Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!

Thơ Thiền

Chủ đề trong 'Vườn Thơ Tâm Linh' do cỏ may khởi đầu 22 tháng Sáu 2009.

  1. cỏ may

    cỏ may Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng

    Pháp Thuận : Thiền sư họ Đỗ (915-990).


    Quốc Tộ

    Quốc tộ như đằng lạc
    Nam thiên lý thái bình
    Vô vi cư điện các
    Xứ xứ tức đao binh

    Pháp Thuận




    Dịch nghĩa:

    Vận Nước

    Vận nước đan xen với nhau như mây quấn
    Đất trời Nam đang được hưởng thái bình
    Nếu triều đình thấm nhuần lẽ Vô Vi
    Mọi nơi sẽ không còn chiến tranh



    Dịch thơ:
    Vận Nước

    Bời bời vận nước quấn mây
    Trời Nam mở lượng đó đây thái bình
    Thiền tâm thấm tận triều đình
    Thì nhân gian dứt đao binh đời đời

    Nguyễn Duy
     
  2. cỏ may

    cỏ may Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng

    Khuông Việt : Đại sư Khuông Việt tục danh Ngô Chân Lưu (930 – 1011)


    Nguyên Hoả

    Mộc trung nguyên hữu hoả
    Nguyên hoả phục hoàn sanh
    Nhược vị mộc vô hoả
    Toàn toại hà do manh?

    Khuông Việt




    Dịch nghĩa:

    Gốc Lửa

    Trong cây vốn có lửa
    Sẵn lửa, lửa mới sinh ra
    Nếu cây không có lửa
    Khi cọ xát sao lại thành?



    Dịch thơ:
    Gốc Lửa

    Cây xanh sẵn lửa bao đời
    Truyền qua bao kiếp đổi dời tái sinh
    Nếu không sẵn nhiệt tử sanh
    Đem cây cọ xát dễ thành lửa sao?

    Nguyễn Bá Chung
     
  3. cao nghi uyên

    cao nghi uyên Khách Quý

    Thiền sư Pháp Thuận

    (914 - 990)

    (Đời thứ 10, dòng Tỳ-ni-đa-lưu-chi)

    Sư họ Đỗ, không rõ quê quán ở đâu, xuất gia từ thuở bé, thọ giới với Thiền sư Long Thọ Phù Trì. Sau khi đắc pháp, Sư nói lời nào cũng phù hợp sấm ngữ.

    Nhà Tiền Lê mới dựng nghiệp, thường mời Sư vào triều luận bàn việc chánh trị và ngoại giao. Khi quốc thái dân an, Sư không nhận sự phong thưởng. Vì thế, vua Lê Đại Hành rất kính trọng, không dám gọi tên, chỉ gọi là Đỗ pháp sư. Nhà vua nhờ Sư trông coi việc soạn thảo văn kiện, thư từ ngoại giao.

    Năm Thiên Phước thứ bảy (986), nhà Tống sai sứ là Lý Giác sang phong tước hiệu cho vua Đại Hành. Vua nhờ Sư cải trang làm lái đò để đón sứ. Trên sông, bất chợt Lý Giác thấy hai con ngỗng bơi, cảm hứng liền ngâm:

    Song song ngỗng một đôi
    Ngửa mặt ngó ven trời.

    (Nga nga lưỡng nga nga
    Ngưỡng diện hướng thiên nha.)

    鵝鵝兩鵝鵝,
    仰面向天涯。



    Sư đang chèo, ứng khẩu ngâm tiếp:

    Lông trắng phơi dòng biếc
    Sóng xanh chân hồng bơi.

    (TT. Mật Thể)

    (Bạch mao phô lục thủy
    Hồng trạo bãi thanh ba.)

    白毛鋪綠水,
    紅棹擺青波。


    Lý Giác rất thán phục.

    *
    * *

    Vua Đại Hành hỏi vận nước dài ngắn thế nào, Sư đáp bằng bài kệ:

    答國王國祚之問

    國祚如藤絡,
    南天裏太平。
    無為居殿閣,
    處處息刀兵。

    法順禪師


    Trả lời câu hỏi của vua về việc nước

    Vận nước như dây quấn
    Trời Nam sống thái bình
    Rảnh rang trên điện các
    Chốn chốn dứt đao binh.

    Đáp quốc vương quốc tộ chi vấn

    Quốc tộ như đằng lạc
    Nam thiên lý thái bình
    Vô vi cư điện các
    Xứ xứ tức đao binh.

    Về sau, Sư trụ trì chùa Cổ Sơn làng Thừ, quận Ải.

    Niên hiệu Hưng Thống thứ hai (990), Sư không bệnh mà tịch, thọ bảy mươi sáu tuổi. Tác phẩm của Sư có:

    * Bồ-tát Hiệu Sám Hối Văn

    * Thơ tiếp Lý Giác

    * Một bài kệ.
     
  4. cao nghi uyên

    cao nghi uyên Khách Quý

    木中原有火
    有火火還生
    若謂木無火
    鑽遂何由萌

    匡越,



    Mộc trung nguyên hữu hoả
    Hữu hoả, hoả hoàn sanh
    Nhược vị mộc vô hoả
    Toản toại hà do manh.



    Trong cây vốn có lửa
    Có lửa,lửa mới bừng
    Nếu bảo cây không lửa
    Cọ xát do đâu bùng.
     
  5. cỏ may

    cỏ may Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng

    Vạn Hạnh: Quốc sư Vạn Hạnh tục danh Nguyễn Vạn Hạnh (? – 1018).


    Thi Đệ Tử

    Thân như điện ảnh hữu hoàn vô
    Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô
    Nhậm vận thịnh suy vô bố uý
    Thịnh suy như lộ thảo đầu phô

    Vạn Hạnh




    Dịch nghĩa:

    Bảo Đệ Tử

    Thân người như bóng chớp, có rồi lại trở lại không
    Như muôn cây cỏ mùa xuân tươi tốt, đến mùa thu khô héo
    Ngẫm và hiểu cái lý của thịnh suy, lòng không sợ hãi
    Vì thịnh suy nối tiếp nhau như khoảng thời gian hạt sương móc trên đầu ngọn cỏ.



    Dịch thơ:
    Bảo Đệ Tử

    Thân như chớp có lại không
    Cỏ cây xuân thắm rồi đông úa tàn
    Sợ gì suy thịnh thế gian
    Thịnh suy như cỏ bên đàng treo sương

    Nguyễn Duy
     
  6. cỏ may

    cỏ may Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng

    Cứu Chỉ: Thiền sư họ Đàm.


    Thân Tâm

    Giác liễu thân tâm bản ngưng tịch
    Thần thông biến hoá hiện chư tướng
    Hữu vi, vô vi tùng thử xuất
    Hà sa thế giới bất khả lượng
    Tuy nhiên biến mãn hư không giới
    Nhất nhất quán lại một hình trạng
    Thiên cổ, vạn cổ nan tỷ huống
    Giới giới, xứ xứ thường lãng lãng.

    Cứu Chỉ




    Dịch nghĩa:

    Thân và Tâm

    Hiểu trong gan ruột là thân và tâm vốn lặng trong
    Thần thông biến hoá ra mọi hiện tượng
    Vô vi hay hữu vi cũng từ đó mà ra cả
    Sinh ra hằng hà thế giới không thể đếm hết
    Nó chứa đầy ở tất cả các chốn hư không
    Thế mà ở mọi nơi đều không có hình trạng
    Nghìn đời, vạn đời cũng không thể sánh với nó
    Chốn chốn nơi nơi nó luôn luôn sáng tỏ



    Dịch thơ:
    Thân Tâm

    Thân và tâm vốn lặng không
    Mà sao biến hoá thần thông lạ kỳ
    Sinh vô vi lẫn hữu vi
    Vô vàn thế giới lấy gì đếm đong
    Tuy đầy khắp cõi hư không
    Xem ra chẳng thấy hình dong thế nào
    Muôn đời so sánh được sao
    Nơi nơi chốn chốn sáng bao nhiêu trời

    Nguyễn Duy
     
  7. cỏ may

    cỏ may Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng

    Ngộ Ấn: Thiền sư Ngộ Ấn tục danh Đàm Khí (1020 - 1088).


    Thị Tịch

    Diệu tính hư vô bất khả phan,
    Hư vô tâm ngộ đắc hà nan
    Ngọc phần sơn thượng sắc thường nhuận
    Liên phát lô trung thấp vị can.

    Ngộ Ấn




    Dịch nghĩa:

    Dặn Lại Trước Khi Mất

    Diệu tính rỗng không, khó lòng vin tới
    Nhưng khi tâm rỗng không thì hiểu được (diệu tính) cũng chẳng khó gì
    Giống như ngọc đốt trên núi cao màu vẫn tươi nhuần mãi
    Hay như hoa sen nở trong lò lửa mà sắc vẫn ướt, chưa hề khô.



    Dịch thơ:
    Dặn Lại Trước Khi Mất

    Rỗng không diệu tính khó vời
    Khi lòng rỗng mới hiểu đời rỗng không
    Ngọc thiêu trên núi càng trong
    Hoa sen giữa lửa sắc hồng vẫn tươi

    Nguyễn Duy
     
  8. violet

    violet Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng

    Phật Mã:: Vua Lý Thái Tông (1000 - 1054)


    Thị Chư Thiền Lão Tham Vấn Thiền Chỉ

    Bát nhã chân vô tông
    Nhân không ngã diệc không
    Quá, hiện, vị lai Phật
    Pháp tính bản tương đồng

    Phật Mã




    Dịch nghĩa:

    Trả Lời Các Thiền Lão Hỏi Về Yếu Chỉ Của Thiền Tông

    Trí tuệ bát nhã không thuộc tông phái nào*
    Không phải Người, cũng không phải Ta
    Các vị Phật của quá khứ, hiện tại và tương lai
    Vốn cùng chung một Pháp tính.



    * Tông phái vô tông, ý chỉ tông yếu của mọi tông phái, cốt lõi của Phật giáo
     
  9. cỏ may

    cỏ may Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng


    Phật Hoàng: Vua Trần Nhân Tông (1258-1308).



    Sơn Phòng Mạn Hứng

    I

    Thùy phục cánh tương cầu giải thoát
    Bất phàm, hà tất mịch thần tiên?
    Viên nhàn, mã quyện, nhân ưng lão
    Y cựu vân trang nhất tháp thiên

    II

    Thị phi niệm trục triêu hoa lạc
    Danh lợi tâm tùy dạ vũ hàn
    Hoa tận vũ tình sơn tịch tịch
    Nhất thanh đề điểu hạ xuân tàn.

    Phật Hoàng




    Dịch thơ:

    Mạn Hứng Ở Sơn Phòng

    I

    Ai trói buộc chi, tìm giải thoát?
    Khác phàm đâu phải kiếm thần tiên
    Vượn nhàn, ngựa mỏi, ta già lão
    Như trước, am mây chốn tọa thiền?

    II

    Phải trái rụng theo hoa buổi sớm
    Lợi danh lạnh với trận mưa đêm
    Hoa tàn, mưa tạnh, non im ắng
    Xuân cỗi còn dư một tiếng chim.

    Đỗ Văn Hỷ
     

Chia sẻ, giới thiệu đến bè bạn