Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!

Sư Đoàn 5 Bộ Binh - Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa

Chủ đề trong 'Bạn Đọc Sưu Tầm' do Hoa Hạ khởi đầu 5 tháng Ba 2016.

  1. Hoa Hạ

    Hoa Hạ Bảo Quốc Công Thần Đệ Tam Đẳng Tình Nguyện Viên

    ** TƯỚNG LÊ NGUYÊN VỸ -

     
  2. Hoa Hạ

    Hoa Hạ Bảo Quốc Công Thần Đệ Tam Đẳng Tình Nguyện Viên

  3. Hoa Hạ

    Hoa Hạ Bảo Quốc Công Thần Đệ Tam Đẳng Tình Nguyện Viên

  4. Hoa Hạ

    Hoa Hạ Bảo Quốc Công Thần Đệ Tam Đẳng Tình Nguyện Viên

    Người Vợ Lính Ở Thủ Đức –
    Giao Chỉ

    [​IMG]

    Đám cưới nhà quê. Chuyện người vợ.

    Mùa xuân năm 1959. Họ đạo Thủ Đức có đám cưới nhà quê. Cô dâu Nguyễn Thị Cảnh mỗi tuần giúp lễ và công tác thiện nguyện cho nhà Thờ. Chú rể là anh trung sĩ huấn luyện viên của trường Bộ Binh Thủ Đức. Cha làm phép hôn phối. Họ Đạo tham dự và chúc mừng. Bên nhà gái theo đạo từ thuở xa xưa. Bên nhà trai cũng là gia đình Thiên Chúa Giáo. Cô gái quê ở Thủ Đức, 18 tuổi còn ở với mẹ. Cậu trai 20 tuổi xa nhà từ lâu. Cha cậu là hạ sĩ quan, gửi con vào Thiếu Sinh Quân Gia Định từ lúc 13 tuổi. Khi trưởng thành, anh thiếu sinh quân nhập ngũ. Đi lính năm 1956. Mấy năm sau đeo lon trung sĩ.

    Quê anh ở Rạch Giá, làng Vĩnh Thanh Long, sau này là vùng Chương Thiện. Ngày đám cưới, ông già từ quê lên đại diện nhà trai. Đứng trước bàn thờ, cha xứ hỏi rằng anh quân nhân này có nhận cô gái làm vợ không. Chú rể đáp thưa có. Cha hỏi cô gái có nhận anh trung sĩ này làm chồng. No đói có nhau. Gian khổ có nhau. Cô gái Thủ Đức vui mừng thưa có. Anh trung sĩ Rạch Giá phục vụ trường Bộ Binh đi lễ nhà thờ gặp cô gái xóm đạo Thủ Đức nên kết nghĩa vợ chồng. Cô gái thề trước nhà Chúa, có cả họ Đạo chứng kiến. Cô đã giữ trọn đời làm vợ người lính.

    Từ vợ trung sĩ trại gia binh cho đến phu nhân đại tá trong Dinh Tỉnh Trưởng. Cô theo chồng đi khắp 4 phương suốt 16 năm chinh chiến để rồi 30 tháng 4 năm 75 trở thành vợ người tử tội. Cô đem con trở về Thủ Đức lánh nạn chờ ngày chồng bị xử bắn. Dù thăng cấp, dù thắng hay bại, dù sống hay chết, chồng cô vẫn là người anh hùng. Cô mãi mãi vẫn là người vợ lính. Anh lính đầu đời chinh phu của cô lúc lấy nhau đeo lon trung sĩ và khi ra đi đeo lon đại tá. Thủy chung cô vẫn sống đời vợ lính.

    Chồng của cô là Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn. Hiện nay cô vợ lính gốc Thủ Đức, sau khi tìm đường vượt biên, đem con trai duy nhất qua Bidong, Mã Lai rồi vào Mỹ sống ở Nam Cali. Cô may thuê. Bán quán nuôi con. Con trai lập gia đình có 2 cháu. Người vợ lính năm xưa từ 75 đến nay, ở vậy thờ chồng đã trở thành bà nội ở chung một nhà với con cháu. Suốt đời vẫn nghèo, nghèo từ trung sĩ mà nghèo lên đại tá. Nghèo từ Thủ Đức mà nghèo qua Chương Thiện. Nghèo từ Việt Nam mà đem theo cái nghèo qua Mỹ. Bởi vì suốt đời chỉ là người vợ lính.

    Một đời chinh chiến. Chuyện người chồng.

    Hồ Ngọc Cẩn sinh ngày 24 tháng 3 năm 1938. Xuất thân Thiếu Sinh Quân Gia Định rồi nhập ngũ và lên cấp trung sĩ huấn luyện viên vũ khí tại trường Bộ Binh. Sau khi lập gia đình có 1 con thì anh trung sĩ tìm cách tiến thân xin vào học lớp sĩ quan đặc biệt tại Đồng Đế. Từ anh sinh viên sĩ quan Đồng Đế 1960 cho đến 15 năm sau Hồ Ngọc Cẩn trở thành đại tá tỉnh trưởng kiêm tiểu khu trưởng Chương Thiện, hầu hết cấp bậc đều lên tại mặt trận. Ông đã từng mang mầu áo của Biệt Động Quân và các sư đoàn Bộ Binh. Huy chương và chiến công nhiều vô kể.

    Suốt một đời chinh chiến từ trung đội trưởng lên đến trung đoàn trưởng, Hồ ngọc Cẩn tung hoành khắp Hậu Giang và Tiền Giang. Năm 1972 ông Thiệu cho lệnh toàn thể Sư Đoàn 21 từ miền Tây lên tiếp tay cho Quân Đoàn 3 giải tỏa An Lộc. Lại cho lệnh tăng cường thêm 1 trung đoàn của Sư Đoàn 9. Tư lệnh quân khu, ông Trưởng nói với ông Lạc Sư Đoàn 9 đưa một trung đoàn nào coi cho được. Trung Tá Hồ ngọc Cẩn dẫn Trung Đoàn 15 lên đường. Trung đoàn ông Cẩn phối hợp cùng Nhẩy Dù đánh dọc đường 13 tiến vào An Lộc. Anh đại úy đại đội trưởng của trung đoàn suốt mấy tuần dằng co với địch trước phòng tuyến của Tướng Hưng tư lệnh An Lộc, nhưng chưa vào được. Lính hai bên chết đều chôn tại chỗ. Thiết vận xa M113 của ta còn phải lui lại phía sau. Chỉ có Bộ Binh của Trung Đoàn 15 nằm chịu trận ở tiền tuyến. Anh sĩ quan kể lại, chợt thấy có một M113 của ta gầm gừ đi tới. A, tay này ngon. Chợt thấy một ông xếp từ thiết vận xa bước ra, phóng tới phòng tuyến của đại đội. Nhìn ra ông Trung Đoàn Trưởng Hồ Ngọc Cẩn. Ông quan sát trận địa rồi hô quân tiến vào. Cùng với tiền đạo của Nhẩy Dù, Trung Đoàn 15 bắt tay với lính phòng thủ An Lộc. Sau khi Bình Long trở thành Bình Long Anh Dũng, ông Thiệu hứa cho mổi người lên 1 cấp. Trung Tá Hồ Ngọc Cẩn ngoài 30 tuổi đeo lon đại tá trở về trong vinh quang tại bản doanh Sa Đéc. Rồi ông được đưa về làm tiểu khu trưởng Chương Thiện. Vùng đất này là sinh quán của ông ngày xưa.

    Cho đến 30 tháng 4-1975 Sài Gòn đã đầu hàng, nhưng Chương Thiện chưa nhận được lệnh Cần Thơ nên Chương Thiện chưa chịu hàng. Chiều 29 sang 30 tháng 4, tiểu khu trưởng vẫn còn bay trực thăng chỉ huy. Khi radio Sài Gòn tiếp vận về tin buông súng, các đơn vị bên ta rã ngũ. Lính tráng từ tiểu khu và dinh tỉnh trưởng tan hàng, Đại Tá Tiểu Khu Trưởng Hồ Ngọc Cẩn bị lính Cộng Sản vây quanh khi còn ngồi trên xe Jeep với vũ khí, quân phục cấp bậc đầy đủ. Câu chuyện về giờ phút cuối cùng của người chồng, đã được người vợ kể lại cho chúng tôi. Thực là một kỷ niệm hết sức bi thảm.

    Giây phút cuối của Chương Thiện

    Bà Cẩn với âm hưởng của miền quê Thủ Đức kể lại qua điện thoại. Cô Cảnh nói rằng suốt cuộc đời chưa ai hỏi thăm người thiếu phụ Thủ Đức về một thời để yêu và một thời để chết. Bà nói:

    “Kể lại cho bác rõ, những ngày cuối cùng nhà em vẫn hành quân. Đánh nhau ngay trong tiểu khu. Anh Cẩn vẫn còn bay hành quân. Nhà bị pháo kích. Tuy gọi là Dinh Tỉnh Trưởng nhưng cũng chỉ là ngôi nhà thường. Chiều 30 tháng 4 mẹ con em theo các chú lính chạy ra ngoài. Đi lẫn vào dân. Ở Chương Thiện không ai biết em là vợ tỉnh trưởng. Ai cũng tưởng là vợ lính. Từ xa ngó lại mẹ con em thấy anh Cẩn bị chúng bắt giải đi. Bà con kéo mẹ con em tìm đường chạy về Cần Thơ. Chú lính nói rằng bà không đem con chạy đi chúng nó bắt thì khổ. Em dẫn thằng con nhỏ chạy bộ. Mẹ con vừa đi vừa khóc. Hình ảnh cuối cùng thằng con hơn 10 tuổi nhìn thấy bố ngồi trên xe Jeep, Cộng quân cầm súng vây quanh. Bước xuống xe, anh không chống cự, không vùng vằng, không nói năng. Đưa mắt nhìn về phía dân ở xa, giơ tay phất nhẹ. Như một dấu hiệu mơ hồ cho vợ con. Chạy đi. Đó là hình ảnh cuối cùng đã gần 40 năm qua. Từ đó đến nay mẹ con không bao giờ gặp lại. Thân nhân bên anh Cẩn, mẹ và các chị giữ không cho em và con trai ra mặt. Sợ bị bắt. Được tin anh ra tòa nhận án tử hình. Rồi tin anh bị xử bắn. Thời gian anh bị giam gia đình bên anh có đi tiếp tế nhưng không thấy mặt. Chỉ giao tiếp tế cho công an rồi về. Hôm anh bị bắn ở sân vận động Cần Thơ, gia đình cũng không ai được báo tin riêng, nhưng tất cả dân Tây Đô đều biết. Mỗi nhà được loan báo gửi một người đi coi. Bà chị họ đi xem thằng em bị bắn. Chị kể lại là không khí im lặng. Từ xa, nhìn qua nước mắt và nín thở. Chị thấy chú Cẩn mặc quần áo thường dân tỏ ý không cần bịt mắt. Nhưng Cộng quân vẫn bịt mắt. Bác hỏi em, bà chị có kể lại rõ ràng ngày xử bắn 14 tháng 8 năm 1975. Mỗi lần nói đến là chị em lại khóc nên cũng không có gì mà kể lại. Chúng bịt mồm, bịt mắt nên anh Cẩn đâu có nói năng gì. Suốt cuộc đời đi đánh nhau anh vẫn lầm lì như vậy. Vẫn lầm lì chịu bị bắt, không giơ tay đầu hàng, không khai báo, không nói năng gì cho đến chết. Anh làm trung đội trưởng, đại đội trưởng, tiểu đoàn trưởng, trung đoàn trưởng rồi đến tiểu khu trưởng. Báo chí, anh em nói gì thì nói, anh Cẩn chả nói gì hết. Bác hỏi em là mồ mả ra sao. Em và con về nhà mẹ ở Thủ Đức. Gia đình không cho em ra mặt. Bà chị và mẹ anh Cẩn đi xin xác không được. Chúng đem chôn ở phía sau Trung tâm nhập ngũ Cần Thơ. Mấy năm sau mới xin được đem về Rạch Giá. Rồi đến khi khu này bị giải tỏa nên lại hỏa thiêu đem tro cốt về nhà ông chú bên Long Xuyên. Ngày nay, em nói để bác mừng là sau khi vượt biên qua Mỹ em đã đưa di hài anh Cẩn qua bên này. Anh Cẩn bây giờ cũng đoàn tụ bên Mỹ với gia đình“.

    “Cô đi năm nào”, tôi hỏi bà Cẩn.

    “Mẹ con em ở Thủ Đức ba năm sau 75. Đến 78 thì vượt biên qua Pulo Bidong. Ở trại 8 tháng thì bà con bảo trợ qua Mỹ. Qua bên này mình chả biết ai, không ai biết mình. Cũng như bao nhiêu thuyền nhân, mẹ con ở với nhau. Em đi làm nghề may, rồi đi bán quán cho tiệm Mỹ. Bây giờ cháu trai duy nhất của anh Cẩn đã có gia đình sinh được 2 con.”

    Chuyện đời người vợ lính thời chinh chiến với kết thúc bi thảm và anh hùng, tôi nghe kể lại thấy lòng xót xa lắng đọng.Tôi bèn quay qua hỏi chị Cẩn sang đề tài khác. “Nãy giờ nói toàn chuyện buồn, cô nhớ lại xem suốt đời từ đám cưới cho tới 75, cô có những kỷ niệm nào vui không.”

    Bà Cẩn ngừng lại suy nghĩ.

    “Em thấy năm nào tháng nào cũng vậy thôi. Toàn lo việc nhà, nội trợ nuôi con. Anh Cẩn đi đâu thì mẹ con cũng đi theo. Từ trại gia binh đến cư xá sĩ quan. Chúng em không có nhà riêng, không có xe hơi, không có xe gắn máy. Từ Sa Đéc trung đoàn 15 qua đến tiểu khu Chương Thiện, toàn là ở trại lính”.

    Tôi hỏi tiếp:

    “Cô có đi dự tiệc tùng, mừng lên lon, thăng cấp, dạ hội gì không?”.

    “Không, em chả có đi đâu. Ở Chương Thiện em cũng không đi chợ. Dân chúng cũng không biết em là ai. Mua bán gì em về Cần Thơ, đông người, cũng chả ai biết em là ai. Em cũng không có nhà cửa nên cũng không mua sắm đồ đạc. Lương nhà binh cũng chẳng có là bao. Em cũng không ăn diện nên chẳng có nhiều quần áo. Năm 1972 ở An Lộc về, anh Cẩn mang lon đại tá không biết nghĩ sao anh nói với em, vợ chồng chụp được một tấm hình kỷ niệm. Đây là tấm hình gần như duy nhất. Xin bác dùng tấm hình này của nhà em mà để lên tấm bia lịch sử”.

    Tôi nói rằng, tấm hình của cô và anh Cẩn rõ ràng và đẹp lắm. Hoàng Mộng Thu có đưa cho tôi xem. Chúng tôi sẽ dùng hình này. Nhưng tôi vẫn gặng hỏi. “Thế bao nhiêu lần anh thăng cấp cô có dự lễ gắn lon không?”.

    ”Em đâu có biết. Chỉ thấy anh Cẩn đi về đeo lon mới rồi cười cười. Cũng có thể gọi là những giây phút hạnh phúc của đời nhà binh”.

    “Thế cô chú ở Thủ Đức có khi nào đi chơi Vũng Tàu tắm biển không?”.

    Bà Cẩn thật thà nói rằng.

    “Khi anh Cẩn học ở Đồng Đế thì em và con có ra thăm Nha Trang nên thấy biển. Còn chưa bao giờ được đi với anh Cẩn ra Vũng Tàu. Sau này đến khi vượt biên thì mẹ con em mới thấy biển Vũng Tàu…”

    Trong số một triệu chiến binh Việt Nam Cộng Hòa, dường như sĩ quan, anh nào cũng có 1 lần đi với vợ con hay người yêu trên bãi biển Vũng Tàu. Hồ Ngọc Cẩn ở Rạch Giá suốt đời chưa đem vợ Thủ Đức đi Vũng Tàu. Trong quân đội, dù là tướng tá hay sĩ quan, anh nào mà chả có thời làm lính. Sau đó mới làm quan. Chỉ riêng cô Nguyễn thị Cảnh, vợ đại tá Hồ Ngọc Cẩn là người đóng vai vợ lính suốt đời. Những ngày vui nhất của chị là thời gian được làm vợ anh trung sĩ hiền lành của trường bộ binh Thủ Đức. Ngày đó đã xa rồi hơn nửa thế kỷ, ở bên kia địa cầu, trên ngọn đồi Tăng Nhơn Phú, có vợ chồng anh lính trẻ mỗi sáng chủ nhật cầm tay nhau để đi lễ nhà thờ.

    Theo: Giao Chỉ, San Jose.



    Hình chụp ông bà Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn.

    Nguồn : TVTC
    [​IMG]
     
  5. Hoa Hạ

    Hoa Hạ Bảo Quốc Công Thần Đệ Tam Đẳng Tình Nguyện Viên


    [​IMG]

    VÒNG HOA CHO ANH 18 *

    Ngày 30 tháng 4 năm 1975 & Tôi

    Sáng hôm đó Em đang ở Phòng Mỗ. Khi Anh Giám Học hốt hoảng, đẩy cửa đi vào tay cầm theo cái Radio...tất cả yên lặng nghe và tất cả..ngơ ngác.! Cứ như trên trời rơi xuống !! Chấm dứt rồi.sao?..hết chiến tranh rồi à?? em ngồi trên băng đá, đầu trống rỗng..ý nghĩ thì đặc cứng như một khối sắt vô tri.

    Bổng hai toán học trò của Em nhốn nháo lên...
    -"Cô ơi ! Mấy cô mấy anh chị ở trường đi hết rồi Cô...Cô đi không?

    - Đi đâu??

    - Đi về quê, cô Nguyệt cô Yến cô Loan, Cô Duyên...mấy cô về nhà hết rồi.

    Em hốt hoảng nhảy xuống đất nhìn ra sân. Từng tốp từng tốp người...các học trò của trường, bốn khoá ...họ bỏ trường về nhà...Họ mặc đồ thường chứ không yểu điệu tha thướt trong những chiếc áo dài nữa...Em đi như chạy về Trường...nội trú vắng hoe..đi đâu bây giờ !! Ba bảo Loan viết thư dặn Em là đừng đi lung tung mà..nhưng ở lại với ai??? muốn khóc quá.!! Thay vội bộ thường phục( cũng là cái quần tây và chiếc áo chemise, Em làm gì có quần đen áo bà ba mà mặc !! ) lấy vội tiền bạc và một ít giấy tờ Em ra bến xe...nhưng !!

    Làm sao đi đây? Toàn bộ bến xe đông nghẹt những người và người. Họ tranh nhau lên xe, tranh nhau trèo cả lên mui của những chiếc xe lame đi ra Phà Hậu Giang. Phà không chạy. Muốn đi phải qua sông Hậu. Sông Hậu lớn thế kia mà đi bằng những chiếc ghe nhỏ tròng trành thế nầy? Không được. Em sợ lắm, vừa đi vừa khóc thút thít em quay về trường (đi bộ) lên đến phòng đóng cửa chặt lại..

    Phòng nội trú bây giờ chỉ có mình Em. Có lẽ lúc nầy Em mới cảm nhận được đầy đủ hai chữ bơ vơ.
    Không biết Ba em có bị làm sao không..??
    Không biết gia đình Em bây giờ như thế nào ?

    Bỗng có tiếng gõ cửa.

    Giật thót người Em chui sâu vào góc giường, cắn chặt môi nín khóc..!! Trời ơi mấy ổng tới rồi sao?? Làm sao bây giờ !!
    Im lặng một chút rồi có tiếng anh Giám Học: Anh Hậu nè, còn cô nào trong đó không?

    Từ trên giường Em bay xuống đất mở cửa như thể chậm một giây anh Giám Học sẽ biến mất, khóc như mưa..

    -Ủa Phượng em còn ở đây sao?

    -Em về không được anh Hậu ơi..làm sao qua phà qua sông...xe nào cũng đầy những người là người...

    Thôi, chắc không sao đâu, mình chỉ là dân y tế thôi mà. Em ăn cơm chưa? Học trò bỏ trường về hết rồi không có cơm phải không thôi để anh nói chị Ánh ( vợ anh Hậu- đang là Điều Dưỡng Trưởng B/V Thủ Khoa Nghĩa) cho Em ăn cơm bệnh viện đỡ vậy. Đi, bây giờ anh đưa em xuống bệnh viện.

    Em mặc lại đồ OR xuống Phòng Mỗ, ở đó dù sao cũng trong trung tâm bệnh viện. Ở đó có bạn Em, ba đứa cùng khóa 14. Sinh hoạt trong bệnh viện hình như không thay đổi, nhưng trong ánh mắt ai cũng đầy âu lo, và trán ai cũng hằn những ưu tư...




    XXXXXXXXXXX

    * Ba đi về rồi !

    Em ngồi yên, bất động trông theo dáng Ba, cái lưng hơi tôm của Ba hình như còng xuống nhiều hơn ngày thường. Trông Ba buồn quá. Như già đi hơn chục tuổi !! Ba dặn Em cứ ở yên đây đi, mà con cũng không nên về quê, Ba nghĩ con ở đây có lợi cho con hơn. Tuy không hiểu nhưng nhìn mặt Ba Em như cảm thấy có điều gì nghiêm trọng lắm..Em lo lắng hỏi Ba :

    - Ba! Rồi... Ba có làm sao không Ba? Ba chỉ lắc đầu không nói...Và Em cũng đâu có ngờ đó là lần sau cùng Em gặp Ba để rồi...hơn 7 năm sau Em mới lại thấy Ba lần nữa !!

    Hôm ấy là hôm nào? Em không nhớ là buổi chiều của ngày nào ...nhưng, hình như chưa đến ngày giỗ Anh.

    Sau khi Ba về rồi Em nghe lời Ba đốt hết thư từ của gia đình bạn bè thân sơ..đốt cả thư Anh !! Hộp thư gần trăm lá thân yêu của Em.! Ôi đau lòng quá !! Quãng đời đẹp nhất của Em có Anh ..từ từ biến thành tro bụi....Và ...Em chựng lại, không nỡ đốt ba tấm hình của Anh..Trong hình Anh nhìn Em cười tươi quá, làm sao Em nỡ đốt cháy niềm vui của mình đây? Còn bốn cái alpha đỏ của bốn năm Võ Bị nữa!! Mầu đỏ mới kiêu hùng làm sao..!! Em lặng đi một lúc...lấy miếng ngói bể đào một lỗ đất nhỏ, Em gom hết tro tàn của những lá thư chôn xuống đất, sát gốc cây Phượng của trường Cán Sự... Bỏ luôn bốn cái alpha xuống, nhưng rồi Em nghĩ: Mảnh nhung đỏ sẽ không tan, cái dấu alpha bằng kim loại cũng sẽ không tan vào lòng đất! Em lại lấy lên, phủi bụi và đem trở về phòng...

    Hoa Hạ



    * * Cũng Là Ngày 30 Tháng Tư




    XXXXXXXXXXXXX


    [​IMG]Nguyen Phuc Nguyen
    Vinny Tran
    10 TRIỆU ĐÔ LA MỸ ĐỂ CỨU 7 MẠNG NGƯỜI VIỆT NAM ( CHUYỆN THẬT) ..

    Tôi Vinny Tran / cůu KQ-QLVNCH Phi Đoàn Hai Âu 227 (Trung Tá TRÂN CHÂU RÊT Phi Đoàn Truởng) .. Tôi đã có măt trên chiêc Hàng Không Mâu Ham MIDWAY ngày 30/4/1975 va` la` Nhân Chung*' Sô'ng .. trong câu chuyên có thât 100% này .
    .. XIN CÃM TA ON* TRÊN VÀ THUYÊN TRUÕNG LARRY CHAMBERS .. ĐÃ CŮÚ MANG. CHÚNG TÔI VÀ MANG CHÚNG TÔI ĐÊN' MÌÊN ĐÂT' HŮÁ .. GOD BLESS THE USA !!! *()*
    Biểu tượng cảm xúc heart
    ------------------------------------------------------
    Câu chuyện này được dựng lại, trong đó xen kẽ những đoạn phim tư liệu có thật: Thiếu tá phi công Lý Bửng thuộc Không Lực Việt Nam Cộng Hòa, là người đầu tiên đã can đảm và rất tự tin khi thực hiện thành công cú đáp lịch sử khiến mọi người thán phục bằng máy bay L19 xuống Hàng Không Mẫu Hạm USS Midway (thay vì đáp xuống biển rồi chờ cứu hộ vì Hàng Không Mẫu Hạm không có thiết bị hỗ trợ hạ cánh cho máy bay này).
    Trong điều kiện hết sức ngặt nghèo bởi máy bay gần cạn nhiên liệu và quá tải rất nguy hiểm (quy định 2 người kể cả phi công mà anh lại chở đến 7),
    lại không có vô tuyến liên lạc với Hàng Không Mẫu Hạm , nên anh cố gắng dùng loa phóng thanh nói vọng từ trên trời xuống.
    Trong Clip này không hiểu sao anh lại sử dụng mỗi tiếng Việt? Nhưng thực tế là anh ấy đã liên lạc vớHàng Không Mẫu Hạm để nói về tình trạng khẩn cấp của mình bằng cách dùng những mảnh giấy viết bằng tiếng Anh, buộc vào con dao, kế đến là dây đeo súng rồi thả xuống sàn tàu, nhưng cả 3 lần đều văng hết xuống biển. Đến lần thứ 4 anh ghi lên mảnh giấy được xé ra từ trang bản đồ (dòng chữ tiếng Anh viết vội nhưng rất đẹp) buộc vào khẩu súng P.38, bay thật thấp rồi liệng xuống.
    Nội dung: "Các ông làm ơn dời chiếc trực thăng sang bên kia cho tôi đáp xuống đường băng. Tôi có thể bay thêm một tiếng nữa, chúng ta có đủ thời gian để dời. Làm ơn cứu tôi. Thiếu tá Bửng, vợ và 5 đứa con".
    Ông Larry Chambers, thuyền trưởng tàu Midway đồng ý nhưng thấy không đủ chỗ đáp, nên ra lệnh cho các thủy thủ đẩy mấy chiếc trực thăng VNAF UH-1 Huey xuống biển (trị giá số máy bay ấy khoảng 10 triệu USD lúc bấy giờ)..
    Hiện nay HKMH USS Midway đang được neo đậu tại hải cảng San Diego, miền Nam California, trở thành vật trưng bày và trên ấy vẫn còn mảnh giấy này.
    Chiếc L19 của anh giờ triển lãm tại Bảo Tàng Viện Hải Quân tiểu bang Florida. Chứng tích của một cuộc chiến vô cùng khốc liệt.
    Soucrce => Van chuong NGUYEN



    nguồn***://toursinworld.com/T5/M1NlTFZvUDlGb3g.html

    HH sưu tầm trên internet và ghi lại
     
    Lai Khê likes this.
  6. Hoa Hạ

    Hoa Hạ Bảo Quốc Công Thần Đệ Tam Đẳng Tình Nguyện Viên

    19 * Tình Khúc Kinh Kha

    Cuộc chiến Việt Nam đối với Em đã chấm dứt ở An Lộc. Từ đó, Em không dám đụng đến cái Radio, không còn hồi hộp theo dõi tình hình chiến sự vì đâu còn có ai làm chinh phu cho em là chinh phụ ngóng trông !! Vì hồi đó vừa khóc vừa học bài, cuối năm thứ 2 với những môn thi dồn dập. Năm thứ ba với những trại thực tập "nặng ký " với kỳ thi ra trường. Còn thời giờ đâu mà nghĩ ngợi đến chiến tranh? Và Vùng bốn chiến thuật thật an lành. Chiến tranh chỉ có trong những bài nhạc, trong những quán cà phê và Chiến tranh đối với em chỉ còn là thơ của Chinh Phụ Ngâm Khúc :

    Chinh Phụ Ngâm Diễn Nôm
    I
    Thuở trời đất nổi cơn gió bụi
    Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên
    Xanh kia thăm thẳm tầng trên
    Vì ai gây dựng cho nên nỗi này
    Trống Trường Thành lung lay bóng nguyệt
    Khói Cam Tuyền mờ mịt thức mây
    Chín tầng gươm báu trao tay
    Nửa đêm truyền hịch định ngày xuất chinh
    Nước thanh bình ba trăm năm cũ
    Áo nhung trao quan vũ từ đây
    Sứ trời sớm giục đường mây
    Phép công là trọng, niềm tây sá nào
    Ðường giong ruổi lưng đeo cung tiễn
    Buổi tiễn đưa lòng bận thê noa
    Bóng cờ tiếng trống xa xa
    Sầu lên ngọn ải, oán ra cửa phòng
    II
    Chàng tuổi trẻ vốn giòng hào kiệt
    Xếp bút nghiên theo việc đao cung
    Thành liền mong tiến bệ rồng
    Thước gươm đã quyết chẳng dung giặc trời
    Chí làm trai dặm nghìn da ngựa
    Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao
    Giã nhà đeo bức chiến bào
    Thét roi cầu Vị, ào ào gió thu
    Ngòi đầu cầu nước trong như lọc
    Ðường bên cầu cỏ mọc còn non
    Ðưa chàng lòng dặc dặc buồn
    Bộ khôn bằng ngựa, thủy khôn bằng thuyền
    Nước trong chảy lòng phiền chẳng rửa
    Cỏ xanh thơm dạ nhớ khó quên
    Nhủ rồi tay lại trao liền
    Bước đi một bước lại vin áo chàng
    Lòng thiếp tựa bóng trăng theo dõi
    Dạ chàng xa ngoài cõi Thiên San
    Múa gươm rượu tiễn chưa tàn
    Chỉ ngang ngọn giáo vào ngàn hang beo
    Săn Lâu Lan, rằng theo Giới Tử
    Tới Man Khê, bàn sự Phục Ba
    Áo chàng đỏ tựa ráng pha
    Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in
    Tiếng nhạc ngựa lần chen tiếng trống
    Giáp mặt rồi phút bỗng chia tay
    III
    Hà Lương chia rẽ đường này
    Bên đường, trông bóng cờ bay ngùi ngùi
    Quân trước đã gần ngoài doanh Liễu
    Kỵ sau còn khuất nẻo Tràng Dương
    Quân đưa chàng ruổi lên đường
    Liễu dương biết thiếp đoạn trường này chăng?
    Tiếng địch trổi nghe chừng đồng vọng
    Hàng cờ bay trong bóng phất phơ
    Dấu chàng theo lớp mây đưa
    Thiếp nhìn rặng núi ngẩn ngơ nỗi nhà
    Chàng thì đi cõi xa mưa gió
    Thiếp lại về buồng cũ gối chăn
    Ðoái trông theo đã cách ngăn
    Tuôn màu mây biếc, trải ngần núi xanh
    Chốn Hàm Dương chàng còn ngảnh lại
    Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông sang
    Khói Tiêu Tương cách Hàm Dương
    Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng
    Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy
    Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu
    Ngàn dâu xanh ngắt một mầu
    Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?


    Đông thương nhớ

    Em đã lên đến cao điểm của nỗi sầu tử biệt nên đối với Em còn nỗi buồn nào hơn thế nữa? Và bây giờ biết có ai không, cũng như Em sẽ phải nát lòng trước cảnh tử biệt sanh ly nầy? Chung quanh Em những gương mặt chìm một nửa sau vành nón lá, Em cũng vậy. Cúi mặt vẽ vu vơ trên cát mà chờ đợi. Lần đầu tiên trong đời có mặt trong một cuộc mít tinh để nghe xét tội một người mà đối với một bên là ác ôn, là có nợ máu với nhân dân, và đối với một bên là một vị anh hùng, đã anh dũng chiến đấu đến viên đạn cuối cùng cho quê hương cho mầu cờ, sắc áo.

    Với Em , người ấy như thế nào? Không có nợ nần gì với Em cả. Em không hề biết Ông, và cũng như nhiều người hiện có mặt trong đây đều không hề biết đến Ông.. Họ cũng như Em đều tuân theo một lệnh truyền : - "Tất cả 3 trường của Trung Tâm Y Tế, từ thầy cô đến các học trò đều phải có mặt tại Sân vận Động Cần Thơ tham dự.
    -Ổng kìa Phượng! trời ơi còn trẻ quá ..
    - Nghe nói là Tỉnh trưởng tỉnh Chương Thiện - không chịu buông súng đầu hàng nên bị bắt...

    Em nhìn ra cổng..Trước mắt Em là Đại Tá Tỉnh Trưởng tỉnh Chương Thiện Hồ Ngọc Cẩn .
    Khoảng cách tuy xa nhưng cũng đủ để thấy Ông đang bình thản đi vào. Trước mặt Em là một vị Đại Tá không giày saut áo trận, bình dị trong bộ bà ba đen, ung dung đi giữa nghi thức áp giải mà như đi trong tiếng nhạc quân hành. Có lẽ tuổi khoảng chừng trên dưới bốn mươi, người vừa tầm, gọn gàng, nước da hơi xanh, cái xanh của thiếu nắng. Đầu trần không nón sắt thấy rõ mái tóc cắt cao như sẳn sàng hứng hết mọi tai ương của định mệnh. Một định mệnh dành cho người thất thế, sa cơ. Vừa đi Ông vừa đảo mắt nhìn quanh, hình như hơi mĩm cười rồi tiến sâu vào trong khán đài, một vị trí cuối cùng của một đời ngang dọc.

    Em lẩn thẩn tự hỏi : Không biết Ông xuất thân từ trường nào? quê Ông ở đâu mà bây giờ dừng lại nơi đây? Em lại nhớ đến cái chết của Anh. Anh đã đổ ra hết đến giọt máu cuối cùng, rồi nằm xuống, lính chôn Anh trước cổng tiểu khu Bình Long ... rồi tất cả đều bị san bằng dưới cơn mưa pháo. Đời trai như chiến sĩ Kinh Kha một lần qua sông Dịch, nhưng mỗi người sang sông bằng một cách khác nhau, và Không biết "VỢ ÔNG" - em muốn gọi bằng hai tiếng thân thương "vợ ông" chứ không muốn gọi bằng chức vụ - Vâng, chỉ có vợ ông bây giờ chắc đứt ruột từng cơn !! Em đưa mắt nhìn quanh cố tìm, nhưng không thấy người đàn bà nào đang khóc như Em nghĩ. Dưới gốc sân vận động, phía ngoài vòng rào lại là một cây Phượng vĩ đang nở bông đỏ thắm, trên cây có vài đứa trẻ hiếu kỳ leo lên nhìn vào .

    Cuộc xét xử đã bắt đầu, nhưng Em không nghe được gì cả, Em ở xa khán đài lắm nên không trông thấy Ông nữa. Em bỗng nhớ bài Thơ "NHỚ RỪNG" của Thế Lữ

    Nhớ Rừng

    (Lời con Hổ ở vườn Bách thú)

    Gặm một khối căm hờn trong cũi sắt,
    Ta nằm dài, trông ngày tháng dần qua.
    Khinh lũ người kia ngạo mạn, ngẩn ngơ,
    Giương mắt bé riễu oai linh rừng thẳm
    Nay sa cơ, bị nhục nhằn tù hãm
    Để làm trò lạ mắt, thứ đồ chơi.
    Chịu ngang bầy cùng bọn gấu dở hơi,
    Với cặp báo chuồng bên vô tư lự.

    Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ,
    Thủa tung hoành, hống hách những ngày xưa.
    Nhớ cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già,
    Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi,
    Với khi thét khúc trường ca dữ dội
    Ta bước chân lên, dõng dạc, đường hoàng,
    Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng,
    Vờn bóng âm-thầm, lá gai, cỏ sắc.
    Trong hang tối, mắt thần khi đã quắc
    Là khiến cho mọi vật đều im hơi.
    Ta biết ta chúa tể muôn của loài
    Giữa chốn thảo hoa, không tên không tuổi.

    Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối,
    Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan?
    Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn
    Ta lặng ngắm giang san ta đổi mới?
    Đâu những bình minh cây xanh nắng gội
    Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng?
    Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng
    Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt
    Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật?
    Than ôi! thời oanh liệt nay còn đâu?

    Nay ta ôm niềm uất hận ngàn thâu
    Ghét những cảnh không đời nào thay đổi,
    Những cảnh sửa sang, tầm thường, giả dối:
    Hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng;
    Giải nước đen giả suối, chẳng thông dòng
    Len dưới nách những mô gò thấp kém;
    Dăm vừng lá hiền lành không bí hiểm
    Cũng học đòi bắt chước vẻ hoang vu
    Của chốn ngàn năm cao cả, âm u.

    Hỡi oai linh, cảnh nước non hùng vĩ!
    Là nơi giống hùm thiêng ta ngự trị,
    Nơi thênh thang ta vùng vẫy ngày xưa
    Nơi ta không còn được thấy bao giờ!
    Có biết chăng trong những ngày ngao ngán
    Ta đang theo giấc mộng ngàn to lớn
    Để hồn ta phảng phất được gần ngươi
    Hỡi cảnh rừng ghê gớm của ta ơi!

    1936
    THẾ LỮ

    XXXXX

    Và Cuối cùng,điều gì phải đến cũng đã đến....

    Một tràng đạn nổ dòn chát chúa vang lên như tiếng sấm ...

    Và mưa..!!. Mưa của trời đất, mưa trong lòng người thân và mưa của cây phượng cuối sân vận động vào một sáng sang Thu

    HH

    Trích trong " Vòng Hoa Cho Anh" - Bút Ký Của Hoa Hạ





     
  7. Hoa Hạ

    Hoa Hạ Bảo Quốc Công Thần Đệ Tam Đẳng Tình Nguyện Viên

  8. Hoa Hạ

    Hoa Hạ Bảo Quốc Công Thần Đệ Tam Đẳng Tình Nguyện Viên

    [​IMG]
    Vài Kỷ Niệm Về Sư Đoàn 5 Bộ Binh
    Và Tướng Lê Nguyên Vỹ.


    TRIỆU VŨ

    Thứ Năm, Ngày 19 tháng 3-2009

    LTS. Triệu Vũ là một giáo chức, bị động viên vào khóa 19 Trừ bị Thủ Đức. "Cải tạo" trên 7 năm ở thượng du Bắc Việt, Ông cùng gia đ́nh di dân qua Liên bang Mỹ năm 1990, và hiện ngụ tại Houston, Texas.Dù lịch sử đă sang trang từ lâu, bài kư ức về Tướng Lê Nguyên Vỹ, cố Tư lệnh SĐ 5 BB–người đă chọn chết theo thành, và không nỡ bắt "con em người ta gửi gấm cho ḿnh" chết oan uổng ở những giờ phút tàn cuộc của chiến tranh Việt Nam–là một trong những tài liệu hiếm hoi, có giá trị sử liệu. Hợp Lưu trân trọng giới thiệu tác giả Triệu Vũ với quí độc giả.

    Tạp Chí Hợp Lưu

    Đầu tháng 9-1965, sau khi tốt nghiệp khóa 19 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, tôi về B́nh Dương tŕnh diện Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh. Đây là một trong những đại đơn vị kỳ cựu của Quân lực VNCH, bao gồm các đơn vị thiểu số miền Bắc – mà đa số thuộc sắc dân Nùng thuộc vùng tự trị Móng Cáy của Đại tá Wọng A Sáng. Di cư vào Nam, được mang tên Sư Đoàn 3 Dă Chiến, sau đổi thành Sư đoàn 5 Bộ Binh, trấn giữ vùng đông bắc thủ đô Saigon và được coi như đơn vị tín cẩn nhất của chế độ.

    Ngày ấy, Tướng Vỹ c̣òn mang cấp bậc Thiếu Tá, giữ chức Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 9. Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn đồn trú tại Bến Cát, sau dời lên Chơn Thành, cách tỉnh lỵ B́nh Dương khoảng 50 km về hướng Bắc. Từ Bộ Tư Lệnh SĐ ở Phú Lợi - B́ình Dương, tôi đã nhiều lần lên đó, khi th́ đi cùng phái đoàn Thanh Tra, khi thanh tra một ḿnh, theo lệnh đơn vị trưởng, nên tôi có nhiều dịp tiếp xúc với Thiếu Tá Vỹ và các Sĩ Quan trong Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn. Nhờ vậy, cũng từ những ngày đó, tôi biết thêm nhiều về cuộc đời "người lính chiến thực sự" Lê Nguyên Vỹ.

    Tướng Vỹ sinh năm 1933 tại Sơn Tây, miền Bắc Việt Nam. Ông nguyên là sĩ quan binh chủng Nhảy Dù, thời Thiếu Tá Đỗ Cao Trí c̣òn giữ chức Liên Đoàn Trưởng. Ông tham dự nhiều cuộc hành quân từ Bắc vào Nam. Năm 1955, sau cuộc tảo thanh B́nh Xuyên ở Saigon - Chợ Lớn, ông được thăng cấp Đại Úy. Ít năm sau, rời Nhảy Dù, Ông ra phục vụ tại Sư Đoàn 5 BB. Ông được giao chức Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 2/9, rồi Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 9BB năm 1965 với cấp bậc Thiếu Tá sau một thời gian làm Chi Khu Trưởng Chi Khu Bến Cát.

    Những ai từng làm việc với ông, dù thượng cấp, hay quân sĩ dưới quyền, đều chung một nhận xét: Ông là vị chỉ huy rất nóng tánh – theo tôi phải nói là trực tánh mới đúng. Trong một đặc san của Sư Đoàn 5BB thuở đó, đă ghi như sau về Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 9 – tức Thiếu Tá Vỹ: "Có một lần Ông vung tay đập vỡ mấy cái mặt bàn". Nhưng nói ǵ th́ nói, không ai có thể phủ nhận Ông là một sĩ quan chỉ huy hành quân tài giỏi, thủ cũng như công. Những phái đoàn thanh tra từ Tổng Tham Mưu, Quân Đoàn, Sư Đoàn khi đến quan sát nơi đóng quân của đơn vị Ông, đều hết lời khen ngợi. Bản doanh Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn 9 tại Chơn Thành là một căn cứ pḥng thủ h́ình ngũ giác kiểu mẫu.

    Đối với nhân viên thuộc Bộ Chỉ Huy, có lẽ Ban 2 vất vả hơn cả. Lư do đơn giản là Ông Trung Đoàn Trưởng luôn quan tâm đến t́nh h́inh địch, t́inh h́inh bạn. Nhờ vậy, đơn vị do Ông chỉ huy đã ghi hết chiến công này đến chiến công khác, trong cũng như ngoài Khu 32 Chiến Thuật. Những địa danh, những mật khu, những chiến khu từ Bến Súc, Bến Sỏi qua Dầu Tiếng, Lộc Ninh, Hớn Quản, đến Đồng Xoài, Phước Long, Phước Quả rồi mênh mông Tam Giác Sắt, Chiến Khu C, Chiến Khu D v.v. nơi nào cũng in dấu gót giầy hành quân của các chiến sĩ Trung Đoàn 9.

    Những năm 1965-1967, sau khi quân tác chiến Mỹ ào ạt đổ vào miền Nam, t́pnh h́inh chiến trận cũng như chính trị có nhiều biến động. Trên mặt trận quân sự, CSBV công khai đưa các đơn vị chính qui vào vùng Cao nguyên Trung phần (Tây Nguyên, tức Mặt trận B-3) và Tây Bắc vùng Hỏa Tuyến (Mặt trận Trị-Thiên). Đồng thời, CSBV cũng thành lập Sư Đoàn 2 tại Quảng Ngăi và Sư Đoàn 3 "Sao Vàng" tại B́nh Định (Quân khu 5 CS). Tại miền Đông Nam Phần (Quân Khu 7 CS), CSBV thành lập sư đoàn (Công trường) 9 tại B́nh Long, 5 tại Bà Rịa (Căn cứ Mây Tầu) và 7 tại Phước Long.

    Về chính trị, từ tháng 6-1965, chính phủ dân sự Phan Khắc Sửu - Phan Huy Quát rút lui, trả lại quyền điều hành đất nước cho quân đội! Người ta được nghe những cụm từ như Ủy Ban Lănh Đạo Quốc Gia, Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương v.v., hoặc Tổng Cục A, Tổng Cục B, Cục Y, Cục Z v.v. V́ Quân Đội điều hành việc nước, dĩ nhiên nhiều quân nhân được nắm giữ các chức vụ quan trọng tại các Bộ và nha, sở. Những cấp chỉ huy cao trong quân đội cứ thay đổi liên tục. Thực là đau ḷòng khi thấy phe này hạ bệ hoặc thanh toán phe kia, tôn giáo này ḱnh chống tôn giáo nọ. Chắc không ai có thể quên vụ "bàn thờ ra đường" c̣n được gọi là vụ "Phật Giáo miền Trung" xẩy ra vào mùa Xuân 1966. Chính quyền Trung Ương tại Saigon năm ấy đă mang quân đội và cảnh sát ra Đà Nẵng và Huế thẳng tay dẹp bàn thờ và phong tỏa chùa chiền. Một số lớn quân nhân theo Phật giáo đă bị thuyên chuyển từ Vùng I vào Vùng III hoặc vùng IV Chiến Thuật. Dân gian thời đó thường truyền miệng "được làm vua, thua làm đại sứ" hoặc "được làm vua, thua đi chữa bệnh" v.v. Trường hợp các Ông Dương Văn Minh, Trần Thiện Khiêm, Nguyễn Khánh, Đỗ Cao Trí, Nguyễn Chánh Thi, Phạm Văn Liễu v.v. là những chứng nhân rực lửa hận thù hoặc xót xa, tiếc nuối, ngậm ngùi tới cuối đời. (Xem hồi kư Nguyễn Chánh Thi, Đỗ Mậu, Phạm Văn Liễu, v.v.)

    Thời gian này, Trung Đoàn 9 của Trung Tá Vỹ thường phối hợp hành quân với các đơn vị của Sư Đoàn 1 Bộ Binh Hoa Kỳ trong các chiến dịch tiến vào các mật khu Cộng Sản như Cedar Falls, Junction City v.v. Ông giữ vững lập trường một người lính chiến đấu, gắn bó với tiền tuyến, sát cánh cùng thuộc cấp giữ chắc tay súng truy cản địch quân ngoài mặt trận, chỉ lo chu toàn nhiệm vụ mà không quan tâm đến nhiều rối loạn chính trị, nhiều tranh giành quyền lực tại hậu phương.

    Sự tham chiến của binh đội Mỹ – nhất là việc đánh bom miền Bắc để áp lực Hà Nội ngưng xâm lược miền Nam, chấp nhận sự hiện hữu và biên giới của hai thể chế chính trị do các cường quốc ngấm ngầm chấp nhận – gặp sức phản kháng và chống đối trên toàn thế giới. Ngay tại Mỹ, phong trào phản chiến cũng ngày một dâng cao, khởi đi từ những cuộc biểu t́nh ngồi chống lệnh động viên trong các đại học, rồi đến những cuộc biểu t́nh ngoài đường phố. Bởi vậy, từ năm 1966-1967, chính phủ Tổng Thống Lyndon B. Johnson phải t́m cách tiếp xúc với Bắc Việt để t́m một giải pháp chính trị.

    Trong khi đó, tại miền Nam, các phe phái, Tướng Tá vẫn không ngừng tranh chấp, thanh toán lẫn nhau. T́nh huynh đệ chi binh và mục tiêu chiến lược bảo vệ miền Nam khỏi họa Cộng Sản không đủ ngăn chặn những mưu bá, đồ vương. Người ta cho rằng miền Nam sẽ ổn định nếu chấm dứt t́nh trạng quân đội nắm quyền và tổ chức bầu cử càng sớm càng tốt. Thế nhưng oái oăm thay, sau khi liên danh Nguyễn Văn Thiệu -Nguyễn Cao Kỳ thắng lợi trong cuộc tuyển cử tháng 9-1967 và dẹp yên được chống đối của phe Phật Giáo cùng sinh viên, học sinh, t́nh h́nh hậu phương bề ngoài yên tĩnh, thực ra có biết bao cột sóng ngầm cuồn cuộn. Sự kết hợp bất đắc dĩ của liên danh Thiệu - Kỳ có nguy cơ trở thành đối đầu và tiến đến thanh toán nhau trong những ngày tới.

    Ngoài chiến trường, chỉ nói riêng khu 32 Chiến Thuật (gồm 3 tỉnh Binh Dương, B́inh Long, Phước Long), vùng trách nhiệm của Sư Đoàn 5 BB, đă mở rất nhiều cuộc hành quân b́ình định, hành quân truy quét địch, cho nên t́inh h́inh an ninh tạm ổn. Lại thêm lúc này quân đội Mỹ vào miền Nam đă lên con số khá cao. Quốc lộ 13, c̣òn có tên gọi là "Quốc lộ máu", đoạn B́nh Dương - B́nh Long đă ít bị phục kích hoặc gài ḿn. Hoặc đoạn đường "gai lửa" B́nh Dương - Phước Long trên Quốc lộ 14 cũng được khai thông.

    Đặc biệt thời gian này, Tiểu Đoàn 2 Trung Đoàn 9BB đă ghi một chiến công lớn. Nhờ tinh thần chiến đấu anh dũng, quyết tâm kháng cự, lại được phi pháo yểm trợ, Tiểu đoàn đă bẻ gẫy một cuộc tấn công của địch vào Bộ chỉ huy, đóng tại Phước Quả, cách tỉnh lỵ Phước Long hơn 10 km về phía tây nam. Do chiến thắng trên, Tiểu Đoàn Trưởng 2/9 (Đại Úy T.) được thăng cấp Thiếu Tá, sau về làm Trung Đoàn Phó Trung Đoàn 9 BB.

    Như đă lược nhắc, từ năm 1967, phong trào phản chiến trên nước Mỹ dâng cao. Những vụ biểu t́nh đ̣i rút binh đội Mỹ khỏi Việt Nam không ôn hoà như trước mà có phần quá khích, có khi c̣n đốt cờ Mỹ hoặc xé thẻ trưng binh v.v. Chính phủ Johnson bối rối, hơn nữa lại sắp có tổng tuyển cử vào năm tới (1968). Đây là một thách thức lớn của Tổng Thống Johnson và Đảng Dân Chủ. Qua trung gian Tổng thư kư LHQ, Pháp, Vatican cùng một số nước khác, chính phủ Johnson t́m cách ḍ ư Hà Nội về một giải pháp chính trị. Trong khi đó, bộ máy chiến tranh tại Hà Nội, được Liên Sô và Trung Cộng cố vấn, đă bắt mạch được thế lúng túng của Hoa-Thạnh-Đốn, nên ra sức chuẩn bị một trận đánh lớn để chứng tỏ khả năng hiện diện và tiềm năng quân sự của họ tại chiến trường miền Nam, đồng thời làm chao đảo tinh thần nhân dân và Quốc Hội Mỹ cũng như tạo áp lực với chính phủ Johnson tiến tới bàn hội nghị.

    Đúng vào những ngày Tết năm Mậu Thân 1968, Hà Nội đơn phương hủy bỏ thỏa thuận hưu chiến, mở cuộc Tổng Tấn Công vào Saigon và 44 tỉnh, thị xă của VNCH. Mặt trận tại B́nh Dương và BTL/SĐ5 khởi diễn đêm mùng 1 rạng mùng 2 Tết (31-1-1968). Lúc này, quân số hiện diện tại các đơn vị thuộc BTL/SĐ, cũng như Tiểu Khu B́nh Dương, trường Công Binh, Thiết Đoàn 1 Kỵ Binh v.v. không tới 50%. Thế mà, dù cho địch có chuẩn bị thật kỹ, bảo mật tối đa và đặc biệt tấn công bất ngờ, chúng vẫn không làm chủ t́nh h́nh. Giao tranh dữ dội tại khu vực Ḷ Chén và trường Công Binh trong tỉnh lỵ. Địch cũng đặt những "chốt" chặn xung quanh thị xă và pháo kích vào Phú Lợi, cách B́ình Dương 5km về hướng đông, nơi đặt Bộ Tư Lệnh SĐ5BB, mục đích cầm chân, không cho tiếp viện. Lập tức, Sư Đoàn điều động đơn vị của Trung đoàn 7BB giải toả từ phía nam lên và đặc biệt lệnh cho Trung Đoàn 8 của Đại Tá Vỹ ở Bến Cát (lúc này Ông đă thăng cấp Đại Tá, chỉ huy Trung Đoàn 8BB) đưa đơn vị về giải tỏa từ phía bắc và phía đông. Đại Tá Vỹ đặt Bộ chỉ huy Hành Quân tại Bưng Cải, khoảng giữa tỉnh lỵ và BTL/SĐ. Ông đích thân điều động cuộc hành quân đánh đuổi địch ra khỏi thị xă và các chi khu lân cận, đồng thời tiếp tục truy quét tàn quân địch.

    Nh́ìn chung, cuộc tổng tấn công và tổng khởi nghĩa của Việt Cộng năm Mậu Thân đă thất bại nặng nề. Nhưng về chính trị, chúng đă đạt thắng lợi đáng kể. Trước áp lực từ nhiều phía, tháng 3-1968, Tổng Thống Johnson tuyên bố không tái tranh cử và hai tháng sau, Hoa-Thạnh-Đốn cùng Hà Nội cử phái đoàn tới Paris để thương nghị. Số phận VNCH đang nằm trên bàn cờ chính trị cũng như lịch sử VN sắp sang một trang mới.

    Sau những đợt hành quân giải tỏa năm Mậu Thân, Đại Tá Vỹ trở về Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn tại Bến Cát. Thế là, sau khi chỉ huy Trung Đoàn 9 trên 3 năm, rồi Trung Đoàn 8 trên 2 năm, Đại Tá Vỹ đă thực sự dẫn giắt và có công xây dựng thành 2 Trung Đoàn chủ lực hùng hậu của SĐ5BB. Chính Tướng Phạm-Quốc-Thuần, người đă nắm chức Tư Lệnh SĐ5 hơn 4 năm (có lẽ lâu hơn các vị Tư Lệnh khác) chắc rất hănh diện và quý mến vị Trung Đoàn Trưởng này. Đổi lại, Đại Tá Vỹ được địch quân treo giá tính mạng rất cao. Để có thể chiêu dụ hoặc thanh toán Ông, địch đă dùng nhiều phương cách, kể cả ám sát và mỹ nhân kế v.v. Địch c̣òn dùng thủ đoạn khác là lợi dụng t́nh cảm quan hệ gia đ́nh từ miền Bắc gửi thư cho Ông. Nhưng chúng đă không thực hiện được một ư đồ nào. Ông và các quân sĩ thuộc quyền, tiếp tục truy lùng và diệt địch, tiếp tục lập chiến công. Những trận đánh tại Phú Ḥa Đông, bên kia sông tỉnh lỵ B́ình Dương, ṿng lên Cầu Định, Bầu Bàng, Bầu Ḷng, qua tận Phú Giáo, hoặc những vụ phục kích trên hành lang di chuyển của địch, bắt sống, hạ sát giao liên - kinh tài, tịch thu vũ khí - tài liệu v.v. khiến hoạt động quấy phá của địch trong vùng trách nhiệm suy giảm rơ rệt. Thời gian này, sự kiện đáng ghi nhớ là một lần nữa, SĐ5BB lại được tuyên dương công trạng trước Quân Đội. Và tất cả quân nhân từ binh sĩ tới cấp Tướng thuộc SĐ hănh diện được đeo Dây Biểu Chương Bảo Quốc Huân Chương màu đỏ hoàn toàn.

    Tuy nhiên, chiến thắng quân sự của VNCH và Đồng Minh năm 1968 không đủ làm nguội tham vọng chiếm miền Nam của Hồ Chí Minh - Lê Duẩn và Đảng CSVN. Tại Mỹ, việc TT Thiệu chưa chịu gửi phái đoàn qua Paris tham dự ḥa đàm trước ngày bầu cử phần nào giúp liên danh Nixon đắc cử khít khao, nhưng chính sách giải kết của Mỹ đă là ḥn đá tảng. Tổng thống Nixon gọi TT Thiệu qua Midway thông báo sẽ bắt đầu triệt thoái quân Mỹ và Đồng Minh, nhưng sẽ giúp VNCH tăng gia quân số cũng như trang bị vũ khí hiện đại hơn, trong khuôn khổ kế hoạch Việt Nam hóa chiến tranh (Vietnamization). Đích thân TT Nixon, trong chuyến công du Á Châu, đă bí mật ghé Saigon vào hạ tuần tháng 7-1969, cho lệnh quân đội Mỹ triệt thoái nhanh hơn. Chính sách ngoại giao toàn cầu của Mỹ cũng thay đổi dần, từ "đối đầu" sang "ḥa hoăn", "đối thoại". TT Nixon và Cố vấn An Ninh Quốc Gia Henry Kissinger bắt đầu sử dụng cả hai lá bài Nga Sô và Trung Cộng, để ép Hà Nội phải chấp nhận một giải pháp chính trị.

    Đầu năm 1970, v́ quân đội Đồng Minh đă một phần rút khỏi Việt Nam, trong khuôn khổ kế hoạch Việt Nam hóa chiến tranh, BTL/SĐ5 di chuyển lên Lai Khê, cách quận lỵ Bến Cát khoảng 5km về hướng đông bắc, nằm trên Quốc lộ 13. Lai Khê xưa kia là nơi người Pháp xây dựng nhà máy, pḥng thử nghiệm cao su và có trồng hàng trăm héc ta cao su làm mẫu. Lai Khê đă trở thành một căn cứ quân sự quan trọng, nơi đặt Bộ Tư Lệnh một Lữ Đoàn của SĐ1BB Hoa Kỳ; và khi họ về nước, BTL/SĐ5BB tiếp nhận căn cứ trên. Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn 8 cùng đóng chung trong căn cứ.

    Thời gian này, Tướng Nguyễn Văn Hiếu đă thay Tướng Thuần làm Tư Lệnh. Đại Tá Vỹ làm Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 8 thêm một thời gian trước khi đi thụ huấn tại Hoa kỳ. Và Trung Đoàn này đặt dưới quyền chỉ huy của một sĩ quan do Tướng Hiếu đưa từ miền Trung về. Tiếc thay vị Đại Tá Trung Đoàn Trưởng mới (Bùi Trạch D.) đă thân bại danh liệt trong trận Snoul (nằm giữa tỉnh Kratie và biên giới Việt - Campuchia), khiến cả một Trung Đoàn chủ lực của SĐ, với phù hiệu "Chúa Sơn Lâm" trên ngực áo trái, bị thảm bại, nay như người bệnh đang cần chữa trị, thuốc thang để mau có sức hồi phục – cả đơn vị chỉ c̣òn khoảng 500 tay súng. Chính Tướng Hiếu cũng bị ảnh hưởng không tốt sau trận Snoul. Kể từ đây, con đường binh nghiệp của Tướng Hiếu đă rẽ sang một khúc quanh mới (và cuối cùng Ông đă tử nạn tại Văn Pḥòng Tư Lệnh Phó Quân Đoàn III với lư do "Bất cẩn khi lau chùi vũ khí?")

    Năm 1971, sau khi tốt nghiệp khoá Chỉ Huy Tham Mưu Cao Cấp tại Hoa Kỳ, Đại Tá Vỹ được lệnh trở lại SĐ5BB, với chức vụ Tư Lệnh Phó SĐ. Đương kim Tư Lệnh là Tướng Lê Văn Hưng. Đại Tá Vỹ ra sức chấn chỉnh việc pḥng thủ căn cứ Lai Khê, nơi đặt bản doanh chính của Bộ Tư Lệnh SĐ. Căn cứ Lai Khê có ṿòng đai pḥòng thủ khá rộng. Các pháo đài, các vọng gác làm bằng gỗ thông và bao đựng cát che chắn, có tính dă chiến, tạm bợ, do quân đội Đồng Minh để lại, đă đến lúc phải tu bổ, sửa chữa nhiều. Đích thân Đại Tá Vỹ cùng các Đơn vị trưởng đến từng vọng gác, từng pháo đài quanh căn cứ để kiểm soát, đôn đốc, tái thiết lập hệ thống pḥòng thủ. Ông chỉ thị các đơn vị phải đào những hầm trú ẩn h́ình chữ "A" để giảm thiểu thiệt hại cho binh sĩ khi địch pháo kích v.v. Cũng nhờ vậy mà sau nhiều lần tấn công của đặc công Việt Cộng, khi th́ vài toán nhỏ, khi cả tiểu đoàn, cũng không thể nào xâm nhập sâu trong căn cứ. Trái lại, bị lực lượng bố pḥòng phát hiện kịp thời và phản kích khiến chúng thiệt hại nặng. Có lần, sau một cuộc tấn công xâm nhập, tổng số tử thi đặc công đếm được ngay tại ṿòng đai trong cùng của căn cứ lên tới hơn 40 xác. Đây là con số khá lớn, v́ căn bản, tấn công bằng đặc công là xử dụng những toán nhỏ, được huấn luyện rất thuần thục, nhằm gây tổn thất lớn về vật chất và tinh thần cho đối phương. Vả lại, phải mất một thời gian lâu dài, địch mới đào tạo bổ sung được hơn 40 đặc công
    .

    còn tiếp
     
  9. Hoa Hạ

    Hoa Hạ Bảo Quốc Công Thần Đệ Tam Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngoài bản doanh chính tại căn cứ Lai Khê, Sư Đoàn 5 đặt Bộ Tư Lệnh Hành quân tại thị trấn An Lộc, tức tỉnh lỵ B́nh Long, nằm trên Quốc lộ 13, cách Saigon khoảng 100km về hướng bắc. Tướng Hưng và Đại tá Vỹ thường luân phiên có mặt tại An Lộc để kịp đáp ứng t́nh h́nh.

    Thời gian này, kế hoạch "Việt Nam hóa" chiến tranh đă gần hoàn tất. Cả Mạc-Tư-Khoa lẫn Bắc Kinh đều áp lực Hà Nội sớm giải quyết chiến tranh. Lê Đức Thọ – nhân vật quyền lực thứ ba trong bộ Chính trị Đảng CSVN – nhiều lần mật đàm tại Paris cùng Cố vấn An Ninh Quốc Gia Mỹ Henry Kissinger, trong chiến lược "vừa đánh vừa đàm". Về phương diện quân sự, nhân thế thất bại chiến lược của quân lực VNCH tại Hạ Lào và Campuchia, Hà Nội quyết định mở một đợt tấn công mới trong mùa Xuân-Hè 1972, với miền Đông Nam Việt làm "điểm", và Quảng Trị cùng Cao nguyên Trung phần làm "diện", nhằm tiêu hao lực lượng VNCH và mở rộng lănh thổ kiểm soát, chuẩn bị cho giải pháp "ngưng bắn da beo". Trên mặt trận ngoại giao, Hà Nội muốn lợi dụng năm tranh cử Tổng thống ở Mỹ để ép chính phủ Richard Nixon phải nhượng bộ ngưng yểm trợ chế độ VNCH của Tổng Thống Thiệu, hầu thành lập một chính phủ ḥa hợp. Hà Nội c̣n muốn thành lập một thủ đô cho Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam, dưới bảng hiệu mới Chính phủ Lâm thời Cộng ḥa Miền Nam Việt Nam.

    Tuy nhiên, vào tháng 1-1972, do Tướng Abrams dự đoán được ư đồ của Hà Nội – đă gia tăng những cuộc oanh tạc B-52 khiến các trục tiếp vận chiến lược của CSBV bị thiệt hại nặng nề – cuối cùng Bộ Chính trị Đảng CSVN đổi ư, chọn Quảng Trị làm "điểm" [chủ yếu], mặt trận miền Đông và Cao nguyên chỉ c̣n là "diện" [hỗ trợ]. Hạ tuần tháng 3-1972, đích thân Văn Tiến Dũng mang hơn 1 quân đoàn với đầy đủ tăng pháo vượt qua giới tuyến Bến Hải đánh chiếm Quảng Trị.

    Khác với những đợt tấn công năm Mậu Thân (2/1968, 5/1968, 9/1968) mà các nhà nghiên cứu và b́nh luận gọi là cuộc "tấn công tự sát", lần này Hà Nội, với mục đích tạo ưu thế tại bàn hội nghị, đồng loạt mở 3 mặt trận lớn tại Quảng Trị, Kon Tum và B́nh Long.

    Những ngày đầu tháng 4-1972, đă có tin t́nh báo ghi nhận những cuộc chuyển quân của địch từ phía bên kia biên giới, theo hướng bắc và đông bắc tiến gần đến Lộc Ninh, một quận lỵ thuộc tỉnh B́nh Long, cách thị trấn An Lộc khoảng 20km về phía tây bắc. Đây là nơi đặt Bộ Chỉ Huy Chiến đoàn 9 (gồm Trung đoàn 9 BB, tiểu đoàn Biệt động quân, Chi đoàn Thiết giáp, tiểu đoàn Pháo binh v.v.). Thế rồi, rạng sáng ngày 6 tháng 4 năm 1972, vẫn với chiến thuật quen thuộc tiền pháo hậu xung, lực lượng địch với quân số đông gấp ba quân trú pḥng, lại có chiến xa yểm trợ mở cuộc tấn công. Đại Tá Chiến đoàn trưởng Nguyễn Công V. cùng một số sĩ quan tham mưu bị bắt làm tù binh. Trong khi đó, thị trấn An Lộc, tức tỉnh lỵ B́nh Long, bị địch pháo kích từ mấy ngày trước, mở màn cho những trận mưa pháo ṛng ră trên ba tháng trời. Người ta bàng hoàng, lo lắng được tin Lộc Ninh thất thủ. Tướng Hưng và Đại Tá Vỹ đều có mặt tại BTL Hành quân để điều động quân sĩ trong vùng được gọi là mặt trận B́nh Long - An Lộc.

    Ngày 13-4-1972, Việt Cộng tung 3 Sư đoàn bộ binh (Công trường 5, 7, 9), có pháo và chiến xa yểm trợ tấn công. Mở đầu là những trận mưa pháo rót vào thị xă từ nửa khuya. Đạn pháo nổ liên tục trải khắp thành phố, rung chuyển mặt đất. Người ta không thể ước tính được có bao nhiêu trái đạn pháo và cũng không định hướng được địch đă pháo từ phía nào. Không kể những vị trí quân sự như Bộ Tư Lệnh Hành Quân/SĐ5, Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu B́nh Long, Bộ Chỉ Huy TrĐ 8 v.v., bệnh viện, trường học, chợ, nhà dân, trung tâm tạm cư cho người di tản từ Lộc Ninh đều bị trúng pháo địch. Cả thành phố ch́m trong lửa khói. Rồi bỗng nhiên địch ngừng pháo. Bên ngoài, trời vừa hừng sáng, những cột khói đen vươn lên cao. Người ta nghe được tiếng máy gầm gừ của đoàn cơ giới tiến vào thị xă. Không! Không thể lầm được! Chiến xa địch đang di chuyển, càng lúc càng gần Bộ Tư Lệnh Hành Quân. Đây là lần đầu địch sử dụng chiến xa tại chiến trường miền Đông và cũng là lần đầu tiên, binh sĩ của ta phải đối phó, nên có phần nào hoảng hốt, bối rối.

    Nhưng lạ thay, các họng súng đại bác trên chiến xa không thấy nhả đạn, địch h́nh như đang ḍ t́m mục tiêu, chúng đă mất phương hướng. Một chiếc T54 đang nghiến xích sắt trên mặt đường sát bên hông BTL/Hành Quân. Mọi người, từ binh sĩ tới Tư Lệnh chiến trường, đều nín thở như chờ đợi một thảm họa và hầu như phó mặc cho số phận. Bỗng Đại Tá Vỹ lao khỏi hầm, với nón sắt, áo giáp và đặc biệt khẩu súng chống chiến xa M72 trên tay, theo sau là Trung úy sĩ quan tùy viên. Tới bờ tường pḥng thủ, vừa lúc chiến xa địch vượt qua khỏi cổng chính khoảng 20 mét, Ông quỳ người, giữ tư thế tác xạ, đưa M72 lên vai. Người sĩ quan tùy viên kế bên, khom người quan sát. Mọi người trong hầm chỉ huy hồi hộp phóng tầm nh́n qua lỗ châu mai. Một tiếng nổ. Và một luồng lửa đỏ tống về phía sau. Chiến xa địch bị trúng hỏa tiễn, bốc khói nhưng vẫn cố di động trước khi trở thành một khối sắt xám xịt vô dụng bên vệ đường.

    Quân sĩ từ trong hầm chỉ huy đổ ra ngoài reo ḥ mừng rỡ. Bây giờ người ta mới thực sự tin M72 đă bắn hạ chiến xa địch mà suốt mấy năm qua, từ khi được trang bị, chưa có cơ hội tác xạ. Ai ngờ ngày hôm đó, trong cơn nguy khốn, vị Đại Tá Tư Lệnh Phó chiến trường lại làm nhiệm vụ một khinh binh, đích thân sử dụng M72 triệt hạ T54 của Bắc Việt. Câu chuyện Đại Tá Vỹ bắn hạ chiến xa địch lan truyền, tinh thần quân sĩ trú pḥng tại B́nh Long - An Lộc lên cao. Đó đây có những báo cáo về Bộ Tư Lệnh, cho biết đă bắn hạ thêm nhiều chiếc khác. H́nh như chiến xa địch bị vô hiệu hoá v́ không có bộ binh phối hợp, có lẽ do hiệu quả những đợt B52 trải nhiều thảm bom suốt ngày đêm hôm trước.

    V́ Hà Nội mở chiến dịch Xuân Hè 1972 khắp 3 vùng chiến thuật, lực lượng Tổng trừ bị VNCH (Dù và TQLC) bị phân tán mỏng. Sau đó, Bộ Tổng Tham Mưu giữ TQLC ở vùng I, và đưa Nhảy Dù về vùng III và vùng II. Quân Đoàn III c̣n được tăng phái một số đơn vị của Quân Đoàn IV như SĐ21BB, SĐ9BB. Liên Đoàn Biệt Cách Dù cũng vào mặt trận hầu có thể sớm giải tỏa An Lộc. Nếu An Lộc thất thủ, Sàig̣n tất nhiên bị đe doạ.

    Trong khi các lực lượng giải tỏa gặp rất nhiều khó khăn tại các nút chặn quanh thị xă An Lộc, nhất là tại Xa Cam, khoảng 10km về phía nam, th́ lực lượng tử thủ bên trong thị xă như sống trong hỏa ngục. Hàng ngày, cái thị trấn nhỏ bé nhận nhiều ngàn đạn pháo của địch, cộng thêm tiếng bom nổ của các phi cơ oanh kích chiến xa địch trên đường tiến gần thị xă, tiếng bom từ B52 trải xuống quanh vùng dội lại v.v. Liên lạc từ BTL Hành Quân đến các đơn vị bên ngoài bị gián đoạn. Tinh thần mọi người quá căng thẳng và rơi vào t́nh trạng khủng hoảng. Cũng có thể nhận xét của Tướng Hollingsworth, Cố vấn Quân Đoàn III, rằng Tướng Hưng, Tư Lệnh chiến trường, như người "mất hồn" và "không làm được việc ǵ cả" là quá khắt khe chăng?

    An Lộc bị vây hăm càng lâu, tinh thần quân sĩ trú pḥng càng xuống. Thiếu ngủ, thiếu dinh dưỡng, thiếu nước, v.v. lại thêm môi trường ô nhiễm v́ xác tử thi đă thối rữa, bốc mùi v.v. thực không sao tả hết được nỗi kinh hoàng cùng cực của các chiến sĩ tử thủ An Lộc ba mươi sáu năm về trước (cũng vào THÁNG TƯ quái ác). V́ "tất cả cho chiến trường", cho nên kế hoạch tiếp tế, tản thương đă lập tức thực hiện song song với việc giải tỏa. Việc tiếp tế thả dù khởi đầu không được như ư. Phi cơ phải tránh pḥng không địch, nên bay quá cao và có nhiều kiện hàng rơi không đúng nơi dự tính. Lại thêm địch tiếp tục pháo nên việc đón nhận các tiếp liệu phẩm gặp khó khăn. Đă có những quân nhân tử nạn v́ bị kiện hàng rơi trúng, không kịp tránh, hoặc bị trúng đạn pháo trước khi chạm tay vào các vật phẩm tiếp tế.

    Dẫu vậy, không như Cổ Thành Quảng Trị ở Vùng I hay Tân Cảnh (Dakto) ở Vùng II, thị trấn An Lộc đă đứng vững, chứng minh tinh thần anh dũng, quyết chiến của các chiến sĩ tử thủ cũng như giải tỏa, trong mặt trận B́nh Long - An Lộc. Kết thúc trận chiến, sau này theo thống kê, cả hai bên đều thiệt hại nặng. VNCH vẫn kiểm soát được các tỉnh lỵ, huyện lỵ (trừ Lộc Ninh) và thị trấn trên Quốc lộ 13, đoạn B́nh Dương - B́nh Long, Việt Cộng kiểm soát vùng nông thôn và ven ranh. Di chuyển lên B́nh Long, Phước Long, phải dùng phi cơ, không c̣n thênh thang đường bộ như năm trước.

    Rời chiến trường B́nh Long - An Lộc, một trận chiến làm rúng động thế giới, Đại Tá Vỹ về làm Phụ Tá Hành quân Tư Lệnh Quân Đoàn III rồi được chỉ định làm Tư Lệnh lực lượng đặc nhiệm (gồm liên đoàn Biệt Động Quân, Thiết Giáp, Pháo Binh v.v.). Ngoài ra, Ông cùng một phái đoàn được đi du ngoạn Đài Loan gọi là để tưởng thưởng các chiến sĩ hữu công. Sư Đoàn 5BB cũng có một Tư Lệnh mới, Đại Tá Trần Quốc Lịch thay Tướng Hưng từ sau trận chiến An Lộc. Những cuộc giao tranh ác liệt không c̣n, thỉnh thoảng địch "đóng chốt" hoặc bắn xẻ.

    Năm 1973, Đại Tá Vỹ thuyên chuyển về Sư Đoàn 21 BB, giữ chức Tư Lệnh Phó. Ít lâu sau, chính Tướng Hưng lại về làm Tư Lệnh Sư Đoàn 21 một thời gian trước khi nhận chức Tư Lệnh Phó Quân Đoàn IV. Rừng núi miền Đông Nam Phần khác với vùng śnh lầy miền Tây. Hơn hai mươi năm trước, Thiếu Úy Vỹ đă cùng bao đồng đội, lao ḿnh ra phỏi phi cơ ở độ cao mấy ngàn bộ, khi th́ nhảy ngay trên đầu địch, khi th́ nhảy xuống sau lưng địch, đánh bọc hậu, th́ nay, dù Sư Đoàn 5 hay Sư Đoàn 21, dù Quân Đoàn III hay quân Đoàn IV, đời chiến binh đâu chẳng là nhà. Và nhiệm vụ nào thượng cấp đă giao, phải ra sức chu toàn. Với nhiệm vụ của một Tư Lệnh Phó, Đại Tá Vỹ thường bay thị sát trong vùng và không may, trong một phi vụ quan sát, máy bay gặp nạn, Ông bị văng ra khỏi phi cơ nhưng như có phép lạ, chỉ bị gẫy xương ống chân và xây xát, bầm tím trên mặt, trên thân thể. C̣n sống sót khi máy bay gặp nạn là điều hiếm thấy và quân y viện đă săn sóc, bó bột chân; xong để Ông về nhà dưỡng thương ba tháng trước khi tháo băng bột.

    Thời gian dưỡng thương, đi lại phải nhờ vào cặp nạng nhôm quân y viện cho mượn, sinh hoạt cần thiết hàng ngày đôi lúc phải nhờ người khác. Nhưng đây cũng là thời gian hiếm có trong đời để nhớ về những trận đánh, những chiến trường và những chiến công. Là một chiến sĩ từng xông pha ngoài trận tuyến, dày dạn chiến trường, mà nay chỉ làm bạn với chiếc máy thu thanh, thu h́nh, tin tức chỉ xoay quanh Việt Cộng vi phạm hiệp định bao nhiêu lần, đă đón nhận bao nhiêu tù binh, giành dân lấn đất ở đâu v.v., Ông thường tự hỏi chẳng lẽ mang danh chiến sĩ mà cứ loanh quanh trong căn pḥng hơn 20 mét vuông với đôi nạng hay sao?....

    Thoắt đă gần 3 tháng, c̣n 2 tuần nữa là tới ngày tháo bột. Những bằng hữu, chiến hữu lui tới thăm hỏi cũng thưa dần. Trong khi ấy, sau trận chiến An Lộc, Sư Đoàn 5 BB cần được bổ sung và chỉnh đốn về mọi mặt, từ quân số đến trang thiết bị. Đại Tá Trần Quốc Lịch, đă được thăng cấp Chuẩn Tướng. Bộ Tham Mưu/SĐ gồm Đại Tá Tham Mưu Trưởng Đ., Trưởng Pḥng 1 H., Trưởng Pḥng Tổng Quản Trị T.H., Trưởng Pḥng 4, Tiểu Đoàn Tiếp Vận, Trung Tâm Huấn Luyện Sư Đoàn v.v. cộng với các Trung Đoàn Trưởng mới … tập họp thành một "…" (không biết dùng từ nào cho thích hợp), làm Sư Đoàn "tuột dốc" thê thảm. Nạn bè phái, chạy chọt chức vụ, cấp bậc, lo lót về đơn vị yểm trợ, lính ma, lính kiểng, ăn chơi, trụy lạc v.v. khiến Trung Ương không thể dung dưỡng được lâu. Và kết quả, Chuẩn Tướng Lịch bị cách chức Tư Lệnh, giáng cấp, chờ ngày ra toà (dịp này, Chuẩn Tướng Lê Văn Tư/SĐ25BB cũng bị cách chức và giáng cấp).

    Vào một ngày đầu tháng 11-1973, Đại Tá Vỹ nhận lệnh về đảm nhiệm chức vụ Tư Lệnh Sư Đoàn 5 BB với trọng trách chấn chỉnh, thanh lọc và lấy lại uy danh ngày xưa. Thời gian này, Trung Tướng Phạm Quốc Thuần đă thay Tướng Nguyễn Văn Minh làm Tư Lệnh Quân Đoàn III và Quân Khu III. Lệnh trên đă ban ra, buộc Đại Tá Vỹ phải yêu cầu các quân y sĩ tháo băng bột ở chân sớm hơn dự dịnh một tuần và ngày 7 tháng 11-1973, lễ bàn giao diễn ra tại Bộ Tư Lệnh/SĐ ở Căn Cứ Lai Khê.

    Trở lại chiến trường miền Đông lần này, lại nhận một trọng trách lớn, Đai Tá Vỹ bắt tay ngay vào việc chấn chỉnh, sắp xếp các sĩ quan ở Trung Đoàn và Bộ Tham Mưu. Ông rất hài ḷng với ba Trung Đoàn Trưởng: Trung Tá Quế, từ đơn vị Biệt Cách Nhảy Dù chỉ huy Trung Đoàn 9; Trung Tá Hùng, thụ huấn tại Trường Chỉ Huy Tham Mưu, về chỉ huy Trung Đoàn 8; và Trung Tá Vượng, Trung Đoàn 7. Trường hợp Trung Tá Vượng tưởng cũng nên mở dấu ngoặc để nói thêm: Ông từ binh chủng Thủy Quân Lục Chiến, về Sư Đoàn 5 làm ... sĩ quan Thanh Tra! Đại Tá Vỹ, không muốn phí phạm nhân lực và muốn tạo cơ hội tốt cho Trung Tá Vượng, nên đă trao Trung Đoàn 7 cho Ông. Đối với Bộ Tham Mưu Sư Đoàn, trải qua những kinh nghiệm chiến trường và những phúc tŕnh đầy đủ, Đại Tá Vỹ muốn có một phụ tá biết xử dụng khả năng, sức mạnh của thiết giáp, kỵ binh nên Đại Tá Thoàn thuộc binh chủng Thiết Giáp đă về làm Tư Lệnh Phó/SĐ, và Trung Tá Đ.Đ.Chinh, một Sĩ Quan Tham Mưu nhiều năm kinh nghiệm thay Đại Tá Đăng trong chức vụ Tham Mưu Trưởng. Dĩ nhiên phần lớn các trưởng pḥng thuộc Bộ Tham Mưu/SĐ cũng lần lượt ra đi. Thế là SĐ5BB bây giờ đă mang một bộ mặt mới và quân sĩ đă có niềm tin mới vào các cấp chỉ huy. Con đường trước mặt là phải ngăn chặn và giáng trả những vi phạm, phải giành lại những nơi mà địch lấn chiếm sau hiệp định tháng 1-1973, tới nay c̣n đóng "chốt" và cố thủ. Ngoài ra, việc pḥng thủ các vị trí đóng quân cũng là mối quan tâm lớn của vị tân Tư Lệnh. Bài học đắt giá từ chiến trường An Lộc khiến các đơn vị đă tích cực hơn nhiều trong việc thiết lập hệ thống pḥng thủ. Ngoài việc đào giao thông hào quanh đơn vị, lập hầm trú ẩn an toàn cho binh sĩ, mỗi đơn vị bắt buộc phải đào một giếng nước v.v. Riêng ṿng đai pḥng thủ căn cứ, ngoài hệ thống ḿn bẫy dĩ nhiên phải có, Đại Tá Vỹ đặc biệt giao cho Tiểu Đoàn 5 Công Binh sản xuất thực nhiều chông nhỏ rải xung quanh các pháo đài quanh căn cứ. Loại chông này, lấy vật liệu từ kẽm gai, có h́nh dáng như 4 cái đinh, mỗi đinh dài khoảng 3cm, mũ của đinh tụ lại ở giữa, bốn đầu nhọn của đinh có ngạnh giống lưỡi câu, hướng ra ngoài. Khi chông rải ra, lúc nào cũng có một mũi nhọn hướng lên trời để chờ đợi những bàn chân "đi giải phóng". Đại Tá Vỹ muốn tạo niềm tin cho các quân sĩ, tin vào khả năng tác chiến, tin vào vũ khí và hỏa lực, tin vào hệ thống pḥng thủ vững chắc và nhất là tin vào tinh thần quyết chiến của cấp chỉ huy cùng đồng đội, th́ cho dù tiền pháo hậu xung, cho dù biển người, cho dù xe tăng T54, T56 v.v. cũng không làm sờn ḷng chiến sĩ SĐ5.

    Tuy rất bận rộn với công vụ, Đại Tá Vỹ thường dành vài giờ mỗi tháng để nhắn nhủ hoặc tâm t́nh cùng quân sĩ tại vơ đường của SĐ. Đặc biệt, rút kinh nghiệm chiến trường An Lộc, Ông đă chỉ thị Trung Đoàn 8 cho tác xạ biểu diễn hoả tiễn TOW (được trang bị từ cuối năm 1972), một loại hoả tiễn tối tân có thể điều khiển t́m mục tiêu, để quân sĩ trú pḥng vững tin hơn. Thời gian này, Sư Đoàn lại được bổ sung hai Sĩ Quan nhiều kinh nghiệm tham mưu và chiến trận: Đại Tá Nguyễn Mạnh Tường và Đại Tá Từ Vấn. Đại Tá Tường xuất thân binh chủng Nhảy Dù, trước khi về SĐ là Tiểu Khu Phó TK/B́nh Định; Đại Tá Vấn nguyên là Liên Đoàn Trưởng Liên Đoàn 22 Biệt Động Quân.

    Về an ninh diện địa, trong vùng trách nhiệm của SĐ5BB, Việt Cộng vi phạm Hiệp Định ngừng bắn nhiều lần, nhưng chỉ lẻ tẻ và ở mức độ thấp. Đơn vị tác chiến của SĐ đă trực tiếp giáng trả hoặc hỗ trợ các đơn vị Địa Phương Quân, Nghĩa Quân giành lại thôn, ấp xa xôi do địch tạm chiếm. Tuy nhiên vào khoảng gần cuối năm 1974, cách quận lỵ Bến Cát hơn 10km về phía tây nam, đồn Rạch Bắp bị địch tràn ngập. Đây là một trọng điểm kiểm soát hành lang di chuyển của địch. Lực lượng đồn trú bị tổn thất nhẹ và đă rút ra ngoài an toàn. Bộ Tư Lệnh chỉ thị Trung Đoàn 9 phải đưa một đơn vị hành quân giải tỏa. Địch đă rút lui về vùng Tam Giác Sắt chỉ để lại chừng một trung đội cố thủ tại đây. Trải qua mấy ngày đầu, lực lượng tái chiếm vẫn dậm chân tại chỗ. Địch núp dưới giao thông địa đạo tránh bom và pháo. Khi ta xung phong lại gặp hỏa lực dữ dội của địch. Cho nên đơn vị của TrĐ 9 đến giải tỏa, thay đổi chiến thuật. Trong khi cả tiểu đoàn vây hăm ṿng ngoài, có những toán nhỏ với vũ khí nhẹ và lựu đạn, xâm nhập và tiêu diệt từng ổ kháng cự. Thế là cũng với quân số tương đương, ta chiếm lại được Rạch Bắp. Niềm vui chiến thắng kéo dài tới ngày Quốc Khánh 1-11-1974, ngày Đại Tá Lê Nguyên Vỹ được vinh thăng Chuẩn Tướng. Một số các quân nhân khác cũng được tưởng thưởng và thăng cấp trong dịp lễ kỷ niệm này. Đặc biệt sắc lệnh thăng thưởng cấp Tướng chỉ có hai vị: H.V.Lạc lên Chuẩn Tướng thực thụ, và Lê Nguyên Vỹ nhiệm chức.

    Khoảng trung tuần tháng 12-1974, từ phía đông bắc căn cứ Lai Khê, tin dữ đưa về: Việt Cộng tấn công một số chi khu của tỉnh Phước Long như Đôn Luân, Đức Phong và đang uy hiếp tỉnh lỵ. Mọi liên lạc tiếp viện, yểm trợ không thể dùng đường bộ, chỉ hoàn toàn trông vào không lực VNCH. Trong khi phi trường Biên Ḥa, phi trường Phước Long, và BTL/SĐ5 bị pháo liên tục th́ Sư đoàn 7 của địch, có tăng và pháo yểm trợ mỗi ngày một xiết chặt ṿng vây quanh Phước Long. Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III đă không vận tăng cường đến Phước Long lực lượng Biệt Cách Dù, một tiểu đoàn bộ binh và 3 đại đội trinh sát. Ngoài ra rất nhiều phi tuần đánh bom quanh tỉnh lỵ. Nhưng v́ đánh giặc theo kiểu "con nhà nghèo", bắn một viên đạn, thả một trái bom đều phải tính thành tiền, vả lại làm ǵ c̣n B52 trải bom thảm theo yêu cầu nữa, lại không c̣n một lực lượng Tổng Trừ Bị nào tăng phái cho Quân Đoàn, v́ thế Phước Long chỉ cầm cự được thêm ít lâu và thất thủ vào ngày 6-1-1974. Đây là tỉnh lỵ đầu tiên của VNCH bị địch lấn chiếm trong chiến dịch "tầm ăn dâu" hay là "giành dân lấn đất".

    Không biết do áp lực nào, Tổng Thống Thiệu đưa Tướng Dư Quốc Đống về thay Tướng Thuần. H́nh như Tướng Đống cũng lập kế hoạch giải tỏa và cần tăng viện một sư đoàn, nhưng không được đáp ứng v́ không đủ quân, nên có ư xin từ chức. Rồi vài tháng sau, Tướng Nguyễn Văn Toàn thay Tướng Đống. Tướng Thuần, Đống hoặc Toàn làm tư lệnh, Phước Long vẫn nằm trong tay Việt Cộng và h́nh như Phủ Tổng Thống hay Bộ Tổng Tham Mưu đă quay mặt với lư do nơi đây không phải là vị trí chiến lược quan trọng. Chỉ trong ṿng 3 tháng mà hai lần thay Tư Lệnh quân đoàn bảo vệ Saigon. Rồi lại một tin không vui từ Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III truyền đi: Tướng Hiếu đă tử nạn!!! Nghe tin này, người ta thực hoang mang và xúc động.

    Trong khi đó, sau khi chiếm được Phước Long, Việt Cộng tảng lờ những chống đối, lên án, tại Ủy ban kiểm soát đ́nh chiến, tại Ban liên hợp quân sự v.v. cứ khăng khăng "chỉ đánh trả lại những vi phạm Hiệp định Paris" của VNCH. Quan trọng hơn hết, Hoa Kỳ không có phản ứng, hoặc phản ứng lấy lệ. Dĩ nhiên, đối với Hoa Kỳ, chiến tranh VN đă là dĩ văng. Kể từ năm 1967, họ đă từng bước lập kế hoạch, nào là thư từ qua lại, nào là đi đêm, hoạt động con thoi, nào là qua trung gian các cường quốc rồi chiến tranh cục bộ, Việt Nam hóa chiến tranh, rồi leo thang, rồi ném bom Hà Nội v.v. Cuối cùng, gần 6 năm sau, đúng nửa đêm ngày 27 rạng 28-1-1973 giờ quốc tế, có một bản văn được kư kết tại Hội nghị Paris với tên gọi "Hiệp Định về Chấm Dứt Chiến Tranh và Tái Lập Ḥa B́nh tại Việt Nam" theo nhu cầu và quyền lợi của quốc gia Hoa Kỳ. Hơn 60,000 lính tác chiến Mỹ c̣n lại đă triệt thoái. Hầu hết tù binh Mỹ được phóng thích, kể cả Đại tá Không quân John McCain – đương kim ứng cử viên Tổng thống Mỹ – sau hơn 5 năm đủ mùi vị đầy đọa, hạ nhục tại Hỏa Ḷ Hà Nội. Dù chẳng phải không tiên liệu được tham tâm nhất thống miền Nam của Lê Duẩn và Đảng Lao Động Việt Nam, nhưng TT Nixon và Ngoại trưởng Kissinger không có một lựa chọn nào khác, đành vui hưởng cái gọi là "ḥa b́nh trong danh dự" [peace with honor] từ mùa Xuân 1973. (Không biết đây có phải là Mỹ đă "thua" và phải "tháo chạy" như có người đă nhận xét?).

    Tại Bộ Tư Lệnh SĐ5BB, đầu năm 1975, Đại Tá Từ Vấn giữ chức vụ Tham Mưu Trưởng thay Đại Tá Chinh xin thuyên chuyển về trường Hạ Sĩ Quan Nha Trang. Đại Tá Nguyễn Mạnh Tường, theo trên cho biết, có liên hệ đến vụ đảo chánh 11-11-1960, nên không được chấp thuận chức vụ Tham Mưu Trưởng. Tướng Vỹ chỉ định Ông làm Phụ Tá Hành Quân.

    Nh́n chung Quân đội VNCH giai đoạn này, đă ở thế thủ. Viện trợ quân sự bị cắt giảm nhiều, không đủ lực mở những cuộc hành quân quy mô, có tăng, có pháo và phi cơ yểm trợ đầy đủ như trước. Tướng Vỹ cho biết, trong t́nh h́nh xấu nhất, Ông có thể cầm cự 6 tháng không cần tiếp tế.

    Nhưng Hà Nội bắt đầu phát động chiến dịch Xuân-Hè 1975, với hy vọng làm ăn ở miền Tây nguyên. Ba sư đoàn Bắc quân, được tăng pháo và đặc công yểm trợ, tấn công và chiếm được thị xă Ban Mê Thuột, nơi đặt Bộ Tư lệnh Sư đoàn 23 BB vào thượng tuần tháng 3-1975. Tư lệnh Quân đoàn II và Bộ Tổng Tham Mưu hoàn toàn bị bất ngờ. Giữa lúc các lực lượng cơ hữu của QĐ II đang lo tái chiếm Ban Mê Thuột, TT Thiệu triệu tập một phiên họp mật với Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm, Đại Tướng Cao Văn Viên và Trung Tướng Đặng Văn Quang tại hành lang Dinh Độc Lập, tiết lộ đă quyết định triệt thoái khỏi Pleiku và Vùng I chiến thuật, rút về lập tuyến pḥng thủ Phan Rang - Ban Mê Thuột. Lư do chính là phái đoàn Nghị sĩ mới từ Mỹ về cho biết viện trợ tài khóa 1975-1976 lại bị cắt giảm. TT Thiệu đành phải thực hiện chiến lược "đầu bé, đít to" – cắt nhỏ dần lănh thổ kiểm soát, cốt sao giữ được Vùng III và Vùng IV. Quyết định này được thông báo cho Tướng Trưởng ngày 12-3-1975: Hoàn trả Nhảy Dù về Sài G̣n; nếu cần, triệt thoái Huế, về giữ Đà Nẵng. Hai ngày sau, TT Thiệu cùng các Tướng Khiêm, Viên và Quang bay ra Cam Ranh, họp mật với Tướng Phạm Văn Phú, và cho lệnh triệt thoái Kontum - Pleiku. Tướng Phú đề nghị cho hành quân cấp Quân Đoàn dài theo Quốc lộ 7-B – từ ngă ba Thuần Mẫn trên lộ 14, xuống Cheo Reo (Phú Bổn), Củng Sơn, rồi Tuy Ḥa. V́ lư do "bảo mật", ngay ngày 16-3, toàn bộ lực lượng QĐ II bắt đầu rút khỏi Pleiku. Các lực lượng Cảnh sát, Địa Phương Quân và Nghĩa quân đều bị bỏ lại. Ngay trong đêm 16-3, hỗn lọan đă bùng nổ ở Pleiku, khi Sư Đoàn 6 Không Quân di tản gia đ́nh và thân nhân. Hàng chục ngàn dân chúng Pleiku thu góp tài sản đổ về đường 7-B. Văn Tiến Dũng, dù bất ngờ, cũng sai quân đuổi theo truy kích. Đoàn di tản bị kẹt đọng lại ở Cheo Reo, và rồi Củng Sơn. Quốc lộ 7-B trở thành địa ngục trần gian cho những quân nhân QĐ II di tản. Toàn bộ xe tăng, thiết giáp và pháo bị lọt vào tay CSBV. Chưa đầy 5000 người di tản t́m được về Tuy Ḥa. Tư lệnh lực lượng bảo vệ, Chuẩn Tướng Tất, bị bắt sống. Trực thăng cứu thoát được Chuẩn Tướng Cẩm, Tư lệnh phó QĐ II, về Tuy Ḥa, nhưng sau này vẫn lọt vào tay CS.

    Lư do TT Thiệu ra lệnh triệt thoái, tới nay vẫn c̣n là dấu hỏi lớn, v́ đă mở đầu cho sự sụp đổ hoàn toàn của miền Nam Việt Nam. Người ta nghĩ rằng trước khi trở thành Tổng Thống, Ông đă là một Trung Tướng, đă là Bộ Trưởng Quốc Pḥng, vậy th́ đằng sau quyết định đó, có ẩn ư ǵ? ... Chỉ chắc một điều là quyết định này không do Mỹ chỉ thị để có thể "tháo chạy". Đại tướng Khiêm và Trung tướng Quang đă khiến các nhân viên Mỹ cực kỳ bực dọc v́ không thông báo cho Mỹ biết việc này, khiến các nhân viên Mỹ ở vùng II và Vùng I thất điên bát đảo.

    Hạ tuần tháng 3-1975, sau khi cuộc triệt thoái cao nguyên trở thành thảm bại, TT Thiệu cho lệnh Tướng Trưởng bỏ ngỏ các tỉnh Quân khu I, rút về tử thủ Đà Nẵng. Nhưng ngày 29-3, Đà Nẵng bị bỏ ngỏ. Các tỉnh duyên hải miền Trung cũng lần lượt sụp đổ như lâu đài trên băi cát. Ngay đến Phan Rang, quê hương của TT Thiệu, cũng di tản từ ngày 2-4-1975.

    Lữ Đoàn 3 Dù đang trên tàu về Sài G̣n, được lệnh đổ bộ xuống Nha Trang, rồi từ đây kéo lên Khánh Dương, chốt chặn mức tiến của SĐ 10 CSBV. Một Lữ đoàn Dù khác, cùng tàn quân SĐ 2 BB và SĐ 6 KQ, được điều ra Phan Rang lập Bộ Tư Lệnh Tiền Phương Quân Đoàn III. Nhưng chốt pḥng thủ chiến lược này bị cánh quân miền Đông của Lê Trọng Tấn, với quân số hơn 1 quân đoàn, diệt gọn trong hai ngày 16/17-4-1975.

    Ngày 18-4-1975, Long Khánh bỏ ngỏ. Tướng Toàn phải di tản Không quân xuống Cần Thơ. Mặc dù hai Sư Đoàn 25 BB và 5 BB c̣n trấn giữ phía Tây Bắc và Bắc Sài G̣n, t́nh thế đă tuyệt vọng. Bắc quân lên tới hơn 3 quân đoàn, với tăng, pháo hợp đồng.

    Tối 21-4-1975, TT Thiệu bàn giao cho Phó TT Trần Văn Hương, để "trở lại chiến đấu bên các chiến hữu". Nhưng bốn ngày sau, hai ông Thiệu, Khiêm bí mật rời Sài G̣n bằng phi cơ Mỹ. TT Hương cũng chỉ ở Dinh Độc Lập được một tuần lễ, rồi ủy quyền cho Quốc Hội. Chiều ngày Thứ Hai, 28-4-1975, Đại Tướng Dương Văn Minh tuyên thệ nhậm chức Tổng Thống – với hy vọng đạt một giải pháp màu hồng với Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam. Điều Tướng Minh và nhiều chuyên gia ngoại quốc không biết là vai tṛ MTDT/GPMN đă hầu như chấm dứt. Lê Duẩn – người không ngừng cổ vơ "cách mạng là tấn công" – cho lệnh phải giải quyết càng sớm càng tốt, nếu có thể trước năm 1976 như dự định.

    Tướng Minh và Thủ tướng Vũ Văn Mẫu không chọn đường tử thủ. Sáng ngày 29-4-1975, Thủ Tướng Mẫu chính thức yêu cầu người Mỹ rút khỏi VN, đóng cửa văn pḥng tùy viên quân sự (DAO) – một bước ngoại giao có tính toán giúp Mỹ rảnh tay ra đi.

    Cũng ngày 29-4-1975 này, Tướng Toàn và Bộ Tư Lệnh QĐ III từ Biên Ḥa di chuyển về G̣ Vấp, 5km bắc Thủ đô Sài G̣n. Riêng Sư Đoàn 5, lực lượng vẫn bảo toàn nguyên vẹn. Theo Tướng Vỹ, có thể địch tránh không muốn đụng SĐ5, nên chúng pháo cầm chân và tiến quân về Sàig̣n theo hai hướng đông và tây của Lai Khê, đồng thời đặt các nút chặn phía nam của Lai Khê, B́nh Dương. Sư Đoàn 5 cũng được lệnh chuẩn bị di chuyển về phía nam để tái phối trí. Sáng 30 tháng 4-1975, sau buổi họp Tham Mưu thường lệ chừng một tiếng đồng hồ, người ta bàng hoàng nghe tin TT Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng. Ông c̣n nhân danh Tổng Tư Lệnh Quân Đội ra lệnh cho quân nhân các cấp buông súng, chờ bàn giao! Đúng là sét đánh ngang tai!

    Tướng Vỹ lúc đó ưu tư nhiều, vẻ mặt trầm lặng, khác với bản tánh thường ngày. Ông tâm sự với một số sĩ quan tham mưu thu hẹp bên cạnh, với nét mặt b́nh thản khác thường: "Lệnh trên đă ban ra, phải thi hành. Hơn nữa, con em người ta giao cho ḿnh, không lẽ đem nướng vào giờ thứ 25 sao? Đối với các anh em th́ tùy ư quyết định". Xong Ông đi về phía trailer [pḥng lưu động của quân đội] dùng làm pḥng ngủ riêng cho Tư Lệnh.

    Ít phút sau, hai tiếng nổ khô khan vọng ra. Mọi người hốt hoảng chạy tới. Tướng Vỹ đă dùng khẩu súng ngắn của Ông để tự sát. Vết đạn xuyên từ phía dưới cằm lên đầu. Các Sĩ Quan hiện diện kính cẩn nghiêng ḿnh, không cầm được nước mắt. Lúc ấy là 12 giờ rưỡi trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975.

    Trong khi mọi người vội vă đưa thi hài Tướng Vỹ an táng tạm trong ṿng đai căn cứ th́ phía ngoài hàng rào, Việt Cộng dùng loa phóng thanh, âm lượng thật lớn kêu gọi mọi người bên trong đầu hàng. Khoảng 3 giờ chiều, Bộ Tham Mưu và các đơn vị mới tự động rời khỏi căn cứ, không có súng nổ. Nhưng mới qua khỏi quận lỵ Bến Cát, bị địch chận lại, tịch thu tất cả vũ khí, quân trang dụng. Hạ sĩ quan trở xuống cho tự túc về điạ phương, sĩ quan giữ lại, phân theo cấp bậc để đưa đi tù. Trang quân sử về Sư Đoàn 5 Bộ Binh chấm dứt ở thời điểm này.

    * * *

    Từ lâu, sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, rồi sau những năm tháng bị Việt Cộng giam cầm, hành hạ, tôi đă có ư định ghi lại vài kỷ niệm về Sư Đoàn 5 Bộ Binh và Tướng Lê Nguyên Vỹ. Đă gần 33 năm trôi qua, tôi chưa thực hiện được ư nguyện này. Khi c̣n ở trong nước cũng như kể từ khi định cư tại Mỹ mười mấy năm trước, biết bao nhiêu câu hỏi của bằng hữu, của đồng đội, của người thân xoáy sâu măi trong tâm trí tôi. Ai cũng yêu cầu tôi nói đôi điều về Tướng Vỹ. Tôi biết ở đâu đó, rải rác một vài ḍng trên báo chí, hay vài phút trong một chương tŕnh phát thanh tiếng Việt, không đủ thỏa măn người đọc, người nghe. Lại nữa, tôi là một sĩ quan của Sư Đoàn 5BB, suốt 10 năm rưỡi trong quân ngũ, 2 năm dành cho quân trường và một đơn vị ngoài SĐ, 8 năm rưỡi c̣n lại dành cho Sư Đoàn 5 và tôi đă khoác quân phục mang phù hiệu SĐ5 tới ngày cuối cùng. Ai mà không hănh diện khi có dịp nhắc đến đơn vị của ḿnh, lại c̣n hănh diện hơn nữa khi nhắc đến cấp chỉ huy đơn vị đă anh dũng, can đảm tuẫn tiết, quyết không chấp nhận đầu hàng địch. Ngày nào chưa ghi được đôi ḍng, dù là không đầy đủ lắm về Tướng Lê Nguyên Vỹ, tôi c̣n rất áy náy, như gánh nặng chưa trút xuống được và thấy ḿnh mắc một món nợ chưa kịp trả. Món nợ ấy là niềm hănh diện mà Tướng Vỹ đem lại cho SĐ5 BB nói riêng và Quân lực VNCH nói chung. Tướng Vỹ là người lính chiến đấu ngoài mặt trận với đầy đủ cái OAI cái DŨNG của nhà Tướng. Tôi cũng muốn nhắc nhở một sự thực mà người ta muốn chối bỏ là Miền Nam có nhiều dũng tướng, thành mất, Tướng phải chết theo thành, như Tướng Lê Nguyên Vỹ đă làm.

    30 tháng 4-1975, ngày tang lớn. Những bàng hoàng, xúc động sau 33 năm, nay đă lắng dịu phần nào. Cuộc sống nơi xứ người và tuổi 70 khiến tâm trí tôi b́nh thản hơn. Đôi ḍng đơn sơ trên là những sự thực về Tướng Vỹ mà tôi biết, dĩ nhiên chưa phải là tất cả. Dẫu sao, đây là những ḍng tâm thành, thay nén nhang dâng lên tưởng niệm vị anh hùng dân tộc Lê Nguyên Vỹ nhân ngày giỗ thứ 33 của người.

    Triệu Vũ,

    Tháng 4-2008.
     
  10. Hoa Hạ

    Hoa Hạ Bảo Quốc Công Thần Đệ Tam Đẳng Tình Nguyện Viên

    [​IMG]

    *Sư đoàn 5 Bộ Binh Tử Chiến Tại Bình Dương


    -Ngày 28/4/1975, sau khi chận đứng được đợt tấn công tại khu đông tỉnh B́ình Dương, Sư đoàn 5 Bộ Binh đă tử chiến để đối đầu với 2 sư đoàn Cộng quân từ hướng Chơn Thành-An Lộc. (Trước tháng 4/1975, pḥòng tuyến chính ở An Lộc và Chơn Thành do 2 liên đoàn Biệt động quân, 2 tiểu đoàn Địa phương quân án ngữ. Trong giai đoạn cuối của cuộc chiến, trước áp lực của Cộng quân, lực lượng Biệt động quân đă rút từ An Lộc về hợp cùng các đơn vị Địa phương quân, Nghĩa quân của Chơn Thành lập pḥòng tuyến mới tại nam Chơn Thành và đã chống trả quyết liệt các đợt tấn công của địch quân muốn chọc thủng pḥòng tuyến này).

    Những trái châu hồng tiếp nối bay lên
    Như đóm mắt khóc hơn ngh́ìn năm nhục nhằn thân bị trị
    Như giọt lệ tiếc thương những người xông pha yên nghỉ
    Trên quê hương lâm chiến điêu tàn
    Như giọt máu hồng rỉ trong buồng tim huyết quân Việt Nam
    Từng giọt nhỏ trên triền sông chân núi
    Anh lính Sư Đoàn 5
    Nghe ḷòng tràn hận tủi
    Mắt anh rứa máu căm thù
    Tay siết chặt tay cùng một tấm ḷòng
    Lời dõng dạc bên nhau thề tử thủ
    Ngày tiếp đêm chập chờn giấc ngủ
    Anh vẫn đứng hiên ngang nghe pháo đợi thù
    Những trái châu hồng lơ lửng theo hương gió trôi
    Thắp đỏ trên đầu rừng Xa Cam, Xa Cát
    Thắp đỏ con đường Tân Khai, Chơn Thành, An Lộc
    Pháo địch trải quanh ṿòng đai đất tung khói bốc
    Anh không nao núng vẫn đợi chờ
    Đạn đã lên ṇòng súng hướng phía thù
    Thổi đứt tùng tăng xuất hiện
    Tăng bốc cháy rụi tàn trong bão lửa
    Anh xạ thủ chân xiềng
    Lửa nướng thây vàng nứt nở nằm chết dưới sàn
    Một tay đứt lìa thân vắt ngang chân súng
    Lớp người cuồng say ùa lên tựa sóng
    Tay anh siết c̣ò
    Đạn ghim xác thù phơi
    Anh cắn chặt môi
    Môi ứa máu mà anh không hay biết
    Lưỡi lê anh lắp
    Trên đầu súng sẵn sàng
    Địch bước lên bờ tuyến thủ cận chiến bắt đầu
    Xuyên ánh thép qua ngực thù gục ngã
    Máu đỏ ướt chảy trên bờ tuyến thủ

    Bom vầy tung thây thù phơi tức tưởi rào gai
    Phi pháo đánh phủ đầu cuồng vọng xâm lăng
    Cuồng vọng chết theo mưa pháo đổ
    Những cánh tay vết chàm xâm c̣òn đâu nữa
    Câi sinh Bắc tử Nam
    Mộng Điện Biên lửa đốt rụi tàn
    Vùi chôn dưới hố bom lời nguyền rủa
    Lộ 13 hành lang máu
    Máu loan ướt đỏ
    Máu trên thây thù khô, thịt nhầy nhụa rửa tan
    Thân xác nằm im tức tưởi vội vàng
    Ai vuốt mắt cho lần yên nghỉ cuối
    Anh lính Sư Đoàn 5 quyết tử
    Nối chí cha anh đuổi giặc gậy tầm vông
    Anh đứng trong ḷòng An Lộc đất thép miền Nam
    Thề tử thủ không để thành côi lọt vào tay giặc
    Anh lính Sư Đoàn 5 ṿòng tay xiết chặt
    Cho An Lộc vững c̣òn
    Để ngày mai nghe gió lên rừng
    Phu cạo mủ bước âm thầm trên lá
    Vú sữa tṛòn no trái chín
    Trên vai gánh dịu dàng
    Xe gỗ lên rừng chở súc Lộc Ninh
    Bụi mù đỏ cuốn theo bánh chuyển
    Anh lính Sư Đoàn 5 đứng trong chiến tuyến
    Hào quang anh hùng rạng rỡ núi sông
    Mai mốt anh về thêm một chiến công
    Pho sử Việt dầy thêm vàng son sáng chói
    17 triệu dân nức ḷòng đón đợi
    Nh́ìn bước anh về nghe núi nở sông reo
    Anh lính Sư Đoàn 5, người lính Việt miền Nam
    Trên nét mặt cười vui ngày hạnh ngộ
    Sông biển dang tay ṿòng tay mở rộng
    Thương anh vô vàn đời dạn gió dày sương


    Không Biết Tên Tác Giả
    Hoa Hạ sưu tầm trên internet
     
  11. Hoa Hạ

    Hoa Hạ Bảo Quốc Công Thần Đệ Tam Đẳng Tình Nguyện Viên

    VÒNG HOA CHO ANH *10

    * Hoài Niệm Ngày 15 Tháng 5

    [​IMG]


    Cổng Tiểu Khu Bình Long Năm Xưa ...1972


    Cô giáo Nhã có nói với Hoa Hạ :" Lính của anh Đông chôn ảnh trước cổng tiểu khu Bình Long để mai mốt người nhà lên dễ tìm thấy xác mà đem về quê..."
    .Nhưng Anh đâu có chết một lần mà còn nhiều lần nữa rồi tan biến vào hư không.!
    Sau trận chiến, tất cả đã được san bằng. Tất cả chỉ còn đọng lại trong ký ức của mỗi người và tâm tình của mỗi người rồi cũng sẽ nổi trôi theo cùng năm tháng ... qua đi. Chỉ có một người là còn giữ mãi : " Nói có thương rồi thì đừng quên nhen. Nhưng làm lính thì đâu có gì để Em thương, chắc theo thời gian rồi cũng sẽ quên, phải không ..."
    - không. Em đâu có quên, để hoài niệm ngày mất của Anh, Em vẫn Đi Tìm Tác Giả Một Bài Thơ:

    Đồi Thanh, Mùa Thu 70

    viết cho bé của Anh.
    Cô bé học trò có đôi mắt đẹp, rất buồn.
    Vâng, rất buồn và rất xa...
    NTĐ

    Hôm qua, nở Thu vàng
    Nhớ Em lội suối qua rừng tìm Em
    Đồi Thanh ngan ngát hương sim
    Nở muôn đoá tím, tím trên nền chiều
    Sim buồn nhớ gió hắt hiu
    Anh buồn như tiếng vượn kêu nhớ rừng
    Nhớ Em ngồi đợi bên đường
    Nhìn mây bay khắp muôn phương chẳng về

    Ừ thì, mây tụ mây đi
    Ừ thì tan hợp có gì đâu Em?!
    Đêm nao giục tiếng sầu Quyên
    Vầng trăng mỏng ngủ bên thềm lẻ loi.
    Chút dư hương chợt bồi hồi
    Bên cầu tơ liễu ngậm ngùi áo Em
    Đây bông Hồng nở tim ta
    Còn xanh áo lụa đầu mùa đây Em
    Còn xanh hạt lệ mai sương
    Tóc mây hãy nhẹ cài thêm đoá sầu
    Nghìn sau hoa có phai mầu
    Đợi nhau ta đứng bên cầu nước trôi
    Phải chi mưa gió đơn chiều
    Hái hoa tầm gửi thã theo gót người
    Phải chi đời chảy dòng xuôi
    Để Em ngồi đợi cuối trời nhớ mong
    Người đầu sông, kẻ cuối sông
    Trăm năm chung sống một dòng cách ngăn

    Bài thơ nhỏ viết chưa xong
    Bởi người chinh chiến tang bồng còn đeo
    Một mai trang trắng tang bồng
    Đồi xưa có khách anh hùng trồng hoa
    Đồi Thanh vắng bóng Em rồi
    Đồi Thanh có kẻ còn ngồi đếm mây
    Chiều đi nhưng chiều chưa say
    Rừng Thu đã rụng từng giây lá vàng

    Nhớ Em nằm mộng trên đồi
    Trong mơ bướm trắng một đôi bay về..


    [​IMG]


    Em cúi xuống giọt sầu cho Anh đó,
    Khóc một lần, và chỉ một lần thôi
    Tình lỡ chia xa, mình cách ngăn rồi
    Anh nằm đó. Poncho buồn phủ kín
    Về với Em sao lạnh lùng câm nín
    không hát ru bằng bài hát tuổi hồng
    Hay hoa dù rực nở giữa Bình Long
    Cho rào rạt niềm vui trên phiến lá
    Em cúi xuống một lần xin vuốt mặt
    Ngủ đi Anh trên đỉnh bình yên
    Để riêng Em với bao nổi ưu phiền
    Và kỹ niệm tình đầu xin thắp sáng
    Làm lính miệt mài bỏ quên ngày tháng
    Dấu giày saut khắp nẻo chiến chinh mòn
    Về phép đôi lần rồi cách núi ngăn non
    Cho thương nhớ lệ mòn như giọt nến
    Em đợi Em chờ sao Anh lại đến
    Bằng lá Quốc Kỳ lịm kín đời Anh !!?
    Khăn sô buồn trên mái tóc Em xanh
    Còn in dấu nụ hôn đầu trên đó !
    Em cúi xuống áo Anh đầy máu đỏ
    Hôn trên môi giá lạnh một lần thôi !!
    Mãi mãi Anh ơi! Mình cách chia rồi
    Anh say ngủ trọn đời Em thao thức...]

    Sài Gòn, tháng 5 năm 1972.
    (Trích từ Nhật Ký của Hoa Hạ)


    Kỷ niệm 44 năm ngày mất của

    Cố U/Đ NGUYỄN THÀNH ĐÔNG
    Đại đội Trưởng Đại đội 1- Tiểu đoàn 2/7
    Sư đoàn 5 Bộ Bình - KBC 4441
    Đã hy sinh trên chiến trường Bình Long ngày 15 tháng 5 năm 1972

    [​IMG]
     
  12. Hoa Hạ

    Hoa Hạ Bảo Quốc Công Thần Đệ Tam Đẳng Tình Nguyện Viên

    [​IMG]


    VÒNG HOA CHO ANH **Hết

    Và Em đã không quên, ba mươi năm sau Em cũng vẫn chưa quên..

    ** Em Đến Nhà Anh Lần Thứ Ba.

    Vâng, ba mươi năm sau....
    Em đến thăm Anh lần thứ ba.

    Năm đó sau bao nhiêu biến động thăng trầm, gia đình Em được đoàn tụ - gặp nhau hết không thiếu một người nào dù ở Việt Nam hay về từ nước Mỹ. Và như một sự sắp đặt của Định Mệnh, đó lại là tháng Năm, còn hai ngày nữa là đến kỷ niệm 30 năm ngày Anh mất và sinh nhật lần thứ 57 của Anh. Như có một động lực nào vô hình mà mạnh mẽ lắm thúc giục Em phải làm...
    Em hỏi thăm đứa em thứ Tám:
    - Em nói em học chung với Đan Tâm, em gái anh Đông hả Oanh?

    - Dạ, hồi đó nó với em học chung, nhà nó ở dưới kia kìa. Đường xuống Lăng Hoàng Gia.
    - Đi, em chở chị xuống đó nha.
    - Chi vậy?
    - Đi thăm gia đình ảnh, ngày mai là ngày giỗ của ảnh mà.

    Sau khi ra chợ mua một trái sầu riêng và thêm một ít trái cây (như hàng năm Em vẫn làm như thế, còn có thêm bình hoa Cúc tím nữa), một bó nhang trầm để kỷ niệm ngày Anh mất, viết trên tấm thiệp một dòng:
    - "Em thắp cho anh ba mươi nén hương để kỷ niệm ba mươi năm ngày Anh nằm xuống"...
    và một giỏ hoa Hồng đủ mầu, trên.tấm thiệp thứ 2 kèm theo ghi vài chữ:
    -"Em đốt cho Anh 57 ngọn nến để mừng sinh nhật lần thứ 57 của Anh."

    Rồi hai chị em đi xuống đến nhà Đan Tâm, Em gặp Bác gái. Bác thật là phúc hậu nước da trắng người điềm đạm không mập không ốm, hơi thấp và tóc cũng bạc trắng. Sau khi hỏi thăm đôi điều và sau khi nghe Em nói là xin Bác cho Em đốt nén nhang thăm Anh thì Bác hỏi:

    - Cô là gì của nó mà thăm nó?

    - Dạ Con là bạn của anh Đông. Con ở xa lắm lâu lâu mới về quê một lần, con nhớ là sắp đến ngày giổ Anh nên nhân dịp về quê con đến thăm anh Đông.

    - Nó chết đâu có đem xác về được đâu...thờ là thờ vậy thôi, con muốn thăm nó thì ra nhà ở Bình Xuân, bàn thờ của nó ngoài đó. Còn đây là nhà của em nó thôi.

    Rồi Bác chỉ đường cho Em đi đến nhà ngoài Bình Xuân. Nhìn Bác Em nhớ Anh mà cũng thương Bác quá, thương cái cảnh tre già khóc măng non. Em rươm rớm nước mắt nhớ lời Thanh nói
    -"Nghe tin ảnh chết. Má Em khóc kể: Chị học nghề nầy mà anh Tư bị thương không ai cứu...", và Anh ơi, em thấy Bác cũng quay mặt đi.

    Em cám ơn Bác, chào Bác đi về.

    Oanh nói với Em:

    - Đi nữa hông chị? Nhà ở Bình Xuân thì em không biết, thôi bây giờ mình về đi, mai chị đi với anh Năm.

    Nhưng Em đâu đợi được đến ngày mai, như có một cái gì đó lạ lùng lắm thúc giục Em phải đi liền và đi tức thời, không đợi được. Em về rủ thằng em thứ Năm nó cũng biết Anh và nó đồng ý chở Em đi ra Bình Xuân.

    Từ Chợ Gò Công, qua Lăng Hoàng Gia xuôi ra bắc Cầu Nổi, gần đến bến phà bên tay phải là đồn Bình Thạnh Đông, chưa tới đồn, phía bên tay trái có con lộ đất đỏ nho nhỏ, dọc hai bên đường rải rác có những cây Phượng hồng đang đua nở... đó là con đường vào Bình Xuân, nhà của Anh.

    - Đây nè chị Hai, chắc cái tiệm nầy, mình vô hỏi thăm rồi gửi xe luôn.

    T hỏi cô chủ tiệm:

    - Cô ơi phải con đê nầy vô nhà của Đan Thanh, Đan Tâm ...không cô?

    - Nhà của Ông Nghệ phải không? Ba Đan Tâm... Dạ đúng rồi. Anh đi vô bờ đất đó rồi qua cái đê cao đó. nhà của Đan Thanh ở dưới mé sông.

    Em và T xin gửi chiếc xe ở đây rồi xách đồ đi theo lời chỉ, đi theo bờ nhỏ băng qua hai ba thửa ruộng săm sắp nước, trước mặt là con đê cao và đứng trên bờ thấy nhà Anh ở sát bờ sông Soai Rạp. Nhìn qua bên kia sông là phà Cầu Nổi lên Sài Gòn.

    Trước mặt Em là căn nhà gạch có khoảng sân tráng xi măng rất rộng, tay trái là một cây rơm và rải rác có vài cây ăn quả lẫn cây kiểng, nhà bếp nằm vô trong và sát bờ sông.

    Em và T hồi hộp đi vô nhà. Cửa nhà trên đóng kín, chỉ có gian bếp là cửa mở.

    T gõ cửa.... và một người đàn ông khoảng trên dưới 60 ra chào. Em hỏi :

    - Thưa anh, đây có phải là nhà của Ba Mẹ Đan Thanh Đan Tâm Không anh?
    Anh gật đầu và nói
    - Phải. Cô là ai?
    - Dạ em là bạn của Đan Thanh và Anh Đông. Sáng nay em có thăm Bác và gặp Bác ở nhà Đan Tâm. Em được Bác chỉ đường vô đây để thăm anh Đông

    Khi nghe nói Em có ý định đốt nhang thăm Anh thì anh Ba từ chối - anh ấy là anh thứ ba của Anh tên là H trước kia là giáo sư dạy ở Sài Gòn.Trong nhà chỉ có mình anh, không thấy Đan Thanh. Anh nói Thanh đã có chồng và đang sống trên Sài gòn. Anh không tin là ba mươi năm sau bạn gái của Anh vẫn còn có người nhớ mà đi thăm Anh nên ảnh cứ nói hoài. "... Lâu quá rồi... Bạn nó thì...ôi thôi vô số biết ai là ai...". Em chới với định từ giã ra về rồi, trong lòng thì thật là buồn lắm, nhưng biết sao hơn Em nói:
    - Anh Ba nói vậy thì thôi, Em xin chào anh Em về. Anh cho Em nhắn lời thăm Đan Thanh và nói giúp dùm Em là Em có đến thăm Thanh và anh Đông mà không gặp. Thưa anh Ba em về, cho Em kính lời thăm Bác gái mai Em đi rồi chắc không có dịp về nữa.

    Em vừa đứng dậy thì bổng Anh ấy nói..

    - Cô nói vậy thì...thôi để tôi đưa lên nhà cho cô thăm nó. Anh đi trước, ra ngoài sân mở cửa nhà trên mời Em vào bằng cổng chính.
    Em nói với anh Ba:
    - Năm nào đến ngày giỗ anh Đông Em cũng có chừng nầy trái cây, không có chi nhiều anh nhận cho Em vui....

    Trước mặt Em là một bàn thờ như mọi cái bàn thờ của người dân Việt. Gỗ nâu đánh verni có chạm cẩn ốc sa cừ, phần trên thờ Phật, bàn bên dưới để hai chân dung người quá cố. Một cái hình Em đoán là của bác trai và một khung hình.....Anh đây sao ??? Trong hình là một thanh niên với chiếc áo chemise trắng, hình chụp lại không lâu nhưng đã hơi mờ....

    XXXX

    Nghe kể lại, Đại Uý Lộc đã dẫn quân chạy băng băng vô rừng không một phút giây ngừng nghĩ với một quyết tâm lạ lùng "Phải vào An Lộc" mới được. Còn Em, hôm ấy Em cũng làm theo một mãnh lực thôi thúc trong lòng, phải đi Bình Xuân, Em phải đi đến nhà Anh ngay hôm nay không đợi đến ngày mai được, ngày mai Em phải về CT và sẽ không có dịp nào như thế nầy nữa...
    Và bây giờ hơn ba mươi năm mình đã gặp lại nhau!! Không phải, Em đã đến thăm Anh. Nhưng hình nầy... không giống Anh của cái thời có Em. Tấm ảnh nầy chụp lại một hình thời trung học, rất trẻ, phong độ, nho nhã của một thư sinh trói gà không chặt chứ không phải một sĩ quan chỉ huy Đại Đội của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

    Em hỏi Anh Ba :

    - Bàn Thờ của Bác trai ở đâu Anh Ba?
    Anh H trả lời:
    - Bàn thờ của nó chung với ba đó.

    Anh H đem cho Em một ngọn đèn dầu nhỏ để đốt nhang. Em xếp hai tấm thiệp, cặp đèn cầy trắng, xếp giỏ hoa Hồng trước tấm ảnh của Anh. anh H đứng ỡ đầu một cái bàn dài nhìn Em đốt hết một bó nhang, cắm từng cây vào tất cả chỗ thờ trong nhà, số còn lại Em đến bàn thờ chính khấn nguyện rồi ghim hết vào lư hương.

    Mùi trầm hương bốc lên nhanh, lan tỏa...... Anh lặng lẽ nhìn Em đứng bên bàn thờ, bất động nhìn đăm đăm khung ảnh của Anh.
    Anh lặng lẽ nhìn Em tựa đầu bên hông bàn thờ mà khóc, âm thầm, lặng lẽ.
    Chiếc khăn tay Em lau bụi khung hình của Anh hôm nay, Em sẽ giữ mãi để kỷ niệm ngày mình đối diện với nhau.
    Em nhìn Anh thêm lần nữa rồi quay ra, xuống nhà sau.

    Anh H vẫn còn ngồi đó, trên đầu một cái bàn dài và nhìn Em. Em cười nhẹ khi đi ngang qua anh Ba mà nước mắt còn ướt mi.

    Ngồi xuống bàn anh H ngập ngừng:

    - Có những chuyện mà nếu bây giờ mình không làm, không nói thì sau nầy sẽ hối hận.

    Em nhìn anh ấy ngầm hỏi. Anh H nói tiếp:

    - Tôi thành thật xin lỗi Cô. Lúc đầu tôi đã không phải với Cô. Tôi không nghĩ và cũng không ngờ được...

    - Không có gì đâu anh, anh e ngại cũng đúng thôi... Em hiểu mà ...

    Em nói với anh H:

    - Hình của anh Đông còn trẻ quá, hình như chụp hồi còn trung học...

    - Vậy chứ đâu có dám để mấy tấm hình kia...đốt hết rồi...

    "Đốt hết rồi". Em đốt hết rồi, gia đình của Anh cũng đốt hết rồi... Chân dung của Anh bây giờ chỉ còn trong tim của những người yêu thương Anh. Nhưng Anh chưa tan biến đâu, không mất đâu. Em vẫn còn thấy Anh rõ lắm mà...

    Thay lời kết

    [​IMG]

    Khi viết lại chuyện riêng của mình vào đây, Hoa Hạ chỉ có một ý nghĩ duy nhất là đem Anh - đem tên tuổi Anh về với đại gia đình mình. Đây là nhà Anh - là trại gia binh của Anh mà !! Anh nói Hoa Hạ là người yêu sau cùng của Anh, là vị hôn thê của Anh nên chỉ có một mình Hoa Hạ là có thể làm được chuyện nầy, thực hiện mong ước cuối cùng cho Anh mà thôi.

    Anh hiền lành dễ thương thế nầy sao cái chết của Anh lại tàn khốc như vậy hỡi Trời! Anh không những chết một lần mà năm bảy lần, rồi tan biến vào hư không... Hoa Hạ không cam tâm, không đành lòng, không muốn Anh không cửa không nhà, không có cả mảnh Quốc Kỳ phủ ấm như Anh đã từng viết:
    "Nếu anh chết xin em đừng khóc, cờ tổ quốc mầu vàng đẹp lắm, ba sọc đỏ ba miền dân tộc, phủ lên hình hài của đứa con, thế là anh mãn nguyện lắm rồi.".

    Bây giờ Anh đã bằng lòng chưa? Người tình trong cõi hư vô của cô học trò mang tên loài hoa đỏ - Hoa của mùa Hè khói lửa 1972 - hoa có mầu đỏ alpha Võ Bị, mầu của sư đoàn được ân thưởng Bảo Quốc Huân Chương. Ngày xưa thì Em không biết, bây giờ thì Em biết rồi ...Đó là Sư Đoàn 5 với lời thề của Danh Tướng Lê Văn Hưng "TỬ THỦ BÌNH LONG - AN LỘC"
    Bây giờ Em đã đem Anh về với mầu cờ, sắc áo, với đồng đội của Anh và với "Sư Đoàn ngon lành lắm" của Anh rồi đó. Em như thấy Anh cười, nụ cười thật đẹp...
    ... Anh đi nhen Em...
    Dạ Anh đi đi, đi về với sư đòan 5 của Anh, về với cõi hư không đầy huyền thoại của mùa Hè đỏ lửa 1972, nhưng ở nơi đây sẽ muôn đời giữ mãi, muôn đời lưu lại dấu chân Anh...

    Kỷ niệm sinh nhật lần thứ 71 & 44 năm ngày mất

    Cố Đại Úy Nguyễn Thành Đông
    Đại Đội Trưởng Đại Đội 1- Tiểu Đoàn 2/7 Sư Đoàn 5 Bộ Binh - KBC 4441




     
  13. Hoa Hạ

    Hoa Hạ Bảo Quốc Công Thần Đệ Tam Đẳng Tình Nguyện Viên




    Nhìn những hình ảnh nầy , lòng HH chợt rưng rưng nhớ về một ngày nào đó, của những năm 2002 hay 03 ...Chiều mưa buồn, HH gỏ vu vơ trên thanh tìm kiếm " ThuvienVietNam. com ....org " ...và một trang địa chỉ hiện ra, HH chọn một cái nhấn vào ... vài phút sau HH đã tròn mắt mà nhìn lá cờ Vàng ba Sọc đỏ với bản đồ Việt Nam hình Cong Chữ S hiện hữu trên màn hình computer . Lòng rưng rưng và nước mắt đã tràn ra .
    Và HH đã gắn bó với trang nhà Thư Viện Toàn Cầu từ đó.
    Hôm nay cũng vậy, nước mắt rưng rưng mà lòng thì lại rất vui ...nhìn lá cờ thân yêu tung bay phất phới ...!!!
     
    PHYTAN likes this.
  14. Hoa Hạ

    Hoa Hạ Bảo Quốc Công Thần Đệ Tam Đẳng Tình Nguyện Viên

    HÁT CHO NHỮNG NGƯỜI ĐÃ NẰM XUỐNG

     
  15. Hoa Hạ

    Hoa Hạ Bảo Quốc Công Thần Đệ Tam Đẳng Tình Nguyện Viên

    Kỹ niệm 46 năm ngày mất của
    Cố Đ/U NGUYỄN THÀNH ĐÔNG
    ĐĐT. ĐĐ 1- TĐ 2/7 - SĐ5 BB

     
  16. Hoa Hạ

    Hoa Hạ Bảo Quốc Công Thần Đệ Tam Đẳng Tình Nguyện Viên

Chia sẻ, giới thiệu đến bè bạn