Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!

Tiếng Việt

Chủ đề trong 'Chữ Và Nghĩa' do thiên chương khởi đầu 9 tháng Năm 2016.

  1. thiên chương

    thiên chương Công Dân

    Tiếng Việt là độc âm nghĩa là nói từng tiếng góp lại thành một câu, viết từng từ góp lại thành một bài văn. Tiếng Việt dùng 32 chữ cái của mẫu tự La Tinh để viết, nguyên thủy do các linh mục Bồ Đào Nha và Pháp mang vào Việt Nam từ thế kỷ 16, phiên âm tiếng Việt để truyền đạo Thiên Chúa, dần dần lập thành Chữ Quốc Ngữ thay thế Chữ Nho cho đến nay.

    Tôi nhận thấy so với tất cả các nước dùng mẫu tự ABC trên thế giới thì chỉ có từ ngữ Việt Nam mới có thể chỉ dùng những từ có cùng một Phụ Âm đứng đầu để kể một câu chuyện có vần Phụ Âm đó, hoặc viết một bài văn với cùng một Phụ Âm ở đầu từ.

    Để chứng minh, tôi đã viết được 5 Chuyện với cùng một Chữ bắt đầu:

    1. Chữ B: Bà Ba Bán Bún (522 chữ B)
    2. Chữ C: Chuyện Cậu Chính (720 chữ C)
    3. Chữ H: Hẹn Hò (404 chữ H)
    4. Chữ T: Tiểu Truyện Toàn Tê (2216 chữ T)
    5. Chữ V: Viết Văn (378 chữ V)

    Nguyễn Văn Luận

    1.BÀ BA BÁN BÚN
    Bà Ba buồn bã bế bé Bưởi bủng beo, bi bô, biết bò. Bà bẽ bàng bởi bà bị bắt ba bốn bận, bố bé Bưởi bội bạc, bỏ bà, biền biệt, bà bị bịnh …bón. Bà Ba bán bún, bọn “bọ”(cán bộ) bảo bà bán bún bò. Bà bất bình, bà bảo bà bán bún bung. Ba bà bạn buôn, bán bún bị bắt. Bà Ba buồn, bèn bỏ bán bún, bán bánh bèo. Bánh bèo bằng bột, bọn “bẩm báo” biết bà bán bánh bèo, báo bà …bán bánh bằng bột! Bà bừng bừng bực bội, bóp bét bánh bèo, bôi bê bết “Biên bản bắt bán bánh bằng bột”

    Bộ (công an) bắt bà Ba, bảo bà bán bánh bằng bột, bừa bãi, bướng bỉnh, báng bổ. Bọn bồ bịch “bác Bình bên Bộ” biết bà Ba bầu bĩnh, béo bở, bèn bô bô bảo bà: “Biếu bác Bình bốn bách”, bác Bình bãi bỏ “Biên bản bán bánh bèo”.

    Bà Ba bấm bụng, biếu “ba bách”. Bà biết bà bị bắt bí, bởi bánh bèo bà bằng bột …bo bo . “Bầy bịp bợm, bọn bưng bô, bết bát, bê bối, bèo bọt, bắt bừa bãi …!” Bộ ban bố: “Bắt bún, bắt bánh bằng bột”. Bọn bồi bút bênh Bộ, bốc “Bắt…bắt !” bất biết. Bọn “bọ” bắt bà Biên, bà Bích, bà Bạch bán bánh bao. Ba bà bàn bạc, bỏ bán bún, bánh bao, bánh bèo, buôn ….bắp ! _ Buôn bắp bấp bênh, “bị bắt bỏ bu ! “, bà Ba bảo bạn.

    Bà Ba bèn bồng bé Bưởi bi bô, buôn …bầu bí. Bầu bí buôn ba bán bảy ! Bập bùng, bì bõm bến bãi, bờ bụi, bà Ba bứt bí, bứt bầu, bó bầu, bó bí bỏ bị bự, bán buôn bớt bận bịu ! Bạn bè bốc: “bà Ba Bị bán bầu bí …bộn bạc!”

    Bà Ba buồn bời bợi bởi bố bé Bưởi bội bạc bỏ bà, bởi bịnh bón. Bà bực bội, bất bình bởi bọn “bọ” bám bà, bức bách bà, bắt bà bảy bận, bòn bóc bà bởi bà biết buôn bán. Bà bỏ Bất Bạt (Sơn Tây), Bắc bộ, bỏ bán bầu bí, bế bé Bưởi bụ bẫm, bôn ba, bao bọc bởi bác Bàng Bến Bính (Hải Phòng), bung buồm bám biển, bị bão, bồng bềnh… Bà Ba bế bổng bé Bưởi, bíu bác Bàng biết bơi.., bơi bì bạch biển Bắc bão bùng … Bà bye bye bọn Bắc Bộ bẩm báo, bức bách, bắt bớ bừa bãi…! Bóng bẩy, bảnh bao, bà Ba bước bên bờ biển Boston biêng biếc, bàng bạc. Bé Bưởi bắt bóng balloon bay bướm, bước bên bà, bé bảo: “Bờ biển Boston blue…beautiful !” Bà Ba bưng bát bún bò, bảo bé Bưởi: “Bún bò Boston bát bự bằng bún bò Bolsa …!”. Bánh bao Bolsa…bôi bơ béo bổ, bánh bao Boston bềnh bệch, bánh bèo Boston bột …bở! Bé Bưởi bửa bánh bao, bỗng bảo bồi bàn : “Ba bát bún bò ….!”. “Bún bò Boston Bistro bát bự, “bảy bucks”,”beautiful….beautiful…!

    2. CHUYỆN CẬU CHÍNH
    Cậu Chính con cả cụ Chánh Chợ Cầu, chững chạc, cứng cỏi, chăm chú, chần chừ chọn các cô Chanh, Cốm, Cẩm, Châu… cho chót chuyện cha cậu cấm cậu cặp cả …chín cô! Chấn chỉnh, cậu Chính compare các cô, confused…! Cô Cẩm cùng cục, cong cớn, cô Chanh chậm chạp, chắt chiu, cô Cốm chanh chua, cà chớn…Cuối cùng cậu Chính cảm cô Châu. Cậu chịu cô Châu: cô chăm chỉ, cần cù, cổ cao, co chuẩn, con cụ Chất có cồn cỏ cạnh Chùa Cam. Cụ Chất cám cảnh còm cõi, cơ cực, chuân chuyên, chợ chiều chen chúc, cụ chỉ có Châu, cụ chăm chút, chiều chuộng, cố chọn chồng có của cho con. Cụ chấm cậu Chính: “Con cả cụ Chánh Chợ Cầu cặp cùng con cụ, chắc chắn cha con cụ chứa chan…của cải!” Cụ Chánh Chợ Cầu cũng chịu cô Châu con cụ Chất Chùa Cam, cầu cho con cụ cùng cô Châu…chính chuyên, chặt chẽ! Cô Châu cười chúm chím: “Con chịu…!” Các cô Chanh, Cẩm, Cốm chắc chắn chuyện cậu Chính cặp cái Châu, cay cú, cau có, cãi cọ chán chê, cùng chạy cầu cứu cụ Còng, cầy cục cụ can cụ Chánh Chợ Cầu: “Chúng cháu cao cả, chẳng chịu cảnh chồng chung, cụ che chở cho chúng cháu, cậu Chính chỉ chực …chôm của!” Các cô cũng cảnh cáo cậu Chính “Can chi cặp cái Châu chích chòe?” Cậu Chính chợt choáng, chẳng chịu các cô chỏng chảnh, chập chờn con chuồn chuồn, cuống con cào cào “Chết chắc…!” Các cô cố chê, chéo chân, choạc cẳng chửi cô Châu: Cô Cốm: ” Con Châu cổ cò, chân cong…Cậu Chính cay con cà cuống, chó chầu cục cứt!” Cô Cẩm: ” Cái Châu còi cọc, chiu chít, cổ cáu chằng chịt chân chim, chồm chỗm con cú chê con chẫu chuộc!” Cô Chanh: ” Con Châu chảnh chọe, chủ chứa, cạp củ cải cháo chua, con cầy chộp con cóc chết!” Các cô càng châm chọc cô Châu, cậu Chính càng chê các cô. Cậu chua chát: ” Các cô cáo chồn, cà chớn, chán chết…!” Cuộc chiến chiếm…con chim… cù cưa, con cò chết cháy…! Cô Châu cột chặt…cột cờ, còng chân cậu Chính! Các cô Chanh, Cốm, Cẩm cố công cầm cự chí chết, cãi chầy cãi cối chửi cô Châu, chung cuộc… chết chìm…! Các cô còn chỉ cậu Chính ca cẩm: ” Con cá cắn câu, con cò cất cánh…cóc cần…coi chừng…cắt chim!”, chửi câu cuối cùng, các cô cùng chập chững co cẳng …chạy! Cậu Chính chỉ cho cụ Chánh, cha cậu, chứng cớ các cô cạy cửa, chẹt cổ cô Châu, công chúa của cậu, còn cắn cậu , cấu cậu. Cụ Còng, con cô con cậu của cái Cẩm, cố chấp, che chở con Chanh, con Cốm cản cậu. Con Chanh chồng chết, cái Cốm cancer, cùng cực, chồng chê cõng con…chuồn…! Cái Cẩm cầm cái, cướp cơm của chú cháu con Chi, cả community chê cười ! Căn cứ cử chỉ của các cô “chuột chết”, cụ Chánh Chợ Cầu chào cụ Chất Chùa Cam: “Cho các cháu…chập chùng, chũm chọe chuyện chiếu chăn..!” Cậu Chính cắt cây cảnh, cắt cỏ, cô Châu chăm chậu cúc, cặm cụi chẻ củi, chặt con cá chép, cơm canh, cỗ cúng. Chập choạng chiều, cô Châu chải chuốt, cậu Chính chững chạc cắp cặp cùng các cụ, các con, các cháu chuyển cỗ cúng, cùng chè chén chứa chan chuyện con cà, con cút, con chim cánh cụt. Cơm cúng cỗ có : Canh chua cá catfish, Canh cải cà chua, Cá chép chiên, Chả chìa, Càng cua cặp củ cải chua chiên chảo, Cam, Chuối chín cây, có cả Chocolate cookies, Coconut candies . Cụ Chánh cùng cụ Chất chạm cốc. Cụ Chất chúc: ” Chúc cụ Chánh chân chính, cha chồng cháu Châu, cầm cân cho chắc, chống Cộng chuyên chế, chó càn cướp của, chúc các con có cu Chính con coming!” Cụ Chánh chếnh choáng, chớp chớp, cầm chừng, chực cảm. Cụ cười, cất cao cổ ca câu chuyện chữ C: Chiều chiều chênh chếnh cánh cò ! Con công, con cú, con chim chích, con cu, Có con cóc cái, chu choa…chộp con cào cào…!

    3. HẸN HÒ
    Hăng hái học hành, Huệ, Hồng, Hương, Hảo, Hạnh, ham hội họp, hào hứng, hớn hở, hát hò. Hạnh hát “Hello”, Hảo hát “Hoàng Hôn Hawaii”, Hương hát “Haiti hiu hắt”, Hồng hết hơi “hông hát…!” Huệ hò Huế hay …hơn hết! Huệ hao hao Halle-Berry, Hồng… hot, hở hang, Hương hơi hư hỏng, Hảo ham hàng hiệu, Hạnh …hiền hòa. Huệ hợp Hảo, học hình họa, hí hoáy họa hình hổ, hình hươu, hình hoa hòe, hoa huệ. Hồng, Hương ham hóa học, hì hục hốt …hành, hẹ, hột hồi, hoa hiên, hoa hồng hòa hỗn hợp…hăng hăng! Hạnh ho he học hàng hải…hão huyền! Hết hè, Hồng háo hức, hí hửng hỏi Hương: “Hương hẹn hò Huỳnh Hữu Hải, hứa hôn hả?” Hương hốt hoảng, hậm hực: “Hải Hủi, hắn hippy, hâm hấp, hẹp hòi…Hương hầu hạ hắn, hắn hờ hững, hắt hủi Hương, hằn học hành hạ Hương…!” Hương hụt hơi, hổn hển: “ Hắn hung hãn hành hung Hương, hích Hương, húc Hương, hét ‘Hương hooker’. Hắn hăm hở, hùng hục, hoạnh họe, hà hiếp Hương hai hôm, Hương hận hắn..hu..hu …!” Hồng hiểu hồi hôm Hương hốc hác, hết hồn, hắt hơi, ho hù hụ, héo hon, hết hồng hào. Hương hãi hùng, hối hận, hét hết hơi: “Hải Hủi hèn hạ, hôi hám…!”. Hải hầm hầm, hắn hoảng, hắn hét, hắn hầm hè, hục hặc, hùng hổ …hù Hương… Hương hớt hơ hớt hải hỏi Hồng: “Hu hu..hỡi Hồng! help Hương… hầu hắn hết hung hăng, hãm hại Hương”. Hồng hiểu hết, hối hả, hào hiệp, hét: “Hải hỗn hào! ha ha… hành hung hả?”. Hồng hô:”Huệ, Hảo, Hạnh, …Help…Help…!” Hải hoảng hồn…hết hung hãn! Hảo: ” Ha…ha…hì…hì Hải Hủi…hấp hối…! Huệ hò Huế hay huyền hoặc hôm Holiday, hội họp. Hạnh hân hoan hỏi Huệ: “How…hè Houston..? Hẹn hò hay hứa hôn…?” Huệ hoan hỉ: “Hôm hẹn hò, Huệ, Hoàng hái hoa hồng, hưởng hoàng hôn Houston huy hoàng. Hoàng: “Hân hạnh…hân hạnh…!” Huệ hơi hoảng hốt…Hoàng hào hoa, háo hức… hôn Huệ!…Huệ hiểu Him hơn hết. He hiểu Huệ hoàn hảo. He hiền hòa, hôn Huệ hoài…hôn hoài. Huệ hắt hơi, húng hắng ho. Hoàng hối hả, hà hơi… hôn Huệ, Huệ hết ho, hả hê, hú hí. Hè Houston hồng hồng, Hoàng hugs Huệ, hái hoa hồng hỏi Huệ hứa hôn. Huệ hold Him, háo hức, Huệ… hò Huế. Huệ happy. Hallelujah !

    4. TIỂU TRUYỆN TOÀN TÊ: TÌNH THU THỦY
    Tôi tên Trần Toàn. Thuở thiếu thời trú tại Thừa Thiên, thường tụ tập tụi trẻ trong thôn tập tuồng. Trưởng thành thời Tổng Thống Thiệu, tôi thích thể thao, thuộc tuyển tập Trần Thiện Thanh, thích Thái Thanh, Thanh Thúy, Thanh Tuyền. Trở thành trai thời thượng, tôi thường tới trang trại tại Thủ Thiêm tìm Thu Thủy, tay trong tay thủ thỉ, thì thầm, tình tứ, trân trọng, thiết tha. Tôi thương Thu Thủy, thư từ thề thốt, Thu Thuỷ thương tôi thiệt tình, tấm tình trong trắng, thanh tao. Thu Thuỷ tuổi Thìn, tôi tuổi Tuất, theo thầy tướng tuổi Thìn tuổi Tuất tác thành thật tuyệt! Tập thành tạo thao tác tại thao trường, tôi theo tướng Thái tận tụy từng trận tảo thanh, tham trận thắng Tết Thân thần thoại, thăng tiến, tháp tùng tỉnh trưởng thanh tra tỉnh Thừa Thiên. Tình thắm thiết, tràn trề, tôi tặng Thu Thuỷ tập thơ Thanh Tâm Tuyền, Thu Thuỷ thổn thức thương tôi, tặng tôi Trái Tim Thiên Thần, thoáng trong tiếng thở, từng tiếng “thương Toàn”, “thương Toàn” tưởng thấu tới Trời trong tiết Thu thanh tịnh. Thời thế tráo trở, tháng Tư … tang thương! Tôi tập trung tại trại Tân Trào tỉnh Thanh, thất thểu từ tỉnh Thanh tới tỉnh Thái, tỉnh Tuyên, tối tăm, thê thảm tới Tám Tám (1988). Tình Thu Thuỷ tan tác. Từng tháng, từng tháng trôi trong thương tiếc, tuổi trẻ tàn tạ trong tù. Tôi thao thức, trằn trọc, thui thủi, thẫn thờ, tìm từng tiếng thân thương trong tiềm thức, tưởng tượng Thu Thuỷ thỏ thẻ tâm tình thời trước Tết Thân. Thỉnh thoảng tôi thảng thốt, thều thào, tâm thần tức tưởi, toan tính trốn tù. Tuần tiếp theo, trưởng tại tập trung tám trăm tù, tra tấn tư tưởng. Trại trên thông tin tới trại tôi: tên Trật Tự Trại thủ tiêu tù trốn trại. Tôi trấn tĩnh, tinh thần tỉnh táo, thôi thì từ từ tính toán… Trước Tết Tám Tám(1988), tôi thoát tù, tới Texas. Trời thương! Tôi tưởng thân tan từ Tết trước. Tuy tiều tụy, thiếu thốn, tám tháng trời tại Texas, tôi tập thể thao, tập tạ, trở thành tươi trẻ toàn thân, tay to, tóc tốt. Thoát thân tù tội, tra tấn tư tưởng, tôi thấy từ tên thiếu tá trưởng trại tù tới tên trật tự trại thật tầm thường, ti tiện! Trước tiên, tôi tức tốc truy tìm tin tức Thu Thuỷ, trầm tĩnh tìm tòi trên tờ Tuần Tin Tức, từng trang, từng thứ, từ tin thể thao tới tin thị trường thiêu thụ. Tìm thên trong tờ Time, thấy tin thật thương tâm: tám tên tài tử túng tiền, tự tử tại Toronto tối thứ tư tuần trước.Tin tổng thống tính tăng thuế, tin tụi tống tiền tiểu thương trốn thoát, tẩu tán trốn trong Town…Từ từ, tằn tiện, tích tiền, tôi thuê thám tử thạo tiếng Tầu, tiếng Thái, tiếng Tây, truy tìm Thu Thuỷ từ Texas tới Toronto, từ Taiwan tới Tây Tạng. Tâm trí thẫn thờ, thấp thỏm, tin tức Thu Thuỷ tiêu tăm, thành thử tối trông trăng tôi thao thức, trăng tàn tôi thở than. Tình Thu Thuỷ tha thiết trong tim tôi tựa Truyện Tình Thiên Thai thuở trước. Thôi thì tạm thời thôi tiếc thương, tôi take train theo Tour từ Texas tới Tahoe, tới Tampa, tới Tennesse, thật thích thú! Tôi tiếp tục travel từ Toronto tới Tokyo, tới Turkey, tới tận Tahiti …! Tám tháng trời thấm thoắt …! Thăm thầy Thông tại Tampa(thầy thắng Tèo trường tôi thuở trước), thầy tiếp tôi trong tư thất, tường trắng toát. Thưởng thức trà Tầu thơm, thầy Thông thôi thúc tôi theo thầy thảo tập Thơ Tình Tuyệt Tác. Tôi thưa: thơ thì tôi trao Thu Thuỷ, tình thì tan tác, tim trống trải, tứ thơ thất tán! Thôi thì tôi thử tìm tòi từng tiếng, tạo thành “truyện tếu toàn Tê”. Thầy Thông tán thành, tôi thấy thanh thản trong tim. Thầy Thông thật tử tế! Trước Tết Tân Tỵ, tôi thong thả, tìm từng tiểu tiết trong trí. Từ thuở tám tuổi, tại trường thằng Tèo thao thao truyện Thảo Tóc Tiên, tôi tưởng tượng, thêm thắt thành Truyện Tình thực tại.

    5. TÌNH THẢO TÓC TIÊN – TƯ THẸO TẠI TEXAS.
    Trời tháng Tám, tiết Thu, thoảng từ tiệm Tầu tiếng tiêu thánh thót, trữ tình, Thảo Tóc Tiên thẹn thò, thủ thỉ: _ Thảo thiệt tình thương Tư! _ Thiệt thế? Tư thân Thảo từ thuở thiếu thời, Tư thương Thảo thành thực! Tư Thẹo tỏ tình, thì thầm tha thiết, Thảo Tóc Tiên tức thời thút thít: _ Thảo tức thiệt, thằng Tí Thộn theo Thảo, thấy Thảo thương Tư, trêu tức Thảo, to tiếng: “Thảo tóc thưa, tai teo, trán thẹo, tò te tí te!” Thảo thưa thầy Tám Thuốc Tễ (thằng Tí thường theo thầy tán thuốc), thì thầy Tám tủm tỉm, trơ trẽn, tức thiệt, tức thiệt! _ Thiệt thế, Thảo? Tư trợn trừng. Tư Thẹo trước theo thằng Trâu Trắng tập thiền Tây Tạng tám tháng, từng tấp tểnh trở thành thám tử tìm tầu Titanic. Thấy Thảo Tóc Tiên thút thít, Tư tất tưởi, tóc tua tủa, tức tốc tìm tới thầy trò Tám Thuốc Tễ, Tí Thộn. Thảo tòn ten theo Tư. _ Tiểu tử Tí Thộn thật ti tiện, Tư Thẹo thét to. _ Tao ti tiện? Tí Thộn thét theo,” Tư Thẹo tí tởn tán Thảo Tóc Tiên tai teo, trán thẹo, tò te, tò te!” _ “Thầy Tám Thuốc Tễ trơ trẽn trắng trợn, tiếng Thảo the thé, thằng Tí Thộn tồi tàn, trêu tao thì tao…” Thảo toan túm tóc thằng Tí thì tuột tay. Tư Thẹo tung tay tống trúng trán thầy Tám. Thầy Tám thụp thật thấp theo thế Tề Thiên thỉnh Tam Tạng, tẩu thoát. _ Trời! thằng tục tử tham tàn, tao thề tặng tí tiết! Tí Thộn tiến tới, thuận tay thụi tới tấp Thảo Tóc Tiên, từ tai tới tim. Thảo té, te tua, tức thở, túi tiền tung toé, trông thực thảm thương! Tí Thộn , tay thọc túi thách thức… Tư Thẹo tọa thân theo thế Tào Tháo Tế Thần, tay trái thọc Tí Thộn. Tí Thộn tài tình tránh thoát. Tư Thẹo thẳng thừng tống tiếp, Tí Thộn teo tởn tưởng tiêu, trườn thân tạo thành thế Thám Tử Trèo Tường, thét to ”Tao tẩu!” Thảo Tóc Tiên thích thú, thều thào: “Tư…ư …thư…ơng!” Tư Thẹo, Thảo Tóc Tiên, tay trong tay, tình tứ, từ từ, thong thả, thất thểu tìm tới tiệm…thuốc Tây! Tí thộn thua trận, tới thầy Tám Thuốc Tễ than thở : _ Thưa thầy, tôi thua thằng Tư Thẹo trận trước tại tôi tương tư Thảo Tóc Tiên, tâm thần thảng thốt. Thầy thật tử tế, thí tôi tí tiền, tôi tập tạ, tháng tới tôi trả thù, thách thằng Tư Thẹo thi tài. Thầy Tám từ từ, thủng thẳng: _ Thế thì tốt …! Tao tức thằng Tư Thẹo tống tao trúng trán, tao toan tống trả thì tao thôi. Tao té te tua, tưởng theo tổ tiên tức thời. Tán thành tiểu tử tập tạ, tao tặng tám trăm. Tập tốt thì thắng, thua thì tao …thiến! Tao tìm thuốc trợ tim, tháng tới tao trợ thủ. Thầy Tám tán thuốc tễ, trộn tam tinh, thịt trăn, tương, trứng, tôm, tỏi, thêm tiêu, trà Thanh Tâm, thành thứ thuốc …thất tộc! Tí Thộn thoạt trông tim tím thưởng tiết trâu. Thầy Tám tán thêm: “Toa thuốc Trợ Tim từ thời thầy Tham Tán toà Thượng Thẩm từng theo Tôn Thọ Tường truyền tới tao. Thuốc trợ tim thứ thiệt! Thừa tướng triều Thành Thái thử thuốc, thấy tim tốt, tâm trạng thảnh thơi, tâu Thái Tử, Thái Tử tâu Thánh Thượng, Thánh Thượng thăng thầy Tham Tán thành Thượng Thư! Tiếp tục tìm tiền, Tí Thộn tới thăm Thỏ Thơm, tán tỉnh. Thỏ Thơm tuổi Tý, tha từ trại tập trung trẻ theo Tầu tiêu thụ thuốc Tây, thích thằng Tí trẻ trung, trắng trẻo, tuy…thộn! Thỏ Thơm thấy Tí Thộn thao thao thì tố thêm: _ Tí thân thương …! Thằng Tư Thẹo thắng tám thiên, tiền thưởng trận tháng trước, tậu Toyota tung tẩy. Thỏ thấy Thảo Tóc Tiên tí ta tí tởn theo Tư Thẹo tới tiệm thuốc Tây, tay thoa trán Tư Thẹo, tay thọc túi thằng Tư tìm tiền trả tiệm thuốc, trông thật tục tĩu. Thỏ toan thét to :”thật tởm!”, thấy thằng Tư trợn tròn thì Thỏ thôi, tức thiệt! Tí Thộn tiếp: _ Tháng tới Tí trả thù thằng Tư Thẹo tục tằn! Thầy Tám trợ thủ Tí tất thắng. Thỏ thương, Tí tập tạ từ tuần trước, thiếu tiền. Thỏ thương Tí thì …thảy tạm tí tiền, Tí thề trả thù tháng tới! Thỏ Thơm tặng Tí Thộn tám trăm.

    6. TRẬN TRANH TÀI TẠI TRẠI TRÂU, TEXAS.
    Trời thanh thanh, tiếng trống tùng tùng. Ta, Tây, Tầu, từng tốp, từng tốp tới Trại Trâu từ trưa. Trọng tài tề tựu từ trước, trông thật trang trọng. Tụi thằng Tom thiếu ticket, tức tối tiểu tiện tứ tung! Thầy Tám Thuốc Tễ thổi trumpet thôi thúc trận trả thù. Thầy thao thức tập thổi trumpet từ tuần trước. Thỏ Thơm tháo túi thuốc Trợ Tim từ tay thầy Tám, tiến tới thì thào: “Tí… thư…ơng, thoa thuốc…! Thuốc thum thủm. Thỏ Thơm thoa từ trên trán, thoa tai, thoa tóc, thoa tay Tí Thộn. Toyota Tư Thẹo từ từ tiến tới Trại Trâu trong tư thế thắng trận, Thảo Tóc Tiên thấp thỏm, trông trắng toát. Thầy Tám Thuốc Tễ tỉnh táo tiến tới trung tâm Trại, thổi trumpet tám tiếng toe toe…Toàn thể theo thứ tự, tạo thành từng tốp thẳng tắp. Tư Thẹo thoạt trông Tí Thộn tay tím, tóc tai thum thủm thì tởn tận tim. Thầy Tám thổi tiếp …tu…tu, tới tiếng “tu” thứ tư thì Tí Thộn theo thế Thăng Thiên, tống thẳng từ trên tới Tư Thẹo. Tư Thẹo tránh thoát, thận trọng từng tí: “thằng tiểu tử tận tâm trả thù!” Thỏ Thơm thét: “Tiến tới…tiến tới.. .Tí thương!” Thảo Tóc Tiên tiếp theo: “Thận trọng…thận trọng…Tư thương!” Tiếng trumpet thầy Tám Thuốc Tễ từ tu…tu thành toét…toét thì Tí Thộn, thuận tay trái, tống tới tấp Tư Thẹo. Tuy Tư thụp thật thấp theo thế Tiểu Tăng Thoát Tục, Tí Thộn tống thêm thùm thụp, trúng từng trái. Tư Thẹo té, tả tơi! Thầy Tám Thuốc Tễ thổi tiếp…té…té, Tư Thẹo thều thào: ”Tha tớ…thiệt tình tớ …thua!” Tí Thộn thét to: _ Thua thì tao tịch thu Toyota, trả tiền thì tao trả, thiếu tiền thì…thôi! Thỏ Thơm thích thú, thét: “Ta thắng …ta thắng!” Thầy Tám thôi thổi trumpet, tủm tỉm: “Thuốc Trợ Tim thầy Tham Tám Toà Thượng Thẩm thật tuyệt!” Thỏ Thơm thả tóc thướt tha, theo Tí Thộn, thầy Tám Thuốc Tễ tới tịch thu Toyota Tư Thẹo. Thầy Tám thong thả từng tiếng: _ Ta thắng trận, toàn thể theo tao tới tiệm Tầu Tân Tiến tiệc tùng thỏa thích, thưởng thức trứng tôm tráng tương, trà tầu Tam Tỉnh, tiền tao trả…! Tư thẹo tái tê, thều thào: “Ta thà tự tử, tiếng tăm ta tiêu tan, thân ta tơi tả…Trời!” Thảo Tóc Tiên thương Tư thua trận, thút thít: _ Tư …thương! Từ từ tính toán, trận tới trả thù…Tư tới thầy Thông Thái tìm thuật triệt thuốc Trợ Tim thầy Tám Thuốc Tễ thì ta thắng. Thất thểu, tủi thân, tiếc Toyota, Tư Thẹo theo Thảo Tóc Tiên tạ từ Trại Trâu trong tiếng tiêu thánh thót, thảm thê, thoảng từ tiệm Tầu trước Trại… Tờ Tin Tức tường thuật: Thầy Tám Thuốc Tễ trợ thủ Tí Thộn trả thù Tư Thẹo. Tí Thộn thoăn thoắt tựa Tề Thiên, Tư Thẹo tuy to, thua trông thấy. Tiếng Thỏ Thơm the thé, tiếng trumpet thầy Tám toe toe, tiếng trống thôi thúc tài tình, Tí thắng trận. Tí Thộn tịch thu Toyota Tư Thẹo, Tư tiếc Toyota toan tự tử. Tờ Thời Thế thuật tiếp: Tin từ Trại Trâu, Texas. Thầy Tám tức Tám Thuốc Tễ tìm tòi tạo thành thuốc Trợ Tim từ thuốc Tễ, trộn thêm tỏi, tôm, thịt, tương, tam tinh, trà Tầu thành thứ thuốc thần thông, trợ thủ Tí thắng Tư trong tích tắc. Toa thuốc truyền từ triều Thành Thái tới tay thầy Tám, truyền tụng từ Texas tới Toronto, tới tận Toà Thánh. Tờ Tennesse Time thông tin: Trận tới, Tư Thẹo tìm thầy Thông Thái triệt thuốc Trợ Tim thầy Tám Thuốc Tễ, thách thức Tí Thộn tranh tài tại Toronto Tower, tháng Tám, Trung Thu. Tiền thưởng tám triệu tính theo tiền Tầu. Tuy thị trường tiêu thụ thụt từng tháng, từng tuần, Trump tính tài trợ thêm trăm triệu tính theo tiền Thái. Tổng Tống Tiệp, Thủ Tướng Togo trù tính tới Toronto. Thị trưởng Torocto, theo tin thất thiệt, thương thuyết tăng tiền ticket. Tin tức truyền trực tiếp trên Tivi, từ tầng thứ tám Toronto Tower. Tickets …tìm tại tiệm ta, tiêm Tầu, tiệm thuốc Tây, tiệm tóc, tại Toronto, tại Texas.

    7. VIẾT VĂN
    Vân vô vàn vất vả, vừa vun vườn, vừa việc vặt vãnh…Vân vào ven vách, vạch vali, vớ vuông vải viền vàng vắt vòng vai, vơ vẩn… vạch…vạch…vẽ vòng vèo, vo viên… Võ vẽ viết văn, Vân viết vào ‘Vở Việt Văn’…viết về việc Vạn vụng về vần vò vợ, vì vậy Vân vương vấn Vũ Văn Vinh, viết về Valentine, Vermont và Virginia Vân Vinh vi vu, vui vẻ vacations. Vân vất vuông vải viền vàng vào vali, vò võ, vẩn vơ…Vạn vừa về, vội vàng, vờ vồn vã với vợ. Vạn vồ vập vuốt ve Vân, vuốt vai, vuốt vế, vạch vú, vọc váy vợ…vòi vĩnh! Vân vùng vằng: “Vớ vẩn…!” Vạn vẫn vân vê, vẹo vú, vớt vát, van vỉ… Vân vươn vai, vênh váo: ” Vất va vất vưởng , vờ vĩnh, vòng vo, vung vít, vụng về… Vợ vất vả vẫn vần vợ…võ vàng!” Vạn vặn vẹo: “Võ vàng!…võ vàng với Vinh ? ..Vinh ve vãn, Valentine vui vẻ… vacations, vắng vẻ, vấn vương..?” Vân vội vớ ‘Vở Việt Văn’ vừa viết vất vào vách, vạch vali vơ vài vuông vải, vờ vịt vắt vẻo vá víu… Vạn vít vai Vân, vừa véo vai, véo vế, véo vú, vừa vụt Vân vèo vèo. Vạn vất vài vật vướng víu va vào vách vỡ vụn, vương vãi vung vít, vừa vụt vừa văng…”Võ vàng…võ vàng…!”. Vân vùng vẫy, vịn vào vách, vấp vuông vải, vật vã, vàng vọt, vật vờ, vì vậy…vội vàng vô Viện. Vinh vạm vỡ, vác Volvo vòng Virginia vùn vụt về với Vân, vào Viện, vẫy vẫy Vân, vỗ vai, vỗ về Vân, vương vương vời vợi…! Vạn vung vẩy, vênh váo vào Viện, vồ Vinh, vồ vào vai, vừa vụt Vinh vừa vụt Vân vút… vút…very violent! Vinh vật Vạn, véo vành vai, vằn vài vết. Vân vén váy, vỗ vỗ, văng vào Vạn: ” Vạn vẩu…! vượn Vẹm..!, vớ vẩn, vo ve, vô vị, vụn vặt, vật vứt vào vại…!” Vạn vất vưởng về ‘vòm’, vật vờ, vô vọng, vơ vét vòng vàng vù về Vancouver. Vân Vinh vọn vẹn vui vầy, ví với vầng vân vũ vằng vặc. Vân vịn vai Vinh vui vẻ vào Vương Viện vái…vái… Vạn vật vô vi !

    Câu chuyện bằng chữ ” C “ Cậu Cẩn con của cụ Chánh, cháu của cô Cúc, cháu của chú Chiến. Cậu Cẩn có con chó cỡ con chồn, cẳng con chó cao cở cẳng con cò, cổ cũn cởn cở cổ con cóc. Cổ con chó cậu cột cái chuông. Cậu cưng con chó cùng cực, con chó cũng cưng cậu. Cứ chiều chiều cậu cõng con chó, cầm chiếc cần câu chăm chỉ câu cá chép cạnh chân cầu cuối cồn cát. Cậu chăm chú canh chừng cước cần câu, chốc chốc cậu cất cao cần câu coi. Con cá chép cắc cớ cắn câu, cậu Cẩn cất cao cần câu, cậu cười. Chốc chốc cả con cá chuối cũng cắn câu. Cậu Cẩn cầm con cá chuối chặt cổ, chìa cho con chó cưng của cậu. Con chó của cậu cắn cổ con cá chuối co cẳng chạy. Cậu Cẩn cất cần câu, cùng các cậu choai choai chơi cờ cạnh cổng chợ. Chơi cờ chán chê, cậu cõng con chó. cầm con cá chép cậu chuồn. Cậu Cẩn cho con chó của cậu chui chuồng, cậu cầm con cá chép cậu cạo, cậu chặt, cậu cho chảo cậu chiên. Cá chín, cậu Cẩn cùng cụ Chánh chén cá chép chiên chấm cà cuống cùng chuối chát. Con chó cưng của cậu Cẩn cứ chập chờn cửa chuồng chở chực. Cuối cùng cậu Cẩn cho con chó chén cơm chiên cùng chút cá chép. Con chó cạp chén cơm chui chuồng. Cụ Chánh côi cút, cụ cũng có con chim chích choè cùng cái chuồng chim cáo cạnh, cụ cưng con chim của cụ. Cứ chốc chốc cụ cầm cái chổi chà chống chân, cụ chầm chậm chộp các chú chuồn chuồn chập chờn cạnh cây cam cho con chim của cụ chén. Có chiều, cậu Cẩn cùng các chú choai choai câu cá, câu cua chỗ cống của cậu Cử. Cậu=2 0cột con chó cưng của cậu cạnh cửa. Con chó của cậu Cẩn cà chớn cứ chực cắn con chim của cụ Chánh. Cụ Chánh cầm cây chổi chọc con chó, con chó co cẳng chạy. Cụ Chánh cảnh cáo cậu Cẩn, cậu chỉ cười cậu còn cãi cối. Cũng có chiều cậu Cẩn cần công cán chỗ công cộng. Cậu cũng cột con chó của cậu cạnh cửa chuồng. Cụ Chánh cùng cụ Chẩn chơi cờ. Cụ Chẩn cũng có con chó choai choai, cụ chẳng coi chừng, cụ cột con chó cạnh chỗ con chim của cụ Chánh. Con chó của cụ Chẩn cùng con chó của cậu Cẩn cắc cớ chỉ chờ chực cắn chim của cụ Chánh. Cụ Chánh cầm cây cố cản, con chó cứ cào cấu, cứ cằn cằn. Chợt con chó của cậu Cẩn chồm cẳng cao cắn cái chuồng chim của cụ Chánh. Con chim chích choè chạy cuống cuồng cầu cu cụ Chánh. Con chó của cụ Chẩn cắn cụt cánh, con chó của cậu Cẩn chặn cửa cắn chân, cắn cổ con chim. Chim của cụ Chánh cụt cẳng, cụt cánh, cuối cùng chết cứng, chỉ còn cái chân còn cục cựa. Cụ Chánh cay cú cầm cây cối chục cân cất cao choảng con chó. Con chó của cụ Chẩn cà cuống co cẳng chạy. Cái cối cán cẳng con chó của cậu Cẩn cái “cộp“ chát chúa, con chó cố chạy – cụ Chánh cầm cây cuốc cuốc cổ con chó. Con chó của cậu Cẩn chùn chân. Cuối cùng cụ Chánh chém con chó chết cứng. Cụ Chánh cùng cụ Chẩn cắt cổ con chó, các cụ cầm chép các cụ cạo, các cụ chất con chó cạo vào chỗ có củi cháy. Cẳng con chó cong cong, các cụ chờ con chó chín các cụ chặt, các cụ cưa. Cụ Chánh cất cho cậu Cẩn cái cẳng, cái cổ. Còn cả con chó các cụ cho chảo các cụ chiên. Con chó chết các cụ có cớ chè chén. Chó chiên, chả chìa, củ chuối. Chốc chốc các cụ cùng chạm cốc, các cụ cười. Cậu Cẩn chăm chú coi chân, coi cổ con chó. Cậu Cẩn cấu cụ Chánh: “Chó chết!”

    sggdpost.com
     
  2. thiên chương

    thiên chương Công Dân

    Hương vị tiếng nước tôi

    lê lành

    Thức ăn được dọn lên tươm tất, rõ là ngon. Nhựa mận hôi hổi bốc khói, chả nướng nựng mùi nghệ , thịt hấp trần mỡ màng, món tái trộn thính vàng thơm , dồi qua hai lửa hấp rồi nướng không còn xỉn màu tiết đọng… rau ghém tươi non bắt mắt. Ngồi vào bàn, thày lập nghiêm nét mặt rạng trí thức, nhưng vẫn nhỏ nhẹ giọng sư phạm từ tốn rằng đến nay, đừng nói nhác thấy, chỉ cần thoáng nghĩ thôi là đã rờn rợn… muốn ói. Lão bà Brigitte Bardot minh tinh màn bạc tài sắc một thời mà biết, hẳn nổi cơn thịnh nộ tam bành, nhân danh những người bảo vệ động vật toàn thế giới nghiệm trị, chứ không bỡn.

    Thày ơi, cái khốn khó thời ấy bó cái khôn, làm mụ mị đầu óc, chẳng còn nhớ ra được "cờ tây - cầy tơ" chỉ là địa dương - dê đất thôi mà , chứ đặc sản gì đâu. Có là quốc túy thì với Lỗ Trí Thâm bên Tàu, trong thực đơn ngự trù của nàng Dae Jang Geum xứ Đại Hàn. Năm trăm năm trước, Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm minh triết: "Lận thế treo dê mang bán chó. Lập danh cưỡi hạc lại treo tiền".

    Cuối cùng, đành phải đưa thày vào nhà bếp thấy tận mắt mà yên tâm thưởng thức để thừa nhận đúng là "cái tang dê cái mới đẻ lứa đầu, thả rông nơi bán sơn địa, lại không được ăn vào mùa chúng động hớn… " như chúng tôi láu lỉnh liến láu bịa chuyện trong lần đầu đãi thày "mộc tồn" đại kỵ - tabou với người phương Tây, cả với đại đa số người Việt ngày răm mùng một đi lễ chùa .

    Theo sách Lĩnh Nam Chích Quái, từ thời Hồng Bàng, dê là một trong hai đồ lễ không thể thiếu trong cưới xin: "Rượu nồng dê béo". Thời tiền Hán trước Công Nguyên, người phương Bắc tuyệt đối bị cấm đoán đưa dê cái xuống phương Nam, nhất là địa phận tộc Lạc Việt để nơi đây không sao phát triển đàn dê sứ giả - bouc émissaire biểu trưng sự sinh sản phồn thịnh. Thuở ấy, chỉ các thiên tử mới được quyền đi xe dê vào hậu cung ban mưa móc.

    Hương vị thịt dê được thày tấm tắc khen ngon ấy đâu tự thân nó có được. Phải đúng điệu văn hóa ẩm thực ta là thui bằng rơm nếp, tẩy rượu với gừng, chứ không đang tay dùng cành lá quất tơi bời làm dê be be váng trời, vã đầm đìa mồ hôi cho hết mùi hôi. Trước khi nấu nướng, phải ướp một chặp rượu sủi tăm Ân Thi, Hưng Yên - cùng cất bằng gạo, nhưng "quốc lủi" ta không quá nặng nồng nặc như Mao Đài quốc tửu Trung Hoa chuyên dành đãi thượng khách, cũng chẳng nhàn nhạt ngai ngái như rượu Sa Kê ngang danh tiếng núi Phú Sĩ tứ thời chỏm tuyết Nhật Bản. Rồi lại bóp mẻ chua, mắm tôm ngấu, nêm đủ riềng, nghệ, sả. Khi ăn, lại phải kèm rau ngổ, rau húng, lá mơ tam thể tăng hương vị. Nhờ cái tang đỗ xanh đồ bở tơi nhưng cấm vỡ hạt cùng đậu phọng rang giòn giã giập giập nhồi cùng rau răm vò nát, dồi dê mới ra được cái vị bùi mà chúng tôi phải ra sức uốn ba tấc lưỡi diễn giải vòng vo, dài dòng: "Vừa ngầy ngậy, dẻo quánh lại đậm đà - légèrement gras et agréable au gout: Chữ của thày". Cái vị bùi dồi dê làm thày "bùi miệng" ăn tì tì, "bùi tai" nghe sướng con nhĩ những lời bình có cánh không dứt, từ vị bùi có một không hai của dồi dê đến hương vị đặc sắc tiếng ta và "bùi ngùi" ôn cố cái bận mắc cỡ quá trời "đãi cày tơ rành rành mà lại dối thày là dê bảy món".

    Thày thừa nhận trong tiếng mẹ đẻ cùng các tiếng trong cộng đồng Châu Âu không thể có một từ ngữ nào chỉ đúng vị bùi, bởi trong ẩm thực phong phú thơm ngon của cả lục địa lâu đời phát triển này làm chi có được cái vị bùi độc nhất vô nhị ấy. Cũng phải, ngay chữ Hán ngàn năm cũng chẳng có nữa là - Khổ tận, cam (ngọt) lai " là hết, còn ca dao ta dạt dào: "Hết đắng cay đến ngọt bùi. " Hương vị tiếng ta là dzậy !

    Thày lâng lâng hãnh diện đồng hương Alexandre de Rhodes thông minh vô chừng , chỉ nhờ một bé bản xứ mươi mười hai tuổi dạy truyền khẩu chóng vánh mà thông thạo ngay được tiếng Việt để rồi La Tinh hóa thành công tiếng ta thành chữ quốc ngữ văn minh, khoa học, tiện dụng . Năm 1651, cuốn từ điển Việt-Bồ-La Tinh đầu tiên của ông ra lò ở nhà in riêng của tòa thánh Vatican giữa thành La mã trung tâm văn hóa thế giới. Thành tựu đó đâu chỉ bằng một chủ quan tài năng xuất chúng cùng nỗ lực tận cùng tạo nên công cụ dễ bề truyền bá kinh bổn của ông cố đạo quê xứ Avignon miền Nam nước Pháp này. Cơ bản là tiếng ta sẵn có những tiền đề cần và đủ để hiệu dụng chữ La tinh làm ký tự. Phong phú, đa dạng lắm, tiếng ta dễ đến 15.000 âm, với 12 nguyên âm và 17 phụ âm, kể cả "bán nguyên âm bán phụ âm y grec" mượn từ chữ Hy Lạp nữa đấy. Nhất là sáu thanh điệu tuyệt vời. Dễ dàng La Tinh hóa mà hầu như không một ly vướng mắc cái nạn khốn khổ từ đồng âm dị nghĩa. Tiếng Nhật nghèo ngữ âm, khoảng chừng năm trăm âm đổ lại. Riêng một âm "koo" có đến 400 chữ Hán đồng tự khác nghĩa, đến các bậc đại trí giả nhiều khi còn phải tra cứu từ điển mỏi tay nữa là. Một âm "shoo" có 300 chữ Hán tượng hình lỉnh kỉnh đủ các bộ kèm theo khó thuộc. Thành thử tài giỏi đến mấy, cố gắng đến đâu vẫn cứ là bất thành La Tinh hóa chữ Nhật là dzậy. Tiếng Tàu nhiều âm hơn đấy, khốn nỗi cũng chẳng La Tinh hóa đặng. Trên đất nước đông dân nhất thế gian này có tới tám thứ tiếng chính thống: Bắc Kinh, Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến.., không kể hàng trăm thứ tiếng các dân tộc ít người khác. Người vùng nào nói, chỉ người cùng địa phương đó mới hiểu, nên đành phải dùng chữ tượng hình cổ lỗ từ thời Bành Tổ để giao tiếp bút đàm chớ biết làm sao.

    Một hương vị độc đáo tiếng ta là thanh điệu. Hai thanh "sắc" và "huyền" lên bổng xuống trầm rõ nặng, nhẹ khác nhau. Còn "hỏi" và "ngã" lại như sóng nối nhau - chẻ làm tư, thành hai chu kỳ dao động trầm bổng liên tiếp không đứt đoạn. Tiếng ta giàu nhạc tính là thế, thành ca dao là vậy, sinh ra lối hát nói dân gian, rồi nâng lên hàn lâm ca trù như một lẽ đương nhiên. Bà Quách Thị Hồ thành danh ca nương đâu chỉ bằng một giọng hát vàng thiên phú và chuyên cần luyện thanh mà cái chính là không ngừng trau dồi để tinh thông tiếng Việt, làm nổi lên đủ cung bậc cảm xúc các áng thơ có tới bảy, tám phần từ ngữ Hán - Việt uyên thâm, các điển tích bí ẩn lịch sử, văn hóa thuở trước.

    Thày ghen với chúng tôi giỏi giang, lịch duyệt nhờ có hai cái lưỡi - hai ngôn ngữ (deux langues) - song ngữ (bilingue) . Giá cũng làu làu được tiếng Việt, âu thày cũng hạnh phúc như chúng tôi thấm đậm hai văn hóa Đông - Tây.

    Tiến Sĩ Ivo Vasiljev hào hứng tự hào trường phái ngôn ngữ học Praha thủ đô Tiệp nước ông phát hiện với cả thế giới rằng ca dao ta là một hiện tượng ngôn ngữ độc đáo: Vừa là ngôn ngữ vừa là văn hóa - bằng ngôn ngữ đặc thù phác ra nét văn hóa nổi trội. Ca dao được hình dung như một cổ thụ sum suê, xanh tươi, đầy nhựa sống: Cây đa - làng nào đồng bằng sông Hồng mà chả có, gắn bó thân thương với con người từ tấm bé đến khi lớn khôn trải đời . Lục bát - một thể thơ sáng tạo riêng của tiếng ta, là "rễ đa" tua tủa quấn quýt lấy cái thân lực lưỡng "cây đa" ca dao chất chứa nhựa sống văn hóa .

    Ca và dao đều là bài hát. Chỉ có điều "dao" là bài hát ngắn, không cần giai điệu, chỉ bằng tiết tấu thể hiện văn hóa Việt Nam ta: "Thuận vợ thuận chồng. Tát biển đông cũng cạn!" mãnh liệt chống lại sự áp đặt của lề thói lễ giáo Khổng-Mạnh "phu xướng phụ tùy" buộc người vợ răm rắp cúc cung phục tùng để mãi mãi sáng lối sống thuận hòa con người Việt: "Râu tôm nấu với ruột bầu. Chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon. "

    Còn "ca" là bài hát dài, có giai điệu, thể hiện thành chương, khúc lời tỏ tình kin đáo, chân chất đến mộc mạc, nhưng lại tinh tế, sâu sắc, lai láng, bóng bẩy: "Đêm qua tát nước đầu đình. Bỏ quên cái áo trên ngành hoa sen. Em được cho chúng anh xin. Hay là em để làm tin trong nhà. Áo anh sứt chỉ đường tà. Vợ anh chưa có mẹ già chưa khâu". Văn hóa ấy là yêu không trăng hoa mà phải đến bến kết thành vợ thành chồng, bằng một hôn lễ đúng phép tắc , đủ tập tục: "Giúp em một thúng xôi vò. Một con lợn béo một vò rượu tăm. Giúp em đôi chiếu em nằm. Đôi chăn em đắp đôi chằm em đeo.Giúp em quan tám tiền cheo. Quan năm tiền cưới lại đèo buồng cau‘ Nên chi vẫn cứ hoan hỉ, nếu ngay lần đầu sanh con gái "Ruộng sâu trấu nái không bằng con gái đầu lòng", mặc cho các "chánh nhân quân tử" chổng mông hò văn hóa Trung Hoa: "Thập nữ viết vô - Sanh mười con gái cũng là không con".

    Có thế nhà ngôn ngữ hoc cấu trúc Cao Xuân Hạo mới cho rằng phải dạy con trẻ học thuộc lòng ca dao, ngay khi chúng cắp sách đến trường. Ca dao chứa những áng văn đẹp nhất, hay nhất, bổ ích nhất, chứa đựng linh hồn tiếng Việt giản dị nhất, hàm súc nhất: "Có cha có mẹ vẫn hơn. Không cha không mẹ như đờn không dây. Mẹ cha như nước như mây. Làm con phải ở cho tày lòng con".

    Luận bàn hương vị thịt dê , thày trân trọng ngay chữ "hương vị". Về hình vị, đúng là một từ ngữ- một từ ngữ đa âm. Mỗi âm lại chỉ một cảm giác khác nhau, từ các giác quan khác nhau. Hương (parfum) là khứu giác, còn vị (gout) lại từ lưỡi. Từ vật thể đồ ăn thức uống, theo tính biểu trưng tiếng Việt, "hương vị" khai quát hóa thành biểu cảm phi vật thể; hương vị quê hương, hương vị tổ quốc , hương vị tết nhất, hương vị cuộc đời…hương vị tiếng nước tôi.

    Chim Việt Cành Nam.
     
    p324530 likes this.
  3. thiên chương

    thiên chương Công Dân

    CÂU ĐỐI VỀ CHỮ HIẾU - PHẠM ĐỨC NHÌ
    ( HNPD ) Hôm nọ lên Austin thăm một anh bạn tù. Gia đình nề nếp, gia giáo, con cháu đối với ông bà, cha mẹ và với khách rất mực kính trọng, lễ phép. Ở một chỗ khá trang trọng trên tường có đôi câu đối:

    [​IMG]
    Hôm nọ lên Austin thăm một anh bạn tù. Gia đình nề nếp, gia giáo, con cháu đối với ông bà, cha mẹ và với khách rất mực kính trọng, lễ phép. Ở một chỗ khá trang trọng trên tường có đôi câu đối:

    Vế 1: Nước biển mênh mông không đong đầy tình mẹ.

    Vế 2: Mây trời lồng lộng không phủ kín công cha.

    Ý nghĩa của câu đối hiện ra ngay trước mắt: tình mẹ công cha thật vô cùng to lớn, không sao đo lường được.

    Về nhà chép lại chuyển cho một người bạn già vẫn còn mẹ để trước là, chia sẻ mấy câu văn hay, sau nữa gọi là “nhắc nhở nhau” về lòng hiếu thảo với cha mẹ. Email gởi xong thì khoảng 20 phút sau đã thấy chuông reng. Ra mở cửa thì ông bạn già đã đứng sờ sờ trước mặt. Chưa kịp bắt tay chào hỏi hắn đã vào đề ngay:

    • Ai gởi cho ông câu đối đó vậy?
    Tôi kể cho hắn nghe xuất xứ của câu đối. Nghe xong hắn bảo tôi:

    • Ông gọi lên Austin coi có phải anh bạn tù của ông viết ra câu đối đó hay ai tặng anh ta?
    Tôi gọi điện thoại cho anh bạn tù thì được trả lời:

    • Người ta khắc lên tre, lên gỗ bán ở cửa hàng Mỹ Nghệ, thấy hay hay thì mình mua về treo chơi.
    Đến lượt tôi hỏi anh bạn:

    • Câu đối có gì rắc rối đâu mà sao điều tra kỹ vậy cha?

    • Từ từ để tôi phân tích cho ông nghe nhé. Vế 2 thì thật rõ ràng: mây trời lồng lộng (rất lớn, rất rộng) cũng không thể phủ kín công cha. “Công Cha” ở đây được hình tượng hóa thành một vật có kích thước, diện tích rất lớn, mây trời to rộng cỡ nào cũng không thể phủ kín được.

      Điểm mà tôi thấy lấn cấn, khúc mắc nằm ở vế 1: nước biển mênh mông (nhiều lắm) mà cũng không thể đong đầy tình mẹ. “Tình Mẹ” ở đây cũng được hình tượng hóa thành một cái hố có sức chứa rất lớn, nhưng cái hố rất lớn, rất sâu, trên miệng cắm một tấm bảng vĩ đại “Tình Mẹ” đó lại “trống rỗng” đến độ nước biển mênh mông cũng không thể đổ đầy. Nói thẳng ra thì theo vế 1 của câu đối “Tình Mẹ” chỉ là cái hố trống rỗng, không chứa đựng cái gì trong đó hết.
    Tới đây hắn ngước mắt hỏi tôi:

    • “Ông thấy chưa?”

    • “Thấy rồi”, tôi trả lời

    • “Thấy cái gì?”

    • “Thì thấy là ở vế 1 “Tình Mẹ” chỉ là con “số không” to tướng, trong khi ở vế 2 “Công Cha” vô cùng rộng lớn. Câu đối trở nên mất cân bằng, không chỉnh.

    • Còn thấy gì nữa không?

    • Câu đối này mấy tay còn mẹ như ông đọc thì chắc là “tức cành hông” chứ gì!

    • Không tức mới là lạ! Nhưng trường hợp này có lẽ chẳng ai có ý chơi khăm ai đâu. Chắc là con cháu ông đồ nho nào đó kẹt tiền viết mấy câu đối để “kinh doanh” nhưng không lường hết được uy lực của chữ nghĩa. Mẹ kiếp! Làm mình tốn mấy Gallons (1) xăng.

    Chú thích:

    1/ Đơn vị đo dung tích tương đương với 3,7854 lít


    Tuần cuối tháng 5/ 2016

    Phạm Đức Nhì ( HNPD )
     
  4. thiên chương

    thiên chương Công Dân

    lái đối dán mặt bầy khỉ

    1/
    hỏi thằng dân:
    bao chục triệu lưng "cong khòng còn không"
    vốn "tự do to dữ" ??
    dán bản mặt:
    mấy ngàn vạn khỉ "độc tôn đôn tộc"
    loài "mãi quốc mất quai" !!

    2/
    "bạo ngược bước ngạo"
    đường ma quỷ chuyên "tạo bàn tàn bạo"
    "cấu đùi cúi đầu"

    nghiệp thảo dân còn "ê cổ ô kê"

    3/
    nầy, ất thiếu chi ất
    để "ất mùi ủi mất" nền công lý !
    hả, bính nào mới bính
    cho "bính thân bần thỉnh" cuộc trùng tu?

    4/
    "năm mới nới mầm"
    "văn chương vướng chăn"
    cần đạp rấp
    "tết nầy tày nết"
    "ý tứ ứ tí"
    cóc bàn suông

    5/
    the new and good ? yes
    the bad and old ? no


    (Vườn tượng - 27/01/2016)
    Trần Hạ Tháp
     
  5. thiên chương

    thiên chương Công Dân

    Kinh Thánh có "LỜI" rằng " Ở đâu tội lỗi đầy tràn, nơi đó ân sửng càng chan chứa". Nhiệm vụ của chúng ta là kín múc và thực dụng.


    Diễn thuyết của một giáo sư y khoa khiến toàn hội trường im phăng phắc.

    Bài diễn thuyết sâu sắc của một vị giáo sư đã phản ánh đúng thực trạng đáng báo động của y khoa hiện nay khiến cả hội trường với hơn 300 người nghe phải tĩnh lặng.

    Trong “Hội nghị quốc tế thường niên về quản lý khoa lâm sàng”, Giáo Sư Viên Chung, giám đốc nhà xuất bản Đại Học Y Khoa Dung Hợp đã phát biểu chủ đề diễn thuyết mang tên “Bác sĩ làm việc thích ứng với văn hóa”. Ngữ điệu của ông bình thường nhưng lại chỉ ra những sai lầm khắp nơi, rất nhiều ví dụ làm cho người ta phải suy nghĩ sâu sắc; hội trường với hơn 300 người nghe đều lặng ngắt như tờ. Rốt cục, Giáo Sư Viên Chung đã nói đến những điều gì?

    Dưới đây là toàn bộ bài diễn thuyết của ông:

    Một người tìm anh xem bệnh, họ đem hết những việc riêng tư của mình nói cho anh biết, cởi hết quần áo cho anh kiểm tra, đem hết những thống khổ kể cho anh, đem cả sinh mệnh mà giao cho anh, những người này (bác sĩ) chỉ đứng thứ hai sau Thần, chứ không còn là một người bình thường.

    Bởi vì có thương yêu mới có việc chữa bệnh và bệnh viện, nếu như sự yêu thương này mất đi thì không thể gọi là chữa bệnh mà nó trở thành giao dịch, một giao dịch sẽ không có sự tôn nghiêm.

    Khi đài Truyền Hình Trung Ương truyền bá những quảng cáo giả dối “Ngậm ăn đông trùng hạ thảo”, “Cuộc sống số một”…, thì chúng ta có thể nói trắng ra rằng toàn bộ các nhánh sông đều đã bị ô nhiễm, không có con cá nào có thể thoát khỏi bị ô nhiễm, phương pháp xử lý ô nhiễm chỉ có thể là xử lý từ thượng du.

    Thường xuyên có nhiều sinh viên hỏi tôi tính nhân văn của y khoa có chỗ lợi ích nào? Tôi muốn từ hai mặt mà nói, mặt thứ nhất là giá trị quan, mặt thứ hai là giá trị nhân văn. Giá trị quan là đạo, giá trị nhân văn là thuật.

    Sự tôn nghiêm bên trong giá trị quan

    Đầu tiên, tôi muốn nói một chút về “đạo”. Hiện nay đã đến cuối năm rồi, rất nhiều bệnh viện đều sẽ mở đại hội tổng kết trong tháng này. Tôi có nghe qua một chút khi viện trưởng bệnh viện bắt đầu đại hội, ông nói: “Một năm đã qua, trải qua nỗ lực không ngừng của toàn thể công nhân viên chức bệnh viện, bệnh nhân nằm ở viện chúng ta tăng 20%, bệnh nhân ở phòng khám bệnh của chúng ta tăng 30%, thu nhập của chúng ta tăng thêm 10%”.

    Thế đấy, những lời này có phải là có vấn đề gì không? Có thể các vị chủ nhiệm và các bác sĩ ngồi đây đều sẽ cảm thấy đây là một việc rất tự nhiên. Kỳ thực, tôi nói cho mọi người biết, những lời này không nên được nói ra từ một viện trưởng, mà phải là lời của nhà kinh doanh, viện trưởng chúng ta nên nói những điều gì? Điều chúng ta nên nói là: “Chúng ta đã chữa khỏi cho bao nhiêu người, chúng ta đã giúp được cho bao nhiêu người”.

    Chúng ta đã quên mất cái gì gọi là bệnh viện, chẳng phải giá trị quan đã gặp bất trắc. Cũng có bác sĩ nói cho tôi biết, bản thân anh ta làm bác sĩ là để kiếm tiền. Điều này vốn không sai, nhưng tôi muốn nói cho các vị rằng, nếu chỉ muốn kiếm tiền thì đừng bao giờ làm bác sĩ. Có nhiều công việc trong xã hội này so với nghề bác sĩ vẫn kiếm được rất nhiều tiền, buôn bán bất động sản, khai thác mỏ, tài chính, IT… Thế nhưng, chỉ có hai nghề vừa kiếm ra tiền vừa được sự tôn nghiêm, một là bác sĩ, hai là giáo viên. Ở Nhật Bản, chỉ có hai nghề có thể được gọi là “tiên sinh”, đó chính là hai nghề này, bác sĩ và giáo viên.

    Tôi có một người bạn, là trưởng phòng nghiên cứu khoa học bệnh viện Hiệp Hòa, Bắc Kinh, ông ta là người Tân Cương. Ông ấy từng kể cho tôi một chuyện, người Duy Ngô Nhĩ tin rằng con người khi chết đi có thể lên trời, nhưng không phải ai cũng có cơ hội lên trên đó mà phải trải qua thảo luận tập thể. Tham quan, công an xấu, trật tự đô thị xấu phải bị đọa xuống địa ngục; nhưng chỉ có hai nghề có thể lên trời mà chẳng cần bàn cãi nhiều, đó chính là nghề bác sĩ và giáo viên.

    Điều gì gọi là tôn nghiêm? Tôi cũng là một bác sĩ, tôi cũng có nhận thức về điều này. Một người tìm tôi xem bệnh, đem hết những tâm tư thầm kín kể cho tôi nghe, cởi hết quần áo cho tôi kiểm tra, đem hết những thống khổ nói cho tôi biết, giao cả sinh mệnh cho tôi, loại người này chỉ xếp sau Thần mà thôi, không phải người bình thường. Nếu như bác sĩ không xem thật kỹ bệnh mà chỉ xem túi tiền của người bệnh, người bệnh sẽ hận các vị đến chết.

    Cơ Đốc Giáo có hai điều rất quan trọng, một là quan niệm thần thánh, hai là tinh thần bác ái. Quan niệm thần thánh cho tôi biết bác sĩ là tập thể những người ưu tú. Hội trưởng Hiệp hội bác sĩ Trung Quốc là Trương Nhạn Linh từng nói với tôi, ông ấy đến Nhật Bản vào thập niên 90. Ở Nhật lúc đó có một người thường xuyên đến thăm hỏi các bác sĩ, điều này khiến tập thể bác sĩ Trung Quốc rất lấy làm lạ, “Chúng tôi không phải đoàn đại biểu chính trị, cũng không phải đoàn đại biểu kinh tế, cũng không phải đoàn đại biểu ngoại giao, chỉ là một nhóm bác sĩ”. Cuối cùng, người kia mới nói một câu “Tôi cả đời muốn làm bác sĩ, nhưng thi không đậu, thế nên tôi tôn kính bác sĩ”.

    Chủ tịch bệnh viện Hòa Mục Gia, Bắc Kinh, Lý Bích Tinh, là người Do Thái, bà từng nói với tôi vì sao người Do Thái nhiều người thành công, thông minh hơn những người khác. Kỳ thực là vì người Do Thái có quan niệm thần thánh. Người Do Thái tin rằng họ là con dân của Thượng Đế, cho nên họ so với người khác càng nỗ lực, càng chăm chỉ, cũng càng dễ thành công.

    Bác sĩ nếu có được quan niệm thần thánh, họ sẽ là những người ưu tú nhất, bất kể là ở phương diện nào, dù cho là thầy thuốc làng, họ cũng sẽ là những người ưu tú nhất nơi đó. Hai ngày trước, Đài Loan có một bác sĩ rất ưu tú là Kha Văn Triết, hiện đã thành thị trưởng thành phố Đài Bắc. Không chỉ là bác sĩ, ông còn là lãnh đạo, một bác sĩ giỏi không chỉ về kỹ thuật mà còn về nhân phẩm, nó giúp ông sự ủng hộ và tán thành của mọi người.

    Tuy nhiên, ai ai trong chúng ta cũng biết, mấy năm nay xã hội chúng ta phải đối mặt với rất nhiều vấn đề. Sinh viên y khoa Đại Học Phục, Thượng Hải, đầu độc chết chính bạn học cùng ký túc xá, cậu ta đã nói một câu “Tôi là ‘cái xác người trống rỗng’, không có giá trị quan”.

    Tôi không biết mọi người có từng nghĩ tới chưa, tại sao cậu ta là “cái xác người trống rỗng”? Suy nghĩ một chút mấy năm nay vẫn có một số sinh viên đại học giết người, như Mã Gia Tước, Dược Gia Hâm. Những năm nay chúng ta đã sáng tạo ra tài phú vật chất cực lớn, thế nhưng chúng ta đã sáng tạo được tài phú tinh thần chưa? Mọi người có thể để tay lên ngực tự hỏi lòng mình. Quốc gia chúng ta có rất nhiều mỹ đức truyền thống, lòng yêu nước, yêu quê hương, giảng hiếu tận, giảng cần kiệm, giảng lấy đức phục người, giảng thiên hạ công bằng, giảng tiết kiệm phục lễ, khắc kỉ phục lễ (lời của Khổng Tử: Ước chế tự thân khôi phục lễ nghĩa), giảng lễ nghĩa nhân trí tín, thế nhưng dường như hiện nay chẳng ai giảng về điều này nữa.

    Sự cứu rỗi của tinh thần nhân văn

    Thư Cục Trung Hoa vừa xuất bản hai cuốn tài liệu giảng dạy cơ sở văn hóa truyền thống Trung Hoa của Đài Loan. Các bạn Đài Loan của tôi đều cho tôi biết, họ từ nhỏ đều đọc “Luận Ngữ”, còn chúng ta thì làm gì? Bài học đạo đức phẩm cách tư tưởng của chúng ta ở tập thể là “bịt tai lại mà đi trộm chuông”. Có giáo sư Bắc Đại nói rằng chúng ta mấy năm nay đều bồi dưỡng rất nhiều “người tư tưởng ích kỷ một cách tinh xảo”, cái gì gọi là người tư tưởng ích kỷ một cách tinh xảo? “Tinh xảo” là thông minh, “tư lợi” là mọi thứ đều lấy tự ngã làm trung tâm.

    Chúng ta nên thật sự phản tỉnh lại, có một lần tôi và Sa Beining nói chuyện tại Vũ Hán, ông ta hỏi tôi “Ngành nghề chữa bệnh như thế nào?”. Tôi liền đáp lại: “Trước hết đừng nói ngành nghề chữa bệnh như thế nào, khi Đài Truyền Hình Trung Ương truyền bá những quảng cáo giả dối như “Ngậm ăn đông trùng hạ thảo” “Life No.1”…, đã nói rõ toàn thể dòng sông đã bị ô nhiễm, không có con cá nào thoát khỏi ô nhiễm, cách xử lý ô nhiễm là xử lý từ thượng du. Tổng bí thư trung ương Đảng là ông Tập, hiện đang xử lý thượng du, dòng sông có lẽ rất nhanh sạch sẽ”.

    Điều này kỳ thực là giá trị quan. Các vị đều là những chuyên gia lớn nắm giữ kỹ thuật tiên tiến các loại, có đầy người bản lĩnh có thể làm hai chuyện. Một là thấy việc nghĩa hăng hái làm, thấy việc bất bình ra tay tương trợ; hai là chặn đường cướp bóc. Làm tốt làm xấu, bản chất văn hóa trong nội tâm người ấy sẽ quyết định lựa chọn cuối cùng của mình.

    Có vị bác sĩ cho tôi biết, ông ta trong ngày đầu tiên đi làm ở khoa tiêu hóa, mỗi ngày ít nhất phải hoàn thành chỉ tiêu là chữa bệnh được cho 1 người. Thế nhưng hôm đó ông ta cả ngày 1 bệnh nhân cũng không có, mà giờ tan ca sắp đến. Khi ấy, một nông dân bị bệnh tim mạch vì bị đeo sai số nhầm khoa và tìm đến. Do đó, ông đã làm trái lương tâm mà xem bệnh và kê thuốc cho người nông dân này. Khi bệnh nhân lấy thuốc rồi quay lại hỏi, ông ta cảm thấy nội tâm thật sự áy náy. Ông ta bèn bảo người nông dân này hãy tới lấy số lần nữa để đi khám tim mạch, người nông dân đó đột nhiên khóc ròng nói: “Tôi đã dùng hết tiền rồi”. Vị bác sĩ này sau khi đã bộc bạch chuyện của mình với đồng nghiệp, thì cảm giác xấu hổ cứ vây lấy tâm can, từ đó rời bỏ bệnh viện, không làm bác sĩ nữa.

    Khi các viện trưởng, cán bộ cấp trên chế định chính sách, đừng bao giờ để bác sĩ chúng ta phải phải hi sinh sự lương thiện để đổi lấy quyền lợi chính đáng lúc đó. Vốn dĩ anh ta nên có tiền lương 1 vạn đồng nhưng chỉ phát cho anh ta 2.000, còn 8.000 đồng để anh ta tự mình kiếm lời; đây là hành vi gian ác.

    Cái gì là chữa bệnh? Chữa bệnh khởi nguyên là một tấm lòng đồng cảm, con người quý ở chỗ có tâm đồng cảm, lòng thương xót. Vì chứng kiến thấy người khác bị đau khổ, chịu khổ chịu nạn mà mình cũng cảm thấy thương xót mà giúp đỡ người ta, đây mới gọi là chữa bệnh. Cái gì là bệnh viện? Trong thời trung cổ, xã hội của Cơ Đốc giáo có rất nhiều người nghèo là ăn mày lang thang khắp nơi, không ai quản đến. Vì thế, họ đã bố trí một nơi để họ giảm bớt khổ cực, cuối cùng từ từ tạo thành bệnh viện. Bởi vì yêu thương mới có chữa bệnh và bệnh viện, nếu mất đi tinh thần này thì không thể gọi là bệnh viện, mà gọi là giao dịch, nó không có tôn nghiêm.

    Chúng ta cơ hồ đem bệnh viện trở thành một cái xí nghiệp, nhóm lãnh đạo của chúng ta cả đám mở hội họp, điều thích nhất nói đến là “Bệnh viện chúng ta 500 triệu, bệnh viện chúng ta 800 triệu, bệnh viện chúng ta 900 triệu, bệnh viện chúng ta 1,2 tỷ, bệnh viện chúng ta 2 tỷ”. Tại sao chủ nhiệm khoa phụ sản bệnh viện Hiệp Hòa, Lang Cảnh, và viện sĩ nói rằng nhân viên phòng y tế mỗi tuần phải đọc một cuốn sách ngoài chuyên môn, chính là vì để mở rộng mặt tri thức. Bác sĩ chúng ta nên học được cách giao tiếp với người, chúng ta không thể chỉ học mỗi cách giao tiếp với bệnh tật.

    “Có khi đi trị liệu, thường xuyên giúp đỡ, lại luôn là an ủi”, luôn là an ủi, thế nhưng chúng ta có năng lực an ủi không? Cái này hoàn toàn là nhân văn y học phải được bồi đắp. Chỗ khác biệt giữa bác sĩ Trung Quốc và bác sĩ Mỹ Quốc là ở chỗ nào? Bác sĩ Trung Quốc hiện nay kinh nghiệm lâm sàng vô cùng phong phú, chúng ta đã làm nhiều giải phẫu như thế. Thế nhưng so sánh bác sĩ Trung Quốc và Mỹ Quốc một chút, điều khác biệt ở chỗ “thương yêu”. Bác sĩ Mỹ Quốc làm bệnh nhân cảm nhận được tình yêu, bác sĩ Trung Quốc không làm được.

    Không đủ tin tưởng khoa học kỹ thuật, đây là một bộ phận rất quan trọng của văn hóa truyền thống dân tộc chúng ta. Toàn thế giới đại đa số dân tộc đều tin rằng con người chết rồi có thể luân hồi, có cuộc đời sau này. Thế nhưng dân tộc chúng ta muốn truy cầu trường sinh bất tử, thế nên chúng ta phát minh ra rất nhiều phương pháp trường sinh bất tử. Chúng ta tuyệt đối là một dân tộc không có sự chuẩn bị cho cái chết. Người Trung Quốc nào cũng có thể nhẫn chịu, mâu thuẫn gia đình, mâu thuẫn công việc, mâu thuẫn xã hội đều có thể nhẫn, thế nhưng khi đối mặt với cái chết thì không nhẫn chịu được. Chúng ta không có chuẩn bị, đối mặt với cái chết, phản ánh tâm lý đầu tiên là phẫn nộ và khiếp sợ. Do đó, văn hóa truyền thống của chúng ta quá cần tinh thần nhân văn y học.

    Tôi nói một vấn đề cuối cùng, cũng là vấn đề làm thế nào để trở thành một người bác sĩ tốt. Thứ nhất, tôi không muốn nói mọi người ai cũng phải đi học Lôi Phong, học Bạch Cầu Ân, tôi chỉ cần nói cho các vị chuyên gia và lão sư, các vị nhất định phải nghĩ đến khi mình già rồi thì cũng sẽ rơi vào trong tay một bác sĩ nào đó. Các vị trước hết làm một bác sĩ tốt, học trò của các vị mới có thể là bác sĩ tốt, đợi khi các vị già rồi, vị bác sĩ này sẽ chăm sóc các vị. Hiện nay các vị không làm được một bác sĩ tốt, đợi khi các vị già rồi, học trò của các vị sẽ chiếu theo phương pháp của các vị mà trừng phạt các vị. Chúng ta không thể khiến học trò học Lôi Phong khi chính mình đang học theo Hòa Thân.

    Thứ hai, vì con cái mà làm một người tốt. Rất nhiều việc, người Trung Quốc chỉ có vì con mới làm, vì con mới cải biến. Tôi từng giảng về vấn đề cai thuốc, tuy chúng ta học người nước ngoài trên hộp thuốc lá in hình đầu lâu và phổi đen, nhưng rất nhiều người căn bản sẽ không cai thuốc. Chúng ta dưới tình huống nào mới cai được? Chỉ có khi trên bao thuốc có viết “Hút thuốc sẽ khiến cho con của các bạn biến thành dị dạng”, tôi nghĩ người đọc câu đó nhất định sẽ cai.

    Thứ ba, con người cả đời này vì cái gì mà đến đây? Nếu như có cơ hội đi trong sa mạc Tân Cương để quan sát 1 lần, nếu như có một vũng nước, thì nhất định phải trồng cỏ, có cỏ mới có dê bò, có dê bò mới có người. Giá trị của cỏ là vì để cho dê bò sống tốt, giá trị của dê bò là để cho con người sống tốt, giá trị của con người là khiến cho những sinh vật khác sống tốt. Xã hội này vì có bạn mới có thêm 1 phần tốt đẹp, đừng vì có bạn mà lại thêm lại một phần thống khổ hoặc bất hảo.

    Theo sina.cn
    Mai Luong chuyển dịch
     
  6. thiên chương

    thiên chương Công Dân

    1984_pulp3.jpg
    MỞ ĐẦU

    George Orwell là một nhà văn thiên tài. Hầu hết người Việt biết đến ông nhân cách hóa súc vật thành người trong xã hội định hướng xã hội chủ nghĩa của Lê Nin, Mao và các tay sai như Hồ Chí Minh, Fidel Castro, Kim Nhật Thành trong Animal Farm - Trại Súc Vật - được xuất bản năm 1945. Nhưng không chỉ thế, ông còn đưa ra một cặp khái niệm về tư duy rất mới mà nhân loại trước ông chưa nghĩ ra: Doublethink - suy nghĩ nước đôi - và Thoughtcrime - suy nghĩ tội ác - trong tiểu thuyết 1984 - Nineteen Eighty-Four - của ông xuất bản năm 1948.

    Tiểu thuyết 1984 của ông mô tả một siêu quốc gia nằm trên Đại Tây Dương có lịch sử chiến tranh triền miên, bị một hệ thống chính trị áp đặt có cái tên là Xã Hội Chủ Nghĩa, dưới sự kiểm soát của một tầng lớp đặc quyền kiểm soát cả tư duy và hành động của dân chúng, Tầng lớp đặc quyền đó có một Ông Trùm Cha - Big Brother's Father - cầm đầu nhiều ông trùm Anh - Big Brother - được tập hợp lại trong một đảng độc quyền cai trị, tẩy não cộng đồng dưới cái tên chính đảng được gọi là Đảng Inner.

    Đảng Inner chỉ quan tâm đến quyền lợi của các đảng viên để ăn chia, mà không quan tâm đến quyền lợi các cá nhân ngoài đảng và đất nước. Bằng cách đó, Đảng Inner đã chi phối toàn bộ tư duy, niềm tin và hành vi của dân tộc bằng một chương trình tẩy não quốc gia.

    Với chương trình tẩy não quốc gia nhà cầm quyền biến dân thành đám đông những cá thể có tư duy nước đôi và hành động cũng nước đôi. Từ cộng đồng doublethink sẽ xuất hiện những nhóm người nổi tiếng có uy tín cộng đồng chịu làm sai nha cho Đảng Inner cho ra những thoughtcrime - suy nghĩ tội ác - để dẫn dắt đám đông và thiên hạ đại loạn trong suy nghĩ, một xã hội hỗn loạn tranh cãi quên đi hành động thiết thực sẽ giúp nhà cầm quyền độc tài được hưởng lợi.

    DOUBLETHINK - SUY NGHĨ NƯỚC ĐÔI

    Doublethink là gì? Là hành vi sự chấp nhận cả tư duy lẫn niềm tin trái ngược nhau là đúng từ một hậu quả của văn hóa tuyên truyền chính trị hoặc chế độ độc tài.

    Suy nghĩ nước đôi có liên quan đến, nhưng lại khác với đạo đức giả và thể hiện sự trung lập. Doublethink là sự bất hòa nhận thức, nơi mà niềm tin mâu thuẫn gây ra xung đột trong tâm trí của một người. Doublethink là do sự bất hòa nhận thức - do đó người đang bị doublethink chi phối họ hoàn toàn không biết về bất kỳ xung đột hay mâu thuẫn gì đang xảy ra từ tư duy đến niềm tin lẫn hành vi của họ.

    Trong một xã hội mà nền chính trị và văn hóa càng thói nát thì tình trang sử dụng doublthink càng diễn ra nhiều trong mỗi cá thể thành viên của xã hội. Họ sử dụng một cách tự nhiên, hồn nhiên như một văn hóa sống thường quy, nhưng nó lại là bất thường của một xã hội tự do dân chủ và minh bạch. Họ sử dụng doublethink một cách trái khuấy, nhưng họ mặc định đó là hiển nhiên và không hề biết mình sai trái, đúng hay sai.

    Tôi chứng kiến rất nhiều người Việt Nam cả trong và ngoài nước có suy nghĩ nước đôi. Gần đây xảy ra quá nhiều chuyện lớn trong xã hội Việt, một số showbize và chính khách đã thể hiện kiểu suy nghĩ nước đôi để sống sót trong xã hội Cộng Sản được yên thân.

    Tôi xin lấy 2 ví dụ đơn cử sau đây để chúng ta cùng bàn luận. Tôi xin nói rõ, tôi chỉ ví dụ cụ thể để mọi người dễ hiểu, chứ hoàn toàn tôi không có ý đã kích những người mà tôi lấy làm ví dụ cụ thể ở đây.

    VÍ DỤ CỤ THỂ

    Người thứ Nhất là MC. Phan Anh, khi anh ta thể hiện sự cương quyết bảo vệ lẽ phải trong clip 60 phút cá chết của cô MC Tạ Bích Loan và nhà báo, kiêm nhà thơ, kiêm Đại Tá An Ninh Hồng Thanh Quang dàn dựng. Nhưng sau đó, Phan Anh tỏ ra nhủn nhặn và vuốt ve 2 đối thủ đã công kích bôi nhọ mình trong clip ở cộng đồng Facebook. Đó là một cách nhượng bộ của Phan Anh để bảo toàn lực lượng và mưu cầu hạnh phúc của mình trong một xã hội mà luật pháp không có, và tham nhũng tràn lan không kiểm soát được do Cộng Sản gây ra.

    Sống trong suy nghĩ nước đôi người ta có những không hài lòng với chính quyền, bạn bè, người thân, người ta sẽ chọn lựa sự giả dối với nhau, bằng mặt mà không bằng lòng để thủ thế cho sự an nguy. Đồng sàng dị mộng!

    Người thứ Hai là chị Tôn Nữ Thị Ninh. Tôi đã từng làm việc cùng chị tại nhà riêng. Chị em tâm sự rất thân tình và cởi mở. Thực tình trong tôi, chị là một trí thức có tâm, nhưng bị cái suy nghĩ nước đôi nó làm chị phải sống hai mặt. Những gì chị thể hiện trên cộng đồng không phải là chị, mà là của người khác, nhằm bảo toàn cuộc sống an toàn cho chị. Nó như một con bài có 2 mặt, lá mặt và lá trái. Đó cũng là cách của một nhà ngoại giao vẫn thường phải sống.

    Nên tôi thông cảm cho chị Ninh về cái suy nghĩ nước đôi trong cuộc sống của chị, nhưng tôi không đồng ý chị đem cái suy nghĩ nước đôi kiểu không hướng thiện làm ảnh hưởng cộng đồng dân trí thấp, nhất là thế hệ trẻ ở nền giáo dục trong nước bị che mắt, bịt tai và đóng đinh và sọ não của đảng Cộng Sản Việt Nam.

    Sống trong thoughtcrime người ta trở thành kẻ thù của cộng đồng, luôn tấn công cộng đồng, đẩy cộng đồng vào chỗ sụp đổ cả văn hóa lẫn ngu muội.

    THOUGHTCRIME - SUY NGHĨ TỘI ÁC

    Nhưng khi doublethink lập đi lập lại thì cá nhân ấy sẽ từ lượng biến thành chất thoughtcrime - suy nghĩ tội ác.

    Từ doublethink chuyển sang thoughtcrime lúc nào MC Tạ Bích Loan và các nhà phản biện với MC Phan Anh không còn là phản biện mà là tội ác

    Thoughtcrime là một sự xuất hiện hoặc thể hiện của tư tưởng gây tranh cãi hoặc những tư tưởng mà xã hội không thể chấp nhận được. Đó là tư duy sai trái của những cá nhân có doublethink mà thành, những cá nhân này trung kiên với nhà cầm quyền độc tài. Thoughtcrime là hậu quả tẩy não của một nhà cầm quyền độc tài cố gắng kiểm soát cộng đồng dân chúng thông qua những nhà hoạt động xã hội có tiếng tăm và uy tín.

    Cái cách sử dụng Doublethink của Phan Anh nhân bản, vì chưa bị tẩy não thành Thoughtcrime làm hại cộng đồng. Cao hơn một bậc, doublethink của chị Tôn Nữ Thị Ninh, cô Tạ Bích Loan, nhà thơ Hồng Thanh Quang, tiến sĩ xã hội học hành vi Đặng Hoàng Giang và một số nhà xã hội học mới vừa ra trường trong 2 clip 60 phút mở là những doublethink đã được thuần hóa thành thoughtcrime. Tội ác!

    60 phút mở với chủ đề: "Người ta làm từ thiện vì ai" đã là một kiểu tư duy tội ác làm hỗn loạn xã hội

    KẾT

    Tôi viết bài này chỉ để mọi người cần xem lại mình đã bị vướng vào doublethink chưa, doublethink đã bị chuyển thành thoughtcrime chưa, để còn tự sửa mình theo hướng thiện, chứ đừng quá cuồng tín ai đó, hay vì chén cơm, địa vị etc mà đánh mất tính thiện của chính mình.

    Một xã hội muốn cường thịnh cần tư duy khoa học, độc lập, sáng tạo trong một nền chính trị có quyền con người được khai phóng với sự minh bạch và luật pháp công minh, chứ không phải cần những cái đầu bị tẩy não dẫn dắt cộng đồng bằng những tư duy nước đôi và tư duy tội ác chỉ đẩy quốc gia dân tộc xuống bùn nhơ như George Orwell đã viết từ 68 năm trước trong tiểu thuyết 1984.

    Một xã hội mà chỉ toàn những con người sống với nhau bằng doublethink là một xã hội giả dối. Một xã hội quá nhiều thoughtcrime là một xã hội băng hoại chờ ngày sụp đổ.

    Từ ngày dân ta có đảng Cộng Sản lãnh đạo với chiến chiến dịch tuyên truyền ngu dân, người dân đi từ doublethink chuyển thành thoughtcrime. Những thế hệ giả dối và độc ác ra đời. Để tẩy rửa những thế hệ nhơ bẩn trong trí não và hành vi này phải mất vài thế kỷ.
     
  7. thiên chương

    thiên chương Công Dân

    Chuyện thằng Nghĩa

    Cách đây 4 năm, 1 bạn trẻ tên Nghĩa đến chào tạm biệt Tony để về quê. Tony đào tạo nó từ lúc năm cuối ra trường, chửi mắng đánh đập xài xể đủ kiểu, cái nó trưởng thành. Bữa nay mới gặp lại nó. Nhìn chững chạc lắm.

    Nó sinh ra lớn lên ở một huyện xa xôi của tỉnh Ninh Thuận, rồi vô Sài Gòn học đại học . Nó nói làng con, nước sinh hoạt lẫn nước tưới khan hiếm, dân tìm cách bỏ làng ra đi. Học xong, nó làm ở thành phố đúng 2 năm, rồi trở về quê, ai cũng nói nó khùng, trừ Tony. Tony nói "con khùng mà khùng khôn, hẻm có xé quần xé áo, chỉ có xé hết mấy nếp nghĩ cũ kỹ, các rào cản xưa nay hạn chế khả năng của con thui".

    Nó bắt đầu khởi nghiệp từ việc lập một cửa hàng sơn xây dựng. Vì công ty cũ làm ngành sơn nên nó mua được giảm giá, bán trước trả sau. Nó nói con đi "tiếp thị " (chào hàng) ở các nhà mới xây dựng, rồi tuyển nhân viên hướng dẫn họ làm. Có tiền tích lũy, nó mở mấy cửa hàng. Rồi nó mua đất, lập vườn trồng nho, nha đam, nopal, thanh long ruột vàng, táo, cỏ, nuôi hàng ngàn con dê, con cừu, mua đi bán lại dê cừu của người dân, ai bỏ làng đi nó mua vườn lại hết. Nó làm luôn một cái xưởng chế biến kem ăn từ sữa dê. Nó từ chối tiết lộ thu nhập, nhưng khoe mới mua 2 cái nhà, một ở Phú Mỹ Hưng có 8 tỷ để cho thuê, cuối tuần nó có chỗ ghé, một cái ở Nha Trang, sát trường quốc tế Tân Gia Ba. Nó nói sau này có vợ con thì nó cho con học trường quốc tế, Nha Trang thì gần Ninh Thuận hơn, sau này "bà xã con muốn ở đâu thì ở".

    Nó nói thịt dê Ninh Thuận người ta chuộng, nuôi bán lãi gấp đôi gấp 3. Nhưng vấn đề là thiếu nước tưới, nó giải quyết được bài toán đó. Nó đọc trên mạng nước ngoài, ở khu vực khô cằn nhất Châu Phi, có 1 vùng nọ vô cùng trù phú, dù lượng mưa chỉ có 7 ngày trong năm, do một người dân ở đó đã phát minh ra hệ thống trữ nước và mọi người bắt chước theo. Nhà nhà xây dựng trên nền một cái hầm nước, đổ bê tông lên trên và cất nhà trên nền bê tông đó. Nước mưa từ máng xối được dẫn xuống hầm hết, lại làm mát ngôi nhà. Khi khan nước, bơm nước lên để sử dụng. Ngoài ra, hệ thống bồn chứa được thiết kế quanh. Nó bắt chước, về làm y chang vậy. Có nhiêu tiền là đầu tư vô các bồn chứa nước. Bồn để tưới cây thì lấy bồn tái chế, chỉ có 2-3 trăm ngàn 1 cái, bồn mới thì để chứa nước quanh nhà để sinh hoạt. Ninh Thuận có tới 3 tháng mùa mưa nên tha hồ trữ (các bạn xem hình nhé, bạn nào chịu khó lắp hệ thống này cung cấp vùng hạn mặn, chắc là bán được lắm. Nó trồng 1 vùng cây hoàn ngọc, đinh lăng, lược vàng cho dê ăn 2-3 lần trong tuần để không bị dịch bệnh).

    Nó thường xuyên cho lái xe chở đến phi trường Cam Ranh để đáp máy bay đi Sài Gòn và nước ngoài vào cuối tuần. 5 ngày lái máy cày, phơi cứt dê cứt bò làm phân, đầu tắt mặt tối cày cực như trâu bò, chứ cuối tuần diện đồ hiệu vô cũng đẹp trai như tài tử. Ngồi cà phê, ăn trưa ở khách sạn Intercontinental không, xài tiền rào rào như nước. Tony giàu có như vậy, nhìn nó xài mà còn ngộp thở (ý nói ngạt thở).

    Nó nói ở quê, nền kinh tế 1 huyện mấy chục ngàn dân chứ quanh quẩn nằm trong tay một nhóm "nhà giàu" thôi. Nhóm này ham làm ăn, làm chủ cây xăng, mở cửa hàng vật liệu xây dựng, mua đất khu đắc địa nhất, rồi mở quán cà phê lớn, nhà hàng lớn, xây khách sạn, mở đại lý xe máy ô tô, thu mua nông sản, cung cấp vật tư nông nghiệp, làm gara sửa chữa xe hơi.... Sáng sáng, họ lái xe hơi đến ăn chỗ ngon nhất rồi về, mặc áo công nhân vô quần quật làm, nhìn vô không biết ai chủ. Nhưng tối họ có một cuộc sống khác, đánh đàn, đọc sách, tập gym...chứ không ra vỉa hè ngồi uống bia đển hết tiền như công nhân xưởng của họ. Ở huyện của nó, đâu khoảng chục người vậy. Giàu càng ham làm, càng biết tính toán nên càng giàu thêm. Nó là người mới gia nhập 4 năm nay, mấy người kia hỏi sao biết "bí mật làm giàu" hay vậy?

    Người ta hỏi vậy vì duy chỉ có nó là chẳng có gốc gác thương nhân hay nhà giàu gì. Người giàu có, đặc biệt là người Hoa ở chợ, cha mẹ ông bà thường duy trì sự giàu sang cho gia tộc bằng cách bắt con cháu làm việc, quán xuyến công việc từ nhỏ. Còn ba mẹ nó làm nông dân rặt, ngày xưa cũng ép nó "ngồi vào bàn học" quá trời để đổi đời. Nhưng nó nghĩ khác, học vừa phải vì không có khả năng học hành nhiều, chỉ là đứa vui vẻ lanh lợi và văn minh, nên ra đời được nhiều quý nhân chỉ dạy. Bí quyết làm giàu của nó là "chịu lao động chân tay để RÈN KỸ NĂNG TỔ CHỨC TRIỂN KHAI", cái thiếu nhất của người trẻ bây giờ. Nhiều bạn trẻ có ý tưởng, đam mê, ý chí...nhưng triển khai không được, do quen được bao cấp từ cha mẹ, giải toán cũng phải có "bài hướng dẫn, bài mẫu" riết tư duy bị lối mòn, không thể tự mình nghĩ ra phải bắt đầu từ đâu khi đứng trước 1 vấn đề cuộc sống. Người làm ăn phải có đầu óc tính toán và quan sát, tích tiểu thành đại, chín xu đổi lấy một hào, nghĩ lớn. Dám làm những gì người ta chưa làm. Dám đến sống và làm việc ở những nơi có tiềm năng mà ít người cạnh tranh, các tập đoàn cũng khởi thuỷ từ những doanh nghiệp ở quê. Walmart cũng từ 1 cửa hàng thị trấn biến thành 1 hệ thống bán lẻ toàn cầu.

    Tony hỏi con có nhắn nhủ gì với các bạn trẻ hem, nó nói "con hẻm biết lý luận, hẻm biết chém gió hay đọc thông tin trên mạng xã hội, có Facebook nhưng chỉ coi cảnh đẹp, coi mấy chỗ nước ngoài đánh dấu để đi, mấy sáng kiến gì đó để coi có khả thi không thì áp dụng. Theo con, muốn thành công phải tự tin, đừng ngại nguồn gốc xuất thân, ai cũng thành đạt được nếu chịu làm việc bằng tay chân, bằng đầu óc của mình và tuyệt đối không dựa dẫm, xin xỏ ai".

    Và nó đã xây viên gạch đầu tiên của một tập đoàn 4 chữ, 2 chữ đầu là tên công ty, thường là tên của hai vợ chồng, hai chữ sau là tên tỉnh huyện. Công ty của nó có tên là Nghĩa Ninh Thuận, vì nó chưa có vợ. Nó nói khi có vợ, sẽ đổi giấy phép, đưa tên của vợ vô.

    Nó mà lấy con bé nào đó tên Trang thì vài bữa chúng ta sẽ có tập đoàn Nghĩa Trang Ninh Thuận trên sàn chứng khoán.

    Chúc Nghĩa Trang năm trăm hạnh phúc.
     
    YeuTrongNguoi and p324530 like this.
  8. p324530

    p324530 Quản Thủ Thư Viện Tình Nguyện Viên

    Không thấy hình ảnh??

    Và cũng mong anh chàng không lấy vợ tên Trang...
     
    Điều chỉnh mới nhất vào lúc: 12 tháng Sáu 2016
  9. thiên chương

    thiên chương Công Dân

    Hì hì, đại dốt về điện tán nên hông bít đem hình dzô:(:D:oops::rolleyes:
     
  10. thiên chương

    thiên chương Công Dân

    Sáng nay người đàn bà tôi phỏng vấn ở Quảng Bình gọi điện cho tôi hỏi: "Có tin gì mới chưa chú. Các chú phỏng vấn xong có viết bài gì không? Mà tôi trả lời phỏng vấn của chú thì liệu có làm sao không, có bị đi tù không chú? Bao giờ thì nhà nước công bố nguyên nhân hả chú. Cá chúng tôi đánh được giờ chỉ bán được chừng nửa giá. Con cái tôi thèm cá lắm mà không dám ăn chú ạ".

    Thấy vậy, tôi chủ động gọi cho người đàn ông khác đã trả lời phỏng vấn. Ông ấy bảo tình hình vẫn thế, từ đợt hỗ trợ duy nhất 7kg gạo và 50,000 VND thì chưa có gì mới. Khi hỏi có ai trong làng bị đói chưa. Ông bảo: "Chúng tôi không chết đói cũng sẽ chết vì độc chú ạ. Người Việt Nam mình ác độc lắm".

    "Thế là sao ạ?"

    "Trung Quốc nó giết cá nhưng người Việt Nam mình giết nhau. Cá đánh được về chính ngư dân không dám ăn, thương lái không dám ăn, chỉ mang đi nơi khác bán. Thế không phải là giết nhau là gì? Tôi cảm thấy thế giới này buồn quá".

    Điều này chính là điều tôi thấy đáng sợ nhất. Thương lái vẫn thu gom cá đánh được đều đều, họ chở đi đâu nếu không phải là đưa về những kho đông lạnh ở thành phố lớn, rồi sẽ được dùng làm nước mắm?

    Sự hèn nhát thường đi cùng với sự dối trá, dã man, vô nhân tính. Khi tầng lớp trí thức hèn nhát, nhất định ngậm miệng vì sợ hãi vu vơ, nhất định bênh vực chính quyền đến phút cuối cùng thì trách gì ngư dân, người buôn bán vô nhân đạo, chỉ làm sao để có lợi nhuận? Chỉ lo cho miếng ăn trước mắt của họ. Cả xã hội sẽ tìm cách ăn thịt lẫn nhau để sống. Tất cả đều xứng đáng với nhau phải không? Kêu ai, kêu sao nổi? Đều là phường mèo mả gà đồng cả mà. Cả dân tộc này cùng đưa nhau tới chỗ diệt vong. Chẳng phải bệnh nhân ung thư đang chật cứng ở các bệnh viện K rồi sao? Cứ im lặng mà đi vào cõi chết, trong lòng hoang vu không biết ngày mai con cháu ta sẽ sống thế nào.

    Sáng nay thấy Facebook lan truyền những bức ảnh chụp từ Quảng Thọ, Quảng Bình những đàn cá bé xíu như cá cơm, cá buôi, cá trích ve nhảy lên bờ. Hiện tượng này chỉ xảy ra với cá to, cá ngon ở Nhân Trạch, Quảng Bình khi mới xảy ra thảm họa. Thực ra thì tôi nghĩ không phải là cá cố tình nhảy lên bờ. Chẳng qua là cá bị nhiễm độc, sức yếu, cá cố ngoi lên mặt nước, bị sóng đánh dạt vào bờ khi còn sống.

    Hôm qua, một cậu tôi biết đã lâu cmt là "Anh lên tiếng nhiều thế thì đến giờ đã được gì rồi?". Cái giọng rõ ràng là khiêu khích chứ không phải là một câu hỏi chân thành. Trong lúc bực mình, tôi block luôn. Người trẻ, người thiếu hiểu biết thì tôi không chấp, đến kẻ có học mà ngu lâu đến vậy thì tôi không mất thời gian để đối thoại hay tranh luận, giải thích làm gì. Tôi không có nhu cầu nhìn thấy cái tên của cậu ta trong Facebook của tôi.

    Chính sự im lặng, nghĩ lên tiếng không làm gì mà chúng ta đang sở hữu một xã hội tởm lợm như hiện nay. Một xã hội khi con người tìm cách "ăn thịt người", con người chỉ chăm chăm lo cho cái dạ dày và cái sự "sống mòn" của mình.

    Khi lòng tin vào con người đã xuống đáy, không gì tồi tệ hơn. Hôm nọ trên Vietnamnet còn có bài cảnh cáo đậu phụ chứa nhiều chất gây ung thư. Vậy chúng ta biết ăn gì cho an toàn. Rồi đây, thứ gần gũi, cần thiết nhất đối với bữa cơm người Việt là giọt nước mắm cũng bị nghi ngờ nhiễm độc thì chúng ta biết ăn gì?

    Ảnh: Những lồng đánh mực phơi nắng ở Nhân Trạch, Quảng Bình. Đây là những lồng dùng cho thuyền câu mực nhỏ. Từ ngày xảy ra thảm hoạ thì không dùng đến vì mực ở gần bờ không còn.

    Xin đừng "like" làm gì, nếu thấy đúng thì share để mọi người cùng nhìn thấy vấn đề.
     
  11. thiên chương

    thiên chương Công Dân

    Chữ Việt xưa và nay.

    Việt Nam Cộng Hòa: Thể hiện, trình bày, trình diễn, biểu lộ, biểu diễn, khoe, phơi bày, phô trương, trưng bày, cho thấy, bày tỏ, diễn tả, v.v.
    Việt xã nghĩa: Thể hiện, thể hiện, thể hiện, thể hiện, thể hiện, thể hiện, thể hiện, thể hiện, thể hiện, thể hiện, thể hiện, thể hiện, thể hiện.

    Việt Nam Cộng Hòa: Buồn bã, buồn bực, bực dọc, đau khổ, lo lắng, bứt rứt, chơi vơi, bối rối, bùi ngùi, cấp bách, thôi thúc, ray rứt, khó chịu, tức tối, phản đối, băn khoăn, ấm ức, …
    Việt xã nghĩa: Bức xúc, bức xúc, bức xúc, bức xúc, bức xúc, bức xúc, bức xúc, bức xúc, bức xúc, bức xúc, bức xúc, bức xúc, bức xúc, bức xúc, bức xúc, bức xúc, bức xúc... xích

    Việt Nam Cộng Hòa: Nói, cho biết, trình bày, nhận định, nhận xét, tâm sự, lên tiếng, tiết lộ, thông báo, trần tình, phân trần, thuật lại, tường thuật, kể lại,…
    Việt xã nghĩa: Chia sẻ, sẻ chia, chia sẻ, sẻ chia, chia sẻ, sẻ chia, chia sẻ, sẻ chia, chia sẻ, sẻ chia, chia sẻ, sẻ chia, chia sẻ, sẻ chia, chia sẻ.

    Việt Nam Cộng Hòa: Khám phá, bắt quả tang, phanh phui, phát giác, tìm thấy, tìm ra, vỡ lẽ, bắt gặp, phát hiện,…
    Việt xã nghĩa: Phát hiện, phát hiện, phát hiện, phát hiện, phát hiện, phát hiện, phát hiện, phát hiện, phát hiện.

    Việt Nam Cộng Hòa: Tuyên bố, nói, lên tiếng, trình bày, phát biểu, phát ngôn, đọc tuyên ngôn, thuyết trình, trần thuyết,…
    Việt xã nghĩa: Phát biểu, phát biểu, phát biểu, phát biểu, phát biểu, phát biểu, phát biểu, phát biểu, phát biểu.

    Việt Nam Cộng Hòa: Kỳ thú, lý thú, thú vị, hào hứng, đáng xem, đáng nghe, đáng nói, thích thú, hấp dẫn, quyến rũ, thu hút, hay, lạ, vui, …
    Việt xã nghĩa: thú vị, thú vị, thú vị, thú vị, thú vị, thú vị, thú vị, thú vị, thú vị, thú vị, thú vị, thú vị, thú vị, thú vị

    Việt Nam Cộng Hòa: Cặp vợ chồng, đôi bạn, đôi trẻ, đôi tình nhân, cặp tình nhân, đôi gian phu dâm phụ, …
    Việt xã nghĩa: Cặp đôi, cặp đôi, cặp đôi, cặp đôi, cặp đôi, cặp đôi, cặp đôi… gian dâm?

    Thế mới biết tiếng Việt ngày nay "co cụm"
     
    yeuVNtudo and Lai Khê like this.
  12. thiên chương

    thiên chương Công Dân

    Thái Bá Tân

    CHỮ NHỤC.

    Hay tin, ông bỏ cả việc đang làm giở ở Sài Gòn, vội vàng bay ra Hà Nội.

    Vừa đặt va-li xuống nền nhà, ông cao giọng hỏi vợ:

    “Làm sao mà người ta trả lễ?”

    “Vì con ông làm công an.”

    “Công an thì sao mà trả lễ?”

    “Ông đi mà hỏi người ta ấy.”

    “Nhưng trước đồng ý, người ta đã biết nó là công an rồi cơ mà?”

    “Tôi biết đâu đấy. Sao ông cáu với tôi?”

    “Nhục!”

    *
    Con trai ông và con gái gia đình ông giáo phố bên học cùng nhau từ bé rồi yêu nhau và định lấy nhau. Cả hai đều ngoan, lại môn đăng hộ đối, tưởng chẳng còn gì nữa phải bàn. Thế mà khi nghe tin con ông vào Học viện công an, gia đình ông giáo có ý ngãng ra. May hai đứa yêu nhau thực sự nên cuối cùng cũng xuôi xuôi, và tuần trước họ đã đồng ý cho làm lễ dạm hỏi. Thế mà bây giờ... Trả thì trả, thành phố này thiếu gì con gái, ông nghĩ. Đành là thế, nhưng ông thấy bị nhục. Một gia đình như ông, với một thằng con hiền lành, tử tế như con ông mà bị trả lễ thì thật nhục. Hàng xóm sẽ khối anh được dịp đơm đặt.

    Tối đến, ông gọi riêng con trai ra một chỗ, hỏi chuyện.

    “Lý bảo bố mẹ cô ấy lần này làm căng, dứt khoát không chịu.” Anh con nói.

    “Vì sao?”

    Anh ta im một lúc mới đáp:

    “Vì có ai đó nhìn thấy con hôm công an dẹp vụ cưỡng chế đất ở Cống Bầu.”

    “Con ở đấy thật à?”

    “Vâng.”

    “Tưởng con lính văn phòng không phải làm những việc đó...”

    “Bây giờ cần là người ta điều hết.”

    “Thế con làm gì ở đấy?”

    Anh con ngước mắt nhìn bố, vẻ ngạc nhiên:

    “Làm những việc công an phải làm với bọn phản động. Bọn bị các thế lực thù địch kích động làm loạn ấy mà...”

    Đến lượt ông bố dướn mắt ngạc nhiên:

    “Con có đánh người ta không? Thậm chí nổ súng?”

    “Con thì không, vì chưa cần.”

    “Còn nếu cần?”

    Anh con không trả lời.

    “Hôm dẹp mấy vụ biểu tình chống Tàu con có tham gia không?

    “Có.”

    “Có đánh ai không?”

    “Không. Chỉ xô đẩy. Mà bố hỏi kỹ thế làm gì nhỉ? Đấy là việc của con. Nhiệm vụ của chúng con là bảo vệ đảng, bảo vệ đất nước, bảo vệ nhân dân.” Anh con thậm chí cao giọng, là việc xưa nay ông chưa từng thấy, vì nó vốn là đứa hiền và ngoan nhất nhà.

    Rồi anh ta nói thêm:

    “Trước bố đi bộ đội, cũng để bảo vệ đảng, bảo vệ đất nước và nhân dân như con bây giờ thôi. Việc bố xưa bố làm. Việc con nay con làm. Thế cả.”
    Ông thấy vương vướng trong cuống họng.

    “Không, khác hẳn. Xưa bố đánh giặc, đánh Mỹ. Nay chúng mày đánh nhân dân. Xưa nhà nước lấy đất người giàu chia cho Hợp tác xã. Giờ thì ngược lại, lấy đất người nghèo chia cho quan giầu”

    Ông định nói thế. Thậm chí định tát và mặt thằng con ngoan của mình, nhưng nghĩ thế nào, ông im lặng bỏ vào phòng mình.

    *
    Ông nằm ngửa, mắt nhìn trân trân lên trần nhà.

    Vậy là con ông đã thay đổi. Trong nhà với bố mẹ có thể nó vẫn như xưa, nhưng ra ngoài thì đã khác. Mà chỉ sau mấy năm học ở trường cảnh sát. Người ta đã dạy cho nó những gì nhỉ? Chắc các ông thầy ở đấy phải giỏi lắm mới thuyết phục được nó tin mấy ông bà nông dân chân đất mắt toét và mấy vị trí thức già yêu nước là phản động để xô đẩy và đánh họ. Hay đạp vào mặt họ. Hay thậm chí có thể bắn họ. Lúc nãy nó chẳng bảo “chưa cần” đấy thôi.

    Láo! Nhục!

    Hôm sau, ông nhẹ nhàng bảo vợ:

    “Thôi, bà ạ. Người ta đã muốn thế thì mình cũng im đi cho xong. Chắc họ phải có lý do của họ. Nhục cũng phải chịu chứ biết làm thế nào.”

    Bà vợ ông chỉ hiểu chữ “nhục’ theo nghĩa bẽ bàng với hàng xóm chứ không biết ông hàm ý cái nhục khác còn lớn hơn.
     
  13. thiên chương

    thiên chương Công Dân

    Ngậm nghe lời cá chết

    1.
    Chúng tôi còn trên thớt
    Nếu muốn(?)
    Mỗi sáng trên quê hương
    Khi các bạn gặp nhau
    Ánh mắt nghiễm-nhiên-ngầm-mặc-định:
    Hãy cứ-giả-vui-như-mọi-ngày

    2.
    Khi cá không nằm thớt
    Nổi biển!
    Sóng lùa tràn bãi cát
    Hãy ngậm nghe lời nói
    Đừng tưởng cá câm thật:
    Chúng tôi nói-gì-về-sống-chết?

    3.
    Trên thớt cá không còn
    Để trống!
    Có nghĩa đã đến phiên
    Cuộc-tàn-độc: "thân mời"
    Ai khác ngoài bạn tôi?
    "Chính-thức-các-con-người-lên-thớt"


    (thành nội Huế, 04/5/2016)
    Trần Hạ Tháp - Chim Việt Cành Nam
     
  14. thiên chương

    thiên chương Công Dân

    Tư tưởng sắc bén, chữ dùng tuyệt hảo.

    Vòng ma trận đỏ
    By Phạm Thị Hoài -

    September 20, 2016
    Nếu không có câu chuyện ngôn ngữ, suýt nữa tôi đã bỏ sót show diễn “Trịnh-Nguyễn phân tranh”. Một ông Trịnh Xuân Thanh nào đó ném thẻ Đảng – bảo bối vô giá của cuộc đời ông cho đến khi nó thành vô giá trị – vào mặt một ông Nguyễn Phú Trọng nào đó, người cai quản tối cao 4,5 triệu bảo bối như thế. Vụ so găng này được coi là chưa có tiền lệ. Giật gân như vậy thì trước hết nó là một quả bom giải trí trong thời đại sống để giải trí và chết vì giải trí của chúng ta. Từ nhiều năm nay, nguồn giải trí dồi dào nhất cho công chúng Việt Nam là hậu cung của giới quý tộc đỏ. Sau đó, nó hứa hẹn một sức công phá chính trị nhất định. Nhiều người cho rằng nó phơi bày những tử huyệt của hệ thống. Nhiều hơn nữa tin rằng nếu không làm thành lũy Ba Đình rung chuyển thì nó cũng là quân cờ domino đầu tiên kéo theo sinh mệnh chính trị của một số nhân vật ở thượng tầng quyền lực và sắp xếp lại bàn cờ quốc gia. Như thể những hứa hẹn của Quan Làm Báo hay Chân Dung Quyền Lực chưa đủ hão.

    Tôi chưa bao giờ mê chuyện đồng chí nào đeo đuổi đi đêm đâm đinh đấu đá đỡ đít đánh đĩ đạp đổ đồng chí nào. Họ nhiều quá và giống nhau quá, mà tính tôi thì chóng chán. Nếu họ lại đi xe Lexus nữa thì không còn gì chán hơn. Vì sao tôi phải chú ý đến ông Thanh-gì-nhỉ?


    Vì chuyện biển xanh biển trắng ư? Đủ lấy được ở tôi một cái ngáp ngắn. Tất nhiên là nó tởm lợm vàlời biện bạch của đương sự thì đáng buồn nôn ở cả hai khía cạnh: ngu dốt và trơ trẽn, song trong môi trường mà ông ta chỉ là một sản phẩm tất yếu, nơi đen trắng đổi kiếp xoành xoạch và hợp pháp thì trắng thành xanh rồi xanh lại thành trong trắng chẳng qua là áp dụng linh động sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về “cần kiệm liêm chính chí công vô tư”.

    Vì chuyện 3000 tỉ ở PVC ư? Hai cái ngáp ngắn: thua lỗ, thất thoát, sai phạm là tên cúng cơm của khối doanh nghiệp nhà nước trong giai đoạn xã hội đen tư bản đỏ. Hơn bốn năm trước, báo chí Việt Nam rộ lên vài ngày tin 18.000 tỉ sai phạm tài chính ở PVN, công ty mẹ của PVC, dưới thời ông Đinh La Thăng. Ừ, thì sao?

    Vì chuyện trốn thoát ra nước ngoài ư? Ngáp dài. Chuyện anh em nhà họ Dương hay hơn hẳn. Tôi thường ghé trang của Interpol thăm người Việt. Từ nhiều năm nay, chưa bao giờ Việt Nam không chiếm trọn suất cao nhất được hiển thị, thường xuyên là 160 nhân vật bị truy nã đỏ, cùng đẳng cấp với những quốc gia khổng lồ như Trung Quốc, Ấn Độ, Nga, Mỹ, Brazil, vài nước Đông Âu như Bạch Nga, Rumani, Ukraine và vài nước Nam Mỹ như Argentina, Honduras. Để so sánh: hiện Nhật truy nã 2, Thái Lan 0, Đài Loan 0, Lào 0, Campuchia 42, Đức 6, Nam Phi 53, Úc 3. Đào tẩu là chương trình cài sẵn trong cuộc đời của quan chức và đại gia Việt Nam ở thời tranh chấp giữa “mọi thứ đều được phép vì chẳng có gì là đúng” và “chẳng có gì được phép vì mọi thứ đều sai”. Lính cũ của ông Thanh, một cựu giám đốc cũng họ Trịnh, đã tháo chạy sang quốc gia cựu thù. Hơn 4 năm nay, nhân vật bị cáo buộc là từng chỉ đạo rút tiền công chi nửa tỉ mừng sinh nhật bố sếp Thanh này vẫn an toàn. Trên trang của Interpol, tên Trịnh Văn Thảo không và chưa bao giờ xuất hiện ở tất cả các thời điểm khác nhau từ giữa năm 2012 mà tôi ghé thăm.

    Vì chuyện công khai tố cáo vì bị oan sai gì đó ư? Hai cái ngáp dài. Dương Chí Dũng cũng kêu oan, cũng gửi đơn tố cáo. Đại án Nguyễn Đức Kiên: kêu oan. Đại án Huyền Như: kêu oan. Đại án Vifon: kêu oan. Đại án ALCII: kêu oan. Đại án VDB Đắk Nông: kêu oan. Đại án Agribank CN 6: kêu oan. Gần đây nhất, đại án Phạm Công Danh: kêu oan. Và “bố sếp Thanh”, qua ngòi bút biết bày tỏ cảm thông pha chút ái ngại với giới quyền lực của nhà báo kỳ cựu Xuân Ba, dường như cũng bắt đầu ngỏ lời kêu oan cho vụ nửa tỉ mừng sinh nhật vừa nhắc. Tiếng oan dậy đất Việt, chỉ có điều chúng ta không còn hoảng hốt ngẩn ngơ. Hệ thống ấy đẻ ra nền tư pháp ấy, và những quan oan ấy đều đã thủ lợi không tài nào tả xiết từ chính hệ thống ấy. Bồi dưỡng ông Trịnh-quan-oan thành hạt giống chống hệ thống, theo tôi, là chuyện nhảm nhí. Kẻ cắp cũng có quyền đòi công lý, song không thể là cái công lý mà kẻ cướp đang nhân danh. Ông Thanh vẫn lẫn lộn giữa pháp trị và đảng trị.

    Vì chuyện bổ nhiệm ư? Bây giờ thì tôi ngáp sái quai hàm. Vẫn quá nhạt so với Dương Chí Dũng hay thậm chí với Nguyễn Xuân Sơn, người thì chờ thi hành án tử, người thì triển vọng một án tù 30 nămđang đợi, cả hai đều được bổ nhiệm “đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục“, “đúng quy trình, quy định của pháp luật“, “chặt chẽ, công khai minh bạch, dân chủ“. Hay tốt nhất, hãy nhìn vào vòng chuyển động của ngôi sao Đinh La Thăng trên bầu trời chính trị Việt Nam: mỗi lần để lại một vùng đen, nó chỉ thêm phần sáng.

    Song nhờ chuyện bổ nhiệm này tôi mới biết một chi tiết tuy nhỏ nhưng thú vị về ngôn ngữ. Bà Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân cho biết “ông Thanh không nằm trong danh sách cán bộ luân chuyển“, còn đường từ Bộ Công Thương đến Hậu Giang của ông Thanh được lót bằng quyết địnhthuyên chuyển công tác. Luân chuyểnthuyên chuyển khác nhau thế nào?

    Phần lớn người Việt hiểu thuyên chuyển như chuyển, được dùng chủ yếu trong kết hợp thuyên chuyển công tác, cùng nghĩa với thuyên chuyển cán bộ từ công tác hay địa điểm A sang công tác hay địa điểm B. Thuyên chuyển không phải là một sự bổ nhiệm mang tính tuyển chọn tích cực. Nó chỉ mang tính trung lập hoặc thậm chí tiêu cực, người ta bị thuyên chuyển ngoài ý muốn. Song nếu được học (hay phải học?) chữ Hán – tức Hán tự cổ chứ không phải tiếng Trung hiện đại -, chúng ta sẽ khá bối rối: nghĩa của chữ thuyên (銓) trong thuyên chuyển (銓 轉) là tuyển chọn kẻ hiền bổ vào làm quan. Trong ngôn ngữ của bộ máy hành chính-chính trị hiện nay, thuyên chuyển đã đánh mất vai trò “chọn mặt gửi vàng” này, nhường nó cho một khái niệm khác đảm nhiệm: luân chuyển.

    Luật Cán bộ, Công chức (2008), chương 1, điều 7, mục 11, định nghĩa: “Luân chuyển là việc cán bộ, công chức lãnh đạo, quản lý được cử hoặc bổ nhiệm giữ một chức danh lãnh đạo, quản lý khác trong một thời hạn nhất định để tiếp tục được đào tạo, bồi dưỡng và rèn luyện theo yêu cầu nhiệm vụ.” VớiNghị quyết 11 của Bộ Chính trị năm 2002, luân chuyển cán bộ trở thành “một trong những kênh quan trọng để tạo nguồn cho cán bộ cấp chiến lược”. Nói cách khác, luân chuyển đi liền với quy hoạch, cơ cấu nhân sự lãnh đạo. Đến đây, sự khác biệt tinh tế giữa việc ông Thanh chỉ được thuyên chuyển chứ không được luân chuyển về Hậu Giang đã từ từ hiện ra trong mắt thịt của chúng ta, ông đã nằm ngoài quy hoạch, dù chúng ta vẫn không biết trước đó, từ PVC sang Bộ Công Thương ông đã được cơ cấuhay hư cấu (viết riêng cho các tín đồ thanh giáo Hán tự: chữ ở đây là một kết hợp 51% Việt và 49% Hán).

    Chữ luân (輪) trong luân chuyển (輪轉) là cái bánh xe, cái vòng tròn. Chính sách vòng tròn của Đảng sau 14 năm thực hiện đã cống hiến cho tiếng Việt một từ thú vị: chạy luân chuyển (chạy là một trong những động từ đặc trưng nhất cho sự tồn tại của người Việt) và tạo ra một ma trận chằng chịt những bài binh bố trận mù mịt, những mưu toan tiến thoái, những nhập nhằng đổi chác, những bước đệm và những cú chui háng, những cam kết trước khi trời sáng và những vụ thanh trừng nửa đêm, những chiếc ghế cần sang tên, những sự nghiệp cần tráng men và trước hết: những vết nhơ cần xóa, những bê bối cần hóa giải. Trong ngân hàng nhân sự của Đảng, các đồng chí nợ xấu sau vài vòng luân chuyển lại sạch sẽ như người cộng sản vừa bước ra từ giáo trình Mác-Lê. Hệ thống tự xây cho mình cung mê, để rốt cuộc không tìm ra cửa thoát. Luân chuyển thành luân vong, lại một chữ luân () định mệnh.

    Ông Trịnh-gì-nhỉ có thể lấy cảm hứng hậu duệ, rủ tất cả các quan Trịnh đang trốn nã ở nước ngoài (Đàng Ngoài) lập chính phủ lưu vong chống các quan Nguyễn đang ngồi lên pháp luật ở trong nước (Đàng Trong). Song cá nhân tôi tin rằng show Trịnh-Nguyễn đang diễn này chỉ đủ bi hài nhí nhố cho một vụ chém gió (chém cũng là một động từ đặc trưng) không đáng một ghi chú của lịch sử. Lịch sử đã dành một chương lớn cho nhà Tây Sơn, những lãnh tụ của dân, đứng ra dẹp cả Nguyễn lẫn Trịnh.

    18/9/2016

    trích từ Trẻ.
     
  15. thiên chương

    thiên chương Công Dân

    Bởi vì bên dưới hàng chữ, và đàng sau ý nghĩa nó ẩn tàng những nỗi truân chuyên nhục nhằn của dân Việt trong thiên đường xuống hố... Với niềm hy vọng, những gánh nặng rồi được cất đi, giọt nước mắt sẽ lau khô những khổ đau không tự mình ôm lấy hay nhẫn nhục chịu đựng. Hãy dồn sức lực ấy mà Bất- Tuân- Dân- Sự.

    Chân dung một cô gái Việt Nam

    [​IMG]

    Văn phòng nằm trên bờ con sông con Askerelva chảy qua trung tâm thủ đô Oslo. Qua cửa kính ra ban-công, Diễm nhìn những cây phong lá úa vàng soi bóng trên nước, tưởng tượng nếu đây là một căn phòng trong ký túc xá sinh viên, với người yêu bên cạnh, thì thơ mộng biết bao.

    Nhưng bây giờ trước mặt nàng là ông cảnh sát di trú và bên phải là một người con gái, cỡ tuổi Diễm. Cô xin tầm trú. Trước khi lên đây, một bà cảnh sát đã khám xét người và hành lý của cô. Bà muốn tìm biết cô gái thật sự là ai, tên tuổi thật là gì, nhà cửa thật ở đâu. Trong ba bốn năm gần đây, nẩy ra một hiện tượng mới là mỗi năm có vài chục người Việt Nam tới xin tầm trú tại Na-uy, không một người nào là... người thật. Báo chí Na-uy gọi họ là ingen person, tương đương với nobody, Diễm và các đồng nghiệp thông dịch viên dịch đùa từng chữ là ‘vô nhân’. Trong cái túi xách nhỏ, có hình hai bàn chân, bà cảnh sát chỉ moi ra được một cái quần tây, một áo thung, một xú-chiêng, hai xì líp, một típ kem đánh răng, một bàn chải. Chân dung thật của cô gái không nằm trong cái túi xách. Bây giờ Diễm dịch cho ông cảnh sát thẩm vấn.

    “Cô tên gì?” ông cảnh sát hỏi, sau khi bật máy PC.

    “Nguyễn Thị Vân.”

    “Ngày sanh?”

    “25.12.1988.”

    “Như vậy là cô sanh vào lễ Giáng Sinh và năm nay cô 16 tuổi?” ông cảnh sát chiếu ánh mắt nghi ngờ trên cô gái ngồi trước mặt. Diễm đoán người đồng hương này nếu không già bằng Chúa Cứu Thế thì ít nhất phải hai mươi lăm tuổi. Nàng biết theo luật lệ hiện hành, trẻ vị thành niên được nhiều đoàn thể can thiệp và bảo vệ, và nếu được chấp thuận tị nạn thì có thể kéo thêm cha mẹ, em út. Nhưng Diễm đoán lầm về vụ kéo thêm cha mẹ:

    “Tên cha?” ông cảnh sát hỏi tiếp.

    “Nói chung... Tôi không có cha.”

    “Tên mẹ?”

    “Tôi không có mẹ.”

    “Ít nhất cũng có một người sanh ra cô chớ?”

    “Tôi mồ côi từ nhỏ, không biết gì cả...”

    “Cô có giấy tờ gì không, như sổ thông hành, căn cước chẳng hạn?”

    “Không.”

    “Không có giấy thông hành, làm thế nào cô có thể đi ra khỏi Việt Nam, và qua bao nhiêu biên giới tới đây được?”

    “Không biết. Người ta đưa tôi đi.”

    “Người ta là ai?”

    “Nói chung nà người giắt đi đấy.”

    “Có khi nào họ đưa qua trạm kiểm soát biên giới không?”

    “Tôi không biết đâu là biên giới.”

    “Cô rời khỏi Việt Nam bao giờ?”

    “Không nhớ.”

    “Cô nói phỏng chừng cũng được,” ông vẫy vẫy những ngón tay như con chim bay “một năm, một tháng, hay một tuần?”

    “Khoảng một tháng.”

    “Cô nhớ đã đi qua một thành phố nào đặc biệt, ví dụ Paris, Berlin, Bắc Kinh?”

    “Không nhớ. Không biết.”

    Suốt hai tiếng đồng hồ với hàng trăm câu hỏi, người cảnh sát chỉ nhận được một câu trả lời rất ư thoải mái “không biết.” Chạm phải những lời nói dối quá xấc xược, ông đỏ gay mặt như người bị xúc phạm nặng, nhưng lấy lại bình tĩnh, gõ vào máy vài dữ kiện vu vơ. Thấy hồ sơ sơ sài quá, ông ta cố gắng nhắc lại lần thứ ba một câu hỏi:

    “Cô nói lại tôi nghe, cô từ Việt Nam tới Na-uy bằng phương tiện gì?”

    Cô gái chắc đã được học tập kỹ, dư biết rằng ông cảnh sát muốn truy ra hãng máy bay chuyên chở để qui trách nhiệm, nên quay sang thông dịch viên nói:

    “Chị lói với ló nà em đi bộ từ Cao Bằng sang Trung Quốc đấy, dzồi từ Trung Quốc đi bộ sang Nga, từ Nga sang đây bằng xe thùng đấy... Ðã lói mí ló dzồi mà cứ hỏi mãi thế!”

    Diễm dịch lại câu nói, bỏ câu ‘chị lói với ló’ đi - vì nàng biết nó ngắn ngủi thế mà không tài nào dịch hết ý được. Ông cảnh sát ghi vào hồ sơ lời khai, chẳng cần biết đoạn đường từ Cao Bằng sang Nga dài bao nhiêu dậm, đi bộ mấy năm. Rồi ngẩng đầu lên hỏi theo đúng thủ tục:
    “Cô muốn gì tại Na-uy?”

    “Xin tị lạn.”

    “Lý do tị nạn?”

    “Nói chung nà ở Việt Nam đói quá.”

    “Tại sao lại chọn Na-uy làm nơi tị nạn?”

    “Nói chung nà nghe người ta bảo ở La-uy sướng thì trả tiền cho đường giây đưa đi.”

    “Cô phải trả bao nhiêu tiền?”

    “Lăm ngàn đô.”

    “Số tiền này từ đâu cô có, nếu cô đói?”

    “Có cái ông gần nhà thấy tôi khổ thương hại cho tiền đi.”

    “Ông ấy tên gì?”

    “Không biết.”

    “Ðịa chỉ?”

    “Bên cạnh nhà tôi.”

    “Hồi nãy cô nói vô gia cư, từ nhỏ sống ở ngoài đường?”

    “Thì ở gần nhau ngoài đường.”

    Diễm nghĩ bụng nếu có một nơi mà người vô gia cư có nhiều tiền như thế và hảo tâm như thế nhất định nàng sẽ tới đó xin tị nạn. Nhưng ông ta khoanh tay, ngả lưng ra đằng sau như muốn thư dãn, rồi bấm nút ‘print’ vào máy PC. Bên ngoài ban-công một con bồ câu đáp xuống, thấy bóng nhiều người, lại bay đi.

    Ông cảnh sát đưa cô gái xuống phòng căn cước dưới tầng trệt để chụp hình, lăn tay, làm thẻ căn cước tạm. Diễm cũng là dân tị nạn - mệnh danh là‘thế hệ thứ hai.’ Thấy cảnh này, Diễm nhớ lại những câu chuyện gian truân, bi hài mà ‘thế hệ thứ nhất,’ cha mẹ nàng, kể về chuyến vượt biên hai mươi sáu năm về trước, lúc nàng chưa sanh ra. Nhiều người hỏi tại sao phải liều mạng như vậy? Cha mẹ có một câu trả lời khá đặc biệt, tương đối khiêm nhường hơn phần đông - khát khao tìm một mảnh đất có thể lương thiện mà sống. Ông bà đã tìm được một mảnh đất như thế và sanh ra Diễm trên mảnh đất như thế. Diễm thừa hưởng tấm lương thiện như suối nhận nước mạch từ đỉnh núi cao tinh tuyền. Diễm không biết nói dối - gần như. Nói ‘gần như’ là để trừ những lần như mẹ hỏi có bồ chưa nói chưa, bố hỏi mua cái cà-vạt cho bố bao nhiêu nói nửa giá, bạn trai hỏi em giận cái gì, nói không có gì cả...

    Ông cảnh sát cầm từng ngón tay của cô gái lăn trên tấm kính đục, khi hình dấu tay hiện rõ nét và đầy đủ trên màn ảnh máy vi tính, với tín hiệu ‘Ready’, ông nhấn bàn đạp. Diễm nhìn những ngón tay thon khá đẹp của cô gái, tự hỏi tại sao cô có thể nói dối một cách tự nhiên như thế. Và Diễm cảm thấy một nỗi chán nản xen lẫn hổ thẹn về người cùng màu da.

    Một chiều đầu mùa đông. Trận tuyết đầu tiên trong thành phố khiến đường xá hỗn loạn vì tai nạn xe cộ. Diễm rút trong cặp đi làm ra tờ báo cũ đọc lại, cho qua thời gian trôi rất nhanh mà xe buýt chạy rất chậm, và bụng bắt đầu đoi đói. Tin có nghi vấn ông Arafat chết vì bị đầu độc; tin tuyết lở ở Miền Tây khiến 60 chiếc xe bị kẹt giữa đường; tin cảnh sát bắt được chín người trong một băng ăn cắp toàn người Việt Nam, hoành hành từ nhiều năm trên toàn quốc. Số thiệt hại cho các cửa tiệm lên đến nhiều chục triệu. Các mặt hàng được băng đảng này ưa chuộng là dao cạo Gillette, mỹ phẩm L’Oréal, nhất là thuốc quệt lông mày và tô mắt, có cả dầu cá. Chưa bắt được người đầu sỏ của tổ chức, nhưng trong số những người bị bắt có một người đàn bà tầm trú can dự vào 19 vụ có tang chứng, người này đã có bốn tiền án ăn cắp. Chuông điện thoại reo. Cảnh sát di trú cần Diễm đi thông dịch gấp. Cảnh sát hẹn mang xe đón đường xe buýt để rước Diễm đi ngay. Diễm moi gói bánh mì ăn dở ra ăn; nếu không bị kẹt xe, giờ này nàng đang ăn cơm với cha mẹ ở nhà, mẹ nói hôm nay sẽ làm món canh bí rợ.

    Cô cảnh sát di trú mặc thường phục chiều nay sẽ gặp một người đàn bà trong tù để thông báo lệnh trục xuất. Khi người tù xuất hiện trước cửa phòng tiếp khách, Diễm thấy mặt quen quen. Người thiếu phụ nặng nề ngồi xuống ghế bành, một tay đặt lên bụng lớn. Diễm để ý đến sự kiện nhỏ là trong căn phòng bây giờ có ba người đàn bà. Cô cảnh sát tự giới thiệu xong, mỉm cười hỏi cô tù, Diễm dịch lại:

    “Cô khỏe không?”

    “Khỏe.”

    “Bao giờ sanh?”

    “Hai tháng nữa.”

    Cô hắng giặng:

    “Hôm nay tôi đến đây để nói về một việc khác, không liên quan gì tới việc trộm cắp,” cô cảnh sát nói trong khi mở một cái kẹp hồ sơ bằng nhựa trong, lấy ra một tờ giấy. “Tôi đến để báo cho cô biết về lệnh trục xuất.”

    Người thiếu phụ mang bầu mặt không biến sắc, bàn tay vẫn để trên bụng, cánh tay kia vẫn để xuôi theo đùi trên ghế da. Cô cảnh sát đưa cho Diễm tờ quyết định của bộ Nội Vụ, bảo dịch miệng cho đương sự.

    Diễm dịch xong, đưa tờ giấy cho người con gái tên Vân ký tên. Bây giờ nàng đã nhớ ra đây là cô gái xin tầm trú vào đầu mùa thu. Nàng nhớ ra bàn tay đang đặt trên bụng kia đúng là bàn tay đẹp đặt trên tấm kính mờ để lấy dấu. Bàn tay táy máy trong bốn tháng nay làm điêu đứng các siêu thị và cửa hàng khắp nước. Lại cùng một cảm giác gờm nhớm len vào lòng Diễm.

    Cô cảnh sát cất tờ quyết định vào kẹp. Lấy một tờ giấy khác, cầm bút như sẵn sàng ghi chép.

    “Xin cô nghe đây,” cô cảnh sát mở đề cho một cuộc thẩm vấn cuối cùng. “Cô không đủ lý do xin tị nạn, cộng thêm việc phạm pháp, cô không có con đường nào khác ngoài đường trở về nơi cô đã ra đi.”

    “Thế thì trả tôi về Ðức.”

    “Tại sao lại Ðức? Cô đi từ Việt Nam mà!”

    “Tôi từ bên Ðức sang...”

    “Trong hai lần thẩm vấn trước đây cô nói từ Việt Nam, đi bộ sang Trung Quốc rồi sang Nga. Bây giờ lại nói từ Ðức sang. Lời nào là thật?”

    “Cái thai lày của một thằng Ðức.”

    “Nhiều lần chúng tôi đã hỏi cha của thai nhi là ai, cô đều nói là không biết.”

    “Không biết... thật đấy. Nói chung nà đêm không thấy mặt.”

    “Dù cô không biết gì hết, không biết mặt người ngủ chung, không biết mình là ai, không biết cha mẹ là ai, không biết từ đâu tới, chúng tôi vẫn có cách tìm ra cô là ai. Và chúng tôi sẽ liên lạc với tòa đại sứ Việt Nam cấp giấy cho cô về Việt Nam.”

    “Lói thật cũng chết, lói dối cũng chết...” người tù nói nhanh, rồi lại vội nói “Chị đừng dịch cho ló nghe nhá!”

    “Cô ấy nói gì?” thấy Diễm không dịch câu nói của người đối thoại, cô cảnh sát hỏi.

    “Cô ấy đổi ý, không muốn tôi dịch câu vừa nói.”

    Cô cảnh sát nhỏ giọng nói với người đàn bà mang thai:

    “Xin cô cộng tác với chúng tôi để tiến hành cho sớm việc hồi hương, tránh cho em bé khỏi sanh ra trong tù.”

    “Tôi cũng không muốn sanh con trong tù...”

    “Vậy tên thật cô là gì? Ðịa chỉ?...”

    Người tạm gọi là ‘Vân’ không trả lời. Diễm bỗng thấy nét mặt của Vân mềm ra, như có một lớp sáp vừa tan để lộ cảm giác - khuôn mặt của một con người. Bất cứ tên tuổi cô là gì, đây là một người mẹ. Người mẹ đặt cả hai tay lên bụng, cúi xuống lẩm bẩm:

    “Con tôi sinh trong tù à?”

    Rồi im lặng. Diễm cảm thấy xót xa trong lòng. Cảm giác gờm nhớm từ bốn tháng nay biến thành một cảm giác ân hận. Diễm nghĩ đến thân phận chính mình - sở dĩ mình sống nhởn nhơ được, buổi sáng đứng bán nhà thuốc tây, buổi chiều đi nhảy aerobic, lâu lâu đi thông dịch lấy ngoại tài mua son phấn không cần ăn cắp... là vì cha mẹ mình đã chọn được con đường đúng ý nguyện: tới một nơi có thể lương thiện mà sống được. Không, không phải cha mẹ chọn. Ðó là Trời ban. Ba chục năm nay, bây giờ ‘Kho Trời’ đã khóa. Nếu cha mẹ nàng chậm chân, không chừng giờ này Diễm cũng là một người mở miệng bằng câu không biết, và không từ làm bất cứ việc gì để sinh tồn.

    Lợi dụng lúc cô cảnh sát nói chuyện với bà gác tù, Diễm phá chút qui củ thông dịch, đưa tay bắt bàn tay mềm và ẩm của Vân, chúc may mắn và ai ủi vài câu. Vân tỏ ra cảm động. Cuối cùng, nghĩ tới mai mốt Vân lên máy bay về Việt Nam, Diễm ái ngại hỏi:

    “Liệu người lương thiện có sống được ở Việt Nam không?”

    “Nương thiện nà cái gì?”
     
  16. thiên chương

    thiên chương Công Dân

    Bài đã bị gỡ: Phải phạt thật nặng, thậm chí đình chỉ… mưa

    Một bài viết hay, nhưng chỉ 4h sau khi đăng trên báo Lao Động đã bị gỡ xuống một cách đầy bí ẩn. Mời mọi người xem bản copy từ cache trên Google. —

    Cơn mưa chiều rơi rơi thành phố không nhỏ đã khiến người ta bật khóc khi nhớ lại khung cảnh lẫm liệt và bi tráng trong phim Titanic. Và trong cái khung cảnh đậm mùi đại hồng thủy ấy, người ta chợt thấy trong mình, và đồng bào đang co ro quanh mình đức tính nhẫn nại quý báu. Đức tính đã khiến nhiều năm qua, chúng ta luôn luôn chiến thắng hết cơn mưa này đến cơn mưa khác, mặc cho nó lịch sử đến đâu, cuốn theo bao nhiêu ngàn tỷ chống ngập!

    Thưa các bạn, ngay cả Cảnh Sát PCCC cũng được huy động, không phải bơm nước dập lửa mà để hút nước cứu ngập.

    Hàng ngàn chiếc xe máy ở Nguyễn Siêu trở thành tàu ngầm.

    Biệt thự triệu đô của Mr Đàm ngập trong nước khiến anh, quần tới gối, khuôn mặt thẫn thờ như mặt bức tượng sáp 12 tỷ vnd.

    Tòa “tháp” Bitexco ngập từ trong ngập ra, ngập từ ngoài ngập vào. Một khung cảnh dữ dội và lãng mạn như trong đại sảnh con tàu Titanic gãy đôi. Các nàng Rose ống thấp ống cao tay xách nách mang trong tòa tháp cao nhất Sài Thành.

    Một clip quay cảnh anh soái ca lao mình giữa dòng nước “cứu” chiếc xe máy trôi như bao diêm, à như chiếc lá – thu hút đến ngót 100k like, 35k lượt bình luận và hàng vạn share.

    Sân bay Tân Sơn Nhất trở thành sân bơi, bãi đáp của thủy phi cơ. Bến xe Chợ Lớn biến thành bãi canoing.

    À còn nữa, các nữ y tá hò dô ta bắt lươn trong hành lang bệnh viện.

    Toàn dân sặc nước với những vận động viên bất đắc dĩ điện thoại dắt trên lưỡi trai nón bảo hiểm.

    Những chiếc bus thủy phi cơ “mất điện” giữa dòng thác. 20 chuyến bay trong nước và quốc tế phải bay vòng vòng.

    Facebook tràn ngập 2 chữ thất thủ. Có người, trí tưởng tượng thật là phong phú, nhắc đến một cơn “đại hồng thủy”.

    Đâu đó vang lên bản nhạc “Sài Gòn ngập quá Sài Gòn ơi, Sài Gòn ơi”.

    Một con chuột cố bám víu vào hàng rào B40 ở một nơi nào đó trong sự kiện “Sài Gòn thất thủ” tối qua. Đúng là một khoảnh khắc lịch sử! Một chi tiết câm lặng nhưng đầy biểu cảm mà bạn có thể chú thích với bất cứ caption nào.

    GS Ngô Bảo Châu viết một status mấy chữ “Có thêm tàu điện ngầm có khi TPHCM thoát nước tốt hơn nhỉ?”.

    24 ngàn tỷ, hoặc hơn đã được ném xuống nước. 75 ngàn tỷ chuẩn bị được nói đến. 1.200 tỷ được đề xuất cho “xe chống ngập”. Nhưng hôm qua, Sài Gòn “thất thủ” thật rồi với Chợ Nổi Bến Thành, con kinh Nguyễn Hữu Cảnh, bến cảng Tân Sơn Nhất.

    Bạn sẽ hỏi giải pháp là gì?

    Trước khi nói đến giải pháp, chúng ta phải tìm hiểu nguyên nhân.

    Tôi phải khẳng định, thủ phạm đã gây ra "sự cố", scandal, hay thảm họa ngày hôm qua chính là ông giời. Và, không khó để đoán nguyên nhân sẽ lại là “mưa quá to”, mưa lịch sử… như tuần trước, như tháng trước, như sắp tới… khi mùa mưa mới chỉ bắt đầu.

    Nhưng nếu đó là nguyên nhân, chỉ có một giải pháp duy nhất là phạt. Phạt thật nặng, thậm chí đình chỉ mưa nếu lượng mưa vẫn đổ xuống TP to như ngày hôm qua.

    Đào Tuấn
     
  17. thiên chương

    thiên chương Công Dân

    Những dòng họ người Việt Nam nổi tiếng ở nước ngoài
    Posted on 21.10.2011 by vonhatthu
    [​IMG]
    Sáu Nin thời vàng son​

    By Võ Nhật Thủ from Đời Cười Ký Sự

    Người Việt được vinh danh ở nước ngoài rất nhiều (tự hào chứ!) nhưng chắc ít ai biết người của dòng họ nào nổi tiếng nhất ở hải ngoại.

    Đầu tiên, lịch sử thời phong kiến phải ghi nhận dòng họ Lý. Đó là Hoàng Tử Lý Long Tường. Trong một cuộc trốn chạy cuộc diệt vong Nhà Lý do Nhà Trần mà đứng đầu là Trần Thủ Độ chủ xướng với phương châm “Nhổ cỏ phải nhổ tận gốc”, Lý Long Tường đem đoàn tùy tùng, gia đinh theo đường biển vượt lên phía bắc rồi dừng lại ở đất Cao Ly (ngày nay là Triều Tiên). Nhờ vào tài kinh bang tế thế, võ nghệ cao cường Lý hoàng tử được nhà vua Cao Ly thời bấy giờ trọng dụng. Khi Quân Mông Nguyên tràn qua đất Cao Ly ông được phong là tướng quân và lịch sử thế giới đã ghi nhận: Đánh bại vó ngựa quân Mông Cổ có hai tướng người Việt: Tại Việt Nam lúc bấy giờ là Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn và tại Triều Tiên là Hoa Sơn Đại Tướng Quân Lý Long Tường.
    Ngày nay hậu duệ dòng họ Lý tại Triều Tiên đã làm rạng rỡ tổ tông trên các lĩnh vực, chính trị, khoa học, kinh tế…. (Nhưng kỷ niệm 1000 năm Thăng Long răng chẳng có tin hậu duệ dòng họ này về Việt Nam để dâng hương liệt tổ ta?)

    Dòng họ thứ hai là dòng họ Mai.
    Người đầu tiên được vinh danh và cũng là tội đồ của dòng họ, anh là người một thời tung hoành lừng lẫy trên đấu trường quyền Anh thế giới nhưng sau đó sa cơ vào vòng tù tội. Đó chính là Mai Tai Sơn (Mike Tyson): Võ sĩ từng vô địch quyền Anh hạng nặng thế giới.
    Người thứ hai rất thành công trong lĩnh vực nghệ thuật ca nhạc. Cái chết của anh làm đau đớn hàng triệu trái tim người hâm mộ. Anh chính là Mai Cơn Trắc Sơn (Michael Jackson): Vua nhạc Pop.
    Thương nhất là ông già Mai Khơ Rơ Sồ. Ông này từng sống ở Nga và được gọi với cái tên yêu mến: Ông già họ Mai Tốt Bụng (Mai Khơ Ra Sô. Tiếng Nga: Maй хорошо). Sau đó ông vượt biên sang đất Mỹ (nghe nói theo đường Alaska). Ông rất nghèo, không lập gia đình nhưng có cậu con nuôi thông minh cực kỳ và rất hiếu thảo. Ông đặt cho tên là Bill Gate. Dù cậu Bill học rất giỏi ông cũng không có đủ tiền cho cậu học hết đại học. Cũng vì thương bố vất vả, Bill bỏ học đại học giữa chừng và cùng một người bạn nghiên cứu viết thảo trình cho máy điện toán. Không ngờ thành công nối tiếp thành công, Bill quyết định thành lập công ty riêng. Để nhớ ơn bố nuôi, cậu đặt luôn tên công ty là tên của bố: Mai Khơ Rơ Sô nhưng người Mỹ khó đọc quá nên đọc trại luôn là Mai Cờ Rô Sốp và viết theo kiểu Mỹ chánh hiệu là Microsoft. Ngày nay nhắc đến công nghiệp thông tin ai mà không ngã mũ kính phục Mai Cờ Rô Sốp (Microsoft).
    Đặc biệt tất cả các nhân vật họ Mai này đều định cư tại Hiệp Chúng Quốc Huê Kỳ.

    Vòng qua nước Nga, nhân vật dòng họ Lê được lịch sử ghi nhận là một Vĩ Nhân của thế giới. Ông là người lập nên một học thuyết có một không hai, là người đặt hòn đá tảng cho một chủ nghĩa của lịch sử xã hội loài người. Đó chính là Lê Văn Nin (gọi tắt là Lê Nin). Ông là người con thứ sáu trong gia đình nên trong các tác phẩm của mình, cũng như khi ghi tên vào các công văn, chỉ thị… ông thích được ghi thứ trước tên họ sau: VI. Le Nin. Vì vậy người đương thời thường gọi thân mật là Anh Sáu Lê Nin (còn ở quê nhà quen gọi là Sáu Nin).
    Tuy nhiên dòng họ Lê này không hiểu sao lại gặp một kết cục bi thảm là tuyệt tự! Vì sau đó lịch sử nước Nga, cả báo đài không ai nhắc đến con, cháu nào là hậu duệ của Lê Văn Nin. Có lẽ vì vậy mà hòn đá tảng của Chủ Nghĩa Xã Hội chỉ tồn tại cùng lịch sử Liên Sô chỉ có… 70 năm!
     
  18. thiên chương

    thiên chương Công Dân

    "Tiếng Việt rung rinh nhịp đập trái tim" (*)

    lê lành

    Lần này bà V.H. Dương thong dong về nước, không vướng mắc bất kể một công chuyện lớn nhỏ, công tư gì hết, chỉ cốt thư thái được " Tôi như chìm trong tiếng Việt như rừng ", được " Mỗi sáng dậy nghe bốn bề thân thiết. Người qua đường chung tiếng Việt cùng tôi. Như vị muối chung lòng biển mặn.Như dòng song than thiết chảy muôn đời " thế thôi. Bù cho số phận xui xẻo ".. phiêu bạt nơi chân trời góc biển " chỉ được "... gọi thầm tiếng Việt mỗi đêm khuya ".
    Lưu vong, bà có gì mang theo, ngoài ký ức và tiếng mẹ đẻ thân thương gắn bó từ thuở còn nằm nôi : "Nằm trong tiếng nói yêu thương. Nằm trong tiếng Việt vấn vương một đời – Huy Cận " Cái mang theo lửa hương ấy, nguyện thâm nhiễm vẹn kiếp. Còn giữ được tiếng nói, còn thiết tha thơ ca là còn bản ngã cháu con Lạc Hồng.

    Bà luôn mặc cảm tội lỗi lưu lạc xa xứ - rặt nói tiếng của người ta trúc trắc cấu trúc ngôn ngữ Ấn-Âu, toàn suy nghĩ duy lý bằng ngôn từ phương Tây mà nữ sĩ Elsa Triolet lưu vong sang Pháp tự do, cùng châu lục đã ai oán rằng đàn bà "song ngữ" cứ như cái kiếp "song hôn" hai chồng cùng lúc, ôm ấp, ve vuốt một cái xác không hồn lạnh tanh ! Với bà, chỉ một "Tiếng Việt rung rinh nhịp đập trái tim".

    Như bao người phiêu bạt, bà không sao hội nhập được hẳn vào cái xã hội bà đã cống hiến gần trọn đời trí thức, làm tròn nghĩa vụ công dân văn minh, nhưng xử sự vẫn không khác gì kẻ ngoại lai, bới vẫn cứ là "Tiếng trong trẻo hồn dân tộc Việt. " Bà cứ lơ lửng như con cá vàng ở giữa vùng đất khách xa lạ và quê hương yêu dấu chôn chặt trong tâm khảm, giữa thực tại tù túng, ngột ngạt và quá khứ mênh mang, đau đáu, giữa hiện thực xô bồ và hoài niệm lãng đãng ngăn cách bởi một lằn ranh vô hình ký ức cực kỳ rạch ròi. Cái ký ức không thể nào dứt ra được ấy chính là quê hương, ngoài nó ra chẳng còn gì khác nữa, là trống không. Những ai bạc phận phiêu bạt lại càng tha thiết với ký ức: "Tôi làm sao sống được, nếu xa Người. Như giọt nước đậu vào bụi cỏ, Như châu chấu ôm ghì bông lua. Người đẩy ra tôi lại bám lấy người".

    Khác với lịch sử chinh quy đại tự sự, ký ức cứ mãi mãi nguyên dạng tiểu tự sự, chìm trong vô thức, bàng bạc trong đời sống, nhưng lại gắn bó với văn hóa. Nhớ, cho dù chỉ một kỷ niệm xa xôi, nhỏ nhoi, rất riêng tư, nhưng vẫn cứ dây chằng rễ má với những gương mặt mờ ảo, bàng bạc sự này việc kia trong không gian, thời gian ... Thế là thành mối nối kết bản ngã môi trường, quá khứ và hiện tại, cá nhân và cộng đồng, cái riêng và cái chung. Ký ức cá nhân lấp lánh ánh hồi quang cộng đồng là thế. Chiêm nghiệm vậy, bà đau đáu "Ôi tiếng Việt suốt đời tôi mang nợ ", nhưng phận bạc đành cảm thán theo Lưu Quang Vũ: "Tiếng Việt ơi, tiếng Việt xót xa tình "

    Xa quê hương, để giải tỏa nỗi khao khát được nghe tiếng mẹ đẻ thân thương "Nói muôn điều bằng ríu rít âm thanh" bà lần tới hầu hết các trung tâm âm nhạc của người Việt ở hải ngoại. Bà khoe là sưu tập gần như đủ các đĩa hát Ngọc Hạ.

    Không diễn trò, không rống k thuật thanh nhạc, Ngọc Hạ hát thật tự nhiên bằng hết biên độ âm vực rộng trong trẻo, quãng lớn mượt mà mà đưa người nghe trở về những giai điệu quê hương uyển chuyễn ngũ cung đậm sắc ca trù Mái Đình Làng Biển của Nguyễn Cường, chầu văn Trên Đỉnh Phù Vân của Phó Đức Phương, biến tấu hiện đại chất liệu dân gian Con Cò Mày Đi Ăn Đêm của Lưu Hà An.

    Năm đầu của thế kỷ, vừa tròn tuổi hai mươi nghị lực và hoài bão. Ngọc Hạ vượt đại dương với mơ ước ca hát trong lòng đồng bào hải ngoại khát khao một khúc dân ca quan họ, một câu hò Nam Ai, một điệu lý có Con Ngựa Ô. Nào ngờ, bị dội ngay nước lạnh tan tác ước mơ. Nhà văn đầy đủ tên, đệm và họ cùng một vần điệu phụ âm đôi Ng êm ái, vô cùng sành sỏi, tinh vi công nghệ ca nhạc hải ngoại, đã hết mực can gián. Cô gái mảnh mai Hội An, nặng giọng Quảng, không nhan sắc chim sa cá lặn, nhưng thông minh hiểu ra thâm ý lời khuyên bảo sâu sắc văn chương mà ra sức luyện tiếng

    Tiếng ta đặc sắc sáu thanh âm trầm bổng, phong phú cách thức luyến láy, ghép vần nhịp nhàng , đụng vào là bật ngay ra khuôn âm đẹp Nhưng đấy cũng là cái tinh tế vô cùng, rất khó nắm bắt trong tiếng Việt với các vùng miền đàng trong:"Như nước gió không thể nào nắm bắt" Chuyên cần khổ luyện miết, Ngọc Hà đã cất lên được giọng hát xao xuyến " Dấu huyền trầm. dẫu ngã chênh vênh. Dấu hỏi dựng suốt muôn đời lửa cháy... " Song, để tạo nên thi tứ, hình tượng nghệ thuật, cảm xúc: "Tiếng heo may gợi nhớ những con đường" , Ngọc Hạ phải luyện vần điệu truyền âm, thanh điệu tạo âm hưởng mà điều chỉnh âm lượng, ngắt hơi, chẻ nhịp qua các nhịp điệu bước thơ ca từ để biến những đặc sắc của tiếng nói thường ngày thành những âm giai chất ngất cấu tứ, ý tình, cảm xúc cho lời thơ tiếng hát truyền cảm, xao xuyến.

    Đâu phải ngẫu nhiên Lê Đạt tự hào nhà thơ, có lẽ, là người yêu nước nhất, Họ sống chết với tiếng mẹ đẻ. Họ chăm chút thổi hồn vào từng tiếng thơ, làm cho nó biến hóa phi thường về âm sắc, ngữ điệu, hình tượng.. Mỗi khám phá nhà thơ biến tiếng nói thành khuôn âm ăm ắp tiết tấu, nhạc điệu bước thơ sắc nét dân tộc.

    Tiếng nói là chất liệu chính, có trọng lượng nhất của thơ ca. Với thanh âm, vần điêu độc đáo, tiếng Việt tự tạo cho mình thể thơ yêu vận có một không hai cho riêng mình – lục bát. Thơ lục bát ưa bước thơ chẵn nhịp đôi đồng điệu tâm hồn dân tộc hiền hoá, chất phác, hướng nội. Chế thêm hai câu bảy chữ tạo dáng sang trọng, song thất lục bát của ta vẫn cứ giữ cái chủ đạo ngắt hơi chẵn nhịp đôi. Chinh Phụ Ngâm Khúc Đoàn Thị Điểm chuyển ngữ ra tiếng ta song thất lục bát uyển chuyển, khiến nguyên bản chữ Nho của Đặng Trần Côn không còn được mấy ai nhớ, nhắc tới. Trong thơ ngũ ngôn, tất phải một bước thơ chẵn, một nhịp lẻ. Nhưng khác hẳn Đường thi ngắt hơi chẵn trước, lẻ sau, thơ năm chữ của ta lại đưa bước thơ lẻ lên trước, lưu nhịp đôi lại sau, giữ cho âm hưởng bước thơ thư thái, lưu loát, quân bình, in như tâm hồn người Việt .

    Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu đã thuần hóa tuyệt vời bài thơ Đường tuyệt cú Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu ra lục bát. Cái tài thơ tiếng Việt của Tản Đà làm tiêu tan cái hàn lâm phách lối Đường thi trong nỗi bơ vơ, lạc lõng thân phận con người hiu quạnh giữa chốn nhân gian, lái nó vào dòng chảy theo lẽ tự nhiên nhẹ nhàng lục bát nhịp chẵn đôi thanh thoát : Hạc vàng/ đi mất/ từ xưa. Ngàn năm/ mây trắng / bây giờ/ còn bay/

    Nhà thơ say Lý Bạch cùng thời cậy tài thi phú coi trời bằng vung không dám họa lại, chỉ vì Thôi Hiệu xuất chúng phá niêm luật nghiệt ngã Đường thi, sử dụng sáu thanh trắc liên hoàn trong một câu thất ngôn thần sấu: Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản. Nhưng câu kế tiếp. Bạch vân thiên tải không du du lại bình thường, làm hụt hẫng. Vũ Hoàng Chương ngang nhiên phóng bút nhịp lẻ trước, bước thơ chắn sau, giữ được cái sang thất ngôn, nhưng lại mềm mại, mượt mà câu thơ tiếng Việt: Vàng tung cánh/ hạc đi/ đi mãi. Sang câu sau, vụt đảo phách toàn nhịp lẻ: Trắng/ một màu mây/ vạn vạn đời. để nhấn rõ cái ý hạc trắng - "Hai con hạc trắng bay về bồng lai – Thế Lữ ". Hoàng hôn nhuôm vàng chim hạc làm Thôi Hiệu lại ngỡ hạc vàng. Vũ Hoàng Chương lấy khung cảnh nắng vàng hoàng hôn xuống để nâng tầm thi tứ: Nắng vàng nâng cánh chim hạc trắng bay đi. Nhưng mây lưu lại màu trắng chim hạc mãi mãi...với người làm thơ. Thế nên, Thôi Hiệu kết bằng một nỗi mòn mỏi đâu đâu: Yên ba giang thượng sử nhân sầu. Tản Đà phải theo ý cho êm câu thơ: Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai, Còn Vũ Hoàng Chương mạnh mẽ nhât quyết nhịp điệu diệu k bước thơ Việt: Đừng giục/ cơn sầu/ nữa/ sóng ơi

    Hàng rong, có thể nơi nào trên thế giới cũng có. Nhưng tiếng rao thì chưa chắc, nhất là lối rao tiếng Việt ăm ắp các âm giai. Từ Huy cất giọng hát Tiếng Quê Hương (không chỉ) là câu ca dao ngọt ngào, là khúc dân ca dạt dào, là lời Bình Ngô Đại Cáo (hào sảng), (mà còn) là "tiếng rao đêm rao suốt tháng năm dài".

    Thập niên 30 thế kỷ trước, từ Pháp sang, nghệ sĩ tạo hình F. Fenis không biết tiếng Việt, nhưng nghe tiéng rao đêm lại cảm nhận ra màu sắc hương vị toát lên từ những giai điệu kỳ diệu. Ông liền yêu cầu các học viên khóa đầu Trường Mỹ Thuật Đông Dương, trong số này có Tô Ngọc Vân sau trở thành danh họa, phác thảo bằng mực Nho trầm mặc phương Đông, màu nước tươi tắn phương Tây những người bán hang rong cùng đồ lề, hàng họ, gánh gồng, thúng mủng đội đầu, cắp nách. F. Fenis tự tay ghi lời chú giải tỉ mỉ theo cảm xúc nghệ sĩ để đồng bào minh tường tận thanh âm những tiếng rao trên đường phố, theo ký âm trên khuông nhạc chi tiết cao độ, trường độ và cả cường độ, lột tả trung thực đầy đủ "tiếng rao trên đường phố Hà nội của người bán hàng rong".

    Bà V.H. Dương cất công tới Trường Viễn Đông Bác Cổ của Pháp nài xin được làm phiên bản phi lợi nhuận, trưng trong tủ kiếng phòng khách. Khách tới chơi, bà mang ra khoe tiếng Việt quê hương bà như thế đó.

    Yêu tiếng mẹ đẻ bao nhiêu, bà ghét cay ghét đắng cái đài truyền hình trong nước làm bẩn tiếng Việt bấy nhiêu. Đến cái tên cúng cơm mà cũng vặn vẹo thành "Vê tê vê" cho ra cái vẻ " Việt Nam đồng" bắt quàng US dollar làm họ. Càng khua môi múa mép truyền truyền, càng lộ cái đuôi cáo dốt nát, láo lếu với âm vị, từ vựng, câu cú. Tức khí, bà lẩy thơ cô giáo Trần Thị Lam: "Tiếng nước mình" sẽ đi về đâu, anh. Anh không biết làm sao em biết được. Câu hỏi gửi trời xanh, gửi người sau người trước. Trả lời giùm "tiếng nước mình" đi về đâu.
    ____________________

    (*) thơ Lưu Quang Vũ
    Chim Việt Cành Nam.
     
  19. thiên chương

    thiên chương Công Dân

    Không Phải Tạm Dung! - Lệ Hoa Wilson
    Tôi người Việt Nam. Ông xã người Mỹ. Chúng tôi gặp nhau và thành hôn năm tôi 30 tuổi, đã một lần ly dị và có hai đứa con. Ông xã thì cũng 30 tuổi và còn là trai tơ.

    [​IMG]
    Đại gia đình tác giả (áo đỏ, đứng thứ 2 từ trái) trong lần cậu con trai út tốt nghiệp đại học UC Berkeley. (Hình: Tác giả cung cấp)

    Tôi người Việt Nam. Ông xã người Mỹ. Chúng tôi gặp nhau và thành hôn năm tôi 30 tuổi, đã một lần ly dị và có hai đứa con. Ông xã thì cũng 30 tuổi và còn là trai tơ.
    Vùng I chiến thuật lấy Ðà Nẵng (nơi tôi và ông xã gặp nhau) làm thủ phủ nên có rất nhiều bộ chỉ huy trong đó có nhà thương của Hải Quân Mỹ là trung tâm y tế cho tất cả binh sĩ Mỹ trong vùng. Qua khỏi ngã tư Mỹ Khê, quẹo mặt để đi vào núi Non Nước, nằm về phía tay mặt là nhà thương. Tôi đoán nó chiếm trọn ít nhứt là năm mẫu đất với các trung tâm y tế mổ xẻ, chữa trị đủ loại, nhà ở cho binh sĩ và dĩ nhiên là một nhà xác! Một nhà xác không có nhiều nước mắt vì thân nhân ở mãi mười ngàn dặm xa!
    Trước mặt nhà thương là một bãi đáp trực thăng để tải các thương binh, các chiến sĩ tử trận từ các chiến trường vùng I. Mỗi lần trực thăng đáp xuống thì con đường xe chạy được các quân cảnh Mỹ chận lại, từng chiếc cáng được vội vã khiêng ra chạy thẳng vào cổng chánh, có người sẽ tỉnh lại với một cái chân nằm đâu đó trong lá rừng rậm rạp, có người sẽ được trở về quê hương dưới lá cờ phủ kín, có người sẽ ngậm ngùi từ biệt những giấc mơ vì cánh tay đã mất, gương mặt đã bị tàn phá, linh hồn đã bị tổn thương…
    Vì ông xã thuộc binh chủng hải quân và đóng quân trong nhà thương nên tôi đã có biết bao lần phải ngừng xe, tắt máy, ngồi nhìn những bước chân vội vã, những gương mặt chịu đựng, những ánh mắt buồn hiu của những người tải thương. Mỗi khi có một cái cáng phủ cờ Việt Nam hay Mỹ thì những người Mỹ xuống xe đứng nghiêm chỉnh đưa tay chào vĩnh biệt. Tôi ít khi thấy thương binh Việt Nam, có thể vì họ được chuyển tới một trung tâm y tế khác. Chỉ có một lần tôi thấy một cái cáng được khiêng ra khỏi cửa trực thăng, lá cờ Việt Nam Cộng Hòa phủ kín. Tôi không thấy mặt cũng như binh chủng của tử sĩ nhưng một người đàn bà đầu tóc rũ rượi, cánh tay quấn băng treo vào vai còn đẫm máu đang lảo đảo nhảy ra khỏi cửa trực thăng. Tóc chị trước kia chắc được cột lại bằng dây thun, nay chỉ còn một vài lọn lỏng lẻo trên đỉnh đầu còn bao nhiêu thì thả dài rối rắm xung quanh mặt.
    Bạn ơi, hình ảnh đau thương nhứt không phải là cái cáng có người chết nằm phủ kín lá cờ vàng chói, không phải dòng nước mắt đầm đìa trên mặt người sống sót mà là một miếng băng vải mỏng dùng để quấn vết thương. Nó bị dơ vì đất và máu. Nó chỉ dài bằng một chiếc khăn mùi soa. Nhưng nó lại được người vợ trân trọng để ngang lên trán, dùng một cọng lạt dừa cột vòng lại sau đầu. Mảnh khăn tang được vội vã quấn tạm thời nhưng sự ly biệt thì chắc chắn ngàn trùng xa cách. Người thiếu phụ Việt Nam đang để tang cho người chồng chiến sĩ đã hy sinh vì tổ quốc!
    Tôi không ra khỏi xe chào vĩnh biệt người chiến binh nhưng gục mặt vào tay lái nước mắt tuôn rơi khóc thương cho những đứa trẻ đang quẩn quanh trong thôn xóm chờ cha trở lại. Tôi tưởng tượng tới lúc gia đình nghe tiếng chuông reo, mở cửa ra và thấy một người binh sĩ đứng trước mặt với cái nón cầm trên tay. Người mẹ ở ngàn dặm xa kia có ngã xuống vì trái tim tan nát?… Một cái gì đó nhen nhúm trong tâm hồn tôi. Chiến tranh tiếp diễn cho tới một lúc nào đó thì hòa ước được ký, quân đội Mỹ rút đi.
    Anh nấn ná xin ở lại Việt Nam và là nhóm binh sĩ cuối cùng ra khỏi phi trường Tân Sơn Nhất vào đầu năm 73. Tháng 6, 1973, tôi sanh đứa con trai đầu lòng cho anh. Tháng 9 năm 74 tôi qua Mỹ thăm anh tiện thể thăm dò chuyện xuất nhập cảnh. Chúng tôi dự định chờ anh ra khỏi quân đội và sẽ về sinh sống tại Việt Nam. Ðiều kiện để tôi nói “I do” là chúng tôi phải ở Việt Nam và sẽ có bảy đứa con. Tôi nào biết trời cao đất rộng là gì, chỉ biết rằng tôi rất ham con và bảy đứa là một con số chấp nhận của gia đình VN, đâu nghĩ rằng đối với người Mỹ hai đứa là lý tưởng, ba đứa là chau mày, bốn đứa là nổi điên, năm đứa là tan nát, sáu đứa là thảm họa mà bảy đứa là… rồi đời!
    Thời cuộc thay đổi, đến tháng 3 năm 75 thì tôi quay về Việt Nam để đón các con. Lúc đó tôi đang có thai đứa thứ hai được bảy tháng. Khi còn bên Mỹ, qua tin tức trên báo và tin rỉ ra trong quân đội thì chúng tôi biết chắc là Saigon sẽ mất, nhưng khi về Việt Nam thì Saigon vẫn vui vẻ, vẫn bình yên. Rạp chiếu bóng vẫn hát, tiệm ăn vẫn mở cửa, đám cưới vẫn tiến hành, tình yêu vẫn nở hoa… Tôi thầm cằn nhằn báo chí Mỹ thật là dỏm, toàn là đưa tin vịt không hà.
    Nhưng với ngày qua, mọi việc có vẻ tệ hơn. Nhóm người quen bán hột xoàn với mẹ con tôi cùng nhau an ủi rằng “bà Mỹ” còn ở đây chưa chạy thì lo gì. Ông xã tôi kêu điện thoại ngày một hối thúc tôi ra đi. Tôi trả lời là má tôi không cho đi, sợ về Mỹ sanh rồi lấy ai săn sóc, làm sao có củi lửa để hơ, có lá xông để tắm, có nghệ vàng để thoa mặt, v.v.. Sanh xong rồi tôi sẽ qua.
    Một tuần sau tôi mất liên lạc với anh.
    Ngày 20 tháng 4, 1975 một trung sĩ Việt Nam lái xe jeep đến nhà tôi, gõ cửa:
    “Xin lỗi đây có phải là nhà của bà Lê Thị Hoa không?”.
    Tôi trả lời:
    “Trung sĩ ơi, ở đây không có bà Lê Thị Hoa chắc trung sĩ muốn kiếm bà Lệ Hoa phải không?”
    Viên trung sĩ vội nói:
    “Tôi cũng không biết chắc. Tôi làm việc cho ban an ninh phi trường và được lịnh tới đây chở cái bà có chồng Mỹ lên gặp đại tá Mỹ phụ tá tùy viên quân sự…”
    Tôi cầm lấy giấy và thấy tên tôi. Tôi vội dẫn theo hai đứa con nhỏ nhất lên phi trường Tân Sơn Nhất. Khi vào văn phòng,vị đại tá cho tôi biết là ông xã đã liên lạc với cơ quan của ông và nhờ họ giúp tôi và các con phương tiện để rời Việt Nam.
    Vị đại tá nhìn xấp tài liệu nói:
    “Chồng bà yêu cầu tòa đại sứ giúp đỡ bà và ba đứa con di tản khỏi Việt Nam lập tức. Xin bà hãy để hai đứa trẻ nầy lại đây cho cô thơ ký tôi trông chừng, còn bà thì theo xe trở lại nhà và dẫn đứa thứ ba tới đây, chúng tôi sẽ làm giấy tờ và gia đình bà sẽ ra đi nội trong ngày nay.”
    Tôi ngẩn ngơ nhìn vị đại tá ngồi nghiêm chỉnh trước mặt:
    “Ngài đại tá, ngài có nói chơi không? Tôi sanh ra, lớn lên, sống ba mươi lăm năm tại non nước nầy giữa cha mẹ, thân nhân, bạn bè… và bây giờ ngài cho tôi hai tiếng đồng hồ để từ bỏ tất cả… xin ngài hãy nói là ngài nói chơi, chuyện nầy không có thật…”
    Nước mắt tôi ứa ra và chắc là tôi có vẻ bi thương của một con thú sắp chết nên vị đại tá rộng lượng nhìn tôi :
    “Tôi biết tình cảm của bà. Thôi bà hãy dẫn con về và ngày mai trở lại. Ngày mai, bà có nghe rõ không? Chuyện đầu tiên bà thức dậy ngày mai là cùng ba con lên xe đến đây. Tôi sẽ gởi người trung sĩ nầy đến nhà bà sáng mai.”
    Tôi về nhà và cả nhà bắt đầu khóc. Tôi đi lên đi xuống thang lầu, mở các hộc tủ ra rồi đóng lại, ra sân thượng nhìn chậu cúc héo queo, xuống nhà bếp ngồi lên bộ ván ngựa,vô nhà tắm rờ rờ cái lon múc nước, ra phòng khách nằm lên võng đưa kẽo kẹt… Tôi như người mộng du, làm tất cả những hành động vô nghĩa đó với tiếng khóc hụ hụ.
    Ba giờ chiều tôi gọi điện thoại cho vị đại tá biết là vì tôi bị xúc động nên đã động đến cái thai. Hiện giờ tôi đang ra huyết và bác sĩ cấm không cho tôi di chuyển cho đến ba ngày sau. Dĩ nhiên vị đại tá không dám giỡn với tánh mạng người khác nên phải đồng ý cho tôi thêm ba ngày nữa. Tôi không nghĩ là sau ba ngày đó tôi còn có được một giọt nước mắt nào nữa trong cuộc đời.
    Ba má tôi không đi vì tôi có người anh đi tập kết: ông bà chờ sự trở lại. Anh rể tôi không đi vì là sĩ quan Cộng Hòa: sợ mang tội trốn lính. Chị tôi không đi vì theo chồng.
    Ba đứa cháu trai theo tôi vì sợ sẽ phải bị đày đi lính. Một đứa cháu gái theo tôi vì sợ sẽ bị gả ép cho thương phế binh Cộng Sản.
    Vì thế ba ngày sau tôi mang một bụng bầu tám tháng và bảy đứa nhỏ lên phi trường. Vị đại tá nhìn tôi như nhìn con quái vật:
    “Xin lỗi bà, theo giấy tờ thì tôi chỉ có quyền cho bà và ba đứa con của bà đi. Hiện tại bà có tới bảy đứa! Tôi thật không thể giúp bà.”
    Khi người ta phải phấn đấu cho sự sống chết thì can đảm và khôn ngoan ở đâu bất chợt hiện ra. Tôi nhẹ nhàng nói:
    “Tôi hiểu thưa đại tá. Tôi không trách ông. Nhưng đây là những đứa cháu tôi nuôi từ nhỏ giống như con tôi vậy. Nếu ngài không cho chúng đi thì mẹ con tôi cũng xin ở lại.”
    Vị đại tá bối rối nhìn tôi. Có lẽ ông đã biết rằng rồi thì Việt Nam sẽ mất, rồi thì một làn sóng người sẽ cuồn cuộn ra đi. Sớm một vài ngày, bốn đứa trẻ nầy có thấm gì đối với số người đang rần rộ chen lấn ngoài kia. Ông thở dài, ngồi xuống ghế ký cái công văn “eight months pregnant wife and seven children of US citizen need to be evacuated” rồi đưa cho tôi. Chúng tôi theo dòng thác người nhớn nhác ra đi.
    Chúng tôi tới Camp Pendleton ngày 5 tháng 5 năm 1975. Anh đang đóng quân ở Ferndale, một tỉnh lẻ nhỏ nhắn hiền hòa chỉ có bảy ngàn dân, cách San Francisco sáu tiếng đường xe về hướng bắc. Lúc đó chiến tranh lạnh giữa Hoa Kỳ và Nga Xô vẫn tồn tại nên đây là một căn cứ hải quân rất quan trọng nằm trên một ngọn đồi cao ngó ra biển. Các đài radar tối tân được đặt cùng khắp để theo dõi các tàu ngầm xâm phạm bất hợp pháp vào hải phận Mỹ và California.
    Khí trời California lúc đó là 75 độ mà mọi người lạnh cóng. Ðêm thứ hai tại camp, anh lái xe một lèo 16 tiếng để đến đón mẹ con tôi. Mười một giờ khuya một người lính Mỹ đến lều để dẫn tôi lên văn phòng nơi anh đang làm thủ tục.
    Bạn có biết lúc đó tôi giống ai không?
    Không Giống Ai Hết!
    Ðây là một người đàn bà 36 tuổi, tóc hơi dính chùm lại vì cát bụi, mặt hỏm vào, gò má bị nám, mặc một cái áo dài xanh bên hông chỉ gài được một nút ở dưới nách vì thai bụng quá lớn, ngoài khoác một áo bầu thùng thình màu trắng, đầu trùm cái mền xám cột thắt dưới cằm, chiều dài mền thả phấp phới sau lưng. Le lói hơn nữa là người lính Mỹ trẻ thấy tôi run cầm cập nên cởi cái áo lính trận ra, trước mặt đầy những túi để dao găm, lựu đạn v.v… và trùm lên tôi. Tôi bước vào căn lều. Bàn làm việc nằm cuối phòng và anh đang đứng cúi xuống ký giấy tờ.
    Chưa bao giờ trong đời tôi lại bước những bước chân nhẹ nhàng, nặng nề, tủi hổ, hoang mang, giải thoát, run sợ như lúc đó. Ðây là lúc bắt đầu cho những ngày tươi sáng với sum họp thương yêu, với nhà lầu chọc trời, với ngựa xe rộn rã, với tương lai đại học hay là lúc chấm dứt cho dòng sông Hậu hiền hòa với hàng dừa nặng trái, lúc từ giã những hàng me xanh thân yêu Trần Quý Cáp, lúc quay lưng lại với bến Ninh Kiều đằm thắm xinh tươi, lúc quì lạy cha mẹ quê hương nói lời vĩnh biệt?
    Tiếng bước chân tôi làm anh quay lại. Anh bước tới ôm lấy tôi. Tôi cố gắng để khỏi ngất đi, quì xuống sàn nhà, tay ôm lấy mặt và nghẹn ngào: “Oh My God honey, I lost my family, I lost my country, I lost everything!” rồi tôi khóc nức nở. Anh quì xuống ôm đầu tôi. Anh cũng khóc. Tất cả người Mỹ trong phòng đều rưng rưng.
    Ngày 13 tháng 6 năm 1975 tôi sanh cháu Jimmy. Tháng 9 tựu trường, tôi gởi hai đứa nhỏ nhất cho cô bạn, đi làm phụ giáo lớp một trường tiểu học Ferndale, hai đô la rưỡi một giờ.
    Hè 1976, tôi đứng bán hot dog trong hội chợ và ba thằng lớn thì đi dọn rửa phân ngựa trong trường đua. Lúc đó chánh phủ Mỹ còn giàu nên cứ hai năm là các quân nhân được đổi tới một trạm binh khác. Tôi thấy tụi nhỏ rất buồn và sợ rằng sự dời chỗ thường xuyên sẽ làm tụi nó hụt hẫng vì xa bạn nên khuyên anh giải ngũ. Và chúng tôi dọn xuống miền Nam California, tỉnh La Habra.
    Tôi thì để tất cả sự nghiệp lại Việt Nam, anh thì trước khi biến cố Việt Nam xảy ra, đã bị thua lỗ tất cả vốn liếng trong một vụ hùn hạp mở tiệm in với một nhóm dân sự nên chúng tôi hoàn toàn… sạch sẽ. Khi đi mướn nhà ở đường Dexford, La Habra, chúng tôi chỉ dẫn theo bốn dứa nhỏ nhất, hai trai hai gái. Chủ nhà là một người đàn ông Mỹ dễ thương, khi biết anh vừa giải ngũ thì rất vui vẻ nói:
    “Ô, căn nhà nầy có ba phòng lớn, thật là lý tưởng cho gia đình ông bà với hai trai hai gái. Tôi rất vui lòng cho ông bà mướn.”
    Chúng tôi dở khóc dở cười. Anh là người ít nói và chậm chạp nên tôi bèn duyên dáng cười cười nhìn ông
    “Thưa ông, nếu tôi nói với ông là chúng tôi có tám đứa con thì ông có tin chúng tôi không?”
    Lần nầy thì chủ nhà nhìn chúng tôi dở khóc dở cười. Ông ngẫm nghĩ một lát rồi nói:
    “Thôi được, tôi đồng ý cho ông bà mướn. Mỗi tháng tôi sẽ đích thân đến thâu tiền nhà. Hy vọng là mọi sự sẽ tốt đẹp.”
    Ông đâu có biết rằng tên tôi là Lệ Hoa nghĩa là một bông hoa mỹ lệ, đẹp đẽ chớ chẳng phải là nước mắt của hoa nghe bạn. Vì thế tôi thích trồng bông, thích vườn tược. Tôi sanh ra và lớn lên ở Cần Thơ, bà con sống ở Ô Môn, Thới Lai, Phong Ðiền, Cờ Ðỏ nên mỗi mùa Hè chị em tôi thường về vườn đi cầu khỉ, chèo ghe, bắt ốc gạo, hái vú sữa. Cái chất vườn Nam bộ đã ăn sâu vào máu tôi nên hiện giờ nhiều người còn cho rằng tôi không có vẻ gì là sang trọng như người Việt Nam sống ở Mỹ. Biết sao!
    Sau khi dọn vô, tôi và các con hì hục cuốc đất, đổ phân và biến cái sân trống rỗng của ông thành ra một cái vườn đầy hoa vạn thọ (đây là để honor má tôi vì bà rất thích bông vạn thọ). Tháng sau khi ông tới thu tiền nhà thì ông ngẩn ngơ và phán một câu, “Tôi không cần phải tới tận nhà thâu tiền nữa, bà cứ viết check gởi cho tôi là được. Cám ơn bà về những bông vạn thọ.”
    Một vài người quen xúi tôi xin đi làm waitress vì nghề nầy tiền lương chẳng bao nhiêu nhưng tiền tip thì… ăn chết không hết. Trời ơi tôi nghĩ tới cái viễn cảnh, anh sẽ đi làm, tôi sẽ đi làm lại còn tiền hưu trí từ quân đội nữa thì quả nhiên là… ăn chết không hết! Tôi vội vàng vác đơn tới tiệm Red Lobster gần nhà xin việc. Người manager hỏi bà có làm waitress bao giờ chưa? Dạ chưa. Bà có khi nào làm chủ nhà hàng chưa? Dạ chưa. Cứ hỏi…bà có… bà có… bà có…. Cứ trả lời… dạ chưa… dạ chưa… dạ chưa… và thế là tiền ăn chết không hết chỉ là mộng ảo.
    Tôi mua tờ báo thấy rao là “Chương trình CETA của chánh phủ sẽ trả tiền trường cho một năm học để giúp bạn học các nghề văn phòng như thơ ký, kế toán, phụ tá hành chánh v.v… Mỗi tuần chương trình sẽ tặng bạn bốn chục đô để di chuyển và sau khi tốt nghiệp sẽ kiếm việc làm cho bạn…” Tôi nói với anh đây chắc hẳn là một sự lường gạt vì làm gì lại có sự tốt đẹp như thế. Anh thì lớn lên đã nhập ngũ, phần nhiều thời gian nếu không lang thang trên biển cả thì cũng đóng quân ở một xứ khác ngoài Mỹ nên đối với xã hội dân sự cũng có chút bỡ ngỡ. Tôi hăng hái tới cơ quan xin vào chương trình thơ ký. Người phụ trách chương trình thấy tôi là người tị nạn, chồng lại là cựu quân nhân, hình dạng có vẻ nghèo nên thương tôi. Sau khi nói chuyện và đọc cho tôi viết một đoạn Anh văn, bà nhận tôi vào chương trình thơ ký. Khi tôi lui cui làm giấy tờ, bà dịu dàng hỏi:
    “Bà có giỏi toán không? Làm nhân viên kế toán thì nhiều lương hơn thơ ký thường và rất dễ kiếm việc làm.”
    Tôi không dám trả lời vì không biết “toán” của bà thuộc về loại gì nên ngập ngừng:
    “Dạ tôi cũng không biết chắc.”
    Bà lấy ra một bài thi toán đưa cho tôi. Ái dà, bà ơi. Có phải là bà đang chà đạp cái trường Gia Long của tôi không? Tôi là học sinh đệ nhất A đây nha bà, dù tôi không được như bà Dương Nguyệt Ánh ngày nay phát minh ra cái gì là bom tìm nhiệt thì ba cái 25% của 100 là bao nhiêu, 1/3 của 75 có lớn hơn 2/3 của 40 không v.v.. là cái chuyện nhắm mắt cũng trả lời được.
    [​IMG]
    Đại gia đình tác giả chụp trong dịp Tết. (Hình: Tác giả cung cấp)

    Một năm sau tôi được giới thiệu vào làm cho công ty nhà hàng Dennys, bộ phận kế toán xuất nhập.
    Làm việc bảy năm tại Dennys tôi đã học được biết bao điều về gia đình, xã hội, dân tình Mỹ. Trong những buổi ăn trưa tôi học đan áo, học móc khăn, học cách nấu món ăn Mỹ, Ý, Tây Ban Nha, học cách dạy con, cách đối xử với chồng, học cách không bao bạn ăn để rồi kể lể khi giận hờn nhau, mà mạnh ai nấy móc túi trả phần mình và tình bạn thì không bao giờ sứt mẻ.
    Những người bạn ngoại quốc mới nầy giúp tôi hoàn thiện ngôn ngữ, hiểu rõ những tiếng lóng, sử dụng thành thục những thành ngữ, trả lời điện thoại một cách chuyên nghiệp.
    Giúp tôi biết nói cám ơn với con cái. Biết dằn lòng không mở thư của chúng ra kiểm soát. Biết chỉ dẫn chúng tự thực nghiệm cuộc đời hơn là bao che lầm lỗi. Biết nói xin lỗi khi phạm phải sai trái.
    Biết văn minh không phải là mặc áo hở ngực hở mông mà là tuân thủ theo Hiến Pháp. Biết tự do không phải là mạnh ai nấy làm mà là kính trọng nhân vị của chính mình và của đồng loại. Biết thành công là nhờ vào sự mẫn cán, học hỏi, cầu tiến chớ không nhờ vào nịnh bợ lấy lòng.
    Biết các sắc dân khác cũng đầy thương yêu và nhiều đau khổ. Biết kính trọng người Mỹ đen. Biết thương yêu người Mễ nghèo.
    Họ cười lăn lóc với cái accent Á Ðông của tôi nhưng họ không chê tôi dốt nát. Họ chỉnh sửa lại những tiếng tôi dùng sai trật nhưng không có ý khinh khi. Họ không đánh giá tôi cao vì tôi đến từ gia đình trưởng giả như tôi khoe khoang. Họ không nhìn tôi thấp kém vì tôi thuộc third world country như báo chí thường đăng tải. Họ nhìn tôi giống như họ, một người vợ, một người mẹ đang cố gắng kiếm tiền một cách lương thiện để giúp chồng nuôi dạy đàn con.
    Chín mươi phần trăm nhân viên kế toán là đàn bà. Ðây là những bà mẹ, bà vợ ban ngày làm toàn thời gian, chiều về nấu ăn chăm lo con cái, cuối tuần giặt giũ, lau chùi nhà cửa, dạy con làm bài tập, đi chợ, đi chơi với gia đình. Họ sống bình thường mà còn giỏi hơn tôi là đằng khác.Vậy mà khi xưa tôi cứ nghĩ đàn bà Mỹ là đồ bỏ. Tôi mang tội khinh người. Khi ở Việt Nam tôi ít khi nào giặt quần áo cho tôi, cho chồng, cho con. Tôi chưa khi nào lau chùi cầu tiêu, thức khuya dậy sớm cho con bú, kiểm soát từng bài văn điểm toán cho con. Tất cả đều có anh tài xế, chị vú, anh bồi, chị bếp, cô giáo dạy kèm. Biết bao người đã than trời trách đất rằng sống ở đây sao mà cực quá, xã hội gì mà sướng đâu không thấy chỉ thấy cái gì cũng tự mình làm, thời gian hưởng thụ chẳng bao nhiêu mà làm việc thì quay tròn như chong chóng chẳng lúc nào ngừng. Cực ơi là cực. Chỉ chăm chăm muốn về Việt Nam hưởng thụ.
    Bạn ơi, bạn hãy dừng chân một bước. Bạn hãy mỉm cười cầm từng món đồ dơ bỏ vào máy giặt, nhìn vết bẩn trên chỗ đầu gối và hình dung lại gương mặt mếu máo đáng yêu của con nhỏ khi té quị xuống bãi cỏ, nhớ lại ánh mắt chờ mong tin tưởng của con khi mẹ đến đỡ lên.
    Bạn hãy nhìn cả nhà húp sột soạt chén canh bầu, cùng chia nhau miếng sườn nướng, cuộn chả giò. Bạn hãy cúi xuống đứa bé đang nở nụ cười ngây thơ chờ mong bình sữa bạn đang đu đưa trước mặt. Bạn hãy vừa xào món tàu hủ vừa trả lời thằng con đang cắm cúi làm bài tập bên kia bàn là Los Angeles không phải là thủ phủ của California con ơi. Thủ phủ của CA là Sacramento hoặc square of three is not three, it’s nine. Và năm phút sau đứa con vui vẻ đứng dậy: “Thank you mom (or dad). My home work is done.”
    Ðây mới chính là lúc bạn sống, là lúc mà bạn xuyên thủng qua lớp giáp để linh hồn và huyết nhục bạn và gia đình cùng hòa quyện vào nhau. Ðây chính là lúc hột mè trí tuệ nảy nở trong các con do bạn gieo xuống, lúc hạt giống tình yêu thẩm thấu vào linh hồn chúng do bạn cày cấy vào. Chúng sẽ lớn lên với ân cần bạn gởi vào chén cơm, với giúp đỡ bạn xẻ chia trong bài tập, với thương yêu bạn vuốt thẳng áo quần, với mồ hôi bạn chảy dài trong trận đấu.Và vợ chồng bạn có cùng một trận tuyến, cùng một hướng đi.
    Tôi đã từ bỏ quê hương điêu tàn, đã quay lưng với tương lai đen tối. Tôi đã chọn một nơi khác để cất nhà, một miếng đất khác để gieo hạt. Tôi đã dùng nước sông của họ để tưới tẩm, dùng đồi núi của họ để chăn nuôi. Tôi đã dùng chất xám của họ để tiến thân, dùng lòng tốt của họ để sống còn. Tôi không bao giờ quên dòng máu Việt trong tôi nhưng tôi sẽ không ngồi đó nhìn non nước nầy, dân tộc nầy với một ánh mắt hờ hững, dửng dưng, một thái độ vô ơn, rẻ rúng. Tôi sẽ không coi đây chỉ là một mảnh đất tạm dung và ngồi khóc thương cho một khung trời đã mất, mơ tưởng về một dĩ vãng đã tàn phai.
    Tôi sẽ hòa vào các chủng tộc khác nhau, rơi lệ khi thấy tòa nhà chọc trời sụp đổ, đau thương khi nhìn xác lính được chở về, hân hoan khi nghe bài quốc ca trong các cuộc tranh tài. Tôi sẽ dạy các con cùng tôi nhận nơi nầy làm quê hương, sẽ đem tất cả khả năng lao động hay học vấn đóng góp vào sự thịnh vượng chung của quốc gia nầy.
    Thay vì trồng cây cổ thụ tạm thời trong một cái chậu nhỏ để nó chỉ được lớn èo uột trong bóng râm, tôi và gia đình muốn đào một hố sâu, đổ đầy phân bón, tưới tẩm nó với tất cả ân cần, săn sóc nó với tất cả sức lực để cho rễ mạnh nó ăn sâu vào lòng đất, cho tàn xanh nó tỏa rộng khắp không gian. Chúng tôi không tạm dung. Chúng tôi mọc rễ và yêu thương quê hương nầy. Rồi một ngày nào đó, ở bên kia góc trời có cần tới một bóng mát bình an, chúng tôi sẽ chiết bớt một nhánh cổ thụ đem về…
    Chúng tôi chỉ có thể làm như thế khi chúng tôi nhận nơi nầy làm quê hương.
    Lệ Hoa Wilson
     
  20. thiên chương

    thiên chương Công Dân

    Hội thoại của loài kiến

    truyện ngắn: Trần Hạ Tháp
    1.

    Tham luận viên nhà kiến bò vào hội trường. Theo lịch trình, hôm nay tới phiên kẻ nói về "tổ văn minh loài kiến":

    -Thưa chư vị, tôi muốn nhấn mạnh ngay lập tức: "Tổ" rất khác so khái niệm "nền" chuyên dụng của con người. Ở đây, xin lưu tâm "tổ văn minh" chứ không là "nền văn minh" loài kiến.

    Nền dù chắc, vững để làm gì? khi thượng tầng kiến trúc bên trên coi như bằng không hoặc chả ra hồn ra vía, nếu không nói là thảm họa khôn lường...

    Thật xót xa khi nói tới những loại: "Nền chỉ biết ngó trời", "nền chan mưa gội nắng", "nền trâu bò giẫm đạp" cho tới "nền dựng chuồng ủ phân", "nền sát sanh lò mổ"... Nền loại ấy chỉ giúp các khối thối tha, u trệ đè nghiến lên và ngự trị dài dài...

    "Tổ" thực sự thì không chỉ có nền... "Tổ" liên thông kiến trúc từ các thành phần: Đáy, trần, vách, tầng cho tới ô và cửa tổ. Về ý nghĩa, "tổ" cưu mang nội hàm sâu rộng, là tích-hợp-nghĩa giữa nguồn cội chung: "Tổ tông, nòi giống" với hạnh phúc tư riêng: "Tổ ấm, gia đình". Vì thế với loài kiến chúng ta, "tổ" cực kỳ trọng đại và thiết yếu đến nổi không chỉ gắn liền với tồn vong đại thể mà còn biểu thị hạnh phúc cá thể, thành phần...

    Thưa chư vị, cùng một nội hàm bởi thế cần so sánh với con người để nhận chân sự thực. Vâng, nội hàm "tổ" nhanh chóng gợi tưởng đến một mâu thuẩn chừng như bất-khả-giải trước vấn nạn trầm kha thời cuộc. Thử chiêm nghiệm từ Á-đông-nhược-tiểu... Quả khó lòng đem lại giải pháp lưỡng toàn cho cả "tổ tông, nòi giống" lẫn "tổ ấm, gia đình". Nói cách khác, hiện tình vẫn là thảm kịch phân hóa đầy bất hạnh giữa chung và riêng, giữa tổng hòa và cá thể, giữa trì giữ và thoát ra, giữa lạc hậu vẫn quay vòng và văn minh còn thui chột. Ở thế kỷ 21, không còn quá đáng hay vội vã gì nữa để nhận định khách quan: Á-đông-nhược-tiểu, một trong số "vùng gom thu bất hạnh" của con người.

    Loài kiến chúng ta, "côn trùng" do con người xách mé xếp loại, chưa hề gặp mâu thuẩn ấy bao giờ. "Tổ" của loài kiến đã tự nói lên điều này, thưa chư vị. Tồn tại câu hỏi: Tại sao thừa hưởng cùng một nội hàm "tổ" nhưng con người Á-đông-nhược-tiểu đã và đang quá sa sút trong khả năng bảo trì giá trị?

    Đôi khi ở đặc trưng của mình - kiến, vẫn ngậm ngùi chia sẻ những ngổn ngang bế tắt đang khổ-lụy-hóa con người. Một cách đặc biệt riêng con người Á-đông-nhược-tiểu... Tôi muốn nói tới ấn tượng lịch sử quá mức điêu tàn của họ. Nhất là từ sau Thế chiến 2 cho mãi đến bây giờ.

    Điểm qua lịch-sử-tổ, loài kiến có chăng? Những trang tàn sát đẫm máu. Tự tiêu diệt giống nòi đến kinh hoàng man rợ? Loài kiến có sản sinh chăng? Hạng cấu kết ngoại bang để âm thầm mưu bá đồ vương. Một lũ vô luân núp sau chiêu bài đại nghĩa, hốt sạch vốn đầu-lâu-nòi-giống đem đặt cược trò chơi tìm ảo vọng... Có hay không? Những tên quỷ quyệt, siêu lừa bịp kiêm khủng-bố-toàn-năng. Không! Loài kiến không hề, không thể có thành viên mang về cho đồng loại tai ương bất hạnh đến nhường nầy. Không!Tuyệt đối không.

    Loài kiến bảo vệ nhau trước những loài "lạ mặt" nham hiễm. Một cách tự nhiên, chả cần ai kêu gọi. "Họa cùng chia, phúc cùng hưởng". Đúng vậy, giáo-dục-tổ loài kiến đã vượt qua thành quả ấy từ lâu. Lâu lắm..!

    Thưa chư vị, tóm lại tôi xin loan báo "tổ" trong "tổ người" đã biến thái, bị bóp méo đến dị thường. Nó dần thành hạn chế, nhỏ nhoi và cực kỳ co rút...

    Như "tổ" của một nhóm (nhỏ lẻ) người hoạt động. "Tổ" của đơn vị hành chính (thấp bé nhất) bị tế phân để vận hành xã hội. Hoặc "tổ" trong thuật từ "chỉ tổ..." khuyến cáo điều (bất tường) cần khu biệt, thoát ly. Nội hàm "tổ" đến đây đã mặc nhiên ô nhiễm. Rồi "tổ" trong các "tổ quỷ" ở muôn nơi, muôn mặt. Đấy, các chứng cớ "tổ người" đã biến thái ra sao. Chưa hết, khi chửi rủa xúc phạm nhau? Con người không ngại ngần lôi "tổ" làm công cụ: "Tổ sư nó", "tổ cha mầy", "tổ mẹ bây"... Đấy, cũng "tổ" của con người!

    Hỡi loài kiến, động vật nguyên sinh tồn tại trước khi con người hiện ra trên mặt đất. Chúng ta đã bất lực, đã không còn đủ rộng lượng thêm nữa để thông cảm con người - loài hậu sinh loạn cuồng, tự hủy hoại bậc nhất trong vạn vật, muôn loài - lại còn dám đẻ ra "côn trùng học" đầy mai mỉa. Thực sự "côn trùng" là ai nhỉ?

    Có rất ít Con Người khiến loài kiến thật sự phải nghiêng mình. Như Thích Ca không hề quên bất cứ giống loài nào. Nói "chúng sinh" là bao gồm tất thảy giới sinh-thực-vật trong đó nhân loại chỉ là bộ phận nhỏ nhoi. Chưa kể "chúng sinh" còn phải bao gồm u linh giới, chư long thần hộ pháp, hung thần, quỷ mị và cả những cảnh giới nhỏ nhiệm huyền vi, xa xôi mà ngay con người còn mù tịt...

    Với Thích Ca, không ảnh hưởng các dị biệt phân loài vẫn tuyên bố bình đẳng, cùng chung một tiềm năng sở hữu: "Tất thảy chúng sinh đều có phật tánh". Qua tư tưởng đầy bao dung và cực kỳ rộng lớn kia, con nhà kiến chúng ta đã được "giải" và "thoát" ra khỏi ước lệ "côn trùng".

    Xin hãy cụ thể hóa, điểm lại những sai lầm phổ biến của con người, nói chung. Những sai lầm đang tuyên cáo tự ngã, nguồn gốc chính gây bao đau thương mà họ mãi ngộ nhận tình thương. Hoặc tệ hại hơn, chỉ giả vờ ngộ nhận. Con người đã nói ra sao ấy nhỉ? Nhất là những gì liên quan loài kiến..?

    Thưa chư vị, đến đây có 15 phút dành riêng để chúng ta thư giãn. Xin tùy nghi, trước khi vào hội thoại.

    o O o

    2.

    (Chuyển dịch bàn ghế, giải khát hoặc vệ sinh cá nhân. Phần tham luận đã qua, chỉ để khai mở vấn đề và luận điểm riêng cần thiết.

    Tham luận viên kiến, bây giờ chỉ còn là điều phối viên giữ cho các tiện nghi chung đừng khiếm khuyết. Điều phối viên không lèo lái chương trình hay "dẫn dắt" tư tưởng. Tất cả, đều cùng một tư cách hội thoại như nhau...

    Với 15 phút, thời gian cần thiết còn dành cho sự trao đổi ý kiến giữa các hội thoại viên, không gò bó trong không khí nghiêm túc khi hội trường làm việc.

    Thực ra, rất đáng ghi nhận tinh thần của loại hoạt cảnh phức tạp, tự nhiên và "nên thơ" như lúc nầy, ở đây. Vì đấy cũng "một mặt nói lên" quyền tự do ngôn luận.

    Không khí sôi nổi, ồn ào và nhất là những "tạp ngôn, tạp âm" cười nói, khạc nhổ, ho hen... xen chồng lên nhau thật khó được đãi lọc thành công để văn bản hóa sự kiện.

    Lại càng không nên văn bản hóa chỉ vài câu chiếu lệ... Bởi, quyền ngôn luận cá nhân là chánh đáng, bình đẳng trực tiếp không thể thông qua, tượng trưng vài đại biểu...)

    o O o

    3.

    Tham luận viên kiến hay điều phối viên lúc nầy, trước khi rời bục nhường chỗ, tóm tắt thuyết "tam thoại" kiến thức phổ thông trong loài kiến:

    -Loài kiến không cổ võ cho kiểu "một nói: độc quyền, vạn nghe: chí thú". Do 3 lẽ: Hoặc là bài giảng của bề trên, không được phép luận bàn. Hoặc rất có thể sẽ một chiều, dễ khiến các sai lầm nhiều cơ hội phát sinh. Hoặc thói quy kết những điều "chỉ tự mình khẳng định". Tất nhiên, cả 3 đều dọn đường cho u mê và nô lệ.

    Độc thoại ư? - nói trắng ra - cũng cứ "muốn được lắng nghe như một nhu cầu không tuyên bố" tại sao chỉ một chiều mà không cần đối thoại? Hành xử kiểu ấy - độc thoại - chỉ nên dành cho thuộc hạ, kẻ cúi đầu luôn nghiêm cẩn lắng nghe. Nhưng... dù đối thoại cũng cứ vẫn "muốn được lắng nghe như một nhu cầu không tuyên bố". Nếu thế, ai còn lại chung quanh một cuộc đối thoại nào cũng chí thú lắng nghe, làm "vật chứng bên lề" muôn thuở? Thưa chư vị, từ một tham luận vừa tỏ bày, tôi thỉnh cầu hội thoại...

    Hội thoại viên 1.
    (ôm theo dụng cụ toán học, đo đạc)

    -Ví như con người từng nói "kiến tha lâu đầy tổ". Câu tục ngữ cố tình xuyên tạc khả năng chúng ta rõ ràng. Thực tế, kiến chỉ có tha mau, khá mau không có "tha lâu" gì cả. Lưu ý các tỉ lệ đo lường độ dài và trọng lượng. Phép tương đương cần thiết đã đem vứt đi đâu? không áp dụng. Khi mà họ cứ kiểu nói hàm hồ về kiến. Tại sao? Vì chỉ có con người nói, con người nghe và con người kết luận. Còn kiến? mặc nhiên - coi như - kiến đã tự câm và điếc?

    Hội thoại viên 2.
    (chống gậy, râu 9 chòm phết đất)

    -Bảo "con sâu cái kiến" là quái gì? Hỗn xược, khi con người một mực nói viết thế thường xuyên. Kiến, động vật nguyên sinh vốn có trước cả tổ tiên nhà người sao lại biến thành "con cái" cháu chắt họ ngày nay? Người già, còn lắm kẻ già hơn. Phải không hở? Tài đức thánh trí, "thánh tréc" gì càng phải đạo đức thêm chứ. Bạ ai cũng mặc kệ, cứ vỗ ngực ta đây cha chú hết hay sao? Ô hô, loài người quá lắm! Có khi còn úm-ba-la "bạch hóa" ngay cả tổ tiên chính mình, ngang nhiên xúc đổ quá khứ xuống sông xuống biển. Cái thứ còn bày đặt cao ngạo đến buồn cười. Đồ vô lễ! Mất gốc. Đồ...

    Điều phối viên lập tức "tế nhị" góp ý:

    -Cao ngạo dỏm. Buồn cười và mê muội mới là thật. Tất cả đều hổ lốn, là trò chơi nhàm chán cuối mùa. Thưa đại lão nhà kiến.

    Hội thoại viên 3.
    (gồng xô, khả năng cử bổng gấp 50 lần trọng lượng bản thân).

    -Lại còn bảo "bóp như bóp kiến". Loài nguyên sinh chánh cống đến bây giờ, cũng chưa dám hô "muôn năm" hoặc tự phong hàm "bất tử" đây này. Có biết không hả? Dù loài kiến dư khả năng tồn tại sau các thảm họa địa cầu: động đất, sóng thần, thiên thạch hoặc tận thế. Điều phối viên thừa nhận:

    -Đúng, kiến khiêm tốn chưa từng lạm dụng "bất tử" hay "muôn năm" như con nhà người ham hố. Lạ gì, trò diễn đánh phèng la thuốc lang băm hô "thần dược"! Người phỉnh gạt lường đảo nhau như điên, trong khi đó khối đứa lại vỗ rập - có chấm công, lãnh lương - hát rống lên "mùa âu ca trăm họ".

    Hội thoại viên 4.
    (đi bốt, túi quần lòi găng tay lủng lẳng)

    -Đặt ví dụ "kiến chạy vòng quanh miệng chén" là khập khiễng. Chén để ăn nhưng kiến nào dùng đến tô đến chén bao giờ? Càng lạ lùng hơn khi chính con người, chỉ con người mới tiếp xúc đồ vật nầy thôi, ngày 3 buổi thẳng ro! Kiến bỏ sức ra khuân vác cật lực, cưu mang khối công việc nặng nề gấp nhiều lần thân xác. Chỉ con người "ngồi mát ăn bát vàng". Loại đeo cà vạt dựa ghế bành, chỉ việc búng tay để nghe chung quanh vỗ trống...

    Điều phối viên bật cười bổ túc:

    -Chỉ nghe vỗ hai loại: Trống đại, kêu "nổ trời" hoặc vỗ vào om gạo rền âm hưởng "trống cơm". Nhân tiện đây, cũng nên mở ngoặc bổ sung để hiểu rõ hơn con người qua "nền văn minh chén"... Xin tiếp tục!

    Hội thoại viên 5.
    (kiếng cận dày, dép lê. Cứ như tự nói một mình...)

    -Hê hê. Chào chén! Bụng chú mày nở rộng tùy thích, ai cũng đều thấy cả nhưng nhất định sẽ không biết cái đầu ở đâu? Còn chữ nghĩa, hoa văn trang trí nghệ thuật tất nhiên phải ghi nhận "không thể nào chối cãi", chú mày quả đã sinh ra "dòng văn chương bụng chén". Xin đọc thơ ngẫu hứng:

    Vòng số 0: bằng không chất xám

    Vòng số 1: chột phổi điếc tim

    Vòng số 2: xoa tìm chân lý

    Vòng số 3: đít lạ mông lì...

    Hội thoại viên 6.
    (áo choàng trắng chữ thập đỏ, ống nghe).

    -Giải phẩu chén cả đời cũng chẳng thấy tứ chi đâu. Chi tiết nầy giải thích thỏa đáng lý do tại sao loài chén không tồn tại cơ bắp? Có động tay, động chân gì đâu? Hoạt động chén là ăn, không tay chân chỉ cần lỗ miệng. Đặc biêt theo cơ địa: "Cch" thành thử quy trình ăn thuộc dạng: "Ltđ" bắt buộc. Tất nhiên, cả hai mã số cực kỳ hiếm hoi trên thế giới. Toát yếu cơ thể học về chén tóm tắt: Ngoài miệng ra chỉ còn hai cơ quan trực thuộc: Bụng chén và đít chén.

    Điều phối viên ngơ ngác:

    -Từ chuyên môn y khoa! Xin bác sĩ chú thích...

    -Xin lỗi. Ltđ: "Liên tục đút" và Cch: "Chỉ có há" viết nhanh.

    Hội thoại viên 7.
    (tay cầm thiên bàn, choàng áo thất tinh)

    -Quá chính xác theo khoa học phương tây, nhưng - xin lỗi - từng ấy chưa đủ "cơ sở pháp lý để kết luận" kỳ hình dị tướng chén. Đứng về phương diện huyền học phương đông, có thể thêm đôi chút nên chăng?

    Xin nói trước, đọc hết "Ma y thần tướng", "Mệnh tướng toàn thư yếu lĩnh" hay "Tướng luận tổng lục"... mấy chục bộ cũng bằng thừa, không thể luận ra "ẩn tướng"? Và đây, thiết tưởng chú thích không còn gì cao minh hơn nữa: "Miệng há, đít liền chỉ có ăn, không bao giờ biết ỉa. Vào thậm nhanh. Khi đi ra tuyệt lộ! Tướng chén hết sức quái dị, có mông chỉ để ngồi, tuyệt không tìm ra lỗ đít.

    Sự nghiệp chén rút lại chỉ ba vận: Chén mở, chén úp và chén bể. Lúc "hóa" thường do bị buông rơi, ken chồng lên nhau đổ vỡ hoặc dứt khoát bị liệng bỏ vì vô cùng bẩn thỉu. Kiểu dáng hoa hòe, rẻ mạt thường tàng ẩn độc chất hại chúng. Ấy lại là thứ trẻ thơ ham thích".

    Hội thoại viên 8.
    (áo nhiều túi, trang thiết bị camera, các thứ...)

    -Xử lý thông tin cần chính xác tối đa. Nói gì thì nói xin đừng nhầm "tổ" - trong tổ kiến - thành ra "ổ" như trong ổ gà, ổ trứng thưa chư vị. Không nhập nhòa 2 ý nghĩa khác nhau: "Tổ" trước hết - dù nhỏ đến đâu - cứ như một kiến trúc có thượng, có hạ tầng. Loài có "tổ" phải công phu và - nhất là cùng hợp lực bên nhau - xây dựng lấy mà nên. Nói cách khác, đây chính là công trình nghiêm chỉnh mang tính đa thành phần và tự thân xây dựng. Còn "ổ", đơn giản và tạp nham hơn, chưa xứng gọi kiến trúc công trình. "Ổ" có thể chỉ cần vay mượn địa hình, vật liệu kẻ khác. "Ổ" để tá túc nhất thời, tạm bợ... Vì thế, cũng chỉ cần "lót ổ" là xong. Nhưng đến một khi nào đó thưa chư vị, phải "xây tổ" chứ không thể là "xây ổ". Tôi trịnh trọng nói thêm lần nữa, không thừa: Xây tổ!

    Tham luận viên tâm đắc tiếp lời:

    -Cho nên chỉ tạm bợ như "ổ gà", "ổ trứng", "ổ chuột"... nhưng lâu dài, chính đáng ổn định và lý tưởng hơn, hẳn phải là "tổ kiến", "tổ ong", "tổ mối"... Vâng, không thể lộn sòng "ổ", "tổ". Vì "ổ" có thế nào đi nữa, tiện lợi đến đâu vĩnh viễn vẫn cứ thiếu đi "tánh linh" trong nội hàm của "tổ".

    Hội thoại viên 9.
    (lắc đầu rồi gật đầu, cười mỉm)

    -Tôi muốn nghe nhiều hơn nói. Đó là thói quen không hề do ai bắt buộc, áp lực nào. Hãy tôn trọng ý muốn của thành phần như tôi... Ngược lại, ít ra tôi cũng nên có phát biểu chừng này, để biểu thị sự tôn trọng và tri ân cùng chư vị...

    -(im lặng)

    -(im lặng)

    Điều phối viên nhà kiến trở lại bục khi không còn ai lên xuống:

    -Buổi hội thoại đến đây tạm ngừng. Tôi xin phép đại diện chung cảm ơn tất cả. Tất nhiên, không có lời đúc kết, tóm thu nào ở đây. Trong lâu dài, nó thuộc về chư vị... Chúng ta - có thể - chưa thỏa mãn đôi điều về kiến thức hoặc luận điểm của nhau. Hội thoại nghiêm túc là cơ hội tốt để đả thông, hài hòa và chia sẻ chứ không đi ngược yêu cầu chân chính ấy... Nhưng không hề gì, khi đã gặp nhau ở đây thì cái cần, tiên quyết là gì? Vâng, tự do "ngôn" và "luận". Tất nhiên, cho đại thể chứ không vì tư riêng và tạp vụ. Chào tất cả chư vị.

    (Vườn tượng, 07/05/2015)
    Trần Hạ Tháp
     

Chia sẻ, giới thiệu đến bè bạn