng Pháp và tới tháng 11 thì lại chuyển sang học tiếng Anh. Lúc này trường đã được bổ sung một "lứa" giáo viên mới về, trong đó có những thày cô dạy ngoại ngữ (tiếng Anh) và cả dạy văn, toán. Cuối cùng lớp chúng tôi đã học tiếng Anh cả 3 năm cấp 3. Các thầy cô giáo Việt Nam dạy cấp 3 thời trước chủ yếu là học hết 10+3 (thực chất là tương đương cử nhân) chứ ít người có học vị kỹ sư hay master (thạc sĩ) như bây giờ. Chỉ có các giáo viên dạy ngôn ngữ thì hoặc là học Đại Học Sư Phạm Ngoại Ngữ (trường nằm ở mạn Cầu Giấy đi xuống), hoặc là Đại Học Ngoại Ngữ (gọi là trường Ngoại Ngữ Thanh Xuân), và đều học hệ 4 năm thì phải. Lớp tôi do thầy Thành dạy toán, đôi lúc ông thầy này nghỉ (ốm hoặc có việc) thì có một thày khác - Thầy Khoái dạy thay. Chính ông thầy Khoái này đã khiến tôi "mở mắt" về cái gọi là "đạo đức Cộng Sản". Hồi còn chưa lấy vợ, ông thầy tán tỉnh hết cô giáo này tới cô giáo khác và đôi lúc còn chơi trò "bắt cá nhiều tay". Trong số giáo viên mới bổ sung về trường có cô Hương dạy văn, người Hà Nội, vừa xinh như Tây lại vừa dịu dàng, ông thầy Khoái luôn đeo bám theo nhưng có vẻ bị cự tuyệt. Tôi nghĩ, một là cô Hương quá "chán" với các trò mèo của anh bạn đồng nghiệp kia, hai là không ưa gì cái vẻ "vừa nhà quê, vừa gian giảo" của ông Khoái. Do bị cự tuyệt nên ông Khoái này đã tìm mọi cách để làm hại, đã có lần ông ta còn dựng chuyện lên để "vu oan" cho cô giáo Hương này khiến cô tí nữa thì bị kỷ luật. Sau cùng thì do quan hệ "thiếu kỹ thuật", ông Khoái đã làm cho một cô giáo khác, cũng cùng nhóm giáo viên mới về trường, "ễnh bụng ra" và để khỏi bị kỷ luật, ông thầy đành phải cưới cô ấy làm vợ. Chuyện quan hệ, tìm hiểu nhiều người một lúc thì chẳng có gì phải đáng lên án, thế nhưng cái không hay là ở chỗ ông Khoái này lại làm bí thư đoàn trường và còn làm "phó bí thư chi bộ" của trường cấp 3 Quế Võ này, mồm miệng ông ta lúc nào cũng "ra rả" những điều răn dạy về đạo đức trong khi bản thân thì luôn chơi những trò bẩn. Khi tôi học lớp 9 và đã làm lớp trưởng kiêm bí thư chi đoàn của lớp, tôi đã có vài ba lần va chạm với thầy Khoái. Tôi nhớ nhất là có một lần ông thầy này đến lớp tôi để dạy thay cho thầy Thành hai tiết toán. Ông ta giảng cho học sinh về một bài toán và cách giải, sau khi hỏi học sinh có hiểu không, tôi đứng lên nói, rằng thầy làm thế cũng được nhưng hơi dài dòng, em có cách giải ngắn hơn và dễ hiểu hơn rồi lên bảng làm luôn. Tôi cảm tưởng như sau đó mặt ông ta có "xám" lại và cũng từ đó tôi luôn bị ông ta trù úm. Chẳng hạn, điểm tống kết tất cả các môn học của tôi vào năm lớp 9 đều trên 8, thấp nhất là môn thể dục được 8,5 và văn được 8,8, còn các môn khác đều từ 9,5 đến 10 tròn, vậy mà tôi vẫn không được Sở Giáo Dục tỉnh Hà Bắc tặng bằng khen Học Sinh Giỏi Toàn Diện của tỉnh này chỉ vì ông Khoái đã có những "ý kiến không hay về tôi", chẳng hạn nào là tôi tuy học giỏi nhưng kiêu căng, nào là tuy hiểu nhiều nhưng lại không lễ phép...

    Tư tưởng của người Việt Nam bị ảnh hưởng nặng của Nho Giáo, Khổng Giáo với những điều giáo huấn rất "hủ lậu" và nó cản trở, nó kìm hãm sự phát triển tự do trí tuệ con người. Mấy chữ "đạo đức" đã được những kẻ dốt nát nhưng bè phái cơ hội triệt để sử dụng trong việc đối phó và triệt hại những người có tài, có khả năng nhưng lại "ruột để ngoài da", cứ nói toang ra các sự thật một cách không bao che dấu diếm. Nhiều người Việt Nam rất tâm đắc với câu:

    "Lời nói không mất tiền mua,
    lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau“


    Thế nhưng tôi cho rằng chính câu này cực kỳ có hại. Nó khiến cho con người ta trở thành giả dối, lươn lẹo và nó khiến cho xã hội bị bao trùm bởi sự giả tạo. Các cá nhân, nếu lấy câu đó làm phương cách đối nhân xử thế, sẽ luôn phải sống "hai mặt" cùng một lúc – một mặt là với cái TÔI – đúng với bản chất, đúng với ý nghĩ và mong muốn thật của bản thân và hai là với cái VỎ ngoài – để đối chọi, để trưng ra, khoe ra với thế giới bên ngoài. Có khi trong lòng bạn rất gét ai đó hoặc không vừa lòng với điều gì đó nhưng ngoài mặt bạn vẫn cười tươi, vẫn "khen", vẫn vỗ tay phụ họa. Sự giả dối này kéo theo sự dối trá khác và cuối cùng dẫn tới cả một xã hội giả dối, cả một đất nước giả dối, ở nơi đó, những con người ngay thẳng dễ bị cô lập và sẽ không còn chỗ đứng nữa! Xã hội Việt Nam hôm nay đúng là như vậy đó – Trừ trong một số ít gia đình và bạn bè thân thiết ra còn lại chỉ là sự giả tạo bao trùm tất cả, quan hệ người với người trở thành quan hệ giữa thú dữ đi săn với con mồi bị săn mà thôi!

    Trường cấp III Quế Võ được xây dựng trên khu đất ruộng, nằm cách trung tâm Phố Mới độ một cây số. Trong nhưng năm 70 của thế kỷ trước, cả huyện Quế Võ chỉ có đúng một trường cấp 3 này mà thôi và mỗi hệ (lớp 8, lớp 9 lớp 10) đều có 5 -7 lớp. Nếu không lầm thì khối lớp 8 hồi đó có 7 lớp, từ A tới H, tôi học lớp 8D (sau đó là 9D, 10D). Lúc đó, trường chỉ có hai dãy nhà một tầng, được xây gạch và lợp ngói đàng hoàng, cũng được lắp cửa sổ gỗ hẳn hoi, còn hai dãy nữa thì đúng là "nhà tranh, vách đất", các lớp 8 được bố trí học tại 2 dãy này, còn khối 9 và 10 ở hai dãy nhà xây. Có những hôm đang học, trời mưa bão, nước mưa hắt cả vào trong lớp và đôi lúc còn bị tốc mái nhà khiến học sinh phải bỏ dở buổi học. Chỉ có trục đường chính trong trường được rải cấp phối (tức là lấy đất đồi rải lên mặt đường rồi đầm chặt), còn những đoạn đường khác dẫn tới các lớp học vẫn là đường đất, trông chẳng khác gì bờ ruộng lúa cả. Sân chính của trường, nơi sáng thứ hai hàng tuần tập trung chào cờ, có nhiều lần bị ngập nước. Trường lại nằm cạnh làng Hà, nơi có đặt một số ụ pháo cao xạ và có thời gian còn có chỗ để đặt cả tên lửa phòng không. Tôi vẫn nhớ có lần đã chạy ra xem đàon xe quân đội kéo pháo, hay xe chở tên lửa đi qua con đường cắt ngang mặt trường học này, nhưng đó là vào năm 1972, vào thời điểm Mỹ đang ném bom miền Bắc trở lại hay đặc biệt là vào 12 ngày đêm tháng 12.1972, vào thời gian khi tôi học lớp 5 ở trường cấp 2 Phượng Mao. Hiệu trưởng là Thầy Pha, người làng (Mao) Giộc, thuộc xã Phượng Mao. Hiệu phó kiêm bí thư chi bộ đảng là Thầy Đài, người (Mao) Trung. Do bố tôi làm ở công ty thực phẩm huyện nên quen hầu hết các thầy cô giáo ở đây. Có lẽ vì nhu cầu trong thời kỳ đói kém nên các thầy mới "cần phải quen" với những người làm công tác lương thực – thực phẩm thì đúng hơn. Điều này cho thấy, cái dạ dày nó luôn là yếu tố "quyết định" cho con người khi đưa ra các hành động.

    Bố tôi làm việc ở công ty thực phẩm huyện Quế Võ, nằm cách trung tâm Phố Mới độ 500 mét. Chúng tôi nói ngắn gọn là ở Trại Thực Phẩm. Ông được phân cho một gian nhà ngay sát trại thực phẩm, nhà ba gian lợp ngói hẳn hoi và nó vốn thuộc sở hữu của Hợp Tác Xã Lửa Hồng. Đây là một hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp và buôn bán lẻ. Chẳng hạn họ làm cả ra mì sợi, từ bột mì, trước là Trung Quốc, sau này là do Liên Xô viện trợ cho Việt Nam. Khái niệm mì sợi chắc chỉ những người tuổi trên 45 mới hình dung ra. Bột mì được nhào trộn với nước cho đều rồi qua máy "cán" thành sợi nhỏ hơn thân chiếc đũa ăn một chút, được "xoắn" lại với nhau thành từng nắm rồi cho qua lò sấy đốt bằng than hay củi, đó là loại mì đã sấy chín, còn loại để sống nguyên, không qua sấy. Có những mẻ sấy quá lửa, mì vàng ươm hoặc cháy đen thui. Mì được đưa về hệ thống cửa hàng lương thực và bán theo chế độ "Sổ Gạo" cho cán bộ công nhân viên nhà nước. Đây là một trong những loại "lương thực" độn, cùng với sắn khô, khoai lang, ngô hạt hay sau này là hạt bo-bo, bán kèm thay cho gạo mỗi khi miền Bắc mất mùa hay nhà nước không có gạo bán và "xin được viện trợ" từ các nước khác, chủ yếu là từ Trung Quốc hay từ khối các nước xã hội chủ nghĩa trong Hội Đồng Tương Trợ Kinh Tế (khối SEV). Đến năm 1975 thì Hợp Tác Xã Lửa Hồng giải thể, bố tôi được nhận toàn bộ khu nhà và mảnh vườn, một cái ao nhỏ cùng một cái sân khá rộng, tổng diện tích có lẽ đến hơn nghìn mét vuông. Khu này gồm một dãy nhà chính, xây gạch, lợp ngói và cỡ 4 gian, mỗi gian chiều ngang độ 4 - 5 mét, chiều sâu cũng khỏang 4-5 mét nữa. Tiếp theo là dãy nhà ngang, vốn dùng làm kho chứa đồ cho hợp tác xã, nay nhà tôi dùng làm bếp nấu ăn và làm 1 cái chuồng để nuôi lợn. Cái sân, trước đây có lẽ rộng cả trăm mét vuông, mặt nó được đầm bằng bộn vôi trộn, nhà tôi đã cậy lên một phần, chỉ để khoảng 40 m2 sát mặt nhà. Những mảnh sân cậy lên được ba anh em chúng tôi đập nát vụn ra và như vậy cái vườn trồng cây rộng tới gần ngàn mét. Trong vườn này, nhà tôi, mà chủ yếu là ba anh em trai chúng tôi, (trên tôi là hai anh trai, tôi thứ ba trong nhà) trồng mía, chuối (cả hai loại chuối ta và chuối tây), và điểm mấy loại cây quả khác như cây Trứng Gà, cây Hồng Xiêm, cây Vải Thiều hay còn trồng thêm tới 3-4 cây Cau. Vườn có đất vôi nên các loại quả rất to và ngọt. Đặc biệt là cây Trứng Gà, có những quả to như cái bát ăn cơm, ruột vàng ươm, ngọt đậm và quả bở, ăn không khéo có thể bị nghẹn. Hoa quả nhà tôi nhiều đến mức ăn không hết và phải bán ra chợ. Chẳng hạn như chuối, có khi mỗi tuần bán một buồng, mía thì có vụ bán cây, có vụ nhà chặt rồi thuê máy ép mía về ép nước để nấu đường. Trứng gà, Hồng Xiêm hay vải thiều thì nhà tôi thường đem biếu họ hàng và cho các nhà quen chứ không bán. Những năm 76, 77 bố tôi còn "làm việc" được với xã Phượng Mao, họ cho nhà tôi "mượn canh tác" cả mấy sào ruộng và thế là bố tôi cùng ba anh em cũng trồng khoai (khoai Sọ và khoai Lang), cấy lúa ở những thửa ruộng đó. Trong nhà có lẽ ông anh thứ hai là khéo tay nhất trong nghề nông chứ anh cả và tôi thì vụng hơn. Chúng tôi biết cấy lúa, biết tát nước gầu sòng, gầu dai nhưng không biết cày ruộng. Ông anh hai làm được hết, thậm chí còn biết cả thịt lợn nữa! Nhờ có nhà, vườn, ruộng rộng nên có thể nói, nhà tôi lúc nào cũng "thừa ăn", nếu các gia đình khác (thời đó) một tháng có độ dăm ba bữa cơm ăn có thịt, cá, ở nhà tôi ngày nào cũng có và ngay từ những năm này, nhà tôi cũng không hề biết "ăn độn" là gì.

    Nhà tôi rộng, vì lúc này chỉ có bố tôi cùng ba anh em, về sau còn hai đứa em trai nữa về đây ở, ba cô con gái thì ở với mẹ tại Bắc Ninh. Chính vì thế luôn có học sinh của trường cấp 3 Quế Võ, những anh/chị có nhà ở xa trường, tới 15 -20 km, như ở Đông Du, hay các làng gần Phả Lại, tới "trọ học", thực chất là nhà tôi cắt hẳn một gian ra cho ở nhờ, chứ không hề lấy tiền thuê nhà như bây giờ. Do những học sinh này đều học cùng trường với các anh em chúng tôi tại Trường cấp 3 Quế Võ (đầu). Ông anh cả tôi học thuộc loại khá của trường, năm anh tốt nghiệp lớp 10 (1975) thì đúng lúc tôi bước chân vào học lớp 8. Tuy nhiên, từ khi tôi vào trường cấp 3 Quế Võ học, nhất là khi đã hết lớp 8 và tới giữa lớp 9 thì tiếng đồn "học giỏi khét tiếng" về tôi đã vang khắp huyện này, thậm chí đến học sinh của trường cấp 3 Hàn Thuyên (thuộc thị xã Bắc Ninh) cũng biết và kiêng nể. Trong trường có một thày giáo dạy văn, đã từng du học ở Nga về, có lần đã tuyên bố, rằng trong đời chưa cho học sinh nào điểm 10 môn văn nhưng năm lớp 9, là ông thầy dạy văn lớp chúng tôi, đã "tặng" tôi tới mấy điểm 10. Vì thế, điểm trung bình môn văn của tôi vào năm lớp 9 này đạt 8,8 hay 8,9 gì đó. Với tôi, những môn học khác như Lịch Sử, Địa Lý, Sinh Vật và đặc biệt là Ngoại Ngữ (tiếng Anh), chỉ cần học tại lớp cũng đã được điểm 10, đâu có cần phải học thêm. Còn các môn chính khác như Toán, Lý, Hóa Học thì lại đúng sở trường. Cả 7 môn học nói trên năm nào tôi cũng từ 9 rưỡi trở lên hay tròn luôn 10 phẩy! Cùng khóa với tôi tại trường này còn có một bạn khác, tên Quân, học lớp B (8B, 9B và 10B) bố mẹ vốn là cán bộ miền Nam tập kết, nhà ở mạn Đông Du, tới nhà tôi trọ học. Quân cũng thuộc loại học giỏi các môn tự nhiên (nhưng các môn xã hội thì chỉ khá). Chúng tôi thường hay bàn bạc, tranh cãi với nhau về các cách giải các bài toán trong Tuyển Tập Các Bài Toán Chọn Lọc Cấp 3. Trong kỳ thi vào đại học mùa hè 1978, Quân được 17 điểm rưỡi, đủ điểm để vào học Đại Học Bách Khoa Hà Nội. Quân hơn hẳn tôi về thể lực và đá bóng giỏi, còn tôi thiên về tư duy xã hội, vì thế cô giáo dạy chúng tôi môn tiếng Anh, người Hà Nội gốc, có lần nói với tôi "Em có trái tim buồn và một tâm hồn đa cảm!". Năm lớp 9 Quân có dự tuyển phi công khi người của bên quân đội đi các trường cấp 3 tuyển sinh. Quân đã trượt ở vòng ba thì phải và lại quay về cấp 3 Quế Võ học tiếp cho đến lúc tốt nghiệp.
     
  6. MyLe18

    MyLe18 Người thân

    Thanh Xuân – Đầu cầu dẫn tới Thiên Đường!

    Nếu ai cho rằng trường đại học là nơi con người được trang bị đầy đủ kiến thức và kinh nghiệm để có thể đối chọi với cuộc đời sau khi tốt nghiệp thì quả là một sai lầm lớn. Về thực chất, tại các trường đại học, sinh viên được trang bị một số kiến thức cơ bản để có thể tiếp tục nghiên cứu hay làm việc sau này. Điều quan trọng nhất ở đây là sinh viên được "dạy" cách tìm kiếm thông tin, gạn lọc và tiếp nhận thông tin, xử lý thông tin và cuối cùng để rút ra kết quả đem áp dụng vào công việc, vào đời sống. Nếu sinh viên nào không hiểu được điều này thì sẽ chẳng khác gì những con vẹt, được dạy "học thuộc lòng" các kiến thức đã có trong sách vở và dù có "bước ra" được khỏi trường đại học thì họ cũng sẽ "chẳng làm nên trò trống gì".

    Tháng 9 năm 1978 chúng tôi vào trường đại học ngoại ngữ Thanh Xuân học tiếng để chuẩn bị cho công cuộc "du học nước ngoài". Nếu không lầm thì vào năm 78 này, cả nước có hơn 700 học sinh "xuất sắc nhất" được chọn, sau kỳ thi tuyển sinh vào đại học, để cho đi nước ngoài học đại học. Tất nhiên cũng không nên bỏ quên nhiều bạn cùng tuổi, tuy học rất giỏi và kết quả thi cao nhưng do "lý lịch không đạt" nên không được chọn, thậm chí còn không được đi học đại học nữa kia. Cái chính sách tuyển chọn sinh viên hay cán bộ nhà nước "theo lý lịch" này đã khiến Việt Nam mất nhiều người tài và dẫn đến tình trạng "người ngu chỉ huy kẻ khôn, thằng dốt lãnh đạo người giỏi", cái đã được một nhà thơ "bồi bút" viết từ những năm 50-60:

    ...Giặc nước đuổi xong rồi.
    Trời xanh thành tiếng hát
    Điện theo trăng vào phòng ngủ công nhân
    Những kẻ quê mùa đã thành trí thức
    Tăm tối cần lao nay hoá những anh hùng.


    (Chế Lan Viên)

    Trong lý lịch xét tuyển học sinh đại học, những ai trong mục "Thành phần gia đình" ghi là con cái nhà địa chủ/tư sản hay con cái viên chức (lính, sĩ quan, công chức chính quyền Việt Nam Cộng Hòa) đành phải chấp nhận tủi buồn! Thay vì được vào đại học thì họ phải đi bộ đội hay đơn giản là "ở nhà cho khỏe".

    Trường Đại Học Ngoại Ngữ Thanh Xuân nằm trên đường từ trung tâm Hà Nội ra thị xã Hà Đông, vốn là thủ phủ của tỉnh Hà Tây quê lụa cũ, nay đã bị sáp nhập vào Hà Nội để thủ đô nước CHXHCNVN ngày càng to hơn và để những người làm "dự án" xây dựng sẵn đất "làm tiền" hơn. Từ Bờ Hồ ra tới đây, đi theo đường Nguyễn Trãi, khoảng 10 km, từ trường vào Hà Đông độ 2 km nữa. Khi qua ngã tư Sở rồi trước tiên phải qua ngang mặt trường Đại Học Tổng Hợp Hà Nội, rồi tiếp tới trường Đại Học Ngoại Ngữ, cùng nằm bên tay phải, nếu đi tiếp về hướng Hà Đông sẽ tới Trường C500 (Đại Học Cảnh Sát) ở bên đối diện, tiếp nữa lại đến Đại Học Bưu Điện (những năm 78 – 82 vẫn đặt ở đây). Học sinh của trường Đại Học Ngoại Ngữ (cả hệ đào tạo trong nước lẫn lưu học sinh) hay đá bóng giao lưu với học sinh của hai trường đó và trong những trận đáu này hay xả ra cãy cọ, thậm chí đánh đấm lẫn nhau.

    Khóa 1978- 1979 này có khoảng 100 sinh viên được "phân" đi Tiệp Khắc (Liên Bang Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Tiệp Khắc) và chia làm 4 lớp, từ TK1 tới TK4. Tôi được phân về lớp TK1, lớp TK3 là các bạn đi học Đại Học Quân Sự (Brno) còn TK4 học tiếng Sloven để đi học ở Slovakia. Lớp TK1 chúng tôi có 23 sinh viên, có đủ thành phần khắp ba miền Bắc – Trung – Nam. Có anh lớp trưởng (Bình) là người Nghệ Tĩnh, là đảng viên và đã đi bộ đội về, có bạn thì học chuyên tóan Thanh Hóa (Công Nặc!), và có hai bạn nữ, chúng tôi quen gọi là "mì chính canh" - Chi người Đà Nẵng, và Vân Anh người Hà Nội, có hai bạn người Sài Gòn (Thảo và Phong), có mấy bạn từ Hải Phòng, Quảng Ninh, Hải Dương tôi thì Bắc Ninh, số còn lại là người Hà Nội, đặc biệt riêng trường cấp 3 Lý Thường Kiệt Hà Nội đã "cử" tới 3 người vào lớp này (Phụng Loe và Tú G cùng lớp và Long H nữa!) Mỗi lớp được "cấp" 1 phòng để ở. Như vậy lớp tôi với 23 sinh viên ở trong 1 phòng rộng khoảng 30 hay 40 m2, tất nhiên là phải ngủ giường tầng và chế độ sinh họat, học hành của chúng tôi cũng khá giống "bộ đội". Sáng, lớp trưởng thúc dậy tập thể dục rồi sau đó rửa mặt đánh răng và lên lớp học. Nhà ăn sinh viên đã được sửa nhưng vẫn mang bóng dáng ngày trước.

    Chế độ ăn uống với lưu học sinh tại Đại Học Ngoại Ngữ Thanh Xuân này có khá hơn so với chế độ của sinh viên trong nước. Ngày ăn hai bữa trưa và tối + 1 bánh mì để ăn sáng. Bữa ăn thì cơm cũng tạm đủ no, chỉ tới giai đoạn sau tháng 2.1979 có kém đi và lác đác có bữa phải ăn bo bo độn. Bữa ăn chính có cơm + canh toàn quốc, vẫn có "váng mỡ" trên mặt chậu canh, rau xào hay luộc, chủ yếu là rau muống và cũng có thịt hay cá kèm theo, tất nhiên chỉ gọi là có.

    Tôi gọi là chậu canh vì chúng tôi được chia cơm theo mâm 5 người 1 bàn và canh được "múc cho vào chậu", chậu nhôm hay nhựa gì đó, tôi không nhớ rõ, còn bát đũa ăn thì mỗi sinh viên tự mang theo. Ăn xong thì tự rửa và mang về phòng mình. Với sinh viên, đang tuổi ăn tuổi lớn, hầu như sau khi ăn độ 3 giờ là thấy đói (vì thiếu chất là chính!) chính vì thế, mặc dù chúng tôi được phát 1 cái bánh mì vào bữa ăn tối, để cho bữa sáng hôm sau, đã số đã chén hết luôn vào buổi tối cùng ngày.

    Chẳng biết vì số hên hay không mà tôi lại hay ngồi cùng mâm với hai "mì chính cánh" nên nhưng miếng thị mỡ thường được "nhường lại". Sau bữa ăn trưa là tự học ở phòng hay chơi thì tùy. Sau bữa tối lại về phòng học và đến giờ thì bị "nhắc tắt đèn" để đi ngủ – không gây ảnh hưởng chung. Mấy bạn người Hà Nội mới có điều kiện "trốn về nhà" ngủ hoặc ăn, nhưng buổi sáng lại phải vào sớm nếu không có thể bị kỷ luật ngay.

    Bản thân chúng tôi cũng rất sợ bị kỷ luật vì có thể sẽ làm "giấc mơ đi Tây" tan theo mây khói. Chúng tôi học từ thứ Hai tới hết trưa ngày thứ Bảy, đến chiều hay tối thứ Bảy, sau giờ học và ăn trưa, nhiều bạn mới "về thăm nhà", có thể bỏ luôn cả bữa tối tại nhà ăn sinh viên. Thường các sinh viên ở tỉnh xa chỉ về nhà tháng độ 1 lần, những người ở Đà Nẵng có khi cả học kỳ mới về 1 lần, chưa nói đến dân Sài Gòn.

    Cứ tối Chủ Nhật, ở bến xe Bus Bờ Hồ đi Hà Đông, sinh viên đông như kiến cỏ vì trên tuyến này có sinh viên của tới 5-6 trường đại học đi. Nhiều bạn đành đi tàu điện. Hồi đó vẫn còn tuyến tàu điện Bờ Hồ – Hà Đông và chạy ngang qua các trường đại học nói trên. Thôi thì cảnh chen chúc nhau lên xe thật là khủng khiếp.

    Thời đó Việt Nam cũng được Tiệp Khắc viện trợ cho xe bus Karosa, tương đối to, chứ xe Hải Âu (của Nga thì quá bé) và tuyến đường này dùng xe của Tiệp. Mỗi xe có lẽ nhồi nhét tới trên trăm người, đứng chen chúc đến mức gần ngạt thở, nhiều người bán cả trên thành xe, trên các cửa xe. Các bạn trẻ ngày nay không thể hình dung ra được cái cảnh chen chúc lên xe bus nó khổ thế nào.

    Tại bến gốc, lúc này đặt ở phố Phan Chu Trinh, (bến đầu mối) hàng ngàn sinh viên đứng chờ xe tràn cả ra mặt đường. Chiếc xe đến lượt chạy còn không dám dừng hẳn lại cho người lên mà cứ "từ từ chạy", ai lên được xe thì lên! Thôi thì la hét ầm ầm, dẫm đạp lên nhau kêu chí chóe. Đấy, thế hệ"chủ nhân tương lai của đất nước" đã sống như vậy đó.

    Trong lớp, tôi thân với Tuấn, người Hải Dương, vốn học chuyên toán sư phạm I Hà Nội. 3 năm sống tập thể đã cho Tuấn nhiều kinh nghiệm. Chẳng hạn bạn có cả xoong nồi để nấu ăn tại phòng ở, có thể "chế tạo tàu ngầm" đun nước sôi (chẻ 3 chiếc đũa rồi kẹp lưỡi Panh-sơ-lam (dao cạo râu) tạo nên hai cực, rồi nối dây điện – thiết bị điện để đun nước đơn giản, công suất cao (chắc cũng phải vài trăm óat!), đầu kia thì hai sợi lòng thòng chõe ra, cạo vỏ nhựa đi rồi "cắm direct" vào ổ điện.

    Tất nhiên vào buổi tối thì nó gây chập điện và làm mất điện một dãy nhà hay cả trường luôn. Vì thế trường đã ra lệnh "cấm sinh viên dùng tàu ngầm đun nước". Thế nhưng cấm cũng chẳng ăn thua, sinh viên vẫn cứ làm, cứ dùng. Khi Tuấn hay tôi về "thăm nhà" và quay lại trường thì lại nhận được "viện trợ của gia đình", thường là gạo và ít tiền tiêu.

    Gạo để nấu cơm vào những ngày Chủ Nhật chúng tôi ở lại trường không về nhà, tiền thì để ăn sáng hay mua thức ăn vào những ngày ở lại đó. Tôi với Tuấn lại chung 1 chiếc giường tầng. Lúc bí, không có củi nấu cơm, chúng tôi quyết định "hy sinh" một tấm giạt giường – tầng trên, để làm củi đun nấu. Sau lần đó, hai đứa đành phải "ôm nhau ngủ" trên ngăn giường ở tầng 1, có lẽ cũng ngủ chung với nhau tới 3-4 tháng, may mà chẳng có đứa nào "có bầu!". Tuấn, khi sang Séc, được phân học hóa tại trường Hóa – Pardubice.

    Tốt nghiệp bằng đỏ. Về nước cũng đi làm ở cơ quan nào đó mấy năm và được Mỹ mời đích danh đi làm tiến sĩ toán. Hiện nay không hiểu bạn mình đang làm việc cho ai và ở đâu, lần cuối gặp là năm 2008 thì phải. Tuấn ít sinh hoạt với Câu Lạc Bộ Praha tại Hà Nội nên việc liên lạc với bạn có vẻ khó khăn hơn.

    Từ cổng trường Đại Học Ngoại Ngữ Thanh Xuân ra đến đường Nguyễn Trãi khoảng 1-2 trăm mét. Sát đường nhựa có mấy cái quán bán phỏ, bán nước và bán cái gì nữa tôi không còn nhớ. Các quán này nằm sát ngay đường tàu điện tuyến Bờ Hồ – Hà Đông và đường nhựa (đường Nguyễn Trãi). Dù sao tôi cũng thuộc thành phần "gia đình có điều kiện" nên mỗi tuần về nhà, bố mẹ lại dúi cho ít tiền nên mỗi tuần cũng đủ ăn phỏ 2-3 lần, mỗi bát phở thường năm 78 – 79 có giá 2 hay 3 đồng, phở đặc biệt thì giá 4-5 đồng. Chén nước chè khi đó 1 hào và thanh kẹo lạc 2 hào thì phải.

    Năm 1979 để lại trong lứa chúng tôi nhiều kỷ niệm khó quên. Mượn cái cớ "dạy cho tiểu bá Việt Nam một bài học", ngày 17.2.1979 vào khỏang 5 giờ sáng, Trung Quốc chính thức tấn công Việt Nam ở toàn bộ biên giới phía bắc. Trong thực tế, quan hệ giữa hai nước "cùng mác Cộng Sản" Việt Nam – Trung Quốc đã căng thẳng từ lâu. Ngay từ sau ngày 30.4.1975, tức là ngày Việt Nam thống nhất, Trung Quốc đã sử dụng bè lũ tay sai Mao-ít của mình tại Cam Bốt liên tục tấn công ở biên giới tây nam Việt Nam và bè lũ Mao-ít này cũng đã gây ra nạn diệt chủng ở Cam Bốt, giết hại tới 3 triệu "đồng bào" của mình, đặc biệt là giới trí thức.

    Để tự bảo vệ và cũng là "bảo vệ quyền lợi" của mình, Việt Nam đã "giúp" thành lập Mặt Trận Giải Phóng Cam Bốt và năm 1978 đã đưa quân sang quét sạch bè lũ Polpot, lập lên chính phủ thân Việt Nam tại nước này. Cũng trong năm 1978 tại Việt Nam xảy ra cái gọi là "nạn kiều". Những người Việt gốc Hoa, không hiểu do lấy tin từ đâu, đã lần lượt dời khỏi Việt Nam vì sợ hãi. Có cả tin đồn, rằng an ninh Việt Nam giả dạng tới từng nhà Hoa kiều khuyên họ rời khỏi Việt Nam càng sớm càng tốt kẻo thiệt thân, có cả tin đồn rằng người của Trung Cộng cố tình phao tin gây hoang mang để Hoa kiều lũ lượt quay về chính quốc, nhằm tạo ra cớ đánh Việt Nam.

    Có lẽ cả hai cái tin đều có phần sự thật. Tuy Việt Nam lờ mờ hiểu, rằng Trung Quốc sẽ đánh mình nhưng giới lãnh đạo Việt Nam vẫn bị bất ngờ khi Trung Quốc nổ súng tấn công. Một bằng chứng nhỏ để chứng minh cho cái khẳng định này là đám cưới của con trai Lê Duẩn, cố tổng bí thư đảng Cộng Sản Viêt Nam, được tổ chức đúng vào ngày 17.2 này, nếu biết trước có lẽ ông Lê Duẩn đã cho hoãn lại. Bà bác tôi sống ở Thị xã Lạng Sơn kể lại, rằng thậm chí xe tăng Tàu chạy vào tới giữa thị xã mà dân chúng vẫn cứ tưởng là xe tăng Việt Nam vì chúng cũng dùng cờ đỏ cắm trên nóc xe tăng!

    Qua sự việc này chúng ta thấy, những tên trùm Cộng Sản, về thực chất, chỉ là những tên độc tài khát máu, những lý luận trên miệng lưỡi chỉ là giả tạo còn khi hành động, chúng bất chấp luân thường đạo lý, bất chấp cả các công ước quốc tế, hiệp định quốc tế. Việc "thằng anh Cộng Sản tàu" đem hàng chục vạn quân đánh "thằng em Cộng Sản Việt Nam" là một minh chứng hùng hồn, rằng cái mớ lý thuyết của chủ nghĩa Mác-Lê-Mao chỉ là một món hổ lốn, ai muốn áp dụng kiểu gì cũng được, miễn là đem lại một cái lợi nào đó cho cá nhân những kẻ đang cầm quyền. Phải nói thực, rằng tâm lý gét người Tàu, căm thù giặc Tàu đã ăn sâu vào tâm khảm của người Việt Nam từ thế hệ này sang thế hệ khác.

    Chúng tôi, khi đó đang ngồi học tại Đại Học Ngoại Ngữ Thanh Xuân, cũng giống như tất cả mọi tầng lớp người Việt Nam khi đó, trong lòng đều bừng bừng khí thế "sát thát!". Ban giám hiệu đề nghị sinh viên viết đơn "tình nguyện nhập ngũ", tuy là việc viết đơn là "tự giác" nhưng tôi cho rằng nếu sinh viên nào không viết sẽ bị cho thôi học luôn! Tất nhiên là chúng tôi đa số đều thực sự tự nguyện viết đơn, thậm chí có bạn còn lấy máu để viết đơn nữa kia và đây là bạn H, cũng trong nhóm sinh viên đi Tiệp Khắc, sau này cũng học khoa máy của trường Đại Học Bách Khoa Praha ČVUT cùng tôi: Bức thư tình nguyện nhập ngũ viết bằng máu này đã được đọc công khai trong buổi tập trung toàn trường Đại Học Ngoại Ngữ (kể cả lưu học sinh lẫn sinh viên của hệ đào tạo trong nước).

    Trong tâm khảm chúng tôi còn vang mãi bài ca "Tiếng súng đã vang trên bầu trời biên giới, gọi tòan dân ta vào cuộc chiến đấu mới, quân xâm lược bành trướng dã man, đã dày xéo mảnh đất quê hương, lửa đã cháy và máu đã đổ, trên khắp dải biên cương..." hay bài hát Chiều Dài Biên Giới, đã được ông thầy dạy tiếng Séc của chúng tôi là Maxmilian Konečný chuyển sang lời tiếng Séc, mà tôi vẫn còn thuộc mấy câu đầu:

    Vietnam je náš,
    Vietnamcům je ta zem tisíce let dějin,
    na věčná léta,
    my zde budem jejím pánem!

    (Tạm dịch: Việt Nam là của chúng ta, đất nước này thuộc về người Việt, đất nước của hàng ngàn năm lịch sử và chúng ta sẽ mãi mãi là chủ nhân nơi này). Cũng thời gian này, chủ tịch nước đã ra lệnh "tổng động viên", tất cả thanh niên trai tráng trên 18 tuổi, kể cả bộ đội đã phục viên, lại nhập ngũ. Rất may là sinh viên các trường đại học tạm thời chưa "bị" gọi lên đường, vì thế lớp sinh viên ưu tú chúng tôi không "được" cầm súng bảo vệ tổ quốc là lẽ đương nhiên!

    Sau khi Trung Quốc, không nuốt được Việt Nam trong trận chiến biên giới phía bắc vì nhiều lý do, chúng đành phải đơn phương tuyên bố rút quân. Có điều là sau khi Việt Nam đem quân sang Cam Bốt, dựng lên ở đây một chính quyền, mà nhiều người gọi là "bù nhìn", Việt Nam cũng bị cô lập trên trường thế giới: Trung Quốc lẽ dĩ nhiên là cắt bỏ mọi khoản viện trợ, dù là tự nguyện hay theo các cam kết đã thỏa thuận và thêm vào đó là phong tỏa đường sắt nối từ Nga qua Trung Quốc tới Việt Nam.

    Vì vậy, hàng hóa hay chuyên gia của khối XHCN, đứng đầu là Liên Xô, cùng với các nước Đông Âu khác, chỉ được đưa sang VN qua đường hàng không hoặc đường biển. Đó cũng là lý do tại sao lứa du học sinh đầu tiên đi máy bay sang Châu Âu rơi đúng vào năm chúng tôi. Do sa lầy ở Cam Bốt và các tổn thất ở phía bắc, Việt Nam rơi vào tình hình rất khó khăn về kinh tế, thiếu lương thực và các nhu yếu phẩm, hàng tiêu dùng trầm trọng. Từ tháng 3.1979, chúng tôi đã bắt đầu phải ăn hạt bo bo thường xuyên hơn hay các khẩu phần cũng bị cắt giảm bớt.

    Một sự kiện cũng đáng nói ở đây là chúng tôi cũng được huy động đi lao động XHCN một tuần – đi đào và nạo vét sông Tô Lịch (Hà Nội). Nghe đâu Thụy Điển cho tiền để tiến hành cải tạo con sông Tô Lịch. Chúng tôi không biết trị giá viện trợ bao nhiêu, nhưng chắc rằng chúng đã bị chính phủ Việt Nam xà xẻo nhiều để chuyển sang cho cho quốc phòng - an ninh. Nghe đâu mỗi người đi làm việc nạo vét sông Tô này đáng lẽ được tiền và các khoản bồi dưỡng như đường sữa thịt, do phía Thụy Điển chi tiền, nhưng trong thực tế, bọn sinh viên chúng tôi chẳng được cái gì ngoài bữa ăn hàng ngày ra.

    Hồi đó, việc nạo vét sông toàn làm bằng tay hết. Cả hàng người nối nhau xếp thành một hàng dọc, từ lòng sông lên tới bờ. Người dưới lòng sông dùng "kéo" cắt đất thành khối rồi người bốc lên, chuyền tay nhau để đưa tới chỗ để đắp vào bờ. Đáng lẽ đất đắp bờ phải được lèn chặt xuống, không để các lỗ hổng trong thành bờ để khỏi bị sạt lở sau này mới phải. Ngược lại người phụ trách chúng tôi lại "chỉ dẫn" cho sinh viên đắp các viên đất to này cho khéo để nhanh "hoàn thành kế hoạch" đắp được 100 mét bờ chẳng hạn.

    Từ đó ta đã thấy rõ, rằng sự giả dối đã "ăn sâu" vào con người Việt Nam từ những năm 70 của thế kỷ trước, mà đây lại còn là các thành phần trí thức hẳn hoi, nói gì là đến các thành phần khác trong xã hội Việt Nam. Những dối trá, giả tạo của cấp trên cứ lan truyền dần xuống cấp dưới và gây ra phản ứng dây chuyền trong toàn xã hội.

    Trong chương trình học tại trường Đại Học Ngoại Ngữ Thanh Xuân, chúng tôi học một số môn cơ bản của năm thứ nhất bậc đại học, chẳng hạn như Toán, Lý, Hóa... và tất nhiên là môn tiếng Séc (hoặc Slovakia). Tất cả các môn đều học bằng tiếng Séc để làm quen dần và để sau này có thể theo học được ở nước ngoài. Khi đó, cả lớp mới có 1 cuốn từ điển tiếng Tiệp thì phải, và cuốn này cũng chỉ có vẻn vẹn độ 20 ngàn từ vựng. Trong năm tôi có vài người thông minh tuyệt đỉnh, có thể học thuộc lòng cả cái cuốn từ điển này.

    Tới tháng 6 năm 1979, chúng tôi cũng đã kết thúc khóa học chuẩn bị tại trường Đại Học Ngoại Ngữ Thanh Xuân, tất nhiên cũng thi cử đàng hoàng. Ai rớt sẽ phải ở lại học đại học trong nước. Hồi đó cũng có tiền lệ, rằng ai thi vào đại học đạt 27 điểm /3 môn trở lên, sẽ được "tập trung" lên Vĩnh Yên, học tại trường Đại Học Quân Sự ở đó 1 năm rồi sang Nga vào trường Đại Học Tổng Hợp Lomolosov học.

    Những người được từ 23,5 điểm tới 26,5 đi Đông Âu (Đức, Ba Lan, Tiệp...) và dồn lại những ai được từ 21 điểm tới 23 điểm lại đi Nga học các trường khác. Như vậy, chúng tôi, sinh viên đi Đông Âu học, thuộc loại "thường thường bậc trung". Hầu như ai cũng học hành tử tế và thi đạt kết quả tốt, không ai bị bỏ lại. Trong nhóm đi Tiệp lại còn lựa ra một nhóm "xuất sắc nhất" để cho đi học thẳng, tức là bỏ qua học tiếng thêm 1 năm nữa tại Tiệp Khắc, ở các trung tâm dạy tiếng, mà vào luôn năm thứ nhất của trường đại học, nơi họ sẽ được cử tới học. Nếu tôi nhớ không lầm thì nhóm này có 9 người thì phải.

    Tháng 9 năm 1979, chúng tôi được nhận giấy tập trung tại trường và vào một ngày mùa thu đẹp trời, chúng tôi lên những chiếc xe du lịch mác Hải Âu (xe do Nga sản xuất), để đi tới sân bay Nội Bài. Chiếc máy bay IL 62 của hàng hàng không Aeroflot (Liên Xô) đã chờ sẵn và cuộc hành trình tới thiên đường của chúng tôi đã bắt đầu!

    (Đính chính cho phần 9: (1) Lớp TK2 mới là lóp đi học quân sự ở Brno; (2) Riêng trường cấp 3 Lý Thường Kiệt (Hà Nội) có tới 5 người được đi học Tiệp Khắc năm này, đó là Thành, Phụng (loe), Tú 3G, Dũng Trương Thái và Long (H). Trong TK1 có 2 bạn học trường Chu Văn An (Hà nội) là Phan Ngô Tống Hưng và Dương Phan Cường, 2 bạn học Phổ Thông Công Nghiệp Trần Phú là Luân và Sơn.)
     
    Điều chỉnh mới nhất vào lúc: 30 tháng Bảy 2015
  7. MyLe18

    MyLe18 Người thân

    Lũ chúng tôi lần đầu tiên được đi máy bay nên đứa nào cũng có cảm giác nôn nao khó tả, đặc biệt là khi máy bay bắt đầu cất cánh, rời khỏi sân bay Nội Bài. Chúng tôi lưu luyến cố nhòm qua các cửa sổ nhỏ để nhìn lại quê hương. Chiếc máy bay tuyến Hà Nội – Moskva, chở nhóm sinh viên chúng tôi, tất nhiên có cả những "cán bộ Việt Nam đi công tác" và nhiều khách nước ngoài khác, phải dừng ở sân bay Bombay (Ấn Độ) để nghỉ và tiếp nhiên liệu. Từ lý do đó khách trên máy bay cũng được xuống khu vực chờ, vẫn nằm trong phạm vi không gian quốc tế, khoảng nửa tiếng. Một số bạn có vẻ sợ sệt nên cứ ngồi lại trên máy bay, ngược lại nhóm "xông xáo hơn" thì tranh thủ vào sân bay Ấn để ngó nghiêng. Tôi cứ theo mấy người nước ngoài mà đi. Thấy họ đến một quầy bar và lấy một chai nước uống, tôi mạnh bạo hỏi bằng thứ tiếng Anh chưa qua cọ sát thực tế "Ông uống nước có phải trả tiền không?" và chuẩn bị tinh thần, rằng nếu phải trả tiền thì tôi lượn ngay vì trong túi làm gì có xu nào. Chúng tôi lấy đâu ra đô để mà mua đồ ăn uống, giỏi lắm thì được bố mẹ mua cho cái đồng hồ để đeo tay và đồng thời làm "của tích trữ", thời đó có mốt là đồng hồ Thủy Quân Lục Chiến SK 4 đinh, đồng hồ Seiko Five hay loại đồng hồ Không Quân (mấy loại này đều của Nhật), chỉ có con cái những gia đình có máu mặt mới có thể cầm theo 100-200 đô. Rất may, ông Tây nói, rằng nếu tôi ở máy bay xuống và là khách transit thì được lấy lon coca – cola uống không mất tiền, miễn là có vé bay mang theo người. Vậy là tôi cùng mấy đứa bạn liền xếp hàng và chìa vé ra, mỗi đứa cũng được họ phát cho 1 lon nước. Ở đó họ có mấy loại nhưng tôi chỉ vào chai Coca-Cola. Người phục vụ lấy chai và mở nắp rồi còn cắm vào đó một chiếc ống hút. Tôi theo quán tính hít một hơi dài. Ôi cha mẹ ơi! Nước Coca-Cola có ga mạnh sộc thẳng lên khiến tôi suýt sặc. Lần đầu tiên trong đời được uống thứ nước giải khát tư bản này. Bạn có nhớ chuyện mấy anh "nhà quê ra tỉnh", xếp hàng mua kem Tràng Tiền không? Khi mua được que kem, họ cắn phập một miếng rõ to. Nào ngờ, kem lạnh quá khiến họ buốt hết cả răng và cứ thổi phù phù. Tôi cũng rơi vào hoàn cảnh tương tự. Có điều sau khi uống ngụm thứ nhất, người ta sẽ quen ngay và bắt đầu từ từ thưởng thức cái đồ uống do phe "tư bản đang dẫy chết" sản xuất ra. Sao mà nó ngon đến thế! Có lẽ đó là lần "uống" ngon nhất trong đời tôi, kể cả cho tới nay, dù đã uống đủ các loại rượu bia hay đồ không cồn, cái cảm giác của lần uống chai Coca-Cola kia vẫn không hề phai lạt. Loại máy bay IL 62 nhỏ nên mang được ít nhiên liệu, không bay dài được nên nó lại còn phải hạ cánh một lần nữa ở sân bay Taskent (thủ đô của một nước cộng hòa Trung Á, nằm trong Liên Bang Xô viết thời đó). Tại đây, cái nóng dữ dội của miền bán sa mạc kèm thêm sự "nghèo nàn" của Liên Xô khi đó đã làm chúng tôi hơi thất vọng về Thiên Đường sắp tới. Cũng cần nói thêm, rằng ở sân bay Taskent, chúng tôi chẳng được cho không một thứ đồ ăn hay đồ uống nào cả! Cuối cùng thì máy bay cũng đã hạ cánh xuống sân bay Moskva. Có một chi tiết mà tôi quên chưa nói tới, đó là mỗi sinh viên, trước khi lên đường, được phát một bộ com-lê và một đôi giày da, chúng tôi cứ quen gọi là đồ của chú Tứ, (Nguyễn Đình Tứ) hồi đó đang là bộ trưởng Bộ Đại Học Và Trung Học Chuyên Nghiệp. Tất nhiên là gần 100% sinh viên đã khoác bộ này lên người khi ra sân bay để đi. Com-lê hồi đó được may đại trà và phát theo kiểu "áng chừng" kích cỡ (có lẽ họ cũng chỉ may có 2 cỡ, tương ứng cỡ S và M ngày nay), và giày cho nam thì chỉ có 3 số (39, 40, 41) thì phải. Thôi thì người mặc thì rộng và dài thùng thình, người thì lại có ống tay quá ngắn, diện vào trông buồn cười lắm. Chúng tôi cũng tự khắc phục bằng cách đổi cho nhau nhưng cũng chỉ được vài ba trường hợp "vừa vặn" mà thôi. Khổ nhất là những bạn nhận được đôi giày quá chật, mới đi được nửa giờ là đã chầy sước hay tấy đỏ hết cả phần sau gót chân. Đế giày lại làm bằng loại nhựa cứng, ít khía nên khi đi "bộ" ở sàn sân bay láng bóng, khối bạn đã trượt chân ngã oành oạch. Chẳng hiểu do máy bay chậm giờ hay sao ấy mà chúng tôi chờ mấy tiếng ở sân bay Moskva vẫn chưa có máy bay bay sang Praha. Một người trong ban quản lý sinh viên tại Sứ Quán Việt Nam ở Moskva đã đưa chúng tôi về một khu ký túc xá sinh viên để nghỉ ngơi. Chưa được nửa ngày thì chúng tôi lại được báo là đã có máy bay và lại vội vàng lao ra sân bay. Một nhóm ra đầu tiên đã có chỗ và lên máy bay bay sang Praha, trong đó có cả tôi. Một số chậm chân đành phải ở lại Mát, tới mấy hôm sau mới lại có chỗ ở máy bay để bay sang Tiệp.

    Chúng tôi được nhắc nhở trước 15 phút khi máy bay của hãng hàng không OK (Tiệp Khắc) sắp bay tới sân bay Praha. Mọi con mắt lại đổ dồn ra cửa số. Lúc này đã khoảng 21 giờ nên đèn đường đã bật, cả thành phố sáng rực dưới hai cánh máy bay. Chúng tôi lần lượt đi theo chỉ dẫn của một người được cử đi dẫn đoàn để tới chỗ xuất trình hộ chiếu. Do là du học sinh và danh sách đã nộp trước cho cảnh sát ngoại kiều nên các thủ tục làm rất nhanh và ngay phía hải quan Tiệp khi đó cũng không hề hỏi hay kiểm tra người và hành lý của chúng tôi. Vừa ra khỏi cửa sân bay, anh Minh, người trong ban quản lý lưu học sinh tại Tiệp Khắc đã chờ sẵn và giục chúng tôi mau chóng ra xe bus để tới nhà ga tàu hỏa chính (Hlavní nádraží) vì chỉ còn có một chuyến tàu cuối cùng trong ngày, chạy về Dobruška, nơi chúng tôi "tạm tập trung". Thôi thì mọi người cuống quýt cả lên. Cũng may tới ga chính vẫn còn 1-2 phút, cả đoàn vừa lên hết thì tàu cũng chuyển bánh. Dù trời đã tối nhưng tôi vẫn cứ đứng ngoài hành lang, dán mắt vào khung cảnh đang "vùn vụt" chạy theo đoàn tàu. Dobruška là một thành phố nhỏ thuộc tỉnh Hradec Králové ngày nay và nằm ở phía đông bắc của Praha. Chúng tôi đã phải chuyển tàu ở thành phố Hradec Králové và lên tàu làng để về tới nơi này. Khi tới đây cũng đã gần nửa đêm và có lẽ chỉ duy nhất còn cái quán bia ngay trong nhà ga Dobruška là còn mở cửa và còn có người ngồi uống bia và chăm chú xem TV. Chúng tôi đâu có vào quán mà chỉ đứng ngoài nhòm vào đây trong khi anh Minh, người dẫn đường, xông vào trong để hỏi thổ dân đường đi tới Trung Tâm Học Tiếng tại thành phố nhỏ này. Đây cũng là lần đầu tiên chúng tôi được liếc qua cái trò thể thao Hốc Cây (ice-hockey), xem mà hoa hết cả mắt. Chỉ thấy tiếng người dân Tiệp la hét ầm ầm cổ vũ. 3 phút sau nửa đêm, chúng tôi đã mò được về Trung Tâm Học Tiếng tại Dobruška. Đây có lẽ là một trường tiểu học hay trung học nào đó, do ở thành phố ít dân này thiếu học sinh, nên đã được chuyển tạm thành nơi đón tiếp và dạy ngôn ngữ cho người nước ngoài. Mới tới cửa ký túc xá, ông hiệu trưởng trường đã chờ sẵn cùng với hai người phục vụ khác. Họ tậm tình chỉ bảo chúng tôi, từ chỗ ai ở phòng nào, phòng tắm ở đâu...và hình như chúng tôi còn được "ăn tạm" bánh mì với bơ, pho mát và uống cốc ca cao thì phải. Tất nhiên là chúng tôi đều đi tắm trước khi lên giường nằm. Ngay chuyện được tắm vòi sen với nước nóng cũng hoàn toàn mới mẻ đối với chúng tôi, những đứa quen tắm sông, tắm ao, tắm giếng hoặc mấy đứa dân Hà Thành thì mới được tắm nước máy. Ngay trên hành lang ký túc xá có đặt một cái bàn đánh bóng bàn, kèm theo cả vợt và bóng, trong khi chờ đợi tới lượt vào tắm, mấy đứa còn tranh thủ chơi luôn vài séc. Bạn có biết giấc ngủ ngon nhất khi nào có không? Chính cái đêm đầu tiên đặt chân lên đất Tiệp Khắc, sau khi được ăn lót dạ và được tắm tử tế, và được chui mình vào chiếc giường đệm êm ái, chăn và vải trải giường trắng tinh và còn thơm phưng phức, thật sự là tôi đã cảm thấy như đang được "ở trên thiên đường". Trong khi ở Việt Nam, nếu bạn có xà phòng (của Nga, loại 70% xút) để tắm hay để gội đầu đã là xa xỉ rồi, trong khi ở đây, mùi xà phòng thơm hẳn hoi, vẫn cứ thoang thoảng trong tấm vải trải giường, trong vỏ chăn vỏ gối và phòng ngủ thì sạch như chùi. Nếu như hôm sau, vào lúc 7g30 sáng không có người thường trực nhà trường đánh thức thì tất cả chúng tôi vẫn cứ chìm trong giấc ngủ và không muốn ra khỏi chăn!
     

Chia sẻ, giới thiệu đến bè bạn