Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!

The Balkans, lò lửa đã nguội?

Chủ đề trong 'Bạn Đọc Sáng Tác' do lltran khởi đầu 21 tháng Mười 2018.

  1. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    Balkans_regions_map-5b828ef146e0fb002c3a8885.jpg

    Danh xưng “Balkan” hay “Balkans” được hiểu theo nhiều ý nghĩa vì vùng đất này đã trải qua nhiều lần phân chia, ranh giới được xóa đi vẽ lại sau các cuộc chiến tranh. Nhìn thoáng, bán đảo Balkan bao gồm nhiều quốc gia: Croatia, Bosnia & Herzegovina, Slovenia, Serbia, Montenegro, Kosovo, Macedonia, Romania, Bulgaria, Albania, Greece, và vùng đất phía tây của Thổ Nhĩ Kỳ (Turkey). Balkan còn được xem như vùng Đông Âu và danh xưng “Đông Âu” cũng được (bị) định nghĩa nhiều lần trong lịch sử.


    “Đông Âu” theo nghĩa [hơi cũ] là vùng đất chịu sự cai trị của Liên bang Xô Viết trong châu Âu. Định nghĩa này bị các sử gia Albania và Yugoslavia (Nam Tư) phản bác vì dù theo chính thể cộng sản nhưng họ không chịu sự cai trị của Xô Viết và cũng nằm trong vùng đất sát cạnh khối “Đông Âu”. Chưa kể Đông Đức (chịu sự cai trị của Liên Xô), về mặt chính trị, Đông Đức là một phần Đông Âu theo định nghĩa kể trên nhưng về mặt địa lý lại nằm giữa châu Âu, và Tây Đức. Khi thống nhất, không còn “Đông” và “Tây” nữa mà quốc gia này trở thành Cộng hòa Liên Bang Đức và Đức được xem như một quốc gia trong vùng Tây Âu hoặc Trung Âu (Central / Middle Europe).
    Đông Âu theo nghĩa mới mẻ hơn là vùng đất kết hợp giữa Trung Âu và Balkan. Trung Âu bao gồm Poland (Ba Lan), Hungary, và Czech Republic (Cộng Hòa Tiệp) vì các quốc gia này nằm cạnh nhau và chịu sự đô hộ của vương triều Habsburg, giao tiếp [và xô xát] với vùng đất nói tiếng Đức qua nhiều năm. Một số sử gia cũng cho rằng Slovenia, Slovakia, và Croatia là những phần của Central Europe.

    Giản dị hơn, theo sử gia Alan Palmer, Đông Âu là vùng đất nằm giữa Nga Sô và Đức, bao gồm các quốc gia như Albania, Belarus, Bosnia-Herzegovina, Bulgaria, Croatia, Czech Republic, Estonia, Hungary, Latvia, Lithuania, Macedonia, Moldova, Poland, Romania, Slovakia, Ukraine, và Yugoslavia (Nam Tư, hiện giờ là hai quốc gia Serbia và Montenegro).

    Ngày nay, Balkan được mô tả là một bán đảo nằm trên vùng đông nam của châu Âu, nối liền lục địa này với Asia Minor (Anatolia) và bao gồm các quốc gia độc lập như Greece (Hy Lạp), Albania, Macedonia, Bulgaria, Romania, Serbia & Montenegro (tiền thân là Nam Tư, Yugoslavia), và Bosnia. Theo địa lý, một phần nhỏ của Istanbul (Thổ) và Croatia cũng thuộc về Balkan.

    Địa lý vùng Balkan rối rắm như thế vì lịch sử lập quốc / bị trị, rồi độc lập của các quốc gia trong vùng, dù ngôn ngữ khá gần gũi, chung gốc nam Slavic, chung chủng tộc nhưng chịu phân rẽ vì tôn giáo (Eastern Orthodox Christians và Muslims), vì cách chia đất & thừa hưởng di sản bắt nguồn từ nhiều thế kỷ bị trị bởi các cường quốc lân bang. Nghĩa là trong giai đoạn [bị trị] suốt 500 năm, các triều đại Ottoman, Habsburg đã chia vùng đất này thành nhiều “quận hạt” hành chánh để tiện việc điều khiển. Các vương triều đô hộ mang theo văn hóa, tôn giáo… đến thuộc địa, và hậu quả là tùy theo ảnh hưởng (nặng / nhẹ tay cai trị), cư dân các “quận hạt” kia theo những tôn giáo [mới] và theo “luật lệ” chia đất [mới].
    Trong lịch sử cận kim của châu Âu, vào thế kỷ XIX, các vương triều tan rã, nhất là tại Trung Âu và Balkan, được thay thế bằng các quốc gia tân lập dựa trên “quốc tính”, nationality. Đầu thế kỷ, Anh, Pháp và Tây Ban Nha đã lập thành quốc gia vững mạnh từ các triều đại cũ trong khi Đức và Ý trở thành quốc gia độc lập hình thành từ các vùng đất nhỏ từ những năm 60 và 70 của thế kỷ XIX. Trong giai đoạn này, hầu hết các quốc gia Đông Âu không được thành lập theo kiểu mẫu kể trên vì còn bị cai trị bởi các vương triều [cũ]. Nói giản dị là vùng Tây Âu và Trung Âu lập quốc cả trăm năm trước vùng Đông Âu. Cho đến khi các vương triều cũ tan rã, những quốc gia như Serbia, Greece, Albania, Romania, Bulgaria, và kế tiếp là Poland và Hungary mới bắt đầu xuất hiện trên bản đồ thế giới. Bản đồ Đông Âu thủa ấy khác với như bản đồ ngày nay, nhất là vùng Balkan, nghĩa là ranh giới bị sửa chữa, thay đổi theo sức mạnh quân sự & chính trị của mỗi quốc gia theo từng giai đoạn, và đây cũng là nguyên nhân của các hiềm khích, bất ổn trong vùng (mỗi quốc gia cứ rắp tâm “đòi” lại đất cũ để mở rộng lãnh thổ).

    Vào thế kỷ XX, với hai cuộc thế chiến, ranh giới các quốc gia châu Âu được ‘vẽ’ lại và ngòi nổ âm ỉ kia lại có dịp bộc phá. Con người tranh dành rồi chia cắt đất đai theo khái niệm “quốc tính” (nationality) và “chủng tộc” (ethnicity, đồng chủng cũng có nghĩa là có chung ngôn ngữ, văn hóa) dù hai khái niệm này không luôn đi đôi với nhau. Điển hình là cư dân Thụy Sĩ, Tây Ban Nha và Bỉ, sống chung hòa hợp dù cư dân dùng nhiều ngôn ngữ khác nhau. Ngược lại, Hoa Kỳ, Úc, Tân Tây Lan là các quốc gia dùng chung Anh ngữ nhưng lại khác “quốc tính”. Nói giản dị là ngôn ngữ, chủng tộc không hẳn là yếu tố chính kết hợp con người với nhau để lập thành quốc gia. Đây là trường hợp của các quốc gia vùng Balkan, hiểu nhau nhưng không “ưa” nhau nên uýnh nhau tận tình.

    Trong Thế Chiến I, 1912-1913, khi vương triều Ottoman và Habsburg mất dần ảnh hưởng chính trị và quân sự tại châu Âu, các “quận hạt” trong vùng Balkan hè nhau nổi dậy dành độc lập, đòi lại đất đai để tự trị và cư dân Balkan lại uýnh lẫn nhau để dành phần đất lớn hơn tạo nên trận chiến Balkan (Balkan War). Các quốc gia tân lập, dù chia cùng gốc rễ, ngôn ngữ gần gũi nhưng theo các tôn giáo và áp dụng các luật lệ hành chánh khác nhau nên “mỗi nước một vua”, mỗi quốc gia nhỏ xíu một chính phủ.

    Các nhà địa lý và chính trị chia cắt vùng Balkan theo nhiều kiểu khác nhau dựa trên lịch sử: Sau Thế Chiến II, quốc gia tân lập Nam Tư (Yugoslavia) xuất hiện với lãnh thổ bao gồm Slovenia, Croatia, Bosnia & Herzegovina, Serbia, và Macedonia nhưng rồi chia cắt trở lại thành nhiều quốc gia độc lập mới vào năm 1992. Bosnia & Herzegovina, Bulgaria, Croatia, Kosovo, Macedonia, Montenegro, Serbia, và Slovenia dùng chung ngôn ngữ “Slavic” nên ngoài danh xưng “Balkan”, các quốc gia này còn được gom chung vào nhóm "Slavic states".

    Sở dĩ Dế Mèn dài dòng như thế để giới thiệu chuyến đi Balkan vừa qua vì câu chuyện Balkan khá rắc rối, lịch sử của Balkan vô cùng phức tạp, vùng đất ấy đã trải qua nhiều thay đổi, mỗi cuộc chiến tranh là một lần thay đổi, một lần “vẽ” lại ranh giới. Không lạ là động từ mới, “balkanize”, là chữ dùng để mô tả sự hiềm khích dễ bùng vỡ như chất nổ, xuất phát từ “Balkan”, một danh từ riêng. Một ít dữ kiện về địa lý và lịch sử sẽ giúp ta hiểu phần nào các khác biệt giữa những quốc gia kể trên. Trong ba tuần, phe ta ghé thăm Croatia, Bosnia & Herzegovina, Montenegro, và Slovenia, chỉ đủ để nhìn thoáng, nghe các câu chuyện kể và băn khoăn về sự chia cắt của con người qua cuộc chiến tranh đẫm máu trong thập niên 90 của thế kỷ trước. Mấy bài viết này, Dế Mèn giới thiệu với bạn đọc về vùng đất khó hiểu ấy.

    Giới thiệu vùng Balkan và con người lừng lẫy thế giới ở miền đất ấy: ông Josif Broz Tito. Chuyến đi để lại nhiều thứ đáng nhớ nhưng có lẽ khó quên nhất là anh chàng dẫn đường, Milan Miletic tuổi trẻ tài cao, vô cùng uyên bác qua nhiều lãnh vực lịch sử, địa lý, chính trị, kinh tế và các diễn tiến hang ngày xảy ra chung quanh. Hẳn là anh ta thức suốt đêm để… đọc sách vở sau cả ngày dẫn đoàn du khách lang thang khắp chốn?

    Miletic.JPG
     
  2. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    Thống Chế (Marshal) Tito và liên bang Nam Tư (Yugoslavia)

    Nói đến vùng Balkans là bá tánh nghĩ ngay đến Nam Tư (Yogoslavia), tiền thân của 8 quốc gia độc lập trong vùng Balkan ngày nay. Và Nam Tư không thể thành hình nếu thế giới không có ông Josip Broz.
    Ông Broz là ai mà lẫy lừng như thế? Bá tánh biết đến nhân vật lịch này qua một tên gọi khác, phổ thông hơn là “Marshal Tito” hay “Thống Chế Tito”, kiểu gọi tên nôm na như dân Việt ta gọi ông Hồ Chí Minh là “bác Hồ”.
    Cư dân vùng Balkan ngày nay chỉ gọi vắn tắt là [ông] Tito khi nhắc đến người dẫn đầu cuộc nổi dậy của dân quân chống lại vương triều Habsburg, rồi đối đầu với Hồng Quân Nga như một lãnh tụ cộng sản độc lập quốc tế. Nói giản dị là ông ấy đưa Nam Tư vào thế chế xã hội / cộng sản mà không bị khối cộng sản quốc tế nghiền nát hoặc điều khiển.

    Marshal Tito.jpg


    Josip Broz sinh ngày 7 tháng Năm, năm 1892 tại làng Kumrovec, gần thủ đô Zagreb của Croatia ngày nay (trước đây là thuộc địa của vương triều Habsburg, cai trị vùng Austria-Hungary). Cha là người Croatia, mẹ là dân Slovenia, là con thứ bảy trong một gia đình 15 người con, Josif khôn lớn trong cảnh nghèo dù ông nội là người khá giả trong vùng. Theo nghề thợ rèn, Josifsinh sống trong thôn làng Kumrovec cho đến khi gia nhập the Social Democratic Party của Croatia-Slavonia tại Zagreb, một đảng phái xã hội (tiền thân của đảng cộng sản sau này). Bị trưng tập vào quân đội Austro-Hungay năm 1913. Từ đó, ông Broz theo nghiệp võ và trở thành tù binh của Nga Sô. Trong thời gian bị cầm tù tại Nga, ông này bị quyến rũ bởi chủ thuyết cộng sản của người Bolshevik nên sau đó đi theo Hồng Quân Nga và trở thành hội viên của đảng Bolshevik, chi nhánh South Slav. Năm 1920, ông Broz trở về quê nhà Croatia (thủa ấy, là một phần của vương quốc tân lập, Yugoslav, do vua Alexander I cai trị bao gồm các nhóm Serbs, Croats, và Slovenes) rồi theo đảng Cộng Sản Nam Tư (the Communist Party of Yugoslavia, CPY).
    Được sự trợ giúp của Nga Sô, ông Broz chống lại chính thể quân chủ của nhà cầm quyền thủa ấy qua các hoạt động âm thầm, rồi bị cầm tù vì chế bom tại nhà với mục đích gây rối loạn, bất ổn cho xã hội hầu khích động dân chúng. Từ đảng viên ông Broz nhanh chóng trở thành đảng trưởng đảng cộng sản địa phương CPY, mời gọi rủ rê dân chúng và bắt đầu lãnh đạo những cuộc khởi dậy chống chính quyền. Bí danh “Tito” xuất phát từ giai đoạn này, và ông Broz giữ luôn tên gọi ấy cho đến khi lìa đời.

    Năm 1941, vương quốc Yugoslav bị liên minh Đức – Ý xóa sổ, chiếm lãnh rồi chia cắt lãnh thổ. Lúc ấy, chỉ đội dân quân do Tito dẫn đầu (dưới sự trợ giúp và chỉ đạo của đảng Cộng Sản Nam Tư và Nga Sô) có đủ thực lực để đối đầu với đội quân của Đức -Ý. Lúc đầu còn yếu kém, đảng cộng sản Nam Tư trá hình dưới vỏ bọc “yêu nước” để kêu gọi và thu hút dân chúng, những người muốn chống lại sự cai trị của ngoại bang, thành lập đội dân quân “Partisans”. Dường như đảng cộng sản nào cũng theo một sách vở/cương lĩnh lừa gạt như nhau? Khoác áo “yêu nước” để kêu gọi người dân ủng hộ, tham gia… khi chiếm được chính quyền rồi mới lộ mặt cộng sản?!

    Sau mấy năm chinh chiến chống nhà cầm quyền đương thời và trải qua mấy cuộc “thanh lọc”, tiêu diệt lẫn nhau giữa các đảng viên cộng sản, cuối cùng Nam Tư rơi vào tay nhóm lãnh đạo dân quân vào tháng Năm, năm 1945.
    Nắm được chính quyền Nam Tư, về mặt chính trị, ông Tito bắt đầu cuộc trừng sát, tiêu diệt những người không cộng sản và những người khác chính kiến, tu sĩ... theo kiểu mẫu của cộng sản Nga. The Federal People’s Republic of Yugoslavia chính thức ra đời qua hiến pháp lập quốc November 1945.
    Theo rập khuôn mẫu cộng sản Nga nhưng ông Tito lại không chịu thần phục Nga. Điều này khiến lãnh tụ Stalin nổi giận, bày kế thanh trừng nội bộ đảng cộng sản Nam Tư nhưng thất bại. Ông Tito giữ vững vị thế và nắm trọn quyền hành lãnh đạo CPY, quân đội và công an.
    Không thành công trong việc lật đổ Tito, Stalin công khai chửi bới kể tội Tito và khai trừ đảng cộng sản Nam Tư khỏi khối cộng sàn Âu Châu, the Cominform. Chửi bới chán rồi Nga Sô xoay ra cấm vận và đôi lần, tấn công lãnh thổ Nam Tư.
    Bị khai trừ khỏi khối cộng sản Âu Chấu, Nam Tư quay qua liên kết với thế giới tự do phương Tây.
    Để duy trì sự cân bằng chính trị và cầm chân Nga Sô, khối tự do viện trợ cho Nam Tư, từ thực phẩm đến vũ khí. Đến năm 1953, việc viện trợ vũ khí dẫn đến hiệp ước ba phía giữa Nam Tư, Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ, một hình thức liên kết dưới sự bảo trợ của NATO. Sau cái chết của Stalin năm 1953, sự hiềm thù giữa Nam Tư và Nga Sô giảm dần, và ông Tito có thể lựa chọn: 1) tiếp tục hòa hoãn với khối tự do [và chịu áp lực thay đổi chế độ độc đảng), hoặc 2) quay về với Nga Số dưới sự lãnh đạo của chính phủ mới do Nikita Khrushchev lãnh đạo.

    Dù ký kết hiệp ước Belgrade 1955 như một dấu hiệu liên kết với khối cộng sản, Tito vẫn không thần phục Nga, và chọn sự độc lập sau khi Nga xua quân chiếm Hung và Tiệp Khắc cũng như các nước cộng sản chư hầu khác. Ông Tito chọn thế đứng riêng rẽ, không than cộng sản mà cũng không về phía tự do. Ông ấy liên kết với các quốc gia [đang] phát triển (diễn nôm là xứ nghèo kém) như Ấn Độ và Ai Cập nơi có các nguyên thủ độc tài, tạo nên phong trào “nonalignment”. Nghĩa là “thành phần thứ ba”, không liên kết với khối cộng sản cũng như không liên kết với khối tự do.

    Chính sách đối nội của ông Tito bao gồm việc giảm quyền lực và nhân lực trung ương, decentralization, chuyển quyền điều hành về địa phương, tương tự như cách tổ chức chính quyền liên bang và tiểu bang của Hoa Kỳ và cho các hãng xưởng sản xuất tự điều hành (First Worker’s Councils).
    Chính sách này gặp sự chống đối mạnh mẽ từ những chính khách có khuynh hướng tập trung quyền hành trong khi các “tiểu quốc” khác đồng loạt đòi thêm quyền tự trị trong liên bang Yogoslavia. Trong thời gian “chuyển mình”, 1963-1972, Nam Tư trải qua một cuộc khủng hoảng chính trị khá lớn. Để giải quyết sự xung đột này, ông Tito tổ chức một cuộc thanh trừng quy mô, tiêu diệt những kẻ chống đối, từ trung ương đến các “tiểu quốc” như Croatia, Serbia. Sau đó, là một loạt những “đổi mới”, hiến pháp mới năm 1974, quan trọng nhất là việc thay đổi tổng thống theo định kỳ (rotating presidency) để mỗi nước chư hầu đều có cơ hội [đưa người lên] làm tổng thống. Tạm hiểu là sáu tiểu quốc trong liên bang Nam Tư cộng thêm hai vùng tự trị tại Serbia (Kosovo và the Vojvodina) đều “bình đẳng”; nâng các tiểu quốc yếu kém lên ngang hang với hai tiểu quốc mạnh mẽ nhất là Serbia và Croatia.
    Tất nhiên là Serbia “nóng mặt” vì không những thu tóm được hai phần đất tự trị kể trên, Serbia lại bị kéo xuống đồng hạng với “chư hầu” và đồng hạng với các tiểu quốc khác. Mầm mống chống đối âm ỉ bắt nguồn từ đó và chỉ chờ dịp bùng phát kéo theo các bất ổn khắp vùng Balkan.

    Ông Tito giữ nhiều chức vụ, từ Bí Thư đảng Cộng Sản Nam Tư (1939 – 1980) kiêm thủ lãnh dân quân Nam Tư (the Yugoslav Partisans năm 1941-1945), quân đội Nam Tư (1945-1980), thống chế (1943-1980), thủ tướng (1945-1953) rồi tổng thống (1953-1980). Nghĩa là ông Tito kiêm nhiệm nhiều chức vụ, sếp sòng đủ mọi thứ từ hành chánh đến quân sự, ngành nào cũng do ông ấy dẫn đầu.

    Về đời tư, lãnh tụ có nhiều vợ, chính thức và không chính thức với hai người con [chính thức] và giao du thân mật với nhiều tài tử điện ảnh kể cả cô đào người Ý xinh đẹp Sofia Lorenz sau nửa thế kỷ sống xa hoa tại nhiều dinh thự khắp Nam Tư.

    Khôn ngoan và dũng lược, cai trị liên bang Nam Tư với bàn tay sắt bọc nhung, ông Tito đã thu tóm quyền hành và thành lập một Nam Tư thứ nhì sau khi vương triều Yugoslav sụp đổ, một liên bang theo chủ thuyết xã hội, đứng vững suốt nửa thế kỷ. Theo cộng sản nhưng lại thay đổi (phần nào theo khối tự do) để lập thành một “xã hội chủ nghĩa” thực sự. Ông Tito cũng là lãnh tụ cộng sản đầu tiên dám đối đầu với liên bang Xô Viết để tạo lập “thành phần thứ ba” trong suốt giai đoạn Chiến Tranh Lạnh.
    Cư dân Nam Tư nhắc đến ông Tito như một nhà lãnh đạo tài giỏi dù độc đoán, độc tài và độc ác. “Tito” trở thành một thành ngữ chỉ sự độc đoán chẳng hạn như câu “anh ta rất… tito” hay khi vung ngón trỏ “tito” ý chỉ một mệnh lệnh [không được cãi]!
    Riêng cư dân Huê Kỳ, thường chỉ biết đến Nam Tư qua chiếc xe nhập cảng “Yugo” giá rẻ mạt trong thập niên 80 của thế kỷ trước; chiếc xe bị chế diễu là “you go, it stays”, nôm na là người lái thì đi [bộ] còn chiếc xe thì nằm ụ!

    Josif Broz Tito qua đời ngày 4 tháng Năm, năm 1980, để lại một liên bang Nam Tư rối beng, khởi đầu cho cuộc chiến tranh dành độc lập của 8 quốc gia tân lập trong vùng Balkan. Cuộc nội chiến khởi đầu như một chiến tranh về chủng tộc (Macedonia chống lại Hy Lạp) rồi tôn giáo, giữa đạo Thiên Chúa và đạo Hồi. Liên bang Nam Tư tan vỡ, và sau gần 15 tranh dành đẫm máu, cuộc nội chiến chỉ chấm dứt sau khi thế giới hè nhau ép buộc các “tiểu quốc” phải hòa giải: Hiệp Ước Dayton, ký kết tại Dayton, tiểu bang Ohia, Hoa Kỳ, ngày 12 tháng Mười Hai, năm 1995 giữa các quốc gia tham chiến như Republic of Serbia (Tổng Thống Slobodan Milošević, đại diện cho Bosnian Serb); Croatia (Tổng Thống Franjo Tuđman); và Bosnia - Herzegovina (Tổng Thống Alija Izetbegović) và các quốc gia “bảo trợ” như Tây Ban Nha, Pháp, Anh, Đức, Nga và Hoa Kỳ.

    Dế Mèn ghé thăm thôn làng Kumrovec nơi ông Tito khôn lớn. Thôn làng có dòng sông trong suốt uốn quanh co giữa thôn làng, rất tiện dụng cho mọi người. Ngôi nhà do ông nội ông Tito xây cất được xem là “khá giả” theo tiêu chuẩn giàu / nghèo thủa ấy. Nhà vách gỗ, lợp mái tranh, (về sau được lợp ngói vì ngày nay, chẳng còn bao người biết kết tranh làm mái nhà nữa), mấy phòng ốc nhỏ xíu chỉ đủ đặt cái giường nhỏ. Trong nhà là một số vật dụng tùy thân của lãnh tụ như ống điếu, quân phục… và hình ảnh.
    KumrovecVillage.JPG TitoHouse.JPG

    Ngoài sân là bức tượng đồng lừng lẫy, ông Tito mặc quân phục đứng cúi đầu, tay chắp sau đít, trong dáng bộ suy tư, ngẫm nghĩ. Phó bản của bức tượng được đặt tại nhiều nơi trên lãnh thổ Nam Tư. Dế Mèn rắn mắt, cũng bắt chước bộ dạng lãnh tụ, đứng bên cạnh chụp hình mang về chơi, khoe bạn bè.
    Tito.jpg

    Ấy là chuyện thời nay, ông Tito qua đời từ thủa tám hoánh nào rồi phe ta mới dám diễu cợt, bằng không chẳng còn chỗ đội mũ; “rẻ” lắm cũng bị lôi ra pháp trường bắn bỏ về tội bất kính với lãnh tụ?!
     
  3. ninipony

    ninipony Bảo Quốc Công Thần Đệ Tứ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Đứng sai chân rồi chị ơi. ;):D
     
  4. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    Mơi mốt quành lại Croatia rồi chụp tấm khác cho đúng chân nheng Nín? :)
     
  5. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    Croatia

    Croatia, tên chính thức Republic of Croatia (Croatian: Republika Hrvatska), là một quốc gia nằm phía đông nam trong lòng châu Âu, bên bờ biển Adriatic; phía đông bắc giáp Hungary; Serbia về phía đông; Bosnia - Herzegovina và Montenegro về phía đông nam; và Slovenia về phía đông bắc. Diện tích khoảng 22 ngàn dặm vuông và thủ đô là Zagreb. Vị thế địa lý này khiến Croatia trở thành nơi “gặp gỡ” của bốn dòng văn hóa, đông, tây, trung tâm châu Âu và biển Địa Trung Hải sau khi hai triều đại La Mã và Byzantine bị tách rời.

    DpANKhXXUAAAEhH.jpg

    Về nguồn gốc, đã có nhiều lập thuyết nhưng hai lập thuyết dẫn đầu là “Slavic” được tán thành nhiều nhất dựa trên sắc da và tập tục của người Croatia trong khi lập thuyết gốc Ba Tư (Iranian) cho rằng những mẫu tự Hy Lạp như Χορούαθ[ος], Χοροάθος, và Χορόαθος (Khoroúathos, Khoroáthos, và Khoróathos) trên bia đá Tanais đã chứng minh nguồn gốc của Croatia xuất phát từ Ba Tư.

    Người Croatia đến vùng đất này từ thế kỷ VI, và đến thế kỷ IX thì trở thành hai lãnh thổ cai trị bởi hai lãnh chúa: Ljudevit, Duchy of Pannonia; và Borna, Duchy of Croatia. Đến năm 925 thì Croatia chính thức trở thành một vương quốc, vị vua đầu tiên là Tomislav, được tòa thánh La Mã nhìn nhận và phong vương. Vương triều Croatia kéo dài trên hai trăm năm, sau đó liên kết với [chịu thần phục] Hungary năm 1102.
    Đến thế kỷ XVI, khi bị vương triều Ottoman đe dọa, Croatia liên kết và phong vương cho hoàng thân Áo Ferdinand I [để được vương triều Habsburg che chở]. Sau Thế Chiến I, ba vùng đất Slovenia, Croatia, và Serbia tách rời từ khối Austria-Hungary nhưng chỉ được một thời gian ngắn, đến thế chiến II thì ba vương triều này bị gom về khối Socialist Federal Republic of Yogoslavia (Liên Bang Cộng Hòa Xã Hội Nam Tư), gọi tắt là Yogoslavia, theo chủ nghĩa xã hội / cộng sản. Đến năm 1991 khi khối Nam Tư tan rã thì Croatia tuyên bố độc lập và chịu đổ máu suốt bốn năm sau đó mới được quốc tế nhìn nhận như một quốc gia độc lập. Croatia trở thành thành viên của Liên Âu (2003) và NATO (2009) nhưng không nằm trong Euro zone nên tiền tệ vẫn sử dụng Kuna.

    Bản đồ Nam Tư trước và sau các cuộc chiến tranh:

    Yugoslavia in WW ll.jpg War in Yugoslavia.jpg

    Với 3,600 dặm bờ biển, và các hòn đảo rải rác, Croatia trở thành nơi nghỉ mát lý tưởng của Âu Châu. Vùng đất này thu hút du khách từ những năm cuối thế kỷ XIX nhất là vùng Dalmatian Coast với những dốc đá limestone viền quanh bờ biển. Nhìn từ xa, Croatia là vùng đất nằm thoai thoải trên sườn núi, dưới chân là biển Adriatic xanh ngắt màu trời, chung quanh là 2,000 hòn đảo lớn nhỏ, khoảng 48 hòn đảo có người sinh sống. Cres và Krk là hòn đảo lớn nhất, diện tích khoảng 156 dặm vuông. Ngoài bờ biển, đất đai Croatia gồm những thung lũng và đồi núi, chưa kể mấy con sông lớn Danube, Drava, Kupa, và Sava nuôi dưỡng đồng bằng lân cận, khí hậu khá lý tưởng cho ngành canh tác.

    Về mặt kinh tế, tài chánh, theo tiêu chuẩn của Liên Hiệp Quốc, Croatia là một quốc gia khá giả, trong năm 2017, GDP khoảng 54 tỷ mỹ kim trong khi GDP/mỗi đầu người là 13 ngàn mỹ kim/ năm (dân số 4.2 triệu). Khoảng 66% GDP đến từ kỹ nghệ cung cấp dịch vụ (du lịch dẫn đầu với 20%); kỹ nghệ sản xuất chiếm 27% và khoảng 7% từ nông nghiệp. Theo Eurostat, tỷ lệ thất nghiệp năm 2017 là 15%. Hẳn vì khá giả nên dù tỷ lệ thất nghiệp khá cao, Croatia vẫn không rối loạn, bất ổn vì đói kém?

    Croatia là địa điểm du lịch nổi tiếng lâu đời, thu hút du khách từ Đức, Slovenia, Áo, Ý và Ba Lan. Opatija là thành phố bờ biển với những biệt thự của hoàng gia Áo, được biết đến như nơi nghỉ mát lý tưởng của Âu Châu từ thế kỷ XIX tiếp tục cho đến ngày nay. Biển sạch, không bị ô nhiễm, và duy trì được trạng thái thiên nhiên tại rất nhiều công viên quốc gia nên không lạ là Croatia đứng thứ 18 trên bảng xếp hạng địa điểm du lịch của thế giới.

    Theo dữ liệu của Liên Hiệp Quốc, cư dân gốc Croatia chiếm 90%, là nhóm người thuần nhất (cùng chủng tộc, văn hóa) từ 6 “tiểu quốc” của liên bang Nam Tư, phần còn lại những nhóm thiểu số gốc Serbia, Ý, Bosniaks…
    Như các quốc gia khá giả tại Âu Châu, phụ nữ Croatia cũng không chịu sinh đẻ nhiều nữa, tỷ lệ sinh sản thấp, 1.43, nên dân số cứ từ từ sút giảm. Ngoài việc sinh sản sút giảm, dân số Croatia chưa phục hồi sau trận chiến tranh dành độc lập trong thế kỷ trước, chưa kể những di dân tị nạn chiến tranh nhưng không hồi hương. Kết quả Croatia đất rộng người thưa như ngày nay.
    Khoảng 91% cư dân là tín đồ Thiên Chúa giáo (86% theo hội thánh La Mã; 4% theo hội thánh Thiên Chúa Chính Thống; 0.34% Tin Lành và cá hội thánh khác), 1.47% là tín đồ Hồi giáo, phần còn lại không theo tôn giáo nào cả.


    Cư dân Croatia nói tiếng Croatia, một ngôn ngữ trong nhóm Serbo-Croatian, xuất phát từ nhánh Western South Slavic của dòng ngôn ngữ Slavic. Trong giai đoạn 1961 - 1991, ngôn ngữ này được gọi là “Serbo-Croatian” nhưng người Croatia vẫn gọi ngôn ngữ của họ là tiếng Croatia (thay vì “Serbo-Croatian”). Ngôn ngữ Croatia và Serbia được (bị) xem là “tương tự” với một số khác biệt địa phương như “kiểu” đông và tây dù cư dân dùng loại chữ viết khác nhau: Người Croatia dùng mẫu tự La Tinh trong khi người Serbia dùng mẫu tự Cyrillic. Họ giữ truyền thống này để tách rời khỏi nhóm “Slav”, tránh việc bị “đồng hóa với Serbia trong khi tiếp tục tạo ra những chữ mới khác để ngôn ngữ mỗi ngày một giàu có.

    Chữ viết cổ của Croatia:

    IMG_1652.JPG

    Giữ gìn ngôn ngữ cẩn thận như thế nhưng 78% cư dân Croatia sử dụng được ít nhất là một ngoại ngữ, 50% nói tiếng Anh thuần thục, 34% nói tiếng Đức, 14% tiếng Ý và 10% tiếng Pháp.


    Hệ thống giáo dục tại Croatia được xem như tương đương với các quốc gia Liên Âu, tỷ lệ số người biết đọc và viết là 99.2%. Tại quốc gia này, trẻ em bắt buộc phải đến trường ít nhất là 8 năm; sau đó được lựa chọn việc học nghề hay tiếp tục học chữ (vào đại học).

    Tương tự như nhiều quốc gia Liên Âu khác, về y tế, Croatia cũng dùng hệ thống “universal health care”, một hệ thống y tế cho mọi cư dân, và hầu hết mọi dịch vụ chăm sóc sức khỏe nằm dưới sự điều hành của chính phủ. Croatia tiêu xài khoảng 6.6% GDP vào y tế, tuổi thọ cư dân tương đương với các nơi khác: phái nam 75 tuổi trong khi phái nữ sống đến 81.2 tuổi!

    Nhìn chung, Croatia giữ được nhiều thắng cảnh thiên nhiên, từ bờ biển trong xanh đến núi rừng hùng vĩ xanh tươi, chưa kể các di tích cổ xưa. Mỗi đoàn quân xâm lăng đều để lại dấu vết, các sân khấu lộ thiên kiểu La Mã; cách dát gạch của Byzanthine; những tháp chuông của người Venice, những biệt thự thời vương triều Habsburg chưa kể những tòa nhà to kềnh càng, hình thể thô kệch (bắt chước Sô Viết) thời chủ nghĩa xã hội …
    Với bức tranh nhiều màu sắc ấy, Croatia có dáng vẻ của một vùng đất Địa Trung Hải, gần gũi với Venice & Rome hơn là nhuốm màu Đông Âu như Vienna và Budapest. Cá tính ấy nổi bật qua cách sinh sống thong thả, [lè phè], ưa chuộng cà phê hàng quán của người địa phương.

    Theo khuynh hướng “ăn để sống” nên thức ăn Croatia rất… thật thà, ít gia vị, và nặng vị kem, sữa làm sốt. Món truyền thống Ispod peka (dịch sát nghĩa là “dưới cái chuông” nhưng theo tiếng Việt thì có lẽ nên nói là “vùi than hồng”), thịt bò non (hoặc cừu) hầm bằng cách đặt nồi giữa lò than hồng để thịt chín từ từ và thấm gia vị và món Štruklji, bột cán mỏng nhồi kem, phó mát rồi nướng.
    Loại rượu mạnh, rakija, hầu như cư dân nào cũng cất tại nhà; nhiều người bỏ thêm các loại trái cây thành rượu ngọt sljivovica (plum brandy), travarica (herbal brandy), kruskovac (pear brandy), orahovac (walnut brandy) hoặc lozovaca (grape brandy) để dùng như rượu khai vị. Hàng quán nào cũng mời khách một ly rakija nhỏ nhỏ để chúc tụng zivjeli trước khi bắt đầu bữa ăn.

    Trong nhóm du khách có hai tay chụp hình “thứ thiệt”, anh chàng Milan chỉ dùng chiếc điện thoại di động mà chụp ra bao nhiêu là tấm ảnh khá đẹp trong khi Larry H. với đồ nghề vác theo hai chiếc “bazooka” nặng ký cũng chưng cả ngàn tấm ảnh khác. Mỗi người một vẻ, và cả hai đều cho phép Dế Mèn sử dụng thoải mái vì biết phe ta thuộc loại phó nhòm hạng bét.
    Một ít hình ảnh từ Croatia của Milan Miletic:

    Biển Adriatic nhìn từ khách sạn tại Dubrovnik:

    IMG_20181027_175322.jpg

    Thử brandy tại hãng cất rượu Aura, vùng Istra:

    IMG_20181108_161427.jpg
     
  6. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    Croatia: Dubrovnik, “hạt ngọc” vùng Adriatic

    Hạt ngọc quý (The 'Pearl of the Adriatic') nằm trên bờ Dalmatian coast của biển Địa Trung Hải, Dubrovnik là một thành phố cổ có mặt từ thế kỷ XIII, một thương cảng sầm uất nên giàu có lâu đời. Giàu có nên Dubrovnik luôn bị nhòm ngó và là trọng tâm của những đội quân viễn chinh. Dubrovnik có một lịch sử đẫm máu, trải qua nhiều cuộc chiến tranh giành đất và giữ đất chưa kể trận động đất rất lớn năm 1667 gây hư hại nặng nề cho nhiều tòa dinh thự cổ xưa. Tuy nhiên thành phố giữ được bức tường thành khá dài và một số biệt thự cũng như nhà thờ, tu viện… với các kiểu kiến trúc Gothic, Renaissance và Baroque.
    Sau trận nội chiến 1991, khi các tiểu quốc trong liên bang Nam Tư nổi dậy đòi độc lập, gây hư hại cho khá nhiều kiến trúc cổ; ngày nay, được UNESCO bảo trợ các cuộc trùng tu như một di sản thế giới, Dubrovnik giữ được vị thế khá cao trong danh sách những thắng tích của vùng Địa Trung Hải.

    Tên gọi Dubrovnik xuất hiện trên sách vở (the Charter of Ban Kulin) từ năm 1189, có nghĩa là "dubron" hay “nước”, chữ gốc Celt. Thành phố có tên cũ là Ragusa, gốc Hy Lạp (Ῥαούσιν hay Rhaousin, và La Tinh Ragusium) từ thời Trung Cổ, thế kỷ X, đánh dấu cuộc di dân của người Hy Lạp khi bị tổ tiên người Croatia (ngày nay) chiếm đất.
    Cả hai tên gọi đều được sử dụng trong văn chương qua nhiều thế kỷ.

    Dubrovnik là một thành phố nhỏ xíu, diện tích khoảng 8.2 dặm vuông, dân số chỉ vỏn vẹn 40 ngàn người chưa kể du khách. Nhưng vào mùa hè thì nơi này không có chỗ chen chân, hàng ngàn người thăm viếng đổ về đây và thành phố đã phải áp dụng các biện pháp giới hạn đám đông, nhất là tại khu phố Cổ chỉ rộng mấy trăm thước vuông. Biết như thế nên phe ta chọn mấy ngày đầu thu khi thành phố đã vãn người để có dịp làm du khách viếng thăm thành phố theo một thời khoản thong thả hơn.

    Phố Cổ bao bọc bởi tường thành, xây cất từ thời Trung Cổ và được xem là một trong những công trình xây cất bền bỉ, vững vàng nhất của thế giới, chiến tranh hà rầm (chịu đạn đại pháo), động đất, bão tố suốt mấy trăm năm mà tường thành vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt! Tường thành dài khoảng hai cây số, rộng cỡ 4-6 thước tùy theo vị trí (phía đất liền rộng hơn phía bờ biển) và chiều cao trên dưới 27 thước (83 bộ Anh)! Trên mặt tường thành là các tòa tháp, lớn nhất là trạm Sveti Ivan (Thánh John), trụ canh gác…
    St. John Guard Tower trên tường thành:

    StJohnTower.JPG

    Hôm đến thăm, Dubrovnik chịu một cơn bão khá lớn, biển Adriatic nổi giận nên sóng quật rầm rầm những cơn lũ trắng xóa tràn bờ. Đứng trên tường thành Dế Mèn vừa rét [vì lạnh] vừa run [vì sợ]. Gió thổi dữ dội lồng lộng từng cơn, phe ta đi lần từng bước, hai tay níu lấy bức tường vì bị gió đánh bạt mấy lần. Trời đổ mưa nên tường thành trở nên trơn trượt, và phe ta bỏ cuộc khi chỉ mới leo trèo được nửa đường. Chỉ ngần ấy nhưng Dế Mèn đủ hiểu rằng ta cần lùi bước trước cơn nóng giận của trời đất. Chỉ ngần ấy nhưng cũng đủ để chiêm nghiệm vẻ đẹp của biển Adriatic từ tường thành Dubrovnik.
    Biển Adreatic dưới chân tường thành:

    DubrovnikWall.JPG

    Không lạ là trên 1.2 triệu người đã đến thăm tường thành vào năm ngoái và đây cũng là nơi thu hình ‘City of King's Landing’ cho chương trình Game of Thrones của HBO.

    Qua Pile Gate là vào Phố Cổ, đầu tiên là ngôi nhà thờ St. Savior bị hư hại khá khá sau trận động đất năm xưa nhưng vẫn giữ được cổng vào xây cất theo kiểu Phục Hưng (điển hình là cửa [sổ] thông hơi có dạng đóa hoa), ngày nay là nơi trình diễn các buổi hòa nhạc bỏ túi.
    Pile Gate:

    PileGate.JPG

    St. Savior Church:
    StSavior.JPG

    Bên cạnh là tu viện Francisco nơi lưu trữ khá nhiều cổ thư nhưng thư viện chỉ cho phép những chuyên gia nghiên cứu vào xem; du khách xoàng xoàng như phe ta chỉ được lanh quanh bên ngoài các cánh cửa đóng kín. Bên trong khuôn viên tu viện là hành lang (cloister) và khu vườn khá lớn. Thủa xa xưa nơi này có dược phòng, tu sĩ làm công việc bào chế thuốc men cho dân làng, ngày nay là bảo tàng viện trưng bày cổ vật dùng trong việc bào chế thuốc men.
    Khuôn viên & hành lang tu viện Franciscan:

    FranciscanMonastery2.JPG FranciscanMonastery.JPG

    Phố Cổ có hai bồn nước, Grand & Little Onofrio's Fountain. Bồn nước lớn gần cổng Pile và bồn nước nhỏ nằm bên cạnh Rector’s Palace trong công trường Luža, cả hai đều có số tuổi vài trăm năm (1443). Theo ý riêng, bồn nước nhỏ có vẻ đẹp hơn về kiểu mẫu.

    LittleFountain.JPG

    Sau bồn nước lớn là tu viện thánh Helen [dành riêng cho nữ tu]. Ngày xa xưa, nhiều tiểu thư kiều mị con nhà quý phái, không lấy chồng được (vì cha mẹ hết… của hồi môn) đành gửi thân vào tu viện. Người dẫn đường kể lại rằng quý tộc Dubrovnik thường chọn dâu / rể trong tầng lớp thượng lưu và con gái gả chồng mang theo món hồi môn khá khá nên đôi khi chỉ cô con gái đầu lòng được chính thức gả chồng, còn em út về sau phải đi tu ráo trọi!? Và nhà dòng thủa ấy có cả một cánh cửa sổ xoay tròn để người đứng bên trong có thể nhận “hàng” mà không phải bước ra ngoài. Có những bà mẹ mang con đến đó trong đêm tối để khỏi bị nhận dạng, họ chỉ cần đập cửa, xoay tròn cửa sổ, đặt con thơ vào chỗ trống, xoay cửa sổ vào trong rồi bỏ chạy. Tạm hiểu là việc “đem con bỏ chợ” xảy ra từ ngày xửa ngày xưa, ở mọi nơi, mọi chỗ, và xảy ra vì nhiều lý do đôi khi chẳng phải vì nghèo!

    Giữa phố Cổ (Old Town) là một công trường nhỏ, Luža Square, bao quanh là dinh thự nhà thờ, bồn nước và tháp chuông.
    Giữa công trường là trụ Orlando (hoặc Rolando theo tiếng Đức), Orlandov Stup, với bức tượng một nam nhân trong quân phục Trung Cổ, xây cất từ năm 1418 để kỷ niệm ngày độc lập của Ragusa. Không biết tự bao giờ Rolando được xem là biểu tượng của độc lập? Dế Mèn “gặp” Rolando lần đầu khi đến thăm Latvia năm nọ, bức tượng cũng đứng giữa thành phố như bây giờ, dù mặt mũi, quần áo khác nhau nhưng mang chung biểu tượng và tên gọi. Năm 1419, Orlando [cũ] được thay thế bằng bức tượng kiểu Gothic ngày nay. Ngày xa xưa, chiều dài cánh tay của pho tượng (từ cổ tay đến cùi chỏ dài 51.2 cm) được dùng làm đơn vị đo lường “Dubrovnik 1 ell” để cư dân tính toán mà buôn bán.

    Nhà thờ Thánh Blaise và trụ Orlando:

    RolandoStBlaiseChurch.JPG

    Đối diện với cột Orlando là nhà thờ thánh Blaise, St. Vlaho, quan thầy của thành phố. Ông thánh này này luôn cầm trên tay mô hình Dubrovnik, bức tượng đứng trên cổng vào của nhà thờ. Đằng sau nhà thờ Thánh Blaise là Dubrovnik cathedral, khá rộng lớn.

    Nhà thờ Chính Tòa (Cathedral) tại Dubrovnik:

    Cathedral.JPG

    Đại khái là cứ vài chục bước là lại thấy nhà thờ lớn nhỏ. Hầu hết xây cất theo kiểu Baroque, đôi khi pha trộn nhiều kiểu kiến trúc, Renaissance & Neoclassic vì được [bị] sửa chữa sau trận động đất.

    Dubrovnik nhìn chung là một thành phố cổ nhỏ nhỏ khá đẹp, ta cần khoảng hai tiếng để đi quanh và ít nhất 45 phút để đi cho hết một vòng tường thành mới mãn nhãn.
     
  7. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    Croatia: Thủ đô Zagreb

    Zagreb là thủ đô và cũng là thành phố lớn nhất của Croatia với 800 ngàn cư dân. Tên tuổi của Zagreb đã có mặt trên sách vở từ thời Trung Cổ, không lạ là trong thành phố vẫn còn những di tích tuổi khoảng ngàn năm. Hiện diện lâu đời như thế nên Zagreb trải qua những cuộc chiến tranh chiếm đất giành người và tổ tiên cư dân Slavs cũng đã chịu nhiều triều đại ngoại nhân cai trị, từ La Mã, Áo-Hung đến Ottoman.
    Zagreb chính thức trở thành thủ đô của Croatia từ năm 1845 và vị thị trưởng dân cử đầu tiên, năm 1851, là ông Janko Kamauf. Chi tiết lý thú này cho thấy cư dân Zagreb thủa ấy đã được quyền bỏ phiếu chọn người đại diện, hình ảnh một nền dân chủ khá mới mẻ trong thế kỷ XIX.

    Thành phố được chia thành hai phần chính, Xóm Trên và Xóm Dưới, Upper Town – (gồm hai ngọn đồi Gradec & Kaptol) và Lower Town, theo vị thế địa lý. Xóm Trên, cũng là Phố Cổ, nằm trên đồi và Xóm Dưới trong thung lũng dọc theo lạch nước Medveščak (ngày nay là đường Tkalčićeva).
    Đồi Kaptol thủa xưa là nơi cư ngụ của các lãnh chúa và của giáo hội Thiên Chúa La Mã với nhà thờ Chính Tòa và biệt thự / văn phòng hành chánh của vị Giám Mục cai quản địa phận Zagreb. Ngôi nhà thờ được đặt tên (bởi giáo hội La Mã) năm 1217, bị dày xéo tan nát dưới chân đội quân viễn chinh Mông Cổ năm 1242 rồi được xây dựng lại vào năm 1263. Nhìn ngắm bản đồ thế giới, đọc sách vở ghi chép cuộc tiến quân của Thành Cát Tư Hãn mà Dế Mèn le lưỡi cảm phục: Một đội quân sinh sống ở sa mạc, quen chiến đấu trên đất liền bên Á Châu mà có thể kéo tuốt đến Zagreb, phá tan nát biết bao thành trì trên đường tiến quân thì ông Thành Cát Tư Hãn kia là nhà quân sự đại tài! Cảm phục Thành Cát Tư Hãn thì phe ta ngẫm nghĩ đến công đức của Hưng Đạo Vương mà muôn phần kính ngưỡng. Không biết đến bao giờ Việt Nam ta mới có một hiền tài như thế?

    Trở lại với nhà thờ Chính Tòa của Zagreb xây theo kiểu Gothic, tên chính thức rất dài là “the Blessed Virgin Mary and the Saintly Kings Stephen and Ladislav”, trước mặt là một công trường nhỏ nhỏ đặt tượng bà Mary thếp vàng trên trụ gạch. Ngày trước, nhà thờ được xây cất bằng limestone (đá vôi?) nên qua thời gian, bị hư hại khá nhiều vì thời tiết vùng ôn đới. Ngày nay cư dân tiếp tục sửa chữa và thay thế bằng những loại đá khác.

    Nhà thờ Chính Tòa tại Zagreb:

    ZCathedral.JPG

    Bên trong nhà thờ gần cung thánh phía bên trái là tượng Josif Jelačića, người đã chiến đấu cho nền độc lập của Croatia; phía bên phải là nhà mồ của Tổng Giám Mục Alojzije Stepinac. Gần đó là pho tượng ông Tổng Giám Mục được Thiên Chúa đón nhận.
    Câu chuyện về ông Stepinac khá dài, từng là tổng giám mục địa phận Zagreb trong Thế Chiến II; ông này đã cho rằng khi giáo hội trợ giúp Ustase (một chính phủ thân Nazi) thì sẽ tránh được sự tấn công của Serbia và giữ được độc lập cho Croatia. Khi ông Tito thu tóm toàn cõi Nam Tư, Tổng Giám Mục Stepinac bị đưa ra tòa về tội ‘phản quốc’, giam cầm và sau đó bị đầu độc chết trong tù. Cư dân Croatia xem vị tổng giám mục như một vị thánh tử đạo và thờ phượng. Bức tượng trưng bày tại nhà thờ Chính Tòa Zagreb do người bạn thân, một điêu khắc gia nổi tiếng thời ấy, Ivan Meštrović, tạc tại Detroit, Hoa Kỳ sau khi thoát khỏi nước cộng sản Nam Tư. Nhiều ngôi trường (do giáo hội Thiên Chúa La Mã tạo dựng) tại Huê Kỳ cũng mang tên vị tổng giám mục này.

    Tượng Tổng Giám Mục Stepinac:

    ZBishop.JPG

    Trên tường, lối ra, là một bia đá ghi chép các mẫu tự Glagoljica, do các tu sĩ Cyril và Methodius thời Byzantine biên soạn trong thế kỷ IX để chuyển dịch thánh kinh từ La Tinh sang ngôn ngữ Slav. Dù các tu sĩ kể trên biên soạn thánh kinh tại Moravia (ngày nay là phía đông Cộng Hòa Tiệp), loại mẫu tự này chỉ được sử dụng tại đây. Glagoljica được người Bulgaria sử dụng và biến chế thành mẫu tự Cyrillic còn sử dụng đến ngày nay tại Serbia, Nga Sô và các vùng đất phía đông Âu Châu.

    Nhìn quanh, thành phố cũng có tường thành bao bọc nhưng phần lớn đã mất dấu, phần bị tàn phá qua các cuộc chiến tranh, phần bị phá bỏ để mở mang thành phố. Ngày nay chỉ còn ít dấu vết như Lotrščak Tower (nằm trên đồi Gradec) xây cất từ thế kỷ XIII, vẫn còn mấy khẩu đại bác, mỗi ngày cứ đến 12 giờ là đại bác lại nổ một lần!

    Lotrščak Tower”

    ZTower.JPG


    Muốn lên đồi, ta có thể theo những con đường lòng vòng hoặc dùng xe điện treo, funicular. Xe điện treo của Zagreb ngắn nhất thế giới, đi từ chân đồi đến đỉnh đồi chưa đến 5 phút; ra khỏi xe điện là thấy ngay Lotrščak Tower nằm bên cạnh trạm xe điện.
    Cứ điểm nổi tiếng nhất trong vùng đồi Gradec là công trường Thánh Mark với ngôi nhà thờ cùng tên, St Mark’s Church. Mái nhà khá đặc biệt, mái ngói sắp xếp theo huy hiệu của thành phố, tòa lâu đài trên nền đỏ và ba vương triều Croatia, Slavonia và Dalmatia kết hợp tạo thành đất nước Croatia ngày nay.

    Nhà thờ St. Mark với mái nhà nhiều màu:

    ZStMarkSQ.JPG ZStMark.JPG

    Công trường Thánh Mark ngày trước là nơi gặp gỡ tụ họp của những người nổi tiếng trong thành phố, nghệ sĩ, thương gia, thân hào nhân sĩ, một hình thức “câu lạc bộ”.
    Gần đó, ngày nay có hai bảo tàng viện rất đặc biệt, The Croatian Museum of Naïve Art (Hrvatski muzej naivne umjetnosti), trưng bày tác phẩm của các nghệ sĩ “dân gian” trong đầu thế kỷ XX, những người tự sáng tác, tạo ra một khuynh hướng nghệ thuật riêng, không theo một trường phái hoặc qua trường huấn luyện nào. Đề tài thường bao gồm cảnh thiên nhiên, sinh hoạt hàng ngày, thời niên thiếu và các địa danh nổi tiếng như nhà thờ Đức Bà tại Paris … Dế Mèn ghé thăm, tác phẩm ở đó khá lạ mắt.
    Viện bảo tàng thứ nhì, thực ra là một phòng triển lãm, Museu of Broken Relationships, trưng bày những vật thể thu góp sau các cuộc tình đổ vỡ; vật thể xem ra không có chi đặc sắc nhưng những câu chuyện và lời “diễn giải” đi kèm thì rất đặc biệt. Những chuyện ai oán, thống hận khiến người xem bùi ngùi, ái ngại nhưng cũng có những câu vô cùng khôi hài [trong đau đớn] khiến ta phì cười. Mở cửa tâm hồn bằng cách trưng bày những đau đớn cũng là một cách giúp vết thương chóng lành?!

    Viện bảo tàng Nghệ Thuật Dân Gian:

    ZNaiveArt.JPG

    Đi về phía đông ta gặp Stone gate, Kamenita vrata, cửa thành cổ duy nhất còn lại ngày nay. Cư dân chưng hoa, bày tượng và thắp đèn nến để cầu nguyện như một ngôi đền tại Phố Cổ. Những con đường chung quanh là hàng quán, cửa tiệm… Sản phẩm như giày dép địa phương trông khá đẹp nhưng không rẻ chút nào, có cả cửa tiệm chỉ bán mỗi món cravate, những chiếc cà vạt bằng lụa rất đẹp. Sách vở ghi chép rằng trong cuộc chiến tranh “Thirty Years' War” (1618–1648), binh lính gốc Croatia, the Croatian Military Frontier, chiến đấu dưới lá cờ của Pháp đã đeo khăn trên cổ theo quân phục truyền thống khiến dân Pháp tò mò và bắt chước rồi gọi món trang phục ấy là “Croates” (có nghĩa là người Croatia theo tiếng Pháp trong khi người Croatia tự xưng là “Hvrati”), và chữ “cravate’ ra đời. Vua Louis XIV khi còn trẻ dại đã đeo chiếc cà vạt bằng ren quanh cổ từ năm 1646, từ đó món trang phục trở thành thứ “phải có” của quý tộc Âu Châu. Tóm lại là người Croatia biểu rằng món cà vạt kia xuất phát từ Croatia!

    Cửa tiệm chuyên trị cà vạt tại Zagreb:

    ZCravate.jpg

    Dưới chân Gradec là công trường chính của thành phố, Ban Jelacic hay ‘Trg bana Jelačića’, khi hẹn hò, người thành phố chỉ nói “dưới đuôi ngựa” là ai cũng hiểu chỗ gặp gỡ là bệ đá giữa công trường. Trên bệ đá là tượng Hầu Tước Josip Jelacic (1801-1859) cưỡi ngựa, con ngựa có một vó hổng trên mặt đất (biểu tượng của tráng sĩ bị thương tại chiến trường và sau đó chết tại hậu cứ vì vết thương) nhưng ông Jelacic lại chết vị bệnh Giang Mai như nhiều quý tộc châu Âu thủa ấy. Thủa còn là Toàn Quyền (Ban) Croatia, ông Josip Jelacic theo hoàng triều Áo chống lại Hung để giữ độc lập cho Croatia và xóa bỏ hệ thống lãnh chúa. Ngoài ra, ông này còn khởi đầu nền dân chủ tại thuộc địa, cho cư dân bỏ phiếu chọn người đại diện vào quốc hội. Từ đó cư dân Croatia nhớ ơn ông hầu tước, xem như một anh hùng dân tộc và dựng tượng vinh danh từ thế kỷ XIX. Sau thế chiến II, pho tượng bị đem bỏ xó vì người cộng sản Nam Tư cho rằng ông hầu tước là “tay sai” của đế quốc Áo. Pho tượng chỉ được đem ra chưng trở lại sau năm 1990 khi Croatia giành lại độc lập.

    ZJelacic Square.JPG


    Ở lưng đồi là chợ Dolac ngoài trời, chỉ họp buổi sáng, bán đủ mọi sản phẩm thức ăn, hoa quả, đồ chơi…

    ZMarket.JPG


    Thành phố có đầy đủ hàng quán, cà phê, tiệm ăn, và nhất là có một tiệm bán thức ăn nhẹ, đủ kiểu sandwich kể cả món bánh mì Việt Nam. Ổ bánh mì có giá 40 Kuna (khoảng 4.5 mỹ kim theo hối suất hôm ấy), Dế Mèn đã ăn tối no kềnh nên chẳng còn bụng dạ nào mà thử món thức ăn quen nhưng lạ này, không biết ngon dở thế nào.

    ZBanhMi.JPG


    Nhìn thoáng, Zagreb là một thành phố nhỏ, giữ được nhiều nét độc đáo của Âu Châu thời Trung Cổ dù đã trải qua ít nhiều bể dâu, được tu bổ nhiều lần và phát triển theo thời đại mới. Phe ta nghe nói rằng Zagreb đứng hàng đầu trong ba năm liên tiếp trên bảng xếp hạng “Christmas Markets) của thế giới nên tò mò lắm, vả lại còn vài nơi chưa được xem cho mãn nhãn. Lúc rời thành phố đã tính quay lại vào tháng Mười Hai để so sánh xem Zagreb hay Munich, nơi nào trang hoàng đẹp hơn trong mùa Giáng Sinh nhưng bận rộn quá, đành thôi.
     

Chia sẻ, giới thiệu đến bè bạn