Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!

Tục Ngữ Ca Dao - Văn Chương Bình Dân

Chủ đề trong 'Kiến Thức Khắp Nơi' do Cái bóng Hư Vô khởi đầu 16 tháng Bảy 2009.

  1. Cái bóng Hư Vô

    Cái bóng Hư Vô Công Dân

    Tục Ngữ Ca Dao - Văn Chương Bình Dân

    Năm 2002 tôi nhận được bộ Tục Ngữ Ca Dao của soạn giả Lê Gia (sưu tầm – biên soạn). Trước hết xin vài hàng về soạn giả Lê Gia:

    Ông tên là Lê Gia Đát, Cử nhân Luật, cựu giáo sư trường Trung Học (Công Lập) Lý Thường Kiệt (Hóc Môn Gia định từ năm 1956). Sau động viên và phục phụ tại Bộ Tư Lệnh Sư đoàn 9. Ông giải ngũ năm 1966, trở lại dậy học tại trường cũ đến tháng 4 – 1975. Sau 1975, ông sống bằng nghề buôn bán sách cũ. Tôi xin trích thư tay của ông (gửi cho tôi, học trò cũ của ông ngay từ thời ông mới dậy học) để thấy nguyên nhân, lý do ông biên soạn bộ Tục Ngữ Ca Dao:

    . . . . . . .
    “. . . . . và tôi sống tạm bằng nghề buôn bán sách cũ. Người ta mua về đọc cũng có, mua về cho vào lò bát quái để tái sinh cũng có . . .

    Rồi tôi thấy quyển nào có dính líu tới tục ngữ ca dao thì giữ lại, soạn lại. Mới đầu cũng chỉ nghĩ giữ làm kỷ niệm. Sau gửi lậu bản thảo sang Pháp nhờ một cựu giáo sư, bạn đồng nghiệp ngày trước, (thày PVT), xem có xuất bản được không, nhưng không được vì rất tốn và chưa chắc đã có ai mua. Chúng tôi phải đợi đến thời gian đổi mới, lúc đó các sách cũ của Tự Lực Văn Đoàn, chuyện Tầu v.v… được xuất bản rầm rộ, chúng tôi mới tìm cách xoay sở để xuất bản bộ Tục Ngữ Ca Dao, Thi Ca Dân Gian này …

    . . . . . . . .

    Thực ra Tục Ngữ Ca Dao là do tiền nhân để lại, có ai là tác giả đâu, mình có thêm được câu nào đâu. Mình chỉ làm công việc sắp xếp lại, so sánh các tài liệu tham khảo với nhau, làm cho kỹ hơn các sách cùng loại. Đem những dị dạng lên để so sánh và cuối cùng theo mình thì như thế nào, như thế nào hợp lý cũng như mở rộng đường dư luận v.v… Sau mấy năm trời thì việc in mới xong.

    . . . . . . . . . .

    Tóm lại ở tuổi anh tuổi tôi, chúng ta còn có cảm nhận được cái hay của Tục Ngữ Ca Dao, còn đối với lớp trẻ, chắc 90 hay 99% họ không để ý đến. Có lẽ họ không có thì giờ, họ còn nhiều môn khác để học, không những ở bên này mà ngay cả bên Việt Nam cũng vậy. Hát quan Họ, hát Chèo khuyến khích họ thì họ nói “thà bắt tù họ còn hơn”. Chúng tôi và các anh trước đây khi nghe Thày giảng về Tục ngữ Ca dao, về chuyện Kiều, về Chinh Phụ Ngâm thì thấy lòng rung động, nhưng nay thì khác rồi, mà khác cũng phải thôi, vạn vật đều thay đổi cả, may ra lòng mình còn giữ được chút nào để rung cảm.

    . . . . .

    Từ đó, bằng vào ý niệm trong thư thày gửi tôi:
    “Thực ra Tục Ngữ Ca Dao là do tiền nhân để lại, có ai là tác giả đâu, mình có thêm được câu nào đâu. Mình chỉ làm công việc sắp xếp lại, . . . . .”

    Và nhất là lời mở đầu trong bộ Tục Ngữ Ca Dao:

    “Những câu ca tiếng hát này sẽ giúp ích được cho chúng ta: Với trẻ em, thì đó là những bài giáo huấn vô giá, những câu ca vui sống, đối với người lớn thì đó lại thuộc về ngôn ngữ văn chương, còn đối với người già cả thì cũng là một cách tiêu dao lý thú . . .”

    Tôi xin được mạn phép viết lại một số những Tục Ngữ Ca Dao, hay Văn Chương Bình Dân, nói chung, để mong được đi theo một phần đường mà vị thày cũ tôi đã đi.

    . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

    Dưới đây là các bài trích từ bộ Tục Ngữ Ca Dao của soạn giả Lê Gia.
    . . . . . . .

    Trích “Khai Từ”:

    Biết bao Ý đẹp, Lời hay,
    Lòng son, Hồn thắm, Dãi bầy cùng con
    (Kính dâng Mẹ tôi)
    Tiếng này, tiếng của nước non,
    Lời này, lời của tâm hồn ông cha.
    (Kính bái Tổ Tiên tôi)
    Phong-dao, Tục-ngữ, Dân-ca,
    Việt Nam là đấy, đấy là Việt Nam.
    (Kính tặng đồng bào tôi)
    Soạn giả.
    . . . . . . . . .
    Trích “Mấy lời nói đầu” (trang 5):

    Tiếng nói là biểu hiện của tâm hồn. Tâm hồn càng cao rộng thì tiếng nói sẽ có lời hay, ý đẹp và được chuyển thành câu ca tiếng hát . . . . . . . . . . . . . .

    Những câu ca tiếng hát ấy đã có từ xa xưa, phát xuất từ nơi quần chúng, ghi lại phong tục tập quán bao đời của dân tộc Việt. Nó chẳng phải riêng để tỏ tình mà còn còn tỏ ý, có tính cách giáo dục, chỉ vẽ cho ta mọi lẽ sống ở đời, trong gia đình, ngoài xã hội. Nó có ngay từ thời Kinh Dương Vương dựng nước rồi mỗi đời lại có thêm và cho tới nay kể đã có mấy vạn câu.

    Đó là của quý của dân tộc Việt và cũng là của chung của nhân loại trong kho tàng ngôn ngữ, nó là quốc hồn, quốc túy Việt Nam. Dân tộc ta ngày nay còn có được chút hãnh diện nào thì cũng là do câu ca tiếng hát ấy.

    Vậy nên lâu nay, nhất là vào đầu thế kỷ, có khá nhiều sách báo đã sưu tập, giới thiệu và đề cập tới những câu ca tiếng hát (mà chúng tôi có trích ghi một số ở đây). Tuy nhiên, về số lượng cũng chưa nhiều lại bị rải rác, phần giảng giải chưa được bao lăm mà cũng còn có nhiều nghi vấn,và gần đây lại bị tư tưởng, văn hóa nước ngoài lấn át nên những câu ca tiếng hát ấy đã không được truyền tụng phổ thông và đầy đủ. Như vậy thì chỉ trong một hai thế hệ nữa đây, sẽ còn được bao người biết tới nó và có biết thì cũng chẳng còn được. Rồi đây gia tài văn hóa dân tộc có cơ bị phá sản sao đây ?

    Nghĩ như vậy nên chúng tôi mới mạnh dạn soạn bộ sưu tập này, sau mấy chục năm làm việc, với phương cách:

    - Sưu tập các câu ca tiếng hát ấy nơi sách báo, nơi cửa miện dân gian, càng nhiều càng tốt, không lựa chọn cao thấp để mong giữ lại tối đa gia tài của ôngcha để lại cho hậu thế, . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
    . . . . . . . . . Vậy nên trong khắp các địa phương trên đất nước, từ Bắc vào Nam, tỉnh nào cũng có ít nhiều câu ca tiếng hát của mình được ghi lại nơi đây

    - Chia ra từng loại mục cốt yếu, . . . . . . . . .
    . . . . . . . . . . . . . .
    . . . . . . . . . .

    Đó là do tài trí hữu hạn và cũng do hoàn cảnh khi khó khăn, chúng tôi chỉ dám mong lấy thiện chí của mình mà đổi lấy sự rộng lượng của quý vị.

    Và chúng tôi nghĩ rằng:

    Những câu ca tiếng hát này sẽ giúp ích được cho chúng ta: Với trẻ em, thì đó là những bài giáo huấn vô giá, những câu ca vui sống, đối với người lớn thì đó lại thuộc về ngôn ngữ văn chương, còn đối với người già cả thì cũng là một cách tiêu dao lý thú … . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
    . . . . . . . . . . . . . . . .

    Viết trong một túp lều tre nơi núi rừng của miền cực nam Việt Nam tiết Đông Chí, Quý Hợi 1983.

    Soạn giả
    . . . . . . . .
    (Tôi xin nhẩy qua những đoạn như: Tìm hiểu khái quát về nền thi ca dân gian, Định nghĩa và phân tích các loại Tục ngữ, Phong dao và Dân ca v.v… Những gì tôi trích đăng lên đây không theo thứ tự trong bộ Tục ngữ Ca dao.) Trước hết, tôi trích Phần hai: Một số thành ngữ ba (3) tiếng của cuốn “Tâm Hồn Mẹ Việt Nam (Tục ngữ Ca dao) quyển mười hai (12) Dãi Bày III. Bắt đầu từ trang 253:
    . . . . . . . . . . . . . .
    Khóc như mưa,
    Cưa cho đứt,
    Làm mít ướt, (chú thích: Khóc vòi vĩnh, nhõng nhẽo)
    Vuốt râu hùm.

    Nói tùm lum, (nhiều chuyện)
    Mồm ống nhổ,
    Ớn tới cổ,
    Bở hơi tai. (Quá mệt).

    Cao lênh nghênh,
    Lanh như chớp,
    Trắng lôm lốp,
    Hớp mất hồn

    Trang 254:
    Chết thì chôn,
    Còn trong trứng,
    Nhảy cà tửng,
    Đứng như trồng.

    Nói trống không,
    Đồng với bóng, (Cùng loài)
    Cứng bản họng, (Hết nói)
    Nóng như điên. (Quá nóng giận)

    Đồ võ biền, (Không tế nhị)
    Tiền là nhất,
    Trời có mắt,
    Thắt hầu bao.

    Nói tào lao,
    Đau như cắt,
    Đói con mắt, (No mà vẫn thèm)
    Mặt bánh dầy.

    Cá rô cây,
    Ngay cán cuốc,
    Của như nước,
    Vuốt đuôi lươn. (Để tuôt mất)

    * Lược giải Cá rô cây: nói về tính quá tiết kiệm và cố che giầu cảnh Thầy nghèo. Do câu truyện khôi hài được lưu truyền: Một số thầy Đồ nghệ (người Nghệ An) ngồi dậy học tại tư gia thường ăn cơm tự túc. Trong mâm cơm của thầy bữa nào cũng thấy một đĩa cá rô chiên dằm trong đĩa nước mắm (nước mắm nghệ là loại ngon có tiếng). Về sau người ta biết đó chỉ là những con cá rô làm bằng gỗ (cây), các các thầy làm như vậy là đẻ che khuất sự ăn uống quá tiết kiệm của mình đi (chỉ ăn cơm với nước mắm).

    Cần câu cơm,
    Gươm kề cổ,
    Nghe nói gió, (nghe hơi, nghe lóng)
    Đỏ như son.
    (còn tiếp)
     
  2. Cái bóng Hư Vô

    Cái bóng Hư Vô Công Dân

    Tuc Ngữ Ca Dao - Văn Chương Bình Dân

    Ca dao Ý đẹp
    Tục ngữ Ca dao 2

    Để tránh sự kéo dài khi trích về một chương mục (như phong dao, mê ngữ, túy ngôn, tục ngữ v.v…) liên tiếp, nên trích xen kẽ các chương mục đó trong mỗi kỳ. tiếp theo đây là trích phần nhì Sưu Tập (từ trang 64 trở đi,của cuốn một – Ý Đẹp)
    (Các tiết mục trong bộ Tục ngữ Ca dao cuốn một gồm: a- Tục ngữ, b- Phong dao, c- Dân ca, d.- Ca dao
    Phần a: a.1- Thành ngữ, a.2- Ngạn ngữ, a.3- Sấm ngữ, a.4- Mê ngữ, a.5- Phương ngôn, a.6- Cách ngôn, a.7- Châm ngôn, a.8- Ngụ ngôn, a.9- Túy ngôn,
    Phần b: b.- Phong giao, b.1- Đồng giao, b.2- Lý ca.
    Phần c: Dân ca và Phần d. Ca dao.)
    . . . . . . . .
    Từ trang 64:
    Sưu tập
    Tiểu dẫn:
    Bốn con ngồi bốn góc giường
    Mẹ hời, mẹ hỡi, mẹ thương con nào.
    Mẹ thương con út lắm thay,
    Thương thời thương vậy, chẳng tày trưởng nam.
    Trưởng nam chẳng có gì đâu
    Một trăm cái giỗ đổ (bổ) đầu trưởng nam.
    . . . .
    A.- Phần Cha Mẹ
    . . . . . .
    Gieo tiếng ra, gẫy cây gẫy cối,
    Mở miệng là có cội có cành.
    Dạy con phải nói cho rành,
    Đừng gieo những tiếng chua chanh giận hờn.

    Con thơ dại sớm hôm chăm sóc,
    Cặn kẽ từng sợi tóc đường tơ.
    Dậy con từ thuở còn thơ,
    Dạy vợ từ thuở bơ vơ mới về.

    Chỉ cho rõ đường đi nước bước,
    Báo cho nghe sau trước thiệt hơn.
    Cá không ăn muối cá ươn,
    Con cải cha mẹ trăm đường con hư.

    Quan tám ừ, quan tư cũng gật,
    Thấy con hư ngoảnh mặt chẳng coi.
    Chó gầy hổ mặt người nuôi,
    Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà.

    Con không cha như nhà không nóc,
    Nhà dột từ nóc cỏ mọc từ bờ.
    Con vua thì lại làm vua,
    Con chú sãi chùa lại quét lá đa.

    Nuôi không dạy là cha có lỗi,
    Dạy chẳng nghiêm ấy lỗi của thầy.
    Rau nào sâu nấy một nòi,
    Mẹ treo gương xấu, con soi làm đầu.

    Sóng trước đổ đâu, sóng sau đổ đấy,
    Ấy mẹ nào con nấy, chẳng oan.
    Con dại thì cái phải mang,
    Bước chân ra đàng mới biết dại, khôn.

    Cha ăn mặn thì con khát nước,
    Mẹ trồng chanh, con được ăn chanh.
    Cây xanh thì lá cũng xanh,
    Cha mẹ hiền lành để đức cho con.

    Chẳng phân chia con khôn con khó,
    Đen đầu bỏ, đầu đỏ thì nuôi.
    Con nào cũng vậy mà thôi,
    Con đen con đỏ, cũng thời con ta.

    Ngồi cũng la, nằm ra cũng mắng,
    Đi không đặng mà đứng chẳng đừng.
    Rầy la quát mắng lung tung,
    Biết sao con ở cho bằng lòng cha.

    Con không chê là cha mẹ khó,
    Chó không chê là chủ nhà nghèo.
    Chẳng nên chửi chó mắng mèo,
    Đừng câu cay nghiệt, chớ điều lả lơi.

    Người ta có năm có mười thì tốt,
    Còn tôi sao có một vô duyên.
    Giận cá chém. thớt, sao nên,
    Dâu hiền nên gái, rể hiền nên trai.

    Giỏ nhà ai, quai nhà nấy,
    Con hư cũng tại song thân,
    Nuôi con chẳng dạy chẳng răn,
    Thà rằng nuôi lợn cho ăn lấy tiền.

    Khôn với ngoan, ăn trên ngồi trốc,
    Dạy con hư thì khóc về sau.
    Người dại thì phải đánh đau,
    Người khôn ta chỉ cần chau (cau) đôi mày.
    (chú thích: ngồi trốc - trốc là cái đầu)

    Thương con cho doi cho vọt,
    Ghét con thì cho ngọt cho bùi.
    Mai kia con mới nên người,
    Lớn khôn con nhớ mấy lời răn đe.

    Ướt mẹ nằm, ráo xê con lại,
    Con thơ dại, con đái lên đầu.
    Có chồng chẳng được đi đâu,
    Có con chẳng được đứng lâu một giờ.

    Bà khen con bà là tốt,
    Đến tháng Mười một, bà coi con bà.
    Xưa kia ai cấm duyên bà
    Bây giờ bà già, bà cấm duyên tôi.
    (chú thích - tháng 11 khí hậu quá lạnh làm nứt nẻ da con gái)

    Cha mẹ sinh con mà trời sinh tính,
    Con nhà lính mà tính nhà quan.
    Con quan thì lại làm quan,
    Con nhà kẻ khó đốt than tối ngày .

    Cha muốn con hay, thầy muốn trò khá,
    Mẹ dạy con khéo, cha dạy con khôn.
    Hay chữ không bằng dữ đòn,
    Còn măng không uốn, tre non trổ vồng.

    Nước có đực bởi nguồn cũng đục,
    Mía sâu từng đốt, nhà dột từng nơi.
    Bởi chưng buông rộng thả dài,
    Bác thang cho con nít, hư đời nhà con.

    Có của để lại cho con
    Không của bắt con trả nợ.
    Cha bỏ con, đầy tớ bỏ thầy.
    Con khôn nở mặt nở mày,
    Con đẹn con sài chớ hoài bỏ đi.

    Phương Hoàng chặc cánh vất đi,
    Rước con bìm bịp đem về mà nuôi.
    Của rẻ là của để ôi,
    Lấy phải dâu dại, khốn tôi trăm đàng.

    Con có mẹ như măng ấp bẹ,
    Năm cha ba mẹ - không đẻ không đau
    Mặc đời cua máy, cáy đào,
    Gái kia ai vót, quả nào ai vo.
    (chú thích - cua máy: máy là lấy bàn chân mà quậy, mái chèo quậy mạnh cũng gọi là máy).
    (hết trang 69)

    Tục ngữ Ca dao – Mê ngữ

    Mê ngữ là câu đố được diễn tả dưới các hình thức thơ như thơ 4, 5, 7 chữ , lục bát v.v… Xin trích một số mê ngữ trong quyển hai Lời Hay. (Câu giải đáp theo thứ tự số đánh của mỗi câu ở phần cuối cùng bài này).
    . . . . . . . .
    Từ trang 217:

    1- Đi thì ve vẩy, về thì dẫy chết

    2- Lồm xồm hai mép những lòng,
    Ở giữa có lỗ, đàn ông chui vào,
    Chui vào rồi lại chui ra,
    Năm thì mười họa, đàn bà mới chui.

    3- Trên tàn rách, dưới trạch khô,
    Cất tiếng í – ô, vừa múa vừa hát.

    4- Bốn con cùng ở một nhà,
    Được mẹ chia của, con ra mỗi người.

    5- Vốn xưa anh ở Thổ Hà, (Bắc Ninh)
    Ai ai cũng gọi anh là con quan.
    Dốc lòng việc nước lo toan,
    Đầy vơi cũng bởi thế gian đáp đùm.

    6- Mình tròn mặc áo bà ba,
    Cổ đeo kiềng bạc, xinh mà làm sao.
    Có khách cúi cổ lậy chào,
    Mà hàng nước mắt đổ ào như mưa.

    7- Cò quăm lấy ở dưới đầm,
    Đem về nấu nướng rì rầm cả đêm,
    Cò quăm càng láng càng đen,
    Nấu đi nấu lại, chưa mềm cò quăm.

    8- Ăn đàng miệng, ra đàng lưng,
    Động đến hai sừng thì vãi cứt ra.

    9- Ba tháng cuốn cờ chờ con do
    Một phen cởi giáp cứu dân đen.

    10- Một cây mà có năm cành,
    Nhúng nước thì héo, để dành thì tươi.

    11- Bằng cái lá đa, đi xa về gần.

    12- Đi nằm, đứng nằm, nằm thì đứng.

    13- Năm ông ngồi lại một bàn,
    Ông lo việc nước, ông toan việc nhà.
    Bốn ông chịu tuổi lên ba,
    Còn một ông già, chịu tuổi lên hai.

    14- Bì bà bì bạch, trắng bạch như cò,
    Ôm lưng bóp vú, kéo co lên giường.

    15- Đít xanh mình trắng,
    Bôi son đánh phấn,
    Dán chữ thọ hồng,
    Gái về nhà chồng,
    Không có không được.

    16- Ao tròn vành vạnh,
    Nước lạnh như tiền,
    Con gái như Thiên,
    Trần mình xuống lội.

    17- Mình tròn da lại trắng xinh,
    Hễ nóng đến mình thì ưỡn vú ra.

    18- Một đàn cò trắng phau phau,
    Ăn no tắm mát, rủ nhau đi nằm.

    19- Nhà đen lại đóng do (?) đen
    Trên thì sấm động, dưới thì đèn chong.

    20- Ăn trước mà lại ăn thừa,
    Ngày ngày hai bữa, sớm trưa nhọc nhằn.

    21- Ba cây một quả,
    Ra rả những hột.

    22- Ba ông ngồi ghế,
    Một ông cây thế,
    Một ông cậy thần,
    Một ông tần ngần,
    Đút bòi vô bếp.

    23- Vốn dòng quân tử xưa nay,
    Mà lòng quân tử khi đầy khi vơi.

    24- Người nhỏ mà ngậm tăm dài,
    Nón thì không đội, đội quai lên đầu.

    Giải đáp:
    1- Cái áo dài. 2- Áo tơi lá. 3- Ông ăn mày. 4- Ấm chén. 5 và 6- Ấm tích. 7- Trái ấu. 8- Cái bào gỗ. 9- Bàn tay. 10 và 11- Bàn chân. 12- Bàn tay. 13 và 14- Bánh dầy. 15- Bánh trôi. 16- Bánh rán, bánh tráng. 17- Bắp trổ cờ đậu trái. 18- Bát đĩa. 19- Bếp lửa, nước sôi. 20- Bát đĩa nồi niêu. 21- Bếp và nồi cơm. 22- Lò rèn. 23- Bình nước. 24- Bình đựng vôi ăn trầu.

    Tục ngữ - Phong dao
    I. Gia đình & Sinh sống

    Tiếp theo đây là phần Tục ngữ - Phong dao trong quyển 3 Lòng Son. Mở đầu từ trang 5 trở đi :
    Gia đình & Sinh hoạt:

    Ai về Phú Thọ cùng ta,
    Vui ngày giỗ Tổ, tháng Ba mồng mười Dù ai đi ngược về xuôi,
    Nhớ ngày giỗ Tổ, mồng mười tháng Ba. (1)

    Chiều chiều mây phủ Sơn Trà (Chà),
    Sóng xô cửa Đại, trời đà chuyển mưa. (2)

    Bạc Liêu là xứ quê mùa,
    Dưới sông cá chốt, trên bờ Triều Châu.. (3)

    Đông Ba, Gia Hội, hai cầu,
    Có chùa Diệu Đế, bốn lầu ba chuông. (4)

    Bữa nay ăn mía Triều Tương,
    Đợi mắm Nam Ổ, chờ đường Phú Yên. (5)

    Trả ta đủ gạo đủ tiền,
    Thì ta sẽ cấy cho liền hàng sông.
    Ví dù bớt gạo, bớt công,
    Thì ta cấy rộng hàng sông ta về. (6)

    Khó thay công việc nhà quê,
    Quanh năm khó nhọc, dám bề khoan thai. (7)
    Tháng Chạp là tháng trồng khoai,
    Tháng Giêng trồng đậu, tháng Hai trồng cà,
    Tháng Ba cầy vỡ ruộng ra,
    Tháng Tư làm mạ, mưa sa đầy đồng.
    Ai ai cùng vợ cùng chồng,
    Chồng cầy vợ cấy, trong lòng vui thay.

    Ăn quả nhớ kẻ trồng cây,
    Ăn khoai nhớ kẻ cho giây (dây) mà trồng.
    Sớm khuya có vợ có chồng,
    Cầy sâu, bừa kỹ mà mong được mùa.

    Muốn trong, bậu uống nước dừa,
    Muốn sạch (mát), bậu uống nước mưa cũng là.

    Ruộng đồng bát ngát bao la,
    Cầy sâu, bừa kỹ cũng là con trâu.

    Chồng chài vợ lưới con câu,
    Sống nhờ bọt nước, lấy đâu mà giầu.

    Đầu tôm nấu với ruột bầu,
    Chồng chan vợ húp, gật đầu khen ngon.

    Chú kia nhổ mạ trên cồn,
    Nước nôi chẳng có, miệng mồm lấm lem.

    Tiếng đồn con gái Phú Yên,
    Phan Thiết đi cưới, một thiên cá mòi.

    Ngày thì đem thóc ra phơi,
    Tối lặn mặt trời đổ thóc vào xay.
    Một đêm là ba cối đầy,
    Một tay xay giã, một tay giần sang.
    Tháng Ba ngày Tám rỗi rang, (9)
    Làm sao đủ gạo, mùa màng khỏi lo.

    Ra đi anh có dặn dò,
    Ruộng sâu cấy trước, ruộng gò cấy sau.

    Cha chài, mẹ lưới, con câu,
    Thằng rể đóng đáy, con dâu ngồi nò. (10)

    Nghề xe đổi lấy nghề đò,
    Sông sâu nước chẩy, tối mò từng xu.

    Chiều chiều gió thổi vi vu,
    Thân tàn rũ liệt, canh Thu hít hà.

    Trời cao bể rộng bao la,
    Việc gì mà phải chẳng là nghĩ suy.
    Trong việc nhà, ngoài thì việc nước,
    Giữ làm sao sau trước vẹn tuyền,
    Lọ là cầu Phật cầu Tiên, (11)
    Ra tay xây dựng mới nên cơ đồ.
    . . . . . . . . . . . . . . . .
    Chú thích:
    1- Hội đền Hùng, giỗ Tổ Hùng Vương. 2-Thuộc Quảng Nam, Đà Nẵng. Cửa Đại là cửa sông Thu Bồn (Hội An). 3- Người Triều Châu (Trung Hoa), ở đây đông. 4- Thuộc Huế. 5- Thuộc Thanh Hóa, Quảng Nam và Phù Yên. 6- “Thì ta sẽ cấy cho liền hàng sông”: Cấy lúa thành hai hàng. Hàng sông là hàng dọc, đi thẳng như con sông. Hàng tay là hàng ngang, đưa tay qua lại, trái phải. Nếu chủ không tốt với thợ thì họ sẽ cấy rộng hàng sông và như vậy thì ruộng sẽ ít cây lúa, uổng đất. 7- Dám, ở đây được hiểu là “không dám”. 8- Ăn mấy thứ “đồ bỏ” (ít ai ăn đến) mà vẫn thấy ngon. 9- Lúc giáp vụ gặt. 10- Nò: đặt lờ bắt cá. 11- Lọ: chẳng cần kể tới.

    Đồng dao – Lý ca

    Tiếp theo đây là trích phần Đồng dao – Lý ca trong TNCD quyển 11 – Dãi bày II từ trang 173 trở đi:

    Đồng dao - Lý ca (Lý ngữ)

    Ai đời chồng thấp vợ cao,
    Rờ vú không tới, lấy sào mà quơ.

    Bắt ông Tơ đánh sơ vài chục,
    Cho bà nguyệt nếm mấy mươi hèo.
    Người ta năm bẩy vợ theo,
    Còn tôi đơn chiếc như mèo cụt đuôi.

    Mèo năm bồ lúa khoanh đuôi,
    Vợ anh đẹp lắm, bắt ruồi nấu canh.

    Mẹ em ăn rở bằng hành,
    Đẻ em mắt toét, ba vành sơn son.

    Chừng nào cho lúa trổ bông,
    Chị đi lấy chồng, em gậm giò heo,
    Giò heo chị để chị treo,
    Em lấy giò mèo, em gặm em chơi.

    Cu kêu ba tiếng cu kêu,
    Cho mau đến Tết, dựng nêu ăn chè,
    Dựng nêu thì dựng đầu hè,
    Để sân gieo cải, vãi mè mà ăn.

    Thân anh lỡ dại hai lần,
    Nhỏ lăn vú mẹ, lớn mần vú em.

    Con gà cục tác lá chanh,
    Con heo ụt ịt, đòi hành đòi tiêu.

    Anh đi dăm bảy dặm đèo,
    Mà cưới con vợ như mèo mắc mưa.

    Chiền chiện làm tổ nhành dâu,
    Ai mà bắt nó, nó tâu tận trời.

    Đệm sút vam, bàng vẫn là bàng,
    Anh đi ghe bạn, chị ở nhà bịt cái răng vàng đợi ai.

    Thương thời dựa vế kề lưng,
    “Việc ấy” xin đừng, để trượng (trọng) về sau.

    Thằng Cuội ngồi gốc cây đa,
    Ăn cơm với cá, thêm cà với dưa.

    Tiếng đồn ông xã Hà Lờ (Hiếu Xương, Phú Yên)
    Hai vai quảy vịt, dạo bờ bắt cua.
    (chú thích: cái giỏ đựng cua đan bằng tre có hình con vịt)

    Ru hời, ru hỡi là ru,
    Con cá lù đù, đánh vẩy chặt vi.

    Củ lang nấu với củ mì,
    Chờ cho mì chín, còn gì là lang.

    Ba năm thiếp lộn trở về,
    Ruộng đất bề bề, nhớ cái tòn ten. (tòm tem)

    Chồng đi đã có chồng nhà,
    Hơi đâu mà đợi chồng xa trở về.

    Tai nghe trống chiến trống chầu,
    Xếp ba miếng kẹo, lộn đầu lộn đuôi.

    Con cò mắc rò mà chết,
    Bìm bịp mua nếp làm chay,
    Cu cu gõ mõ ba ngày,
    Chóc mào đội mũ, làm thày đọc văn,
    Le le, vịt nước lăng xăng,
    Rủ nhau đi tới bịt khăn cho cò.

    Người đời có lúc thịnh lúc suy,
    Khi bận yếm đỏ, khi đi vú trần.

    Ròng ròng theo mẹ sớm trưa,
    Mẹ già chết mất, ai đưa ròng ròng.

    Cây bần gie, cây bần ngã, cây bần quỳ,
    Cảm thương con khỉ đột lấy gì nó ăn.

    Già này, già đắng già cay,
    Già gừng già quế, già say lòng người.

    Dân ca (Ba miền)
    Miền Bắc
    (Quan họ, Chèo thuyền, Hát ru, Hát đúm, Hát xẩm)

    Tiếp theo đây là trích phần Dân ca Miền Bắc trong TNCD quyển 8 – Hồn Thắm V - từ trang 224 trở đi:

    Quan họ, Chèo thuyền, Hát ru, Hát đúm, Hát xẩm.

    Gặp nhau giữa đám hội làng,
    Ước gì kết nghĩa đá vàng, em ơi.

    Anh kia đi cái ô giơi,
    Để em đi đất đội giời sao đa. (đang)

    Giữa đường có bóng cây đa,
    Hỡi ai ngồi đấy, hát ra vài lời.
    Hai ta giữa ruộng giữa trời,
    Dầu hay dầu dở, cũng người dân quê.

    Hỡi người đầu đội nón mê,
    Mà sao tiếng hát làm tê tái lòng.
    Hỡi người mặc áo nâu sồng,
    Sao lời hát ngọt như giòng sông sâu.
    Câu vui chen với câu sầu,
    Khi sa nước mắt, khi đầu non cao.
    Đãi đằng khúc ruột làm sao, (1)
    Mới nghe mà đã xôn xao lòng người.

    Đồn đây có gái hát tài,
    Để ta đối đáp một vài trống canh.
    Dầu thua dầu được cũng đành,
    Bõ công đèn sách, học hành bấy lâu.

    Nghe anh là khách tài hoa,
    Mời chàng đối đáp một và trống canh.
    Có lá mà lại có cành,
    Có em mà lại có anh mới là.

    Em nghe tiếng hát đâu xa,
    Còn trẻ hay già mà tiếng còn sang.

    Anh say nhan sắc của nàng,
    Hay say vì miếng trầu vàng cau tươi.
    Mội em chúm chím miệng cười,
    Làm cho anh chấp mười người như không. (2)

    Cau khô mà bỏ hộp đồng;
    Tuổi em chẳng đáng làm chồng chị đâu.

    Núi Sóc ai đắp mà cao, (3)
    Ngã ba Sà sông ấy, ai đào mà sâu. (4)

    Cho anh ăn một miếng trầu,
    Rồi ra anh chiếm giải đầu cho coi.
    Trầu em cay miệng cay môi,
    Đâu có cay bụng cho người nằm trên. (5)
    Thắng cuộc, anh sẽ lại đền,
    Đền gà đền lợn, đền tiền cưới em.

    Chú thích:
    1- Đãi đằng: yên ổn, thư thả trong lòng. 2-Hội thi võ thuộc Thanh Liêm, Hà Nam. 3- Sóc Sơn, Vĩnh Phú. 4- Thuộc Bắc Giang. 5- Người đấu võ thắng nằm trên.

    Dân ca (Ba miền)
    Miền Nam – Miền trung
    (Hò cấy lúa, Chèo thuyền, Hát ru, Đối đáp . . . .)

    Tiếp theo đây là trích phần Dân ca Miền Nam, Miền Trung trong TNCD quyển 8 – Hồn Thắm V - từ trang 249 trở đi:

    (Hò cấy lúa, chèo thuyền, hát ru, đối đáp …)

    Sông Cửu Long, con rồng chín khúc,
    Tình con người, lúc đục lúc trong,
    Anh thương em, thương gái má hồng,
    Thương người nề nếp, thương dòng Nho gia.

    Bà già lể ốc trong nhà,
    Con quốc uống nước, con gà mổ kê.
    Nực cười gà lại mổ kê,
    Ngựa ăn gò mã, rồng về Thanh long.
    Núi Đông dương, dê chạy giáp vòng,
    Ngó ra ngoài biển thấy con cá nằm ngất ngư.
    Trai như anh đối lại chừ chừ,
    Trầu têm cánh phượng từ từ dân lên.
    (Để ý: chữ nghiêng đồng nghĩa).

    Gặp nhau một chút nên duyên,
    Xin mời bên ấy cất lên cùng hò.

    Con quạ ăn dưa, bắt con cò phơi nắng,
    Em ngồi nghĩ chuyện đời, con cò trắng, con quạ đen.

    Một lời thề, không duyên thì nợ,
    Hai lời thề, không vợ thì chồng.
    Ba lời thề, xẻ núi lấp sông,
    Em quyết theo anh đi cho trọn đạo, kẻo luống công anh đợi chờ.

    Thủy chung như nhứt, mặc sức anh chờ, (1)
    Em nguyện ở vậy, phụ mẫu nhờ đôi năm.

    Thương cha nhớ mẹ như kim đâm vào dạ,
    Nhớ đến chừng nào, lụy hạ tuôn rơi,
    Mẹ cha là biển là trời,
    Đặt đâu em hay đó, đâu dám cãi lời mẹ cha.

    Tay cầm con dao, tay trao cái rổ, cắt cổ con gà,
    Tiếng tăm tôi chịu, thịt thà ai ăn.

    Chợ Bến Thành dời đổi,
    Người sao khỏi hợp tan,
    Xa gần giữ nghĩa tao khang,
    Chớ tham quyền quý, phụ phàng duyên xưa.

    Cổ tay em tròn như ống chỉ,
    Lòng dạ anh đây chí phỉ kết duyên (2)
    Ngày rày hỏi thực bạn hiền, thương không ?

    Trắng như bông, có bông có trái,
    Ngộ như sen, sen lại có phèn,
    Đừng thấy bóng trăng mà phụ bóng đèn,
    Bóng trăng lu một thuở, bóng đèn lờ ngàn năm.
    Tôi ở với chàng, không nam không nữ,
    Làm dâu phải giữ, một chữ âu ca. (3)
    Phụ mẫu mình rằng: Tôi con dâu tuyệt hậu, đuổi tôi ra mình trần. (4)
    Phụ mẫu già sinh tật,
    Khoan khoan để anh thưa thật đôi lần,
    Em làm dâu trọn trung trọn hiếu, tại số với phần không con.

    Họ giầu họ nghinh hôn giá thú,
    Hai đứa nghèo dụ dỗ nhau đi.

    Sống như vầy, em sống làm chi ?
    Chiều nay em ra bến sông Quy trầm mình. (5)
    Hai tay anh xách hai cái chình,
    Nước sông Quy anh múc cạn, lấy gì mình trầm thân.

    Cúc đang xanh, sao cúc vội tàn,
    Kiểng đang xanh, sao kiểng héo, tôi hỏi nàng tại ai ?
    Mặt nhìn, lụy nhỏ hàng hai,
    Cúc tàn, kiểng héo tại hai đứa mình.

    (chú thích (1): Trước sau như một. (2)- chí phỉ: thỏa được cái chí. (3)- Âu ca: nhiều người cùng hát. (4) – Tuyệt hậu: dứt vè sau tức không có con thờ phụng về sau. (5)- Thuộc Gò Công.

    Tục ngữ - Phong dao

    Duyên tình – Bạn hữu

    Tiếp theo đây là trích phần Phong dao – Duyên tình & Bằng hữu trong TNCD quyển 3 – Lòng Son - từ trang 34 trở đi:

    Duyên tình – Bạn hữu

    Con đò còn nhớ cây đa, (1)
    Cây đa muôn thuở chẳng xa con đò.
    Trăm năm dù lỡ hẹn hò,
    Cây đa bến cũ con đò năm xưa.

    Trăm năm đã lỗi hẹn hò,
    Cây đa còn đó, con đò khác đưa.
    Cây đa bến cũ còn nưa,
    Con đò đã khác năm xưa tê rồi.

    Cây đa tróc gốc trôi rồi,
    Đò đưa bến khác, anh ngồi đợi ai.

    Má ơi, con má hư rồi,
    Nó ra ngoài chợ, nó ngồi với trai.
    Má ơi, con má hư rồi,
    Má còn trang điểm phấn dồi làm chi.
    Ma ơi, con má hư rồi,
    Dẫu mà dầu sức phấn dồi cũng hư.

    Má ơi, con má hư rồi,
    Còn đâu má bán, má đòi bạc trăm.
    Má khen con má chính chuyên,
    Chính chuyên với má, ngồi liền với trai.
    Gió đưa cây sậy nằm dài,
    Ai làm thục nữ buồn hoài không vui.

    Ngó đâu ngó đó thì vui,
    Ngó về xóm cũ bùi ngùi nhớ em.

    Người ta năm bảy chị em,
    Em đây khác thể chiếc nem lột trần.

    Mồ cha đứa đốn cây bần,
    Để cho ghe cá chẳng gần ghe tôm. (2)

    Mình đừng đặng cá quên nơm,
    Đôi ta gá nghĩa danh thơm ở đời.
    Cóc nghiến răng còn động đến trời,
    Sao mình chẳng tưởng tới lời tôi than.

    Vườn xuân hoa nở đầy giàn,
    Ngăn con bướm lại kẻo tàn nhị hoa.

    Lập vườn trồng kiểng trồng hoa,
    Thấy mặt anh đó, biết nhà anh đâu.
    Khi vui điếu thuốc miếng trầu,
    Khi buồn đi mất biết đâu mà tìm.

    Bao giờ đá nổi rong chìm,
    Muối chua chanh mặn mới tìm được em.
    Như anh có muốn gần em,
    Mâm trầu hũ rượu, khá đem tới nhà.

    Mình rằng mình chỉ lấy ta,
    Ta đi xuống chợ mua gà xem chân.
    Một chân xem cửa xem nhà,
    Một chân xem lưa đôi ta thế nào.

    Gặp em anh chẳng dám chào,
    Sợ cha mẹ hỏi, thằng nào biết con.

    Rượu ngon cái cặn cũng ngon,
    Thương em, chẳng luận chồng con mấy đời.

    Sáng trăng giã gạo giữa trời,
    Cám bay phất phưởng, thương người xứ xa.

    Có duyên lấy được chồng già,
    Ăn xôi bỏ cháy, ăn gà bỏ xương.

    Chân mày vòng nguyệt thì thương,
    Chân mày mũi mác là phường dâm ô.

    Hết mùa toóc rã, rơm khô, (3)
    Bậu về quê bậu biết mô mà tìm.

    Đứt giây nên bè gỗ mới chìm,
    Bởi anh ở bạc nên em tìm xứ xa.

    Xưa kia thiếp cũng lụa là,
    Bây giờ rách rưởi mới ra thân tàn.
    Thiếp liều đòn gánh đôi quang,
    Bán buôn nuôi mẹ, chàng sang mặc chàng.

    Chú thích:
    1- Bài này xuất xứ tại Thừa Thiên, thuộc loại bất tử. 2- Cây bần thường mọc cạnh bờ sông; ghe thuyền thường đậu dưới bóng mát như bong mát cây bần. 3- Toóc: Ra, gốc lúa.

    Tục ngữ - Phong dao – Bài Vè.

    Tiếp theo đây là trích phần Bài Vè trong TNCD quyển 3 – Lòng son từ trang 292 trở đi:

    Bài Vè
    Bài một

    Đi chợ, bớ chị em đi chợ,
    Không chợ nào đông đảo bằng chợ Gò Chàm. (1)
    Tôi đây xin kể sơ sơ:
    Tôm tươi cá tốt, thịt bò thịt heo.
    Lại thêm những rổ bánh xèo,
    Bánh khô bánh nổ, bánh bèo liên u.
    Những con cá chép, cá thu,
    Cá ngừ, cá gỏi, cá chù thiệt ngon.
    Ngó ra ngoài chợ, họ bán bánh dòn,
    Nem chua chả lụa, rượu trà còn đâu đây.
    Ngoài chợ họ cũng bán tranh cày,
    Roi, mây, gáo, giá, dẹp rày nghênh ngang.
    Lại còn bán cả giần sàng,
    Khoai lang, bắp, đỗ, đục, chàng, kéo, dao.
    Xem qua chẳng sót hàng nào,
    Quảng Nam, Quảng Ngãi cũng ào ào kéo vô.
    Cùng là mấy món hàng khô,
    Xem đi xem lại, nhiều đồ lắm thay.
    Những là hàng dép, hàng giầy.
    Nón ngựa nón cúp, bán rầy liên thiên.
    Kể tới mấy món nhiều tiền:
    Cà rá, hộp đá,
    Gương soi, lược cài.
    Dầu chanh, dầu thơm,
    Bóp dao, thùng quẹt máy.
    Chỉ xanh, chỉ đỏ,
    Bún nhỏ, bún to.
    Đường phèn, đường cát,
    Bát mỏng tai bèo.
    Da lươn, da ếch,
    Kể hết đồ đồng,
    Đồ tam, đồ ngũ. (2)
    Kể đủ hàng hoa,
    Cà dê, cà dĩa, cà chình.
    Ớt ngà, ớt bị,
    Ớt sừng, ớt bay.
    Rau răm, rau húng,
    Bầu thúng, cà Tây.
    Mua bán bạc cây,
    Mấy tay hang xén.
    Mấy chú rón rén,
    Ăn cắp thiệt lanh.
    Mấy gã sanh manh, (sinh sự)
    Là anh Trùm chợ.
    Mấy chú buôn mọi bán rợ,
    Là mấy chú An Khê.
    Ở trên đem về,
    Xấp trầm, nài rễ, (3)
    Dễ mua, dễ bán,
    Bánh tráng kẹo cà,
    Xu xoa, đậu hũ,
    Mè thuẫn, bánh canh.
    Dạo hết chung quanh,
    Hàng ngò, cúc cải,
    Giây dừa, dầu rái, (4)
    Kẹo đỗ, kẹo dừa.
    Giỏ đỏ, giỏ thưa,
    Mấy chị đi đưa, (5)
    Họ mua trớt lớt …
    (hết bài vè một)

    Chú thích:
    1- Thuộc Bình Định. 2- Bộ ba cái, bộ năm cái. 3- Rễ chay để ăn trầu. 4- Dầu đặc để chét ghe thuyền. 5- Mua buôn.

    Tục ngữ Ca dao – Mê ngữ

    Mê ngữ là câu đố được diễn tả dưới các hình thức thơ như thơ 4, 5, 7 chữ , lục bát v.v… Xin trích một số mê ngữ trong quyển hai Lời Hay. (Câu giải đáp theo thứ tự số đánh của mỗi câu ở phần cuối cùng bài này).
    . . . . . . . .
    Từ trang 220:

    25- Ông gì mà chết không chôn,
    Đem bỏ dưới gốc cây cao bóng mát mà chuột với chồn không tha.

    26- Một người nằm, một người ngồi,
    Ngậm vào sướng lắm em ơi,
    Rút ra đánh choách, miệng cười toét tòe loe.

    27- Con chim lí nhí,
    Uống nước cù lao,
    Làm việc nơi nào,
    Về chui vào lỗ.

    28- Mẹ gai góc đẻ con trọc đầu.

    29- Chân chẳng tới đất,
    Cật chẳng tới trời,
    Lơ lửng nửa vời,
    Bụng đeo bị tép.

    30- Một mẹ nằm, trăm con bước.

    31- Vừa bằng cái bát,
    San sát khắp đồng.

    32- Mình tròn đầu dẹp,
    Mép lại có râu,
    Mang mầu hoa khế.

    33- Ai la ai hú bên sông,
    Mẹ kêu mặc mẹ, có chồng phải theo.

    34- Không đôi mà có tiếng đôi,
    Đêm nằm nghĩ lại mồ côi một mình.

    35- Ba đầu, bốn lưỡi, sáu tai,
    Một đầu đội nón còn hai ở trần.

    36- Ngoài xanh trong trắng như ngà,
    Đức ông cũng trọng, đức bà cũng yêu.

    37- Già thì đặc bí bì bì,
    Con gái đương thì rỗng tuếch tuềnh tuênh.

    38- Đầu rồng đuôi phượng te te,
    Mùa đông ấp trứng, mùa hè nuôi con.

    39- Có cây mà chả có cành,
    Có quả để dành mà cúng Tiên sư.

    40- Một cây mà có trăm hoa,
    Chỉ có một quả chẳng già chẳng non.

    41- Cây khô đem để trong nhà,
    Có hoa có trái, khi già khi non.

    42- Không phải bò, không phải trâu,
    Uống nước ao sâu, lên cày ruộng cạn.

    43- Một cây có quả không hoa,
    Bởi chưng không lá, chê già chê non.

    44- Một cây một quả mà có hai cành,
    Mỗi cành lại có hai hoa,
    Người bán thì bảo rằng già,
    Người mua thì bảo vẫn là còn non.

    45- Hai đầu mà chẳng có đuôi,
    Nhiều chân mà lại đứng hoài không đi.

    46- Tên nhúc nhích, dưới nhúc nhích,
    Trên thì thích, dưới thì đau.

    47- Người một thước, nhỏ như tăm,
    Thấy người ta chỉ muốn châm,
    Người thường chơi dăm ba lá,
    Người lịch sự chơi cả một muôn.

    48- Nhà nghèo đâm dăm ba cái,
    Nhà giầu đâm mấy thì đâm.

    49- Sừng sững đứng ở góc nhà,
    Hễ ai động đến thì òa khóc lên.

    50- Ông nằm dưới, bà nằm trên,
    Ông nín thin thít, bà rên ồ ồ.

    51- Cho ăn rồi lại kéo với trì,
    Kéo mấy thì kéo, việc chi cũng không bỏ chồng.

    52- Bốn chân chóng chóng,
    Hai bụng kề nhau,
    Cắm giữa phao câu,
    Nghiến đi nghiến lại.

    Giải:
    25- Bình vôi ăn trầu đã hư. 26- Bé bú mẹ. 27- Bút long có nắp. 28- Cây bưởi. 29- Trái bưởi. 30- Bậc cửa. 31- Vất bàn chân trâu bò. 32- Cá trê, ở mang có hoa khế. 33- Cá bạc má (con ở bạc với mẹ). 34- Cái cặp. 35- Người cầy và hai con trâu. 36- Cau trái (quả cau). 37- Quả cau già non. 38- Cây cau và trái (quả). 39- Cây cau. 40- Cái cân xách tay. 41- Cân tay. 42- Bút sắt. 43 và 44- Cân xách tay. 45- Cây cầu. 46- Câu cá, cá cắn câu. 47 và 48- Cỏ may. 49- Cối xay lúa. 50- Cối xay lúa có áo che. 51 và 51- Cối xay.

    Tục ngữ - Thành ngữ … Thông thường

    Ngay trong quyển 1, trang 9 của bộ TNCD, VCBD đã viết:
    “. . . . . . Trong bộ sách này, chúng tôi xin soạn ra trên năm ngàn câu Tục ngữ, Thành ngữ, Phong dao có khúc mắc hoặc có dính tới Hán tự, chứ không phải là cả khoảng gần trăm ngàn câu của nền thi ca này được. Đây cũng chỉ mới “Dẫn” (đưa dẫn ra một chút) và “Giải” (cởi mở ra một chút) để xem coi nó là cái gì, có ý nghĩa ra sao đặng mọi người cùng hiểu biết như nhau và áp dụng (ví von) như nhau, chứ không bầy tỏ lập trường quan điểm, không có xét định thị phi và cũng chẳng dám khen chê … Tuy vậy nó cũng có thể giúp ích khá nhiều trong việc tham khảo của các các Thày, Cô dậy môn văn …”

    (Trong bộ TNCD, VCBD này đã có ba cuốn: 1, 2, 3 – mỗi cuốn trên 500 trang – dành cho việc “dẫn giải” số lượng trên năm ngàn câu Tục ngữ, Thành ngữ … Theo thiển ý tôi, tôi xin trích lại những câu quen thuộc, được nghe nói đến nhiều … lên đây. Còn nếu quý vị muốn trích lên hết thì tôi cũng xin nghe theo. Đa tạ.)

    Trước hết, tôi trích phần Tục ngữ, Thành ngữ, Phong dao ... phổ biến, thông dụng trong TNCD quyển 1 – A B C (vì theo thứ tự “an – pha – bê) từ trang 8 trở đi:

    * A kỳ sở hiếu.
    Nghĩa là: Hùa theo người mà mình ưa thích. Như trong câu: “A kỳ sở hiếu là thường tình của con người, nhưng vẫn phải xét phải trái, hư thực mới được.

    * Ác khẩu thụ chi.
    ‘Thụ’: nhận lấy, giữ lấy (hưởng thụ).
    Nghĩa là: Mình nói ra điều ác cho người thì cũng chưa chắc người có bị hại hay không, nhưng trước trước nhất là mình đã bị mang tiếng làm điều á.

    * Ai biết bà đái đâu mà hạ vọng.
    Nghĩa là: Khi đi đường xa, người quyền quý hoặc già cả thường ngồi trên một cái võng (cái cáng), mắc treo trên một đòn cây dài do hai người phu khiêng đi, thay xe ngựa.
    Vậy khi người ngồi trên có mót đi tiểu thì phải báo cho người ta biết để người ta hạ võng xuống cho mà đi bên vệ đường.
    Chữ ‘bà’ ở đây nói người cay nghiệt.
    Ý nói: Người dưới có biết người trên muốn gì đâu mà chiều theo …

    * Ai biết đâu chỗ ma ăn cỗ,
    Ai biết đâu tổ con chuồn chuồn.
    Chuồn chuồn đẻ trứng dưới nước (gọi là chuồn chuồn đạp nước). Trứng ấy nở thành con, gọi là ‘con bà mụ’, hay ‘con ăn mày’. (khi xúc tép ta thường gặp chúng). Chúng sống ở dưới nước hàng năm rồi sau đó mọc cánh và gọi là chuồn chuồn, lên trên cạn sống thêm vài tháng nữa.
    Chuồn chuồn bay lang thang đây đó suốt ngày để kiếm mồi và sinh đẻ, thường không sống thành bầy, gặp đâu hay đó, không nuôi con nên không có tổ. Trong người chúng có nhiều túi khí để bay cho nhẹ và điều khiển độ bay. Trời nắng khô, các túi khí ấy nở do sức đẩy Archimede áp dụng trong không khí, thân hình chúng bị đẩy và chúng bay cao. Trái lại, khi gặp rậm râm mát, các túi ấy co lại, sức đẩy giảm nên chúng bay thấp xuống.
    Chuồn chuồn bay thấp thì mưa
    Bay cao thì nắng, bay vừa thì râm.
    Do vậy mà người ta thường dùng câu “cái tổ con chuồn chuồn” để chỉ cái không thấy. (Cũng như không ai thấy được ma ăn cỗ).

    * Ai biết được quạ nào đực cái.
    Quạ tượng trưng cho loài chim xấu xa, ác độc. Riêng con quạ cái lại dữ hơn, tiếng kêu khàn khàn nghe khó chịu (người ta gọi người đàn bà đanh đá là con quạ cái), vào đầu mùa Thu, nó thường mổ rỉa lông trện đầu con quạ đực mà lót ổ, đẻ trứng. (Ta thường cho là quạ thay lông).
    Ý nói: Trong đám xấu, ai biết được kẻ nào xấu nhiếu xấu ít.


    * Ai cười hở mười cái răng.
    Ai có chê cười chi đó thì mình cũng chẳng ngại gì, chẳng xấu gì, họ lầm hoặc họ thích cười thì mặc họ, họ sẽ hở răng họ ra, họ tự làm xấu họ.
    Như trong câu: ‘Ai cười hở mười cái răng’, mình có làm điều gì xấu thật đâu mà buồn mà sơ.

    * Ai đội đá mà sống ở đời.
    Phải đội đá thì khổ sở lắm nên có ai lại thích đội đá mãi đâu.
    Ý nói: Ở đời chẳng có ai lại dại gì mà cứ cam đành phải chịu cực khổ suốt đời, chẳng qua là vì hoàn cảnh đó thôi.
    Như trong câu: Mày làm tao khổ nhiều quá rồi, để cho tao sống với chứ, ‘có ai đội đá mà sống ở đời’ mãi đâu.
    Có sách còn giảng: Thường cha mẹ dùng lời này để khuyên con cái biết tự lực cánh sinh, đừng quá ỷ nại.

    * Ai giầu ba họ, ai khó ba đời.
    ‘Ba họ’: Họ cha, họ me, họ vợ.
    ‘Ba đời’: Đời ông, đời cha, đời con hoặc cha, con, cháu.
    Ý nói: Ở đời, giầu sang cũng không giầu sang hết cả trong họ hàng được, nghèo khổ cũng không nghèo khổ hết đời này qua đời khác. Không cò gì là nhất định một mực, một mặt.
    Có sách giảng: Thường dùng để tự an ủi hoặc an ủi những người túng thiếu.

    Ca dao Ý đẹp
    Tục ngữ Ca dao 2

    Tiếp theo đây là trích phần nhì Sưu Tập trong cuốn TNCD quyển 1 – Ý đẹp từ trang 70 trở đi:

    Sưu tập
    Phần cha mẹ tiếp theo:

    Ngáp đói hay là ngáp no,
    Nếu mà ngáp ngủ, mẹ cho lên giường.
    Ngủ ngon, mẹ dấu mẹ thương,
    Con ngủ trong giường, mẹ ngủ trong nôi.

    Gặp đám cỏ hôi, cũng thôi chịu vậy,
    Có con không dậy để vậy mà nuôi.
    Dao sắc gọi chẳng được chuôi, (13)
    Muốn con nên người, phải dậy phải răn.

    Mẹ đánh một trăm không bằng cha hăm một tiếng.
    Vụng tay hay miệng, kiếm chuyện mà la.
    Muốn đánh thì đẻ con ra,
    Muốn ăn thì nấu cơm nhà mà ăn.

    Chốn Triều đình có văn có vũ,
    Ở trong nhà có mụ có ông.
    Sinh con ai dễ sinh long,
    Sinh con ai chả vun trồng cho con.

    Nối dõi tông đường sinh con đẻ cái,
    Khi mũi dại thì lái chịu đòn. (14)
    Canh suông khéo nấu cũng ngon,
    Mẹ già khéo nói thì con đắt chồng.

    Con dòng thì thả rong dưới đất,
    Còn con vất thì cất lên sàn.
    Lọ là thét mắng cập rèn, (15)
    Một lời xiết cạnh bằng ngàn roi song.

    Có nuôi con mới biết lòng cha mẹ,
    Cây không trồng không tiếc, con không đẻ không thương.
    Con tôi Cửu phẩm chẳng màng, (16)
    Mỗi khi đi chợ liếc ngang thằng khờ.

    Cú kêu ra ma – Giáo đa thành oán, (17)
    Có mặt thì mắng, vắng mặt thì thương.
    Con hư bởi tại cha dong,
    Vợ hư bởi tại thằng chồng cả nghe.

    Bắt khoan bắt nhặt mà chi,
    Đến khi chó cắn lại chìa con ra. (18)
    Con ai mà chẳng con cha,
    Cháu ai mà chẳng cháu bà cháu ông.

    Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh,
    Sinh con ra mà đánh, ai đánh con người.
    Cháu bà nội, tội bà ngoại, bà ơi
    Bát đầy nó tới, bát vơi nó lòn.

    Đẻ con khôn mát ‘đồ’ rười rượi
    Đẻ con dại, thẩm hại cái ‘đồ’.
    Đời cha cho chí đời con,
    Nếu muốn nặn (vót) tròn thì phải nặn (vót) vuông. (19)

    Thịt nạc dao phay, xương xai rìu búa,
    Thứ nhất hay chữ, thứ nhì dữ đòn.
    Một đời cha, ba đời con,
    Chỉ một cái nóc chở ngàn cái rui.

    Thượng bất chính, hạ tắc loạn,
    Thượng lương bất chính thì hạ lương sai. (20)
    Con như con ngô con khoai,
    Con chày con cối, con đuôi con đầu.

    Đẻ một thì giầu, chia nhau thì khó,
    Mẹ giầu có, mẹ khó con không.
    Mạch trong, nước chảy ra trong,
    Thế nào đi nữa, con dòng vẫn hơn.

    Con ai thì người đó xót,
    Thịnh suy có lúc, đối phúc cùng trời.
    Nợ mòn con lớn, mấy hồi,
    Liệu cơm gắp mắm, định nơi gả chồng.

    Đời cha vo tròn, đời con bóp méo,
    Đời trước đắp nấm, đời sau ấm mồ.
    Dù sau con tế ba bò,
    Sao bằng lúc sống con cho mẹ lấy chồng.

    Con lên ba mới ra lòng mẹ,
    Thỏ tha thỏ thẻ như trẻ lên ba.
    Có vàng vàng nỏ hay phô,
    Có con, con nói trầm trồ mẹ nghe.

    Măng không uốn, uốn tre sao được,
    Yêu cho vọt, ghét cho chơi.
    Con ruột thì thướng bằng roi,
    Con ở con đòi thì áo với cơm.

    Nữ thập tam, nam thập lục (21)
    Tam nam bất phú, ngũ nữ bất bần. (22)
    Làm cỗ chẳng lo mất phần,
    Nằm giữa nào mất phần chăn đâu mà.

    Dâu về nhà, mụ gia ra ngõ,
    Lát xát bát vỡ, hay ở dở ra.
    Mụ gia năm bảy mụ gia,
    Mụ thì tiền rưỡi, mụ ba mươi đồng. (23)

    Con độc cháu đàn – Dâu con rể khách,
    Cái mái đã rách, cái vách còn chi.
    Trời mưa ướt lá đài bi,
    Con mẹ mẹ xót, xót gì nàng dâu.

    Con thấp con cao, con nào cũng vậy.
    Con gái mười bảy bẻ gẫy sừng trâu. (24)
    Thật thà cũng thể lái trâu,
    Hẳn hoi cũng thể nàng dâu mẹ chồng. (25)

    Chú thích:
    13- Cha mẹ có hay cũng chưa chắc đã dậy được con. 14- Mũi thuyền đi lạc hướng là do cái bánh lái. Người dưới sai trái, người trên phải chịu trách nhiệm. 15- Lọ: Chẳng cần phải. 16- Cửu phẩm: Phẩm hàm cho vua ban đứng hàng thứ chín. 17- Dậy lắm thì nó lại oán mình. 18- Bắt khoan bắt nhặt mà chi. Đến khi chó cắn lại chìa con ra: Khoan là chậm, thưa. Nhặt là mau, dầy. Bắt khoan bắt nhặt là bắt lỗi bắt phép. Chuyện kể: Một bà mẹ bồng con qua hàng xóm chơi. Chó nhà hàng xóm nhẩy ra cắn. Cuống quá và do phản xạ tự nhiên, bà mẹ đưa hai tay ra xua đuổi chó, nhưng hai tay mắc bồng con và như vậy vô tình chìa con ra trước chó mà che cho mình. Con đã giúp đỡ che chở cho mẹ. Có nghĩa là không nên quá khắt khe với con cái, đôi khi con nhỏ cũng có thể giúp được việc cho cha mẹ. 19- Dậy từ từ, dễ tới khó. 20- Thượng lương là đòn nóc, đòn dong. 21- Gái 13, trai 16 là tuổi dậy thì. 22- Ba trai chẳng giầu, năm gái chẳng nghèo. 23- Mỗi tiền có 60 đồng. 24- Môn sinh vật học đã cho biết: ở tuổi dậy thì, thể lực nữ mạnh hơn nam. 25- Hẳn hoi: Yên lành, đứng đắn, tử tế.

    TNCD – Dân ca Miền Trung

    Dân ca miền Trung với nhiều thể loại: Hò dân chài, Hát dậm, Hát ru, Hàng vải, Ca Huế … qua các thể điệu, giọng hò … như:
    - Hò khoan Thanh Nghệ
    - Hát phường vải Nghệ Tĩnh
    - Hò Huế
    - Lưu Thủy
    - Bình bán
    - Cổ bán
    - Kim tiến
    - Hành vân
    - Tứ đại cảnh
    - Nam bình
    - Nam thương
    - Nam ai
    - Hành vân đối Nam ai
    - Hò ca xứ Quảng
    - Lý năm canh
    - Hò khoan Nam Ngãi.

    Phần tiếp tục trích về các thể điệu, thể loại Dân ca Miền Trung trên theo thứ tự. Trước hết là Hò khoan Thanh Nghệ (TNCD – quyễn 4 - Dân ca miền Trung từ trang 163
    . . . . . . . .
    Từ trang 163:
    Dân ca miền Trung (Hò dân chài, Hát dậm, Hát ru, Hàng vải, Ca Huế …)

    HÒ KHOAN THANH NGHỆ:

    Cơm chiều ăn với cá ve,
    Em về nốc biển mà nghe câu hò. (1)

    Con cá rô thia lấp ngọn rêu rong,
    Anh quăng đi cái mồi ngọc, con cá động lòng phải ăn.

    Chịu khó lấy chị nốc đăng,
    Cá đục, cá móm, cá đăng đầy nồi.

    Đêm khuya thắp ngọn đèn chai, (2)
    Quen o nốc đáy, ăn hoài cá tươi. (3)

    Em là con gái đến thì,
    Như con cá rô thia ăn vực, có khi hóa rồng.
    Cha chài, mẹ lưới con câu,
    Thằng rể đi tát, con dâu đi mò.

    Thương thay chút nỗi anh kheo, (4)
    Buồm bê chả có, kéo neo suốt ngày.
    Người đời tưởng thế là hay,
    Chưa vô khỏi nước, gang tay đo liền. (5)

    Mẹ ơi đừng gả con xa,
    Tuy rằng kẻ bể, đất ta cùng màu.
    Đi về con cá, lá rau,
    Mua rau chợ Vực, mua trầu chợ Đông. (6)
    Lấy ai, cũng lấy một chồng,
    Kiếm ăn ngày tháng no lòng thì hơn.

    Mẹ ơi, con chẳng lấy chồng xóm câu,
    Cái tay thì thối, cái đầu thì hôi.
    Chiều chiều cắp rổ mua môi, (7)
    Mua thì không được, lại ngồi mà lo.
    Chạy lên cho đến làng Giò, (8)
    Người xẻo không có, người mò cũng không. (9)
    Con ngồi con khóc, chồng trông ở nhà.

    Ngồi buồn, chặt thép uốn câu,
    Chặt cần se chỉ, buộc phao mắc mồi.
    Trải chiếu ra ngồi, bờ sông bến mát,
    Anh ngồi trên biển, cát trắng như bông.
    Anh mang xuống sông, buồm rung gió thổi,
    Kẻ lặn người lội, kẻ chán người đăng.
    Nước đục băng lăng, phao chìm cần động,
    Giật lên mau chóng, kẻo cá nhả mồi,
    Mình lấy được tôi, bỏ công ao ước,
    Ta lấy được mình, thỏa nỗi ước ao.

    Nàng đứng ở đó mà chi,
    Nàng về kẻ bể, mà đi kéo rừng.
    Nhà tôi nghề giã, nghề sông. (10)
    Lặng thì tôm cá, đầy trong đầy ngoài. (11)
    Cá trắng cho chí cá khoai,
    Còn như cá lẹp, cá mai cũng nhiều.
    Quý hồ, nàng có lòng yêu,
    Cái đường đi lại còn nhiều khi xa.
    Nàng về thưa với ông bà,
    Có cho nàng lấy chồng xa, hay đừng.

    Trời cao, cao bấy không xa,
    Đất kia rộng vậy, thế mà dầy sâu.
    Bể xa, thiên địa mù mù,
    Biết mô cửa lạch, biết mô sông cùng.
    Nước đầy ngoài biển, nước lại vô sông, Ngoài biển nhã trẹn, trong đồng kiệt khô. (12)
    Nước thủy triều, nước ở mô,
    Lúc lên lên khắp, lúc khô khô rồi.
    Trăm khúc sông, khúc lở khúc bồi,
    Khúc lở thành vực, khúc bồi thành non.
    Ngòi sông lớn, ngọn sông con,
    Nước ở ngoài biển, nước tuôn vô đồng.
    Trăm năm kể hết khôn cùng,
    Lý ngư còn đợi, bên sông hững hờ. (13)

    Chú thích:
    1- Nốc: Thuyền đánh cá nhỏ. 2- Đốt bằng dầu cây chai, hoặc cái bóng đèn làm bằng vỏ chai cắt ra, khi đi ra gió khó tắt. 3- O là cô. 4- Đi cà kheo và đẩy cái kheo để xúc tép ven biển. 5- Đo tép ruốc bằng tay để ước số lượng được bao nhiêu. 6- Hoàng Hóa, Thanh Hóa. 7- Môi: Con môi, con ruốc là loại tép nhỏ, đi từng luồng rất nhiều. 8- Hoàng Hóa, Thanh Hóa. 9- Xẻo là múc, hớt. 10- Giã là thuyền lớn đánh cá. 11- Lặng: Bể yên lặng. 12- Nhã trẹn: Nước rút. 13- Lý ngư: Cá gáy (chờ vượt ghềnh Vũ môn để hóa rồng).

    Tục ngữ - Phong dao
    I. Gia đình & Sinh sống

    Tiếp theo đây là phần Tục ngữ - Phong dao trong quyển 3 Lòng Son. Mở đầu từ trang 5 trở đi :

    Tiếp theo từ trang 9:
    GIA ĐÌNH & SINH HOẠT

    Lụa này thật lụa Cổ Đô
    Chánh tông lụa cống, các cô ưa dùng. (12)

    Mặt trời tang tảng rạng Đông,
    Chàng ơi thức dậy ra đồng kẻo trưa.

    Trồng tre, trồng trúc trồng dừa,
    Muốn nên cơ nghiệp, hậu chừa lang vân. (13)

    Một mình lo tảo lo tần, (14)
    Lo phần sư thuế, lo phần chồng con.

    Đố ai biết món chi ngon,
    Gà lộn trái vải, cu con ra ràng. (15)

    Đất ta bể bạc non vàng,
    Bể bạc Đông Hải, non vàng Bồng Miêu.

    Ở nhà thì sợ cái nghèo,
    Ra đi thì sợ cái đèo Cù Mông. (16)
    Ở nhà sợ chúng bạn trông,
    Ra đi thì sợ Dốc Ông, Dốc Dài. (17)

    Ngó lên đám cấy (lúa) ông Cai,
    Cấy thưa ông ghét, cấy dầy ông thương.

    Anh cùng nho sĩ tự trường,
    ở nhà em vẫn ruộng nương cấy cầy.
    biết mùi mặn lạt, chua cay,
    làm ăn trong sạch, thực rày nữ công.

    Ở nhà sợ chúng bạn trông,
    Ra đi thì sợ Dốc Ông, Dốc Dài.
    Ở nhà nhớ chúng bạn hoài,
    Ra đi thì sợ Dốc Dài, Dốc Ông. (18)

    Một ngày dăm bảy trận giông,
    Anh đi nằm bãi sao không thấy về. (19)

    Công danh đeo đuổi mà chi,
    Sao bằng chăm chỉ giữ bề canh nông.
    Anh ơi, cố chí canh nông,
    Mười phần ta cũng dự trong chín phần.
    Hay gì để ruộng mà ngâm,
    Làm ruộng cấy lúa, chăn tằm lấy tơ.
    Tằm có lứa, ruộng có mùa,
    Chăm làm, trời cũng đền bù có khi.
    Bây giờ “nông vụ chi kỳ”, (20)
    Em mà chẳng cấy, lấy gì anh ăn.

    Quê em có giải sông Hàn,
    Có hòn Non Nước, có hang Sơn Trà. (21)

    Bán buôn, thúng lủng tràn hư, (22)
    Mãn mùa tính lại chẳng dư đồng nào.

    Kiến đen tha trứng lên cao,
    Thế nào cũng có mưa rào, gió to.

    Ai mua lụa tốt bán cho,
    Có chê khổ hẹp thì đo thước già.

    Tháng Bảy, ông thị đỏ da,
    Ông mít chơm chởm, ông đa rụng rời,
    Ông mít đóng cọc mà phơi,
    Ông đa rụng rời, đỏ cả chân tay.

    Lao xao gà gáy rạng ngày,
    Vai vác cái cày, tay dắt con trâu.
    Bước chân xuống cánh đồng sâu,
    Mắt nhắm mắt mở, đuổi trâu ra cày.
    Ai ơi, ăn bát cơm đầy,
    Nhớ công hôm sớm cấy cày cho chăng.

    Bắc Kạn có suối đãi vàng,
    Có hồ Ba Bể, có nàng áo xanh. (23)

    Trâu năm sáu tuổi còn nhanh,
    Bò năm sáu tuổi đã tranh về già.
    Đồng chiêm xin chớ nuôi bò,
    Mùa Đông tháng giá, bò dò làm sao. (24)

    Trời Hè lắm trận mưa rào,
    Gặt sớm phơi sớm, liệu sao cho vừa.
    Khuyên em chớ ngại nắng mưa,
    Của chồng công vợ, ước mơ có ngày.
    Tháng Giêng chân bước đi cày,
    Tháng Hai vãi lúa, ngày ngày siêng năng . (25)
    Thuận mùa lúa tốt đằng đằng,
    Tháng Năm gặt lúa ta ăn đầy nhà.

    Nuôi gà phải chọn giống gà,
    Gà di bé giống nhưng mà đẻ mau.
    Nhất to là giống gà nâu,
    Lông dày thịt béo, về sau đẻ nhiều.
    Gà nâu chân thấp mình to,
    Đẻ nhiều trứng lớn, con vừa khéo nuôi.
    Chớ nên nuôi giống pha nòi,
    Đẻ không được mấy, con nuôi vụng về.

    Khó thay công việc nhà quê,
    Quanh năm khó nhọc, dám bề khoan thai. (26)
    Tháng Chạp thì mắc trồng khoai,
    Tháng Giêng trồng đậu, tháng Hai trồng cà.
    Tháng Ba cày vỡ ruộng ra,
    Tháng Tư bắt mạ, thuận hòa mọi nơi.
    Tháng Năm gặt lúa vừa rồi,
    Bước sang tháng Sáu, nước trôi đầy đồng.
    Nhà nhà, vợ cợ, chồng chồng,
    Đi làm ngoài đồng, sá kể sớm trưa.
    Vun trồng gốc lúa, phòng ngừa cỏ tranh.
    Tháng Tám trổ lúa đã đành,
    Tháng Mười gặt hái cho nhanh kịp người.
    Khóp khăn làm mấy tháng trời,
    Lại còn mưa nắng thất thời, khổ công.
    Gặt rồi nạp thuế nhà công,
    Từ đây mới được yên lòng ấm no.

    Chú thích:
    12- Thuộc Tây Sơn. Lụa tốt để đem đi cống hiến. 13- Chừa lại mắt cuối cùng, đừng lấp đất. Lang vân: mắt cuối cùng của cây cau. 14- Tảo tần là rau tảo, rau tần, chỉ tính siêng năng của người phụ nữ. 15- Trứng gà lộn, có cùi trong trong như cùi trái vải. Cu ra rang là chim cu mới lớn, vừa mộc lông. 16- Thuộc Bình Định, Phú Yên. 17- Giáp Hà Tĩnh, Quảng Bình. 18- Giáp Hà Tĩnh, Quảng Bình. 19- Nằm ở bãi biển chờ bắt con đồi mồi ở Hà Tiên. 20- Thời kỳ làm vụ lúa ruộng. 21- Thuộc Quảng Nam, Đà nẵng. 22- Tràn hay tràng: cái sàn, cái mẹt để trên miệng thúng. 23- Người thiểu số thường mặc quần áo xanh, chàm. 24- Đồng chiêm ngập nhiều nước. 25- Lúa sạ, ngắn ngày.

    Đồng dao – Lý ca

    Tiếp theo đây là trích phần Đồng dao – Lý ca trong TNCD quyển 11 – Dãi bày II

    ĐỒNG DAO – LÝ CA(Lý ngữ)
    Từ trang 176 trở đi:


    Cu cu chằng chằng,
    Mẹ rằng đi chợ,
    Mẹ nớ ở nhà,
    Bắt gà làm thịt,
    Bắt vịt mà nuôi,
    Con ruồi có cánh,
    Đòn gánh có mấu,
    Con sấu có tai,
    Con nai có gạc,
    Thợ giác có bầu,
    Hàng trầu hàng cau,
    Là hàng con gái,
    Hàng bánh hàng trái,
    Là hàng bà già,
    Hàng hương hàng hoa,
    Là hàng ông Bổn,
    Nấu cơm xổn xổn,
    Đội nón hai sườn,
    Đi chợ Hiếu Dương,
    Là quân ở Huế,
    Bắt ngựa mà tế,
    Là quân chăn trâu …

    Chuyền chuyền một,
    Một một đôi,
    Chuyền chuyền hai,
    Hai hai đôi …
    Qua cầu,
    Hầu thẻ,
    Bẻ bàn,
    Sang ngón,
    Chọn tay,
    Ngay giờ,
    Dời dã.
    Á mi ơi,
    Giống chi,
    Trong yếm,
    Cô mi,
    Giở ra,
    Anh coi.
    Chị Ba mày,
    Đi cầu,
    Té xuống ao,
    Chị Ba tao,
    Nhào xuống vũng,
    Tai nghe,
    Cái chủm.
    Núm cái thẻ,
    Nẻ cái thủm,
    Sang tay này,
    Bắt tay kia …
    Nẻ nẻ một,
    Một một đôi,
    Nẻ nẻ hai,
    Hai hai đôi …
    Lòn kim,
    Xe chỉ …

    Nghe vẻ nghe ve,
    Nghe vè nói ngược.
    Nắng hạn đầy nước,
    Mưa dầm khô rang.
    Đám cưới đình làng,
    Kỳ yên ngoài chợ, :) Lễ cầu an)
    Nhà giầu khấ nợ,
    Nhà nghèo cho vay.
    Đàn bà đi cày,
    Đàn ông đi cấy.
    Ghe nổi thì đẩy,
    Ghe cạn thì chèo.
    Nuôi chuột bắt mèo,
    Nuôi heo lấy trứng.
    Xu xoa thì trắng,
    Đất núi thì mềm.
    Trời nắng về đêm,
    Ban ngày sao mọc.

    Nắng lên cho mối bắt gà,
    Một trăm đàn bà đánh giặc cho vua.
    Con tép nó kẹp con cua,
    Một bầy cá mại cõng rùa đi ăn.
    Chồn đèn cắn cổ chó săn,
    Chuột kêu chút chit, đòi ăn con mèo.
    Chó chạy, chồn rượt đuổi theo,
    Chuột gặm chân mèo, muỗi đốt cánh dơi.
    Cây cao bóng mát chơi vơi,
    Gà con tha quạ lên ngồi cành tre.
    Con voi ấp trứng sau hè,
    Gà con đi kiện, vịt què vô Nha.
    Nực cười rết nuốt trứng gà,
    Đàn ông có chửa, đàn bà có râu.
    Trai tơ sắm cối giã trầu,
    Bà già bạc đầu nằm ngửa trong nôi.
    Chẳng tin đốt đuốc mà coi,
    Thày chùa đang ướp cá mòi nấu chay.

    Dân ca Miền Bắc

    (Giao duyên, Đối đáp, Ru em, Đò đưa, Huê tình, Quan họ, Hát đúm, Trống quân, Cò lả, Xẩm xoang, Nhà trò, Chèo thuyền, Kéo gỗ, Chầu văn, Sa mạc, Bồng mạc, Hành vân, Lưu thủy, Bình bán, Hát vè …)

    Tiếp theo đây là trích phần Dân ca Miền Bắc trong TNCD quyển 2 – Lời Hay - từ trang 235 trở đi:

    Đôi bên hàng xứ dãn ra,
    Để tôi đối địch với ba cô này.
    Được thời ăn đĩa trầu đầy,
    Thua thời cởi áo trao tay ra về.

    Đối địch thì dịch lại đây,
    Bên thừng bên chảo xem dây nào bền.
    Nhất bền là dây bồ nâu,
    Chị còn giật đứt nữa là đầu chúng em.

    Em ơi, chị bảo câu này,
    Nhất mặn là muối, nhất cay là gừng.
    Nhất cao là núi Tam Từng, (núi Ba Vì)
    Chị còn đạp đổ nữa rừng cỏ may.
    Nhất đẹp là núi Sơn Tây, (núi Ba Vì)
    Chị còn chẳng tiếc, nữa dây bìm bìm.

    Hát cho chó cắn bò lồng,
    Hát cho con gái bỏ chồng mà theo.
    Hát cho gà gáy chim kêu,
    Hát cho ông lão trong lều bò ra.

    Một đàn cò trắng bay chung, (tung)
    Bên nam bên nữ, ta cùng hát lên.
    Hát lên một tiếng linh đình,
    Cho loan sánh phượng, cho mình sánh ta.
    Cất lên một tiếng la đà,
    Đàn ông hát trước, đàn bà hát sau.

    Thân chị như hoa gạo trên cây, (ý nói cao và đẹp)
    Chúng em như đám cỏ may bên đường.
    Thân chị như cái sập vàng,
    Chúng em như chiếu rách, bà hàng bỏ quên.

    Lậy trời cho gió cả lên,
    Cho manh chiếu rách trải trên sập vàng.
    Lậy trời cho gió cả luôn,
    Hoa gạo rụng xuống, chui luồn cỏ may.
    Lậy trời gió lớn rung cây,
    Hoa gạo rụng xuống, cỏ may xỏ vào.

    Thân chị như cánh hoa sen,
    Chúng em như bèo như bọt, chẳng chen được nào.

    Lậy trời cho cả mưa rào,
    Cho sấm cho chớp, cho bão to gió lớn,
    Cho sen chìm xuống, cho bèo trèo lên trên.

    Có hát thì hát bổng cho cao,
    Cho gió lọt vào, cho chúng chị nghe.
    Chị còn ngồi võng ngọn tre,
    Gió đưa cút kít, không nghe thấy gì.

    Cô kia mà hát đa đoan,
    Anh cầm con dao lá trúc, anh rạch lá gan cô này.
    Ruột non anh quấn trên cây,
    Ruột già anh vấn làm dây kéo thuyền.

    Cô kia mà hát ghẹo ai,
    Cái mồm méo xệch như quai chèo đò.
    Tới đây anh nắn lại cho,
    Ngày mai chèo đò, ăn hạt cơm thiu.

    Chơi cho thủng trống long bồng,
    Rồi ra ta lại lấy chồng lập nghiêm.
    Chơi cho thủng trống long chiên,
    Rồi ra ta lại lập nghiêm lấy chồng.

    Chúng chị là cái chuông vàng,
    Đứng trên đỉnh núi thì ngang với trời.
    Chúng chị là hòn đá tảng trên trời,
    Chúng em chuột nhắt cứ đòi lung lay.
    Cha đời chuột nhắt chúng bay,
    Đá tảng rơi xuống, chúng mày gẫy xương.

    Lạ lùng bắt gặp chàng đây,
    Có mấy câu này, em đoán chưa ra.
    Nếu mà anh giảng cho ra,
    Thì em kết nghĩa giao hòa cùng anh.
    Cái gì trong trắng ngoài xanh,
    Cái gì soi tỏ mặt anh mặt nàng.
    Cái gì xanh đỏ trắng tím vàng,
    Cái gì ăn phải dạ càng tương tư.
    Cái gì năm tháng đợi chờ,
    Cái gì tiến chũm phơi khô để dành.
    Cái gì mà đổ vào xanh,
    Cái gì nó ở trên cành nó lại tốt tươi.
    Cái gì trong héo ngoài tươi,
    Cái gì làm bạn với trời được tám trăm năm.
    Cái gì chung chiếu chung chăn,
    Cái gì làm bạn với trăng đêm ngày.
    Cái gì nó bé nó cay,
    Cái gì nó bé nó hay cậy quyền.

    Quả bí trong trắng ngoài xanh,
    Gương Tàu soi tỏ mặt anh mặt nàng.
    Chỉ ngũ sắc xanh đỏ trắng tím vàng,
    Bùa yêu ăn phải, dạ càng tương tư.
    Nhân duyên năm đợi tháng chờ,
    Cau non tiến chũm phơi khô để dành. (1)
    Thịt cá thì đổ vào xanh,
    Cái hoa thiên lý nó ở trên cành , nó lại tốt tươi.
    Sầu đâu trong héo ngoài tươi,
    Ông Bành Tổ làm bạn với Trời được tám trăm năm.
    Vợ chồng chung chiếu chung chăn,
    Thằng (chú) Cuội làm bạn với trăng đêm ngày.
    Hạt tiêu, nó bé nó cay,
    Đồng tiền, nó bé nó hay cậy quyền.
    Anh nay đã giải hết liền,
    Vậy anh xin kết nhân duyên cùng nàng.

    Chú thích: 1- Tiến chũm là tiện một vòng ở đầu.

    Dân ca Miền Nam – Nam Trung

    (Đưa em, Hò Lý, Chèo ghe, Cắt lúa Đối đáp …)

    Tiếp theo đây là trích phần Dân ca Miền Nam, Nam Trung trong TNCD quyển 2 – Lời Hay - từ trang 265 trở đi:

    Đưa em, Hò Lý, Chèo ghe, Cắt lúa Đối đáp …

    Ai xui ai khiến bất nhơn,
    Tôi nay gặp bạn thương hơn vợ nhà.
    “Nhị nhân đối khẩu giao hòa” (1)
    Hò chơi chồng vợ, tối về nhà là người dưng.

    Cây cao gió thổi, cành rung,
    Đôi ta hòa huyết, uống chung lời thề.
    Thăm em một chút anh về,
    Đường đi viễn vọng, sợ bề mẹ cha. (2)

    Đêm nằm thổn thức vào ra,
    Chờ cha mẹ ngủ, lén qua thăm mình.
    Tôi than hết sức, tôi dứt hết tình,
    Thiếu điều cắt ruột cho mình, mình ơi.
    Dẫu mà chẳng được kết đôi,
    Một lần này nữa xin thôi cang thường. (3)
    “Nhu thắng cang, nhược thắng cường, (4)
    Tui ở mềm như chuối, đạo cang thường còn xa.
    Gá duyên, cha mẹ rầy la,
    Choàng tay qua cổ con Ba, khóc ròng.
    Gió đưa cụm liễu cong vòng,
    Muốn nên chồng vợ, ôm lòng đợi anh.

    Chẳng viếng thăm, mình nói bạc tình,
    Còn viếng thăm thì phụ mẫu đánh mình, đau tui.
    Cá sầu ai, cá chẳng quạt đuôi,
    Như lan sầu huệ, như tui sầu mình.
    Tử sanh sanh tử tận mình,
    Dù ai ngăn đón, tui cứ mình tui thương.

    Bây giờ anh hết lòng thương,
    Duyên tình đứt gánh giữa đường tại anh.

    Đón ngăn đường tắt, tui hỏi gắt bạn chung tình,
    Điểu xa mai, mai xa điểu, tui xa mình tại ai ?
    Cây oằn vì bởi trái sai,
    Tôi xa mình bởi ông mai ít lời.

    Nước mắt láng lai, chùi hoài vẫn ướt,
    Trời hỡi trời, sao chẳng bớt nhớ thương.
    Sợi tơ hồng em lỡ vấn vương,
    Gặp anh một bữa, nhớ thương ngàn ngày.

    Anh cũng đã hay, người ngay không ở quấy,
    Gái chính chuyên chẳng lấy hai chồng.
    Biết em buông mối chỉ hồng,
    Tiếc cho anh đi chậm nên đứng ngoài phòng bơ vơ.

    Đây cũng muốn chờ, ngặt bóng trăng lờ, thêm cơ diệu vợi,
    Thuyền lái đây sẵn sàng, e chờ đợi luống công.

    Đang buổi chợ đông, con cá hồng anh chê lạt,
    Tan buổi chợ rồi, con tép bạc anh cũng khen ngon.

    Nước mắm ngon dầm con cá đối,
    Mày về biểu chị hai mày, tới tối tao qua.
    Nước mắm ngon dầm con cá bẹ,
    Cảm thương nàng có mẹ không cha.

    Đắng khổ qua, chua là chanh giấy,
    Dầu ngọt cách mấy, cũng tiếng cam sành.
    Giặc kia đã tới Châu Thành,
    Dầu ai ngăn đón, cũng không đành bỏ em.

    Đèn nào cao bằng đèn ông Chánh, (5)
    Bánh nào trắng bằng bánh bò tươi.
    ở xa thấy miệng em cười,
    Cầm bằng vàng chín, vàng mười trao tay.

    Đèn nào cao bằng đèn ông Chánh,
    Bánh nào trắng bằng bánh bò bông.
    Trách ai ăn ở hai lòng,
    Sang sông rồi nỡ quên công người chèo.
    Rạch Đông nước chảy, con cá nhảy con tôm nhào,
    Hai đứa mình kết nghĩa, chẳng lẽ nào cha mẹ không thương.

    Chú thích:
    1- Hai người đối miệng mà giao hòa với nhau. 2- Viễn vọng: Trông ra xa. Cang thường: đạo Tam Cang Ngũ Thường con người neo theo: Vua tôi, cha con, chồng vợ, anh em, bạn hữu.) 4- Mềm thắng cứng, yếu thắng mạnh. 5- Chánh sở quan thuế ở Châu Đốc.

    Tục ngữ - Phong dao

    Duyên tình – Bạn hữu

    Tiếp theo đây là trích phần Phong dao – Duyên tình & Bằng hữu trong TNCD quyển 3 – Lòng Son - từ trang 37 trở đi:

    Duyên tình – Bạn hữu

    Buổi xuân xanh, em chẳng gặp chàng,
    Bây giờ năm con bảy cái, ra đường gặp nhau.

    Thương em, anh biết chở mấy tầu,
    Răng đen lổ đổ tựa dâm bào em ơi. (4)

    Vô duyên chưa nói đã cười,
    Chưa đi đã chạy là người vô duyên.

    Trai anh hùng, gái thuyền quyên,
    Phỉ nguyền sánh phượng, đẹp duyên cưỡi rồng.

    Khoát mùng ra thấy mùng không,
    Gối loan để đó, lệ hồng tuôn rơi.

    Bác thang lên đến tận trời,
    Thấy ông Nguyệt lão đang ngồi xe tơ.

    Kẻ trồng còn đó trơ trơ,
    Cùng người khác đã đợi chờ tình chung.
    Kẻ thì mới khuất mặc chồng,
    Chưa xanh ngọn cỏ đã cải danh biến nghì. (5)

    Miếng trầu ăn nặng bằng chì,
    Ăn rồi mới biết lấy gì đền ơn.
    Say là say nghĩa, say nhơn,
    Say thơ Lý Bạch, say đờn Bá Nha. (6)

    Chim kêu chim chip mái nhà,
    Đây ta không muốn, sao đấy đà cứ muốn lên.
    Ví dầu duyên có hợp duyên,
    Đây xuống chốn ấy, đấy lên chốn này.

    Má hồng không thuốc mà say,
    Nước kia muốn đổ, thành này muốn nghiêng.

    Đò đưa một chuyến ba tiền,
    Hỡi cô bán bột, xuống thuyền tôi đưa.

    Thương anh dầu dãi nắng mưa,
    Hết cầy ruộng thấp lại bừa ruộng cao.

    Hai tay bưng chén rượu đào,
    Xin mời quân tử uống vào cho say.

    Hang sâu núi thẳm như vầy,
    Ai xui anh đến chốn này gặp em.

    Rượu nằm trong nhạo chờ nem,
    Anh nằm phòng vắng chờ em đôi ngày.

    Bởi thương nên ốm nên gầy,
    Cơm ăn chẳng đặng gần đầy ba trăng.
    Ngó lên sao mọc như giăng,
    Thấy em có nghĩa, mấy trăng cũng chờ.

    Giả đò buôn kén bán tơ,
    Đi ngang qua ngõ, rơi thơ cho nàng.

    Gió đưa gió đảy bông trang,
    Ai đưa ai đảy duyên chàng tới đây.
    Nắng mưa thì giếng năng đầy,
    Anh năng đi lại thì thày mẹ thương.

    Nhớ ai dãi nắng dầm sương,
    Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao.
    Thuyền ai lựa bến cắm sào,
    Em chờ cha mẹ định nơi nào sẽ hay.

    Mình về đường ấy hôm nay,
    Giường kia chiếu nọ để đây ai nằm.
    Nắm tay bạn cũ khóc thầm,
    Ngày rầy quế nọ xa trầm, trầm ơi.

    Bần gie đóm đậu sáng ngời,
    Lỡ duyên tại bậu, trách trời sao đang. (7)

    Từ khi anh thọ lãnh chữ vàng, (8)
    Giao cha mẹ lại cho nàng thọ nuôi.

    Ví dầu tình bậu muốn thôi,
    Bậu gieo tiếng dữ cho rồi, bậu ra,
    Bậu ra chẳng khỏi tay ta,
    Cái xương bậu nát, cái da bậu bầm.
    Ví dầu tình bậu muốn thôi,
    Bậu reo tiếng dữ cho rồi, bậu ra.
    Bậu ra bậu lấy ông câu,
    Bậu câu cá bống chặt đầu ông tiêu.
    Kho tiêu bỏ ớt bỏ hành,
    Thêm ba lượng thịt để dành bậu ăn.

    Chú thích:
    4- Tàu: hộp mực của thợ mộc dùng để lấy mực thẳng. Cũng có nghĩa là tàu thuyền. 5- Mả chồng mới chôn, cỏ mới mọc. Thay đổi dung nhan và đổi cả tính nết. 6- Nhà thơ lớn và nhạc sĩ lớn dưới đời nhà Đường bên Tàu. 7- Cây bần gie. Đom đóm. 8- Chữ vua phong chức tước. 9- Chiếu dệt có nhiều hoa văn, (theo tích dệt một bản “hồi văn” trên gấm, dâng lên vua để minh oan cho chồng)

    Tục ngữ - Phong dao – Bài Vè.

    Tiếp theo đây là trích phần Bài Vè trong TNCD quyển 3 – Lòng son từ trang 294 trở đi:

    Bài Vè
    Bài hai

    Thử xem tính nết mọi người,
    Bán hàng ở chợ, xem ai hiền lành.
    Chua ngoa là chị hàng chanh,
    Hung hăng có bác hàng hành nói ra.
    Cười dòn, chị bán bánh đa,
    Có cô hàng vải, thật là nói dai.
    Ngứa mồm là chị hàng khoai,
    Sao cô hàng lạc, nói bùi dễ nghe.
    Ngọt ngào là chị bán chè,
    Gớm cô hàng ớt, nói thì thật cay.
    Hàng rượu, giả tỉnh giả say,
    Các bà hàng cá, suốt ngày mè nheo. (6)
    Các anh hàng thịt đủ điều,
    Nửa nạc nửa mỡ, ai trêu làm gì.
    Mấy bà bán mắm cũng ghê,
    Tính hay gắt gỏng, nói thì bùi ngon. (7)
    Mấy cô hàng bún khéo mồm,
    Nói năng mềm dẻo, dễ thương vậy mà. (8)
    Lắm lời nhất chị hàng gà,
    Nói thời quang quác như là cãi nhau. (9)
    Lại thêm mấy bà bán cau,
    Nói thì nửa hạt, nửa mầu lẳng lơ. (10)
    Hàng muối ăn nói mặn mà,
    Cong queo tíu tít, mấy bà hàng tôm. (11)
    Hàng mía nói rõ ngọt mồm,
    Sao cô hàng thuốc, nói thường mà say.
    Các cô trầu vỏ cũng cay,
    Nói thời dai ngoách, cả ngày không thôi. (12)
    Lại thêm hàng nón, áo tơi,
    Vành vè soi mói, một lời không thua. (13)
    Nói ngang là chị hàng cua,
    Hàng sấu, hàng khế nói chua ra tuồng.
    Bòn mót có chị hàng tương, (14)
    Nói thời bôi bác, hàng sơn ra trò. (15)
    Tới bà hàng gạo, hàng ngô,
    Đong đưa gằn sảy, bốn mùa kêu ca.
    Lời bác thợ nhuộm nói ra,
    Xanh vàng đỏ tím, thực là chín gan.
    Chỉ lợi có chị bán cơm,
    Vừa ăn vừa nói nhồm nhoàm mà no.
    Thợ may nói chuyện gay go, (16)
    Vạch ngang vạch dọc, đắn đo vắn dài.
    Mấy anh thợ cao, ăn nói ngứa tai, (17)
    Đứng nghe rõ hết những lời tóc tơ.
    Các hàng quà bánh, rau dưa,
    Lôi thôi sơ mướp, nói thừa không đâu.
    Việc gì đến bác lái trâu,
    Lồng quanh sừng sộ, lắc đầu nhe răng. (18)
    Thợ rèn sùi sụt than rằng, (19)
    Búa kìm bỏ bễ, xin đừng đe loi.
    Các cô hàng chuối lắm lời,
    Nói xanh nói chín, nói thời còn ương.
    Hàng xén rủ bà bán hương,
    Bảo nhau cất dọn các hàng ra xem.
    Mấy anh khán chợ thu tiền, (20)
    Đem lời phải trái mà khuyên mọi người.
    Bà con hết thảy vâng lời,
    Ai về nhà nấy thế rồi chợ tan.
    Nếu mà cô bác chẳng tin,
    Đến mai ra chợ mà xem cho tường.


    Chú thích:
    6- Mè nheo: Cá mè, cá nheo. 7- Mắm gắt. 8- Bún mềm, dẻo. 9- Gà kêu quang quác. 10- Hạt cau, màu cau. 11- Tôm cong mình. 12- Trầu vỏ ăn dai. 13- Vành nón. 14- Múc tương thì bòn vét cho sạch. 15- Bôi sơn, quyết sơn. 16- Go dệt vải. !7- Lấy ráy tai. 18- Sừng trâu. 19- Thổi bễ kêu sùi sụt, đốt than. 20- Khán chợ: Người coi chợ.
    (hết bài vè 2)

    Trích Phần hai: Một số thành ngữ ba tiếng của cuốn “Tâm Hồn Mẹ Việt Nam (Tục ngữ Ca dao) quyển mười hai (12) Dãi Bày III.

    Từ trang 255 trở đi:

    Ông cụ non, (10)
    Khôn như quỷ.
    Say túy lúy, (11)
    Quý như vàng.

    Hòa cả làng,
    Hăng bọ xít. (12)
    Im thin thít, :) xếp lại với nhau và im lặng)
    Thịt trâu toi. :) đồ bỏ)

    Sợ co vòi, (13)
    Hôi rinh rích,
    Nặng chình chịch,
    Trệch bầu lương. :) phơi rún ra)

    Sáng như gương,
    Gương tầy liếp, (14)
    Chịu một phép,
    Mép thợ ngôi. (15)

    Gẩy đàn môi, :) run sợ)
    Sôi sùng sục,
    Giống như đúc,
    Học phá ngu :) học vỡ long)

    Truyện ruồi bu, :) truyện rác rưởi)
    Tu lộn kiếp, :) tu bậy)
    Bã bọt mép :) Nói quá nhiều)
    Lết dép mo. :) cảnh túng thiều)

    Ngẩng cổ cò,
    Bò tháng Sáu, (16)
    Tươi rau ráu, :) rất tươi)
    Thấu tới trời.

    Chán mớ đời, :) chán nhiều, lâu)
    Lười như hủi :) phong cùi)
    Tiếc hùi hụi, :) tiếc lắm)
    Tuổi xuân thì :) tuổi trẻ)

    Ngồi làm vì, (17)
    Đi cà nhắc,
    Là cái chắc,
    Chắc như nêm.

    Tối như đêm,
    Mềm như lạt,
    Mau nước mắt,
    Chật như nêm.

    Thời đóng ken, :) thời đói khổ)
    Đen như mực,
    Cùng một duộc, :) một bày, bên vực nhau)
    Vuốt vảy rồn. (18)

    Tróc đòng đòng, :) vuốt bụng)
    Cong đuôi chạy, :) chạy như con chó)
    Điếc con ráy,
    Chạy đàng trời :) không thoát)

    Nói tay đôi, (19)
    Rơi mặt nạ. :) lộ nguyên hình)
    Bụng nát dạ, :) Mình hù họa mình)
    Đá lông nheo. :) nháy mắt làm hiệu)

    Nói trả treo, :) như nói tay đôi)
    Mèo thấy mỡ,
    Của giữa chợ. :) ai muốn cũng được)
    Lỡ hàng bờ. :) không có chỗ dựa)

    Dốt như bò, :) ngu)
    Co chân chạy,
    Quân đội váy, :) nịnh phụ nữ)
    Chạy như điện.

    Lạnh như tiền, (20)
    Tiền hàng xáo, :) xoay vòng lẹ)
    Danh hiệu hảo, (21)
    Láo như ranh. :) ma trẻ nít khôn lanh)

    Hãy còn tanh, :) còn nhỏ quá)
    Nhanh nhảu đoảng, :) hỏng việc)
    Chạy bán mạng, :)gần chết)
    Nặng như cùm. (22)

    Chú thích:
    10- Tuổi trẻ mà làm ra bộ người lớn. 11- Theo chữ Hán, “túy lúy” là say rượu mê man. 12- Hung hăng một cách lố bịch. 13- Sợ quá không dám dở nghề ngón gì ra nữa. 14- Liếp là tấm phên che cửa khỏang 2 mét vuông trở lên. 15- Miệng nói nhiều. Thợ ngôi là thợ cạo, thợ hớt tóc, vì rảnh mồm và tiếp xúc với nhiều người nên biết nhiều chuyện. 16- Rất cần thiết, lúc này là mùa cày bừa, rất cần bò. 17- Ngồi cho có mặt mà không làm được gì cả. 18- Làm việc nguy hiểm. Rồng thích vuốt ve, nó có một ít vẩy ngược ở cổ, nếu bị vuốt nó sẽ nổi điên. 19- Nói tay ngang, không nể. 20- Tiền (bằng) đồng, tiền kẽm nên vào mùa Đông sờ rất lạnh. Ý nói là đồng tiền đối xử lạnh nhạt với mọi người, nó không thân thiết với ai, không chung thủy với ai, nay đây mai đó … 21- Danh hiệu chẳng có lợi lộc gì. 22- Cái cùm dùng cho nhiều người, lại làm bằng gỗ tốt nên rất nặng. Cùm giữ chân lại nên không hoạt động được.

    Tục ngữ - Thành ngữ … Thông thường


    Trích phần Tục ngữ, Thành ngữ, Phong dao ... phổ biến, thông dụng trong TNCD quyển 1 – A B C (vì theo thứ tự “an – pha – bê) từ trang 20 trở đi:

    * Ai khảo mà xưng.
    Khảo: đánh đập, tra xét (tra khảo). Xưng: khai ra, (xưng tôi)
    Không ai đánh đập tra xét gì mình mà mình đã vội khai hết lỗi lầm của mình ra. Đó là nhút nhát, dại dột.

    * Ai nói sao, bào hao làm vậy.
    Bào: bắt lấy, cầm nắm lấy. Hao: nói to lên.
    Nghĩa là: Nghe người ta nói sao mình cũng bắt chước hùa theo mà nói như vậy, chẳng cần biết phải, trái, hay, dở …
    Thí dụ như câu: Thằng ấy hay ăn nói bậy bạ, “thấy ai nói sao, bào hao làm vậy” thôi, chứ nó chẳng có tâm địa độc ác gì.

    * Ai ơi thức dậy mà trông,
    Kìa con Ô Thước ngăn sông Ngân Hà
    Ô Thước, Ngân Hà: Cầu do chim Ô Thước (quạ đen tức sao Ô trong chòm Huyền Vũ) bắc bằng đá qua sông Ngân Hà ở trên trời để mỗi năm Ngưu Lang (sao Ngưu trong chòm Bạch Hổ) và Chức Nữ (sao Nữ trong chòm Thanh Long) được qua gặp nhau một lần.

    * Ai trồng câu sung cho nàng ăn quả,
    Ai trồng cây vả cho nàng hái hoa ?
    Áo người, mặc đoạn cởi ra,
    Chồng người cho mượn, canh ba phải hoàn.
    Cây sung cây vả cùng một họ, cây và trái sung nhỏ. Sung cũng cũng ngụ ý là sung sướng. Vả cũng ngụ ý là vất vả.
    Đoạn: xong, đứt.
    Canh ba: lúc nửa đêm.
    Nghĩa là: Ai chịu vất vả (kiếm chồng) để cho nàng sung sướng. ? Người ta kén lựa chồng tốt (hưởng sung sướng) cũng mất công lắm (vất vả). Nay nàng mượn thì phải trả đúng lúc người ta cần dùng (nửa đêm), không trì hoãn được …
    Ý nói: những gì tôi có đây do công vất vả mới có được. Nếu vay mượn xin trả đúng kỳ hẹn.

    * Ám chướng u mê.
    Ám chướng: che lấp, tối tăm. U mê: tối tăm.nghĩa là tình thần, đầu óc bị che lấp thành tối tăm, chẳng hay biết gì.
    Cũng có câu:
    “U mê ám chướng” thì giầu. Thông minh tài trí như tau (tao) thì nghèo.

    * An bang tế thế.
    Nghĩa là giữ yên bờ cõi đất nước và che chở cho đời.

    * An bần lạc đạo:
    Nghĩa là sống yên với cảnh nghèo của mình mà vui với đường lối sống của mình, tự lấy làm vui. (không cho là khổ, không oán than).

    * An cư lạc nghiệp.
    An cư: ở yên. Lạc nghiệp: vui với nghề.
    Ta hiểu câu này theo nghĩa:
    Có chỗ sống ổn định, có nghề nghiệp vui vẻ. Đó là một thành ngữ.
    Ta hiểu câu này theo nghĩa:
    Có chỗ ổn định thì mới làm nghề nghiệp vui vẻ. Đó là một tục ngữ.

    * An nhiên tự tại.
    An nhiên: ở yên theo tự nhiên. Tự tại: vẫn ở đó như từ trước tới nay.
    Nghĩa là vẫn yên ổn như từ trước đến giờ.
    Thí dụ như câu: Giỏi thật, qua bao sóng gió trên đời mà ông ấy vẫn cứ “an nhiên tự tại”.

    * Án binh bất động.
    Nghĩa là ngừng quân lại, không hành động gì.
    Ý nói ngưng hoạt động để chờ thời cơ.
    Thí dụ như câu: Hồi này buôn bán làm ăn khó quá, tôi đành phải “án binh bất động” để chờ coi …

    * Anh đây mục hạ vô nhân,
    Nghe em nhan sắc mười phân vẹn mười …
    Mục hạ vô nhân: dưới mắt không người, tức là khinh người, không thèm ngó tới ai, coi như không có ai.
    Đây là lời của anh hát xẩm, bị mù, hát câu này với hai nghĩa:
    Anh mù nên chẳng nhìn thấy ai, em có đẹp anh cũng chẳng thấy.
    Anh coi khinh mọi người, dù em có đẹp anh cũng coi như không chẳng thèm …

    * Anh đừng nghe tiếng thị phi,
    Giận anh em mới lỗi nghì thủy chung.
    Tiếng thị phi: tiếng đồn đãi phải trái, này nọ …
    Nghì thủy chung: cái nghĩa trước sau, cách ăn ở với nhau có trước có sau.
    Ý nói: anh đừng nghe tiếng phải trái này nọ rồi cho là em hư hỏng … mà chỉ vì giận anh, anh bê trễ, nên em mới sai lời với anh thôi, không phải em có lỗi trước.

    Ca dao Ý đẹp
    Tục ngữ Ca dao

    Tiếp theo đây là trích phần nhì Sưu Tập trong cuốn TNCD quyển 1 – Ý đẹp từ trang 75 trở đi:

    Sưu tập
    Phần cha mẹ tiếp theo:


    Con gái cái bòn – Thương con ngon của.
    Người roi voi búa – chồng chúa vợ tôi.
    Năm trai năm gái là mười,
    Năm dâu năm rể là đôi mươi tròn.

    Cha làm thầy, con bán sách,
    Năng liếc năng sắc, năng nhắc năng thưa.
    Con vua thì lại làm vua,
    Con nhà kẻ khó bắt cua tối ngày.

    Trồng cây có ngày ăn quả,
    Đàn anh có mả, kẻ cả có dòng.
    Trông mặt mà bắt hình dong,
    Con lợn có béo, cỗ lòng mới ngon.

    Có phúc, đẻ con biết lội,
    Có tội, đẻ con biết trèo.
    Muốn sang thì bắc cầu kiếu,
    Muốn con hay chữ thì yêu lấy thày.

    Trăm con trai không bằng dái tai con gái,
    Trăm con gái không bằng cái dái con trai. (1)
    Chẳng nên thêm một bớt hai,
    Dầu trai dầu gái cũng thời là con.
    Con dại con khôn, cũng hòn máu đỏ,
    Con hay con dở, không bỏ con ra.
    Cũng thì con mẹ con cha,
    Cành cao săn sóc, cành la bỏ liều.

    Mẹ hát con khen ai chen vô lọt,
    Con không cha, nòng nọc đứt đuôi.
    Thổi sáo phải biết chuyển hơi,
    Khuyên con phải biết lựa lời mà khuyên.

    Cả vú lấp miệng em, cả hèm lấp miệng hũ,
    Nhất nam viết hữu, nhất nữ viết vô. (2)
    Cũng vì một chút con thơ,
    Cho nên giường chiếu bẩn dơ trăm bề.

    Con lên ba cả nhà học nói,
    Cá chuối chết đuối vì con. (3)
    Tre già ôm gốc măng non,
    Đừng bênh con trẻ, lon xon mắng người.

    Con người thì mặt hoa da phấn,
    Con mình thì mặt cú da lươn.
    Giận thì mắng, lặng thì thương,
    Rét thường cho mặc, đói thường cho ăn.

    Một con sa bằng ba con sống, (4)
    Người sống hơn đống vàng,
    Trai mồng một, gái mười rằm,
    Nuôi thì nuôi vậy, phải chăm vun trồng.

    Lớn vú bụ con – Sinh con hiếu đễ , (5)
    Sinh con ai dễ sinh lòng.
    Trứng rồng lại nở ra rồng,
    Thìu điu lại nở ra dòng thìu điu. (6)

    Trông mặt đặt tên – Cha truyền con nối.
    Thớt trên mòn, thớt dưới cũng mòn.
    Uốn cây từ thuở còn non,
    Dậy con từ thuở con còn thơ ngây.

    Nỗi dâu da xót xa lòng mẹ,
    Dâu dâu rể rể, cũng kể là con.
    Trăng khuyết rồi trăng lại tròn,
    Mẹ già kén rể, con còn góa lâu. (7)

    Thương con dễ, thương rể mới khó.
    Vô nam dụng nữ, vô tử dụng tôn. (8)
    Nếp lộn lon, cha con đánh chén. (9)
    Thu va thu vén, không hẹn mà nên.
    Muốn nói ngoa, làm mẹ cha mà nói. (10)
    Mẹ quay đi con dại, mẹ ngoảnh lại con khôn.
    Sống thì hít hít hôn hôn,
    Chết thì bùa ếm, bùa chôn, bùa trừ. (11)

    Bố chồng như lông chim phượng, mẹ chồng như tượng mới tô, con dâu là bồ chịu chửi.
    Bố vợ là vớ cột chèo, mẹ vợ là bèo trôi sông, con rể là ông ba đời.
    Bố chồng là lông con lợn, mẹ chồng là trợn mắt lên, nàng dâu ngồi trên là bà hoàng Hậu.
    Bố vợ mang nợ vào thân, mẹ vợ không ăn phải vạ, chàng rể chễm chệ như ông Thần Hoàng.

    Chú thích:
    1- Con gái đeo bông tai tốn tiền, con trai đi hỏi vợ tốn tiền. 2- Một con trai kể như là có con, mười con gái cũng kể như không con. 3- Cá chuối chết đuối vì con: Cá chuối khi dẫn đàn con ròng ròng đi kiếm ăn, đôi khi phải nhầy lên bờ cho kiến bám đầy mình, rồi nhảy xuống nước lại cho cho con ăn kiến bu trên mình. Cũng có khi cá chuối mẹ bị mắc cạn trên bờ nên bị người bắt hay bị kiến ăn (như câu cá ăn kiến, kiến ăn cá). 4- Bị sa sẩy thai thì còn hại hơn sinh đẻ bình thường. 5- Thảo: thảo kính cha mẹ. 6- Thìu điu cũng còn gọi là liu điu là loại rắn nhỏ tí thường bơi trên mặt nước. 7- Cũng nói: mẹ già chuốt ngót. Chuốt ngót là ăn nói trau chuốt, quá ngọt lợ. 8- Không trai thì dùng gái, không con thì dùng cháu. 9- Gạo nếp lộn với gạo tẻ cũng như cha con cùng ngồi uống rượu lộn xộn. 10- Ngoa: nói sai sự thật. 11- Con nít bị chết yểu, cha mẹ thường ếm bùa, trừ tà ma.

    TNCD – Dân ca Miền Trung

    Phần tiếp tục trích về các thể điệu, thể loại Dân ca Miền Trung trên theo thứ tự. Trước hết là Hò khoan Thanh Nghệ (TNCD – quyễn 4 - Dân ca miền Trung từ trang 163
    . . . . . . . .
    Từ trang 166:
    Dân ca miền Trung (Hò dân chài, Hát dậm, Hát ru, Hàng vải, Ca Huế …)

    A- HÒ KHOAN THANH NGHỆ:
    (tiếp theo)

    Hai bên đứng ở hai hàng,
    Người mũi kẻ lái, rập ràng cho mau.
    Ngó trước ngó sau, ra tay mà đẩy,
    Hò, hò, hò
    Này anh em ơi, hò lên cho nhịp,
    Để chèo thuyền lướt sóng ra khơi.
    Nay mừng thời vận lên rồi,
    Bắc Nam hòa thuận, ta thời vui ca.
    Cảnh Dương, Cửa Cấm lạch nhà, (14)
    Ghe thuyền buôn bán, xinh đà quá xinh.

    Vô can, vô cớ,
    Ai buộc chữ tình, khôn nhớ khôn khuây.
    Hai tay ôm lạng vàng, ra đứng giếng Tây
    Vàng rơi không tiếc, tiếc phen này xa nhau.

    Em trèo đèo, em lặn suối,
    Em qua lối nọ, anh thì có thương.
    Huyện Tống Sơn có chàng Từ Thức (15)
    Rắp mon men lên cõi Tiên đường,
    Rủ nhau lên núi, lên nương,
    Tìm thời chẳng thấy, những thương cùng sầu.
    Yêu nhau chẳng lấy được nhau,
    Làm cho tốn bấc, hao dầu luống công.
    Thuyền nan chèo thẳng giữa giòng,
    Em mũi anh lái, gắng công lên thác xuống ghềnh.


    A- HÁT PHƯỜNG VẢI, PHƯỜNG CẤY NGHỆ TĨNH:

    Chén ngà sánh giọng quỳnh tương, (16)
    Mời chàng Nho sĩ văn chương bước vào.
    Khách tri âm đã tới sân hòe, (17)
    Mời ngồi chiếu phượng mà nghe tiếng đàn.

    Vừa ra, vừa gặp người dòn,
    Cũng bằng hoa nở hội trăng tròn đêm nay.
    Vừa ra, vừa gặp anh đây,
    Một là duyên kỳ ngộ, hai là trời xoay đất vần. (18)

    Một trăm ông lái thanh nhàn,
    Không thương trai bạn, cơ hàn nắng mưa. (19)

    Đến đây, lạ bến lạ rào, (20)
    Hỏi con chim hồng nhan, ở phương nào tới đây.
    Kẻo mai, nhớ núi chim bay,
    Ai nhớ chim muốn hỏi, biết thư bày ra sao ?

    Ngọc lành, ngồi đợi giá cao,
    Vàng mười ngồi đợi, tước Lục Tào ban ra. (21)
    Mượn người làm mối hai ta,
    Mai thành công chi mỹ, ta đến nhà trả ân. (22)

    Bấy lâu thức nhấp mơ màng,
    Bêm rèm tiếng gió, đầu giường bóng trăng.

    Bấy lâu nghe hết tiếng nàng,
    Bên anh nức tiếng, đồn vang đã lừng.
    Nghe tin, anh cũng vội mừng,
    Vậy nên chẳng quản suối rừng, anh sang.

    Chốn này vui vẻ tưng bừng,
    Hạc nghe tiếng phượng, xa chùng tới nơi.

    Nhân đêm thong thả, mát trời,
    Nghe tin bướm nhắn, vội dời gót qua.
    Đến đây mừng cảnh mừng hoa,
    Trước mừng hai cố, sau ra mừng Phường.

    Thương em vô giá vô chừng,
    Trèo truông quên mệt, ngậm gừng quên cay.

    Đêm khuya, trời tạnh trăng im,
    Tai nghe tiếng nhạc (ngựa) chàng Kim tới gần. (23)

    Dừng xa, khoan kéo, ơi phường,
    Hình như có khách viễn phương tới nhà. (24)

    Đi ngang trước cửa nàng Kiều,
    Dừng chân đứng lại, dật dìu đôi câu.

    Mừng rằng, bạn đến chơi nhà,
    Cam lòng thục nữ, gọi là trao tay. (25)

    Trách con gà gáy vô tình,
    Chưa vui xum họp, đã đánh chia phôi.

    Chú thích:
    14- Thuộc Hoàng Hóa, Thanh Hóa. 15- Động Đình: Hồ Động Đình ở tỉnh Hồ Nam thuộc Trung Quốc. Động Đình có nghĩa là một vùng nước ở giữa vùng núi cao. Nơi đây là một thắng cảnh đẹp, các tài tử giai nhân đến rất đông, chơi thuyền trên song hồ, uống rượu làm thơ trên các lầu cao ở ven hồ. Lưới Động Đình là lưới để bắt cá trên hồ Động Đình, có nghĩa là bắt những người đẹp (giai nhân) ở đây. Câu này ý nói là ước gì có những phương tiện tốt đẹp, thanh lịch … để đón rước em (người đẹp)
    16- Quỳnh Tương là nước ngọc quỳnh, chỉ về rượu quý.
    17- Khách tri âm đã tới sân hòe, (17)
    Khách tri âm: Bá Nha là người chơi đàn giỏi lừng danh và có Chung Tử Kỳ là người bạn thân thiết. Tử Kỳ chỉ nghe tiếng đàn của Bá Nha đánh là có thể hiểu rõ được lòng bạn đang nghĩ gì. Sau khi Tử Kỳ chết, Bá Nha đã đập bể cây đàn và từ đó thôi không chơi đàn nữa, vì không còn người hiểu được tiếng đán của mình nữa.
    Sân hòe: Ở trước sân của dinh Tam Tòa, nơi Tam Công, ba vị quan lớn nhất, làm việc, người ta trồng ba cây hòe để tượng trưng cho sự cao sang, quyền thế và lâu bền. Cây hòe sống rất lâu, hoa rất đẹp và nhiều.
    Chiếu phượng: Chiếu đẹp, có in hình con phượng. 18- Kỳ ngộ: gặp nhau một cách kỳ lạ. 19- Trai bạn: người trai tráng giúp việc. 20- Rào: Chỗ thuyền đậu nhiều để đánh cá, tiếng dân chài dùng. 21- Vàng mười: vàng nguyên chất, mười tuổi, không pha chút nào. (hơn cả vàng 9999). Lục Tào là sáu cơ quan quyền lực của triều đình tức Lục Bộ: Bộ Lại (Nội Vụ), Bộ Hộ (Đinh Điền), Bộ Hình (Tư Pháp), Bộ Công (Công Chánh), Bộ Binh (Quốc Phòng) và Bộ Lễ (Giáo Dực, Ngoại Giao). Tước: chức tước do trên ban cho cùng với quyền lợi. 22- Thành công chi mỹ là thành công tốt đẹp. 23- Kim trọng (truyện Kiều). 24- Viễn phương: nơi xa. 25- Cam lòng là bằng lòng. Thục nữ là người con gái gia giáo, đàng hoàng.

    Tục ngữ - Phong dao
    I. Gia đình & Sinh sống

    Tiếp theo đây là phần Tục ngữ - Phong dao trong quyển 3 Lòng Son. Mở đầu từ trang 13 trở đi :

    Tiếp theo từ trang 13:
    GIA ĐÌNH & SINH HOẠT

    Muốn ăn bông súng, mắm kho,
    Thì vào Đồng Tháp ăn cho đã thèm.

    Em là con gái nhà Diêm, (27)
    Đến tháng lãnh tiền được bốn đồng hai.
    Một đồng thì để cho trai,
    Hai đồng đưa mẹ, đồng hai ăn quà.

    Ta về ta rủ bạn ta,
    Nuôi lợn chăn gà, cày cấy ta ăn.
    Ta về ta rủ bạn ta,
    Ruộng ta ta cấy, vườn ta ta trồng.
    Có làm thì hẳn có trông,
    Can chi chầu chực, hòng mong của người.
    Lên non hái lá, chằm tơi, (áo tơi lá đi mưa)
    Buôn bán kiếm lời, trả nợ đánh boong.

    Tháng Năm gặt hái đã xong,
    Nhờ trời mỗi mẫu mười nong tóc đầy.
    Mười nong thóc đầy, em xay em giã,
    Trấu ủ phân, cám bã nuôi heo.
    Sang năm lúa tốt tiền nhiều,
    Em lo đóng thuế, đóng sưu cho chồng. (28)

    Nhác trông sao Đẩu về Đông, (29)
    Chị em ra sức cấy xong ruộng này
    Tay chân dù nặng bùn lầy,
    Hãy trồng cây ngọc, có ngày đơm hoa.

    Vườn rộng trồng đủ thứ hoa,
    Hoa Đào, hoa Lý, hoa Trà, hoa Mai.
    Nhất thơm hoa Huệ, hoa Lài,
    Hoa Lan, hoa Cúc, ai người chẳng ưa.
    Cảnh vườn vui vẻ thơm tho,
    Mình làm mình hưởng, trời cho riêng mình.

    Gió đưa ngọn cỏ rung rinh,
    Cô kia cấy lúa một mình bên song.
    Sao không rủ bạn đi cùng,
    Vui làm có bạn, ấm lòng cô ơi.

    Lạy trời mưa gió hợp thời,
    Để cho chiêm tốt, mùa tươi, em mừng.
    Ngô khoai chẳng được thì đừng,
    Có nếp có tẻ, trông chừng có ăn.

    Ruộng nương là của đồng lần,
    Trời đất xoay vần, kẻ trước người sau.
    Chưa ai ba họ cùng giầu,
    Chưa ai nghèo khó tới đâu ba đời. (30)

    Sống trên đời cùng nhau cày cấy,
    Chết buông tay, dẫu mấy cũng không,
    Hỡi ai độc dạ tham lòng,
    Bớt đi, để lại tiếng trong với đời.

    Họ giầu, họ nấu đầy nồi,
    Phận tôi nghèo khó, ăn rồi nấu thêm.
    Họ giầu, họ ngủ bằng đêm,
    Phận tôi nghèo khó, ngủ thêm ban ngày.
    Họ giầu, chân dép chân giầy,
    Phận tôi nghèo khó, cùi đày mặc tôi.
    Không mắc gì ai, trừng ngược hay xuôi, (31)
    Khó ăn của khó, giầu nuôi bữa nào.

    Nhà anh có ruộng năm sào,
    Một bờ ở giữa, làm sao cho liền.
    Muốn liền thì phá bờ đi,
    Mạ non cấy xuống, làm chi chẳng liền. (32)

    Năm nay kinh tế không tiền,
    Khăn bàn lông em đội đỡ, chịu phiền đôi năm.

    Việc làng anh chớ có ham,
    Chạy lo vài chục, để họ làm sướng hơn.
    Anh ở nhà gìn giữ giang sơn,
    Uống nước chè Liên Tử, khảy đờn Bá nha. (33)

    Nào nghề gia chánh những là,
    Đến khi kỵ lạp trong nhà càng hay. (34)
    Bán buôn canh cửi kia này,
    Sinh nhai phải giữ trong tay một nghề.
    Bây giờ chẳng liệu thì quê,
    Mai sau cùng túng, có nghề làm ăn.
    Chọn nghề hợp với khả năng,
    Là thành tinh xảo, tiền trăm bạc ngàn.

    Cuối Thu, trồng cải trồng cần,
    Ăn trong sáu tháng, hết Xuân thì tàn,
    Bấy giờ rau muống đã lan,
    Làm ăn cho đến Thu tàn thì thôi.
    Mùa này thức mấy lần hồi, (35)
    Là trời đổ của cho người ta ăn.

    Chú thích:
    27- Diêm: nhà máy làm diêm quẹt Đáp Cầu, Bắc Ninh. 28- Sưu: tiền thuế đánh vào từng đầu người đàn ông. 29- Đuôi sao Bắc Đẩu quay về hướng Đông, mới chập tối. 30- Ba họ: họ cha, họ mẹ, họ vợ. Ba đời: đời ông đời cha, đời con. 31- Trừng (ngược hay xuôi): cử động của mắt. 32- Ý nói về kết hợp duyên tình.
    33- Chè Liên Tử: chè ướp sen, ngon có tiếng. Theo tiếng Hán, “Liên Tử” là hạt sen.
    34- Gia chánh là cách tổ chức xếp đặt cuộc sống trong nhà. Sau này được hiểu riêng là việc nấu ăn, may vá của phụ nữ. Kỵ là thứ 7 sau ngày chết, ta gọi là “tuần thất”. Chữ “kỵ” cũng còn có nghĩa là kiêng cữ. Lạp là ngày thứ 7 sau ngày sinh, nguyên nghĩa là tuổi thọ của người tu hành. Ngày kỵ là ngày kiêng cữ, là ngày đau buồn, cấm mọi sự vui chơi ồn ào. Về sau ta gọi ngày giỗ (ngày chết) là ngày “kỵ”. Ý cả câu nói: người phụ nữ cần biết nghề gia chánh để khi trong nhà có đám cúng giỗ làm lấy cho hay.
    35- Lần hồi: theo lúc này lúc khác.

    Đồng dao – Lý ca

    Tiếp theo đây là trích phần Đồng dao – Lý ca trong TNCD quyển 11 – Dãi bày II

    ĐỒNG DAO – LÝ CA(Lý ngữ)
    Từ trang 179 trở đi:

    Sớm mai tôi lên trên núi,
    Tôi xách cái rựa còng queo.
    Bắt được con công,
    Đêm về cho ông,
    Ông cho trái thị,
    Đem về cho chị,
    Chị cho cá rô.
    Đem về cho cô,
    Cô cho bánh ú,
    Đem về cho chú,
    Chú cho buồng cau,
    Chú thím rầy lộn nhau,
    Thôi, tôi trả buồng cau cho chú,
    Trả bánh ú cho cô,
    Trả cá rô cho chị,
    Trả quả thị cho ông,
    Tôi xách con công về rừng.

    … Bậu lỡ thời như chiếu trải qua,
    Chiếu trải qua người ta còn cuốn,
    Bậu lỡ thời như rượu uống say,
    Rượu uống say người ta còn sặc,
    Bậu lỡ thời như giặc Hà Tiên.
    Giặc Hà Tiên người ta còn đánh,
    Bậu lỡ thời như cánh chim bay.
    Cánh chim bay người ta còn quạt,
    Bậu lỡ thời như lạt gói nem.
    Lạt gói nem người ta còn sợ,
    Bậu lỡ thời như nợ kéo lôi,
    Nợ kéo lôi người ta còn trả,
    Bậu lỡ thời như trã nấu ăn,
    Trã nấu ăn người ta còn rửa,
    Bậu lỡ thời như lửa cháy lan,
    Lửa cháy lan người ta còn tưới,
    Bậu lỡ thời như lưới dầm mưa,
    Lưới dầm mưa người ta còn vá,
    Bậu lỡ thời như áo rách vai,
    Áo rách vai ngưới ta còn chuộng,
    Bậu lỡ thời như ruộng bỏ hoang,
    Ruộng bỏ hoang người ta còn cấy,
    Bậu lỡ thời như giấy trôi sông,
    Giấy trôi sông người ta còn vớt,
    Bậu lỡ thời như ớt chín cây,
    Ớt chín cây người ta còn hái,
    Bậu lỡ thời như nhái lột da,
    Nhái lột da người ta còn xáo,
    Bậu lỡ thời như áo cở ra,
    Áo cở ra người ta còn mặc …

    Cha mẹ sáo đẻ sáo ra,
    Có trồng một đám khổ qua.
    Biều sáo ở nhà sáo giữ,
    Sáo bỏ vô nhà, sáo làm quân tử.
    Ở ngoài quạ qua ăn hết,
    Cha mẹ đánh chết, chị em chẳng thương.
    Sáo bỏ về quê hương,
    Sáo ăn cùng là trái dác, cùng là trái da.
    Người ta bắt đặng, vặn cổ nhổ lông,
    Lạy ông lạy cha, tôi là con sáo.

    Hay kiện hay cáo,
    Là con bồ câu,
    Lót ổ cho sâu,
    Là con chop mào,
    Làm tổ trên cao,
    Là con cà cưỡng.
    Chân đi lững thững,
    Giống tướng cò ma,
    Nó chẳng dám ra,
    Là con mỏ nhác.
    Vùi đầu xuống cát,
    Là con manh manh.
    Quần rách áo rách,
    Là con sa sả.
    Trong rừng rỉ rả,
    Là con cu ó.
    Ưa ăn thịt chó,
    Là con kên kên.
    Hay túc hay rên,
    Là con chim ụt …

    Vác mai mà đào,
    Là hoa bông giếng,
    Hay bay hay liệng,
    Là hoa chim chim.
    Xuống nước mà chìm,
    Là hoa bông đá.
    Làm bạn với cá,
    Là hoa san hô.
    Khi Hán khi Hồ,
    Là hoa bông khách.
    Đi đụng phải vách,
    Là hoa mù u.
    Cạo đầu đi tu,
    Là hoa bông bụt.
    Khói bay nghi ngút,
    Là hoa hoắc hương.

    Nước chảy dầm đường,
    Là hoa mần tưới.
    Đi ăn đám cưới,
    Là hoa bông dâu.
    Thích tắm ao sâu,
    Là hoa muống biển.
    Hay thưa hay kiện,
    Là hoa mít nài.
    Trèo cao có tài,
    Là hoa cứt chuột.
    Cây suông đâm đuột,
    Là hoa cứt dê.

    Dân ca Miền Bắc

    (Giao duyên, Đối đáp, Ru em, Đò đưa, Huê tình, Quan họ, Hát đúm, Trống quân, Cò lả, Xẩm xoang, Nhà trò, Chèo thuyền, Kéo gỗ, Chầu văn, Sa mạc, Bồng mạc, Hành vân, Lưu thủy, Bình bán, Hát vè …)

    Tiếp theo đây là trích phần Dân ca Miền Bắc trong TNCD quyển 2 – Lời Hay - từ trang 239 trở đi:

    Đố ai quét sạch lá rừng,
    Để ta khuyên gió, gió đừng rung cây.
    Đố ai biết lúa mấy cây,
    Biết sông mấy khúc, biết mây mấy từng.

    Đố ai lấp ngã ba chanh, (Bắc Ninh, Bắc Giang)
    Đố ai gánh đá xây thành Cổ Loa.
    Đố ai đốt cháy ao bèo,
    Để anh gánh đá Đông Triều về ngâm. (Quảng Yên)

    Đố ai chừa được rượu tăm,
    Không chơi cờ bạc, không nằm ngủ trưa.
    Đố ai ngồi võng không đưa,
    Ru con không hát, anh chừa rượu tăm.

    Đố ai chừa được rượu tăm,
    Không chơi cờ bạc, không nằm chung hơi.
    Có anh chừa được mà thôi,
    Chừa rượu chừa bạc, chung hơi chẳng chừa.

    Đố ai ngồi võng không đưa,
    Ru con không hát u ơ đôi lời.
    Đố ai đội đá vá trời,
    Đan gầu tát bể, ghẹo người cung trăng.

    Đố ai cười chẳng hở răng,
    Biết trời mấy tuổi, biết trăng mấy già.
    Trăng bao nhiêu tuổi trăng già,
    Núi bao nhiêu tuổi gọi là núi non.

    Đố ai biết đá mấy hòn,
    Tua rua mấy chiếc, trăng tròn mấy đêm.
    Đố ai tát biển Đông Khê,
    Tát lạch Bồ Đề, tát phá Tam Giang. (2)

    Hỡi anh đi đường cái quan,
    Dừng chân đứng lại em than đôi lời.
    Đi đâu vội mấy anh ơi,
    Cái quần cái áo như người nhà ta.
    Cái ô em để trong nhà,
    Để em mở khóa đưa ra cho chàng.

    Trống quân, trống quít, trống còi,
    Em bao nhiêu tuổi em đòi lấy Tây.
    Lấy Tây chẳng được mấy ngày,
    Nó về nước nó, em nay không chồng.

    Bồng bống bong,
    Màn Đổng Tử, gối Ôn Công, (3)
    Lớn lên em phải ra công học hành.
    Làm trai gắng lấy chữ danh,
    Thi thư nếp cũ, trâm anh dấu nhà. (4)
    Hỡi ha ha,
    Chị nay chút phận đàn bà,
    Tam tòng tứ đức, phận là nữ nhi. (5)
    Mong em khôn lớn kịp thì,
    Năm xe lầu thuộc, sáu nghề tinh thông.
    Bồng bống bong,
    Anh tài ra sức vẫy vùng,
    Nữ nhi lại cũng bạn cùng bút nghiên.
    Cõi đời là cuộc đua chen,
    Anh hùng cũng thế, thuyền quyên cũng là.

    Đêm khuya trăng lạnh sương mù,
    Canh tàn rượiu tỉnh, như lúc bấy giờ em thấy thương thân.
    Em tiếc thay trong giá trắng ngần,
    Nỡ gieo vào đám phong trần mà chơi.
    Chốn hang sâu lẩn quất chim trời.
    Non xanh nước biếc để ai người biết cho.
    Con chim khôn đã mắc phải cái bẫy rò,
    Vui chi cái kiếp giang hồ, hỡi chị em ơi !
    Tính đốt tay quá nửa xuân rồi,
    Đầu xanh mấy nổi da đồi mồi tóc sương.
    Kiếp hồng nhan nghĩ đến mà thương.
    Tài tình chi lắm dễ mang nợ đời.
    Trông non sông mà thẹn với trời,
    Khi vui em vui gượng, khi cười em cười suông.
    Ruột con tằm trăm mối tơ vương,
    Bên trời góc bể, biết gởi can trường vào đâu ?
    Ai về nhắn ả mạc sầu … (8)
    Cô thương nhớ ai ngơ ngẩn đầu cầu,
    Lược thưa biếng chải, gương Tàu biếng soi.
    Sập đá hoa để vắng không ai ngồi,
    Buồng hương bỏ vắng cho người quay tơ.
    Cô thương nhớ ai ra ngẩn vào ngơ,
    Đêm quên giấc ngủ, ngày mơ trận cười.
    Đêm năm canh ngày sáu khắc chàng ơi,
    Chàng cười nửa miệng, thiếp tôi vui nửa lòng.
    Lòng chàng có thấu cho không ?
    Mặc áo the thâm đứng tựa cột đình,
    Xướng rằng: “Củ soát tê vật”. (9)
    Hà anh ơi ! Bước chân xuống thuyền,
    Chàng dậm thuyền nó chẳng có đi,
    Dậm ra ván nát, chiếc thuyền thì đong đưa.

    Chú thích: 2- Lạch Bồ Đề là khúc sông Hồng, gần Hà Nội. Phá Tam Giang thuộc Thừa Thiên.
    3- Màn Đồng Tử, gối Ôn Công: Người họ Đổng chăm học, đêm khuya còn thắp đèn để trong màn rồi nằm đọc sách cho muỗi khỏi đốt, lâu dần màn ấy bị ám khói đen, cũng có nghĩa là buông màn che ngồi bên trong mà học.
    Người họ Ôn chăm học, thường nằm suốt ngày mà đọc sách tới thâu đêm. Để cho khỏi ngủ quên, ông đã gối đầu bằng một cái gối tròn bằng gỗ để nếu ngủ quên, gối ấy sẽ lăn tròn; như thế đầu ông rớt xuống sẽ làm ông tỉnh dậy và tiếp tục học.
    4- Thi thư nếp cũ, trâm anh dấu nhà: Thi thư là việc đọc sách, tức kinh Thi và kinh Thư, xưa nay vẫn là nề nếp của gia đình. Trâm là cái kim lớn cài đầu của người con gái. Anh là cái giải mũ của người con trai. Cả hai chỉ về cách ăn mặc đàng hoàng của con nhà quyền quý, đó là là dấu tích cổ xưa của nhà ta.
    5- Tam tòng tứ đức, phận là nữ nhi : Tam tòng là ba đường phải theo: bé theo cha, lớn theo chồng, chồng chết theo con. Tứ đức là bốn nết tốt: công tức công việc trong nhà, dung tức dáng điệu, diện mạo, ngôn tức lời nói cười đùa, hạnh tức nết na ngoan hiền.
    6- Năm xe là Ngũ kinh, mỗi kinh có chữ nghĩa chất đầy cả một xe. Sáu nghề là Lục nghệ gồm Lễ, Nhạc, Xạ (bắn cung), Ngự (cỡi ngựa), Thư (viết chữ) và Số (toán pháp).
    7- Can trường: gan và ruột. 8- Mạc sầu: mặt đẹp, lòng sầu. 9- Củ soát tê vật: soát lại các lễ vật.

    Dân ca Miền Nam – Nam Trung

    (Đưa em, Hò Lý, Chèo ghe, Cắt lúa Đối đáp …)

    Tiếp theo đây là trích phần Dân ca Miền Nam, Nam Trung trong TNCD quyển 2 – Lời Hay - từ trang 268 trở đi:

    Đưa em, Hò Lý, Chèo ghe, Cắt lúa Đối đáp …

    Con rắn không chân, nó đi năm rừng bảy rú,
    Chớ con gà không vú, nó nuôi chín mười con.
    Phải chi nhan sắc em còn,
    Anh cũng xin vô làm rể, cúi lòn mẹ cha.

    Năm ngoái em còn e ngại,
    Năm nay em kêu đại bằng mình.
    Nhác trông bóng dáng đẹp xinh,
    Áo bà ba nút ốc của bạn chung tình, ai may ?

    Gặp mình may thật quá may,
    Trông cho trời tối bắt tay đặng về,
    Ngãi nhân nay đã giao kề,
    Còn lo một nỗi nặng nề công lao.
    Chữ bằng : Bằng hữu chi giao,
    Tui đây mình đấy, biết làm sao hở mình.

    Căn duyên lỡ dở không thành,
    Tại mai tai mối, tại mình tại tôi.

    Một chàng hai thiếp, chắc mình đây xử hiếp tôi rồi,
    Tối về phòng ai nấy ngủ, gạo cứ hai nồi nấu riêng.

    Biết rằng duyên chẳng hợp duyên,
    Thôi thôi bớ bạn, chớ có lụy phiền mà hư.

    Con cá Lý ngư, nó sầu tư biếng lội, (cá chép)
    Chớ con chim trên cành, lại sầu cội biếng ăn.
    Chỉ vì một tiếng anh than,
    Em đây muốn bỏ giang san theo chàng.

    Dầu ai gieo tiếng ngọc, dầu ai đọc lời vàng,
    Trớ trêu khúc nhạc “Cầu Hoàng”. (6)
    Lòng em bền chắc, không như nàng Văn Quân.

    Dầu cho biển cách sông ngăn,
    Non che núi khuất, anh cũng lần anh sang.

    Bướm bay thường, sao bướm không đậu vườn hồng,
    Anh đi thường, sao anh không ghé để em đêm trông ngày chờ.

    Bình tích thủy chờ bông hoa lý,
    Chén chung vàng đựng nhụy hoa ngâu.
    Trách ai làm trai “hữu nhãn vô châu” (7)
    Chim xanh không bắn, lại bắn con chim sâu đậu nhánh tùng.
    Em có chồng hồi còn nhỏ, như con thỏ mắc vòng.
    Về làm dâu, cha mẹ chồng dằn mâm đập chén, anh có đau lòng hay không ?

    Con cá đối nằm trong cối đá,
    Chim đa đa đậu nhánh cây đa,
    Chồng gằn không lấy, đi lấy chồng xa,
    Một mai cha yếu mẹ già,
    Chén cơm ai đỡ, bộ kỷ trà ai bưng.

    Bông xa bồn, bồn khô bông héo,
    Lựu xa đào, lựu xéo đào nghiêng.
    Vàng trên tay rơi mất không phiền,
    Buồn vì một nỗi nợ duyên chưa rồi.

    Nét mực thẳng hay đau lòng gỗ, (8)
    Lời nói ngay, trái lỗ tai người.
    Qua tiếc em khôn khéo vẹn mười,
    Nỡ không soi xét, để rời duyên nhau.

    Bậu nói với qua, bậu không hái mận bẻ đào,
    Chớ mận đâu mà bậu bọc, còn đào nào bậu cầm trên tay.

    Kể từ đây đấy chia tay,
    Chàng còn vui vẻ như ngày xưa kia.

    Dẫu mà trời đất phân chia,
    Đôi ta như khóa với chìa đừng rơi.
    Xa mình thở chẳng ra hơi,
    Chồng Nam vợ Bắc, trời ơi là trời.
    Đưa tay phân chứng với trời,
    Người này gá nghĩa ở đời với tôi.
    Nước ròng sông cái chảy xuôi,
    Trời đà xây định: mình với tôi vợ chồng.

    Sớm mai trời lất phất, chiều lại trở bấc em khóc ròng
    Lỡ duyên em chịu lỡ, cũng đóng cửa phòng chờ anh.
    Căn duyên nay đã gần thành,
    Nếu có xa nhau tại bậu, chớ tình anh là không lìa.

    Con cá rô đớp bóng, dợn sóng dưới đìa
    Tại ba với má vặn khóa bẻ chìa.
    Chìa hư khóa liệt.
    Đôi ta cách biệt năm bảy tháng trường.
    Cơm ăn không đặng, ăn ròng cỏ tương tư.

    Cá bống đi tu,
    Cá thu nó khóc, cá lóc nó rầu.
    Phải chi anh có phép mấu,
    Hóa ra con cá trắng lội hầu bên em.

    Con cá tróc vi, hiềm vì nước chảy,
    Cần câu gẫy vì bụi gốc vướng cong.
    Bởi vì mai mối không xong,
    Nên căn duyên đôi ta trắc trở, chớ tấm lòng thực khó quên.

    Chú thích:
    6- “Cầu Hoàng”: Đời nhà Hán, Tư Mã Tương Như là một nhạc sĩ có tài, say mê nàng Trác Văn Quân. Tương Như thuê nhà ở cạnh nhà nàng và thường ngày chơi bản đàn “Phượng cầu kỳ Hoàng” tức là con chim Phượng (con trống) cầu mong con Hoàng (con mái) để ve vãn nàng. Sau dần nàng Văn Quân cũng mê khúc đàn ấy, rồi hai người lấy nhau.
    7- Có mắt không ngươi. 8- Vạch một đường mực lên gỗ để cưa cho thẳng.

    Tục ngữ - Phong dao

    Duyên tình – Bạn hữu

    Tiếp theo đây là trích phần Phong dao – Duyên tình & Bằng hữu trong TNCD quyển 3 – Lòng Son - từ trang 40 trở đi:

    Duyên tình – Bạn hữu

    Em đang dệt chiếu “hồi văn” (9)
    Nghe anh có vợ, em quăng con chuồi.

    Mấy người con mắt ốc nhồi,
    Có tài đánh vợ, đập nồi đập niêu.

    Sông sâu ngựa lội ngập kiều, (10)
    Dù anh có phụ, còn nhiều người thương.

    Buồn buồn, nhớ nhớ, thương thương,
    Nhớ người áo trắng đi đường cái quan.

    Chiều chiều ra đứng cổng làng,
    Nghe tiếng trống tràng, em chạy đón anh.

    Chừng nào muối ngọt, chanh thanh,
    Sương sa gió lạnh, chạnh lòng nhớ anh.

    Giả đò buôn hẹ bán hành,
    Ra vô chợ Cống, thăm anh đỡ buồn.

    Ra về không lẽ về luôn,
    Để khăn xéo lại, lệ tuôn em chùi.
    Sầu ai, mặt nọ không vui,
    Hay sầu duyên nợ, nói tui sầu dùm.

    Vách thành cao lắm khó dòm,
    Nhớ anh em khóc đỏ lòm con ngươi.

    Trước đường xe ngựa bời bời,
    Bụi hồng mờ mịt, ai người mắt xanh.

    Trời cao, kinh đỏ, đất xanh,
    Điả bu muỗi cắn, làm anh nhớ nàng.
    Ước gì sông hẹp một gang,
    Bắc cầu giải yếm cho chàng sang chơi.
    Ước gì anh hóa ra giơi,
    Bay đi bay lại tới nơi em nằm.

    Ước gì anh hóa ra dưa,
    Để em đem rửa nước mưa chậu đồng.
    Ước gì em hóa ra hồng,
    Để cho anh bế anh bồng trên tay.

    Thương em thuở áo mới may,
    Bây giờ áo rách thay tay vá quàng.

    Ba bốn nơi đến hỏi, chẳng màng,
    Chờ cho anh chết vợ, sẵn sàng quy mô. (11)

    Chiều chiều mượn ngựa ông Đô,
    Mượn ba chú lính đưa cô tôi về.
    Cô về thăm quán thăm quê,
    Thăm cha cha thăm mẹ, chớ hề thăm ai.

    Đôi ta lấm tấm hoa lài,
    Chồng đây vợ đấy, kém ai trên đời.
    Muốn cho gần chợ ta chơi,
    Gần sông tắm mát, gần nơi đi về.

    Đi đâu mà chả thấy về,
    Hay là quần tía ngồi kề áo nâu.
    Đi đâu mà chả thấy về,
    Hay là ăn cận nằm kề với ai.

    Qua truông, anh đạp lấy gai,
    Anh ngồi anh lể, trách ai không chờ.

    Đèn ai leo lắt bên bờ,
    Tưởng đèn người nghĩa, ai ngờ đèn ma.

    Thày mẹ ra đi, dặn em ở nhà,
    Đừng đi ra biển mà hà ăn chin. (chân)
    Ăn chin thì mặc ăn chin,
    Em đi ra biển để cho ghin mẹ thày )12)

    Gió đưa tờ giấy lên mây,
    Gió đưa cố Tú vào đây ăn trầu.

    Qua cầu ngả nón thăm cầu,
    Cầu bao nhiêu nhịp, da sầu bấy nhiêu.

    Chiều chiều chim vịt kêu chiều,
    Bâng khuâng nhớ bậu, chín chiều ruột đau. (13)

    Thương nhau cởi áo cho nhau,
    Về nhà dối mẹ, qua cầu gió bay. (14)
    Con này ăn nói sao hay,
    Qua cầu mặc áo, gió bay đằng nào.
    Gió bay cầu thấp, cầu cao,
    Gió bay cầu nào, con chỉ mẹ coi.

    Trời làm chi cực, hỡi trời,
    Vì đâu xa cách cho người cô đơn.

    Anh còn son, em vẫn còn son,
    Ước gì ta được làm con một nhà.

    Chim ham trái chín, ăn xa,
    Buồn tình lại nhớ cây đa, tìm về.

    Ra về răng rứt mà về,
    Bỏ non bỏ nước, bỏ lời thề cho ai.

    Cha mẹ em không có con trai,
    Kiếm nơi rể thảo, một mai phụng thờ.
    Không con trai thì có cháu trai,
    Phận anh làm rể, đứng ngoài ngó vô

    Ruộng ai thì nấy đắp bờ ,
    Duyên ai nấy chọn, đừng chờ uổng công.

    Gái chê chồng đến Bông trở lại,
    Trai chê vợ đến Ngãi trở về. (15)

    Xa xôi còn gửi thư về,
    Huống chi đây đó, chớ hề ghé thăm.

    Thấy em nhỏ thó lại có duyên ngầm,
    Anh phải lòng thầm hơn mấy năm nay.
    Trên trời có chín tầng mây,
    Anh còn leo được huống duyên may cô mình.

    Ai đi bờ đập một mình,
    Phất phơ chéo áo giống hình lang quân. (16)

    Nước trong, ai chả rửa chân,
    Cái má trắng ngần, ai chả muốn hôn.
    Sông hồ một dẫy cỏn con,
    Gặp cơn sóng gió chớ non tay chèo.
    Yêu nhau sinh tử cũng liều,
    Thương nhau lội suối qua đèo có nhau.

    Cầu Mông bước tới cầu Châu,
    Bước sang cầu Sỹ, gặp nhau cầu Dừa. (17)
    Em ơi, em có chồng chưa,
    Song còn có rạch, lọ là người ru.

    Nước chảy hòn đá lăn cù,
    Con chị có mất thì bù con em.

    Chú thích:
    9- Hồi văn: Chiếu dệt có nhiều hoa văn. Theo tích: dệt một bản “hồi văn” trên gấm, dâng lên vua để minh oan cho chồng.) 10- Tấm vải che dưới yên ngựa. 11- Thước và khuôn, ý nói xây dựng. 12- Ghin là gan. 13- Đo chữ: “cửu hồi trường” là ruột chín khúc, chỉ về trong lòng lo nghĩ. (như trong câu: Ruột tằm chí khúc tơ vò …) 14- “Về nhà dối mẹ …” còn viết hay hát là “Về nhà mẹ hỏi …” 15- Thuộc Hải Dương: Làng Bông gần biển, rất nghèo. Làng Ngãi (Thiên Ngãi) giáp rừng, dân thưa và nghèo. 16- Lang quân: tiếng vợ gọi chồng. 17- Thuộc Hà Nam


    Tục ngữ - Phong dao – Bài Vè.

    Tiếp theo đây là trích phần Bài Vè trong TNCD quyển 3 – Lòng son từ trang 297 trở đi:

    Bài Vè
    Bài ba

    Trời làm sông lở cát bay,
    Cho tớ bỏ thày, cho mẹ bỏ con.
    Cửa nhà trôi mất chẳng còn,
    Vợ chồng bận bịu, cõng con lên chùa.
    Năm nay nạn nước, ơn vua,
    Quan trên phát chẩn ở chùa Tây phương. (21)
    Trời làm một trận lỡ đường,
    Cho nên mới biết Tây phương thế này.
    Trời làm sông lở, cát bay,
    Quan trên phát chẩn, mỗi ngày hai ca.
    Đàn ông cho chí đàn bà,
    Rạng ngày hăm tám đi ra mà về.
    Quan Tuần, quan Án ngối nghỉ cũng ghê,
    Thuê ngay hai chiếc thuyền về đình trung.
    Giàu cùng, khó lại chẳng cùng, (22)
    Ai ơi, còn cậy anh hùng làm chi.
    Sinh ra nước lụt làm gì,
    Giàu thì bàn ruộng, khó thì bán con.
    Đồ đạc bán hết chẳng còn,
    Nghèo thì bán cả nồi đất lẫn lon đựng cà.
    Có bán thì bán cửa nhà,
    Nghèo bán đứa bé, lấy ba bảy hào.
    Em ngồi, em nghĩ xôn xao,
    Kẻ lên Tứ Mỹ, nguời vào Sơn Đông. (23)
    Kỳ này thì vợ bỏ chồng,
    Chồng lại bỏ vợ, kẻ Đông người Đoài.
    Người thì buôn sắn, kẻ lại buôn khoai,
    Người thì buôn mía, rông rài quàng xiên.
    Gạo hơn, nhưng chẳng có tiền,
    Cho nên phải xách tổ tiên đi cầm.
    Nghèo thì bán bát, bán mâm,
    Giầu thì đi cố đi cầm ruộng nương.
    Có thì bán sập, bán giường,
    Đói quá bán cả giá hương long bài, (24)
    Nhà giàu tính lúa lên hai, (25)
    Để cho nhà khó đến nài, không cho.
    Đến khi lúa tốt được mùa,
    Ruộng cạn ruộng úa, có nhờ nhau không.
    Trời làm một cụm thâm Đông, (26)
    Gặp cơn gió bấc, sạch không làu làu.
    Ai ngờ ngã bỡn mà đau,
    Tháng mười nước lại ở đâu mới về …

    Bài bốn.

    Từ khi Tự Đức lên ngôi,
    Vỡ đường Thiệu Trị, vỡ đôi năm liền. (27)
    Mong cho thiên hạ bình yên,
    Trong làng lại có chiếc thuyền đi qua.
    Vỡ từ cửa ô Yên Hoa,
    Nhật Tân, Quảng, Bá vỡ ra Tây hồ.
    Thụy Phương trôi mất mả mồ,
    Kẻ Vòng, Kẻ Gối, Kẻ Đăm,
    Nước vào đến vách, biết nằm nơi nao.
    Trời làm cả Huyện lao đao, (28)
    Ăn đói nhịn khát, những đau ruột rà.
    Mong cho nước xuống, nước ra,
    Để mà đi lại gần xa trong đồng.
    Để mà tính chuyện canh nông,
    Mắt nhìn giòng nước mênh mông, mong hoài.
    Thòm thòm, trống điểm canh hai,
    Nửa đêm gà gáy, mười hai tháng thừa … (29)

    Bài năm

    Tuổi Tý là con chuột nhà,
    Bắt vịt bắt gà, xoi ngách đào hang.
    Tuổi Sửu, con trâu kềnh càng,
    Cày chưa đúng buổi, lại mang cày về.
    Tuổi Dần, ông cọp gớm ghê,
    Bắt người móc họng, tha về non cao.
    Tuổi Mẹo là con mèo ngao,
    Hay cấu hay cào, ăn vụng quá tinh.
    Tuổi Thìn, rồng ở mây xanh,
    Làm mưa làm gió, ẩn mình trong mây.
    Tuổi Tỵ rắn ở ngọn cây,
    Nằm khoanh trong bộng, có hay việc gì.
    Tuổi Ngọ, ngựa ô đen sì,
    Ỷ mình cứng vó, ngại gì đường xa.
    Tuổi Mùi là con dê chà,
    Có sừng có gạc, râu ra um tùm.
    Tuổi Thân, con khỉ ở lùm,
    Trèo qua nhảy lại, lăn ùm xuống sông.
    Tuổi Dậu, con gà vàng lông,
    Có mỏ có mồng, sớm gáy o o.
    Tuổi Tuất là con chó cò,
    Năm khoanh trong lò, lỗ mũi lọ lem.
    Tuổi Hợi, con heo ăn hèm, (bã rượu)
    Ăn dơ ăn dáy, thân lem lấm bùn.

    Chú thích:
    21- Thuộc Sơn Tây. 22- Khi khó cũng không giữ được tư cách đến cùng. 23- Thuộc Hưng Hóa. 24- Vật dụng để thờ ông bà. 25- Giá lên gấp hai lần. 26- Mây đen thành cụm ở hướng Đông. 27- Vỡ đê Hà Nội. 28- Huyện Thọ Xương ngoại Hà Nội. 29- Thêm tháng nhuận.

    Bài sáu

    Giếng sâu lấp lại khó đầy,
    Dẫu thương cho mấy, hồi này cũng xa.
    Đêm Đông mờ mịt sương sa,
    Tay choàng cổ bậu, khóc òa như mưa.


    Trích Phần hai: Một số thành ngữ ba tiếng của cuốn “Tâm Hồn Mẹ Việt Nam (Tục ngữ Ca dao) quyển mười hai (12) Dãi Bày III.

    Từ trang 258 trở đi:

    Chuyện lôm côm, (chẳng ra gì)
    Đông như tiết,
    Nghe con nít (nghe dại)
    Chết nhăn răng (như chó chết)

    Tre khóc măng (con chết non)
    Nhăn như bị,
    Làm bỉ sỉ (làm cho xấu hổ)
    Đĩ chê tiền, (rất khó có)

    Làm vẽ viên, (làm dễ coi)
    Tiền nóc nước, (23)
    Kéo rào ngược, (làm việc khó)
    Cuộc đỏ đen (cờ bạc)

    Sở dĩ nhiên (sự cớ như vậy)
    Hiền như Bụt,
    Sâu hun hút,
    Cứt phải mưa.

    Nói cù cưa,
    Mưa như trút,
    Chạy nước rút,
    Mượt như nhung.

    Rụng như sung,
    Thùng không đáy,
    Sởn tóc gáy,
    Nhảy lăng ba, (24)

    Ỉa không ra, (bị kẹt)
    La phớ lỡ, (la lớn)
    Nóng chảy mỡ
    Chó cắn càn,

    Nhiều cơ man, (25)
    Gan kẻ cướp,
    Xác như mướp,
    Cướp cơm chim (26)

    Sợ đứng tim,
    Im phăng phắc,
    Xa lăng lắc,
    Chắc như đe.

    Ngẩn tò te, (27)
    Bè tháng Sáu, (28)
    Nói lau láu,
    Cháo đổ mâm. (29)

    Nín như câm,
    Câm như hến. (30)
    Cùng tắc biến,
    Miệng chôm bôm (lúng búng)

    Nằm chum hum (nằm úp, sấp)
    Chung thì chạ,
    Làm mặt lạ, (làm lơ)
    Má miếng bầu.

    Thẳng mực tàu, (31)
    Đâu hoàn đấy,
    Chối đay đảy, (chối hắt ra)
    Chạy cờ đầu (xổ tóc ra)

    Nói chận đầu,
    Giầu đúng mức,
    Đen như mực,
    Cuộc vuông tròn. (chuyện tình duyên)

    Đánh nhừ tử,
    Khôn có nọc, (32)
    Ngồi choc ngóc,
    Khóc như ri, (33)

    Ở dưới đì, (ở chỗ hèn hạ)
    Đi xích phé (khoan thai)
    Chửa thì đẻ (34)
    Gié chân chèo. (35)

    Nói ngặt nghèo,
    Heo đóng cũi, (heo cỡ lớn)
    Nói chừng đỗi (không nói hết)
    Nói mà dò, (nói ướm thử)

    Chết ngay đơ,
    La cày cạy, (rất lo)
    Đá giò lái, (36)
    Chạy cong đuôi

    Nói đỡ lời, (37)
    Ngồi chồm hổm,
    Nói dín dẩm (nói nhỏ nhẹ)
    Vặn quai chèo. (xoắn lại)

    Nói trèo đèo (nói khó)
    Nghèo cháy túi,
    Tiền dằn túi,
    Nói mè nheo. (38)

    Chú thích:
    23- Tiền chăm sóc cho gà khi đá độ. 24- Nhảy qua nhảy lại. 25- Nhiều cả chiều sâu và chiều rộng.
    26- Cướp cả cái nhỏ nhặt của kẻ thấp hèn. 27- Liên quan tới câu :Chúa Tàu nghe kèn”, ngơ ngác không hiểu gì. 28- Vào mùa nước lớn, bè tre gỗ đi trên sông rất dễ gặp nguy hiểm. 29- Chỉ sự làm ăn không đúng cách nên không đạt được cái gì cả.
    30- Con hến khi bị nấu chín cũng không mở miệng ra. 31- Hộp gỗ có hình cái tàu (thuyền) đựng sợi giây tẩm mực để vạch đường thẳng trên mặt gỗ. 32- Khôn quá, có thể làm hại người khác. 33- Nhiều tiếng khóc nhỏ. Chim ri là loài chim nhỏ đi từng bày, kê lích chích. 34- Đã làm thì sẽ đi tới cùng, tới kết quả.
    35- Đứng chân trước chân sau như người chèo thuyền. 36- Đá móc lên về phía sau, không ai thấy được. Ý nói phản ngầm. 37- Nói dùm cho người khác, sợ họ nói không đúng. 38- Nói dây dưa. Cá mè và cá nheo đều có nhiều nhớt (dây dưa).

    Tục ngữ - Thành ngữ … Thông thường


    Trích phần Tục ngữ, Thành ngữ, Phong dao ... phổ biến, thông dụng trong TNCD quyển 1 – A B C (vì theo thứ tự “an – pha – bê) từ trang 20 trở đi:


    * Anh đồ, ơi hỡi anh đồ,
    Có ăn cơm tấm trộn ngô thì vào.

    Đồ: sách vở, bút tích, giấy tờ, chữ nghĩa.
    Đồ thư quán: nhà chứa sách vở, giấy tờ của triều đình.
    Vương Tư Đồ là ông quan Tư Đồ họ Vương (tức Vương Doãn) cha nuôi Điêu Thuyền, ngang chức Bộ Trưởng Giáo Dục ngày nay. Đời nhà Lê gọi những người đậu loại nhì ở kỳ thi Hương là “Sinh Đồ” (tức Tú Tài thời nhà Nguyễn).
    “Anh Đồ” là người có học cao nhưng chưa thi đậu và ngồi dạy học (như ông Đồ Chiểu, Thày Đồ Nghệ là Thày giáo người Nghệ An). Công danh chưa đạt, chỉ ngồi gõ đầu trẻ kiếm ăn, thu nhập ít nên các anh Đồ thường ăn kham khổ, vậy anh có ăn “cơm tấm trộn với ngô” là món ăn tầm thường thì
    xin mời anh vào …
    Ý nói: Anh là người học rộng tài cao nhưng còn thất thế. Anh có ưng thuận lấy người tầm thường chân chắc (như cơm tấm trộn ngô) là em đây thì xin mời anh vào …

    * Anh gì mà anh, đóng đanh lỗ đít.
    Anh ăn hột mít, anh ỉa không ra.

    Đóng đanh lỗ đít thì phân không ra được, (ý nói chẳng mất đi đâu), ăn mà không muốn ỉa. Mít ở đây còn có nghĩa mít đặc chặt cứng. Người ta ví “ỉa ra cứt kiết”
    Câu này ý nói người keo kiệt. Người chỉ muốn thu vào mà không muốn chi ra, dù là chút của không ra gì …

    * Anh hùng thức anh hùng.

    Anh: phần tốt đẹp, cao quý nhất, hoặc là bông hoa (phần đẹp nhất của cây), chỉ người tài giỏi hơn người.
    Hùng: Giống đực, hoặc loài thú đực (hay con quạ đưc, chỉ về sự dũng cảm. Hùng là con đực, thư là con cái.
    Anh hùng là người trai vừa tài giỏi vừa dũng cảm.
    (Anh thư là người nữ vừa tài giỏi vừa xinh đẹp. Thư là con chim cái, hay loài vật giống cái). Thư hùng là mái và trống (sống). Ta thường nói “một trận thư hùng” là một trận ăn thua quyết liệt, dứt khoát (sống mái). Một cặp gươm cùng đúc với nhau gọi là “cặp thư hùng”.
    Anh hùng thức anh hùng là người anh hùng phài biết ai là người anh hùng, (để đề phòng
    hay tôn trọng lẫn nhau).
    Thí dụ như câu: “Trong tinh thần “anh hùng thức anh hùng” mà Lê Lợi và Nguyễn Trãi mới gặp nhau.

    * Anh hùng đa hoạn nạn.

    Có nghĩa là người anh hùng thường làm những việc khó khăn nguy hiểm (với mục đích tốt) nên thường gặp hoạn nạn.

    * Anh hùng là anh hùng rơm
    Tôi cho tí (mồi) lửa, hết cơn anh hùng.

    Anh hùng rơm: là người miệng nói tài giỏi hơn người, nhưng trong bụng nhút nhát, gặp nguy hiểm gian khổ thì chí khí tiêu tan. Như bó rơm, trông to lớn rềnh rang nhưng đụng vào mồi lửa là tiêu tan luôn.

    * Anh hùng như thể khúc lươn,
    Khi cuộn (gấp) thì ngắn, khi vươn thì dài.

    Khi chưa gặp thời, người anh hùng gặp khó khăn biết nhẫn nhục, chịu đựng như con lươn nằm cuộn khúc, để mọi người không biết mình là người như thế nào …
    Khi cần thiết, lúc gặp thời, người anh hùng mới tung chí mình ra, như con lươn vươn mình dài ra.
    Khi ẩn hiện, khi tiến khi thoái, không rụt rè e sợ, không vọng động, đó mới là bản lãnh của người anh hùng.

    * Anh lòa dắt anh mù.

    Lòa: mắt nhìn không rõ. Mù: mắt không nhìn thấy gì cả
    Ý nói người dốt vừa dậy người dốt đặc, chẳng ích lợi là bao.
    Thí dụ như câu: Khả năng nghề nghiệp của tôi không có bao nhiêu, nếu anh chấp nhận “anh lòa dắt anh mù” thì tối tối lại đây, tôi chỉ thêm cho nhưng kết quả chắc không nhiều lắm đâu.

    Có sách ghi ngược lại:
    Anh mù dậy anh lòa.
    Và giảng là cùng dốt như nhau, hai người cùng dốt như nhau mà lại dậy bảo nhau.
    Theo ý chúng tôi, câu “Anh mù dậy anh lòa” ám chỉ một sự ngược đời, (người dốt nhiều dậy người dốt ít hơn.

    * Anh em cột chèo. (hay cọc chèo)

    Cột chèo hay cọc chèo: cái cọc cắm ở be thuyền để cột mái chèo mà chèo thuyền.
    Trên đời, tất cả các mối giây cột buộc là để buộc hai cái lại cho chắc, giữ cho cứng thì mới có tác dụng, có công hiệu. Chỉ riêng có mối giây cột cọc chèo và mái chèo phải cột lỏng, xộc xệch để mái chèo tuy giữ ở đó mà vẫn dễ dàng hoạt động, ngoáy chèo, quậy nước … và khi muốn lấy mái chèo ra hay lắp mái chèo vào cũng rất dễ dàng.
    Tuy cùng là cột buộc nhưng mối cột buộc mái chèo vào cọc chèo không giống bất cứ mối cột buộc khác.
    Thành ngữ này chỉ những người anh em cùng làm rể một nhà. Họ cùng gọi nhau là anh em nhưng tình anh em giữa họ lỏng lẻo như mối giây cột buộc ở cột chèo vậy, muốn tháo gỡ ra lúc nào cũng dễ. Mang tiếng là anh em nhưng không cùng huyết thống, là anh em giả.

    Ca dao Ý đẹp
    Tục ngữ Ca dao

    Tiếp theo đây là trích phần nhì Sưu Tập trong cuốn TNCD quyển 1 – Ý đẹp từ trang 78 trở đi:

    Sưu tập

    Phần con cái


    Bảo không nghe, roi tre nó múa,
    Nói chẳng vào, cái búa lên đầu.
    Kim vàng ai nỡ uốn câu,
    Người ngoan ai nỡ nói nhau nặng lời.

    Lúc còn trẻ, ham chơi biếng học,
    Lúc về già, dở khóc dở cười.
    Bảo con, con chẳng nghe lời,
    Con đi chơi dại, hư đời nhà con.

    Ngồi ăn mãi, non mòn núi lở,
    Mảng vui chơi, nhà cửa tiêu tan.
    Không lo cày cấy bán buôn,
    Lấy gì nuôi miệng, thuốc thang áo quần.

    Noi theo người, học ăn học nói,
    Bắc chước ai, mở gói phải không,
    Con hư thì mẹ đau lòng,
    Con ngoan mẹ cũng trông mong cậy nhờ.

    Lòng như tưởng, tre già măng mọc,
    Dạ hằng mong, con được hơn người.
    Cây khô chưa dễ mọc chòi,
    Mẹ già không lẽ sống đời với con.

    Trông thấy con khôn ngoan lanh lợi,
    Lòng mẹ như trẻ lại mười năm.
    Nuôi con rút ruột con tằm,
    Ấp ôm bú mớm tháng năm vơi đầy.

    Công cù lao từ ngày tấm bé, (1)
    Mong từng ngày lại kể từng cơn. (đêm)
    Công cha như núi Thái Sơn, (2)
    Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

    Rồi tới lúc cha già mẹ héo,
    Con phải lo gánh chịu đắng cay.
    Học hành buôn bán đó đây,
    Ở nhà với mẹ, biết ngày nào nên. (khôn)

    Đảo điên như đồng tiền hai mặt,
    Lèo nhèo như mèo vật đống rơm.
    Vàng thì thử lửa thử than,
    Chuông kêu thử tiếng, người ngoan thử lời.

    Miệng mau mằn, tươi cười hớn hở,
    Giọng ngọt ngào, vâng dạ trình thưa.
    Lời nói không mất tiền mua,
    Liệu lời mà nói cho vừa lòng nhau.

    Quỷ khốc thần sầu – Gặp đâu nói đó,
    Ăn thì có, mà mó thì không, (3)
    Lời mẹ nước lã ra sông,
    Chứng nào tật nấy, con không chừa nào.

    Trăm bệnh tật chui vào lỗ miệng,
    Ngàn lỗi lầm bởi tiếng mà ra.
    Con đừng học thói chua ngoa,
    Lỡ tay còn sửa, sao qua lỡ lời.

    Chó ba quanh, tìm nơi nằm xuống,
    Người ra lời, lưỡi uốn ba lần.
    Miệng mồm đỡ được tay chân,
    Khỏe thời dùng sức, yếu cần dùng mưu.

    Nơi đường đời, người sao ta vậy,
    Chốn bán buôn, mắt thấy chân đi.
    Tranh đua, hơn thiệt, thị phi, (4)
    Tay thì bằng miệng, miệng thì bằng tay.

    Trong xó bếp, con hay mẹ hát, (5)
    Ngoài phố phường, mẹ nhát con run.
    Ở nhà nhất mẹ nhì con,
    Ra đường lại lắm kẻ dòn hơn ta.

    Thà chửi cha còn hơn pha tiếng,
    Lỡ một tiếng, câu chuyện thành to.
    Nói đi nói lại, hồ đồ,
    Trước nào sau vậy, ai ngờ cho ta.

    Cha rồng cọp sinh ra con chó, (6)
    Tre Mạnh Tôn lại nở măng le, (7)
    Lặng yên mẹ nói con nghe,
    Trâu chậm uống nước đục, gà què ăn quẩn cối xay.

    Đừng gain xảo, đong vơi cân thiếu,
    Chớ điêu ngoa, nói khéo làm sai.
    Lẩm cẩm như bà bán khoai,
    Đồng một không bán, đồng hai gật gù.

    Sang gì kẻ đần ngu dốt nát,
    Giầu đâu người biếng nhác rong chơi.
    Chuông khánh còn chả ăn ai,
    Lọ là bát mẻ bỏ ngoài bụi tre. (8)

    Lời mẹ dậy, phải nghe phải nhớ,
    Theo Thày Cô, sách vở văn bài.
    Ngọc kia chẳng dũa chẳng mài,
    Cũng thành vô dụng, cũng hoài ngọc đi.

    Ngày buôn bán, sớm khuya học tập,
    Chẳng chơi đùa, rù rập bạn bè.
    Kình Nghê chơi với Kình Nghê, (9)
    Tép tôm thì lại chơi về tép tôm.

    Giầu vì bạn, sang vì vợ.
    Đứa đần ngu, mang nợ vào đời.
    Thói thường chọn bạn mà chơi,
    Những phường lười dốt, ta thời tránh xa. (10)

    Đi dối cha, về nhà dối mẹ, (chú)
    Miệng đong đưa, chuyện kể làm quà.
    Ba đồng một, một đồng ba,
    Cây da già Cuội, con cà con kê. (11)

    Chú thích:
    1- Công cù lao là công khó nhọc của cha mẹ (cần cù, lao động). 2- Núi cao nhất ở Trung Quốc.
    3- Mó: mó tay làm việc. 4- Thị phi: trái phải. 5- Mẹ hát con khen hay.
    6- Cha giỏi sinh con dở (Hổ phụ sinh cẩu tử). 7- Tre Manh Tôn là loại tre rất lớn, cây le là loại tre rất nhỏ.
    8- Cũng hát hay viết cách khác là ‘Lọ là mảnh chĩnh ném ngoài bụi tre’.
    9- Kình Nghê là hai loại cá lớn ngoài biển (cá voi, cá mập).
    10- Cũng hát hay viết cách khác là ‘người gian xảo’.
    11- Thằng Cuội ngồi gốc cây đa (nói dối, nói láo. Truyện nọ qua truyện kia không dứt.
     
  3. Cái bóng Hư Vô

    Cái bóng Hư Vô Công Dân

    TNCD – Dân ca Miền Trung

    Phần tiếp tục trích về các thể điệu, thể loại Dân ca Miền Trung trên theo thứ tự. Trước hết là Hò khoan Thanh Nghệ (TNCD – quyễn 4 - Dân ca miền Trung từ trang 163
    . . . . . . . .

    Dân ca miền Trung (Hò dân chài, Hát dậm, Hát ru, Hàng vải, Ca Huế …)

    A- HÒ KHOAN THANH NGHỆ:
    (tiếp theo) Từ trang 169:

    Đến đây quen ít lạ nhiều,
    Ai tư điền tư thổ, xin tiêu lên khỏi lầm. (26)
    Tri âm, chưa tỏ tri âm,
    Muốn cho bên quạt, bên trâm sánh bày. (27)

    Em về thưa với Thung Huyên, (28)
    Chốn này ta đã thành duyên nhau rồi.

    Vì cam, nên quít đèo bòng,
    Vì anh cần mẫn, nên lòng em mơ.

    Cau khô ăn với hạt hèo,
    Lấy chồng đò dọc, ráo chèo hết ăn.

    Một trăm chiếc nốc chèo xuôi,
    Không có chiếc mô chèo ngược, để ta giữ lời viếng thăm.

    Từ Vạn Sót đến Vạn Cài,
    Từ Trúc, Trổ, Hồ, Trai,
    Từ Phù Long, Xuân Liệu,
    Anh chỉ thấy một người như em. (29)

    Tiết thanh nhàn thong thả,
    Muốn thăm hỏi vài câu.
    Quốc thánh thót kêu sầu,
    Gió phảng phất mùa thâu.
    Nhớ trong sách đã lâu
    Truyện “Tư Mã phượng cầu” (30)
    Thương thì mũi tìm trâu
    Trâu đâu tìm chạc mũi.

    Trời mở rộng phong quang,
    Giã ơn trời mở rộng phong quang.
    Em đánh tiếng thưa sang,
    Đêm tàn canh vò võ.
    Tay em cầm con bấc đỏ (31)
    Mong bỏ dĩa dầu đầy.
    Mời bạn ở lại đây,
    Ròng rã, tay bắt tay,
    Đôi ta đã gởi lời này.
    Tình đó với nghĩa đây,
    Giống như đôi nác đầy (32)
    Bưng nhần nhần trên tay.

    Không khuy sơ một hột,
    Gió nỏ triềng một hột. (33)
    Công đôi ta thề thốt,
    Kể đã mấy niên rồi.
    Lòng đã quyết lứa đôi,
    Ngãi đã quyết thề bồi.
    Nhất ngôn nói hẳn lời.
    Đừng bồn chồn ba nơi,
    Đừng trăng gió chào mời.
    Trăng nhiều trăng rạng rỡ
    Trăng nhiều đèn rạng rỡ.

    Em đã có chồng rồi,
    Em đã có lứa đôi.
    Vung đã úp vừa nồi,
    Đũa đã ghép thành đôi.
    Bạn đừng có ỡm ờ với tôi.
    Tôi lấy chân khóa lại,
    Tôi lấy bàn khóa lại.

    Têm một quả trầu không,
    Bỏ vô hộp con rồng.
    Đi băng nội, băng đồng,
    Qua dăm bảy khúc sông,
    Qua chín mười đỗi đồng,
    Nghe tin em đã có chồng,
    Anh quăng lắc vô bụi,
    Bạn gặt túa vô bụi.

    Anh thương em, một tháng hai kỳ,
    Dồn đi tính lại, vị chi mười ngày
    Năm rộn mà chày (rộn ràng)
    Có hai mươi bốn miện. (34)
    Xuân qua rồi Hè đến,
    Thu đã muộn, Đông rồi.
    Nhớ bạn cũ chưa nguôi,
    Sang Lập Xuân, Vũ Thủy.
    Đêm em nằm em nghĩ,
    Nghĩ Kinh Trập, Xuân Phân.
    Lòng tưởng sự ái ân,
    Sang Thanh Minh, Cốc Vũ.
    Đêm em nằm nỏ ngủ,
    Nhớ bạn mãi thường thường.
    Tiết Lập Hạ nhớ thương,
    Bước sang tuần Tiểu Mãn.
    Trông ra ngoài chán chán,
    Tiết Mang Hiện lại gần. (35)
    Người đập đất, gánh phân,
    Kẻ mùa mang, gặt hái.
    Anh thương em mãi mãi,
    Sang Ha Chí, tiết Hè.
    Em nghe tiếng sầu ve,
    Em buồn trong gia sự.
    Tiết Tiểu Thử, Đại Thử,
    Trời nắng sốt lắm thay.
    Ra ngồi tựa cội cây,
    Anh với em than thở.
    Bạn với mình than thở

    Chú thích:
    26- Tiêu: chỉ rõ ra, nêu ra. 27- Bên quạt: bên trai. Bên tram: bên gái. 28- Thung Huyên: cha mẹ.
    29- Thuộc Nghệ Tĩnh. 30- Truyện Tư Mã Tương Như đánh khúc “Phụng cầu kỳ Hoàng”.
    30- Tay em cầm con bấc đỏ: Con bấc là bấc đèn, tim đèn; dùng đốt trong đĩa đèn dầu thực vật hay mỡ. Bấc là cái ruột của một loại cây rừng, mềm và nhẹ, dễ dẫn dầu và dễ cháy. Cây này nguyên có tên là cây bấc. Người ta thường dùng chữ ‘con’ để chỉ những vật nhỏ như con mắt, con ngươi …
    “Con bấc đỏ” tỏ sự vui mừng. (Ta có thành ngữ: “Nhẹ như bấc”)
    32- Đôi nác: đôi thùng nước. 33- Khuy sơ: hao hụt, sơ xuất. Nỏ: chẳng, khỗng (không).
    34- Hai mươi bốn tiết trong năm. 35- Cũng gọi là Tiết Mang Chủng.
    (còn tiếp)
     
  4. Cái bóng Hư Vô

    Cái bóng Hư Vô Công Dân

    Tục ngữ - Phong dao

    I. Gia đình & Sinh sống

    Tiếp theo đây là phần Tục ngữ - Phong dao trong quyển 3 Lòng Son. Mở đầu từ trang 13 trở đi :

    Tiếp theo từ trang 16:
    GIA ĐÌNH & SINH HOẠT

    Bá Nội là đất thanh nhàn, (36)
    Em về Bá Nội lập hàng bán buôn.

    Anh về Bồ Địch, giếng Vuông, (37)
    No cơm ấm chiếu, buông tuồng bỏ em.
    Em về Bồ Địch, giếng Vuông,
    Sáo treo bốn bức, em buồn nỗi chi.

    Cơm no, nọ phải quà chi,
    Con còn ấm ách, mẹ thì không thương.

    Cách sông cách nước thì thương,
    Cách quê cách quán, nhớ tương Cự Đà. (38)

    Thứ nhất sông Nến chảy ra,
    Thứ nhì ngòi Mỡ, thứ ba ngòi Dầu.
    Sông Gầm chẳng thấm vào đâu,
    Còn anh sông Đáy trọc đầu mà ra. (39)

    Nhờ trời mưa gió thuận hòa,
    Nào cày nào cấy, trẻ già khuyên nhau.
    Vịt gà, cá lợn, trầu cau,
    Mùa nào thức ấy, giữ mầu nhà quê
    Sớm đi thì tối lại về,
    Quần hồng áo tía, phủ phê trăm chiều,
    Ai ơi của thế còn nhiều (40)

    Nghề tôi, tôi quý tôi yêu,
    Dù cho cực nhọc, dù nhiều khó khăn.
    Nghề ta, ta gắng ta dồi,
    Ngày đêm tinh xảo, ích đời lợi ta.
    Nhờ trời mưa gió thuận hòa,
    Lúa vàng đầy ruộng, tiếng ca vang đồng.
    Nhờ trời Ha kế sang Đông,
    Làm nghề cầy cấy vun trồng tốt tươi.

    Anh thì quần áo dong chơi,
    Để em đi cấy, mồ hôi ướt đầm.

    Rù nhau đánh cá Đồng Lâm,
    Cá kia chẳng được, âm thầm lòng em.
    Rủ nhau đánh cá Đồng Trèm, (41)
    Cá kia chẳng được, lòng em âm thầm.

    Nón này anh sắm đáng trăm,
    Ai trông cái nón ba tầm cũng ưa. (42)
    Nón này che nắng che mưa,
    Nón này để đội cho vừa đôi ta.
    Nón này khâu những móc già, (43)
    Em đi thử nón đã ba năm chầy.
    Muốn em chung mẹ chung thầy
    Thì anh đưa cái nón này em xin.

    Hải Phòng là chốn hữu tình,
    Thuyền buôn thuyền bán rập rình bờ sông.

    Nào ai cấm chợ ngăn sông,
    Ai cấm chú lái thông đồng đi buôn
    Nào ai cấm chợ ngăn đò,
    Ai cấm chú lái hẹn hò đi buôn.

    Gió Nam phay phảy chiều hôm,
    Xong việc gặt hái, ôm con thả diều.
    Điền viên là thú tiêu diêu, (44)
    Không danh lợi lắm, chẳng chiều lụy ai.

    Ăn chơi cho hết tháng Hai,
    Để làng đóng đám, cho trai dọn đình.
    Trong thời trống đánh rập rình,
    Ngoài thời trai gái tự tình cùng nhau.

    Nuôi tấm cần phải có dâu,
    Muốn cho dâu tốt, thì mau vun trồng.
    Vườn thì cuốc rãnh thong dong,
    Cách nhau hai thước, đặt thông (hom) cho đầy.
    Giống đâu ưa nước xưa nay,
    Những khi gặp lụt thì cây cũng già.

    Ước gì lấy được người ta,
    Để cùng buôn bán chợ xa chợ gần.
    Vui nhất là chợ Đồng Xuân, (45)
    Kẻ buôn người bán, xa gần thảnh thơi.

    Giao Tự lắm bãi nhiều soi, (46)
    Lắm con gái đẹp nhiều nơi phải lòng,
    Giao Tự gần giếng gần sông,
    Đàn bà thì ít, đàn ông thì nhiều.

    Bao phen quạ nói với diều,
    Vườn hoang cỏ rậm thì nhiều gà con.
    Gà con bơi rác bươi rơm,
    Con anh chèo chẹo đòi rơm tối ngày.

    Ai đưa tôi đến chốn này,
    Bên kia Cốc Lếu, bên này Lào Kay. (47)

    Ruộng ai để cỏ mọc đầy,
    Bỏ hoang chả cấy, chả cầy, uổng chưa.
    Người sao lắm ruộng để thừa,
    Mà ai quanh quẩn suốt mùa làm thuê.
    Ai ơi, sao chẳng đi về,
    Ruộng ta, ta để cấy thuê sao đành.
    Tổ tiên di sản để dành,
    Ta không nhìn nhỏ, vô tình thế chi.

    Chú thích:
    36- Thuộc Đan Phượng, Hà Đông. 37- Thuộc Sơn Tây. 38- Thuộc Thanh Oai, Hà Đông. 39- Thuộc Tuyên Quang, Yên Bái, Sơn Tây
    40- Thế: thế gian (nói tắt). 41- Đồng Lâm là Kim Liên, Đồng Trèm là Khương Phượng đều thuộc Hà Đông.
    41- Ba: cái hoa, đẹp – tầm: cái nồi rang lớn. Nón ba tầm là cái nón như cái nồi rang đẹp.
    43- Móc để khâu nón là sợi râu cây đủng đỉnh, xưa kia khâu bằng sợi móc chứ không bằng chỉ nylon như ngày nay.
    44- Tiêu dao: thong thả, thư nhàn.
    45- Thuộc Hà Nội. 46- Thuộc Bắc Ninh. Bãi sông và đất nổi ở bờ sông.
    47- Cốc Liễu thuộc Trung Quốc, Lào Kay thuộc Việt Nam.
    (còn tiêp)
     
  5. Cái bóng Hư Vô

    Cái bóng Hư Vô Công Dân

    Đồng dao – Lý ca

    Tiếp theo đây là trích phần Đồng dao – Lý ca trong TNCD quyển 11 – Dãi bày II

    ĐỒNG DAO – LÝ CA (Lý ngữ)
    Từ trang 182 trở đi:

    Đi lính bỏ về,
    Là hoa bong trốn.
    Ra trái chộn rộn
    Là hoa thầu đâu (sầu đâu)
    Khéo uốn lưỡi câu,
    Là hoa lành ngạnh.
    Ăn vụng bị đánh,
    Là hoa lọ nồi.
    Khốn khổ thân tôi,
    Là hoa bồ ngót.
    Giận ai chua xót,
    Là hoa chà rang.
    Quần áo lang thang,
    Là hoa dũ dẽ.
    Tuổi không còn trẻ,
    Là hoa bạc đầu.
    Thiên hạ đầu cầu,
    Là hao bông lúa.
    Hay hát hay múa,
    Là hoa giằng xay.
    Cho mượn cho vay,
    Là hoa cam thảo.
    Cứu người làm đạo,
    Là hoa sa nhơn.

    Đụng đến thì hờn,
    Là hoa chết giả, (mắc cở)
    Vui chơi thong thả,
    Là hoa bông chè.
    Đi ngựa đi xe,
    Là hoa thiên lý.
    Niên cao đắc kỷ,
    Là hoa vạn thọ.
    Đêm nằm sáng tỏ,
    Là hoa bông trăng (trang)
    Không nói không rằng,
    Là hoa ngổ điếc.
    Xanh xanh bông biếc,
    Là hoa bông chàm.
    Ăn nói tầm sàm
    Là hoa chum rượu.
    Ở ăn lộn lạo,
    Là bông hoa dâm.
    Đi tối về thầm,
    Là hoa bông bợ.
    Giá mà không vợ,
    Là hoa tóc tiên.

    Xấu xí vô duyên,
    Là hoa thúi địt.
    Tính hay tránh việc,
    Là hoa rau lủi,
    Rù nhau bứa củi,
    Là hoa đầu rìu.
    Lo xế lo chiều,
    Là hoa bông cái.
    Cho sợi dệt vải
    Là chùm hoa bông.
    Xuống quán ngồi không,
    Là hoa bông chén.
    Từ rừng mà đến,
    Là hoa vòi voi.
    Tính thích vui chơi,
    Là hoa bươm bướm.
    Để mà khó lượm,
    Là hoa bông mè …

    Lẳng lặng mà nghe,
    Cái vè em kể.
    Từ nguồn chí bể,
    Bãi lách, rừng sim.
    Chúa các loài chim,
    Vì tài vì đức.
    Ưa ăn trái trúc,
    Đậu cây ngô đồng.
    Xứng đẹp vợ chồng,
    Là đôi chim phượng.
    Mồi thơm chẳng tưởng,
    Ngàn mây thảnh thơi.
    Hưởng cao tuổi đời,
    Là con chim hạc.

    Mẹ già tuổi tác,
    Lòng con thương lo.
    Nuôi mẹ ấm no,
    Là con chim quạ. (rất chăm con)
    Cuối Xuân sang Hạ,
    Hồn nước năm canh.
    Mờ bóng trăng thanh,
    Là con chim quốc.
    Thương người lỡ bước,
    Núi tuyết chăn dê. (chuyện Tô Vũ)
    Mang bức thư về,
    Là con chim nhạn.

    Bên sông Ngân Hán,
    Cảm vợ chồng Ngâu.
    Ra sông bắc cầu,
    Là chim Ô Thước.
    Eo xèo mặt nước,
    Bóng ngỏ, đò đông.
    Gánh gạo đưa chồng,
    Là con cò trắng.
    Truông mây, cảnh vắng, (truyện chàng Lía)
    Chiều chiều bay cao,
    Nhớ cảnh anh hào
    Là loài chim én.
    Vì lời bạn hẹn,
    Đêm nhớ ngày thương.
    Từng mây kêu sương,
    Là con chim vạc.
    Ăn no tắm mát,
    Đậu cành mẫu đơn.

    Sợ lòng bạn hờn,
    Oanh vàng thỏ thẻ.
    Mấy lời em kể,
    Chưa hết nguồn cơn.
    Bạn ơi chớ hờn,
    Trời cao đất rộng …
    (còn tiếp)
     
  6. Cái bóng Hư Vô

    Cái bóng Hư Vô Công Dân

    Dân ca Miền Bắc

    (Giao duyên, Đối đáp, Ru em, Đò đưa, Huê tình, Quan họ, Hát đúm, Trống quân, Cò lả, Xẩm xoang, Nhà trò, Chèo thuyền, Kéo gỗ, Chầu văn, Sa mạc, Bồng mạc, Hành vân, Lưu thủy, Bình bán, Hát vè …)

    Tiếp theo đây là trích phần Dân ca Miền Bắc trong TNCD quyển 2 – Lời Hay - từ trang 242 trở đi:

    Lên thác ai ơi xuống ghềnh,
    Lên thác đã vậy, xuống ghềnh làm sao.
    Đất thấp ông trời cao,
    Ai làm đất thấp trời cao,
    Ngọn đèn sáng tỏ hơn sao trên trời.
    Chiếu hoa, em trải anh ngồi,
    Uống một bát nước, ăn cơi trầu đầy.
    Mừng đàn ta lại mừng giây,
    Mừng chim loan phụng sánh cây ngô đồng.
    Mừng người xứ Bắc, kẻ xứ Đông,
    Mừng chim loan phượng ngô đồng sánh đôi.
    Thưa với bác, bác trai tôi có nhà hay vắng.
    Dạ thưa, Thầy cháu con đi trẩy vắng chưa về.
    Mời ông thong thả ngồi chơi,
    Để tôi bảo cháu quạt nước ông xơi, rồi mai ông về.
    Thôi thôi bà để tôi về,
    Mặt trời đã xế, dặm về còn xa.
    Một vài vùng cỏ áy bóng tà,
    Gió hiu hiu thổi một và bông lau.
    Cành khuông trâm sẵn giắt mái đầu.
    Vạch da cây vịnh, bốn câu ba vần.
    Có cây luống những tần ngần,
    Lối vào chẳng biết rằng gần hay xa,
    Hỡi thú yên hà …. (10)

    Anh tiếc cho ai nuôi dậy mong chờ,
    Một hai ba tuổi, cho đến bây giờ em đã lớn khôn.
    Cái vành khăn đen, em vấn đã tròn,
    Câu cười tiếng nói đã dòn em lại ngoan.
    Sợi tơ hồng đã buộc với nhân gian.
    Sao em không chịu khó gánh vác cái gánh giang san cho chồng.
    Nỡ giang tay em dứt sợi tơ hồng.
    Đứng đầu núi nọ mà trông non này.
    Áng phong lưu son phấn đọa đầy,
    Thay đen đổi trắng để ai rày yêu thương.
    Dẫu mai ra tán tía tàn vàng,
    Một phương thiên ha xem thường có vào đâu.
    Tấm thân em chẳng nghĩ mặc dầu,
    Bọn đàn bà còn để tiếng xấu về sau muôn đời.
    Chị em ơi, cũng một kiếp người,
    Khăn anh, nàng đã lấy vắt vai,
    Bây giờ nàng đã theo ai dỗ dành.
    Chẳng nên ra thì tháo chỉ, trả mụn lại cho anh
    Để anh đem bán, sắm sanh trăm vàng (vàng mã)
    Một trăm anh đưa cho nàng,
    Còn một trăm nữa để chàng treo ngọn cây đa.
    Chớ em không nhớ lời thề nguyện với ta.
    Sông có Nhị Hà, núi có Tản Viên,
    Còn bây giờ nàng ở thế sao nên,
    Tôi khấn Nam Tào, Bắc Đẩu gọi tên rành rành.
    Đã yêu anh thời quyết với anh.
    Nhà tre cột nứa, lợp tranh vững vàng.
    Chớ tham nhà gỗ bức bàn,
    Gỗ lim chẳng có, làm xoàng bằng gỗ vông.
    Chỉ nhọc mình thôi lại luống công.
    Rồi khi gỗ mục, lại dùng nhà tre.
    Còn duyên, anh bảo phải nghe …

    Chàng về thiếp cũng xin về,
    Chàng về Hồ Hán, thiếp về Hồ Tây.
    Chàng bao nhiêu tuổi năm nay,
    Chàng rày mười tám, thiếp rày bốn ba.
    Mồ cha đứa chê thiếp già,
    Thiếp còn gánh nổi một và trăm kim.
    Trăm kim đổi lấy ngàn vàng,
    Mua gương Tư Mã để thiếp với chàng soi chung.
    Chàng về sắm sửa loan phòng,
    Thiếp xin điểm phấn tô hồng thiếp theo.
    Thiếp nay vẫn muốn chơi trèo.

    Em có yêu anh thì tam tứ núi anh cũng trèo,
    Thập bát sông anh cũng lội, tứ cửu tam thập lục đèo anh cũng bước qua.
    Chén son nguyện với ông trăng già,
    Càn Khôn đưa lại một nhà vui chung. (11)
    Con đàng xa xôi kia xin em chớ ngại ngùng,
    Xa người xa tiếng nhưng lòng không xa.
    Nói ví dù sớm biết nhau ra,
    Đá vàng cũng quyết, phong ba anh cũng liều.
    Đường tình riêng nhớ ít, tưởng nhiều.
    Xăm xăm đè nẻo Lam Kiều lần sang, (12)
    Con dao vàng, anh liếc đá vàng.
    Mắt anh anh liếc, mắt nàng nàng đưa,
    Ta mần thinh đi, kẻo thế gian ngờ,
    Lòng đây thương đấy, biết cơ hội nào.
    Quyết xắn tay anh mở khóa động đào. (13)

    Sông Mơ sông Mận, sông Đào,
    Ba con sông ấy chảy vào Tuần ty. (trạm kiểm soát)
    Em trót yêu anh bụng đã phát phì,
    Thuốc thang đâu khỏi, anh thì bảo tôi,
    Trót yêu anh, dễ đứng khó ngồi … (14)

    Cái thằng chồng em nó chẳng ra gì,
    Tổ tôm xóc dĩa nó thì chơi hoang.
    Nói ra xấu thiếp hổ chàng,
    Nó giận nó phá tang hoang cửa nhà.
    Nói đây có chị em nhà,
    Còn ba cân gạo với và cân bông.
    Bán đi trả nợ cho chồng,
    Còn ăn hết nhịn, cho thỏa lòng chồng con.
    Đắng cay ngậm quả bồ hòn,
    Con nhà gia thế lấy phải người đần ngu.
    Rồng vàng tắm nước ao tù,
    Người khôn ở với người ngu nặng mình.

    Chú thích:
    10- Khói và rang mây. Chỉ cảnh đẹp. 11- Càn Khôn là trời đất.
    12- Xăm xăm đè nẻo Lam Kiều lần sang: Lam Kiều là cái cầu trên song Lam thuộc tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc, nơi Bùi Hàng, một văn nhân, gặp tiên nữ là Vân Anh.
    13- Động đào là hang động đẹp.
    14- Trót yêu anh, dễ đứng khó ngồi … Ý nói có chửa (có bầu)
    (còn tiếp)
     
  7. Cái bóng Hư Vô

    Cái bóng Hư Vô Công Dân

    Dân ca Miền Nam – Nam Trung

    (Đưa em, Hò Lý, Chèo ghe, Cắt lúa Đối đáp …)

    Tiếp theo đây là trích phần Dân ca Miền Nam, Nam Trung trong TNCD quyển 2 – Lời Hay - từ trang 271 trở đi:

    Đưa em, Hò Lý, Chèo ghe, Cắt lúa Đối đáp …

    Gặp anh đây như thuyền găp bến,
    Sao ba bốn tháng rày, anh không đến chi đây.

    Củi tre dễ nấu, chồng xấu dễ xài,
    Chớ ham chi bông sắc, cho nó hình hài cái tấm thân.

    Đèo Hải Vân muôn phần diệu vợi,
    Em ngóng cổ trông đèo, chờ đợi bóng anh qua.

    Khó giúp nhau mới thảo,
    Chớ nghèo giữa chợ không có màng.
    Chớ cây kiểng đang xanh thì anh giội trước còn cây kiểng tàn em lại để héo khô.

    Hiu hiu gió thổi bờ đê,
    Cửa nhà bỏ phế, mân mê lời mình.
    Thấy em, dạ nọ say tình,
    Chiêm bao ngó thấy một mình hồi hôm.
    Khoác màng loan gối phượng tay ôm,
    Anh than anh thở đêm hôm một mình.
    Cách bấy lâu mới gặp duyên tình,
    Tỷ như cây vạn thọ được tưới bình nước tiên.
    Bậu có chồng như ngựa có yên,
    Anh đây lẻ bạn, như chim quyên lạc bầy.

    Tôi tưởng cái giếng sâu nên mới sợ sợi dây chẳng được dài,
    Chớ ai ngờ cái giếng cạn, tôi quyết dùng cái sợi dây này tôi kéo lên.

    Gió Nam non thổi lòn hang cóc,
    Truyện lỡ rồi, cạo trọc đi tu.
    Gió Nam non thổi hang chuột,
    Thương chi Hai mày, đứt ruột nát gan.

    Này anh ơi, duyên đưa run rủi giữa đàng,
    Nếu phải như ba sanh tiền kiếp, em mời chàng hãy ghé chơi đây.

    Mảng nói chơi mà trời rày gần sáng,
    Xin anh đừng bỏ lảng duyên nợ đôi ta.
    Dằn lòng về thưa với mẹ cha,
    Sắm lo sáu lễ đến nhà cưới em.

    Lầu nào cao bằng lầu ông Phó,
    Truyện nào khó bằng truyện gái trai.
    Anh về cậy mối với mai,
    Chớ đừng liếc mắt xem hai họ đồn.

    Đêm năm canh, anh ngủ được một canh đầu,
    Còn bao canh nữa, buồn rầu không nguôi.
    Nhìn ra sao sáng đầy trời,
    Mảng thương em, cơm chưa kịp ăn, khăn chưa kịp đội, than vãn đôi lời cho bớt nhớ thương.

    Kể từ dăm bảy tháng nay,
    Tin thư chẳng thấy, thiếp ngỡ chàng rày đi luôn.
    Anh đã gửi thư nhờ bà đi bán đi buôn,
    Bà bảo bà buôn lỗ bán là, bà buồn bà quên trao.

    Anh thương em đừng cho ai biết,
    Cũng đừng lộ tiết cho ai hay.
    Đừng nghe ai biểu ai bày,
    Cứ thâm thâm dìu dịu, càng ngày ta càng thương.

    Con công tổ hộ trên rừng,
    Chèo ghe xuống biển, coi chừng con công.
    Ghe bầu lái trở về Đông,
    Con gái có chồng, bỏ mẹ ai nuôi,
    Tôi thương chú lái, tôi xuôi một bề.
    Trăng kia chứng nguyện lời thề,
    Má kề với má, vai kề với vai.

    Câu ni câu nữa ta về, lời thề để lại tối mai,
    Đó đây phân giải, thử xem ai bạc tình.

    Bạc chi mà bạn kêu ta rằng bạc,
    Chim kêu suối ngọt, ngọn đèn lưu ly.
    Thiếp chờ chàng đã bốn con trăng ni,
    Chàng không lai vãng, nên thiếp ra đi lấy chồng.
    Nhất chờ, nhì đợi, tam trông,
    Văn kỳ thanh em đã có chồng thì thôi. (1)

    Trời tháng muời, năng mưa năng lụt, đất năng lở, năng bồi, (2)
    Tình ta thương quân tử cựu, không lẽ đi mời quân tử tân.
    Thôi em liều mình thác xuống sông Ngân,
    Thác đi thác lại bỏ ái ân hai chàng.
    Ớ em ơi, muốn cho đặng cả hai bên,
    Em về đan tám bức phên, dựng tường buồng.
    Dựng buồng thì phải dựng luôn,
    Đừng ngăn quân tử cựu, đừng buồn quân tử tân.
    Tội gì em thác xuống sông Ngân.
    Thác đi thác lại, bỏ ái ân hai chàng.

    Câu tôm mà ngủ gục, nên anh mới hụt con tôm càng.
    Phải chi mà anh vớt đặng, anh sắm vòng vàng cho em đeo.

    Cây cao hoằng hoặc, nhặt mắt khó trèo,
    Em ơi chầm chậm, để anh lo nghèo vài năm.

    Nó mắc vách gành, nó liệng khắp đông tây,
    Nước miếng trong, nó làm ổ từng ngày,
    Nuôi con khôn lớn từng ngày đâu có kể công.

    Khăn lông rút gốc, đẹp tựa như rồng,
    Anh muốn mua cho em đội, sợ chồng em ghen.
    Vịt bầu đòi tắm ao sen,
    Chồng tôi chưa có, ai ghen nỗi gì.

    Tiếc rằng, tiếc rứa tiếc ri,
    Liều mình bỏ xứ mà đi cho rồi.
    Liều mình giả như đứa đứt tao nôi,
    Giá như cha với mẹ không sinh đôi đứa mình.

    Chú thích:
    1- Văn kỳ thanh là nghe tiếng vậy, nghe nói vậy, nghe đồn vậy … 2- Thời tiết miền Trung.
    (còn tiếp)
     
  8. Cái bóng Hư Vô

    Cái bóng Hư Vô Công Dân

    Tục ngữ - Phong dao

    Duyên tình – Bạn hữu

    Tiếp theo đây là trích phần Phong dao – Duyên tình & Bằng hữu trong TNCD quyển 3 – Lòng Son - từ trang 44 trở đi:

    Duyên tình – Bạn hữu

    Lửng lơ vừng quế soi (dãi) thềm, (18)
    Hương thơm bát ngá t càng thêm bận lòng.
    Gió thu thổi ngọn phù dung,
    Dạ nàng là sắt, anh nung cũng mềm

    Liễn Tàu vụng chấm, biếng xem (19)
    Lẳng lơ như bậu, ai thèm mà bậu khoe

    Lấy chồng ông Cống ông Nghè, (20)
    Lấy chồng ông phỗng, cũng khoe lấy chồng.

    Mấy người mặt đỏ môi hồng,
    Cổ cao miệng rộng, lộn chồng theo trai.

    Thề gì, thề gái thề trai,
    Thề đâu chết đó thì ai dám thề.

    Ba phen lên ngựa mà về,
    Cầm cương níu lại, xin đề câu thơ.
    Câu thơ, ba bốn câu thơ,
    Câu đợi câu chờ, câu nhớ câu thương.

    Chỉ điều ai khéo vấn vương,
    Mỗi người một xứ mà thương nhau hoài.
    Chữ tình ai dứt cho rồi,
    Tơ hồng đã định, đổi đời được đâu.

    Một thương, hai nhớ, ba sầu,
    Cơm ăn chẳng được, ăn trầu ngậm hơi.
    Thương chàng lắm lắm chàng ơi,
    Biết đâu thanh vắng mà ngồi thở than.

    Cô kia tác nước bên đàng,
    Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi.

    Đường xa, mượn cáng mà đi,
    Xin cho tốt tuế (tuổi), quản chi xa đường.
    Trồng hường, lấy lá che hường,
    Thương em chẳng quản nỗi đường xa xôi.

    Mẹ ru con ngủ cho rồi,
    Mẹ ra chỗ vắng, mẹ ngồi than thân.
    Trước sau đằm thắm muôn phần,
    Mà nay đuểnh đoảng như cần nấu suông.

    Ai làm cho dạ em buồn,
    Cho con bướm lụy, chuồn chuồn lụy theo.

    Hoa thơm ai chả muốn đeo
    Người đẹp ai chả muốn theo về nhà.

    Ta thương mình, mình chẳng thương ta,
    Muối kia bỏ bể, mặn mà có nơi.
    Mồ cha đẻ mẹ con giơi,
    Mà sao ăn nói những lời Hà Đông. (21)
    Mình về, ta nhớ ta trông,
    Ta về, mình chả chút công đoái hoài.

    Xưa kia ai ở cùng ai,
    Bây giờ đặng chút thuyền bai, phụ đò. (22)
    Xưa kia anh ở cùng đò,
    Bây giờ đò lủng, anh mò thuyền nguyên.

    Chân mày vòng nguyệt có duyên,
    Tóc mây dợn sóng là duyên tơ hồng.

    Cô kia đứng ở bên sông,
    Muốn sang, anh bắc cầu vồng cho sang.

    Cho anh một miếng trầu vàng,
    Mà sau trả lại cho nàng đôi mâm. (23)

    Lửa nhen vừa mới bén trầm,
    Trách lòng cha mẹ nỡ cầm duyên con.

    Trăm năm tính cuộc vuông tròn,
    Phải dò cho hết ngọn ngành lạch sông.

    Ngọt canh là bí đao hồng, (24)
    Đánh cho một trận, xem chồng về ai.

    Đó trai, đây cũng là trai,
    Mặc tình người nghĩa, đành ai thì đành..

    Anh về với vợ con anh,
    Lá rụng về cội, bỏ nhành bơ vơ.
    Con đò bậu chớ nghi ngờ,
    Bậu đưa khách bậu, qua chờ khách qua.

    Bây giờ hỏi thiệt cô Ba, (25)
    Còn thương như cũ hay là hết thương.
    Ngày dãi nắng, tối dầm sương,
    Công tôi lao khổ, mình thương không mình.

    Nhớ lời nguyện ước ba sinh, (26)
    Xa xôi ai có thấu tình chăng ai.
    Khi về hỏi liễu Chương Đài, (27)
    Hoa xuân đã bẻ cho ai một cành,
    Có thương anh thì bẻ quách cho anh.

    Nhức đầu đặt lá tiền sanh,
    Tội trời tôi chịu, thương anh hơn chồng.

    Chú thích:
    18- Vừng quế: vừng trăng. 19- Liễn Tàu: tranh vẽ của Tàu (bức liễn) treo vách.
    20- Ông Cống, ông Nghè: cử nhân, tiến sĩ.
    21- Mồ cha đẻ mẹ con giơi,
    Mà sao ăn nói những lời Hà Đông:
    Ta thường dùng từ “đồ giơi chuột” để chỉ những kẻ ti tiện, nhỏ nhen.
    Từ Hà Đông là lời những nói có tính ghen tuông theo tích sau đây:
    . . . Xưa có một người ở đất Hà Đông (phía đông của dòng sông Hoàng Hà) thuộc tỉnh Sơn Tây (Trung Quốc), là một người rất sợ vợ. Nhà thơ Tô Đông Pha, đời Đường, lấy tích đó mà làm thơ chế diễu một người quen là Trần Quý Thường cũng có tính sợ vợ và lại có người vợ hay ghen tuông dữ dằn. Trong thơ đó có câu: …. Hà Đông sư tử hống (gầm lên)
    Về sau có thành ngữ “Sư Tử Hà Đông” để chỉ người đàn bà hay ghen tuông và ăn hiếp chồng.
    22- Thuyền bai: thuyền nát. Bai là gẫy nát.
    23- Mâm trầu đám cưới.
    24- Bí đao cũng có nghĩa là dây cương ngựa và thanh đao.
    25- Cô Ba: chỉ cô gái đẹp.
    26- Ba sinh: ba kiếp sống.
    27- Khi về hỏi liễu Chương Đài,
    Hoa xuân đã bẻ cho ai một cành ?
    Theo tích: Hàn Dũ, một nhà thơ lớn đời Đường, có việc phải vắng nhà lâu. Khi trở về, người vợ (hay người tình) là Liễu Thị, đã bỏ đi khỏi nơi nhà mình, là nơi ở cạnh con đường Chương Đài, ngoài thành Trường An, nên buồn lòng mà làm bài thơ có ý như thế.
    Cũng có tích khác nói rằng: Khi Hàn Dũ trở về, người tình đã sang ngang. Chàng buồn rầu, đi trên con đường Chương Đài và làm bài thơ với ý này để hỏi các cây liễu hai bên đường (có biết chuyện này chăng ?)…!!!
    Chương Đài là khu ăn chơi thuộc thành Tràng An. Chữ Hán không có phân loại viết hoa hay chữ thường nên khó phân biệt danh từ chung và danh từ riêng nên chữ liễu có thể là họ Liễu hay cây liễu.
    (còn tiếp)
     
  9. Cái bóng Hư Vô

    Cái bóng Hư Vô Công Dân

    Tục Ngữ Ca Dao – Văn Chương Bình Dân

    Tục Ngữ Ca Dao – Văn Chương Bình Dân

    Tục ngữ - Phong dao – Bài Vè.

    Tiếp theo đây là trích phần Bài Vè trong TNCD quyển 3 – Lòng son từ trang 301 trở đi:

    Bài Vè
    Bài sáu (tiếp theo)

    Ta với mình, tình cũ nghĩa xưa,
    Dầu tối như mực, cũng đưa nhau về.
    Bên anh, chiếu trải gối kề,
    Thương chưa nói hết, mình về, kẻo khuya.
    Dẫu mà phụ mẫu phân chia,
    Đừng rời mới lịch, đừng lìa mới xinh.
    Nghiêng tai hỏi nhỏ chút tình,
    Còn thương như cũ, hay mình hết thương.
    Chừng nào con ngựa rời cương,
    Thì em mới hết nhớ thương với mình.
    Nói ra chết nửa thân mình,
    Sầu chịu khiển trách, sầu mình xa tôi.
    Đêm nằm nước mắt chảy xuôi,
    Ai làm nên nỗi nửa vời phân chia.
    Trách ai, tiếng nọ tiếng kia.
    Vu oan giá họa, rẽ chia đôi lòng.
    Kể từ ngày bướm cách mặt ong,
    Đặt lưng xuống chiếu, nhớ tấm lòng bạn ta.
    Nửa đêm giờ tý, canh ba,
    Giật mình tỉnh dậy, nhớ bạn ta lạ thường.
    Giờ sửu, thức dậy tỏ tường,
    Chiêm bao mộng mị, nhớ nghĩa nường bấy lâu.
    Giờ dần ngồi dậy thảm sầu,
    Thấy chim Ô Thước bắc cầu sông Ngân. (30)
    Giờ mẹo, vừa bước ra sân,
    Cảm thương con nhện, mấy lần giăng tơ.
    Giờ thìn, vừa gặp tin thơ,
    Quên rìu quên búa, dật dờ như điên.
    Giờ tỵ, đến chốn Lê Viên, (31)
    Dò đường đếm bước, ngồi yên một mình.
    Giờ ngọ, nước mắt nhỏ linh,
    Bưng chén cơm nhớ bạn mình thung dung.
    Giờ mùi, bóng xế cây tùng,
    Thấy ong qua bướm lại, liệu chung một nhà.
    Giờ thân, nhớ lại bạn ta,
    Ôm tấm lòng thảm cho qua đôi ngày.
    Giờ dâu, khi tỉnh khi say,
    Giở chân chân ướt, giở tay tay rời.
    Giờ tuất, cất bước kêu trời,
    Chiêm bao mộng mị, nhớ lời bạn khuyên.
    Giờ hợi, lòng dạ ưu phiền,
    Lòng đau dạ xót, nhân duyên lỡ làng.

    Bài bảy

    Mẹ con cái Chuối đi đâu, (32)
    Lao xao tôm tép, lau nhau tranh phần.
    Bọt sủi lên bằng cái mâm,
    Tranh ăn rồi lại ầm ầm đánh nhau.
    Cái Chuối đến váng cả đầu,
    Vẫn thì gọi trước, gọi sau dỗ dành.
    Da thì đã bủng lại xanh,
    Thức đêm máu đổ, hai vành máu tươi.
    Vây mang tơi tả, tả tơi,
    Mẹ ơi, mẹ hỡi, mẹ hời con đau.
    Bụng con đói quá, ăn đâu bây giờ.
    Chị Chuối như cái hạc thờ, (33)
    Leo lên vệ cỏ, nằm chờ cái chi. (34)
    Đàn con khóc âm khóc i,
    Gọi mẹ rối rít, mẹ thì nằm yên.
    Đàn kiến nó ở đất đen,
    Gọi nhau xúm lại mà chen ăn phần.
    Đưa chiu vào mũi, đứa cắn vào chân,
    Đứa leo lên mép, đứa lần vào mang.
    Họ hàng nhà kiến vênh vang,
    Khua chiêng nổi trống, mời làng tới xơi.
    Chị Chuối như người chết tươi,
    Kiến đen kiến đỏ, kín người chị bâu.
    Đau thì đau vậy, mặc dầu,
    Cái Chuối như chết từ lâu mất rồi.
    Bỗng dưng Chuối đập mạnh đuôi,
    Lao ùm xuống nước, kiến thời nổi lên.
    Đàn con kia túm lại liền,
    Xơi xong lũ kiến mới yên đòi mời.
    No rồi, chúng đỡ đi chơi,
    Mẹ ơi, mẹ hỡi, mẹ hời buồn ghê.
    Con thấy cái ao bên kia,
    Sung mọc hoa đỏ, sen khoe hoa vàng.
    Sang thì rõ thật là sang,
    Chả như ao mẹ, cáu vàng rêu đen.
    Cái Chuối vừa dỗ vừa rên,
    Bờ cao ao kín, con lên đàng nào.
    Lũ con kêu khóc lao nhao,
    Con chẳng nghe nào, mẹ hỡi mẹ ơi.
    Chiều con lòng trẻ mê chơi,
    Cái Chuối há miệng, con thời vào trong.
    Vồn nhà võ nghệ nhất vùng,
    Chuối lao một cái thì lưng vào bờ.
    Rơi vào gai mái, gai tre,
    Máu mang thì cứ phè phè tuôn ra.
    Đàn con kêu khóc oa oa,
    Mẹ ơi cho chúng con ra ngay nào.
    Ngậm miệng, Chuối lao đánh ào,
    Bây giờ thì đã sang ao kia rồi.
    Đàn con vui vẻ thảnh thơi,
    Đứa vịn cành súng, đứa chơi cành bèo.
    Kìa nghe trống mõ ầm reo,
    Một đàn sằn sặt, múa đều như hoa.
    Mẹ ơi, mẹ dẹp đường ra,
    Để chúng con được la cà rong chơi.
    Sẵn miếng võ quý truyền đời,
    Cái Chuối lao đến một hơi như thần.
    Thế rồi há miệng lên gân,
    Đớp đàn săn sắt, no gần đến mang. (36)
    Chẳng còn tích tịch tình tang,
    Hàm răng cái Chuối, hai hàng máu tươi.
    Chẳng còn áo mã, cờ đuôi,
    Hàm răng cái Chuối cắn lòi ruột ra.
    Một đàn sằn sặt ra ma,
    Không còn một mống, để mà múa may.
    Cái Chuối tưởng thế là hay,
    Gọi con quay lại, tập bày vẽ cho.
    Nào phùng mang, nào dãn go,
    Nào nhe răng sắc, để cho mồi vào.
    Nào vọt, nào muốt, nào lao,
    Thế thấp mai phục, thế cao nhử mồi.
    Đàn con ngậu ngã, lơi xơi, (37)
    Tập dăm miếng võ, ở đời đánh nhau …

    Xuân qua, nay đã hè sang,
    Ròng ròng nay đã thành đàn Chuối con.
    Mẹ nó ốm héo, ốm mòn,
    Con thì tươi tốt, môi son má đào.
    Mẹ ơi, kiếm mồi cho tao,
    Không, tao xé xác, tao đào ruột ra.
    Chuối rằng, nay mẹ đã già,
    Các con gắng liệu để mà lo thân.
    Con rằng, tao cũng chẳng cần,
    Cái con mẹ rạc, liều thân nói càn.
    Nom càng tức ruột, lộn gan,
    Gập gà gấp gụ, chẳng làm được chi.
    Cái Chuối tức uất một khi,
    Vơ gậy đập nó, nó thì vùng ngay.
    Đứa bóp cổ, đứa lao chày,
    Nó cùng giở võ, một bày như mưa.
    Trời vừa đứng bóng, giữa trưa,
    Cái Chuối thoi thóp cũng vừa nhận ra:
    Vì ta nuông chúng quá đà,
    Dạy con trong nhà, như thể dạy voi.
    Thôi thôi, sự đã muộn rồi,
    Dẫu muốn vớt lại, thì trời chẳng cho.
    Bây giờ cái Chuối chết đờ,
    Hai mắt trắng dã, trông chờ hồn ma.
    Thiên hạ kéo đến đầy nhà,
    Băm cái xác Chuối vứt ra giữa đường.

    Chú thích:
    30- Thấy chim Ô Thước: quạ đen dùng đá bắc cầu trên sông Ngân Hà để cho Ngưu Lang và Chức Nữ gặp nhau mỗi năm một lần.
    31- Lê Viên: Vườn lê, nơi Đường Minh Hoàng tổ chức ca hát.
    32- Cái Chuối: cá lóc (cá chuối).
    33- Con hạc bằng đồng dùng cắm nến (đèn cầy) trên bàn thờ, rất gầy ốm.
    34- Nhử cho kiến bu lại rồi nhảy xuống nước cho đàn con ăn.
    35- Cây mây, cây mái có gai bén.
    36- Săn sắt là loại cá rất nhỏ.
    37- Ngậu là làm ồn lên.
    (còn tiếp)
     
  10. Cái bóng Hư Vô

    Cái bóng Hư Vô Công Dân

    Tục Ngữ Ca Dao – Văn Chương Bình Dân

    Tục ngữ Ca Dao

    Trích Phần hai: Một số thành ngữ ba tiếng của cuốn “Tâm Hồn Mẹ Việt Nam (Tục ngữ Ca dao) quyển mười hai (12) Dãi Bày III.

    Từ trang 261 trở đi:

    Thành ngữ

    Liệt mái chèo
    Chèo mái một, (39)
    Thót đuôi chuột. (nhỏ lại)
    Dốt có đuôi (40)

    Đi nối đuôi,
    Ngồi chè hẻ, (ngồi dạng chân)
    Đi xích phé (khoan thai)
    Té lăn cù. (41)

    Êm như ru,
    Mù dắt sáng
    Đánh trống lảng, (42)
    Chẳng mấy hơi, (43)

    Nói vẽ vời, (44)
    Trời đổ của,
    Mó dái ngựa, (45)
    Đứa chân không. (không nơi nương tựa)

    Nói đâm hông, (nói tức)
    Rồng uốn khúc, (nằm chờ thời)
    Trần trùng trục, (như cái trục gỗ)
    Lúc Trời cho. (lúc gặp may)

    Nhảy lò cò,
    Vô cùng tận, (không có chỗ hết)
    Nuốt cơn giận, (46)
    Hận thiên thu, (hận ngàn năm)

    Vụng đường tu, (47)
    Thù truyền kiếp, (48)
    Nói ăn hiếp, (49)
    Kiếp ngựa trâu, (tôi tớ)

    Đi hàng đầu, (làm trước, đi trước)
    Râu chổi sể, (râu xồm)
    Dao phó để, (50)
    Rẻ như bèo.

    Đẻ như heo, (đẻ nhiều)
    Theo chân ngựa, (đi theo hầu)
    Thằng đực rựa, (51)
    Ngựa không cương. (52)

    Khất âm dương, (53)
    Vuông vưng vức, (rất vuông)
    Nóng hừng hực,
    Tức tràn hông. (54)

    Đỏ hồng hồng,
    Không chán mắt,
    Lo méo mặt,
    Mất công toi

    Đỉa phải vôi,
    Chơi với lửa, (55)
    Thằng ruột ngựa, (56)
    Của trời ơi, (của trời cho)

    Bở như vôi,
    Mời với mọc, (57)
    Oai như cóc, (58)
    Học phải hành.

    Đẹp như tranh,
    Lanh như cắt,
    To con mắt, (cái gì cũng muốn)
    Đắt như vàng.

    Nợ phải mang,
    Ngang cành bứa, (59)
    Truyện cơm bữa,
    Chửa kịp mừng, (60)

    Xăng cà dung, (rộn rang)
    Mừng hỏng cẳng, (nhảy cà tưng)
    Nói bổng chảng, (lớn lối)
    Lặng như tờ. (61)

    Chú thích:
    39- Làm cầm chừng, thủng thẳng.
    40- Dốt có đuôi: quá dốt, dốt như súc vật, như có, như bò … Có sách giảng rằng: “ … Họ cũng là người đỗ đạt trong kỳ thi hội (Tiến sĩ) thi đình hẳn hoi. Số là, sau kỳ thi, những người trúng tuyển được tập trung lại để yết kiến nhà vua. Họ được sắp xếp theo thứ tự người đỗ cao nhất đến người đỗ thấp nhất với áo, mũ, miện … nhà vua ban phát chỉnh tề. Người đứng sau cùng đội chiếc mũ có đai dài vì thế người ta mới chế diễu là “có đuôi”. Rõ ràng, trong mắt sĩ tử và dân chúng thì người đội mũ có đai dài trông như cái “đuôi”, vẫn là người dốt hơn cả so với những người có mặt Từ đó, trong lời ăn tiếng nói của dân, xuất hiện thành ngữ “dốt có đuôi” để chế diễu những người dốt nát.”
    41- Lăn ra như con cù hay con vụ khi hết quay. 42- Nói khỏa lấp sang truyện khác.
    43- Chẳng có sức bao nhiêu. 44- Nói cho đẹp mà vô ích.
    45- Làm việc dại dột và vô ích. 46- Nén giận xuống, không cho trào ra..
    47- Ăn ở không đúng cách nên Trời Phật không giúp cho.
    48- Thù lâu đời, từ kiếp này qua kiếp khác. 49- Cậy thế mà nói át người khác.
    50- Dao của ông thợ dở, không có việc làm nên để lâu không mài (bị cùn lụt).
    51- Thằng đực rựa chỉ người đần độn, ngô nghê. Truyện rằng:
    Hai vợ chồng nhà kia chia gia tài và hẹn rằng: Cứ kể tới đồ vật nào mà gọi bằng “cái” (tức là mái, là phái nữ) thì thuộc về phần vợ. còn vật gọi là “con” thì thuộc phần chồng ….
    Khi chia, tất cả mọi vật đều kêu bằng “cái” nên người vợ lãnh hết, anh chồng chẳng được gì. Cuối cùng chỉ còn “con” dao rựa nhưng người vợ lại hô lên “cái rựa” làm anh chồng hoảng quá, liền cãi là là “con dao rựa” để cố dành lấy cho mình một chút ….
    52- Ngựa không cương chỉ kẻ mạnh, không bị ai kiềm chế được. 53- Xin quẻ bói, hai đồng tiền sấp ngửa.
    54- Tức quá, hơi tức làm căng hông ra. 55- Chơi với thứ dữ, dễ gặp nguy hiểm.
    56- Lòng ruột ngay thẳng. Ruột con ngựa có khúc thẳng.
    57- Mời dơi, mời giả bộ. 58- Cóc có dáng ngồi rất oai.
    59- Cành của cây bứa (một loại măng cụt) mọc ngang như cành bàng.
    60- Cái may mắn tới mà chưa kịp hưởng.
    61- Lặng như tờ: Yên lặng như không, không có một tiếng động nào.
    Có sách giảng: 1- Mặt nước phẳng lặng, không một xao động, không một gợn sóng. 2- Yên ắng vắng vẻ, không một động tĩnh nhỏ nào.
    Theo ý chúng tôi thì:
    Do từ ‘lặng’ được hiểu là vật không rung động (nhìn thấy được) và không khí không rung động. Như thế thành ngữ “Lặng như tờ” có hai cách hiểu:
    - Từ ‘tờ’ chưa mấy ai hiểu rõ, giải thích rõ, nên việc hiểu thành ngữ cũng không được rõ. Trên thực tế, người ta chỉ nói “phẳng như tờ giấy” hay “phẳng như mặt gương” vì có mặt phẳng chứ không ai nói “lặng như tờ” (giấy).
    Như thế thành ngữ “lặng như tờ” được hiểu là im ắng không một tiếng động chứ không phải nằm im không rung động.
    Hơn nữa, chữ ‘tờ’ cho ta biết do chữ “tờ mờ” tức “tờ mờ sáng” là lúc gần sang. Lúc đó, dù trong một khoảng thời gian ngắn, vạn vật còn đang chìm trong im lặng, không có một tiếng động nào. Đây có thể là nghĩa thích hợp cho nghĩa thành ngữ “lặng như tờ”.
    (còn tiếp)
     
  11. Cái bóng Hư Vô

    Cái bóng Hư Vô Công Dân

    Tục Ngữ Ca Dao – Văn Chương Bình Dân

    Tục Ngữ Ca Dao – Văn Chương Bình Dân

    Tục ngữ - Thành ngữ … Thông thường


    Trích phần Tục ngữ, Thành ngữ, Phong dao ... phổ biến, thông dụng trong TNCD quyển 1 – A B C (vì theo thứ tự “an – pha – bê) từ trang 36 trở đi:


    * Anh em đồng hao.
    Anh em bạn rể

    Có thuyết đã giảng:
    ‘Đồng hao’: rau tần ô, tức rau cải cúc.
    Rau này rất dễ mọc và thường mọc hoang ngoài ruộng và có một đặc điểm là rất ít rễ và rễ rất nhỏ, chỉ cần nhấc nhẹ cây rau lên thì rễ bị tróc gốc hết.
    ‘Anh em đồng hao’ là tình anh em hoang hủy, kết hợp vô tình hay hữu ý và rất lỏng lẻo, dễ nhổ, dễ đứt ….
    Lý giải này rất sát với ý nghĩa của ‘cột chèo’ đã kể trên.
    Còn câu ‘anh em bạn rể’ có nghĩa vừa anh em, vừa bạn hữu …

    Anh em kiến giả nhất phận

    Kiến là xây dựng, xếp đặt … (kiến thiết).
    Câu này nghĩa là anh em thì gây dựng theo từng phần, tức là phần người nào thì lo gây dựng cho phần người ấy.
    Câu thí dụ: Đã đành anh em kiến giả nhất phận nhưng đó là nói chung vậy thôi, còn khi cần thì anh em luôn luôn đùm bọc lấy nhau.

    Anh em cốt nhục đồng bào,
    Vợ chồng là nghĩa, lẽ nào không thương.

    ‘Cốt nhục’ là xương thịt. ‘Đồng bào’ là cùng một bọc (sinh ra).
    ‘Nghĩa’ là cách cư xử hợp lẽ, có tình giữa con người với nhau. Câu này ý nói anh em là cùng máu mủ xương thịt, cùng một bọc do cha mẹ sinh ra; vợ chồng là bổn phận và phải cư xử ân tình sâu đậm với nhau thì lẽ nào không thương nhau được.

    Anh than thân phận anh nghèo,
    Vợ con không có, bọt bèo cũng không.

    ‘Bọt bèo’: chỉ những cái nhỏ nhất, nhẹ nhất trôi nổi trên mặt nước, chẳng đáng gì. Nhưng đó cũng là nơi bấu víu cuối cùng của người sắp chết đuối, dù nó chẳng có ích gì.
    Câu này ý nói anh chẳng có nơi nương tựa nào hết, dù là nhỏ nhất, không đáng gì và chỉ gọi là cho có.

    Anh ở sao cho đầm đẹ như rơm,
    Chớ ở lờm xờm như muối lâu năm.

    ‘Đầm đẹ’: Cố kết lại chứng chắc, như một vật mềm được đầm nén chắc lại thành từng khôi, trái nghĩa với ‘lờm xờm’.
    Đúng ra, rơm lúc nào cũng lờm xờm và không khi nào đầm đẹ được. Còn muối thì nếu để lâu năm sẽ cấu kết lại với nhau thành đầm đẹ chứ không lờm xờm.
    Đây là lời cô gái gái cố tình nói ngược lại để ‘nói móc’ anh chàng xưa nay ăn ở không được mặn mà đằm thắm.

    Anh ơi đợi mấy tôi cùng,
    Tôi còn đốt mã cho chồng tôi đây.

    ‘Mã’ (cũng còn nói là mẽ) tức cá bề ngoài. Đốt mã ở đây là đồ hang mã, đồ vật giả làm bằng giấy để cúng và đốt cho người chế ở dưới âm phủ nhận lấy mà dùng.
    Khi làm lễ mãn tang cho người chết (sau ba năm), người ta thường đốt nhiều đồ hàng mã; rồi những năm sau đó có đốt thêm hay không cũng được. Ở đây cô gái muốn nói: tôi đã mãn tang chồng rồi, và đang làm bổn phận với chồng lần chót, trước khi được phép đi lấy chồng khác. Vậy anh hãy ráng chờ tôi …

    Anh về bán ruộng cây đa,
    Bán cặp trâu già chưa cưới được em.

    Anh về thắt rế kim cang,
    Vót đôi đũa bếp, cưới nàng con dư.

    a- Ruộng ở dưới gốc cây đa là loại ruộng tốt vì gần xóm làng. Cặp trâu già là vốn lớn của người làm ruộng.
    Cô gái có ý nói: dù anh có bán hết gia sản đi cũng chưa đủ để xin cưới em. Duyên em cao giá lắm.
    b- ‘Kim cang’ là dây rung rúc, một loại dây leo suông và chắc, thường dùng để thắt kết lại mà làm cái rế loại tốt. Cái rế là vật nhỏ mọn nhưng rất cần thiết trong gia đình. ‘Kim cang’ theo tiếng Hán lại có nghĩa là vàng cứng, tức cao quý và bền vững.
    Đôi đũa bếp tuy nhỏ mọn nhưng cũng rất cần thiết cho mọi gia đình.
    Chàng trai có ý nói: anh chỉ cần làm mấy thứ nhỏ mọn nhưng rất quan trọng và đem đi bán là đủ để cưới hỏi em. Câu này cũng có ý nói anh chỉ cần làm những việc nhỏ thôi cũng lấy được em vì anh có tài và không cần làm việc lớn.

    Anh về gìn giữ giang sơn,
    Uống chè Liên Tử, gẩy đờn Bá Nha.

    Giang sơn, ở đây chỉ gia đình (tiểu giang sơn)
    Liên Tử là hạt sen, chè Liên Tử là loại chè ướp hạt sen.
    Bá Nha: Một người chơi đàn hay có tiếng ở đời Xuân Thu (cách nay gần 3000 năm), cùng với Chung Tử Kỳ là đôi bạn chí thiết. Tử Kỳ có thể nghe tiếng đàn Bá Nha mà hiểu được lòng bạn đang nghĩ gì. Tử Kỳ chết trước, từ đó không còn ai nghe hiểu được tiếng đàn Bá Nha nữa. Một hôm Bá Nha tới ngồi trước mộ của Tử Kỳ, đánh lại hết thảy những bản đàn xưa, đoạn than rằng: “Không còn Tử Kỳ nữa thì ta còn đánh đàn cho ai nghe đây.” Nói rồi, Bá Nha liền đập bể cây đàn và từ đó không chơi đàn nữa.
    Do tích này mà về sau người ta gọi những người bạn thân thiết hiểu nhau như “bạn tri âm”. Tri âm là hiểu được âm thanh tức tiếng đàn.
    Câu này ý nói: anh hãy về lo gìn giữ việc trong nhà, uống trà ngon, kết bạn hiền để cho cuộc đời được thư thái, đừng nên đèo bồng, vướng mắc tình duyên làm gì nữa, thêm phiền.
    (còn tiếp).
     
  12. Cái bóng Hư Vô

    Cái bóng Hư Vô Công Dân

    Tục Ngữ Ca Dao – Văn Chương Bình Dân

    Ca dao Ý đẹp
    Tục ngữ Ca dao

    Tiếp theo đây là trích phần nhì Sưu Tập trong cuốn TNCD quyển 1 – Ý đẹp từ trang 82 trở đi:

    Sưu tập

    Phần con cái

    Đã vụng múa còn chê đất lệch,
    Mắc lỗi lầm còn trách còn hờn.
    Ăn vụng không biết chìu mồm,
    Vừa chạy vừa lòn, bịt mắt bắt dê. (1)

    Nghèo dốt lại nửa quê nửa tỉnh,
    Con nhà lính mà tính nhà quan.
    Nhà nghèo mà lại chơi sang,
    Hay ăn mà chả hay làm, vậy sao.

    Ăn cây nào, rào cây ấy,
    Ăn cơm nhà vác lấy ngà voi.
    Ban ngày còn mảng đi chơi,
    Tối lặn mặt trời, đổ lúa vào xay.

    Học không hay, cày cũng dở,
    Ông không ông, thằng dở dang thằng. (2)
    Lơ là, được chớ hay chăng,
    Gặp đâu sâu đó – Đầu bằng với đuôi.

    Tính biếng nhác, nghĩ xuôi làm ngược,
    Nết lơ là, nói trước quên sau.
    So đũa chẳng kể đuôi đầu,
    Thì con người ấy ai cầu làm chi.

    Đừng uổng phí một thì thơ ấu,
    Lo học hành, mẹ bảo phải nghe.
    Người thì chẳng đáng hòn chì,
    Ba hồn bảy vía đòi đi võng đào. (3)

    Người làm sao, chiêm bao làm vậy, (4)
    Cây gẫy cành, hoa ấy sao tươi.
    Vô duyên chưa nói đã cười,
    Cười gì, cười cũng hở mười cái răng.

    Muốn nên người có gan có chí
    Ghi vào lòng, thắt chỉ cổ tay. (5)
    Con ơi, con học cho hay,
    Có công mài sắt, có ngày nên kim.

    Hãy nhìn xem con chim làm tổ,
    Từng nhánh cây cọng cỏ là bao.
    Tốt đồng thì tốt cù lao, (6)
    Chỉ khó lúc đầu, xỏ chỉ chôn kim. (7)

    Học phải hành, mới tìm ra của,
    Nghèo không làm, một bữa ai cho.
    Đừng làm ra dáng học trò,
    Dài lưng tốn vải, ăn no lại nằm.

    Làm thì nhăn, ăn thì nín,
    Chơi không bịnh, nghe lịnh là đau.
    Học thì con mẹ đau đầu,
    Năng mưa con mẹ chơi đâu ngoài đường.

    Ruột để ngoài da, mắt lâng mày láo, (8)
    Làm thì láo, báo cáo thì hay.
    Đời người chỉ gang tay,
    Ai hay ngủ ngày, chỉ có nửa gang.

    Kìa mấy kẻ, hoang tàng lắt nhắt.
    Ngủ ngày quen mắt, ăn vặt quen mồm.
    Có chí thì được làm quan,
    Có đi thì đến, có gan làm giầu.

    Bé đi câu, lớn đi hầu, già đi đời nợ, (9)
    Trẻ lười biếng, già tựa vào đâu.
    Miếng ngon thì hẳn nhớ lâu,
    Hoa thơm nhớ mãi, lời đau nhớ đời.

    Ăn trông nồi, ngồi trông hướng, (10)
    Nhìn trước sau, ngồi đứng chớ sai.
    Tay làm thì hàm mới nhai,
    Tay quai miệng trễ, có ai nuôi mình.

    Mẹ bảo thì nganh, mẹ ranh bảo nín,
    Một sự bất tín, chín sự cũng thừa.
    Thì giờ thấm thoát thoi đưa,
    Nó đi đi mãi, có chờ đợi ai.

    Đầu gối quá tai, lưng dài tốn vải,
    Là lượt là vợ Thông lại, nhễ nhãi là vợ học trò. (11)
    Giầu đâu đến kẻ ngủ trưa,
    Sang đâu đến kẻ say sưa tối ngày.

    Chú thích:
    1- Trò chơi bịt mắt rồi đi tìm bắt người.
    2- Dở ông, dở thằng
    3- Vua quan thường đi võng hoa đào.
    4- Cốt cách thế nào thì tư tưởng cũng vậy. Đừng lầm với câu “Người làm sao, bồ hao làm vậy” lại có nghĩa là thấy người ta làm sao thì mình cũng nhắm mắt hồ đồ làm theo.
    5- Cột sợi chỉ vào tay để dễ thấy mà ghi nhớ.
    6- Đồng ở đây là loại kim khí mầu vàng dùng đúc chuông, đúc nồi. Cù lao là cái chóp chuông, có hình tròn, để treo chuông. Chữ cù lao này là tiếng Việt, chỉ về vật nổi lên so với mặt nước, mặt đất như cù lao Chàm, cù lao Ré … Cái bếp nồi để nấu lẫu lươn, lẫu dê, có bộ phận nổi lên ở giữa, cũng được gọi là cái cù lao.
    Câu này nghĩa là khi nấu đồng để rót vào khuôn mà đúc chuông, nếu bớt đồng đi thì đồng vẫn chẩy xuống, như thế phần chuông ở dưới vẫn đủ nhưng cái cù lao ở trên (cái quai chuông, cái chỏm chuông) sẽ bị nhỏ bớt đi.
    Nghĩa bóng câu này là người làm công nói với ông chủ rằng “Nay nếu ông có bớt ăn bớt mặc (tiền gạo công) của chúng tôi thì chúng tôi cũng sẽ làm bớt đi. Như vậy, nếu có hỏng việc thì ông chủ bị thiệt thòi, còn chúng tôi chẳng can gì.
    7- Việc xỏ chỉ vào chôn kim là việc quá nhỏ, nhưng cũng quá khó. Nhưng, lại nhưng nữa, tuy quá khó mà lại chỉ khó lúc đầu thôi. Xỏ được rồi thì kéo chỉ đi dễ dàng.
    Câu này nghĩa là một công việc tuy nhỏ mà khó, nhưng chỉ khó lúc đầu thôi, sau đó ai làm cũng được.
    8- Ruột để ngoài da: ý nói bất cứ truyện kín đáo nào cũng nói ra hết.
    9- Đi đòi nợ dùm, lấy công
    10- Ý nói phải có ý tứ, phải biết giữ lễ phép..
    11- Thông lại hay Nha lại là người giúp việc giấy tờ nơi cửa quan.
    (còn tiếp)
     
  13. Cái bóng Hư Vô

    Cái bóng Hư Vô Công Dân

    Tục Ngữ Ca Dao – Văn Chương Bình Dân

    Tục Ngữ Ca Dao – Văn Chương Bình Dân

    TNCD – Dân ca Miền Trung

    Phần tiếp tục trích về các thể điệu, thể loại Dân ca Miền Trung trên theo thứ tự. Trước hết là Hò khoan Thanh Nghệ (TNCD – quyễn 4 - Dân ca miền Trung từ trang 163
    . . . . . . . .

    Dân ca miền Trung (Hò dân chài, Hát dậm, Hát ru, Hàng vải, Ca Huế …)

    A- HÒ KHOAN THANH NGHỆ:
    (tiếp theo) Từ trang 173:

    Tiết Lập Thu, Xử Thử, (Sử Thử)
    Ai diều sáo mặc ai.
    Vàng lác đác giếng tây, (36)
    Ta thương người bạn cộ. (cũ)
    Nhớ mãi người bạn cộ.
    Vừa đến Tiết Bạch Lộ,
    Bầy chim trắng bay sang.
    Cây héo hắt lá vàng,
    Sang Thu Phân, Hàn lộ.
    Đêm em nằm em chộ (37)
    Tiết Sương Giang lại kề.
    Trông bạn cũ ta về,
    Sang Lập Đông giá rét.
    Tiết Tiều Tuyết, Đại Tuyết,
    Trời giá rét lắm thay.
    Sang Đông Chí cấy cày,
    Dạ bồi hồi nhớ bạn.
    Tiết Tiểu Hàn chưa dạn,
    Đã bước sang Đại Hàn,
    Dạ tưởng nhớ người ngoan,
    Vừa năm cùng, tháng tận.
    Vừa cuối mùa, cuối tận
    Phận lại ngồi trách phận,
    Anh thương em từ tháng Giêng cho đến Tháng Chạp.

    Khi máy mắt, khi nhện sa,
    Khi chuột rich trong nhà,
    Khi khách kề ngoài ngõ.
    Tay em đưa go đủng đỉnh (38)
    Tay em đưa chìa khóa động Đào, (39)
    Bước nắm lần cửa, ra chào bạn quen.

    Em đây là con chim Phượng,
    Chị em đó là con chim Nga, (40)
    Từ Bằng sơn bay lại. (41)
    Bướm lại gặp hoa tình,
    Hỏi anh quý tính, phương danh (42)
    Mai ra đường gặp bạn, khỏi mang tiếng vô tình làm ngơ.

    Chú thích:
    36- Lá vàng lác đác rụng ở bờ giếng.
    37- Chộ: gặp, mơ gặp.
    38- Go: bộ phận trên khung cửi.
    39- Động Đào: động đào nguyên, tiên ở. .
    40- Nga là con vịt trời.
    41- Bằng sơn là tên một dẫy núi có chim Bằng ở. Chim Bằng là một loại chim rất lớn.
    42- Quý tính là tên, họ của người đáng kính trọng. Phương danh là tiếng thơm.

    Bi chú:
    1- Lập Xuân, Vũ Thủy: Đầu mùa Xuân, Mưa trận lớn.
    2- Kinh Trập, Xuân Phân: Cào cào châu chấu, ra giữa Xuân.
    3- Thanh Minh, Cốc Vũ: Tảo mộ, cỏ xanh, Bắt đầu mưa.
    4- Lập Hạ, Tiểu Mãn: Đầu mùa Hạ, Có mưa nhỏ.
    5- Mang Chủng, Hạ Chí: Sâu bọ sinh ra, Giữa Hè.
    6- Tiểu Thử, Đại Thử: Nóng ít, Nóng nhiều
    7- Lập Thu, Xử Thử: Đầu mùa Thu, Dứt nóng.
    8- Bạch Lộ, Thu Phân: Sương trắng, Giữa mùa Thu.
    9- Hàn Lộ, Sương Giáng: Sương lạnh, Sương xuống nhiều.
    10- Lập Đông, Tiểu Tuyết: Đầu mùa Đông, Tuyết xuống nhỏ.
    11- Đại Tuyết, Đông Chí: Tuyết nhiều, Giữa mùa Đông.
    12- Tiểu Hàn, Đại Hàn: Lạnh ít, Lạnh nhiều.

    Một năm chia làm mười hai “Tiết” và mười hai “Khí” đi kèm, gọi chung là hai mươi bốn Tiết Khí. Đây là một chu kỳ thời tiết 365 ngày ¼ so với 354 ngày của 12 tuần trăng. Theo Tiết khí thì gọi là Tuế, theo Tuần Trăng thì gọi là Niên (năm).
    (còn tiếp)
     
  14. Cái bóng Hư Vô

    Cái bóng Hư Vô Công Dân

    Tục Ngữ Ca Dao – Văn Chương Bình Dân

    Tục Ngữ Ca Dao – Văn Chương Bình Dân

    Tục ngữ - Phong dao

    I. Gia đình & Sinh sống

    Tiếp theo đây là phần Tục ngữ - Phong dao trong quyển 3 Lòng Son. Mở đầu từ trang 13 trở đi :
    Tiếp theo từ trang 20:
    GIA ĐÌNH & SINH HOẠT

    Cao su đi dễ khó về,
    Khi đi mất vợ, khi về mất con,
    Cao su đi dễ khó về,
    Khi đi xinh đẹp, khi về bủng beo. (48)

    Đàn bà thì phải nuôi heo,
    Thời vận đang nghèo, nuôi chẳng được trâu.

    Đi đâu thì mặc đi đâu,
    Đến ngày giỗ chạp phải mau mà về,
    Dù cho bận rộn trăm bề,
    Đến ngày giỗ chạp phải về cho mau.

    Đồn rằng kẻ Trọng lắm cau,
    Kẻ Cát lắm lúa, Kẻ Mau lắm tiền. (49)
    Đồn rằng chùa Sỏi lắm Tiên,
    Bạch Câu lắm cá, Thạch Tuyền lắm quan. (50)

    Đồng Nai có bốn rồng vàng,
    Lộc kỳ, Lễ họa, Sang đàn, Nghĩa thi. (51)

    Ai về chợ Vạn thì về,
    Chợ Vạn có nghề nấu rượu nuôi heo. (52)

    Đạo làm con dập dìu dưới gối,
    Miếng ngọt bùi sớm tối dâng đưa.

    Không ngoan qua cửa sông La
    Dễ ai có cánh mà qua lũy Thày, (53)

    Bơi Đăm, rước Giá, hội Thày,
    Vui thì vui vậy, chẳng tầy Dã La. (54)

    Dù ai xấu xí như ma,
    Uống nước Đồng Lẫm cũng ra con người. (55)

    Xứ Nam, nhất chợ Bình Hồi
    Xứ Bắc: Vân Khám; xứ Đoài: Hương Canh.

    Mặt vàng đổi lấy mặt xanh,
    Hai tay hai gậy, lậy anh sông Bờ. (56)

    Bình Lãng rút kén ươm tơ,
    Chợ trâu Quỹ Nhất, bánh đa làng Vò. (57)

    Nuôi con không lớn đến giờ
    Trưởng thành con phải phụng thờ hai thân.

    Chiều chiều mây phủ Hải Vân,
    Chim kêu gành đá, gẫm thân thêm buồn. (58)

    Đói lòng ăn trái ổi non,
    Nhịn cơm nuôi mẹ cho tròn nghĩa xưa.

    Tục truyền mồng tám tháng Tư,
    Không đi hội Gióng cũng hư một đời. (59)

    Dốt có đuôi, dòn cười tươi khóc,
    Ăn thì cúi trốc, đẩy nốc la làng. (60)

    Đồng Cống đan rọ, đan sàng,
    Đồng Lai dệt vải, chợ Hàm nhuộm thâm. (61)

    Vải Quang, húng Láng, ngổ Đầm,
    Cá rô Đầm Sét, sâm cầm Hồ Tây. (62)

    Anh em như thể chân tay,
    Rách lành đùm bọc, dở hay đỡ đần.

    Ở đây cơm ghế, mắm chuồn,
    Anh vui ở lại, anh buồn anh đi.

    Tới đây lạ cảnh lạ quê,
    Anh em cùng lạ, bốn bề người dưng.
    Người thương, không thấy người thương,
    Quanh đi quẩn lại, nhớ quê hương thêm sầu.

    Chẳng đi thì nhớ thì sầu,
    Đi thì sợ núi Mầu, gò Suông. (63)
    Chẳng đi thì nhớ thì thương,
    Đi thì lại sợ gò Suông, núi Mầu.

    Chú thích:
    48- Đồn điền cao su.
    49- Thuộc Sơn Tây. 50- Thuộc Thanh Hóa.
    51- Kỳ, họa, đàn, thi: đánh cờ, vẽ tranh, đánh đàn, làm thơ.
    52- Chợ Vạn Phúc, Hà Đông.
    53- Sông Gianh, lũy Trường Dục, giáp ranh Hà Tĩnh và Quảng Bình, do ông Đào Duy Từ xây dựng. Lũy phân chia ranh giới cho họ Trịnh, Nguyễn (Nam Bắc Hà).
    54- Thuộc Sơn Tây, Hà Đông. 55- Thuộc Lạng Sơn.
    56- Thuộc Hòa Bình và Lai Châu, nước độc dễ gây ra bịnh sốt rét.
    57- Thuộc Nam Trực, Nam Định. 58- Thuộc Quảng Nam.
    59- Thờ Phù Đổng Thiên Vương, làng Sóc Sơn, Vĩnh Phúc.
    60- Trốc: cái đầu, Nốc: xuồng đánh cá nhỏ.
    61- Thuộc Thái Bình.
    62- Thuộc Hà Nội, Hà Đông. Sâm cầm là loại chim trời, thịt rất ngon.
    63- Thuộc Nghệ Tĩnh.
    (còn tiêp)
     
  15. Cái bóng Hư Vô

    Cái bóng Hư Vô Công Dân

    Tục Ngữ Ca Dao – Văn Chương Bình Dân

    Tục Ngữ Ca Dao – Văn Chương Bình Dân

    Đồng dao – Lý ca

    Tiếp theo đây là trích phần Đồng dao – Lý ca trong TNCD quyển 11 – Dãi bày II

    ĐỒNG DAO – LÝ CA (Lý ngữ)
    Từ trang 185 trở đi:

    Huê hà huê hưởng,
    Cà cưỡng bay cao,
    Chóp mào bay thấp.
    Cu bay về ấp,
    Én bay về trời.
    Nghe tiếng thầy mời,
    Xuống xơi thịt vịt.
    Người lớn thì ít,
    Con nít thì nhiều.
    Kính thầy bao nhiêu,
    Thầy về cho sớm.
    Thầy thấy đom đóm,
    Thầy tưởng ma trơi.
    Làm đổ sạch rồi,
    Thầy ù té chạy …

    Chữ Hiệu là hiệu,
    Bước chân lên kiệu,
    Chữ Ngưu là trâu.
    Bẻ lá che đầu,
    Chữ Lạp là nón.
    Bắt cái mòn mọn,
    Chữ Canh là cày.
    Bổ đắp trí vây,
    Chữ Điền là ruộng.
    Cầm cây đặt xuống,
    Chữ Khứ là đi.
    Sang đến bên kia
    Chữ Tận là hết.
    Con trâu đã mệt,
    Chữ Tọa là ngồi,
    Chân tay rụng rời,
    Chữ Lao là nhọc …

    Nghe vẻ nghe ve,
    Nghe vè loại cá,
    No lòng phỉ dạ,
    Là con cá cơm.
    Không ướp mà thơm,
    Là con cá ngát.
    Liệng bay thấm thoát,
    Là con cá chim,
    Hụt cẳng chết chìm,
    Là con cá đuối.
    Lớn năm nhiếu tuổi,
    Là cá bạc đầu.
    Đủ chữ xứng câu,
    Là con cá đối.
    Nở mai, tàn tối,
    Là cá vá hai.
    Trắng muốt, béo dai,
    Là cá úc thịt.
    Dài lưng hẹp kích,
    Là cá lòng tong.
    Ốm yếu hình dong,
    Là con cá nhái.
    Thiệt như lời vái,
    Là con cá linh.
    Cá kình, cá ngạc (cá voi, cá mập)
    Cá nác, cá dưa.
    Cá voi, cá ngựa,
    Cá rựa, cá dao.
    Út sào, bánh lái.
    Lăng hái, cá sơn.
    Lờn bơn, thác lác.
    Cá lạc, dầy tho.
    Cá rô, cá sặt,
    Cá sặc, cá tra.
    Mòng gà, dài áo.
    Cá cháo, cá cơm.
    Cá mờn, cá mớn.
    Sặc bướm, chốt hoa.
    Cá xà cá mập.
    Cá tấp, cá sòng.
    Cá hồng, chim điệp.
    Cá ép, cá hoa.
    Còn tiếp
     
  16. Cái bóng Hư Vô

    Cái bóng Hư Vô Công Dân

    Tục Ngữ Ca Dao – Văn Chương Bình Dân

    Tục Ngữ Ca Dao – Văn Chương Bình Dân

    Dân ca Miền Bắc

    (Giao duyên, Đối đáp, Ru em, Đò đưa, Huê tình, Quan họ, Hát đúm, Trống quân, Cò lả, Xẩm xoang, Nhà trò, Chèo thuyền, Kéo gỗ, Chầu văn, Sa mạc, Bồng mạc, Hành vân, Lưu thủy, Bình bán, Hát vè …)

    Tiếp theo đây là trích phần Dân ca Miền Bắc trong TNCD quyển 2 – Lời Hay - từ trang 246 trở đi:

    Ba bốn năm nay lòng thiếp chí thành,
    Nữ nhi nan hóa, sự tình chi chi (15)
    Phận đàn bà như hoa nở một thì,
    Xin chàng nghĩ lại, thiếp tôi thì đội ơn.
    Dù chàng trăm giận nghìn hờn,
    Thiếp xin chàng tời Đào tiên chốn này.
    Có đào Đông thì phụ liểu Tây
    Bơ vơ phận đàn bà con gái, thiếp biết rày làm sao.
    Mong lòng quân tử chí cao.

    Cái sáng trăng suông sáng cả vườn đào,
    Trong ba cô ấy, cô nào còn không,
    Một cô đích thực chưa chồng,
    Để anh tạm chút làm chồng nên chăng,
    Mình về mình nhớ ta chăng,
    Ta về ta nhớ hàm răng mình cười.
    Trăm quan mua lấy miệng cười,
    Mười quan chẳng tiếc, tiếc người răng đen.
    Răng đen ai khéo nhuộm cho mình,
    Để duyên mình đẹp, cho tình anh yêu.
    Trăm con ống sợi chỉ điều,
    Trăm con chỉ ấy buộc vào tay anh.
    Một duyên, hai nợ, ba tình.

    Anh nhất kỳ tâm sao cô hay khéo nhị kỳ tình,
    Vì ai xui dục, khiến cô mình lại nhị kỳ tâm.
    Đêm hôm qua vắng khách tri âm.
    Vắng hoa thiên lý, than thầm cội cây.
    Đêm hôm qua rót dĩa dầu đầy,
    Than thân với bóng, bóng rầy bóng chả có thương.
    Suốt năm canh bế bóng lên giường,
    Ngọn đèn dập tắt, nửa thương nửa cười.
    Bấy lâu nay gần bến xa người …

    Hỡi thằng cu lớn cu bé, cu tí cu tị, cu tì cu ti,
    Con dậy con ăn con ngủ, con bú với bà,
    Để mẹ đi xuất giá, kiếm thêm và chút em.
    Kể từ ngày bố con gục đi, bố con thác đi, bố con chết đi, bóng mẹ đây nó vẫn còn thèm,
    Mẹ xem quẻ bói nói, nó vẫn còn có đàn em ở trong bụng này.
    Con ra, con gọi chú vào đây,
    Để mẹ trao tra cái cơ nghiệp này, mẹ mới bước đi.
    Mẹ nào có dám tiếc gì …

    Tham giầu em lấy thằng bé tí tì ti,
    Làng trên xóm dưới thiếu gì trai tơ.
    Em đem thân em cho thằng bé nó dày vò,
    Mùa Đông tháng giá, nó nằm co trong lòng.
    Cũng mang danh là gái có chồng,
    Chín đêm trực tiết, nằm không cả mười. (16)
    Nói ra sợ chị em cười,
    Má hồng bỏ đó, thiệt đời xuân xanh.
    Em cũng bực mình vì thằng bé trẻ ranh,
    Đêm nằm rờ mó quấn quanh, cho nó đỡ buồn.
    Buồn tình em lại bế nó lên,
    Nó còn bé mọn đã nên cơm cháo gì.
    Nó ngủ nó ngáy khì khì,
    Một giấc đến sáng, còn gì là xuân,
    Chị em ơi, hoa nở mấy lần ?

    Cái sáng trăng suông sáng cả cả cái đêm hôm rằm.
    Nửa đêm về sáng, cái bóng trăng bằng cái ngọn cây tre.
    Anh chót yêu ai cho nó trọn một bề,
    Để em thơ thẩn ngồi kề cái bóng ông trăng.
    Cái sự tình này, ai có thấu mà cho chăng.
    Để em ngồi đợi cái bóng ông trăng chịu sầu.
    Cái mối tương tư, một nhịp đôi ba cầu,
    Bắc Nam đôi ngả chịu sầu đôi ba nơi.
    Cái con chim khôn nó đang chết mệt vì mồi,
    Nó kêu ríu rít, gọi người tình nhân,
    Bấy lâu nay vắng bóng Châu, Trần, (17)
    Làm thân con nhện mấy lần vương tơ.
    Biết đâu trong đục mà chờ …

    Thương thay cho thằng bé lên ba,
    Nó nằm nó khóc giữa nhà năm gian,
    Khóc than giữa chốn linh sàng, (18)
    Ba vuông nhiễu tím, đôi hàng chữ vôi.
    Thương thay người chết thì đã yên rồi,
    Để cho người sống ở đời bơ vơ.
    Ba bốn năm nhang khói, thiếp tôi phụng thờ.
    Đầu đội chữ hiếu, tay quơ chữ tình,
    Chữ hiếu trung thiếp tôi gánh vác một mình,
    Chẳng hay chàng có thấu tình thiếp chăng.
    Chàng đi khuất nẻo hỡi chàng …

    Chú thích:
    15- Đàn bà con trẻ khó giáo hóa.
    16- Trực tiết là giữ tiết hạnh.
    17- Nhà (họ) Châu và nhà Trần kết suôi gia.
    18- Linh sàng là giường thờ.
    (còn tiếp)
     
  17. Cái bóng Hư Vô

    Cái bóng Hư Vô Công Dân

    Tục Ngữ Ca Dao – Văn Chương Bình Dân

    Tục Ngữ Ca Dao – Văn Chương Bình Dân

    Dân ca Miền Nam – Nam Trung

    (Đưa em, Hò Lý, Chèo ghe, Cắt lúa Đối đáp …)

    Tiếp theo đây là trích phần Dân ca Miền Nam, Nam Trung trong TNCD quyển 2 – Lời Hay - từ trang 275 trở đi:

    Đưa em, Hò Lý, Chèo ghe, Cắt lúa Đối đáp …

    Tiên trị kỳ quốc, dược trị kỳ gia. (11)
    Anh đưa em về lo lắng việc nhà,
    Nghề canh cửi, nghề lụa là.
    Để anh đi học dự thi đôi khoa,
    Đậu thì không đặng, cũng mang tiếng con nhà chân nho.
    Một chữ cung thi, hai chữ cũng thi.
    May thì đậu Trạng, dẫu có rớt thì cũng ông “Nghè hồi”. (12)

    Văn chàng đựng không đầy lá mít.
    Võ chàng thiệt đá không bể mảnh sành.
    Võ văn chưa đủ nấu nồi canh,
    Nghe vua treo bảng, cũng xòng xành ra thi.
    Bảng đề không biết chữ chi,
    Hết mài nghiên lại mút viết, có khi hết ngày.

    Tre không trồng, trồng ra nhảy nhánh,
    Mai không uốn, uốn hẳn đơm bông.
    Nhìn xem con gái chưa chồng.
    Tên con đà đặt, nghĩa đạo đồng em chưa. (13)

    Cha mẹ nàng ưng ăn cơm trắng cá thu,
    Gả nàng xuống biển, biệt mù tăm tăm.

    Cha mẹ nàng đòi đi bạc một trăm,
    Anh đi chín chục với mười lăm quan ngoài.
    Cha mẹ nàng đòi vàng bạc, bông tai,
    Anh đi xuống thợ đúc đổi, hai đôi vòng đồng.

    Cha mẹ nàng ham việc tiếc công,
    Cầm duyên em lại, Thu Đông mãn mùa.
    Xuân Hè rồi lại Thu Đông,
    Bốn mùa em cũng gắng công em chờ.
    Chờ chờ đợi đợi làm chi,
    Trai nam nhân có vợ, gái nữ nhi có chồng.

    Anh không thương em, em phải nói cho thông,
    Kẻo bánh em nguội, kẻo lòng em thiu.
    Lòng em thiu em đem về luộc lại,
    Bánh em nguội, đem đãi nước chua.
    Rượu em chua thì đưa hòa dấm,
    Lòng em còn thì tẩm phơi khô.
    Qua đi, em bậu dám lấy chồng mô,
    Lại đây anh kể hết công đồ cho em nghe. (14)

    Rượu một ve, em trả một ve,
    Anh đừng đi lên đi xuống, hàng tre em mòn.

    Mồng ba con trăng méo, sao bạn nói khéo con trăng tròn,
    Ong kia đà hút nhụy sao bạn nói hãy còn ngậm sương.
    Hai đứa ta như bộ chén chung,
    Giấu kín trong mùng, còn lộ tiếng ra,
    Lộ tiếng ra, lộ thẳng về nhà,
    Đòn trăm doi em chịu, hay là chịu chung.

    Tay bưng hộp thiếc, lòng anh chí quyết, cha mẹ bảo đừng,
    Vậy phải chi hồi đó, chúng ta đừng quen nhau.

    Tiếc công anh đào ao thả cá,
    Năm bảy năm trường, người lạ tới câu.

    Tay ta cầm cần câu trúc, ông câu trắc, lưỡi câu thau.
    Muốn câu con cá biển, chứ cá bầu thiếu mô.

    Sông sâu sóng bủa, vắng đó,
    Thương em vì bởi câu hò có duyên.
    Chưa chồng ở vậy cho nguyên,
    Đặng anh dọn chiếc thuyền chuyên rước về.
    Thấy em da trắng muốn kề,
    Hồng nhan cũng đẹp sợ bề có đôi.
    Anh đừng nói vậy anh ơi !
    Hình dung rạng rỡ, có đôi bao giò.

    Em có chồng rồi, xuất giá tòng phu,
    Dẫu có nơi mô lên võng xuống dù, em cũng làm lơ.
    Hồi tiền duyên, khi trai còn nhỏ gái còn tơ,
    Để làm chi không lăng líu, đến bây giờ mới líu lăng.

    Trên trời có một con trăng,
    Khi tròn khi khuyết, huống đạo hằng em không lo. (15)
    Nắng lâu, biển cạn thành gò,
    Sông Ngân cạn nước, anh sắm chiếc đò đưa ai ?

    Chú thích:
    13- Phu phụ đạo đồng là vợ chồng cùng theo một đường.
    14- công đồ là công việc định làm
    15- Đạo hằng là đạo thường có tức Tam Cương Ngũ Thường (vua tôi, cha con, anh em, bạn bè)
    (còn tiếp)
     
  18. Cái bóng Hư Vô

    Cái bóng Hư Vô Công Dân

    Tục Ngữ Ca Dao – Văn Chương Bình Dân

    Tục Ngữ Ca Dao – Văn Chương Bình Dân
    Tục ngữ - Phong dao

    Duyên tình – Bạn hữu

    Tiếp theo đây là trích phần Phong dao – Duyên tình & Bằng hữu trong TNCD quyển 3 – Lòng Son - từ trang 47 trở đi:

    Duyên tình – Bạn hữu

    Nghiêng tai thử hỏi Phật Đồng,
    Trai tơ lấy gái có chồng được chăng.

    Thiếp toan bồng bế con sang,
    Thấy chàng bạc bẽo, thiếp mang con về.

    Đi mô mà chẳng thấy về,
    Hay là ai bỏ thuốc mê cho chàng.

    Đàn tranh dây xế dây xang,
    Anh còn thương bậu, bậu khoan lấy chồng.

    Đàn ông chơi với đàn ông,
    Một trăm gánh đồng, chẳng đúc nên chuông.
    Đàn ông chơi với đàn bà,
    Một đồng tiền gián, đúc ra chuông kềnh. (28)
    Từ đây ôm chịu thất tình,
    Tựa mai mai gẫy, tựa quỳnh quỳnh xiêu.

    Ví dầu nhà dột cột xiêu,
    Muốn đi cưới vợ, sợ nhiều miệng ăn.

    Em ngoan lấy phải chồng đần,
    Cho giỏi mười phần ai biết rằng ngoan.

    Gió đưa liễu ngả, mai oằn,
    Liễu ngả mặc liễu, mai oằn mặc mai,
    Lòng đá thắm, dạ vàng phai,
    Hơi đâu đeo đuổi đường dài uổng công.

    Chi ngon bằng gỏi cá nhồng,
    Chi vui bằng được tin chồng vinh quy. (29)

    Gái khôn lớn đã đến thì,
    Để mẹ sắm sửa cho đi lấy chồng,
    Mẹ sắm cho con cái yếm nhất phẩm hồng (30)
    Thắt lưng đũi tím, đôi vòng đeo tay.
    Xà tích bạc sắm đủ một dây (31)
    Dép cong nón trẫm với dây thao điều.
    Đôi tằm vàng rực con đeo, (32)
    Hộp trầu ống sáp mang theo bên mình.
    Quần là áo lụa thật xinh,
    Khăn nhung con quấn, một tấm khăn xanh con cầm.

    Thôi thôi dụi đuốc đi thầm,
    Còn duyên đâu nữa, mua trầm bán hương.

    Chiều chiều xách chén mua tương,
    Thấy anh trong trường cầm viết ngó ra.
    Trở về mua lụa đậu ba, (33)
    Cắt áo cổ giữa mà tra nút vào.
    Hỏi thăm anh học trường nào,
    Đặng em mua giấy bút giử vào cho anh.

    Chèo mau để thiếp gặp anh,
    Hai ta hiệp lại cho thành một đôi.

    Có trầu có vỏ, không vôi,
    Có chăn không chiếu, không người nằm chung.
    Anh về sương gió lạnh lùng,
    ở đây chung gối chung mùng với em.

    Sông Thao nước đục người đen,
    Ai lên phố Én cũng quên đường về. (34)

    Anh về sao được mà về,
    Dây giăng tứ phía, tính bề gặp anh.
    Dây giăng mặc kệ dây giăng,
    Ông Tơ bà Nguyệ đón ngăn cũng về.

    Chú thích:

    28- Đàn ông chơi với đàn bà,
    Một đồng tiền gián, đúc ra chuông kềnh.
    Ngày xưa có hai loại tiền: tiền gián là tiền nhỏ, tiền quý là tiền lớn.
    Tiền gián (sử tiền) ăn 36 đồng tiền kẽ.
    Tiền quý (cổ tiền) ăn 60 đồng tiền kẽm.
    Như vậy tiền gián bằng 36/60 hay 3/5 tiền quý, hay 5 gián bằng 3 quý. Cả hao loại tiền này làm bằng đồng hay kẽm.
    Thơ có câu: Rồng gián thí năm, quý có ba. Nghĩa là một đồng tiền nhỏ có thể đúc thành một cái chuông lớn. Ý nói một việc nhỏ có thể gây thành việc lớn. Kềnh là to lớn.
    Ở đây ý nói đàn ông và đàn bà chơi với nhau sẽ gây nên chuyện lớn. Tiếng “kềnh” ở đây ám chỉ bụng to kềnh tức có chửa (có bầu).
    29- Thi đỗ trở về vẻ vang. 30- Loại nhất, mầu đỏ.
    31- Dây đeo chìa khóa. 32- Bông tai.
    33- Đậu ba sợi tơ nhỏ lại mà dệt.
    34- Thuộc Việt Trì, Phú Thọ.
    (còn tiếp)
     
  19. Cái bóng Hư Vô

    Cái bóng Hư Vô Công Dân

    Tục Ngữ Ca Dao – Văn Chương Bình Dân

    Tục Ngữ Ca Dao – Văn Chương Bình Dân

    Tục ngữ - Phong dao.

    Tiếp theo đây là trích phần Đồng Dao – Lý Ca trong TNCD quyển 3 – Lòng son từ trang 150 trở đi:

    4- Đồng Dao – Lý Ca (Lý Ngữ)

    Nửa đêm gà gáy o o,
    Sao anh không ngủ, anh bò đi đâu ?
    Nửa đêm gà gáy o o,
    Tao ngủ chẳng được, tao bò tao chơi.
    Nửa đêm gà gáy o o,
    Của dì dì giữ, ai bò mặc ai.

    Trèo lên cây khế nửa ngày,
    Váy thời tụt xuống, lưỡi cày thò ra.
    Lưỡi cày méo mó bể ba,
    Muốn đem đòn gánh mà tra lưỡi cày.

    Chuồn chuồn có cánh thì bay,
    Có thằng be bé bắt mày chuồn ơi.
    Chuồn chuồn có cánh thì bay,
    Có thằng khập khễnh thò tay bắt chuồn.
    Chuồn chuồn có cánh thì bay,
    Có thằng bụng ỏng bắt mày đem chôn.

    Ví dầu cậu giận mợ hờn,
    Cháu theo cùng cậu kéo đờn cậu nghe.
    Kéo đờn, cháu kéo te te,
    Ú liêu sang xự, xàng xê liêu hồ.

    Học trò cao cẳng dài giò,
    Chân đi ngoài ngõ, miệng thò trong mâm.
    Học trò ăn vụng càng cua,
    Bà thày bắt được, tôi mua tôi đền.

    Học trò, học trỏ, học trò,
    Chưa xong ba chữ đã lo vét nồi.

    Gió đưa lúc lắc cột chòi,
    Đồ đen như mọi mà đòi vợ xinh.

    Ví dầu con cá nấu ccanh,
    Bỏ mắm cho ngọt, bỏ hành cho thơm.

    Khen ai khéo bắc cầu trum,
    Cầu trum lắc lẻo, té ùm xuống sông.
    Khen ai khái bắc cầu Kè,
    Cái Thia đi trước, Cái Bè đi sau. (1)

    Chiều chiều ông Lữ đi câu,
    Sấu ăn, ông Lữ chuồi đầu xuống sông.
    Chiều chiều ông Lữ đi cày,
    Trâu tha gẫy ách, khoanh tay ông ngồi.

    Chồng què lấy vợ xà lai,
    Mượn được đứa ở lại sai bánh chè.

    Khôn thì ăn cháo ăn chè,
    Dại thì ăn đếch ăn đác, ăn ghe cái “đồ”

    Ba bà đi chợ đường cồn,
    Vừa đi vừa nhổ lông “đồ” xỉa răng.
    Ba bà đi chợ sáng trăng,
    Vừa đi vừa hái lá găng chùi “đồ”.
    Ba bà đi chợ đường dài,
    Vừa đi vừa hái lá khoai quạt “đồ”.

    Con cò nó mổ con lươn,
    Bớ chị ghe lườn muốn tía tôi chăng.
    Tía tôi lịch sự quá chừng,
    Cái đầu mốc thếch, cái lưng chờm bờm.

    Vô duyên lấy phải chồng khòm,
    Mai kia nó chết, cái hòm khum khum.

    Mẹ em đẻ em trong chum,
    Lấy nắp mà đậy, khăn trùm lên trên.

    Học hành ba chữ lem nhem,
    Thấy gái thì thèm như chửa thèm chua.

    Ví dầu cá bống xích đu,
    Tôm càng hát bộ, cá thu cầm chầu.

    Anh thương em không biết để đâu,
    Để trong cái hũ, lâu lâu lại dòm.
    Anh thương em không biết để đâu,
    Để trong khúc gỗ, hai đầu sơn son.
    Anh thương em không biết để đâu,
    Để trong thúng cám, để đầu chuồng heo.

    Rập rình nước chảy qua đèo,
    Bà già tấp tểnh mua heo cưới chồng.

    Cô kia cắt cỏ bên sông,
    Cái váy thì ngắn, cái lông thì dài.
    Thuyền chài nó trả quan hai,
    Thưa rằng không bán, để dài quét sân.

    Chuốt chù rúc rich ngoài sân,
    Mèo muốn tới gần mà chuột không cho.

    Lấy anh, anh sắm sửa cho,
    Cái bị cái bát, cái mo đuổi ruồi. (2)

    Chú thích:
    1- Thuộc Bến Tre, Mỹ Tho.
    2- Đồ dùng để đi ăn mày.
    (còn tiếp)
     
  20. Cái bóng Hư Vô

    Cái bóng Hư Vô Công Dân

    Tục Ngữ Ca Dao – Văn Chương Bình Dân

    Tục ngữ Ca Dao

    Trích Phần hai: Một số thành ngữ ba tiếng của cuốn “Tâm Hồn Mẹ Việt Nam (Tục ngữ Ca dao) quyển mười hai (12) Dãi Bày III.
    Từ trang 264 trở đi:

    Thành ngữ

    Đẹp như mơ,
    Lo sốt vó, (62)
    Cua trong giỏ,
    Trổ hoa cà. (63)

    Nói mở ra, (64)
    Cha thằng Cuội, (65)
    Trượt vỏ chuối, :) thi rớt)
    Tưới hoa sen. (66)

    Đít lò rèn, :) lọ lem)
    Lên giọng óc, :) dạy đời)
    Mày vảy ốc, :) quá nhỏ bé)
    Cóc bôi vôi. (67)

    Làm lấy rồi,
    Bôi lọ nghẹ, :) bôi xấu)
    Đồ chó đẻ, (68)
    Bẽ cái lầm. (69)

    Đồ lạm xạm :) thô kệch)
    Làm một sắp :) một hồi)
    Chắc như bắp (70)
    Đạp phải gai :) tai nạn bất ngờ)

    Nói phân hai, :) không nghiêng bên nào)
    Chai đầu gối, :) quỳ lạy nhiều quá)
    Thằng đốt lói, (71)
    Đói dễ ăn

    Nợ gặm gân, :) nợ dai, khó đòi)
    Quần lá tọa, (72)
    Kiện bà góa, (73)
    Cá lỡ chiều, (74)

    Đi mất tiêu,
    Nghèo sinh khó,
    Công tử vỏ, (75)
    Chó cắn quanh. (76)

    Sạch sành sanh :) hết trơn hết trọi)
    Xinh như mộng :) đẹp như mơ)
    Trần như nhộng,
    Bụng đói meo. (77)

    Ăn như mèo, :) ăn ít)
    Đeo như đỉa,
    Áng (án) bóng vía, (78)
    Ỉa không ra. (79)

    Xấu như ma,
    Gà gáy gở, :) điềm xấu)
    Đòn hội chợ, (nhiều người xúm lại đánh)
    Vợ chồng Ngâu. (80)

    In như nhau,
    Sâu như bể,
    Làm lấy lệ, :) cho có, không cần đúng, tốt đẹp …)
    Bé hạt tiêu. :) nhỏ mà hay, giỏi)

    Chú thích:
    62- Lo sốt vó: lo sợ rất nhiều, chỉ muốn chạy trốn.
    63- Trổ hoa cà: trổ mã đẹp. 64- Nói gỡ ra là nói để gỡ thế bí cho người khác.
    65- Cha thằng Cuội: Nói láo (như Cuội)
    66- Tuới hoa sen: Vòi tưới giống hoa sen, có nhiều lỗ nhỏ để nước thoát ra. Thành ngữ “Nói tưới hoa sen” chỉ sự nói nhiều, làm nhiều …
    Có nhiều người thường nói “nói tưới hạt sen hay làm tưới hạt sen … Như thế e không đúng cách ví …
    67- Cóc bôi vôi: chỉ loại người bám víu vào người khác nhưng không rời bỏ được cái gốc của mình như bôi vôi vào cóc rồi thả nó đi chỗ xa khác, nhưng ít lâu sau, nó cũng trở về chỗ cũ.
    68- Đồ chó đẻ: đồ hèn mạt, đồ dơ dáy, chỉ hạng người xấu xa đê tiện …
    69- Bẽ cái lầm: (bẽ chứ không phải bé) bị bẽ bàng, xấu hổ, ngượng mặt vì sự lầm lỡ của mình.
    Xưa nay, các sách thường ghi: bé cái lầm và có sách đã giảng là lời mỉa mai người mắc lỗi lầm lớn.
    Như thế, theo ý chúng tôi thì tại sao ‘bé’ lại giảng là ‘lớn’.
    70- Bắp: ống tròn đặc cứng (như bắp cày, bắp tay, trái bắp …)
    71- Làm việc phá hoại vô ích – Lói là loại pháo lớn, pháo nhói)
    72- Quần rộng, dài, lòa xòa như tàu lá.
    73- Tranh giành với người yếu thế (bà góa)
    74- Hàng tốt, quý … mà lỡ mất dịp dùng. Chữ chiều chỉ chợ chiều.
    75- Người sang trọng qua lớp vỏ bên ngoài.
    76- Kẻ dữ làm hại người thân cận.
    77- Meo là mốc meo, không có gì …
    78: Che lấp, cản trở … tài năng, tinh thần … của người nào đó)
    79- Có hai nghĩa: a- Vứt bỏ cái xấu xa, nguy hại mà không được.
    b- Chỉ sự keo kiệt.
    80- Chỉ vợ chồng thường phải ngăn cách, ít gặp nhau.
    (còn tiếp)
     

Chia sẻ, giới thiệu đến bè bạn