Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!

Tháng Giêng bão tuyết

Chủ đề trong 'Kiến Thức Khắp Nơi' do lltran khởi đầu 9 tháng Giêng 2011.

  1. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    Dế Mèn mở bản tin tháng Giêng,
    Mời bạn...
     
  2. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    Quán ăn, người máy và hệ thống tự động

    [​IMG]

    *Hình của công ty Kura

    Nhật Bản đang trong thời kinh tế mùa thu, hàng quán thi nhau đóng cửa vì lỗ lã và phá sản thì công ty Kura lại ăn nên làm ra. Công ty này là chủ nhân của mấy trăm nhà hàng “revolving sushi”.

    Kura có chi khác biệt khiến họ thành công so với các nhà hàng khác thua lỗ? Hiệu năng bạn ạ, họ tiết kiệm nhân lực tối đa qua việc sử dụng máy móc. Món sushi được chế biến bởi người máy, không có ông đầu bếp nào nhúng tay vào việc cuốn sushi, và máy móc chế biến sushi đều đặn, nhanh chóng gấp mấy mươi lần một ông đầu bếp chuyên nghiệp!

    Nhà hàng Kura cũng chẳng có mấy người dọn bàn, chủ quán dùng hệ thống dẫn chuyển để đưa các dĩa sushi đến quầy ăn, hổng có ai bưng, ai dọn ráo. Khách ăn cứ việc chọn thức ăn chạy rà rà qua trước mặt, mỗi dĩa đánh dấu bằng "bar code" đàng hoàng, cứ theo đó mà tính tiền, đếm thời gian xem dĩa sushi kia đã chạy quanh mấy vòng, bao nhiêu lâu mà không có ai mua ... Dĩa nào "cũ" thì máy sẽ đẩy ra ngoài.

    Muốn ăn những món đặc biệt như canh và mấy món khác? Thực khách cứ việc dùng màn hình trước mặt, tha hồ chọn và nhấn nút; các món đặc biệt sẽ theo một hệ thống dẫn chuyển riêng mà mang tới bàn ăn.

    Ăn xong, thực khách cứ việc bỏ dĩa vào một khay khác, cũng theo hệ thống tự động đưa chén dĩa bẩn qua máy xịt nước, xà bông, sấy khô rồi chạy vào nhà bếp chờ người máy dùng tiếp! Tóm tắt là hầu hết mọi dịch vụ trong hàng quán đều được máy móc đảm đương!

    Đến đây hẳn bạn đang tự hỏi làm thế nào mà người máy biết gói sushi theo từng loại, miếng cá miếng tôm lớn nhỏ ra sao? Công ty Kura này có sẵn một trung tâm điều khiển, nơi mỗi miếng cá đều được cắt, xén, cân, đong, đo, đếm theo kích thước định sẵn bởi những người phụ bếp chuyên nghiệp. Từ đó, các nguyên liệu để làm món ăn được gửi đến mọi chi nhánh khắp Nhật Bản. Người quản lý chi nhánh Kura chỉ việc nhận hàng rồi xếp vào máy các nguyên liệu cần thiết và bấm nút. Xong.

    Từ trung tâm điều khiển, những người điều hành theo dõi các màn hình thu nhận hình ảnh từ 262 quán ăn Kura khắp nơi, và nhắc nhở lặt vặt như "giữa 2 dĩa sushi là một khoảng trống cỡ 1 thước, cần điều chỉnh...".

    Theo ông Takeshi Hattori, phát ngôn viên của công ty Kura, họ tiêu xài 10 triệu Yen cho việc trang bị máy móc tại mỗi chi nhánh, số tiền này so với lương nhân công thì quá rẻ nên công ty tiết kiệm khá nhiều tiền thay cho phí tổn lương nhân công. Mỗi nhà hàng chi nhánh chỉ cần mướn khoảng chục người từ phụ bếp đến dọn dẹp là quán ăn dư sức phục vụ 200 thực khách một cách hữu hiệu.

    Ông Hattori còn hoan hỷ mà công bố rằng nhà hàng Kura không chỉ nhắm đến hiệu năng, mà còn muốn làm vui lòng thực khách, và khách hàng của Kura rất hài lòng vừa ý, ưa thích việc dọn dĩa ngay vì mấy bà mấy cô không muốn kẻ khác thấy họ đã ăn bao nhiêu phần!

    Nhanh chóng, sạch sẽ và vừa túi tiền, mỗi dĩa sushi khoảng 100 Yen (cỡ 1.22 Mỹ Kim theo hối xuất hiện nay) là tiêu chuẩn làm ăn của công ty Kura, và họ thành công lớn. Không chỉ công ty Kura mà các nhà hàng làm ăn theo kiểu "tự động" cũng phát tài. Trong những năm 2003-2009, các nhà hàng "tự động" chiếm được 42% thị trường, mãi lực lên đến 428 tỷ Yen trong khi các hàng quán sushi hạng sang từ từ dẹp tiệm và các đầu bếp chuyên cuốn sushi cũng mất dần công việc làm.

    Theo bản phân tích thương mại của Deutsche Bank, kỹ nghệ hàng quán ăn uống tại Nhật Bản đang xuống dốc, làm ăn thua lỗ vì nhiều yếu tố. Đáng kể nhất là thói quen đi ăn nhà hàng của người Nhật; mức lương bổng đã giảm khoảng 12% trong thập niên vừa qua, lương trung bình là 4.05 triệu Yen, cỡ 49,300 Mỹ Kim vào năm 2009. Lương ít đi nên cách tiêu xài thay đổi là điều dễ hiểu; một nhân viên Nhật tiêu xài trung bình khoảng 163,000 Yen tại hàng quán vào năm 2009, giảm 27% so với mức tiêu xài của năm 2000.

    Một yếu tố khác, người Nhật bớt dùng thời giờ cho việc ăn uống, cỡ 7 tiếng và 52 phút mỗi tuần trong thập niên 90 so với 2 tiếng và 25 phút trong năm 2010.

    Ngoài ra, số người Nhật vào tuổi vàng lại gia tăng, càng lớn tuổi các cụ lại càng ít thăm viếng hàng quán.

    Trong khi ấy, các công ty, hãng xưởng lại thắt lưng buộc bụng tiết giảm các món tiêu xài trong việc khoản đãi khách hàng. Mức tiết giảm lên đến 50% so với thập niên trước.

    Thu góp mọi yếu tố kể trên, ta có thể nhận ra rằng kỹ nghệ hàng quán, đã có lúc mãi lực lên đến 29.7 trillion Yen vào năm 1997, hoàn toàn tùy thuộc vào kinh tế, khi kinh tế suy thoái, kỹ nghệ này suy sụp theo. Nhiều hàng quán đã phá sản, riêng trong năm 2009, 674 công ty (có số nợ trên 10 triệu Yen) khai phá sản vì thua lỗ.

    Như thế, công ty nào biết làm ăn theo tình trạng kinh tế vẫn có thể thành công, điển hình là công ty Kura và các hàng quán "tự động" hay quán "ăn nhanh ăn liền" như tửu lầu MacDonald, KFC của Hoa Kỳ. Tiết giảm mọi phí tổn, giá cả vừa túi tiền là có thể thu hút được thực khách, lấy "số đông" làm lợi nhuận. Bằng chứng? Công ty Kura công bố số lợi tức gia tăng 20%, 2.8 tỷ Yen, trong năm 2010, họ mới mở thêm 7 chi nhánh khác để tiếp tục kiếm bạc!
     
  3. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    Chứng Alzheimer và cách trị liệu mới

    [​IMG]

    Chứng Alzheimer đã khiến người bệnh trở thành một gánh nặng cho thân nhân và những người chăm sóc. Ngoài việc bệnh nhân hoàn toàn tùy thuộc vào sự chăm nom giúp đỡ từ miếng ăn đến vệ sinh thân thể, bệnh nhân còn có thể trở nên bất kham, dễ nóng giận, mất kiểm soát cảm tính nên la hét, chửi bới hành hung kẻ chăm sóc mình.

    Sau nhiều lần như thế, không mấy trung tâm điều dưỡng muốn chăm sóc các bệnh nhân “bất kham” (impossible) này; do đó, họ bị di chuyển từ nơi này sang nơi khác. Đây là một vấn nạn khó giải quyết cho thân nhân: Chăm sóc tại nhà không được mà chuyển đến trung tâm điều dưỡng cũng không xong.

    Gần đây, một khuynh hướng trị liệu mới đang được thử nghiệm và kết quả sơ khởi rất khả quan. Khuynh hướng trị liệu mới dựa trên nguyên tắc “để bệnh nhân làm những điều họ muốn”, ngay cả những thói quen không tốt. Danh sách "cho phép" này khá dài, từ việc để bệnh nhân ôm búp bê và mớm thức ăn, đến uống rượu, ăn những thức ăn thiếu dinh dưỡng. Điều đầu tiên ta quan sát được là khi tiếp tục sống theo thói quen, các bệnh nhân hung hăng dữ tợn trở nên hòa hoãn hơn dù trên nguyên tắc dinh dưỡng hay y tế, các thói quen nọ không mấy "tốt" cho bệnh nhân.

    Sống theo thói quen

    Một số trường hợp điển hình về cách sống theo thói quen như việc một bà cụ già ôm búp bê không rời tay, và lầm lẫn rằng đó là đứa con nhỏ của mình, kèm theo chiếc mền quen thuộc. Hình ảnh một cụ già ôm búp bê không được mấy người cho là "bình thường" và chấp nhận nhưng những y tá lại hoan nghênh nhiệt liệt vì người bệnh trở nên dễ chịu hơn, chịu ăn uống và mớm cả thức ăn cho búp bê. Họ lý luận rằng nếu chỉ cần một con búp bê để giúp người bệnh bình tâm, đâu có tai hại gì đến kẻ khác, tại sao lại không?

    Trường hợp khác, có cụ đòi ăn chocolat suốt ngày, có cụ đòi uống một hai ly rượu, có cụ đòi dùng loại nước hoa quen thuộc, đeo nữ trang đầy mình ... Cụ già khác cứ loay hoay sắp xếp thùng đồ nghề đi câu suốt đêm, cứ lấy ra rồi xếp vào chỗ cũ liên tục mấy chục lần. Khi ép cụ đi ngủ, người chăm sóc đã gặp một phản ứng dữ dội, ông cụ la hét quẫy đạp và khi về phòng đã gọi số cấp cứu!

    Sau khi quan sát ông cụ thích đi câu nọ, trung tâm điều dưỡng quyết định chiều theo ý muốn, để ông cụ xếp đặt thùng đồ nghề câu cá bất kể chuyện lo âu rằng những lưỡi câu sắc có thể rủi ro gây thương tổn. Người bệnh tỏ ra dễ chịu hơn và người chăm sóc cũng bớt nhọc nhằn.
    Tạm hiểu là người bệnh có khuynh hướng sống theo thói quen cũ dù họ đã mất trí nhớ và lẫn, những thói quen xưa cũ giúp người bệnh cảm thấy dễ chịu hơn.

    Dùng cách chăm sóc thích hợp với bệnh nhân còn bao gồm cả việc uyển chuyển với thời khóa biểu: Thay vì áp dụng cách chăm sóc thông thường, giờ ăn, ngủ, giải trí, làm vệ sinh ... theo thời khóa biểu nhất định, khuynh hướng trị liệu mới tìm cách thích nghi với bệnh nhân để họ ăn ngủ theo ý muốn, thức ăn sẵn sàng suốt ngày, muốn ăn là có bất cứ lúc nào. Trò giải trí cũng được thích nghi theo thói quen, để bệnh nhân chọn lựa điều họ muốn thay vì gom chung bệnh nhân và một món giải trí định sẵn.

    Thức ăn nhạt nhẽo, nấu nướng theo tiêu chuẩn bổ dưỡng thường ít mỡ, ít đường, nhạt muối ... nên thường là những món không mấy hấp dẫn, ngon miệng. Điều dễ hiểu là không mấy bệnh nhân muốn ăn uống, do đó, người bệnh thường bỏ ăn và suy dinh dưỡng. Điều đáng kể hơn là đến bữa, bệnh nhân thường "bận rộn" với những người và việc xảy ra chung quanh trong phòng ăn tập thể, họ không thể tập trung vào việc ăn uống, nhai nuốt thực phẩm, nhưng rồi sau đó lại la hét, khó chịu vì bụng cồn cào đói. Nhiều người đã mất khả năng diễn tả là họ đói, cần thức ăn, chỉ có thể kêu la vì khó chịu. Các trung tâm điều dưỡng “cấp tiến” đã bắt đầu để thức ăn sẵn sàng giúp người bệnh dễ chịu hơn, khát thì uống, đói thì ăn thay vì dùng thời khóa biểu nhất định. Các món ăn hoàn toàn theo ý muốn của bệnh nhân, hamburger, bacon ... những món ăn vừa miệng bất kể lượng mỡ, muối được cung cấp thả cửa ... Các cụ không cần kiêng khem chi cả.

    Việc vệ sinh cá nhân cũng được gia giảm: Chỉ dùng tã lót khi bệnh nhân hoàn toàn mất trí, lẫn lộn. Khi bệnh nhân còn nhận biết, người chăm sóc cần dẫn đưa họ vào nhà vệ sinh thường xuyên, thay vì ép người bệnh mặc tã. Việc thay tã lót tốn nhiều thời giờ và sức lực hơn so với việc dẫn đưa bệnh nhân vào nhà vệ sinh thường xuyên. Điều này quan trọng với người chăm sóc và cả bệnh nhân, duy trì chút "độc lập" còn sót lại.

    Ngoài ra còn có khuynh hướng dùng nghệ thuật, âm nhạc để giúp người bệnh giải trí, dễ chịu thay vì cách sống gò bó theo giờ giấc, kỷ luật chung của trung tâm điều dưỡng.

    Các cuộc thử nghiệm cho thấy rằng dù sự nhận thức (cognition) của người bệnh đã hao mòn, mất mát, gây lẫn lộn nhưng cảm tính (emotion) vẫn còn đầy đủ; các cụ bị Alzheimer vẫn khóc lóc hoặc cười vui khi xem các cuộn phim gây xúc động. Những người mất trí nhớ càng nặng càng giữ lại cảm tính sâu đậm hơn, nghĩa là buồn rầu hoặc vui vẻ lâu hơn sau khi đã xem phim ảnh. Dù quan sát và nhận định như thế nhưng khoa học chưa giải thích được tại sao sự kiện này xảy ra.

    Các cuộn phim vui nhộn, do đó mang đến những tiếng cười, những niềm vui ngắn.

    Một sự chuyển hướng đáng kể khác: Thay vì dùng dược phẩm để thay đổi cảm tính của bệnh nhân, các chuyên viên y tế bắt đầu một số kỹ thuật khác như thay đổi khung cảnh chung quanh:

    - sơn màu tươi sáng cho căn phòng, vật dụng chung quanh,
    - thắp đèn sáng trưng để các cụ dễ thấy đường
    - đặt cảnh trí để ngăn ngừa việc bệnh nhân bỏ trốn như đặt trạm xe bus giả trong khuôn viên trung tâm điều dưỡng để các cụ khỏi lang thang đến nơi xa lạ; các cụ này cứ đứng chờ cho đến khi quên mất là họ muốn đi đâu, hoặc đến khi mỏi chân rồi chịu trở lại phòng; đặt thảm màu đen (hình ảnh của lỗ hổng) trước thang máy khiến các cụ ngừng chân không bước vào thang máy để chạy trốn…

    Một khuynh hướng trị liệu khác là tích cực giúp đỡ, huấn luyện người chăm sóc bệnh nhân bị Alzheimer. Khi người chăm sóc được huấn luyện và giúp đỡ thường xuyên, việc chăm sóc bệnh nhân mất trí trở nên dễ chịu đựng hơn và người chăm sóc có thể làm việc lâu dài hơn thay vì tìm cách đổi nghề, tìm công việc khác.

    Dùng môi trường chung quanh để thay đổi cảm nhận của người làm việc cũng là yếu tố quan trọng. Công việc chăm sóc kia không chỉ là một việc làm nhàm chán, mệt nhọc về thể xác lẫn tinh thần mà là một việc làm có tính cách nhân đạo, giúp người bệnh trải qua những ngày cuối đời một cách êm ả, tại một nơi an toàn. Một thí dụ đơn giản như dùng tên gọi để tạo những hình ảnh có ý nghĩa như Vermilion Cliffs, hình ảnh của những ngọn núi bị soi mòn dưới ánh nắng rực rỡ nhắc nhở ta rằng núi muôn đời vẫn là núi dù hao mòn; như con người dù bị bệnh tật bào mòn trí tuệ, con người vẫn đẹp đẽ.

    Nói chung, để thích ứng với bệnh nhân và chăm sóc họ hữu hiệu hơn, các trung tâm điều dưỡng bắt đầu thu góp các dữ kiện chi tiết về đời sống hằng ngày của mỗi "người cư ngụ" (danh xưng được dùng thay cho "bệnh nhân") và chăm sóc một cách uyển chuyển, cá nhân. Khuynh hướng điều trị này đã mang lại nhiều kết quả tốt đẹp và rất thành công. Chữa trị bệnh Alzheimer còn là một bước tiến chậm nhưng việc chăm sóc bệnh nhân một cách hiệu quả đã tiến một bước khá dài.
     
  4. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    Làm gì với rác điện tử?

    [​IMG]

    Cuối năm là dịp người ta tặng quà, mua bán, trao đổi những món hàng kể cả vật dụng điện tử như máy điện toán, điện thoại di động, iPod, BlackBerry... Nói chung, dân Huê Kỳ có khoảng 3 tỷ món vật dụng điện tử, và đổi khoảng 400 triệu món mỗi năm. Cuối năm ngoái, 2010, theo the Consumer Electronics Association, trung bình mỗi người Huê Kỳ đã tiêu xài khoảng 232 mỹ kim cho một sản phẩm điện tử và mỗi nóc gia dùng khoảng 25 vật dụng điện tử. Tạm hiểu là nhà nào cũng có vật dụng điện tử để dùng và cần vứt bỏ.

    Có vật dụng mới thì người ta làm gì với những món hàng đã cũ? Người tiếc của thì giữ lại trong kho (không biết để làm gì dù không dùng nữa?), kẻ đem cho người khác hoặc đem vứt bỏ.

    Vứt bỏ đã đành nhưng vật dụng điện tử phế thải, gọi nôm na là "rác điện tử", cần được vứt bỏ một cách cẩn thận, không thể quăng vào thùng rác như miếng thịt ôi, bó rau héo vì rác điện tử chứa những hóa chất hoặc kim loại gây bệnh tật cho con người.

    Tổ chức Demos, một tổ chức chuyên về "public policy" tìm kiếm và soạn thảo những dự luật liên quan đến đời sống quần chúng, công bố rằng chỉ có 14 % số rác điện tử được "tái dụng", 86% kia bị bỏ vào thùng rác hay lang thang đến đâu, ta chưa rõ.

    Như vậy, làm thế nào để vứt bỏ rác điện tử một cách an toàn?

    Cơ quan Bảo Vệ Môi Sinh của chính phủ liên bang Hoa Kỳ (The Environmental Protection Agency hay EPA) đã công bố một danh sách khá dài bao gồm những địa điểm nhận rác điện tử, nhận những vật dụng điện tử đã cũ nhưng còn sử dụng được.

    Ngoài ra một số các công ty buôn bán vật dụng điện tử cũng mở cửa nhận vật phế thải để họ có thể đem cho, đem tái dụng.

    Best Buy là công ty dẫn đầu trong việc tái dụng đồ điện tử, họ đã làm công việc này từ 2 năm nay, người tiêu thụ có thể mang đến đó, không giới hạn, những thứ như CD, DVD, "rechargeable batteries", điện thoại di động. Những vật dụng lớn, giới hạn là 2 món, như TV, màn hình khoảng 32 phân Anh, máy điện toán C.P.U., VCR, DVD, điện thoại, và bàn phím chữ, ta cần mang đến quầy "customer service" hay nơi giúp khách hàng của cửa tiệm. Họ tính tiền mỗi vật dụng có màn hình là 10 mỹ kim, nhưng sẽ tặng lại khách hàng một thẻ quà tặng (gift card) trị giá 10 mỹ kim để tiêu xài (trong cửa tiệm của họ, tất nhiên).
    Những món mới dùng sơ sơ có thể "đổi" lấy thẻ quà tặng, và khi ta mua một món hàng to kềnh càng, Best Buy sẽ nhận món đồ đã cũ để thế chỗ.

    Kelly Groehler, phát ngôn viên của Best Buy cho biết họ ước tính rằng sẽ tái dụng 80 triệu cân Anh các vật dụng phế thải trong năm nay (so với 70 triệu cân Anh vào năm ngoái), khoảng 75 - 80% là máy điện toán và màn hình.

    Đoán biết là số rác khổng lồ kể trên sẽ cản trở việc buôn bán nên công ty này đã tính toán sẵn cách tiêu thụ số rác khổng lồ ấy trước khi chính phủ đặt ra các điều luật khắt khe hơn và sẽ ảnh hưởng nặng nề đến việc làm ăn của họ; chẳng hạn như tính thuế "tái dụng" trên mỗi món hàng khiến giá thành lên cao hơn, người tiêu thụ khó lòng mua, và Best Buy sẽ làm ăn chậm lại!

    Đại khái là họ tìm cách giải quyết các trở ngại trước khi chúng trở thành vấn nạn thực sự ảnh hưởng đến việc làm ăn là một cách buôn bán khôn ngoan, nhìn xa trông rộng và do đó có thể đi đường dài!

    Các công ty khác cũng theo chân Best Buy mà tổ chức những chương trình tái dụng rác điện tử. Goodwill Industries liên kết với Dell Computer để nhận các món hàng điện tử đem cho, đem bỏ. Waste Management mở các địa điểm nhận vật tái dụng tại nhiều nơi.

    Hầu hết các công ty buôn bán điện thoại và các dịch vụ liên hệ như AT&T và Verizon, sẽ nhận lại các điện thoại cũ; Target, Apple và Best Buy có các chương trình "trao đổi". Gazelle.com làm ăn chung với Costco và NewEgg.com để mở rộng các chương trình "trao đổi" để người tiêu thụ dễ dàng mua món mới và không lo âu về việc vứt bỏ món đồ cũ.

    Cách làm ăn của Gazelle nhắm đến người tiêu thụ trẻ tuổi dùng internet thường xuyên; vào trang nhà này, cho chi tiết về món hàng muốn bỏ, Gazelle sẽ định giá, và sau khi thỏa thuận, hàng gửi đi, người "đổi" sẽ nhận được tiền qua ngả "PayPal".

    Nhân viên của Gazelle sẽ "xóa" dữ liệu trong vật dụng cũ, tân trang lại món hàng rồi đem bán trên eBay hoặc bán ra ngoại quốc.

    Gazelle mua / đổi khoảng 250,000 vật dụng, món nào không mua họ sẽ chỉ chỗ cho khách hàng đến nơi mua bán khác. Đây là cách buôn bán khá khôn ngoan, khách hàng sẽ tiếp tục trở lại Gazelle, không bán được cho cửa hàng này, khách hàng sẽ được giúp đỡ để đến nơi khác!

    Ngoài các chương trình "tự nguyện" thu hồi hàng hóa cũ kể trên, tính đến hôm nay, chính phủ liên bang Hoa Kỳ chưa có đạo luật nào kiểm soát rác điện tử. Khoảng 20 tiểu bang đã ban hành các đạo luật kiểm soát rác điện tử, ngoài California, các tiểu bang này đòi công ty sản xuất trả chi phí cho việc đổ rác hoặc tái dụng.

    Nói chung, đem món hàng "trả" công ty sản xuất là việc làm hợp lý nhất, họ chế tạo các vật dụng kể trên nên biết rõ các thành phần, bộ phận, nguyên liệu trong vật dụng nọ, và món hàng mới thường cũng sử dụng các kỹ thuật căn bản cũ để chế tạo, chỉ thay đổi một số bộ phận nhỏ và cần thiết để món hàng nhỏ hơn, gọn hơn, có hiệu năng cao hơn... Do đó, việc tái dụng sẽ dễ dàng và hiệu quả nhất?!
     
  5. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    Bác Sĩ Chevalier Jackson và bộ sưu tập lạ đời

    Thói quen tích trữ, giữ gìn vật dụng yêu thích có từ ngàn năm, nhờ đó người đời sau được thừa hưởng những kho tàng từ quý kim, vật hiếm đến âm nhạc, nghệ thuật, sách vở, tranh vẽ... Ta gọi công việc cất giữ kia là "sưu tầm" và bá tánh sưu tầm đủ mọi thứ nhưng bộ sưu tập trở nên nổi tiếng trong lịch sử y học là bộ sưu tập của Bác Sĩ Chevalier Jackson.

    [​IMG]

    * Hình của the Mutter Museum of the College of Physicians of Philadelphia

    Việc các bác sĩ giải phẫu cất giữ những phần thân thể lấy ra từ bệnh nhân không phải là chuyện lạ, có người cất giữ để tìm hiểu, để làm mẫu dạy học và đôi khi, để khoe tài nhưng việc sưu tầm của ông Jackson thì lạ lùng hơn cả. Là một bác sĩ chuyên về Tai Mũi Họng trong thế kỷ XIX - XX, ông ấy cất giữ trên dưới 2,000 vật thể mà bệnh nhân đã nuốt hoặc hít vào thân thể. Bộ sưu tập bao gồm đinh, ốc, chìa khóa... và cả một cái mề đay có hàng chữ "đeo trên mình cho may mắn".

    [​IMG]

    Cuộc đời và bộ sưu tập của ông Jackson được kể lại qua cuốn truyện "Swallow" của bà Mary Cappello, giáo sư văn chương Anh tại Đại Học Rhode Island. Thuả ấy Bác Sĩ Jackson lấy ra các vật dụng cổ họng, thực quản trong khi bệnh nhân thức và không dùng thuốc mê, tỷ lệ tử vong của các cuộc giải phẫu này rất cao, không mấy bác sĩ muốn hoặc có thể lấy ra các vật dụng con trẻ đã nuốt. Riêng Bác Sĩ Jackson, tỷ lệ thành công trong việc giải phẫu là 95%. Nói một cách khác, ông ấy là một bác sĩ giải phẫu lẫy lừng vì khéo tay.

    Để luyện tập các kỹ thuật lấy vật dụng, ông Jackson đã dùng kẹp để bẻ từng hạt đậu phụng, thử đi thử lại cả trăm lần để có thể ước định chính xác phải dùng bao nhiêu sức, nặng hay nhẹ để bẻ gẫy hạt đậu phụng kẹt trong cuống họng đứa trẻ. Ông ấy cũng dùng thú vật cũng như người gỗ để thử các kỹ thuật nội soi và mổ.
    Bác Sĩ Jackson là người đầu tiên gắn một ngọn đèn vào ống nội soi và đưa ống vào cuống họng bệnh nhân, ông ấy cũng là người sáng chế kỹ thuật làm giãn nở thực quản bằng cách cho bệnh nhân nuốt những ống nhựa mềm. Để thúc đẩy khuyến khích những đứa trẻ chịu nghe lời và thực tập, ông ấy kể chuyện hiệp sĩ nuốt lưỡi kiếm hành đạo.

    Là một người khéo tay, Bác Sĩ Jackson thành công trong nghề nghiệp, và cũng là một người thích sưu tầm nên ông ấy giữ lại tất cả mọi vật thể lấy ra từ cơ thể bệnh nhân. Có lần lấy ra được 1 đồng 25 xu, ông bác sĩ giữ lại để sưu tầm, bất kể sự phản đối của người cha. Ông bố đập đứa con một trận để trừng phạt tội nuốt đồng xu, lúc mất luôn đồng xu, người cha đập đứa nhỏ thêm một trận nữa đến độ bẻ gãy tay đứa con nhỏ. Ông Jackson động lòng trao cho gia đình nọ một đồng nửa đô la để đền bù nhưng vẫn giữ nguyên ý kiến ban đầu là đồng xu kia thuộc về ông ấy. Câu chuyện kể điển hình cho tính khí cương quyết đến độ cố chấp của ông bác sĩ lạ đời.

    Trong thời thơ ấu, chú bé Chevalier là một đứa trẻ nhỏ con, thích đọc sách nên trở thành mục tiêu để hành hạ của những đứa trẻ khác. Có lần chú bé bị đám trẻ côn đồ đánh đập rồi bịt mắt quăng xuống hố than, cho đến khi một con chó đánh hơi ngửi được hơi người và sủa loạn, chú bé mới được giải cứu kịp thời. Không lạ là chú bé nhìn cuộc đời như một nơi đầy sự nguy hiểm, hung ác.

    Khi trưởng thành, chú bé Chevalier giữ nguyên sự đơn độc, không bạn bè và khi hành nghề bác sĩ cứu đời, ông ấy làm việc như thể để cứu sống chính mình. Người chung quanh mô tả con người ông bác sĩ là "lạnh lùng", "không thân thiện".

    Từ kinh nghiệm chữa bệnh, ông Jackson đã vận động ráo riết để chính phủ ban hành đạo luật the Federal Caustic Poison Act of 1927, bắt buộc hãng sản xuất phải đề rõ trên nhãn hiệu của vật đựng đây là độc tố, như lye, chất kềm được dùng làm xà bông, và nhiều trẻ em đã uống lầm độc chất vì tưởng là đường như kẹo.
    Lye "đốt" màng nhày trong thực quản khi nuốt và các mô đóng thẹo khiến thực quản khép chặt. Bị phỏng, đứa trẻ bất hạnh khó lòng nhai nuốt thức ăn bình thường trở lại.

    Bác Sĩ Jackson cũng là người cổ võ việc ngăn ngừa cha mẹ cho con trẻ nhai nuốt thực phẩm quá sớm, khẩu hiệu của ông ấy là nhai nát tất cả mọi thứ đưa vào miệng kể cả sữa!

    Trong cuốn sách ghi chép bệnh sử, ông Jackson viết về một cô bé 7 tuổi, không thể nuốt dù một giọt nước. Ông bác sĩ làm nội soi và lấy ra một khối mô thẹo làm nghẽn thực quản. Sau cuộc giải phẫu, đứa trẻ uống thử một ngụm nước nhỏ, ngụm nước trôi xuôi, thử thêm ngụm nước thứ nhì... Rồi cô bé trao ly nước cho y tá, nắm lấy tay ông bác sĩ và hôn tay ông ta. Cuộc giải phẫu thành công và món quà lớn nhất là sự biết ơn của đứa trẻ 7 tuổi nọ.

    Cuộc đời của ông Jackson quá thầm lặng, là một bác sĩ nổi tiếng, một nhà tranh đấu làm việc xã hội để bảo vệ trẻ em mà chẳng mấy ai biết đến, chỉ khi bộ sưu tập đầy những vật thể lạ lùng kia xuất hiện ông ấy mới nổi tiếng, người thế giới mới bắt đầu tìm hiểu về ông Chevalier Jackson và ghi nhận sự đóng góp của ông ta với ngành giải phẫu cũng như đóng góp với xã hội.

    Bộ sưu tập của Bác Sĩ Jackson ngày nay thuộc về the Mutter Museum of the College of Physicians of Philadelphia, và họ sẽ đem trưng bày vào ngày 18 tháng Hai sắp tới.
    Nếu không được báo tin về cuộc triển lãm, Dế Mèn chắc chẳng bao giờ tìm hiểu về con người lẫy lừng nhưng thầm lặng kia và chắc chẳng bao giờ biết đến cuốn truyện của Giáo Sư Mary Cappello, lúc ấy thì quả là tiếc lắm vì đã mất cơ hội tìm hiểu về một vĩ nhân lạ đời của thế giới?!
     
  6. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    Âm nhạc và não bộ

    [​IMG]

    * Hình ảnh của Đại Học McGill, Montreal, Canada


    Ăn một món ngon, thưởng thức một ngụm rượu vừa ý, hay thả hồn lâng lâng theo tiếng nhạc, câu hát... là những cảm giác dễ chịu, sung sướng. Cảm nhận và thụ hưởng được các khoan khoái từ đời sống là một người may mắn. Tuy nhiên, sự thụ hưởng kể trên không đồng nhất cho tất cả mọi người.
    Cùng một tô phở, kẻ khen người chê; cùng một chai rượu kẻ mua người lắc đầu; cùng một bản nhạc người thả hồn mơ màng, kẻ bịt tai bỏ chạy... Lý do? Sự cảm nhận đến từ cách thưởng ngoạn riêng biệt của mỗi người.
    Từ thế giới muôn màu, mỗi thứ mỗi vẻ; cảm nhận được càng nhiều, đời sống càng giàu có. Tiêu chuẩn càng "cao" hay khe khắt nghiệt ngã, thế giới cảm xúc càng thu hẹp. Ấy là phần tâm thần, sự cảm nhận gắn bó với giác quan (ngửi, nghe, nếm, thấy...) và trải qua “máy lọc” của não bộ, con người lựa chọn rồi chấp nhận hay từ bỏ.

    Theo bài tường trình của Tiến Sĩ Robert Zatorre và Tiến Sĩ Valorie N Salimpoor và đồng sự, Montreal Neurological Institute, McGill University, Montreal, Quebec, Canada, đăng tải trên Nature Neuroscience, bản điện tử ngày 9 tháng Giêng, 2011, thì sự cảm nhận và thụ hưởng kia đến từ chất dẫn truyền Dopamine tại não bộ. Nói một cách giản dị, các chuyên viên kể trên cho rằng con người không thể cảm nhận hay thụ hưởng khoái cảm là do thiếu Dopamine hoặc do Dopamine không hoạt động tại các phần não bộ có tên "pleasure center", dịch thoáng là "trung tâm khoái cảm".

    Qua một thí nghiệm với việc nghe âm nhạc trong khi các chuyên viên đo nhịp tim, áp huyết, thân nhiệt và cả chụp hình não bộ của những người tình nguyện bằng PET scan xem cảm xúc liên quan hoặc ảnh hưởng đến cơ thể ra sao.
    Tám người tình nguyện nghe những bản nhạc họ yêu thích, đến tấu khúc hay nhất thì ta quan sát được những cảm xúc của người tình nguyện, từ giảm thân nhiệt, áp huyết đến hoạt động của não bộ nơi Dopamine tiết ra từ những vùng não bộ như striatum.
    Các dữ kiện này cho thấy người nghe nhạc thụ hưởng những cảm xúc từ âm nhạc và chờ đợi đến đoạn đắc ý nhất thì mức cảm xúc lên cao nhất qua lượng Dopamine trên PET scan.

    Tiến Sĩ Zatorre giải thích rằng những vùng não bộ kết nối với nhau, chờ đợi và ước tính đến khúc nhạc hay nhất, hay cao điểm của sự cảm khoái, thì sóng não bộ xuất hiện dồn dập cũng như lượng Dopamine lên cao nhất tại hệ limbic nơi kiểm soát cảm tính vui buồn của con người. Các vùng não bộ hoạt động chặt chẽ với nhau, chuyển các làn sóng từ nơi này sang nơi khác, và cuối cùng, diễn tả cảm tính (emtion) của các thay đổi trên cơ thể.

    Trong thí nghiệm kể trên, người tình nguyện chọn loại âm nhạc, từ nhạc cổ điển Tây Phương, jazz đến kèn ... Điều này cho thấy sở thích cá nhân ảnh hưởng mạnh mẽ đến cảm xúc theo Tiến Sĩ Salimpoor.

    Các chuyên viên khác cũng cho thấy hiện tượng tương tự xảy ra khi người ta ngắm tranh, được nhìn ngắm một bức tranh đẹp, say mê, yêu thích, não bộ con người cũng tiết ra một lượng Dopamine cao hơn bình thường. Nói một cách khác, các chuyên viên này cho rằng những cảm xúc đem lại sự sung sướng, khoan khoái đều liên quan đến Dopamine.

    Câu hỏi đặt ra là nếu không có đủ Dopamine hoặc Dopamine không hoạt động đầy đủ thì con người có đánh mất các cảm xúc khoan khoái hay không? Hoặc ngược lại, các cảm xúc kia tác động não bộ tiết ra Dopamine? Nghĩa là nếu ta không yêu thích bất cứ thứ gì trong đời sống thì tâm tư phẳng lặng và không có các hoạt động mạnh mẽ của hệ limbic cũng như không tiết ra Dopamine?

    Câu trả lời rất quan trọng cho việc chữa trị trầm cảm: nếu chỉ cần dùng Dopamine, con người sẽ tìm lại các cảm xúc cũ và trở lại đời sống bình thường, yêu đời như trước? Hoặc ta cần giúp người bệnh tìm cảm xúc qua những thí nghiệm đi tìm cảm xúc mới? Chẳng hạn như dùng âm nhạc, phim ảnh để chữa trị trầm cảm, giúp họ tìm lại cảm xúc khoan khoái và muốn sống?
     
  7. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    Cơn sốt có đáng sợ không?

    [​IMG]

    Lên cơn sốt là điều thường thấy, và sốt là một hiện tượng phức tạp. Khi lên cơn sốt, nhất là một đứa trẻ, thì ngoài bệnh nhân còn có cha mẹ và bác sĩ nên khoa học, ước đoán và cảm tính trộn lẫn vào nhau.

    Về mặt khoa học, cơn sốt là dấu hiệu hoạt động hữu hiệu của hệ đề kháng nhưng theo cảm tính, khi đứa trẻ lên cơn sốt là cha mẹ lo âu bất kể đêm ngày. Và với những bác sĩ nhi khoa, các cú điện thoại trong đêm xảy ra như cơm bữa, lý do chính thường là đứa trẻ lên cơn sốt.

    Bài tường trình trên tạp chí The Journal of the American Medical Association trong tháng Giêng năm nay trình bày khá chi tiết về cơn sốt, điểm chính là những phản ứng của cha mẹ.
    Bài biên khảo liệt kê và phân tích các dược phẩm bán tự do dành cho trẻ em, kể cả những món thuốc trị đau và sốt: Nhãn hiệu nói những gì, vật đo lường (ly, vật nhỏ giọt [dropper / compter-goutte], muỗng... ) đi kèm có thể dùng một cách chính xác như lời chỉ dẫn hay không.

    Bác Sĩ H. Shonna Yin, New York University Medical Center, tác giả chính của bài biên khảo kết luận rằng khá nhiều món dược phẩm không chỉ dẫn rõ ràng, có sản phẩm bỏ luôn vật dụng đo lường, và nhiều vật dụng đo lường không đánh dấu đầy đủ, nghĩa là vật dụng kia không dùng được! Thí dụ: lời chỉ dẫn biểu rằng cho uống 1.5 milliliter, nhưng vật nhỏ giọt không đánh dấu “1.5 ml”, làm thế nào để phụ huynh biết 1.5 milliliter là bao nhiêu?

    Thuốc men cần dùng theo liều, lượng thuốc; lượng thuốc quá nhỏ không đủ tác dụng, lượng thuốc quá lớn gây trúng độc. Dược phẩm dùng cho nhi đồng thường căn cứ trên trọng lượng hay cân nặng của đứa nhỏ; và với một đứa nhỏ thì việc nặng nhẹ thay đổi luôn. Lượng thuốc dĩ nhiên là cũng khác nhau tùy theo loại thuốc, sử dụng theo "thói quen" không đọc nhãn hiệu là điều tai hại vô cùng!

    Các chuyên viên điều dưỡng phụ trách việc trả lời điện thoại tại các trung tâm y tế nhìn nhận rằng phần lớn phụ huynh khi gọi điện thoại đều không sẵn sàng, họ chỉ hỏi "cháu nhỏ lên cơn sốt, cho uống thuốc mà sốt không hạ". Trăm lần như một, những câu trả lời đều bao gồm: Ông / bà dùng thuốc gì? Loại dành cho trẻ em (children) hay sơ sinh (infant)? Nhãn hiệu chỉ dẫn ra sao?
    Phụ huynh đều băn khoăn về cơn sốt, và muốn biết đến chừng nào thì cần đưa con em đến bác sĩ hoặc phòng cấp cứu?!

    Trong khi cha mẹ lo âu về cơn sốt thì bác sĩ lại băn khoăn về những triệu chứng khác, chẳng hạn như đau bụng, nổi mề đay, ho ... nên câu chuyện trở nên không đầu đuôi, liên kết với nhau.

    Cơn sốt là điều đáng ngại, nhất là cơn sốt ở hài nhi tuổi dưới 3 tháng vì dễ nhiễm trùng. Ở những đứa trẻ lớn hơn, cơn sốt không đáng sợ cho lắm, lên cơn sốt đồng nghĩa với sự hoạt động hữu hiệu của hệ đề kháng, và những phản ứng cấp thời giúp cơ thể chống lại bệnh tật.
    Những lời giải thích kể trên không mấy hiệu quả trong việc trấn an cha mẹ một đứa trẻ đang lên cơn sốt trong buổi chiều tối. Bình thường, thân nhiệt lên cao hơn trong thời khắc cuối ngày, và cơn sốt cũng lên cao hơn theo nhịp điệu này.

    Từ thập niên 70, sách vở báo chí đã có phần quá lời về ảnh hưởng của cơn sốt khiến cha mẹ nào cũng lo lắng mỗi khi con trẻ lên cơn sốt; họ cho rằng mỗi lần lên cơn sốt là não bộ đứa nhỏ "cháy" mất một phần và sẽ tạo ra hậu quả lâu dài về trí tuệ. Bốn mươi năm sau, cả một thế hệ cha mẹ kế tiếp, sự lo âu kia vẫn không thay đổi chút nào!
    Thực ra, cơn sốt không ảnh hưởng mấy đến não bộ hay cơ thể mặc dù cơ thể sẽ cần nhiều nước hơn. Ngay cả khi không chữa trị, cơn sốt không mấy khi lên đến 104 - 105 độ Fahrenheit.

    Khoảng 5% trẻ em "làm kinh" khi lên cơn sốt, tiếng Anh là "febrile seizure". Cha mẹ thường hoảng sơ khi thấy đứa trẻ "làm kinh", co giật chân tay, nhưng tựu chung, "làm kinh" không dẫn đến chứng kinh phong (epilepsy). Tuy nhiên, đứa trẻ làm kinh khi lên cơn sốt cần được chẩn bệnh cẩn thận, chứng "làm kinh" này thường xuất hiện trong gia tộc và đứa trẻ có thể "làm kinh" trong lần sốt về sau.

    Tóm lại, đừng lo lắng quá về cơn sốt, chú ý đến các triệu chứng khác ngoài cơn sốt. Khi dùng thuốc, cần theo đúng lượng thuốc chỉ dẫn; ngoài thuốc men, có thể chườm khăn ướt thấm nước mát (không phải nước đá) để làm dịu cơn sốt.
     
  8. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    Hàn gắn cổ vật?

    Trong thập niên đầu của thế kỷ XXI, làm sạch môi sinh, tái dụng, sống giản dị... là những phong trào đang lôi cuốn nhiều người ủng hộ, nhất là những người trẻ trong thế hệ Y, tuổi 15 - 25. Thế hệ này quan sát và thẩm định những cái "quá tay", "quá mức" của các thế hệ cha anh đi trước, nhất là các "baby boomer", tuổi 50-65, và họ nhủ lòng sẽ thay đổi những thứ không vừa ý.

    Tái dụng là khẩu hiệu của người yêu môi sinh, bất cứ món gì có thể dùng lại là họ thu góp đem đến nơi nhận, chai lọ, lon, bình chứa, giấy... và cả rác điện tử. Đôi khi việc tái dụng vật phế thải còn tốn kém hơn so với với việc chế tạo cái mới, nhưng kết quả của việc tái dụng là con người bớt xả rác.
    Phong trào tái dụng lan đến cả lãnh vực nghệ thuật và sưu tầm cổ vật, những con người nghệ sĩ bắt đầu tìm kiếm nét đẹp trong những món phế thải, món đã hư hỏng, sứt mẻ, và họ hàn gắn lại để trưng bày.

    Việc hàn gắn, sửa chữa tất nhiên không phải là một điều mới lạ. Tự thủa xưa, con người đã hàn gắn, vá, sửa những vật dụng hư hại ngay cả những vật dụng quý hiếm trong cung đình, lâu đài. Bảo tàng viện ngày nay vẫn trưng bày các món cổ vật nọ, món cổ vật đã sứt mẻ và được sửa chữa; ngay cách sửa chữa cũng nói lên phần nào vị trí của chủ nhân, như cái ấm trà sứ sứt môi, gãy tay, tay cầm được quấn lại bằng một vòng bạc được định tuổi từ thế kỷ XVI.

    Những viện bảo tàng nổi tiếng của Hoa Kỳ như Metropolitan Museum of Art tại New York, Freer Gallery tại Washington DC đều trưng bày những vật dụng được hàn gắn lại.

    Nguyên liệu sử dụng để sửa chữa, hàn gắn, vá víu có thể là vàng, bạc, gỗ, hoặc các kim loại như pewter, nhôm... tùy theo khả năng, túi tiền của chủ nhân và tất nhiên trị giá của món vật dụng. Việc sửa chữa để tái dụng do đó tạm hiểu là thói quen tập tục xưa cũ, có thể thủa ấy, sự quý hiếm của hàng hóa khiến con người tận dụng những gì ta có?

    [​IMG]

    Cách "hàn gắn" thông dụng nhất là việc dùng những kẹp sắt giữ hai mảnh gốm liền lạc với nhau nhưng cách "vá" nổi tiếng nhất và tự nó trở thành một nghệ thuật là "kintsugi", hàn (bằng) vàng, xuất phát từ Nhật Bản từ thế kỷ XV.

    Kintsugi dùng "nhựa" (resin) hay sơn mài trộn chung với bột kim loại để hàn đồ gốm đã sứt mẻ, khi "hàn" xong, vật dụng kia trở nên đẹp hơn và có giá trị hơn so với tình trạng nguyên vẹn cũ. Cách vá này không che dấu nơi sứt mẻ mà tạo những đường nối rõ ràng.

    [​IMG]

    Tương truyền rằng Lãnh Chúa Ashikaga Yoshimasa gửi một chén trà bị vỡ về Trung Hoa để "hàn gắn"; chén trà trở về liền lạc nhưng có những mảnh kẹp sắt xấu xí. Không vừa mắt, không ưng bụng, lãnh chúa ra lệnh cho con dân tìm cách vá đẹp đẽ hơn các vật dụng đã hỏng và kintsugi ra đời. Đến thế kỷ XVII, nghệ thuật này phổ thông đến nỗi người ta cố tình đập vỡ những món đồ dụng quý, để vá lại bằng vàng cho đẹp hơn, sang trọng hơn!

    Bình thường một bình trà quý được nắn theo hình tượng cân đối, khi vỡ, các mảnh vỡ thường không đều, miếng lớn miếng nhỏ, hình thể khác nhau; do đó khi hàn, những đường nối không cân đối, tạo ra một hình ảnh khác trên bình sứ, tựa như những hình vẽ trừu tượng đẹp vì lạ mắt... Vật dụng để "vá" là quý kim (vàng hoặc bạc) nên món đồ trở nên quý giá hơn.

    Dần dà kỹ thuật kintsugi trở nên phổ thông, không chỉ dùng để hàn gắn những món đồ sứ quý hiếm từ Trung Hoa, Triều Tiên... mà còn dùng để "vá" các món đồ gốm thường dụng sản xuất tại địa phương; kintsugi đã khiến những vật dụng "nhập cảng" kia trở thành món đặc thù Nhật Bản.

    Dân Á Châu quen thuộc với khái niệm "tái dụng", sửa chữa nhưng còn người Âu Mỹ thì sao? Món hàng nào cũng phải mới keng thì mới có giá đáng kể? Thói quen vứt bỏ đã thành nếp, nhất là trong những thế kỷ cận kim?

    Bá tánh đang thay đổi, bạn ạ, nhất là những người trẻ tuổi hôm nay, khái niệm "dùng lại vật cũ" không chỉ nằm ở sự cần thiết (vị kỷ) mà còn thêm một chút vị tha nhân và tò mò. Sự tò mò không ngừng ở một cổ vật đẹp mắt mà còn đính kèm lịch sử của vật ấy, xuất hiện từ bao giờ, tại sao hư hỏng, trong tình huống nào mà vật dụng kia bị hư hoại (lỡ tay đánh rơi, trong con tàu chìm...), ai sửa chữa và lý do nào người nọ bỏ công sửa chữa, hàn gắn?

    Năm ngoái, Freer Gallery đã tổ chức một cuộc triển lãm dành riêng cho các vật dùng được hàn gắn, bộ sưu tập bao gồm 13 vật thể từ Trung Hoa, Triều Tiên và Việt Nam được hàn gắn qua kỹ thuật kintsugi (The Golden Seam: Japanese art of mending). Năm nay, các chuyên viên khảo cổ khác cũng sẽ tổ chức một cuộc triển lãm dành riêng cho các vật dụng đã được sửa chữa, hàn gắn... Có điều người ta chưa biết gọi các món đồ đã được sửa chữa này là gì, món "tạm dụng" thì có vẻ miễn cưỡng và "chịu vậy" quá, không xứng đáng với cái "thần" của việc chữa lành, hàn gắn những thứ đã đổ vỡ để tiếp tục nhìn ngắm, nâng niu?!
    Ý bạn?
     
  9. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    Khám phá mới về khủng long

    [​IMG]

    * Hình ảnh của Science

    Trên ấn bản ngày 14 tháng Giêng, 2011 của tạp chí Science, Tiến Sĩ Paul Sereno, University of Chicago và người cộng sự tường trình kết quả của cuộc khám phá về khủng long, một loài thú thời tiền sử đã tuyệt chủng tự 65 triệu năm nay.

    Bộ xương khủng long mới tìm ra có tên Eodromaeus, cao khoảng 4 bộ Anh, nặng cỡ 10-14 cân Anh và có số tuổi 230 triệu năm; loài khủng long này được các chuyên gia thẩm định và xem như thủy tổ của khủng long.

    Theo cấu trúc của bộ xương, ông Sereno cho rằng đó là con thú nhỏ, rất linh hoạt và có thể dùng để giữ nhà vì Eodromaeus có một thân mình chuyển động rất nhanh, cổ dài, đuôi dài, vuốt và bộ nănh sắc như loài chó, dễ chụp và cắn xé con mồi để ăn thịt.
    Dựa trên hình dạng và các di thể, các chuyên viên khảo cứu cho rằng Eodromaeus là tổ tiên của chủng theropod dinosaurs, cùng nhóm với chú khủng long nổi tiếng Tyrannosaurus rex mà các nhi đồng gọi tắt là "T. Rex". Khủng long trở thành con vật thu hút nhiều lứa tuổi sau cuộn phim giả tưởng Jurassic Park ra đời và nổi tiếng lẫy lừng.

    Tổ tiên Eodromaeus nhỏ xíu như thế nhưng con cháu Tyrannosaurus, xuất hiện khoảng 65 triệu năm trước đây, lại to lớn khủng khiếp, T. Rex cao cỡ 50 bộ Anh, nặng khoảng 6 tấn!

    Một cách khái quát, dinosaur hay khủng long là một nhóm động vật bao gồm rất nhiều chủng loại, có xương sống, hiện diện trên mặt đất trên dưới 160 triệu năm, từ thời Tam Điệp (Triassic period, cỡ 230 triệu năm trước) cho đến khoảng 65 triệu năm nay.
    Khủng long tuyệt chủng đã lâu, và con cháu còn sót lại lưu truyền đến ngày nay dưới dạng chim chóc. Một số khủng long ăn cỏ, một số khác ăn thịt. Có loại chạy trên 2 chân sau, cũng có chủng loại 4 chân, thân thể biến dạng giữa hai cách di chuyển này.
    Loài khủng long không bay, thân hình bao bọc bởi một bộ giáp, đầu có sừng. Loài khủng long bay là loài chim duy nhất có xương sống và biết bay. Khủng long thường đẻ trứng và xây tổ.

    [​IMG]

    Về kích thước, nói chung, hầu hết các loài khủng long đều lớn tương đương với con người.

    Tên gọi "dinosaur" bắt nguồn từ tên khoa học "Dinosauria" do ông Richard Owen, người Anh, đặt năm 1842, dựa theo gốc Hy Lạp δεινός (deinos) có nghĩa "mạnh mẽ, kinh khủng", + σαῦρος (sauros) "thằn lằn".

    Ngày nay, khủng long được xếp chung vào một nhóm bao gồm Triceratops, Neornithes và con cháu (một số chim chóc). Nhóm thú vật này có nhiều chủng loại, mỗi chủng loại có hình dạng, kích thước, cách sinh sống khác nhau: theropods (đi 2 chân, ăn thịt), sauropodomorphs (to lớn, cổ và đuôi dài, có 4 chân, ăn cỏ), ankylosaurians (thân bọc giáp, 4 chân, ăn cỏ), stegosaurians (lưng phẳng, 4 chân, ăn cỏ), ceratopsians (4 chân, ăn cỏ, đầu có sừng, lưng có vây), và ornithopods (2 chân hoặc 4 chân ăn cỏ, mỏ lớn có dạng mỏ vịt). Tạm hiểu là loài thú này khá đa dạng.

    Dù con cháu khủng long là một số loài chim chóc nhưng nói đến khủng long không mấy ai nghĩ đến một loài thú có cánh và biết bay. Ta nghĩ đến một con vật có kích thước vĩ đại, bộ răng to và sắc, ăn thịt các con vật khác. Hình ảnh về khủng long thường là một loài bò sát sống trên cạn, chân tay đứng thẳng, xuất hiện từ thời Tam Điệp và tuyệt chủng trong thời Late Cretaceous.

    Tính đến năm 2006, danh sách về khủng long bao gồm trên dưới 500 chủng loại dựa theo những xương cốt (khoảng 1850 bộ xương) khám phá được; mỗi chủng loại bao gồm nhiều giống khủng long khác nhau. Hình ảnh tái tạo dựa trên cấu trúc của bộ xương cho thấy khủng long là một loài vật vô cùng phức tạp, cách sinh sống và thân thể biến hóa theo môi trường sống, từ khí hậu đến thức ăn.

    Vì sự biến thể quá lớn, sau mấy trăm năm tìm hiểu, khủng long vẫn là nguồn say mê thu hút nhiều tầng lớp người, từ chuyên viên nghiên cứu môi sinh, động vật, khảo cổ đến những nhi đồng tò mò muốn biết chuyện xưa tích cũ.

    Trở lại với khám phá mới: Eodromaeus cũng giống một chủng khủng long khác, Eoraptor, về kích thước và cấu trúc xương nhưng Eoraptor là thủy tổ của giống khủng long sauropod, cổ dài ăn cỏ cây.
    Cả hai chủng khủng long kể trên đều nhỏ con, chạy trên hai chân sau.

    Ta tìm thấy xương cốt của Eodromaeus và Eoraptor tại Ischigualasto Formation, phía đông bắc của Argentina. Cũng nơi này con người khám phá nhiều di tích của khủng long.
    Các chuyên viên kết luận rằng khủng long trở thành con vật vĩ đại nhất trên mặt đất nhưng trước đó, những loài vật bò sát khác có thể dùng tổ tiên khủng long như thực phẩm. Những khám phá hiện nay chỉ cho thấy phần nhỏ của sự biến hóa của loài khủng long nói riêng và của vũ trụ nói chung.
     
  10. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    Trái Táo Sứt và Steven P. Jobs

    [​IMG]

    Trái táo có vết cắn là biểu tượng của Apple một công ty điện tử chế tạo và bán những sản phẩm điện tử từ máy điện toán, điện thoại di động... đến các thảo trình để sử dụng với máy móc của họ. Người thành lập Apple là ông Steven Paul Jobs. Khâm phục tài năng của ông sếp lớn công ty nọ, Dế Mèn dịch đùa là "Trái Táo Sứt" cho đúng với hình ảnh trưng bày.

    Tuần này, ông Jobs chính thức thông báo là ông ta tạm nghỉ việc điều hành Apple để dưỡng bệnh. Đây là lần thứ ba trong thập niên vừa qua, ông sếp lớn cần dưỡng bệnh. Bản tin kể trên khiến cả kỹ nghệ tài chánh lẫn kỹ nghệ điện tử xôn xao, họ thi nhau bàn tán, phân tích và ước đoán những gì sẽ xảy ra cho Trái Táo Sứt?

    Người cho rằng không có ông Jobs, Apple sẽ chẳng còn là trái táo sứt nữa, sức khỏe của ông này là sức khỏe (tài chánh) của công ty nọ; kẻ lại bảo không có Steven thì sẽ có người khác tài giỏi không kém chi..., mạnh ai nấy bàn luận sôi nổi.

    Tựu chung, ta hiểu rằng Steven P. Jobs là một người được bá tánh để tâm theo dõi, chú trọng đến những hoạt động và các biến chuyển trong cuộc đời ông ta kể cả tình trạng sức khỏe, nôm na là một nhân vật quan trọng, bằng không đâu có ai mại hơi, đếm xỉa đến cho tốn giấy mực?

    Steven P. Jobs sinh ngày 24 tháng Giêng, năm 1955 tại San Francisco. Cha đẻ là Abdulfattah Jandali, người Syria; mẹ là Joanne Simpson, cả hai lúc sinh con đều là sinh viên ban cao học tại Hoa Kỳ. Khi đứa trẻ ra đời, cha mẹ ruột (chưa thành hôn) đem con cho ông bà Paul & Clara Jobs và đứa trẻ được đặt tên theo họ của cha mẹ nuôi. Về sau, ông Jandali trở thành một giáo sư đại học môn Chính Trị, bà Simpson trở thành một chuyên viên dạy nói (speech therapy). Cha mẹ ruột của ông Jobs thành hôn và có thêm người con gái, Mona Simpson, nhà văn và cũng là giáo sư đại học về văn chương Anh.

    Năm 1972, xong trung học, Steve Jobs ghi danh tại Reed College, Portland, Oregon. Sau một lục cá nguyệt, Steve bỏ học ngang và dự thính những lớp học về triết lý, văn hóa & tôn giáo Đông Phương ... Đến năm 1974 làm công việc thiết kế trò chơi điện tử tại công ty Atari. Kiếm đủ tiền, Steve Jobs lang thang sang Ấn tìm hiểu về đời sống tâm linh. Không biết ông ta tìm thấy những gì ở Ấn nhưng khi về lại Mỹ, Steve Jobs chú trọng đến việc kiếm tiền.

    Qua những lớp điện toán của Hewlett-Packard, Steven Jobs quen biết Stephen Wozniak, một sinh viên ban kỹ sư tại the University of California, Berkeley cũng bỏ học ngang. Hai chàng trẻ tuổi mầy mò và chế tạo chiếc máy điện toán đầu tiên trong nhà để xe của gia đình họ Jobs. Ông Wozniak là người chế tạo, ông Jobs là người vẽ kiểu cũng như quảng cáo và bán món hàng. Theo Steven Jobs, Wozniak là kỹ sư duy nhất tài giỏi hơn ông ta.

    Năm 1976, cùng ông Steve Wozniak, Steven Jobs thành lập công ty Apple và bắt đầu xây dựng tên tuổi qua sản phẩm "Apple II computer". Đến năm 1984, chiếc máy điện toán Macintosh ra đời và không được hoan nghênh cho lắm, cộng thêm sự xích mích với sếp lớn là John Sculley, Steven Jobs rời Apple năm 1985 và thành lập công ty mới, NeXT Computer, chuyên buôn bán máy điện toán. Năm 1996, Steven Jobs trở lại với Apple sau khi bán lại NeXT cho công ty này.

    Từ khi trở lại, Steven Jobs hầu như đã thay đổi cách sản xuất, buôn bán của Apple, mang lại sinh khí mới cho công ty và cả kỹ nghệ điện tử với các sản phẩm mới lạ liên tục xuất hiện, thu hút người tiêu thụ mạnh mẽ.

    Thu góp các dữ kiện về Steven Jobs, một sinh viên bỏ học ngang, trải qua kinh nghiệm với ma túy, với văn hóa & tôn giáo Đông Phương trước khi đến với công việc thiết kế dụng cụ điện tử, không mấy ai đoán được con người kia sẽ trở thành một tài phiệt lừng lẫy trong ngành kỹ nghệ đang nắm yết hầu của thế giới, bất cứ thứ gì cũng dùng đến điện toán, không nhiều thì ít!

    Từ các thành công của Steven Jobs, ta có thể nhìn nhận rằng đây là một người viễn kiến, biết nhìn xa trông rộng, đoán biết tương lai và chế tạo các sản phẩm đáp ứng với sự cần thiết và đúng sở thích của khách hàng. Qua công ty Apple, ông Steven Jobs đã thay đổi cái nhìn của bá tánh về máy điện toán và các dụng cụ điện tử. Có thể nói ông ta đã thành công trong cuộc cách mạng điện tử.

    Để thành công như thế tất nhiên Steven Jobs phải có sự say mê, làm việc theo kỷ luật và chí cương quyết, không những cho chính mình mà còn phải thúc đẩy những người cộng sự lăn xả vào công việc như mình. Một người tài giỏi và thành công, dứt khoát không là người dễ dãi, thiếu bản lãnh; nhất là một người xây dựng sự nghiệp qua sức lực của chính mình như ông Jobs. Càng thông minh, sáng trí càng ít kiên nhẫn với những người kém cỏi dưới mắt họ. Do đó, người khen đầy rẫy nhưng kẻ oán ghét, chửi bới cũng không thiếu. Steven Jobs được mô tả là quá khó chịu, đặt tiêu chuẩn quá cao, đòi hỏi kẻ khác phải làm việc như trâu bò, hống hách, phách lối và thiếu khoan nhượng khi nhân viên, người cộng sự làm việc không vừa ý ông ta.

    Khi Apple loan báo bản tin ông sếp lớn sẽ nghỉ dài hạn để dưỡng bệnh thì lời đồn đãi về tình trạng sức khỏe của Steven Jobs bắt đầu lan tràn. Ông ấy bị ung thư tụy tạng, pancreatic islet cell tumor đến nay vẫn còn là bệnh nan y, tỷ lệ 5-năm sống sót khoảng 30%, nghĩa là 70% bệnh nhân tử vong trong vòng 5 năm từ khi chẩn đoán. Năm 2009, Steven Jobs được ghép tụy tạng và trở lại làm việc sau 5 tháng dưỡng bệnh.

    Chỉ trên dưới 1 năm sau, ông ta cần nghỉ dài hạn lần nữa.

    Steven Jobs nói rằng ông ấy hy vọng sẽ trở lại làm việc nhưng những tay phân tích tài chánh và nhân sự không mấy tin tưởng, dù thế nào Apple cũng khó thay thế ông sếp tài năng kia. Họ nhìn nhận rằng một công ty thành công là nhờ ban Quản Trị tài giỏi, không chỉ do cá nhân riêng lẻ nhưng Steven Jobs là linh hồn của Ban Quản Trị nọ.

    Theo ông David B. Yoffie, giáo sư tại Harvard Business School, con mắt nhìn xa cộng thêm óc sáng tạo và sự say mê vô bờ của Steven Jobs đã khiến ông ta trở thành một nhân vật tài năng hiếm có trong lịch sử thương mại Huê Kỳ; Apple sẽ cần nhiều người giỏi cộng lại để thay thế một Steven Jobs!

    Tìm ra một người giữ được nhịp điệu làm ăn của công ty lớn như Apple đã khó, tìm ra một người có khả năng sáng tạo như Steven Jobs lại càng khó hơn.

    Bàn tán về Steven Jobs xong, bá tánh xoay qua bàn tán về bộ tham mưu của Trái Táo Sứt. Ai sẽ là người thay thế? Khả năng của họ là những gì? Có xứng đáng để ta chọn mặt gửi vàng mà tiếp tục đầu tư, giữ cổ phần của Apple hay bán quách kẻo lỗ vốn?

    Câu chuyện xoay quay ông Timothy D. Cook, chief operating officer hay sếp "điều hành", người sẽ giữ cho bộ máy Apple chạy đều đặn hàng ngày khi ông Jobs vắng mặt. Ông Cook đã làm công việc điều hành nọ vào năm 2009 khi Steven Jobs vắng mặt 5 tháng.

    [​IMG]

    * Hình của Reuters

    Steven Cook làm việc tại Apple khoảng 13 năm, chịu trách nhiệm trong việc buôn bán, điều hành và là người đã quyết định việc phát triển các sản phẩm như iPhone 4 và iPad, gia tăng mãi lực của máy điện toán, giữ sổ sách của Apple trong màu xanh (làm ăn có lời) trong thời buổi kinh tế mùa thu. Tóm lại, đây là một người điều hành giỏi.

    Một vài người khác trong ban tham mưu của Apple cũng bắt đầu ra mặt, ông Jonathan Ive, một tay thiết kế nổi tiếng đã làm việc lâu năm với Steven Jobs, ông này chịu trách nhiệm về "nhan sắc" của sản phẩm. Philip W. Schiller, sếp quảng cáo, và cũng là người "phát ngôn" chính thức của Apple sau Steven Jobs. Scott Forstall, chuyên về iPhone software, cũng bắt đầu nhận trách nhiệm phát triển các nhu liệu sử dụng cho iPhone.

    Trong những ngày sắp tới, có lẽ không mấy thay đổi xảy ra tại Apple, ảnh hưởng rất lớn của Steven Jobs sẽ tồn tại trong vài năm, nhưng sau đó, không mấy ai có thể đoán ra đường hướng của công ty này.

    Ấy là chuyện thương mại, chuyện tài chánh, còn mấy thứ giản dị như chuyện đời, chuyện sống chết của con người thì có lẽ đây là lúc ta ngửa mặt ngó trời cao mà tiếc nuối rồi nhìn nhận rằng tài năng, công danh, tiền bạc... dù lắm đến đâu lúc ra đi cũng chỉ tay trắng. Ông Steven Jobs này cũng không ngoại lệ, rồi cũng như Khổng Minh năm xưa đứng trên gò Ngũ Trượng Nguyên ngửa mặt nhìn trời, thở dài ai oán... số ta đã tận..?!
     
  11. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    Tấm bản đồ quý hiếm

    [​IMG]

    *Hình của Brooklyn Historical Society

    Brooklyn Historical Society vừa công bố rằng họ làm chủ một tấm bản đồ quý hiếm của thế giới “Plan of the City of New York” do ông Bernard Ratzer vẽ năm 1770.

    Năm 1770, Hoa Kỳ còn là lãnh thổ của Hoàng Gia Anh, và bản đồ mọi tiểu bang, thành phố đều được dâng lên vua đương thời, King George III, ngồi tuốt bên Anh. Điều dễ hiểu là Hoàng Gia Anh có bộ sưu tập bản đồ (lưu trữ tại Brittish Museum, London) quý hiếm của Hoa Kỳ, Canada và các thuộc địa khác.

    Ngoài Hoàng Gia Anh, một số bản đồ còn sót lại được ghi nhận và cất giữ tại các trung tâm bảo tồn lịch sử rải rác khắp Hoa Kỳ. Tấm bản đồ kể trên là 1 ấn bản bên ngoài danh mục, là tấm bản đồ “Plan of the City of New York” thứ tư của thế giới, hai bản khác được lưu trữ tại New-York Historical Society, lâu lâu được mang ra cho sinh viên ban Lịch Sử nhìn ngắm và tham khảo.

    Không ai biết bằng cách nào tấm bản đồ quý báu kia lại nằm trong nhà kho của Brooklyn Historical Society. Người ta chỉ biết rằng một ngày trong tháng Năm vừa qua, tấm bản đồ theo chân chiếc xe giao hàng và "đậu" trên bàn giấy của Carolyn Hansen, người ghi chép danh mục của tổ chức này.

    Tấm bản đồ tuổi tác 240 năm được mô tả là dòn rụm như một miếng bánh khô, tấm giấy cuộn tròn mở đến đâu là bể đến đó. Khi đọc ra chữ "Ratzer" thì những người có mặt ở đó nín thở. Trong thế giới bản đồ thì "Ratzer" là một cái tên lớn, tên một nhà vẽ bản đồ, cartographer, nổi tiếng thủa ấy. Tấm bản đồ kể trên là một trong những tác phẩm nổi bật của ông này. Và từ lúc đó, mọi người trong cộng đồng bản đồ xôn xao bàn tán.

    Nằm bên ngoài danh sách những sách vở của tổ chức kể trên, nên không ai biết tấm bản đồ đóng bồ hóng đen đủi, mờ mịt dán trên vải bố ở đâu ra. Tình trạng của nó cho ta biết rằng vật thể này đã được treo trên tường ở một nơi nào đó đã lâu lắm rồi.

    Để lưu trữ, tấm bản đồ đã bị cắt thành từng miếng và những chuyên viên về bản đồ đã phải dùng kính lúp để nhận diện gốc gác xưa cũ của nó. Họ cho rằng tấm bản đồ nọ được hoàn tất năm 1769 thay vì 1770 và do ông Bernard Ratzer vẽ. Ông này là một sĩ quan trong quân đội Hoàng Gia Anh, thủa ấy đóng quân tại thuộc địa Hoa Kỳ. Lieutenant Ratzer cũng là một người vẽ bản đồ (surveyor); những tấm bản đồ do ông ấy vẽ được nhìn nhận là chi tiết và chính xác hơn so với những người vẽ trước đó. Trên bản in, tên ông tác giả bị đổi thành “Ratzen plan.”

    “Plan of the City of New York” bao gồm những chi tiết về các hòn đảo quanh Manhattan, bờ biển và những con đường của thành phố. Có những con đường ngày nay không còn dấu vết những cũng có những con đường tên tuổi vẫn quen thuộc như Broad, Pearl, Grand, Prince... Ngoài những con đường, tấm bản đồ còn định vị các tòa nhà lớn thủa ấy: “The Powder House,” “The City Hall,” “The Prison,” “The Theatre.” Theo những tay sưu tầm bản đồ, đây là một bức vẽ chính xác nhất của thành phố Nữu Ước từ trước đến nay!

    Qua tấm bản đồ lịch sử, người đời nay có thể "nhìn" ra phần nào thành phố trước khi người ta sử dụng hệ thống "bàn cờ" khi mở mang đường sá.

    Brooklyn thủa ấy là “Brookland” bao gồm những trang trại mênh mông và chỉ có một con đường chạy ngang, Flatbush Road.

    Mặt sau của tấm bản đồ đề tên "Pierrepont", một dòng họ tên tuổi tại Brooklyn nên người ta đoán rằng tấm bản đồ này của gia tộc Pierrepont, nhưng làm thế nào di chuyển từ gia tộc này đến nhà kho thì chẳng ai đoán ra.

    Nhận diện tấm bản đồ là một tác phẩm quý giá có tính cách lịch sử, việc kế tiếp là làm thế nào thu góp những mảnh vụn lả tả kia mà nối kết lại cho thành tấm bản đồ để bá tánh cùng nhìn ngắm chiêm ngưỡng?

    Tám tháng miệt mài, cuối cùng tấm bản đồ được đem ra giới thiệu: Những mảnh vụn hóa thân thành tấm bản đồ đọc được từng chữ đặt dưới kiếng. Công việc đòi hỏi sự kiên nhẫn, tỉ mỉ, kiến thức rộng rãi về cách chế tạo giấy thủa xa xưa, và kỹ thuật bảo trì sách vở cũ.

    Ông Jonathan P. Derow, một chuyên viên bảo trì sách vở, giấy cũ được mời đến để "phục hồi" thể trạng của con bệnh ngặt nghèo, chỉ chờ cơ hội là rã tan như cám.

    Thay vì mang tấm bản đồ về văn phòng, sợ khi di chuyển sự hư hoại sẽ gia tăng và hết thuốc chữa, ông chuyên viên dựng luôn một cái lều ni lông bao quanh tấm bản đồ ngay tại trụ sở của Brooklyn Historical Society và bơm hơi nước vào lều. Những mảnh giấy thấm nước từ từ mềm mại trở lại, lúc đó tấm bản đồ mới được đem về văn phòng ông Derow.

    Dùng một bồn nước chứa chất kiềm, ông Derow bắt đầu lấy ra acids, bụi, bồ hóng... và cắt bỏ luôn phần vải bố lót bên dưới. Những mảnh vụn được ráp lại với nhau, đem hong cho khô. Để nối các phần bị cắt rời, bây giờ là những đường thẳng màu trắng, ông chuyên viên rị mọ đi tìm một loại hồ đặc biệt do chính ông ấy chế biến.

    Đi tìm mua sách vở cũ mèm để làm vật liệu: Giấy cũ cùng thời đại thường có cùng màu, chế biến từ bột vải. Giấy cũ được rang trong lò cho khô ran thành bột, sau đó nấu trong nước thành một chất keo dùng để "trám" những kẽ hở trắng. Giấy cũ tiệp màu với nhau. Xong.

    Dân thành phố có dịp xem cuộc triển lãm mở cửa trong tuần này để cùng nhìn ngắm hình ảnh của Manhattan trong những năm lập quốc, và người Brooklyn hẳn sẽ gãi đầu, chỗ tui ở hồi nẫm là một nông trại?

    Vật đổi sao dời, còn thấy được đất đai là quý lắm rồi, hỏi nhau nơi này hồi đó là những gì thì e hơi khó. Trước ta nơi này là nông trại thì sau ta cũng có thể sẽ trở lại là nông trại, ai biết đâu, phải không bạn?
     
  12. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    Những tảng băng

    [​IMG]

    Những năm gần đây khi hiện tượng hâm nóng lan tràn toàn cầu, ngoài biển cả những tảng băng tan dần, trên đỉnh núi tuyết phủ cũng thế, băng tan thành nước và những tay thám hiểm tìm thấy dấu vết những bí mật vùi chôn trong băng đá.

    Băng đá hay "glacier" hiện diện tại Bắc và Nam Cực cũng như nhiều nơi trên thế giới, khắp năm châu ngay cả Phi Châu nhưng Úc Đại Lợi thì không có băng đá. Úc nằm trong khối "Thái Bình Dương" bao gồm nhiều hải đảo, kể cả hải đảo của Tân Tây Lan và Papua New Guinea. Những hải đảo này có băng đá. Băng đá khác với lớp băng mỏng đóng trên mặt biển hoặc mặt hồ vào mùa đông khi nhiệt độ xuống thấp.

    Hai loại băng đá chính: "valley glacier", tạm dịch là "băng sơn" và "continental glacier" (còn gọi là "ice sheet"). Băng sơn là những núi băng nằm trong lòng thung lũng, không trôi ra ngoài thung lũng. Continental glacier là những tảng băng vĩ đại, có diện tích trên 50,000 cây số vuông (khoảng 12 ngàn dặm vuông) như hai tảng băng Greenland và Antarctic trên địa cầu.

    Khi hội đủ một số điều kiện trong khí hậu thiên nhiên, băng đá hình thành: mùa Đông buốt giá nhiều tuyết rơi và mát lạnh vào mùa Hè để tuyết không tan rã.
    Lượng mưa hay tuyết là yếu tố chính tạo thành băng đá; băng đá "lớn" theo mức cô đọng của mưa tuyết, hóa đá, rồi "nở" lớn dần. Ở hai đầu trái đất và những vùng núi cao, băng đá "lớn" nhanh hơn do tuyết tích tụ so với mức băng tan vào mùa hè, kết quả là băng đá gia tăng kích thước theo thời gian. Áp suất không khí khiến băng đá đông đặc thành khối, hạt tuyết trở thành tinh thể đá, sắp xếp theo hình thể của các "túi" không khí chung quanh. Những tinh thể đá lớn dần trong khi các túi không khí thu hẹp lại rồi cô lập giữa tảng băng. Một tảng băng đá cô đặc có màu xanh xám.

    Sự chuyển động và khí hậu thay đổi ảnh hưởng đến băng đá, băng đá "lớn" (gia tăng kích thước) theo điều kiện thiên nhiên, băng đá cũng "lớn" rồi thu hẹp theo khí hậu chung quanh. Nói chung, băng đá chuyển động, thay đổi hình thể qua nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm. Tính đến nay, chưa có băng đá nào thành hình trong thời gian dưới 100 năm.

    Băng đá là nguồn nước ngọt lớn nhất của địa cầu, là nơi "dự trữ" nước dưới dạng đá trong mùa lạnh và đá tan thành nước trong ngày ấm. Đây là nguồn nước chính cần thiết cho sự sống tại những vùng đất khô cằn thiếu mưa. Băng đá quan trọng như thế nhưng khi băng đá thay đổi hay tan rã nhanh chóng thì con người lại khốn khổ ngay!

    Hai khối băng vĩ đại của thế giới là nguồn gốc của sự lo ngại việc môi sinh thay đổi: Khối Antarctica quá vĩ đại nên một khi tảng băng rã thành nước, mực nước biển khắp thế giới có thể dâng cao trên 20 bộ Anh và khủng khiếp hơn nữa, khi tảng băng Greenland tan, mực nước biển sẽ dâng cao đến 210 bộ Anh! Ta có thể đoán rằng lúc ấy, thế giới sẽ chìm ngập trong biển nước mênh mông!

    Những băng đá khác, nhỏ hơn, xuất hiện khắp địa cầu, sự hình thành và tan rã của các băng đá này ảnh hưởng đến vùng đất lân cận. Những tảng băng đá có bề dày mấy chục cây số nên con người khó lòng quan sát toàn bộ hình thể khối băng, chỉ phần nổi hay "nunatak" xuất hiện trên bề mặt và được gọi tên theo hình thể.

    Băng đá tan trong biển tạo ra sóng nên có tên "Tidewater glacier", tạm dịch là "băng sóng". Trước khi tan, tảng băng vỡ từng mảnh, các khối băng rã lẫn trong biển cả, hầu hết đều có phần nổi trên mặt nước. Khi mực nước biển sâu, khối băng có thể chìm và đã là thủ phạm gây nhiều vụ đắm tàu trong lịch sử hàng hải. Điển hình của băng sóng là khối Hubbard Glacier dài nhất, trên 10 cây số, nổi trên mặt biển của Alaska.

    Băng đá cũng được xếp loại theo nhiệt độ, băng đá "ôn hòa" (temperate) có nhiệt độ toàn khối ở mức tan đá quanh năm. Băng đá từ băng dương có nhiệt độ dưới 0 và loại băng đá "lưng chừng" có nhiệt độ dưới 0 ở phần chìm và trên 0 ở phần nổi.

    Băng đá thành hình, chuyển động nhanh chậm tùy theo khí hậu, và sự chuyển động này do đó được xem là dấu hiệu của sự thay đổi trong thiên nhiên. Những chuyên viên về khí tượng theo dõi hiện tượng băng đá được gọi là "glaciologists", tạm hiểu là một ngành nghiên cứu rất chuyên môn. Qua các sự kiện quan sát được từ băng đá, các chuyên viên kể trên có thể tìm hiểu ảnh hưởng của sự thay đổi khí hậu, và ước đoán khi nào thì hạn hán, khi nào thì động rừng, bão lụt ..., những ảnh hưởng đến việc trồng cấy, thú vật, con người và môi sinh.

    Khi thiên nhiên bị "hâm nóng" như ngày nay, ta thấy nhiều hơn những tảng băng tan, những cơn lũ lụt. Và trên những ngọn núi trước đây đóng băng quanh năm, đá tan dần. Dưới các tầng băng đá nọ là dấu vết các tai nạn mà con người ghi chép "mất tích". Từ rặng Alps, người ta tìm thấy người chăn cừu gặp nạn 500 năm trước, iceman, quần áo, giày dép của ông cụ ấy nói lên phần nào gốc gác. Từ rặng Andes miền Nam Mỹ cũng thế, người ta tìm thấy 3 đứa trẻ Inca bị mang lên đỉnh núi tuyết để tế thần từ 500-600 năm trước. Nhiều thi thể đông đá (mummified) khác xuất hiện khắp nơi.

    Mới đây, từ vùng La Paz của Bolivia, mấy tay leo núi tìm thấy thi thể của một phi công gặp nạn, Rafael Benjamín Pabón, 27 tuổi, chết trong phòng lái của máy bay từ năm 1990.

    Núi tuyết bảo toàn thi thể của người gặp nạn, thân thể đông cứng. Tuyết đá làm công việc của những tay ướp xác Ai Cập dùng nhựa và hương liệu giữ cho thân thể người chết không bị thối rữa.

    Với những người leo núi, thám hiểm, băng tan cho ta cơ hội khám phá tìm kiếm những người, vật mất tích. Các chuyên gia về băng đá cho rằng hiện tượng tan băng giúp khoa học nhận diện phương cách tan rã của các khối băng tùy theo hình thể, kích thước và phương hướng ... từ đó ước tính các hiện tượng khác trong thiên nhiên.

    Cùng một hiện tượng thiên nhiên, mỗi giới người một cái nhìn riêng và một mục đích khác nhau!

    * Vài dòng về rặng Andes: Tên gọi Andes được cho rằng xuất phát từ chữ "Anti Suyu", một trong 4 vùng của triều đại Inca. The Andes là dãy núi dài nhất, 4,500 dặm từ Nam đến Bắc và có những đỉnh núi cao nhất của thế giới, nằm dọc bờ tây của châu Mỹ đi qua 7 quốc gia: Argentina, Bolivia, Chile, Colombia, Ecuador, Peru, và Venezuela. Rặng núi này được chia làm 3 phần chính: phía Nam, trung tâm và phía Bắc. Vùng núi phía Bắc gần đường xích đạo nhất nên nóng và ẩm với những đồng lầy. Vùng núi phía Nam gần Nam Băng Dương nên lạnh lẽo, thưa người. Tại vùng núi nằm giữa, khí hậu ôn hòa dễ chịu nhất.
     
  13. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    Nam Hàn diệt hải tặc

    Tuần qua, cơ quan truyền thông Yonhap của chính phủ Nam Hàn công bố rằng họ đã thành công trong việc giải cứu một tàu chuyên chở bị đánh cướp trong vùng biển Arabian Sea, giết 8 hải tặc Somali và bắt giữ 5 tên khác.

    [​IMG]

    *Chiến hạm The Choi Young, hình của Yonhap

    Đại Tá Lee Bung-woo, phát ngôn viên của quân đội Nam Hàn, cho biết rằng một đơn vị đặc biệt của Hải Quân Nam Hàn đã chiếm lại tàu chuyên chở tên "The Samho Jewelry", cứu thoát thủy thủ đoàn 21 người, 8 người mang quốc tịch Nam Hàn, 2 người Nam Dương, và 11 người Miến Điện. Trong cuộc giải cứu, vị thuyền trưởng người Nam Hàn trúng đạn nhưng vết thương không nguy hiểm đến tính mạng.

    The Samho Jewelry là tàu chở hàng hóa có trọng tải 11,500 tấn, trên đường đi từ Tích Lan (Sri Lanka) đến the United Arab Emirates thì bị đánh cướp vào ngày 15 tháng Giêng, tại vùng biển cách Somalia khoảng 800 dặm về phía Đông Bắc. Một tuần lễ sau, con tàu được giải cứu.

    [​IMG]

    *Tàu chở hàng The Samho Jewelry, hình của Reuters

    Ngày 18, chiến hạm "The Choi Young" của Hải Quân Nam Hàn đuổi theo The Samho Jewelry và bắt gặp một số hải tặc rời chiếc tàu buôn đi đánh cướp chiếc tàu khác, mang quốc hiệu Mông Cổ, ở gần đó. Hải Quân Nam Hàn gửi một chiếc tàu nhỏ và trực thăng võ trang đến giải cứu tàu buôn Mông Cổ. Khi cuộc giao tranh kết thúc, 3 lính Nam Hàn bị thương nhẹ và một số hải tặc mất tích.

    Hải Quân Nam Hàn kèm giữ chiếc The Samho Jewelry cho đến sáng ngày 21 tháng Giêng, phía Nam Hàn ra lệnh cho hải tặc đầu hàng. Sau đó, Nam Hàn đổ quân lên tàu buôn. Hải tặc võ trang bằng AK-47, súng máy và lựu đạn. Cuộc giao tranh trên tàu The Samho Jewelry bắt đầu lúc 5 giờ sáng giờ địa phương và kết thúc sau 5 tiếng.

    Tổng Thống Nam Hàn, ông Lee Myung-bak đăng đàn báo tin với dân chúng và quả quyết rằng Nam Hàn sẽ không nhượng bộ hay thương lượng với hải tặc.

    Đây là chiếc tàu thứ nhì của công ty chuyên chở Samho Shipping của Nam Hàn bị đánh cướp. Tháng Mười Một năm ngoái, hải tặc Somali đã thả chiếc tàu Samho Dream và thủy thủ đoàn sau nhiều tháng bắt giữ để lấy 9.5 triệu mỹ kim tiền chuộc.

    Việc Hải Quân Nam Hàn giải cứu thủy thủ đoàn bằng võ lực là chuyện không thường xảy ra; hầu hết các quốc gia khác tránh né việc trực tiếp uýnh lộn với hải tặc, sợ chúng giết con tin là thủy thủ đoàn.

    Hải tặc xuất phát từ Somalia không phải là một chuyện mới mẻ, chính Hoa Kỳ cũng đã có lần mang hải quân giải cứu tàu buôn; Pháp đã có lần giải cứu du thuyền nhưng cường đồ vẫn hoành hành ở vùng biển ấy.

    Theo bài tường trình của The Piracy Reporting Center of the International Maritime Bureau Pirates, hải tặc gia tăng cướp bóc, bắt con tin nhiều hơn so với những năm trước đó. Năm 2010, hải tặc bắt giữ 1,181 người làm con tin, và giết 8 người khi đánh cướp 445 chiếc tàu; ít nhất 53 chiếc tàu bị quân cướp bắt giữ.

    Vùng biển Somalia là nơi xảy ra 90% các vụ đánh cướp, 28 con tàu và 638 con tin bị bắt giữ tại đây trong năm ngoái. Chính phủ đia phương được "đóng thuế" nên để mặc kẻ cướp làm ăn.

    Cùng ngày chiếc The Samho Jewelry được giải cứu, hai con tàu khác, một của Syria và một của Mông Cổ bị hải tặc bắt giữ cũng trong vùng biển Somalia.

    Đến một lúc nào đó, những chiếc tàu buôn cũng phải võ trang trong khi chờ đợi các quốc gia trên thế giới bàn thảo và tìm ra giải pháp tuần tiễu các vùng biển huyết mạch một cách hữu hiệu?
     
  14. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    Mẹ hiền hay mẹ mìn?

    [​IMG]

    Gần đây, cuốn sách "Battle Hymn of the Tiger Mother" của Amy Chua, do nhà xuất bản The Penguin Press phát hành, gây ầm ĩ, nhiều lời khen tiếng chê nổi lên khắp nơi. Nghe bạn bè bàn tán, Dế Mèn tò mò nên cũng rinh về một cuốn, giá bán 25.95 mỹ kim cộng thêm thuế là 30 tiền Huê Kỳ.

    Có cái chi mà người ta xôn xao, cãi cọ kịch liệt như thế? Những phản ứng dữ dội xuất phát từ đâu? Đây có phải là một tác phẩm để đời hay không? Tự truyện hay tiểu thuyết, hoặc tiểu thuyết pha thêm cái nhìn từ cuộc sống riêng? Nói theo ý kiến cổ lỗ sĩ "văn dĩ tải đạo" của ông bà mình thì tác giả gửi gấm những gì?

    Vài dòng về tác giả: Amy Chua xuất thân con nhà trung lưu, cha mẹ gốc Hoa, là di dân đến Hoa Kỳ từ Phi Luật Tân, người cha tốt nghiệp đại học MIT. Bản thân tác giả cũng là người khoa bảng, tốt nghiệp cử nhân Kinh Tế & Chính Trị và Luật từ Đại Học Harvard, hiện dạy học tại trường Luật của Đại Học Yale. Tạm hiểu là tác giả học rất giỏi và thành công rực rỡ trong nghề nghiệp.

    Về mặt hình thức, "Battle Hymn of the Tiger Mother", báo chí gọi vắn tắt là "Tiger Mom" với hàm ý "cọp cái", là một cuốn sách dễ đọc, tác giả viết rất đều tay, không có đoạn hay khúc dở; dễ hiểu vì bà ấy là một người viết văn chuyên nghiệp (Amy Chua là tác giả hai cuốn sách khác).

    Nội dung cuốn sách trên 200 trang là những đoạn văn mô tả quan niệm, ý hướng và cách tác giả nuôi dạy 2 đứa con gái, ngày nay Sophia 18 tuổi và Lulu 14 tuổi. Cuốn sách xoay quanh các hoạt động của 3 nhân vật chính, tác giả và 2 cô bé, hình ảnh ông chồng mờ nhạt, như thể ông ấy không dính líu chi đến việc nuôi dạy hai đứa con của mình.

    Amy Chua kể lại rất tự nhiên trong việc trừng phạt đứa con 3 tuổi, không nghe lời thì đuổi ra cửa. Dùng quyền lực để áp đảo uốn nắn đứa con theo mẫu mực của mình. Khi không vừa ý, bà mẹ gọi đứa nhỏ là "rác rưởi". Đầu óc trắng trong ở tuổi thơ ấu dễ tin, dễ ghi nhớ, một đứa nhỏ bị đặt xuống hàng phế thải bởi người nó thương yêu quý trọng, gần gũi nhất, cứ tưởng tượng ra hình ảnh chà đạp kia là phe ta nhộn nhạo muốn ói.

    Không đàn một khúc nhạc hoàn hảo? Không được vào nhà vệ sinh! Việc đào thải tự nhiên của cơ thể được đem ra làm hình phạt cho bản đàn chơi chưa hoàn mỹ. Tác giả khoe rằng việc tập luyện âm nhạc chuyên cần quá, kỷ luật quá nên chiếc dương cầm trong nhà hằn vết răng uất ức của một đứa nhỏ.

    Sinh nhật người mẹ, hai đứa nhỏ 3 và 7 tuổi vẽ thiệp nguệch ngoạc đem tặng, bà mẹ nhìn tấm thiệp rồi biểu rằng tôi xứng đáng hơn tấm thiệp này nhiều lắm! Kiếm thiệp khác đi!

    Đứng hạng nhì trong cuộc thi toán? Đứa trẻ phải luyện tập bằng cách làm 2 ngàn bài toán mỗi ngày cho đến khi nó giành lại hạng nhất.

    Hai đứa trẻ kia không được chơi với bạn bè, không được qua nhà bạn ngủ qua đêm, không được chơi trò chơi điện tử hoặc tham dự những món giải trí bị bà mẹ gọi là rác rưởi như làm thủ công.
    Thời giờ hoàn toàn dành cho trường học và môn giải trí do cha mẹ chọn lựa, âm nhạc.

    Sơ sơ, học bạ của hai đứa trẻ toàn hạng A, và chúng đoạt giải nhất trong các kỳ thi trình diễn âm nhạc.
    Bà mẹ hãnh diện về thành quả huấn luyện của mình, giỏi dang như thế, thành công như thế, không thể nào bà ấy chập nhận được dòng dõi mình "thất bại". Amy Chua rất chắc chắn trong khuynh hướng giáo dục kia, hai đứa trẻ trở thành hai kiểu mẫu, học hay chơi, cái chi cũng đứng đầu, niềm mơ ước kỳ vọng của những cha mẹ trong giới trung lưu trí thức. Bà ấy viết rằng cách giáo dục kỷ luật này đem lại kết quả mỹ mãn, không như cách giáo dục dễ dãi, lỏng lẻo của Âu Mỹ, cho con cái làm theo ý muốn nên đứa trẻ sinh lười biếng, hư hỏng, không sử dụng hết tiềm năng của nó.

    Tác giả so sánh cái nhìn về tiềm năng giữa phương Đông và phương Tây; ở phương Tây cha mẹ nhắm đến "tài năng" nên câu khen thưởng thường là "con giỏi lắm" trong khi từ phương Đông "con mẫn cán, chịu khó lắm", nhắm đến sự cố gắng khi làm việc. Nuông chiều và khen lao ẩu để khích lệ con cái là điều bất cập, dở như hạch của cha mẹ Âu Mỹ!

    Tóm tắt là bà Chua đưa ra một khuynh hướng làm việc mẫu mực, cứ cố gắng làm hết sức thì sẽ thành công; thất bại là do làm việc chưa đủ nên cứ tiếp tục mà cố gắng. Khi thành công nằm trong tài năng, ta sẽ dễ dãi mà chấp nhận rằng mình không giỏi nên thất bại và không cần cố gắng nữa. Dựa trên mẫu mực này, tác giả chê bai cách dạy dỗ con cái đương thời và biểu rằng tui xuất phát từ lò luyện kim nên từ thỏi sắt đã trở cây kim vàng ròng như thế này. Bà ấy kể chuyện ông bố khi dắt Amy đi lãnh giải thưởng từ trường học, năm ấy đứng hạng nhì, đã trừng mắt quát tháo là đừng bao giờ làm xấu ông ấy như thế nữa.

    Tạm kết luận là qua những câu chuyện kể của tác giả, niềm vui chỉ đến từ sự thành công, những thứ như đi dạo trên biển chỉ là niềm vui do Disney sáng tác để an ủi những người chưa hề đoạt được cái giải nào!

    Cuốn sách kể trên xuất hiện cùng lúc với danh sách thành quả giáo dục của học sinh khắp thế giới, học trò Thượng Hải đứng đầu về nhiều mục, con nít Huê Kỳ lẽo đẽo theo sau mấy chục bước. Các nhà giáo dục Huê Kỳ đang chóng mặt trước các con số không mấy hay ho kia thì cuốn sách của Amy Chua xuất hiện như thể muốn dọa dẫm, không giáo dục kiểu của tui ("Chinese mother" và cả tỷ bà mẹ khác từ Hoa Lục) thì con nít Hoa Lục sẽ đè bẹp Huê Kỳ trong tương lai rất gần!

    Có vài điều mà bà Chua không đề cập đến: Theo thống kê của bộ Y Tế Hoa Kỳ, nhóm phụ nữ Mỹ gốc Á Châu, tuổi từ 15-24 (tuổi thành người), có tỷ lệ tự tử cao nhất trong thập niên vừa qua. Lý do là không chịu nổi áp lực của gia đình. Thứ nhì, theo các tài liệu về "làm việc chung" (teamwork), hầu như chuyên viên nào cũng kết luận rằng khả năng hợp đoàn, làm việc chung với những người khác là yếu tố cần thiết nhất để đưa một cá nhân đến thành công. Công việc càng lớn càng cần nhiều người chung tay góp sức. Chỉ những người thực sự tài giỏi mới có thể thành công trong việc lớn, biết dùng sức mình và sức lực của những người cộng sự.

    Một vài thí dụ điển hình: Có bao nhiêu đứa trẻ thực sự yêu âm nhạc khi suốt thời thơ ấu nó bị ép buộc phải luyện tập hàng giờ mỗi ngày? Nó có thể là một tay đàn giỏi, chơi đúng y bong mọi âm tiết nhưng chưa hẳn sẽ trở thành một nhà soạn nhạc sáng tác được những tấu khúc hay.
    Luyện tập một khúc nhạc suốt 4 tiếng đòi hỏi sự tập trung đầu óc, sự hoạt động liên tục của các cấu trúc, bộ phận trong phần não bộ về thính giác nhưng không cần sử dụng mọi vùng não bộ như việc sinh hoạt chung với một đám trẻ khác.
    Hãy xem nhưng đoạn phim thu hình những đứa trẻ trong sân chơi, những đoạn phim về cách trẻ mới lớn sinh hoạt: Đứa trẻ muốn chơi chung một cách thân thiện, vui vẻ sẽ cần nhận biết nhiều thứ, dùng tai, mắt và cả sự cảm nhận để nhìn ra mình, sự khác biệt giữa mình và những người khác; có thích hợp với đám trẻ chơi chung không... Nó sẽ cần nhận biết và phân tích cá tính từng đứa trẻ khác: Đứa nào là đầu xỏ thích lấn lướt, khoe tài khoe sức, đứa nào nhu mì hiền lành, dễ chịu... Khi nào thì sắp cãi nhau, và đứa đầu xỏ kia làm cách nào để lôi kéo những đứa trẻ khác phụ họa với nó? Đứa nào đứng sau nhưng "dùng" đứa khác để sinh sự qua mấy câu nói khích bác... Như thế nào là "khuôn thước" trong cái xã hội nhỏ xíu kia, cử chỉ hành động của nó có thích hợp hay không... Nghĩa là chơi chung, làm việc chung đòi hỏi nhiều hoạt động của não bộ hơn so với tập chơi một bản nhạc.
    Bắt đứa con luyện nhạc, học toán một mình như thế sẽ đánh mất thời gian quý báu để học hỏi cách sinh hoạt chung từ những đứa trẻ chung quanh. Đây là một khả năng đến từ kinh nghiệm, không trường lớp nào dạy dỗ cả. Và khả năng kia thiết yếu cho sự thành công.

    Các bài nghiên cứu từ Massachusetts Institute of Technology và Carnegie Mellon đều cho thấy chỉ số thông minh một nhóm lên cao nhất khi những người trong nhóm nhận ra cảm tính (emotion) của nhau: ý kiến của mỗi người được ghi nhận và phát biểu nhịp nhàng, và nhận ra cái hay / dở của mỗi người trong nhóm. "Đọc" ra ý nghĩ và hành động của người chung quanh không đến từ việc luyện tập riêng một bộ môn nào đó mà đến từ kinh nghiệm sinh hoạt chung.

    Việc học hành luyện tập các bộ môn riêng biệt nằm trong chương trình giáo dục soạn sẵn trong khi các khả năng nhận biết, thẩm xét sự kiện chung quanh đến từ việc học hỏi lúc chơi đùa, kéo bè, họp bạn. Amy Chua chỉ cho phép con mình học hỏi theo chương trình giáo dục soạn sẵn, và dùng hết mọi thời giờ trong ngày để theo đuổi. Tất nhiên, hai đứa trẻ sẽ chẳng có giờ phút nào để chơi đùa với bạn. Thế giới của chúng thu nhỏ trong lớp học, lớp nhạc, giờ học bài, luyện đàn và những sinh hoạt gia đình, giữa người thân yêu và thường là không độc hại.
    Ấp ủ con cái và ép chúng vào khuôn mẫu như bà Chua, chỉ cho vào thư viện mà cấm hẳn phòng ăn tập thể, cafeteria, thì hai đứa trẻ khi khôn lớn sẽ thiếu kinh nghiệm. Đời sống thường có hình ảnh của một phòng ăn tập thể hơn là một thư viện vắng tanh vắng ngắt lác đác vài con người yêu sách vở.

    Bây giờ thì Amy Chua đang bận rộn trả lời những câu hỏi về cách giáo dục của mình, bà ấy chống chế rằng đây là một cuốn truyện kể về đời sống gia đình riêng, không phải là cuốn sách giáo khoa về giáo dục, dạy dỗ cách nuôi dạy con cái.

    Nhìn theo mặt thương mại: Cuốn sách kia thành công rực rỡ, tác giả rinh về bạc triệu, nhờ các phản ứng giận dữ nổi lên khắp nơi. Dế Mèn đoán rằng vì tác giả là một phụ nữ thành công nên bá tánh mới phản ứng dữ dội (và mua ào ào để soi từng chữ, lập lại từng câu văn, và viết bài phê bình phê lọ gay gắt); nếu không có danh tước giáo sư Luật, cuốn sách của Amy Chua sẽ có mấy người đọc và làn sóng dư luận kia hẳn đâu ồn ào như thế?

    Trở lại với "Văn dĩ tải đạo": Chẳng biết Amy Chua gửi gấm những gì nhưng khi gấp cuốn sách lại, Dế Mèn có cảm giác bần thần, ái ngại cho hai cô con gái, nếu đây là đời sống thực sự diễn ra trong gia đình nọ. Kết quả của việc giáo dục như trại lính hay nhà tu mô tả trong "Tiger Mom" là những gì? Ta đành chờ đến khi hai cô bé kia trưởng thành, chúng sẽ trở nên người sống bình thường và hữu ích cho xã hội hay bệnh hoạn và thất bại trong việc giao tiếp với người chung quanh?

    Tác giả? Amy Chua là một phụ nữ tài giỏi và thành công trong xã hội trên nhiều phương diện: học vấn, danh vị và tiền bạc. Có một điều bà ta chưa thành công là việc không đoán biết được phản ứng của những người chung quanh khi bà ta nói lên ý kiến của mình. Thế giới thành công kia khá nhỏ hẹp, một đại học lừng lẫy thế giới và một người chồng cùng nghề, cùng sinh sống, thành công trong một môi trường. Người đọc đến từ khắp nơi, không chỉ một thế giới thu hẹp của bà ấy nên từ các môi trường kia, nảy sinh những cái nhìn rất khác biệt và đôi khi đối nghịch. Kết quả là Amy Chua nổi tiếng nhưng chưa hẳn là bà ấy muốn mình nổi tiếng theo chiều hướng này?!
     
  15. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    Trí thông minh của loài vật

    [​IMG]

    * Hình của Nova Science


    Đây là câu chuyện của Chaser, một con chó giống "border collie", đoạt giải quán quân về mức nhận biết ngôn ngữ loài người, nghe và nhận dạng 1,022 chữ! Kết quả này cho thấy mức hiểu biết của loài vật cao xa hơn là ta đoán, và có thể giải thích phần nào cách trẻ em học ngôn ngữ.

    Theo bài tường trình của của Tiến Sĩ John W. Pilley, giáo sư Tâm Lý Học đã hồi hưu nhưng vẫn tiếp tục khảo cứu tại Wofford College, Spartanburg, South Carolina, trên tạp chí Behavioural Processes ấn bản ngày 11 tháng Giêng, 2011, Chaser là con chó thông minh.

    Cuộc khảo cứu bắt đầu vào năm 2004, khi ông Pilley đọc trong sách vở về chú border collie Rico được chủ dạy nhận biết 200 vật thể. Nhà Tâm Lý bèn thử lại thí nghiệm kể trên nhưng sử dụng cách huấn luyện của riêng mình.
    Ông ấy mua con chó nhỏ và bắt đầu huấn luyện 4-5 tiếng mỗi ngày, bắt đầu bằng việc giơ vật thể cho Chaser xem, gọi tên vật thể ấy ít nhất vài chục lần; sau đó đem giấu và bảo con chó nhỏ đi tìm về. Trong khi Chaser xục xạo đi tìm, tên vật thể được lập đi lập lại nhiều lần. Mỗi ngày con chó được dạy 1- 2 tên gọi mới, và hàng tháng mỗi tên gọi đều được đem ra để nhắc nhở.
    Sau 6 năm huấn luyện, Chaser vẫn tiếp tục muốn học, vẫn đòi chủ chú ý đến mình 4-5 tiếng mỗi ngày nhưng ông Pilley thì thấm mệt, vào tuổi 82, ông cụ biểu rằng tôi phải đi ngủ để trốn con chó năng động này!
    Khác với giống chó kiểng, border collie là giống chó làm việc, được xem là thông minh, chịu khó. Giống chó này được huấn luyện để chăn thú ngoài đồng. Khi nuôi trong nhà, cần được huấn luyện để làm một công việc nào đó kẻo con thú quẩn, buồn bực rồi cắn xé vật dụng trong nhà.

    Mục đích chính của Tiến Sĩ Pilley là thử xem ông ấy có thể dạy Chaser số lượng chữ nhiều hơn Rico hay không, kho ngữ vựng lớn nhỏ thế nào. Kho ngữ vựng kia là số vật thể được gọi tên, và con chó có thể nhận ra cái tên ấy; nghĩa là chó có thể nghe tên gọi, nhận ra vật thể liên quan đến tên gọi. Việc làm này đòi hỏi nhiều phần não bộ hoạt động cùng lúc và nhịp nhàng với nhau kể cả trí nhớ.

    Để nhớ mọi tên gọi sử dụng, ông Pilley viết tên trên mỗi vật thể. Trong 3 năm, kho chữ của Chaser bao gồm tên 800 con thú nhồi bông, 116 trái banh, 26 dĩa Frisbee và một số vật thể bằng nhựa.
    Khi số vốn của Chaser lên đến 1, 000 chữ thì ông Pilley hết muốn dạy tên mới dù chưa biết con chó có thể học thêm bao nhiêu chữ nữa. Ông ấy xoay qua tìm hiểu trí khôn của con vật qua một khía cạnh khác, chán ngữ vựng, ông thử văn phạm!

    Các chuyên viên tâm lý đặt câu hỏi về trí thông minh của chó, khi nghe lệnh "lượm banh", "lượm báo"... thì con vật "nghĩ" gì? Nó có phân biệt chữ "lượm" và "banh" hay "báo" như con người không? Hay chỉ biết một chữ với hai âm thanh như "lượm-banh"? Và theo lệnh mà nhặt trái banh mang về?
    Tiến Sĩ Pilley tìm ra câu trả lời. Ông ấy dạy Chaser 3 động tác khác nhau: nắm, ngửi và lấy một vật thể. Đưa ra một mớ đồ chơi, Chaser đã làm đúng cả 3 động tác với mỗi món đồ chơi khi ông Pilley biểu nó hành động. Qua thí nghiệm này nhà tâm lý kết luận, con chó hiểu ý nghĩa của một động từ!

    Các thí nghiệm của Tiến Sĩ Pilley kéo dài nhiều năm, được lập lại nhiều lần qua nhiều cách khác nhau bởi các chuyên viên Tâm Lý và Giáo Dục khác. Lý do? Họ muốn đi đến một kết luận rõ ràng và chính xác.

    Huấn luyện thú vật là tiến trình kéo dài nhiều tháng nhiều năm, con thú cũng như người dạy đều trải qua những kinh nghiệm tìm hiểu nhau. Sách vở ghi chép rất nhiều về sự hiểu biết qua cảm nhận của thú vật, nổi tiếng nhất là hiện tượng "Clever Hans". Từ đầu thế kỷ XX, các nhà nghiên cứu đã tìm hiểu và ghi chép việc một con ngựa, Clever Hans, "biết" làm toán, con ngựa này dậm chân để trả lời câu đố về toán học, một bài toán cộng giản dị.
    Nhà Tâm Lý Oskar Pfungst đã khám phá ra rằng con ngựa tên Hans chỉ biết câu trả lời nếu người hỏi cũng biết câu trả lời! Ông ấy chứng minh sự liên quan giữa người và thú vật: Con thú quan sát và cảm nhận được ý nghĩ của người chung quanh, cử động của thân hình người hỏi, hơi thở, nhịp tim, mùi mồ hôi của người quan sát chung quanh. Khi Hans trả lời gần đúng, người chung quanh hầu như thở ra nhẹ nhõm và lúc con vật chưa đúng, kẻ quan sát nín thở chờ đợi! Nhờ các cảm nhận này, Hans "biết" khi nào thì ngừng dậm chân.
    Tóm tắt, hiện tượng "Clever Hans" là nguyên lý căn bản giải thích sự cảm nhận của thú vật: chúng hành động (vô thức) theo các phản ứng của người chung quanh, nhất là người huấn luyện quen thuộc; các hành động này không xuất phát từ sự hiểu biết hay trí thông minh, xét đoán. Do đó khi hoạch định các thí nghiệm tìm hiểu trí thông minh, mức hiểu biết của loài vật, các chuyên gia cần tìm cách loại bỏ tính "cảm nhận" (Clever Hans effect) để đi đến kết luận chính xác.

    Các thí nghiệm của Tiến Sĩ Pilley và đồng sự cũng không ngoại lệ, cũng tìm cách loại trừ mọi hình thức "nhận biết" qua cảm nhận của Chaser, nhiều người thử nghiệm khác nhau, họ đứng bên ngoài căn phòng nên con chó không thể quan sát các cử động hay ngửi mùi thân thể.
    Chương trình thí nghiệm được thực hiện một cách cẩn thận như thế nên bài tường trình của Tiến Sĩ Pilley được các chuyên gia khắp thế giới nhìn nhận là có kết quả chính xác.

    Hiểu biết cách học hỏi của loài vật ta sẽ áp dụng các kiến thức kia như thế nào vào việc dạy dỗ con trẻ? Theo ông Pilley, cách loài vật, Chaser và Rico, học tên và nhận biết vật thể cũng là cách trẻ em học hỏi trong thủa thơ ấu.
    Tất cả 1,022 chữ trong kho ngữ vựng của Chaser đều là danh từ riêng, mỗi vật thể đều được đặt một tên riêng, và con chó nhỏ học qua cách nối kết âm thanh với vật thể, lập đi lập lại. Trẻ em học hỏi theo cách tương tự nhưng chỉ trong vài tháng - năm đầu tiên, sau đó đứa trẻ có thể nhận diện "thể loại" hay danh từ chung, thí dụ "cái ly" để chỉ mọi vật thể có hình dạng tương tự và dùng để uống nước. Nhận biết vật thể và xếp loại là một ý niệm "trừu tượng", khả năng trí tuệ cao hơn, và là sự khác biệt giữa người và thú vật.

    Trẻ em ghi nhận khoảng 10 chữ mới mỗi ngày; trung bình, khi học hết trung học, một đứa trẻ hiểu biết khoảng 60 ngàn chữ. Con người học ngôn ngữ qua việc "xếp loại" và liên tưởng để ghi nhớ. Thí dụ: khăn quàng, áo lạnh, găng tay, giày bốt... là những thứ dùng trong mùa lạnh, và đi cùng với nhau trong phần "trang phục mùa đông". Ta chỉ cần dùng chữ "lạnh", "mùa Đông".. là người khác hình dung ra những món đồ dùng này. Trái lại thú vật, ít ra con chó Chaser, không thể "nối kết" những âm thanh nọ với nhau để liên tưởng, mỗi chữ là một âm thanh riêng rẽ, một vật thể nên ghi nhận và nhớ có phần khó khăn hơn.
    Nói giản dị, khi đứa trẻ chưa hay không thể nhận biết vật thể một cách trừu tượng, việc huấn luyện cần bao gồm cách lập đi lập lại, và chỉ dùng 1 chữ mới, một hành động mới sau khi đứa trẻ đã hiểu chữ / làm được hành động trước đó.

    Trở lại với Chaser, con chó thủ vai chính trong chương trình truyền hình Nova về trí thông minh của loài vật, phát hình ngày 9 tháng Hai sắp tới, các chuyên viên giáo dục cho rằng chưa hẳn Chaser đã là con vật thông minh nhất, việc huấn luyện kia cho thấy nếu ta đầu tư thời giờ vào việc huấn luyện như Tiến Sĩ Pilley đã huấn luyện Chaser, thì con thú nào cũng có thể học và nhận biết bằng ấy thứ? Nghĩa là họ đồng ý với khái niệm có công mài sắt...

    Bạn thử xem sao?
     
  16. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    Chim ưng xây tổ

    [​IMG]

    * Hình của F. Sergio

    Con người xây nhà, xây thành quách để trưng bày của cải, trình diễn sự sang giàu. Càng nhiều của cải càng xây nhà cửa cho đẹp, cho rỡ ràng mặt mũi, trang trí thêm những vật dụng đắt tiền... Thú vật dường như cũng biết khoe của, khoe tài như thế, chúng xây tổ thật chắc chắn, thật đẹp để khoe tài sức với các con thú khác.
    Đây là điều ta vẫn nghĩ cho đến khi bài biên khảo về vật dụng xây tổ của chim ưng xuất hiên.
    Theo bài tường trình trên tạp chí Science, ấn bản ngày 21, tháng Giêng, 2011, Tiến Sĩ Fabrizio Sergio, chuyên viên về môi sinh tại Doñana Biological Station, Tây Ban Nha đã công bố kết quả tìm hiểu về loài chim ưng và cách xây tổ của chúng. Vật dụng chim ưng chọn dùng xây tổ không chỉ để làm đẹp mà còn là hình thức biểu dương sức mạnh.

    Ông Sergio và đồng sự đã theo dõi tìm hiểu 127 con chim ưng, chủng "black kite", tại Doñana National Park trong suốt 5 năm ròng rã.
    Sự kiện chim làm tổ cho đẹp đã được ghi chép từ những năm trong thế kỷ XIX, và khi tìm thấy tổ chim, ta cứ đinh ninh là những vật dụng kia để "làm đẹp". Các quan sát của các chuyên viên kể trên cho thấy vật dụng xây tổ được chim ưng dùng làm dấu hiệu dọa dẫm kẻ thù.

    Chủng chim ưng dùng nhiều nhất các mảnh plastic màu trắng là những con black kites khỏe mạnh hơn và sinh đẻ nhiều hơn.
    Theo ông Sergio, plastic được dùng làm dấu hiệu dọa dẫm kẻ thù. Khi các chuyên viên "bày hàng", đưa ra các mảnh plastic trong suốt, màu xanh lục và trắng, chim ưng luôn chọn plastic trắng.
    Chim và chim mái đều dùng plastic; những con chim trong tuổi "thanh niên" (khoảng 7 - 12 tuổi), khỏe mạnh và đang truyền giống dùng nhiều plastic nhất. Cả hai nhóm chim non và chim đã già đều không dùng plastic cho mấy!
    Quan sát các sự kiện kể trên ta có thể phỏng đoán, chim "thanh niên" đang tuổi sinh đẻ nên dùng plastic xây tổ, chim non còn trong tuổi "ăn chưa no lo chưa tới" và chim cao niên không còn màng đến việc xây tổ chăng?

    Khi các chuyên viên khảo cứu thử giúp đỡ bằng cách thêm plastic vào tổ, thì lạ lắm, các con chim kia từ chối bằng cách loại bỏ các mảnh plastic nọ. Lần "giúp" nào cũng bị từ chối như nhau.
    Ông Sergio cho rằng những con black kite kia không muốn "làm mẽ", không muốn phô trương hình ảnh sức mạnh không phải của chúng. Nhiều plastic trong tổ quá thì các con chim khác sẽ đoán ra "đồ giả"?
    Không biết các con black kite kia tính toán những gì, nhưng ít ra, chúng có vẻ "thật thà", chỉ chọn những thứ chúng muốn, không thêm thắt, vay mượn từ bên ngoài!

    Chim ưng là loài chim săn mồi (birds of prey) dùng đôi cánh vũ bão và đôi mắt tinh nhanh (chữ "mắt cú vọ" xuất phát từ đây?). Loài chim này có đôi vuốt rất sắc và cái mỏ nhọn như dao; hai vũ khi này dùng để xé và đục thân thể con mồi. Chim mái thường to xác hơn chim trống. Chim ưng còn được gọi chung là "raptor", chữ La Tinh rapere có nghĩa là vồ, bắt bằng sức mạnh, dùng những thú vật khác làm thực phẩm.
    Chim ưng săn mồi và bắt cả thú vật có kích thước tương đương hoặc to lớn như nó. Đôi khi, ưng ăn cả xác chết để sống.
    Chim săn mồi có hai nhóm, nhóm săn vào ban ngày (chim ưng, đại bàng, diều hâu...) và nhóm ăn đêm (cú), nhưng có chung một số các đặc điểm về cấu trúc thân thể.

    Trở lại với chuyện làm tổ của black kite, trước khi có plastic thì chim ưng dùng những gì làm vật liệu xây tổ? Giấy, vải? Lông chim khác? Len từ da dê cừu?
    Đây là những dữ kiện mà ta chỉ có thể đoán mò vì không có cách nào để tìm ra và chứng minh câu trả lời là đúng. Tuy nhiên, một điều khá chắc chắn là thú vật cũng như con người, biến hóa theo môi sinh chung quanh để sống còn, những con chim ưng nọ cũng thế.
    Ngày nay, plastic lền khên nên black kite cũng biết sử dụng để xây tổ và biểu dương sức mạnh; từa tựa như việc con người chế biến những vũ khí tối tân theo thời đại mới để nhắn với người chung quanh: đừng đụng đến tui?!
     
  17. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    Cây cỏ nhận ra chất nổ?

    [​IMG]

    *Hình của Colorado State University

    Chiến tranh mang đủ mọi khuôn mặt, từ bom đạn, mìn bẫy đến khủng bố phá hoại. Việc quân khủng bố giấu chất nổ vào giày dép, quần áo lót lên máy bay để phá hoại và gây tiếng vang dẫn đến việc khám xét, dò vũ khí, chất nổ từ hành khách và hành lý... Máy móc được sử dụng vào việc tìm kiếm, chó cũng được dùng vào việc đánh hơi tìm mùi chất nổ như ta thấy tại phi trường khắp nơi trên thế giới.

    Mới đây, khoa học đã tiến thêm một bước nữa trong công trình khám phá chất nổ: Dùng cây cỏ để nhận dạng chất nổ TNT.

    Tiến Sĩ Mauricio S. Antunes và các đồng sự tại Colorado State University, tường trình trên tạp chí khoa học PLoS ONE (w*w.plosone.org), bản điện tử ngày 11, tháng Giêng, năm 2011, là họ đã khám phá ra cách khiến cây cỏ đổi màu khi "gặp" chất nổ TNT.

    Việc cây cỏ nhận biết sự việc chung quanh và phản ứng để thích nghi, điển hình là việc đổi hướng theo ánh nắng để lấy thêm chất dinh dưỡng, "ngửi" được mùi hương của cây chủ, cây ký sinh vươn mình theo để sống bám, "nuốt" côn trùng để lấy chất bổ dưỡng... là những sự kiện đã được ghi chép kỹ lưỡng và đầy đủ.

    Hiểu được cách "nhận biết" của cỏ cây, con người đã tìm ra cách "dạy" cỏ cây ngửi mùi thuốc nổ (TNT được dùng trong thí nghiệm này, đây là loại chất nổ phổ thông nhất) và đổi màu nhanh chóng. Nôm na là cây cỏ làm công việc "thám tử" để giúp con người tìm ra chất nổ kịp thời!

    Cây cỏ trong phòng thí nghiệm được biến thái qua cách gây giống, tạo ra loại cây có thụ thể (receptor) "nhận" mùi chất nổ TNT, cây thay màu từ xanh lục ra trắng khi "gặp" mùi TNT trong không khí, một loại phản ứng hóa học. Cây thí nghiệm "ngửi" được lượng TNT ở 1% mức "ngửi" được bởi chó lành nghề. Tạm hiểu là cây cỏ (sau khi biến thái) "nhạy" (thính mũi) gấp trăm lần chó.

    Đây là loạt thí nghiệm đầu tiên, bước thứ nhất, trong chương trình thí nghiệm quy mô do Bộ Quốc Phòng và Bộ Nội An của Hoa Kỳ tài trợ. Hiện nay, cây chỉ đổi màu sau mấy tiếng đồng hồ; bước kế tiếp là làm thế nào để cây "đánh hơi" nhanh chóng, trong khoảng 90 giây, và màu trắng kia phải rõ ràng để các nhân viên an ninh có thể nhận biết mà không lầm lẫn, nghĩa là việc đổi màu phải rõ ràng và nhanh chóng, giản dị để mắt thường có thể nhìn thấy.

    Các chuyên viên về Thực Vật Học cho rằng để dùng cây cỏ vào việc đánh hơi họ sẽ cần tìm cách "dạy" cây cỏ phản ứng nhanh chóng rồi trở lại trạng thái bình thường trong một thời gian ngắn. Cả hai yếu tố là những mục đích có thể thực hiện được. Bộ Quốc Phòng Huê Kỳ ráo riết thúc đẩy các chuyên viên tìm kiếm và cho ra lò loại cây "ngửi" thuốc nổ trong vòng 3 năm; tuy nhiên về mặt kỹ thuật, các chuyên viên cho rằng thời gian cần thiết là 5 - 7 năm!

    Cứ tưởng tượng thay vì cần nhiều nhân viên an ninh phi trường khám xét, rờ rẫm hay bắt hành khách đi qua máy quang tuyến, ta chỉ cần đặt các chậu cây ngửi thuốc nổ khắp nơi và mỗi khi cây đổi màu là ta tha hồ khám xét cái món "bốc mùi" khủng bố, bất kể người hay vật? Ở chiến trường sôi động, thay cho những cỗ máy dò mìn kềnh càng, tốn kém ta chỉ cần mang đến những bụi cây xanh lá, thế là món thuốc nổ nào giấu ở đâu cũng bị "ngửi" ra.

    Cây cỏ quý như thế thì vừa đẹp mắt vừa hữu dụng, tiện và lợi trăm bề, hay quá phải không bạn?
     
  18. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    Thịt trâu Mỹ cũng như thịt bò?

    [​IMG]

    Trên thực đơn của những quán ăn chuyên trị món thịt như "steak house" bây giờ đã thấy lác đác những món "steak" khác ngoài thịt bò, như "bison steak" hoặc "buffalo steak". Thực ra bison không phải là "trâu" mà chỉ là bà con với bò và trâu nước (water buffalo hay trâu Á Châu). Bison bị gọi lầm là "buffalo" nên thành tên cho đến ngày nay.

    Bison là một loài thú gốc gác ở Bắc Mỹ nên tạm gọi là trâu Mỹ để phân biệt với loài trâu kéo cày ta thường thấy bên Á Châu.
    Bison là con thú hữu nhũ lớn xác nhất tại Bắc Mỹ, sống trên dưới 30 năm, tuy nhiên thân xác phát triển hoàn toàn sau 5-6 năm. Con cái nặng từ 1,000 - 1,200 cân Anh, con đực nặng khoảng 1,500 -2,000 cân Anh. Trâu Mỹ bắt đầu giao phối khi lên 2 tuổi, và sanh con hàng năm nếu có đủ thức ăn; thời gian mang thai là 9.5 tháng.

    Xẻ thịt trâu làm thực phẩm không phải là một điều mới lạ vì thổ dân châu Mỹ đã làm như thế cả ngàn năm nay nhưng món thịt kia từ từ rơi vào quên lãng từ khi người Âu đến châu Mỹ và mang theo món thịt bò quen thuộc của họ. Thế là người ta nuôi bò để vắt sữa và lấy thịt, và bá tánh tập làm quen với hương vị thịt bò.

    Thịt bò được xem là loại thịt đắt nhất so với thịt heo và thịt gà. Người ta ăn thịt bò như dấu hiệu "chịu ăn", ăn sang, nhiều tiền của! Thịt bò trải qua một thời gian lên voi rồi xuống chó vì bá tánh lo âu đến sức khỏe.

    Khi phong trào "sống khỏe" trở nên ồ ạt, người ta bắt đầu chăm bẳm nhìn ngó những chỉ số dinh dưỡng như lượng chất béo, chất đạm... trong các loại thịt thì thịt bò cầm đèn đỏ và bị xem là loại thịt nhiều mỡ nhất. Các chuyên viên dinh dưỡng bắt đầu cổ võ việc ăn nhiều rau trái, ít tinh bột và ít thịt mỡ, nhất là thịt bò (hay "red" meat, thịt nào chẳng "đỏ" vì máu đâu riêng chi thịt bò?). Thế là thịt bò xuống ngôi vị.

    Bây giờ khi người ta ăn thịt bò thì tính cân lượng rõ ràng để xem rằng mình đã đem vào cơ thể bao nhiêu mỡ, mỡ tốt hay xấu ... Những món như cholesterol, omega-3 đã khiến món thịt khác chen được cẳng chân vào thị trường thịt mỡ. Ấy là món thịt trâu Mỹ hay bison.

    Khác với bò cừu, trâu Mỹ nguyên thủy là loài thú rừng, đang được thuần hóa để nuôi mổ thịt. Sống trong thiên nhiên hoang dã, trâu Mỹ ăn cỏ (trong khi bò nuôi làm thịt ăn hạt ngũ cốc), thịt săn hơn và chứa lượng mỡ rất thấp. Nói chung, 100 gram (3.5 oz) thịt trâu Mỹ chứa khoảng 2.4 gram mỡ, 143 calorie và 82 mg of cholesterol so với thịt bò chưa gấp 4 lần lượng mỡ.

    Khi việc ăn thịt trâu rừng trở nên phổ thông thì trong thập niên vừa qua, chủ trại chăn nuôi đã bắt đầu chuyển sang việc nuôi trâu Mỹ lấy thịt.

    Năm 2010 đánh dấu việc thay đổi trên thị trường thịt mỡ. Theo bài tường trình của hội Chăn Nuôi Trâu Mỹ (the National Bison Association) thì thịt trâu Mỹ ngon không kém chi thịt bò về hương vị, lại "tốt" hơn thịt bò về mặt dinh dưỡng. Tốt thế nào thì ta chưa biết nhưng thịt trâu Mỹ đắt gấp đôi thịt bò khi mua cùng cân lượng và cùng một loại thịt. Chẳng hạn như 1 cân Anh New York strip, thịt trâu Mỹ bán với giá 25 mỹ kim và thịt bò bán với giá 15 mỹ kim.

    Việc nuôi trâu Mỹ xẻ thịt được cổ võ kịch liệt dựa trên khái niệm con người sống dựa vào thiên nhiên để tạo thực phẩm. Nguồn tài nguyên kia cứ hết rồi lại có, không cạn kiệt nên được xem là chuyện lâu dài. Đồng cỏ mênh mông, tha hồ thả trâu ra đồng ăn cỏ, trâu lớn đem xẻ thịt bán, trâu mẹ đẻ trâu con, cứ thế ta tiếp tục. Nghe dễ dàng như chuyện cô bé bán sữa dê mơ mộng!

    Trên thực tế, các miếng thịt trâu Mỹ bán trên thị trường hay quán ăn là tảng thịt xuất phát từ những con trâu đã được "nuôi thêm" bằng hạt ngũ cốc (bắp ngô) trong hai tháng cuối đời trước khi đem mổ để duy trì một loại hương vị nhất định của miếng thịt. Chẳng là trâu Mỹ ăn cỏ thả chạy rong nên hương vị thịt thay đổi theo mùa màng, thổ nhưỡng. Thiên nhiên thì thay đổi, hôm nay nắng, mai mưa, cỏ cây cũng sẽ thay đổi theo. Cứ tưởng tượng miếng thịt mua về hôm nay có mùi vị abc, tháng sau lại có hương vị xyz khác lạ thì đâu mấy người tiêu thụ muốn tiếp tục thử?

    Thế là các chủ lò thịt tìm cách duy trì phẩm chất qua việc nuôi trâu Mỹ bằng ngũ cốc ít lâu trước khi mổ thịt, ăn ngũ cốc nên thịt trâu có thêm chút mỡ.

    Đây là món thịt mới keng trên thị trường, chưa mấy ai thưởng thức nên sự so sánh hương vị thịt trâu nuôi (bằng) ngũ cốc và nuôi cỏ còn là đề tài chưa ngã ngũ. Cứ đọc các con số của hội Chăn Nuôi thì sẽ rõ: Trung bình, tính đổ đồng mỗi người Huê Kỳ ăn khoảng 65 cân Anh thịt bò hàng năm so với 1/4 cân Anh thịt trâu Mỹ; hay chính xác hơn suốt năm 2010, lò thịt mổ thịt 70 ngàn con trâu Mỹ so với việc mổ thịt 125 ngàn con bò mỗi ngày!

    Hương vị và giá cả thịt thì mới sơ sơ như thế, còn việc chăn nuôi thì sao? Chủ nông trại nói chi về việc nuôi trâu Mỹ so với việc nuôi bò?

    Họ nói rằng trâu Mỹ là thú rừng nên chưa biết nghe lời dù được nuôi ăn đầy đủ. Khi tức mình nổi nóng, con trâu Mỹ có thể chạy nhanh đến 30 dặm một giờ, nghĩa là ta phải tránh làm sao để khuất mắt con trâu điên cho nhanh cho lẹ kẻo khối thịt to xù kia với cặp sừng nhọn sẽ húc vào người xẹp lép. Trâu có thể phóng mình lên cao băng qua con trâu khác cũng như các hàng rào bao bọc chung quanh trong khi bò thì hiền lành hơn, không nổi nóng bất chợt và hổng biết chạy như điên dại.

    Làm thế nào để người chăn trâu Mỹ dẫn dắt con vật? Tất nhiên là không có chuyện ngồi lưng trâu thổi sáo diều như chuyện đồng quê cổ tích Việt Nam; người ta dùng các dụng cụ điện tử. Khi con trâu léo hánh đến hàng rào, nó sẽ bị một luồng điện giật nhè nhẹ để nhắc nhở rằng không thể đi xa hơn nữa và cứ phải thủng thẳng mà về họp đàn cho đến ngày mổ thịt!
     
  19. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    Google chuyển hướng làm ăn

    [​IMG]

    * Hình của Associated Press

    Công ty Google vừa công bố việc thay đổi lớn trong ban quản trị của họ, sự thay đổi gây xôn xao trong công ty và cả kỹ nghệ truyền thông điện tử: Ông sếp lớn Eric E. Schmidt trao quyền điều hành cho Larry Page, một trong hai người thành lập công ty.

    Như một nguyên thủ quốc gia, sếp điều hành của một công ty là người hoạch định cách làm ăn buôn bán, quyết định ảnh hưởng sâu đậm đến sự thành bại của công ty kia. Do đó, khi Google thay đổi sếp lớn ta có thể đoán khá chắc chắn rằng đường lối làm ăn của công ty sẽ thay đổi. Câu hỏi là tại sao, thay đổi với mục đích gì trong khi Google đang ăn nên làm ra? Google cần thay đổi để bắt kịp thế giới chung quanh, công ty đã "già lão" chậm lụt trong việc tranh đua trên thương trường và sắp sửa cầm đèn đỏ vì đang thua các đàn em FaceBook, Twitter...

    Google khởi nghiệp năm 1998 do hai sinh viên ban cao học điện toán tại đại học Stanford, Larry Page và Sergey Brin thành lập; thủa ấy họ trong tuổi 20.

    Ông Page được mô tả là một người thích sự riêng tư, thường đứng ngoài lề nhưng vô cùng thông minh và đôi khi hách dịch trong khi ông Brin thì hoạt bát vui vẻ hơn. Cả hai đều không mấy tin tưởng vào người đầu tư xa lạ, và tất nhiên là muốn giữ đứa con tinh thần trong sự kiểm soát của họ. Đây là điều dễ hiểu vì họ đã đầu tư hết tuổi thanh xuân vào việc thành lập và phát triển Google.

    Ông Page giữ việc điều hành trong những ngày Google còn là công ty tư nhân, nhưng đến năm 2001 thì mời được ông Schmidt về góp sức. Thủa "sơ khai", thiếu kinh nghiệm điều hành và chưa biết cách thu hút kỹ nghệ tài chánh đầu tư, ông Page và Brin có khối óc và sự say mê nhưng chưa biết "bán" sản phẩm chất xám của mình nên Google cần sự đóng góp của một người khôn ngoan, lão luyện như ông Schmidt. Sự góp sức của người điều hành chuyên nghiệp khiến kỹ nghệ tài chánh an tâm và chịu bỏ tiền của vào đầu tư.

    Dưới sự lèo lái của ông Schmidt, công ty này đã đi từ 27 tỷ mỹ kim, trị giá năm 2004, đến 200 tỷ mỹ kim trị giá hiện nay.

    Một thập niên đã qua, "2 bánh phụ" của chiếc xe đạp không còn cần thiết nữa, người đạp xe đã vững chãi và "trưởng thành", và vai trò của ông Schmidt không còn quan trọng nữa. Nhìn theo kiểu Á Đông thì Google "vắt chanh bỏ vỏ" nhưng phân tích theo khía cạnh phát triển thì "già lão" quá hết hợp thời, hết hấp dẫn; nếu ông Schmidt cứ giữ chặt cái ghế (vì ngoài ta ra không có ai giỏi cho bằng?), công ty kia sẽ đi vào chỗ bế tắc, thua kém rồi phá sản. Chi bằng ta thay đổi cho kịp bánh xe tiến hóa?

    Larry Page và Sergey Brin đủ kinh nghiệm làm ăn, cộng thêm khối óc về kỹ thuật kia đã biến họ thành những người dày tuổi nghề và có thể phát triển Google theo chiều hướng ganh đua mới.

    Đây là công ty đầu tiên trong kỹ nghệ điện tử trở lại với gốc "sơ khai" (start-up) sau một thời gian điều hành bởi người điều hành chuyên nghiệp. Việc thay đổi này cũng là dấu hiệu nhận thức về sự "già lão" của Google.

    Thành công lớn nhưng Google mất dần nét bén nhọn, nhanh nhẹn trong việc ganh đua trên thị trường. Như tất cả mọi công ty lớn, mỗi quyết định thường cần một thời gian dài để ngẫm nghĩ, để phân tích hay / dở và mỗi thay đổi đều "lù đù", chậm chạp; một con tàu lớn không xoay trở dễ dàng nhậm lẹ như một con thuyền nhỏ, Google mất dần không khí tranh giành năng động của một công ty trong thủa sơ khai.

    Việc điều hành 3-mặt, Schmidt-Page-Brin, khiến công ty này hoạt động càng kém hữu hiệu.

    Việc "qua mặt" của FaceBook là một bằng chứng rõ ràng về sự "lỡ tàu" của Google: Họ không xoay trở nhanh chóng đủ để đè bẹp FaceBook hay Twitter trong tuổi trứng nước; với một số vốn lớn như thế và với bao nhiêu bộ óc chuyên về truyền thông điện tử mà vẫn thua một nhóm sinh viên trẻ túi không có đồng keng nào để cạnh tranh!

    Nôm na là Google mất một thị trường quảng cáo khá lớn về tay các trang mạng "kết bạn tâm tình" như FaceBook, Twitter... dù họ vẫn nắm giữ hệ thống quảng cáo trên điện thoại di động và đang cố gắng mở mang thị trường trong lãnh vực truyền hình.

    Nhân viên của Google cũng thì thào rằng Google đang già lão và trở thành một con khủng long (chỉ để ngó trong viện bảo tàng) to xụ như Microsoft. Điều hiển nhiên là người trưởng thành thì tính toán kỹ lưỡng và ít thám hiểm vì sợ thất bại trong khi người trẻ tuổi thì hăng hái, thích thứ mới lạ và sẵn sàng thử thách những thứ "không biết" trước mặt. Các kỹ sư trẻ, năng động thích ganh đua đều bỏ chạy sau một thời gian làm việc tại Google. Họ nói công ty chậm chạp quá nên trở thành ù lì, hổng biết quý chất xám nên họ tìm nơi khác mà chọn mặt gửi vàng!

    Cứ như thế, Google mất một số bộ óc lừng lẫy, hiện tượng ta gọi là "thất thoát chất xám"!

    Nhìn ra những thất bại, nhóm điều hành của Google thay đổi. Ông Schmidt vẫn giữ vai trò cầm đầu ban quản trị (Chairman of the Boards) trong khi trao quyền điều hành (Chief Executive Officer) cho ông Page.

    Cả 3 người, Schmidt, Page và Brin, đều giữ cổ phần trọng yếu (controlling shares), loại cổ phần dành cho ban quản trị của một công ty, người đầu tư bên ngoài không mua được trừ khi một trong những người giữ cổ phần trọng yếu muốn bán. Theo sự ước đoán của tạp chí Forbes, hai ông Page và Brin giàu có cỡ 15 tỷ mỹ kim; ông Schmidt gia sản cỡ 5.5 tỷ.

    Với sự thay đổi lớn lao kia, Google hy vọng rằng họ sẽ tìm lại được không khí năng động, hứng khởi và tranh giành kịch liệt thủa xa xưa. Kỹ nghệ truyền thông điện tử là một kỹ nghệ thay đổi liên tục, không phải là chỗ tranh giành của những người bảo thủ, chậm lụt, quá kỹ lưỡng.

    Tre già măng mọc, có như thế đời sống mới thay đổi, thêm thích thú, mới lạ hơn?
     
  20. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    Tuổi thọ và mì sợi


    Năm nay Dế Mèn xuôi Nam ăn Tết, bà chị dụ dỗ về đây chị làm bánh canh cho mà ăn... Bánh canh? Ăn Tết? Tự thủa nào, tết nhất nối liền với thức ăn, mỗi mùa Tết (tiết?) dính liền với một món thực phẩm cổ truyền. Tết Trung Thu bánh nướng bánh dẻo, Tết Đoan Ngọ bánh tro chấm mật, Tết Nguyên Đán bánh chưng dưa món... bây giờ mới nghe đến món ...bánh canh?!

    Mầy mò tìm kiếm thì phe ta phát giác ra rằng bánh canh ăn Tết không phải là chuyện hoang đường; vào dịp đầu năm ở bên Tây bên Tàu người ta cũng ăn "noodle", loại thực phẩm chế biến bằng bột có hình sợi dài, tượng trưng cho tuổi thọ! Hóa ra văn hóa nào cũng quý tuổi thọ, con người ham sống và muốn sống lâu, càng lâu càng tốt nên các lời chúc xoay quanh "tuổi thọ"!

    Bên ta thì loại thức ăn hình sợi kia có đủ thứ tên, mì, phở, bún, bánh hỏi, bánh cánh, bánh tằm, hủ tíu... mỗi loại "sợi" chế biến khác nhau, bằng các nguyên liệu khác nhau. Phở, bún thì bằng bột gạo pha chế thêm bột năng, bột hầm bà lằng chi đó và khuôn cắt lớn nhỏ khác nhau để sợi phở thì to và phẳng trong khi sợi bún thì nhỏ và tròn. Bánh hỏi, bánh canh cũng được pha chế theo cách riêng, gia giảm theo món ăn. Đại khái là như thế nhưng lạ một điều là mấy món "sợi" kia đều bắt đầu bằng chữ "bánh" như "bánh phở", "bánh hỏi"..., ấy thế mà "bún" thì chỉ một chữ "bún" suông, trơ trọi, không đèo (bòng) thêm chữ "bánh" dù bún cũng chế biến tự bột gạo. Riêng bún "tươi" thì được cuộn thành từng nắm tròn và gọi là "con bún" (trong khi mì cuộn thành vốc thì lại là "vắt mì"!).

    [​IMG]

    Thức ăn "sợi" bên ta đã đủ mọi hình dạng, thể chất, bà con của nó bên Tây bên Tàu cũng phức tạp không kém; sách vở nấu nướng gọi chung là "noodle", gốc gác từ tiếng Đức " Nudle", và lịch sử của mì sợi (gọi theo tiếng Tàu "mein") thì ly kỳ lắm.

    Sợi mì "già" nhất thế giới được định tuổi là 4,000 năm, tìm thấy tại làng Lajia, nơi khai quật tại Qinghai, tỉnh Shandong, phía tây-bắc Hoa Lục. Thủa ấy, mì sợi được chế biến từ bột (hạt) kê như foxtail millet và broomcorn millet. Ngày nay người Hoa vẫn dùng hạt kê làm thực phẩm.
    Khám phá này là câu trả lời dứt khoát cho những màn tranh luận về gốc gác của mì sợi: Người Ý nằng nặc biểu mì là của họ, dân Ả Rập cũng la to không kém rằng lúa mì (nguyên liệu chính của mì sợi sau này) xuất phát từ Trung Đông (hạt lúa mì tuổi thọ 5,000 năm tìm thấy ở đó)...
    Mớ mì sợi kia là bằng chứng rõ ràng nhất về nguồn gốc của "mì" dù thủa ấy, món thức ăn sợi kia chế biến bằng bột kê. Mì sợi xuất hiện trên sách vở khoảng 2,000 năm nay.

    [​IMG] [​IMG]

    * Hình của the Academy of Science, Beijing, China

    Viện Khoa Học của Hoa Lục đã công bố hình ảnh của những sợi mì kể trên. Nguyên liệu cổ xưa đã đành nhưng từ nguyên liệu thô sơ kia, 4,000 năm trước người Hoa đã biết chế biến thành thức ăn phức tạp như những sợi mì thì quả là tân tiến lắm.

    Sau đó khi bắt đầu trồng được lúa mì (wheat, mang về từ Trung Đông), khoảng năm 300, người Hoa dùng bột mì để chế biến mì sợi. Từ đó, mì hay "mein" biến hóa thay đổi theo thời gian và khẩu vị con người. Lúc xào, khi luộc nước sôi và ăn chung với một trăm lẻ tám thứ thức ăn khác, mì vịt, mì phá lấu, mì xào... Người Hoa gọi chung những thứ mì sợi chế biến từ lúa mì là "mein" (miên, main) và món chế biến từ bột gạo là "fen" hay "fun" (?). Thể chất (texture) của những loại "sợi" này khác nhau về độ "dai", độ "dòn", "thấm" gia vị nhanh / chậm...

    Đến thế kỷ V-VI, mì sợi di tản sang Nhật Bản, Triều Tiên, và món mì sợi chế biến từ buckwheat trở thành món ăn trong những buổi tế lễ Nhật Bản.
    Mì sợi tại Nhật có thể gom chung làm hai nhóm, Udon và Soba. Udon là những sợi mì trắng, khá lớn so với bún của ta, dai, chế biến từ bột gạo, xuất hiện từ phía Tây Nhật Bản. Soba cũng dai và to sợi nhưng có màu vàng, chế biến từ bột lúa mì và phổ thông trong vùng phía Đông. Cả Udon lẫn Soba đều có thể ăn như súp hoặc ăn khô. Người Nhật không xắn sợi mì thành khúc nhỏ rồi dùng muỗng xúc; họ để nguyên sợi mì dài thòng mà hút vào miệng; khi ăn tạo những âm thanh "xoạt" "xoạt".

    Khoảng thế kỷ XIII thì mì sợi xông pha theo nhà thám hiểm Marco Polo mà lan đến Âu Châu, bắt đầu từ Ý. Từ đó ta có những món mì Ý lẫy lừng như spagetti, linguini, fettucini... ăn chung với các loại sốt khác nhau.

    Người Âu cũng như Á, sợi mì được giữ nguyên chiều dài, hổng có đầu bếp nào bẻ vụn sợi mì cả. Sợi mì dài tượng trưng cho tuổi thọ, longevity noodle, và trong dịp Tết Nguyên Đán sắp tới, hàng quán tại Hoa Lục hay các phố Tàu khắp nơi đều dọn món mì thượng thọ để đón năm mới và chúc mừng thực khách.

    Năm nay, Dế Mèn mừng xuân cũng sẽ ăn "longevity noodle" là bánh canh giò heo của mình.
    Chuyện bánh canh nhà họ Trần khá giản dị và xuất phát từ nhu cầu sống khỏe mạnh. Bà chị Dế Mèn đọc báo chí thấy chú Ba sản xuất thực phẩm bán ra ngoại quốc ào ào, tiền đầy túi nhưng cứ muốn kiếm thêm nên dùng vật liệu rẻ để chế biến, từ hóa chất đến vật phế thải. Đọc xong hãi quá nên bỏ chạy, món chi của Ba Tàu chị ấy cũng không mua, không ăn. Trà thì đổi sang uống trà Nhật Bản. Mấy món trong nhóm "noodle" như mì như phở là tìm cách làm lấy, hoặc thay thế. Bún bò Huế, sợ hàn the (hay cái thứ quỷ ma gì làm cho sợi bún dai) nên thế bằng sợi spagetti, ăn cũng đặng. Và chị ấy làm bánh canh tại nhà, pha bột chế biến lấy và rinh về luôn cái khuôn cắt bột thành sợi. Thế là ta có món bánh tại nhà, tự sản xuất, chế biến "từ đầu đến chân". Sau mấy lần "thử", nghề sản xuất bánh canh của bà chị Dế Mèn coi bộ khởi sắc, khấm khá nên phe ta sẽ vượt mấy trăm dặm mây khói để đến nơi mà thưởng thức mừng Xuân.

    Chúc mừng năm mới đến quý bạn đọc. Vị nào không có bánh canh sản xuất tại nhà hay bún tươi, phở tươi chế biến tại địa phương để ăn mừng tuổi thọ thì ta dùng mì ống của Ý hay mì gói của Nhật chăng?
     

Chia sẻ, giới thiệu đến bè bạn