Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!

Tiếng Việt

Chủ đề trong 'Chữ Và Nghĩa' do thiên chương khởi đầu 9 tháng Năm 2016.

  1. thiên chương

    thiên chương Công Dân

    Tặc lưỡi

    Truyện chớp: Trần Hạ Tháp

    Áo quần tươm tất, phong bì sẵn túi áo. Hắn ngồi nhìn vơ vẩn trong phòng. Vẫn còn tí thì giờ trước khi đi tiệc cưới. Trên tường 2 con thằn lằn đang rượt nhau chí tử. Chúng chạy dần lên trần nhà cùng tiếng tặc lưỡi dồn dập. Thỉnh thoảng, một con dừng lại quằn đuôi "khuyến mãi tình yêu". Con đực hùng hổ ráo riết, con cái làm bộ tịch ngó "dễ điên".
    Hắn mở laptop cho đến khi liếc đồng hồ và chuẩn bị xấp máy. Bỗng "phạch". Ngay trên mặt laptop vừa tắt, hai con thằn lằn cùng rơi xuống. Chúng chẳng hề hấn gì, còn dính keo nhau một cục. Ê, qua phần truy đuổi rồi hả? Tụi bây chọn "bãi đáp" quá liều. Phần hạ thể con nằm trên uốn cong "quái chiêu", lòn tréo bụng con dưới. "Hạ cánh an toàn" rồi, vô "rơ" đi! Nhịp điệu muôn thuở của chúng sanh đâu cần hắn phất cờ? Loài thằn lằn nầy hay thật. Không dữ dội gì lắm nhưng được đâu mấy phút? Coi thử...

    Năm phút, bảy rồi mười. Khá. Mười lăm, được lắm. Ồ, hai mươi rồi? Bậc thầy của mấy thằng hay "mưa ngoài biên ải". Như một fan hâm mộ, hắn tính vỗ bàn cái rầm nhưng dừng kịp, ngồi yên không nhúc nhích. Ba mươi phút, trời đất "tốt nghiệp phổ thông" loại giỏi. Hắn bỗng bật cười nho nhỏ, đâm nể "cặp đôi hoàn hảo" đang "đều đều" trước mắt.

    Có lúc con cái làm mặt vùng vẫy để thông báo sự kháng cự."rất vô ích" của nó. Gáy đã bị con đực ngoạm cứng từ lâu. Quá ba mươi mấy phút đâu dấu hiệu gì "cắt phim"? Chắc chắn trình độ đã chuyên nghành "đại học chính quy". Với thằn lằn, giống nào mạnh đây hả? Đừng có đứa nào a dua ra vẻ biết sách vở. Đến đây hắn phải tự mình khẳng định "Đực hay cái đều mạnh. Không một phái nào yếu cả. Yếu, là do bệnh hoạn bất thường".

    Vẫn nhìn laptop chăm chú như lướt web, hắn không dám nhúc nhích gây tiếng động. Bốn mươi phút hơn, kiểu nầy không cần "chạy" vẫn dư sức "sau đại học", thạc sĩ. Hắn tự hỏi thật vớ vẩn "Với những hoạt động đặc biệt hợp lý - cơ yếu bậc nhất - cùng mang thiên tính chung cho mọi động vật trong thế giới bao la nầy, tại sao chỉ có tôn trọng nhân quyền được phần nào lưu ý, còn "thú quyền" không cần ai nhắc nhở, dư khi nào rồi?". Hắn suýt cười rộ lên hô hố.

    Chính hắn đang bổ sung thiếu sót chăng? Hay nghĩ thế để khôi hài? Không biết, vì thực ra "thú quyền" - hiểu theo nghĩa sát sườn xã hội hắn sống - là thứ phổ cập quá dư thừa. Nhân quyền đâu rồi, hả? Đang hụt hơi sau lưng hằng chục dặm! Tuy nhiên, cần đôi ba tiếng vỗ tay lẻ tẻ khuyến khích những bước chạy đằng sau chực quỵ ngã. Có ai như hắn? Bận thưởng thức "thú quyền" một cách chăm chỉ. Sự thưởng thức tiềm ẩn nỗi ước ao "không tiện nói". Lắm lúc, im lặng "không dám nhúc nhích" khác gì đồng minh tri kỷ của "thú quyền"? Lần nữa, hắn lại suýt cười rộ lên hô hố. Giữa con thú thật sự và "thú" - tất nhiên - là 2 bến bờ cách biệt.

    Xem ra sự vắng mặt của hắn - đúng ra vì trễ - ở tiệc cưới hôm nay cũng chẳng phiền lòng ai cả. "Không mợ thì chợ cũng đông". Loại thiệp mời chiếu lệ chứ không chân tình, quan thiết. Điều khó ai tin, sở dĩ hắn không muốn đứng dậy bỏ đi vì sợ kinh động hai con thằn lằn đang giao hoan trên bàn viết. "Thánh địa" của hắn.

    Đói bụng, chưa biết tính sao về bữa ăn trưa thì "cặp đôi hoàn hảo" đã tự rời nhau, chạy mất. Trước khi thoải mái đứng dậy, hắn bỗng nghe một tiếng tặc lưỡi rất to. Gian phòng, ngoài thằng độc thân "hơi khó tính" này còn ai đâu? Tiếng tặc lưỡi kỳ dị kia chẳng phải của thằn lằn. Của hắn.

    (vườn tượng, 29/3/2017)
    Trần Hạ Tháp / Chim Việt Cành Nam.
     
  2. thiên chương

    thiên chương Công Dân

    Đến một lúc nào đó bạn sẽ nhận ra, Tiếng Việt cũng ba chìm bảy nổi chín lênh đênh, cũng "nhân chứng cuộc đời"cũng "chứng nhân lịch sử"...


    [​IMG]
    Nhà thơ Nguyễn Thị Thanh Yến!

    “THỜI ĐẠI TÔI ĐANG SỐNG

    Thời đại tôi đang sống
    Trẻ con học chữ cái không bắt đầu bằng chữ a
    Tiếng gọi đầu tiên không phải là bà
    và trên vai đã chất chồng khoản nợ


    Thời đại tôi đang sống
    Cứ mở mắt là thấy mình khó ở
    Tháng tư vấn vương hoa sữa
    Đông sang vẫn nóng như hè

    Trẻ con không đón hè bằng những tiếng ve
    mà bằng iphon, ipad
    Thức ăn ngập tràn các market
    Nhưng nuốt vào mồm là ngập hoá chất dư thừa

    Thời đại bây giờ ai cũng như lừa
    Chỉ biết phận mình, thản nhiên bịt tai còn mặc đâu thiên hạ
    Vào trang các hót gơn hót boi like còm tung lả tả
    Chuyện xã hội đau nhưng nhức lại im lìm

    Thời đại bây giờ con người sống thiếu hẳn trái tim
    Mượn gió bẻ măng, gắp lửa bỏ tay người đâu ra mà nhiều thế
    Thượng tầng nát bươm hạ tầng lẽ nào không thể
    Ngỡ các đấng nam nhi đang mặc váy thay quần

    Xã hội bây giờ người chế tạo máy bay lại là nông dân
    Ông tiến sĩ cất bằng đi nuôi lợn
    Người hiền lành luôn thua người bặm trợn
    Chân thực ngủ vùi cho xảo trá lên ngôi

    Thời đại bây giờ thủ khoa là con hộ đói mà thôi
    Nhưng tuổi trẻ tài cao đương nhiên là con sếp
    Bài thơ thần ngàn đời bất diệt
    Bỗng đâu tan vì cái mới lên ngồi

    Thời đại bây giờ thiên hạ um xùm vì mất một con ruồi
    Con voi lọt qua lỗ kim thì thản nhiên công nhận
    Lấy hoạt động từ thiện nuôi thân còn mang lòng thù hận
    Rắp tâm gieo tiếng ác cho người

    Thời đại gì mà thương cái thân tôi
    Bao chuyện trái ngang cứ vờ như không biết
    Tai vẫn tinh mà như bị điếc
    Miễn sao không vơi cơm vơi gạo nhà mình

    Có những lúc trách mình rồi lại tự phân minh
    Phận mình đàn bà biêt sinh con nuôi con là đủ
    Những thứ lớn lao mang tầm vũ trụ
    Xin nhường cho cánh đàn ông…

    Đã thế rồi mà nhiều khi vẫn thấy lông bông
    Ngơ ngác trước “Bụi Chương Mỹ, đĩ Đồ Sơn”
    có khả năng trở nên thành ngữ
    Niềm tin lung lay trước một xã hội hèn, mình cũng hèn đủ thứ
    Dạy con thế nào đây trước bộn bề sóng gió cuộc đời

    Tự thấy mình như kẻ dở hơi
    Dẫu không còn trẻ vẫn muốn sinh thêm đứa nữa
    Lại lo lúc ra đời trán con in dòng chữ
    “Nợ ngân sách” mẹ ơi!!!”

    NGUYỄN THỊ THANH YẾN

    H N P Đ.
     
  3. thiên chương

    thiên chương Công Dân

    MỘT BỘ TỰ ĐIỂN HIẾM QUÝ từ cuối thế kỷ 19 được đưa lên HATHI TRUST Digital Library cũng viết “dòng nước, dòng dõi …”


    Một thân hữu từ nhiều năm, Gs. Huỳnh Chiếu Đẳng, chủ nhân của nhà kho Quán Ven Đường, người vẫn sốt sắng gửi ra những hướng dẫn hữu ích và quý báu về an toàn thực phẩm cũng như về kỹ thuật và đời sống (máy ảnh, máy điện toán, tablet, cell phone ..,), đồng thời cũng giới thiệu một kho audio book và và một kho sách xưa, vừa mách người viết những dòng này rằng chữ “dòng” cũng được viết với D trong một bộ Việt-Pháp tự điển in ở Paris năm 1899. Nói rõ hơn, đó là bộ Dictionnaire Annamite-Français của Jean Bonet, in ở Paris trong các năm 1899 và 1900.

    Bộ tự điển này gồm hai cuốn. Cuốn 1 từ vần A tới vần M, được in năm 1899. Cuốn 2 từ vần N tới vần X, được in năm sau, 1900. Phía sau là các trang nhan đề của hai cuốn ấy:

    Hàng chữ Hán phía trên nhan đề bằng chữ Pháp là: Đại Nam quốc âm tự vị hợp giải Đại Pháp quốc âm.

    Jean Bonet có tên đầy đủ là Jean Pierre Joseph Bonet, sinh năm 1844, mất năm 1907. Ông sang Việt Nam với nhiệm vụ một thông dịch viên năm 1867. Sau hơn 20 năm ở Việt Nam, khi về Pháp ông được mời dạy tiếng Việt ở trường Ngôn ngữ Đông phương (École des langues orientales, Paris) từ năm 1888. Trường ấy sau được đổi tên thành École nationale des langues orientales vivantes (Quốc Gia Học Đường về các sinh ngữ Đông Phương). Bộ tự điển này được hoàn tất trong thời gian ông dạy học ở đó. Ông mất 7 năm sau khi cuốn 2 được in ra.

    Đây là một trong những bộ tự điển Việt-Pháp đầu tiên, do một người Pháp nghiên cứu về tiếng Việt trong hơn 20 năm, thông thạo chữ Hán, chữ Nôm, chữ quốc ngữ, và cho tới khi in bộ tự điển, đã dạy tiếng Việt tại trường Ngôn ngữ Đông phương trên 10 năm. Các chữ Việt (bằng chữ quốc ngữ, xếp theo thứ tự ABC) có chua chữ Hán hoặc chữ Nôm bên cạnh, rồi được giảng sang tiếng Pháp một cách rõ ràng. Đúng như Gs. Huỳnh Chiếu Đẳng mách cho biết, chữ “dòng” được viết với D, bên cạnh có chữ Nôm.

    Theo bộ tự điển của Jean Bonet, chữ “dòng” có 4 nghĩa:

    --Dòng nước, dòng sông;

    --Dòng dõi, dòng họ;

    --Buộc dây để kéo theo trên mặt nước, như dòng tàu, dòng thuyền, dây dòng;

    --Một ngành tu Thiên Chúa Giáo: Ông thầy dòng.

    Với cả 4 nghĩa ấy, Jean Bonet đều dùng chữ “dòng” viết với D. Trong bộ tự điển này không có chữ “giòng” viết với GI. Ở trang 227 cuốn 1 có những chữ “gióng” (trong gióng trống), “giọng” (trong giọng nói), nhưng không có chỗ cho chữ “giòng.”

    Đây là một bộ tự điển rất đáng được chú ý tham khảo. Các chữ Hán và chữ Nôm tương đối dễ đọc. Được in năm 1899-1900, bộ tự điển phản ảnh tiếng Việt cuối thế kỷ 19. Có những tiếng nay đã trở nên cổ, chẳng hạn tiếng “dòm.” Tuy ngày nay chúng ta dùng tiếng “nhòm” nhưng trong bộ tự điển này, tác giả liệt kê những chữ “dòm lén,” “ống dòm” … Ngôn ngữ vẫn thay đổi theo thời gian:

    Được in bên Pháp trên 100 năm trước, bộ tự điển này đã trở nên hiếm quý. Tại Hoa Kỳ chỉ có ở Thư Viện Quốc Hội và một số đại học lớn: Harvard-Yenching, Yale, Princeton, Cornell, Columbia, Univ. of Indiana, Univ. of Minnesota, Univ. of Wisconsin—Madison… Tại California, chỉ có ở UC Berkeley và UCLA.

    Cũng may, hai Đại Học Indiana và Wisconsin—Madison đã gia nhập hệ thống thư viện kỹ thuật số HathiTrust, và được Google Books hỗ trợ trong việc đưa cả bộ tự điển vào kho tài liệu dùng kỹ thuật số của hệ thống này. Nhờ thế công chúng có thể truy tìm và đọc miễn phí toàn bộ tự điển tại các trạm nối sau đây:

    Trong tổng kê các danh mục của hệ thống thư viện kỹ thuật số HathiTrust:
    https://catalog.hathitrust.org/Record/008868406
    Cuốn 1:
    Bản của thư viện Đại Học Indiana (bản này có chữ ký của tác giả, tặng viện giám đốc Trường Thuộc Địa của Pháp):
    https://babel.hathitrust.org/cgi/pt?id=inu.30000121927903;view=1up;seq=9
    Bản của thư viện Đại Học Wisconsin--Madison:
    https://babel.hathitrust.org/cgi/pt?id=wu.89119131050;view=1up;seq=9
    Cuốn 2:
    Bản của thư viện Đại Học Indiana:
    https://babel.hathitrust.org/cgi/pt?id=inu.30000121927911;view=1up;seq=9
    Bản của thư viện Đại Học Wisconsin--Madison:
    https://babel.hathitrust.org/cgi/pt?id=wu.89119131068;view=1up;seq=9
    Cho tới nay, hệ thống thư viện kỹ thuật số HathiTrust đã có trên 120 đơn vị cộng tác, gồm các thư viện nghiên cứu ở Mỹ (chủ yếu), Gia Nã Đại, Âu Châu, và Úc. Theo bản thống kê được cập nhật tháng 7-2017, hệ thống này đã số hóa được trên 7,770,000 nhan sách, gồm trên 15,822,000 cuốn sách:
    https://www.hathitrust.org/about

    Hi vọng trong tương lai, tất cả những sách báo hiếm quý hay tuyệt bản sẽ dần dần được số hóa và đưa vào hệ thống này, để công chúng cùng những nhà nghiên cứu có thể tìm đọc hay tham khảo.
    https://tranhuybich.blogspot.com/
     
  4. thiên chương

    thiên chương Công Dân

    [​IMG]

    Chào một nhà thơ mới!
    Gửi Phapxa Chan

    Thơ đầu tiên của Phapxa Chan xuất hiện trên Văn Việt đầu năm 2017 khiến tôi sững sờ. Vì đã biết sơ tin tức về anh ngoài đời, tôi không ngờ một ngòi bút trẻ đã có được sự vững vàng, có thể nói là “chín” cũng đúng, đến thế! Cấu tứ đâu ra đấy, ý tình nhiều độc đáo, câu chữ ít khi thừa, chứa sức mạnh bên trong và tự thân, và cả năng lực tung tẩy biến hóa cấu trúc… như một tay “chơi thơ” lão luyện! Sau gần một năm, giờ đọc lại đến lần thứ ba, vẫn không đổi nhận xét. Xin ghi lại những câu, những khổ thơ đáng nể:

    Chiều cuối năm
    người không nhà
    lên đỉnh núi
    đón mây sa

    chuyện xưa chuyện mới
    chợt xa xôi

    Một điều chợt nhớ
    lại quên...
    một điều định nói
    lại thôi...

    chân vẫn tin rằng đường có thật

    chỉ còn cái nhìn nhìn..

    Giao cảm thánh thần
    là hai hốc mắt
    nơi chứa
    những mặt trời
    đã tắt

    hóa thạch thành miếng thịt treo
    năm trăm năm trên gác bếp

    trăng rơi những mảnh cuối cùng
    ao thu sáng lên lần cuối

    cô gái rùng mình
    vấy một giọt café lên váy trắng

    Cặp đũa son
    trói chặt trong mớ thừng rau muống
    kết án chôn sống giữa bát tương

    Hai chiều hướng hình thành trong thơ Phapxa Chan từ những bài thơ đầu tay này: Một là tính cổ điển thăng hoa; không phải cổ điển bó chặt, định hình của các nhà nho, mà cổ điển của các du tăng, đầy thiền vị, lặng mà vang, hướng tới giải thoát. Hai là tính ấn tượng đi đến xuất biểu của cảm giác mạnh, gây ám ảnh đa đoan trần thế. Hai hướng dường như mâu thuẫn lại đan xen trong phần 1 của của tập bản thảo mà tác giả cho tôi đọc.

    Có lẽ vì thế mà ở các phần sau (2,3,4,5), tôi thấy anh tự bứt phá, tung thơ vào nhiều cảnh giới, thử những bút pháp khác nhau, những hình thức khác nhau từ thơ tự do đến thơ văn xuôi, thơ xếp hình… Không ít sự khác thường, ý lạ, cách nói nghịch lý như một kiểu “phá chấp”, neo được sự chú ý và kích lên lời tán thán thầm. Tiếc rằng phần lớn như đang phác thảo, đang ghi chép những tình ý nảy nở, chưa kịp định hình thành Bài Thơ có sự sống tự nó như một Sinh thể độc lập sau khi nghệ sĩ hoài thai đủ tháng đủ ngày thì đẻ ra và… chỉ biết nhìn nó sống chứ không thể tùy tiện nặn, sửa nó nữa.

    Có một điều nổi bật trong toàn bộ bản thảo Thơ Phapxa Chan: năng lực khai thác chiều siêu hình, trừu tượng, từ những chi tiết sống – rất hiếm trong truyền thống Thơ Việt mạnh về tả cảnh tả tình, cảm giác, kể lể, “trí tuệ” hơn một chút thì ẩn dụ, tượng trưng, triết lý,…

    Trong đó, có năng lực tự dõi bản thân như tách khỏi nó để quan sát như một khách thể, khá đặc dị, mà tôi phải dẫn nguyên một bài thơ để minh họa:

    Dài

    người về từ phố.
    cởi xiêm áo. bỗng thấy quãng đường vừa qua dài như một thập kỷ.
    một cái bóng mờ với điểm tiếp nối hai bàn chân cứ vươn dài mãi cái đầu về bất tận.
    như trẻ con nhìn đàn kiến, tìm mãi con đầu đàn. cái bóng vươn mãi, dài mãi, hút ngược về phố.
    người đứng lặng như tượng chết. chỉ đồng tử còn sống sót, đảo hết biên độ dõi theo cái bóng. những ngón tay bỗng theo một mệnh lệnh không từ não bộ, nhúc nhích, dài ra, vươn theo cái bóng.
    từ ngón giữa bàn tay trái, cả cơ thể bị kéo theo, dài mãi.
    đồng tử bất lực. nhìn. rồi đến lòng trắng nhìn lòng đen đi trước.
    đến lượt lòng trắng ra đi. hốc mắt nhìn.
    hộp sọ cũng mờ dài theo bóng.
    chỉ còn cái nhìn nhìn…

    Đề tài này từ một bài thơ ở phần 1 đã được khai triển thành một chuỗi thơ-văn xuôi ở cuối phần 4, theo dõi “Cái Tôi” phiêu giạt vào cõi hư-thực mộng ảo. Một giấc mơ dài mà tôi chưa biết cách giải, và có thể chính tác giả cũng không giải được. Đồ chừng đó là đoạn phim tự động quay những thời “quán tự tại” của một thiền giả đang vượt cảnh giới “sơ thiền”? (xin lỗi vì tự nhiên nhớ một đoạn viết-tự-động của bản thân gần 40 năm trước, sau khi tiếp xúc lần đầu với Kinh Phật: “Ai sơ thiền lên tam lên tứ đã xuất mộng đẩu tinh lại phóng về vọng tưởng ảo thân ảo giác ảo giang hồ còn dai dẳng phi phi phi tưởng xứ…”)

    Quá trình Thơ của Phapxa Chan khiến tôi chợt liên tưởng nhân vật chính trong cuốn “Câu chuyện dòng sông” của Herman Hesse: Một thầy tu trẻ tưởng như đã đắc đạo trên núi cao, bỗng một ngày bỏ hết công phu tu tập, xuống núi, trải nghiệm mọi sắc dục của cuộc đời trần thế… Để rồi cuối cùng, thực sự “ngộ” lẽ “sắc-không”.

    Phapxa Chan đang ở kỳ nào của quá trình “giác ngộ”? Tôi chưa biết, nhưng biết rằng có một Nhà Thơ Mới đang đi tới, cho dòng sông Thơ Việt tiếp tục chảy và trổ nhánh vào miền đất lạ…

    Mùa thu 2017
    Hoàng Hưng
     
  5. thiên chương

    thiên chương Công Dân

    'Hạnh phúc, khổ đau không tự nhiên' nhân-mệnh-luận qua 13 hệ thức toán học

    (Song hành: Truyện ngắn & lý thuyết toán xã hội học của Trần Hạ Tháp)

    1*
    Tay cầm viên phấn trắng, gã ngủ gật say sưa bên thành ghế. Thanh niên bước vào. Hắn yên lặng lượm nhặt những mẫu phấn cùn rơi vãi. Dòng chữ to trên bảng, dầy đặc các hệ thức toán rối rắm, dọc ngang vô trật tự: Biện luận về "hạnh phúc, khổ đau không tự nhiên".

    -Chào anh bạn lâu không ghé.

    -Đại huynh cứ bình thân. Có trà xịn đem theo. Phích nước sôi?

    Gã đứng dậy tay vẫn không rời viên phấn:

    -Trà dở đổ đi. Tao pha rồi quên uống. Đãng trí chút.

    -Chúc mừng phát kiến. Luận toán đi đại huynh, đã chán thời chúng sinh chuyên giẻ rách luận chữ. Thằng em đang muốn nghe những cái mới hơn. Không dám... Đãng trí còn tốt hơn đãng mất trí trăm lần.

    Vài tuần trà. Tiếng chép miệng "ngon ngon". Hai giọng cười sảng khoái.


    2*

    -Sao gọi "không tự nhiên"?

    -Hạnh phúc và khổ đau - theo tao - vẫn cứ nên phân biệt từ 2 nguồn cơn đưa đến: tự nhiên và "không tự nhiên"... Chủ thể áp đặt, tạo tác ra loại "không tự nhiên" chả do thiên mệnh hay ông trời nào cả. Chúng đều do đồng loại "ban cho" ở cả hai nghĩa mỉa mai hoặc hân hạnh. Đây rõ ràng là loại bị áp đặt hoặc do công khó mà nên. Có nghĩa, ngoài thiên mệnh còn có thứ "nhân mệnh" góp phần hoạch định hạnh phúc và khổ đau chúng sinh. Tất nhiên, khổ đau luôn thặng dư còn hạnh phúc thường giới hạn. Tại sao? Rõ ràng có những đồng loại chuyên dán mác "số trời" lên vô số hàng dỏm. Những mặt hàng khốn nạn do chính chúng làm ra...

    -Ví dụ cụ thể về cái gọi "không tự nhiên"?

    -Ai cũng phải chết, cái chết tất nhiên. Thiên mệnh miễn bàn. Nhưng mặt khác bên cạnh, giả như con người hân hạnh được tăng thêm tuổi thọ hoặc đáng tiếc bị giảm sút đi, là còn tùy môi trường và nhiều thứ khác chung quanh... Hậu quả ấy do chính tay "đồng loại" - gián hay trực tiếp - đã và đang ngày đêm đem đến. Tăng, giảm tuổi thọ không hề do thiên định. Vì thế, những hậu quả bất bình thường loại ấy - cả hạnh phúc và khổ đau - liệt vào dạng thức "không tự nhiên".

    Loại tự nhiên như động đất, bão tố, núi lửa... vv không bàn luận ở đây. Điều đáng nói đặc biệt ở mặt khổ đau "không tự nhiên". Nó khẳng định tồn tại bóng đen, nanh vuốt và tiếng cười to ác hiểm. Tệ hại, lắm khi ngay cả hạnh phúc vốn đã sẵn trong tay con người cũng vẫn bị giật đi, cướp lấy. Tao cho đó phần lớn, hiện thân các thể chế độc tài trên con đường nhân loại đi qua...

    -Không sai. Nhấn mạnh thêm điều gì kỳ dị, bất thường?

    -Thật đáng tiếc khi có những khổ đau vẫn đang còn trong khả năng cải thiện - lẽ ra chưa hết cách - đồng loại vẫn cứ vô cảm áp đặt, đẩy con người vào tuyệt lộ. Để rồi... mẹ nó, cứ việc lấp liếm, đổ thừa cho "mệnh trời, thiên số". Thực ra, chỉ vì lợi ích riêng các nhóm thiểu số đầy quyền uy bạo lực. Với dục vọng và lòng tham không đáy, chúng cố tình bất chấp tất cả. Cứ mặc nhiên buộc con người chấp nhận những khổ đau - lẽ ra - "không đáng có". Lũ "trời con" thực sự...

    -Chí lý. Tổng quát liệt kê ngay thời hiện đại đi đại huynh..?

    -Giả như - tao nói giả như - an ninh quốc phòng nhược tiểu, mãi phô bày khí chất "trùm chăn" giúp cho họa xâm lăng đem dã tâm dòm ngó. Nội an, bạo lực và khủng bố tràn lan khiến tánh mạng, tài sản và danh dự con người dần tăng thêm đe dọa.

    Kinh tế lọt vào tay các nhóm lợi ích kiêm quyền lực thủ đoạn. Bất công và tham nhũng tạo suy kiệt và xâm hại lớn đến tài sản, lợi ích chung đa số. Phân công trong xã hội theo "tập ấm" phong kiến trá hình. Cuộc ban cấp đặc quyền đặc lợi cho loại vô tài bất tướng...Tất cả sẽ trực tiếp tạo ra guồng máy điều hành xã hội ngày càng trì trệ, tổn hao khủng khiếp. Các loại nợ chồng chất lên đầu người đóng thuế, lây lan qua thế hệ mai sau phải còng lưng khuân vác.

    Lượng nhân tài thực sự ra rìa quá lớn, chất xám bị "chất bùn" bông đùa và coi rẻ. Sự nghiệp giáo dục thậm thụt, xa rời thực tế và khuyến khích mãi cái học từ chương. "Văn chọt, bằng chạy" thành nề vào nếp. Khuynh hướng tâm hồn vô cảm lên ngôi để bất cần nhân luân và trí tuệ.

    Nền vệ sinh y tế thoái trào, cố ý bất lực quản lý trước nạn ô nhiễm môi trường ngày một gia tăng khiến sức khỏe cộng đồng xuống cấp. Lắm mối nguy cơ về bệnh tật khiến con người suy nhược và giảm nhanh tuổi thọ.

    Công lý "méo, lệch cân" kéo luật pháp về hùa với tiền bạc và quyền uy thiểu số. Gian, ngay, sai, đúng đổi chỗ nhau như ảo thuật. Oan khiên và bất công chất chồng lên thân phận khốn cùng, xóa nhòa đường phân ranh thiện, ác.

    Hậu quả, mọi nguồn sinh lực của con người - vật chất lẫn tinh thần - sẽ kiệt quệ. Như trong một thân thể, sức đề kháng bình thường tối thiểu dần tiêu vong để cuối cùng biến mất. "Nhân mệnh" lắm lúc giết hại con người còn sớm hơn, thiên mệnh. Thiên nhiên vô tình còn con người vô cảm.

    Đấy, tao chỉ "giả như" mới chừng ấy. Những mối hiểm nguy không từ trên trời rơi xuống để nguyện cầu khấn vái. Nó đẩy con người về phía đớn hèn, a dua, học theo như một cách tìm nương thân lánh họa. Thậm chí trở nên quyền thế...

    -Ôi, "nhân mệnh"! Xuất xưởng của "mặt hàng thân phận".

    -Tao nói lại cho rõ "nhân mệnh" cái phần "mệnh số nhân tạo" vốn xấu nhiều tốt ít của con người - thứ chết tiệt - đã và đang ngày đêm áp đặt...

    3*

    Bình trà cạn. Hai người đứng trước bảng đen. Tay vẫn cầm viên phấn, gã nói viết xoành xoạch hòa lẫn những tiếng chưởi thề. Điếu thuốc cháy dở bị bỏ quên trên bàn nước.

    -Gọi loại khổ đau "bất bình thường" là hậu quả liệt kê từ những điều khốn nạn kia mà con người bị áp đặt từ đồng loại, kí hiệu khổ đau (Kđ). Bản chất (Kđ) nầy, không bao giờ triệt tiêu cho tới chết. Chỉ còn mong tiệm cận 0 là quá quý. Đmẹ nó, (Kđ) luôn dương dù nhiều hoặc ít vẫn tồn tại như thường. Sờ sờ, không có chuyện ảo hay âm gì vớ vẩn.

    -Ngoại trừ đối với Phật thánh, siêu nhân... là ngoại lệ?

    -Tao đâu nói cảnh giới "Phật quốc, niết bàn" ở đây. Phật Thích Ca cũng từng gọi ta bà nầy là biển khổ. Kí hiệu (Kđ) được phát biểu:


    (Kđ) >> 0 hay là (Kđ) luôn dương cũng thế (hệ thức thứ 1)
    -Còn hạnh phúc? Vóc dáng toán học của "em đầy khêu gợi". Ai cũng muốn "dòm" nơi đó...

    -Đơn giản, chú em. Đều cùng là "bất bình thường" cả. Hạnh phúc loại nầy có tương quan biện chứng với khổ đau như ở trên từng nói. Nó tăng giảm theo nhau qua tỉ lệ thức nghịch đảo. Gọi (Hp) là kí hiệu hạnh phúc "bất bình thường", do công khó của chính con người tạo tác. Ví dụ như dịch vụ đường sá lưu thông chẳng hạn. Đương nhiên tốt nhưng tai nạn giao thông phát sinh khủng khiếp còn phải xem tăng giảm? Phát biểu:


    (Hp) = 1/ (Kđ) (hệ thức thứ 2)
    Từ phát biểu (Kđ), có thể nói riêng về (Hp) rằng, hiển nhiên khi (Hp) giảm thì (Kđ) tất phải tăng. Cách khác, khi (Hp) tăng cũng có nghĩa (Kđ) tất giảm. (Hp) không bao giờ "vô nghĩa" do (Kđ) luôn dương, không triệt tiêu để hệ thức (2) ấy có mẫu số bằng 0, trừ khi chết.

    -Rồi... Mối "bang giao" hùng hục giữa hai "đồ nghề" nầy đã bắt đầu lấp ló. Có hé ra "hổn hển" rồi. Ha ha, đã bắt đầu đổ mồ hôi. "Phê" líu...

    -Toàn "phụ đề việt ngữ" ba trợn. Cử nhơn sư phạm toán, chú mi hết mê toán khi nào? Tao, tiền mấy cục phấn vợ cho. Mua rời, còn không dám chơi nguyên hộp. Đm nó, cái đời...

    -Ê đói rồi, chưa ăn sáng. Tạm ngừng phim "hot" đi kiếm mấy ổ mì nghe đại huynh? Về vừa nhai vừa "thuyết pháp" toán học.

    4*

    -Tốt. Để tao "phen" ra thử. Coi, bánh mì nầy có cả trứng và thịt kho. Đm chừ mới no đây, ngon. Chú em đang cho tao một (Hp) nho nhỏ, đích thực.

    -Đúng ra với đại huynh, cái (Hp) nhỏ nhỏ nầy đáng chó gì? Là (Hp) "rất tự nhiên" mới phải, không dè đây biến thành (Hp) "bất tự nhiên". Đm nó. Chó má...

    -Cảm ơn...

    -Đừng cảm ơn. Nếu vậy cứ chấp nhận cái (Kđ) khổ đau "phi lý đói" là do "thiên số" tự nhiên ban cho loại người như đại huynh chắc? Ôi, những khổ đau "không đáng có" những khổ đau "chết tiệt". Đáng lẽ...

    -Làm gì cho cái "đáng lẽ"? Nó cứ vẫn "đẻ láng" ra ngay trước mặt mọi người. "Đáng lẽ" hay vẫn cứ "đang lè" ra dây thòng lọng?

    Thanh niên đột nhiên sôi giận. Hắn cố nén lại khi muốn bước ngay ra cửa gào thét:

    -Đm nó. Cái "nhân mệnh" tả tơi của cùng đinh thân phận.

    5*

    Rít một hơi thuốc dài, gã hưng phấn cầm lấy ngay viên phấn:

    -Tao nói tiếp mối "bang giao" hùng hục giữa khổ đau (Kđ) và hạnh phuc (Hp). Giữa những thứ mất đi "không đáng mất" và ngược lại thứ cứ có, thay vì "không đáng có"... Đây, giả như tao lấy (Hp) trừ đi (Kđ). Gọi hiệu số (Đh) là kết quả nói lên mức độ "điều hòa" cho cuộc sống của con người. Phát biểu:

    (Đh) = (Hp) - (Kđ) hay (Đh) = [1/ (Kđ)] - (Kđ)

    Viết cách khác để hóa đồng mẫu số chung (Kđ):


    (Đh) = [ 1 - (Kđ)2 ] / (Kđ) (hệ thức thứ 3)
    Nhắc lại giả thiết với (Kđ) >> 0 là luôn dương, khác 0. Ta có 3 trường hợp sau đây cần biện luận:

    Trường hợp 1: khi (Đh) = 0

    Nói lên rằng, mức hạnh phúc tương đối quân bình với mức độ khổ đau. Là lúc con người có sướng có khổ điều hòa, không chênh lệch. Đó cũng là mức "bình thường đúng nghĩa". Nói cách khác con người chưa nhận được những hạnh phúc trội yếu bất thường, song cũng không bị đồng loại áp đặt những khổ đau "không đáng có". Ví dụ tao nhớ những vùng, xứ sở... như đảo quốc Tích Lan chẳng hạn. Có văn minh gì lắm đâu? Nhưng các thảm họa do đồng loại "ban tặng" cũng hiếm thấy phát sinh. Phát biểu khi (Đh) đang ở mức quân bình, bằng 0:


    (Đh) = [ 1 - (Kđ)2 ] / (Kđ) = 0 (hệ thức thứ 4)
    Có nghĩa, lúc nầy (Kđ)2 = 1 hoặc (Kđ) = 1 cũng thế. Tổng quát hiệu số (Đh) = 0/ 1 = 0. Dễ suy ra các chỉ số riêng cho (Hp) và (Kđ) lúc nầy đang tương đẳng bằng nhau, cùng một mức đơn vị 1:


    (Hp) = 1/(Kđ) = (Kđ) = 1 (hệ thức thứ 5)
    Trường hợp 2: khi (Đh) < 0

    Nói lên rằng, mức hạnh phúc xuống cấp trầm trọng, không còn quân bình với mức khổ đau đang lấn lướt... Đây là mức không bình thường. Nói cách khác con người toàn nhận chịu những bất hạnh, những khổ đau (Kđ) triền miên "không nên, không đáng có". Tất nhiên, phần hạnh phúc (Hp) đồng thời giảm sút đi, tỉ lệ nghịch nên (Kđ) đang tăng lên dồn dập. Những khổ đau nầy do đồng loại áp đặt, đem đến. Có quá nhiều xứ miền, quốc gia để ví dụ ở đây... thiếu gì? Phát biểu khi (Đh) bị tụt xuống dưới 0, để trở thành chỉ số âm bất hạnh:


    (Đh) = [ 1 - (Kđ)2 ] / (Kđ) < 0 (hệ thức thứ 6)
    Có nghĩa, lúc nầy (Kđ)2 > 1 hoặc (Kđ) > 1 cũng thế. Tử số âm, mẫu số dương nên hiệu số (Đh) < 0. Dễ suy ra các chỉ số cho (Hp) và (Kđ) lúc nầy chênh lệch nhau so với mức quân bình, không còn ngang đơn vị 1:


    (Kđ)2 > 1 có nghĩa (Kđ) > 1 (hệ thức thứ 7)
    Mặt khác, đồng thời:


    (Hp) = 1/ (Kđ) suy ra (Hp) < 1 (hệ thức thứ 8)
    Trường hợp 3: khi (Đh) > 0

    Nói lên rằng, mức hạnh phúc tăng cao đầy hứa hẹn, không còn quân bình với mức khổ đau đang giảm xuống... Đây cũng là mức không bình thường. Con người đang may mắn, nhận được các phúc lợi (Hp) nhiều hơn so những bất hạnh (Kđ) "không đáng có" dần bớt đi thấy rõ. Có không ít quốc gia, xứ miền... để ví dụ ở đây. Tuy chưa quá nhiều song chẳng phải là ít. Phát biểu khi (Đh) được nâng lên trên 0, trở thành chỉ số dương đáng hướng về, đáng sống:


    (Đh) = [ 1 - (Kđ)2 ] / (Kđ) > 0 (hệ thức thứ 9)
    Có nghĩa, lúc nầy (Kđ)2 < 1 hoặc (Kđ) < 1 cũng thế. Tử số dương, mẫu số dương nên hiệu số (Đh) > 0. Dễ suy ra các chỉ số cho (Hp) và (Kđ) lúc nầy chênh lệch nhau so với mức quân bình, cũng không còn ngang đơn vị 1:


    (Kđ)2 < 1 có nghĩa (Kđ) < 1 (hệ thức thứ 10)
    Mặt khác, đồng thời:


    (Hp) = 1/ (Kđ) suy ra (Hp) > 1 (hệ thức thứ 11)
    6*

    Thấy thanh niên chạy xe đem về con khô mực và 5 chai bia hạng bét. Gã vội chùi tay phấn vào quần. Thanh niên đập đá cục, ngậm ngùi:

    -Bao giờ cho tới loài "hưu cao cổ" đây, đại huynh? Khi mà (Đh) phải ở mức độ dương...

    -Thôi, uống đi. Loài "hưu cao cổ". Cỏ tàn lụn dưới chân, chỉ còn cỏ ở bên kia triền đá.

    -Gì nữa không? Qua 11 hệ thức phát biểu.

    -Sự khốn nạn. Quân "cướp đường thời đại"...

    Im lặng nhai khô mực hồi lâu. Gã vung tay lên bảng:

    -Quyền lực ma mị. Trong trường hợp thứ 3, trường hợp các "loài hưu cao cổ" đang ngóng trông, thèm khát. Khi hệ thức (Đh) > 0 nghiêm chỉnh. Đặc biệt còn phải tế phân hai kết quả cách xa nhau trời vực... Quân "mãi lộ" đón đường.

    -Quái? Có phải là hạnh phúc (Hp) tăng cao và (Kđ) khổ đau đang giảm xuống. Trường hợp đáng mơ, đáng sống hay sao?

    -Đúng và chỉ đúng khi "đại đa số" con người trong cộng đồng làm chủ thật sự công thức ấy. Giả như - tao lại nói giả như - ngược lại, chỉ một "thiểu số" mà thôi. Thiếu số ấy - bằng mọi thủ đoạn - dùng bạo lực đoạt lấy (Hp) từ tay đại đa số. Chúng thủ đắc để biến thành của riêng bọn chúng... Đại đa số con người trong cộng đồng lúc ấy đều trở thành nạn nhân của kẻ cướp độc tài. Những gì vốn "đương nhiên có", nay biến mất không còn. Chúng xảo trá mượn danh nghĩa đại đa số, núp dưới chiêu bài "ủy thác" để thâu tóm (Hp). Loại "thiểu số thời cơ đầy thủ đoạn".

    Thường thì quyền phổ thông đầu phiếu công minh để nói lên giá trị bình đẳng của từng mỗi một con người. Quyền ấy phải được thể hiện rõ, cụ thể tự chính tay mỗi cá nhân. Không thể, không chấp nhận một "ủy thác qua tay" với bất kỳ lý do nào... Chỉ với con đường nầy, quyền lực mới thật sự nằm trong tay đa số. Ngược lại, bị "ủy thác bóp cổ" thì quyền lực nghiễm nhiên rơi vào tay thiểu số ăn gian và cướp đoạt.

    Sự ngụy biện về dân chủ qua các thuật từ chế biến không che dấu được ai: "dân chủ đại diện", "dân chủ ủy thác", "dân chủ quy về"... Cái (Hp) kia lẽ ra là của chung, giờ đám đại đa số thành trắng tay, bất lực. Với quyền lực độc tài trong tay, thiểu số kia không ngần ngại dập tắt mọi phẫn uất mang tiếng nói sự thật. Bi-thảm-kịch nhân loại. Kẻ cướp đã lên ngôi và chấp chánh.

    -Trên cả ngụy biện còn gọi là quỷ biện. Đó là lúc ngụy biện có thêm quyền lực đỡ đầu, trấn lột.

    -Mặc kệ cái "đáng lẽ" tội nghiệp của đa số. Bọn độc tài cứ "đẻ láng" ra, bất chấp. Từ ấy, cái chân lý đã biến thành "chi lấn"...

    Một cú đấm mạnh bất ngờ. Bụi phấn bay đầy. Gã trợn trừng như nhìn xuyên qua tấm bảng. Im lặng, chẳng ai mãi chưởi thề và cứ chưởi thề thêm nữa. Cũng không nói. Không ai cần nghe ai nói thêm gì. Gã loạng choạng đi tới bàn quơ tay. Thanh niên rót ra tách trà. Gã từ khước, gạt đi. Tự tay chụp lấy bình, hút vào vòi tự uống.

    Bình trà đặt xuống. Thanh niên cầm lấy, cũng tự nốc bằng vòi không cần rót phải ra. Lượm viên phấn gãy vụn bỏ lên bàn, hắn bình thản:

    -Làm thế nào? Qua ký hiệu toán học, đại huynh biểu diễn rõ ra ai? Thành phần đại đa số? hay thiểu số? Khi làm chủ (Hp) kia? Loại (Hp) > 0 trong trường hợp thứ 3 đầy biến ảo...

    Gã bỗng nổi cười hô hố, đưa ngón cái lên trời:

    -Hỏi cực kỳ thông minh, xuất sắc. Có ngay luôn... chú em.

    -Ly chúc mừng, đại huynh. Một "thiên tài" nhưng chưa bao giờ đủ "thai tiền" tự nuôi thân không phải cần xin vợ...

    Gã viết ngay lên bảng hai công thức kỳ dị:

    -Trong trường hợp thứ 3 biện luận. Là lúc chỉ số điều hòa (Đh) > 0 hay dương cũng thế. Đã nghiệm thu (hệ thức thứ 11) nói trên:

    (Hp) = 1/ (Kđ) suy ra (Hp) > 1

    Cũng một kết quả ấy (Hp) > 1 vẫn có thể viết lại thêm 2 cách khác nữa để phân biệt chúng trên hình thức nhận dạng, tất nhiên không làm khác đi kết quả. Giả sử với một số (n) nguyên, dương bất kỳ nhằm nói lên ý nghĩa cộng đồng người chẳng hạn. Phát biểu:

    Cách thứ 1: Dùng hình thức lũy thừa.


    (Hp) > (1)n (hệ thức thứ 12)
    Ý nghĩa, nói lên sự đại diện chung nhất cho đa số. Ở đây, đáng ra có đến (n) lần cá thể 1 tham dự ở vế sau. Lũy thừa đã khiến tất cả chúng mất đi "tự hiện hữu", ngoại trừ duy nhất chỉ còn con số (1) trong ngoặc đơn làm "đại diện". Hình thức nầy "cảnh báo" cho tình trạng đang độc tài thiểu số. Giá trị (Hp) mặc dù được giữ nguyên nhưng sự "chấp chánh" mang hình thức "thiểu số" rõ ràng. Sự "chấp chánh" ấy nghiễm nhiên đoạt lấy vai trò "đại diện". Nói rằng, lúc nầy (Hp) đã bị "thiểu số thế thân" và cưỡng đoạt. Phát biểu hệ thức thứ 12, có thể gọi hệ thức Độc tài thiểu số. Đặc tính giản lược của thuật toán lũy thừa được trưng dụng, cố ý nói lên ý nghĩa "ẩn tàng": Kiểu dân chủ đã "thu về đại diện".

    Cách thứ 2: Dùng hình thức "tự hiện hữu lấy" mà "không thông qua một "ủy thác" nào. Có nghĩa, kiểu "đại diện" của lũy thừa biến mất. Tất cả đa số, dẫu bao nhiêu thành phần ở vế sau đi nữa. Tất cả mỗi thừa số, "đều lần lượt và đích thân" hiện hữu.


    (Hp) > 1.1.1...(n lần thừa số 1) (hệ thức thứ 13)
    Ý nghĩa, không chấp nhận một đại diện chung nhất nào cho đa số. Không cần "ủy thác" vào chỉ riêng một con số (1) mà thôi. Điều nầy đòi hỏi - ngay cả mặt hình ảnh - phải đồng đều xuất hiện từng mỗi một cá thể cho đến hết tập thể, cộng đồng nầy. Hình thức nầy loan báo không cho phép tình trạng độc tài thiểu số lên ngôi. Giá trị (Hp) được giữ nguyên với sự chấp chánh đích thực mang hình thức đa số. Sự chấp chánh phủ nhận hẳn vai trò "đại diện" với bất kỳ lý do nào và, tự đa số ấy làm chủ. (Hp) không thể bị trấn lột vào tay thiểu số. (Hp) phải trở lại với cộng đồng đa số. Phát biểu hệ thức thứ 13, có thể gọi hệ thức Dân chủ đa số. Thuật toán thừa số nguyên thủy đồng loạt được trưng dụng, cố ý nói lên đòi hỏi công khai và minh bạch của tự mỗi cá-nhân-thừa-số.

    7*

    Mấy chai bia đã khiến gã nằm say. Mở mắt thấy trời chiều. Trên mặt bàn, tờ 5 chục ngàn dằn dưới một hộp phấn trắng nguyên xi. Ngó quanh lặng lẽ, chú em thanh niên bỏ đi tự bao giờ.

    Ngồi dậy, gã đọc trên bảng mấy dòng chữ của chàng ta viết tháu:

    "Quan trọng, sự biện biệt của tri thức văn minh vẫn cứ là cần thiết trước tất cả. Toán học ngoài trách nhiệm xác tín của một khoa học tự nhiên cố hữu, nó phải được trưng dụng nhiều hơn, nhất là để góp phần làm sáng tỏ vấn nạn về nhân văn xã hội. Ô kê, đại huynh. T/b: Tuần sau cá rô đồng và rượu làng Chuồn chánh hiệu..."

    (vườn tượng – 16/11/2017)
    Trần Hạ Tháp Chim Viet
     
  6. thiên chương

    thiên chương Công Dân

    Thưa Người, ngài có quyền có quyền cắt xóa đục bỏ. Nhưng chủ đề"Tiếng Việt" không chỉ là... mà còn những chứng tích, những đau thương, những đau khổ thành lịch sử, hãy để cho lớp trẻ sau cảm được trăm ngàn nỗi truân chuyên của Việt Ngữ, thâm tạ.

    Nancy Nguyễn - NHỮNG QUẢ NHO... DỮ DỘI!
    Đọc để thấy tâm hồn mình quặn thắt, từng dòng chữ như máu và nước mắt đang rơi.
    [​IMG]

    Bài viết của một cô bé quá hay làm xúc động người đọc vì đã diễn tả chính xác và rất thật cho tâm trạng của tuổi thơ nghèo khó..

    NHỮNG QUẢ NHO... DỮ DỘI!
    Nancy Nguyễn

    Đất nước tôi, một rẻo đất tẻo teo khốn khó nép mình bên rìa Thái Bình Dương quanh năm giông bão, của cả trời đất lẫn nhân sinh, trong suốt gần một thế kỷ, chưa có một ngày đứng gió.

    Mỗi một mười năm, là một cơn dâu bể đầy khinh ngạc của kiếp người, của dân tộc. Không cơn dâu bể nào giống cơn dâu bể nào, ngoài một điểm chung duy nhất: Niềm đau.

    Những người sinh ra vào khoảng năm 20 phải chứng kiến đất nước bị xâm lăng và đô hộ. Một đất nước không chùn bước trước vó ngựa Nguyên Mông, bỗng một ngày trở thành thuộc địa, đó, chẳng phải là một biến cố lớn?

    Nhưng chỉ 10 năm sau đó, những người sinh ra thời 30, phải chứng kiến cảnh đau thương hơn nhiều lần: Đất nước chia đôi, nồi da nấu thịt. Súng của ngoại bang chĩa vào da thịt người mình. "Xương chất đầy đồng, máu chảy thành sông". "Niềm đau" có là một danh từ quá nhẹ?

    Mười năm sau, hơn hai triệu con người người sinh vào những năm 40 phải gồng gánh nhau, dắt díu nhau bỏ lại nhà cửa ruộng vườn, bỏ lại phần mộ tổ tiên để chạy loạn. Dân tộc tôi chứng kiến một cuộc di cư lớn chưa từng có trong lịch sử. Và nếu không phải do bị cấm cản, cuộc thiên di ấy có lẽ sẽ còn vĩ đại hơn nhiều. Và như thế, dân tộc tôi đã bắt đầu rách bào, chia đôi, bắt đầu viết những trang sử sau đó bằng nước mắt và bằng máu.

    Những người sinh khoảng năm 50, ngắn gọn là: Một dân tộc, hai định mệnh! Tôi không còn chữ nghĩa nào hơn để diễn tả nỗi bất hạnh cùng cực ấy.

    Những người sinh khoảng năm 60, chứng kiến sự sụp đổ của một thể chế, sự tái thống nhất một đất nước, và sự chia đôi vĩnh viễn của lòng người. 40 năm qua đi mà vết cứa vẫn rịn máu tươi. Vết thương lòng chưa thấy ngày se mặt.

    Những người sinh khoảng năm 70 có cơ hội chứng kiến cuộc thiên di thứ 2 trong lịch sử. Hàng triệu triệu con người phải mạo hiểm tính mạng bản thân, gia đình, để tháo chạy khỏi quê hương. Đất nước tôi đó, những năm tháng lầm than, kêu trời không thấu, kêu đất chẳng nghe. Dân tộc tôi lạc lõng, bơ vơ như những con thuyền lênh đênh trên biển.

    Và những người sinh vào những năm 80, là tôi đây, 10 năm sau "giải phóng", những-tháng-năm-cấm-vận.

    Có lẽ ký ức tuổi ấu thơ là những ký ức hằn dấu nhất, ám ảnh nhất của một đời người. Tôi nhớ hoài mẹ tôi, bà đáng ra còn trẻ lắm, mà dáng đã còm cõi, bà bòn từng đồng, lo chạy bữa cho con. Có những ngày trời mưa, mẹ tôi ngồi co ro bên vệ đường, gánh hàng quạnh hiu. Bà chẳng lo mình sẽ nhiễm phong hàn, chỉ lo làm sao cho đủ sống! Có đất nước nào khốn nạn như đất nước tôi? Có bà mẹ nào khốn nạn như mẹ tôi, người mẹ Việt Nam? Tôi lớn lên, mang theo trong tiềm thức vóc dáng mẹ tôi, còm cõi như đòn gánh, co ro như một dấu chấm hỏi. Một dấu chấm hỏi xiêu vẹo trong những ngày mưa.

    Tuổi thơ tôi gắn với những ngày mưa Sài Gòn, xoong chảo nồi niêu, có gì... hứng nấy bởi cái mái tôn nhà tôi... "đưa ánh nắng vào nhà" (mẹ tôi bảo thế), đêm nằm có thể nhìn thấy trăng sao. Những khi trời trở bão, gió giật từng cơn, tôi sợ sấm sét chui qua lỗ đinh vào nhà.

    Tôi nhớ đôi dép cọc cạch, bên trái con trai, bên phải con gái, mẹ tôi bảo dép "uyên ương". Chiếc bên trái là của anh Hai để lại, chiếc bên phải mới là của tôi. Và cả hai chiếc đều vá chằng vá đụp, bằng chỉ bố, mẹ để dành từ quân phục của ba. Quần áo mới chỉ được bận 3 ngày tết, và cũng là của anh hai tôi để lại. Mẹ luôn mua rộng ra mấy tuổi, anh Hai bận chật rồi đến phiên tôi. Quần áo của con trai đấy, nhưng chỉ cần mới, chỉ cần không... vá đít là đủ hấp dẫn rồi!

    Và quả nho, những quả nho... dữ dội nhất của tuổi thơ tôi. Tết năm đó, chỉ duy nhất Tết năm đó, mẹ tôi mua nho Mỹ về biếu nội. Những quả nho mẹ chắt chiu từ gió sương của cả năm trời, gom góp lại để biếu mẹ chồng dịp tết đến. Những quả nho mập ú, căng tròn, hệt như trong phim Mỹ, giống y chang mấy chùm nho... giả, loại những quán sinh tố trong xóm hay treo làm cảnh. Trời ơi! Dòn! Mọng! Ngọt! Mẹ đã dặn đi dặn lại không được ăn, mẹ còn cất tuốt lên nóc tủ. Vậy mà mấy trái nho như có ma lực, cái đứa tôi như bị thôi miên! Tôi lén trộm một trái. Trời ơi! Ngon! Rồi 1 trái nữa, rồi trái nữa! Từng trái, từng trái một, như một kẻ đã hoàn toàn mộng muội, không còn có thể cưỡng lại được sự quyến rũ phát ra từ mấy trái nho. Mẹ sẽ đánh nát tay tội ăn vụng, tôi nghĩ, tay... vẫn tiếp tục công cuộc... mưu cầu hạnh phúc.

    Cảm giác tôi lúc đó vừa hoảng loạn, vừa lo sợ, vừa... sung sướng, vừa sung sướng, vừa hoảng loạn sợ hãi. Tột cùng của sự hoảng loạn sợ hãi là khi chùm nho của mẹ chỉ con trơ lại cọng. Khốn nạn thân tôi! Rồi tôi sẽ phải sống tiếp phần... ngày còn lại ra sao đây? Vậy mà mẹ không đánh tôi. Bà chỉ ôm tôi vào lòng... và khóc, khóc gào lên, khóc trào ra. Khóc như một đứa trẻ. Mẹ tôi đó. Ôm con vào lòng, gào khóc lên như trút hết hơi sinh vào từng tiếng nấc.

    Năm tháng qua đi, cuộc đời mang lại cho tôi thừa mứa. Giờ tôi muốn ăn gì thì ăn, muốn đi đâu thì đi, muốn mua gì thì mua. Tôi ngán đủ thứ, chả muốn ăn gì, chỉ còn ăn được mỗi nho. Bởi với nho, tôi không ăn bằng trực giác, mà thưởng thức bằng mùi vị của ký ức. Và vì với nho, tôi mua được một vé đi tuổi thơ. Hai mươi mấy năm trôi qua, ký ức vẫn chưa ráo mực. Mỗi lần ăn nho, tôi thấy mình bé lại, và được một bàn tay vô hình kéo tuột về thủa ấy, những-năm-tháng-cấm-vận.

    Tôi chỉ là một cá nhân, một cá thể, trong một tập thể những con người thế thệ 8x. Và chỉ là 1 thế hệ, trong nhiều thế hệ con người. Nhưng nói như một nhà văn Nga: "Cây đời có hàng triệu chiếc lá, và nói về một chiếc lá, là cũng đang nói về hàng triệu chiếc lá khác".

    Cứ mỗi mươi năm, con Tạo quái ác xoay vần, là dân tộc tôi lại được gán cho một định mệnh mới. Tôi đã nghe rất nhiều người bảo tôi "thời em sướng rồi, thời của anh khổ lắm", còn tôi, tôi chỉ thấy thời nào cũng khổ. Và chẳng cái khổ nào giống cái khổ nào. Cái nào cũng "đặc thù" và cái nào cũng "nhất"!

    Người mình khổ quá, đất nước mình đau thương quá. Phải không mẹ? Phải không anh?

    Facebook Nancy Nguyen
     
  7. thiên chương

    thiên chương Công Dân

  8. thiên chương

    thiên chương Công Dân

    Một bài thơ viết bằng toàn tên những bản nhạc

    [​IMG]
    250 tên bài Ca đã đi vào lòng người.

    Quê em BIỂN MẶN dừa xanh
    Sóng tình HOA BIỂN dổ dành người thương
    KIẾP NGHÈO một nắng hai sương
    LỐI VỀ XÓM NHỎ cuối đường cầu tre
    Đượm nồng TÌNH THẮM DUYÊN QUÊ
    Rung rinh GÁNH LÚA hẹn thề đêm trăng
    NƯƠNG CHIỀU khói toả lều tranh
    Vài con BƯỚM TRẮNG lượn quanh liếp cà
    HƯƠNG THẦM còn mãi TÌNH XA
    BUỒN VƯƠNG MÀU ÁO còn ra nổi này
    CON THUYỀN KHÔNG BẾN có hay
    THU SẦU, CHIỀU TÍM tháng ngày đơn côi
    TRĂNG MỜ BÊN SUỐI ngàn đời
    Sao MÙA THU CHẾT còn rơi rớt nhiều
    ĐÈN KHUYA một bóng cô liêu
    MÙA THU CÒN ĐÓ tình yêu ngỡ ngàng
    ĐÒ CHIỀU chưa tiễn người sang
    NỔI LÒNG sao biết THIÊN ĐÀNG ÁI ÂN
    TRÚC ĐÀO rụng khắp đầy sân
    DUYÊN QUÊ mong gặp một lần cho vơi
    NỔI BUỒN HOA PHƯỢNG trong đời
    DẤU CHÂN KỶ NIỆM một thời học sinh
    Và TRANG NHẬT KÝ riêng mình
    Làm sao có được chuyện TÌNH THIÊN THU
    CÔ ĐƠN nhìn GIỌT MƯA THU
    Nghe như TUYẾT LẠNH âm u sao đành
    Lật từng LƯU BÚT NGÀY XANH
    Thấy như LỆ ĐÁ vây quanh NỖI NIỀM
    SẦU ĐÔNG chẳng phải của riêng
    BÓNG CHIỀU TÀ nhạt, PHỐ ĐÊM hững hờ
    ĐÒ CHIỀU chở mấy LÁ THƠ
    KHUNG TRỜI TUỔI MỘNG, TÌNH BƠ VƠ sầu
    Ôi NHỮNG ĐÓM MẮT HỎA CHÂU
    NỦA ĐÊM NGOÀI PHỐ nhuốm màu thê lương
    MONG NGƯỜI CHIẾN SĨ sa trường
    Vào trong CÁT BỤI gíó sương không sờn
    Để ai GIẤC NGỦ CÔ ĐƠN
    NGƯỜI ĐẸP YÊU DẤU, DỖI HỜN phòng the
    Từng đêm TRĂNG SÁNG VƯỜN CHÈ
    TRĂNG MỜ BÊN SUỐI nghe se sắt lòng
    CÔ ĐƠN, TÌNH NHỚ, phòng KHÔNG
    NGHÌN TRÙNG XA CÁCH nhớ mong ngập trời
    NẮNG CHIỀU giăng sợi đơn côi
    GIỌT MƯA TRÊN LÁ khóc đời hợp tan
    Bao giờ em bước SANG NGANG
    GIỌT LỆ SẦU khóc CHIỀU HOANG VẮNG người
    GA CHIỀU, NHƯ GIỌT SẦU RƠI,
    TẦU ĐÊM NĂM CŨ biết NGƯỜI VỂ đâu
    XÓM ĐÊM, TRĂNG RỤNG XUỐNG CẦU
    TÌNH BUỒN biến SẮC HOA MÀU NHỚ thương
    Cho em ĐÔI BÓNG bên đường
    Chung HAI LỐI MỘNG một phương trời hồng
    Sá gì ẢO ẢNH, ĐÊM ĐÔNG
    NỔI BUỒN GÁC TRỌ chờ mong ngày về
    NGĂN CÁCH, MẤY DẬM SƠN KHÊ
    ĐƯỜNG XƯA LỐI CỦ trăng thề còn đây
    Tình yêu CHIẾC LÁ THU PHAI
    LÂU ĐÀI TÌNH ÁI không xây một mình
    Từ ngày XẾP ÁO THƯ SINH
    ANH ĐI CHIẾN DỊCH đăng trình nặng vai
    NGẬM NGÙI cửa đóng then gài
    NGƯỜI YÊU CỦA LÍNH không phai má đào
    Lỡ khi BIẾT TRẢ LỜI SAO
    TÌNH CHÀNG Ý THIÊP ai sầu hơn ai
    Đượm nồng TIẾNG SÁO THIÊN THAI
    KHÔNG BAO GIỜ CÁCH NGĂN hai mai đầu
    Một lòng ĐỪNG NÓI XA NHAU
    NGƯỜI YÊU LÝ TƯỞNG trọn câu vẹn thề
    Rồi MỘT MAI QUA CƠN MÊ
    HAI VÌ SAO LẠC đi về BẾN MƠ
    VẮNG XA vẫn mãi ĐỢI CHỜ
    Để em viết tiếp BÀI THƠ CUỐI CÙNG
    Có ai THƯONG VỀ MIỀN TRUNG
    QUÊ NGHÈO sỏi đá khốn cùng điêu linh
    Lòng như KHÚC HÁT ÂN TÌNH
    Trãi dài QUÊ MẸ nắng bình minh vui
    MƯA TRÊN PHỐ HUẾ sụt sùi
    CHO NGƯỜI TÌNH LỠ bùi ngùi vấn vương
    VỀ ĐÂU MÁI TÓC NGƯỜI THƯƠNG
    NƯẢ ĐÊM NGOÀI PHỐ lòng TƯƠNG TƯ sầu
    Dẫu rằng HAI ĐỨA GIẬN NHAU
    Vẫn không như thể QUA CẦU GIÓ BAY
    Một lần TỪ GIÃ THƠ NGÂY
    Là em NHƯ CÁNH VẠC BAY mất rồi
    Dẫu cho CAY ĐẮNG, TÌNH ĐỜI
    NGƯỜI EM SẦU MỘNG tuyệt vời yêu anh
    Ân tình GẠO TRẮNG TRĂNG THANH
    Làm sao NƯỚC MẮT LONG LANH cạn dòng
    Bây giờ TRÊN ĐỈNH MÙA ĐÔNG
    NGƯỜI EM XÓM ĐẠO chỉ mong một điều
    Thương em HÃYNHỚ NHAU NHIỀU
    Hãy xin LÝ LUẬN TÌNH YÊU thế nào
    Cũng xin đừng VẪY TAY CHÀO
    TÌNH YÊU TRẢ LẠI TRĂNG SAO thật buồn
    MỘT LẦN DANG DỞ đau thương
    THA LA XÓM ĐẠO thánh đường bơ vơ
    Hằng đêm QUÁN NHỎ ĐỢI CHỜ
    Ôm SẦU LẼ BÓNG vần thơ bẽ bàng
    Còn đâu HOA SỨ NHÀ NÀNG
    Gặp em trở lại CÔ HÀNG XÓM xưa
    Còn đâu HUYỀN THOẠI CHIỀU MƯA
    NHỮNG NGÀY THƠ MỘNG đón đưa hẹn thề
    Em SAO KHÔNG THẤY ANH VỀ
    MIỀN TRUNG THƯƠNG NHỚ tái tê lạnh nhiều
    ĐÊM TÀN BẾN NGỰ cô liêu
    AI RA XỨ HUẾ hắt hiu tháng ngày
    Ôi chao THÀNH PHỐ MƯA BAY
    KHÓC NGƯỜI TRINH NỬ đắng cay tình đời
    HAI PHƯƠNG TRỜI CÁCH BIỆT rồi,
    NGẬM NGÙI cắn chặt bờ MÔI TÍM màu
    BAO GIỜ TA GẶP LẠI NHAU
    NỔI BUỒN HOA PHƯỢNG giọt sầu ly tan
    Anh XIN TRẢ LẠI THỜI GIAN
    ĐƯA EM VÀO HẠ thênh thang vùng trời
    THÔI thì ANH BIẾT EM ƠI
    DƯ ÂM ngày MỘNG SẦU đời khó quên
    CĂN NHÀ MÀU TÍM êm đềm
    MỘT TRỜI THƯƠNG NHỚ làm nên CHUYỆN TÌNH
    NÉT BUỒN THỜI CHIẾN điêu linh
    Ráng đi em CHUYỆN CHÚNG MÌNH qua mau
    TÌNH ANH LÍNH CHIẾN địa đầu
    Trao em ÁO ĐẸP NÀNG DÂU mai này
    CHIỀU MƯA BIÊN GIỚI có hay
    ĐÊM BUỒN TỈNH LẺ tháng ngày héo hon
    TÌNH YÊU CÁCH BIỆT mõi mòn
    SAO ANH LỖI HẸN em còn đơn côi
    Ngày MAI ANH ĐI XA RỒI
    ĐÒ TÌNH LỠ CHUYẾN bờ môi nhạt nhoà
    TÀU ĐÊM NĂM CỦ mấy toa
    BIỆT LY như CHUYỆN TÌNH HOA TRẮNG tàn
    NỔI LÒNG mang tận quan san
    Là như vai nặng HÀNH TRANG GIÃ TỪ
    Phương này VẦNG TRÁN SUY TƯ
    Xem như PHÚT CUỐI, TẠ TỪ TRONG ĐÊM
    Mà SAO EM NỞ ĐÀNH QUÊN
    RỪNG CHƯA THAY LÁ, GỌI TÊN BỐN MÙA
    Tiền đồn THÁNG SÁU TRỜI MƯA
    Trọn tình thương nhớ CHO VỪA LÒNG EM
    Trở về MỘT CHUYẾN BAY ĐÊM
    VÙNG TRỜI NGÀY ĐÓ càng thêm mặn nồng
    TẠ ƠN, TRĂNG SÁNG ĐỒI THÔNG
    CƠN MÊ TÌNH ÁI phiêu bồng LÃNG DU
    Ngõ hồn lạc lối VƯỜN THU
    MỘT ĐÊM KHÔNG NGỦ ngục tù con tim
    Ngày mai anh BIẾT ĐĂU TÌM
    LINH HỒN TƯỢNG ĐÁ im lìm bơ vơ
    Đắm chìm BIẾT ĐẾN BAO GIỜ
    CHUYỆN NGƯỜI ĐAN ÁO đợi chờ đêm đông
    Xin em ĐỪNG TRÁCH DIÊU BÔNG
    BUỒN VƯƠNG MÀU ÁO má hồng chưa phai
    Sao em NHƯ TIẾNG THỞ DÀI
    NGHẸN NGÀO đắng GIỌT LỆ ĐÀI TRANG tuôn
    Để cho TỪ ĐÓ EM BUỒN
    NẾU MAI ANH CHẾT chim muôn gọi đàn
    TÌNH YÊU VỖ CÁNH băng ngang
    GA CHIỀU PHỐ NHỎ đèn vàng xót xa
    TÌNH NGHÈO mang KIẾP CẦM CA
    ĐIỆU RU NƯỚC MẮT phòng trà từng đêm
    THỀM TRĂNG còn đọng môi mềm
    GIỌNG CA DĨ VÃNG buồn thêm nản lòng
    Cho em BẢY NGÀY ĐỢI MONG
    SAO ANH KHÔNG ĐẾN phòng không cuối tuần
    Anh còn VỌNG GÁC ĐÊM SƯƠNG
    CHIỀU MƯA BIÊN GIỚI còn vương giặc thù
    BỐN VÙNG CHIẾN THUẬT mật khu
    Bên RỪNG LÁ THẤP sương mù giăng giăng
    Trên đồi HOA TÍM BẰNG LĂNG
    NHỚ MẦU HOA TÍM đêm trăng thuở náo
    Chuyện tình HÒ HẸN trăng sao
    PHÚT ĐẰU TIÊN ắy nghe xao xuyến lòng
    LẶNG THẦM, HOA RỤNG VEN SÔNG
    Ngập ngừng GỎ CỬA hằng mong trao nàng
    KỂ TỪ ĐÊM ĐÓ thênh thang
    ĐƯỜNG LÊN SƠN CƯỚC vai mang chử tình
    Đếm từng sợi NẮNG THỦY TINH
    TÌNH XA em mãi NHỚ MÌNH ANH THÔI
    Đường tình NHẬT KÝ ĐỜI TÔI
    THUYỀN MƠ, CHUYỂN BẾN nhẹ trôi im lìm
    CHIỀU trên NHỮNG ĐỒI HOA SIM
    TÌNH THƯ CỦA LÍNH gởi niềm riêng em
    Có loài HOA NỞ VỀ ĐÊM
    Một loài HOA TRẮNG mang tên là quỳnh
    Gót chân NGƯỜI LÍNH CHUNG TÌNH
    BẠC MÀU ÁO TRẬN vẫn tình không phai
    CHỜ ANH TRỞ LẠI ngày mai
    ĐƯỜNG XƯA LỐI CŨ sánh vai TÌNH HỒNG
    Bây giờ em THẤY GÌ KHÔNG
    Làm sao em biết NỔI LÒNG NGƯỜI ĐI
    Bây chừ ĐÔI NGÃ CHIA LY
    Cho NGƯỜI Ở LẠI CHARLY nghìn trùng
    Đường chiều phủ kín MƯA RỪNG
    SAO EM KHÔNG ĐẾN trời rưng rưng sầu
    Cạn nguồn GIÒNG LỆ THƯƠNG ĐAU
    Thương HÀN MẠC TỬ sớm mau lìa trần
    PHÙ DU kiếp sống chinh nhân
    ĐOÀN NGƯỜI LỮ THỨ, BƯỚC CHÂN ÂM THẦM
    Và SAO CHƯA THẤY HỒI ÂM
    Của người TÌNH LỞ TRĂM NĂM đợi chờ
    Dẫu rằng TÌNH LÀ SỢI TƠ
    DẤU TÌNH SẦU vẫn BƠ VƠ cuối tuần
    Phương này PHIÊN GÁC ĐÊM XUÂN
    BUỒN VUI ĐỜI LÍNH trầm luân tháng ngày
    chiều nào TỪ GIÃ THƠ NGÂY
    AI XUÔI VẠN LÝ vui vầy nước non
    LỜI THỀ SÔNG NÚI vẫn còn
    TÌNH ANH LÍNH CHIẾN chưa sờn chí trai
    TÌNH ANH BIỂN RỘNG sông dài
    DẤU CHÂN KỶ NIỆM, THƯƠNG HOÀI NGÀN NĂM ./.
    ...
    VS HNPD
     
    p324530 likes this.
  9. thiên chương

    thiên chương Công Dân

  10. thiên chương

    thiên chương Công Dân

    Chu Mộng Long: Nhà nghiên cứu phê bình Đặng Tiến ở Pháp có thắc mắc: Tại sao các từ điển tiếng Việt hiện hành đều đồng loạt giải thích “giao hoan là cùng nhau vui vẻ”? Bác mỉa mai: “Tôi ngạc nhiên mà cũng có hoang tưởng lén lút”. Hoang tưởng lén lút cái gì? Hiển nhiên là nghĩ đến quan hệ tình dục. Cách giải thích của từ điển như vậy ắt người nước ngoài học tiếng Việt dễ nhầm tưởng nghĩa-đang-sử-dụng của giao hoan là cùng nhau vui vẻ, giống như “liên hoan”. Mà không chỉ người nước ngoài, nếu một thanh niên bản ngữ tưởng từ điển là chuẩn, rất dễ bị ăn tát khi nói với cô gái nào đó, rằng “anh muốn giao hoan với em”.
    [​IMG]
    Jacques Lacan (1901 – 1981)
    Một số học giả đặt hoài nghi, hay là tại thời điểm biên soạn từ điển, từ giao hoan không có nghĩa như hiện nay? Trong cảm thức của tôi, nghĩa gốc của giao hoan chỉ có thể là quan hệ xác thịt. Mà quan hệ xác thịt thì hiển nhiên là vui vẻ. Vui vẻ nhất trong mọi sự vui vẻ., “giao cấu” . Từ điển Thiều Chửu xếp đến nghĩa cuối cùng, nghĩa thứ 8: ⑧ Dâm dục, giống đực giống cái dâm dục với nhau gọi là giao hợp , là giao cấu , v.v. Từ điển Trần Văn Chánh xếp đến thứ 9: ⑨ Sự giao hợp, sự giao phối (giữa nam nữ, đực và cái về mặt sinh dục): Giao cấu; Loài hổ bắt đầu giao phối (từ tháng thứ hai cuối mùa đông) (Hoài Nam tử).

    Sự thực, chữ Giao khi được cải biến thành các dạng khác mới chuyển nghĩa tinh thần. Kết hợp với bộ nữ thành , nghĩa là đẹp, quyến rũ. Kết hợp với bộ nhân thành mang nghĩa bạn bè, bằng hữu. Kết hợp với bộ khẩu thành , tiếng chim kêu gọi bạn. Kết hợp với bộ nguyệt thành , keo sơn, kết dính.

    Việc chuyển nghĩa trong giao du đi lại chơi bời với nhau (Thiều Chửu), chẳng khác gì tiếng Việt ta dùng từ “chơi” thay cho hoạt động giao hoan ở nghĩa xác thịt!

    Các nghĩa khác mang tính tinh thần của từ giao như giao thiệp, giao cảm, giao tế, giao tiếp và giao hoan dù đã xa sang địa hạt tinh thần vẫn không thoát ly khỏi cái nghĩa gốc của giao là quan hệ xác thịt. Không ngẫu nhiên mà nó tạo ra cả hệ thống: giao cấu, giao hợp, giao hoan… trong cùng một trường nghĩa. Bởi vì, theo Phân tâm học cổ mẫu, con người đã trải nghiệm thân xác và tư duy từ xác thịt của mình trước khi tư duy về vũ trụ. Chỉ vì sau đó tôn giáo ra đời mới có chuyện nói ngược, rằng Trần tục do Thiên đường sinh ra. Người ta diễn nghĩa Kinh Dịch, dù có nói đến quan hệ Trời Đất mênh mông cũng không thể quên quan hệ Nam Nữ: Thiên địa giao vạn vật hóa sinh, Nam nữ cấu tinh vạn vật hóa thuần, Thượng hạ giao nhi kì chí đồng dã…

    Có thể kết luận, từ giao hoan mang nghĩa gốc phải là quan hệ xác thịt, sau được chuyển sang nghĩa tinh thần: cùng nhau vui vẻ. Nếu cập nhật vào từ điển xem nghĩa trần tục với quan hệ xác thịt kia là nghĩa phái sinh thì không thể được, vì cách làm đó chỉ có thể là nói ngược. Như vậy, chính quá trình Việt hóa chữ Hán, một cách vô thức, người Việt đã làm sống lại nghĩa tưởng chừng đã chết bởi sự cấm kỵ, đè lấp của văn hóa Nho giáo. Giao hoan chỉ quan hệ tình dục là nghĩa trường tồn, cổ sơ và cũng hiện đại, trừ phi kẻ có học cố tình che giấu hay đánh mất.

    Không chỉ từ giao hoan mà điều này có thể diễn ra ở nhiều từ khác. Từ sự cấm kị, các từ dịch chuyển bằng hình thức kiểm duyệt, biên tập, cắt xén làm thay đổi hình thức lẫn nội dung. Nguyên lí dịch chuyển của S. Freud đúng cho cả ngôn ngữ như một hiện tượng tâm lý và văn hóa. Chữ ghi hình đi qua một quy trình từ tả thực rồi dịch chuyển sang biểu trưng thông qua thao tác cắt xén, biên tập, giản lược hóa, thẩm mỹ hóa, trừu tượng hóa.


    Nhớ có một lần, TS. Nguyễn Xuân Diện chia sẻ: chữ Tổ mang nghĩa là kẻ đầu tiên sinh ra con người lại có tự hình là cái dương vật, phản ánh sâu sắc chủ nghĩa duy dương vật (Phallogocentrism) và ý thức phụ quyền. Chữ Nữ 女 có tự hình nguyên thủy là cái âm vật, khi chế biến sang chữ Nôm, các cụ ta đã điểm thêm vào lỗ trống dấu chấm đọc là chữ Đĩ, phục sinh đầy đủ nghĩa trần tục của nó. Điều này không khác người bình dân gọi tên con trai, con gái bằng chính bộ phận sinh dục của chúng vì đời sống ngôn ngữ của họ nằm ngoài hàng rào cấm kỵ. Đó không phải là chuyện đùa mà là sự thật nghiêm túc.
    [​IMG]
    Tự hình chữ Tổ và chữ Đĩ

    Cấu trúc luận chủ trương chỉ xét nghĩa-đang-sử-dụng, bất chấp lịch sử của từ. Bởi họ quan niệm nét nghĩa đã mờ hoặc đã chết không còn giá trị. Đó là một sai lầm. Phân tâm học và Giải cấu trúc xem cái đã mờ, thậm chí tưởng chừng đã chết lại không bao giờ chết. Nó sẽ tồn tại bên dưới ngôn từ, J. Lacan gọi là phần Thực luôn bị che giấu, vắng mặt và không thể diễn tả bởi Cấm kỵ. Ngôn ngữ hình thành từ cái Thực (Real) theo thị giác, kích thích Tưởng tượng (Image) và cuối cùng kết tinh ở dạng Biểu trưng (Symbolic). Có nghĩa là ngôn-ngữ-đang-sử-dụng là dạng Biểu trưng do cả một quá trình kiến tạo dưới áp lực của Cấm kị (Taboo) bằng hình thức cắt xén, biên tập, kiểm duyệt. Nghĩa do đó thường bị trượt (glissement) trên các Biểu trưng và Chuỗi biểu đạt.


    Nhưng theo Lacan, trong khi Biểu trưng thuộc quyền lực kìm nén dục vọng, đẩy cái Thực xuống tầng sâu, thì cái Thực vẫn luôn có xu hướng trồi lên và sẽ được đánh thức, đồng thời gia tăng theo tưởng tượng trong vô thức. Ngôn ngữ không chỉ là sản phẩm của ý thức như cấu trúc luận quan niệm mà còn là vô thức. Derrida gọi các dấu hiệu chìm lấp ấy là các “vết mờ”, tức không bao giờ mất đi và luôn mang tính dự phòng cho nhiều cách diễn giải. Với người sử dụng bình thường, có thể họ chỉ biết nghĩa-đang-sử-dụng, nhưng nhà nghiên cứu thì phải biết cả lịch sử của từ, làm hiện các vết mờ để gia tăng về nghĩa. Thực chất, ngay cả người bình thường, ngôn ngữ trong cảm thức của họ cũng luôn có tính dự phòng trong vô thức, trong một tình huống nào đó phần vết mờ sẽ hiện ra đầy đủ. Các trường hợp lấy cái bị giấu kín để đặt tên con, gọi cái bị giấu kín ra để chửi, để văng tục, nói nhịu đều thuộc hiện tượng đó.

    Hệ luận mà Derrida đã chỉ ra, do chữ viết ghi âm đã đánh lừa chúng ta, bản thân chữ viết là không võ đoán, rõ nhất là trong chữ ghi hình. Với lối ghi hình theo thị giác, ngôn ngữ cổ sơ của loài người gần với tự nhiên và từng là ngôn ngữ chung của nhân loại, không phân biệt khu vực, địa cư và chủng tộc. Có lẽ vì thế mà, nếu nhìn dưới góc nhìn giải huyền thoại, ta dễ nhận ra một sự thật trong câu chuyện về tháp Babel trong Sáng thế ký. Chuyện kể rằng, sau Đại hồng thủy, một nhóm người và các thế hệ tiếp theo nói cùng một thứ ngôn ngữ và di trú từ phía đông, đã tham gia vào việc xây dựng tháp Babel với tham vọng xây nên một tòa tháp thật to lớn đến mức đỉnh của nó chạm đến Thiên đường. Sự thống nhất ngôn ngữ mang lại sức mạnh cho con người đến mức có thể cạnh tranh với sự vĩ đại của Thiên Chúa. Nhưng điều gì đã xảy ra? Kinh Thánh ghi: Vì sự kiêu ngạo này, Thiên Chúa ngăn chặn việc xây dựng tháp một cách không đổ máu bằng cách gây ra một sự xáo trộn và bất đồng của tiếng nói, và do khó khăn về giao tiếp không thể vượt qua, những người xây dựng đã từ bỏ dự án và tản ra trên khắp trái đất. (Gen 11,7,8 EU). Hậu quả sự ngăn chặn của Thiên Chúa trong câu chuyện phản ánh hậu quả tất yếu của Cấm kỵ và biện chứng hai mặt về sự tha hóa và phát triển của ngôn ngữ: càng đa dạng càng phức tạp dễ gây chia rẽ và rối loạn, nhưng cũng là động lực của sự thay đổi và tiến bộ. Nó cũng phản ánh sâu sắc sự vận động tất yếu từ nhất nguyên đến đa nguyên của ngôn ngữ và cuộc sống. Sự chia rẽ và rối loạn đó chỉ có thể là bởi sự đánh mất chữ viết ghi hình và sự biến động của ngôn ngữ dưới dạng âm thanh, mà kết quả là chữ viết ghi âm ra đời với những ưu điểm về sự ghi lại âm thanh, giản lược cùng khả năng trừu tượng hóa tư tưởng, nhưng lại mang nhược điểm về sự võ đoán và mất hẳn chức năng giao tiếp phổ quát toàn cầu.

    Đến đây có thể kết luận điều mà tôi từng xác quyết: Tự hình không phải độc quyền của người Hán. Nó là ngôn ngữ nguyên thủy của loài người trước khi bị người Hán độc chiếm với hoang tưởng là của riêng và đẩy các dân tộc xung quanh rơi vào mặc cảm bị nô dịch.

    Quy Nhơn 20/9/2017
    CML
     
  11. thiên chương

    thiên chương Công Dân

    Chữ Quốc ngữ
    và hội chứng nhảy cừu
    Thiếu Khanh
    N
    hững con cừu chỉ hành động theo con đầu đàn. Thấy con đầu đàn nhảy lên ở chỗ nào thì khi đi đến chỗ đó chúng cũng nhảy lên mà không cần biết tại sao. Nhiều người Việt viết sai tiếng Việt với cùng "hội chứng" như thế.

    Trừ những người vì hoàn cảnh xã hội nhất định, không được học hành nhiều, ít chữ nghĩa, nên vô tình họ viết sai chính tả tiếng Việt, bài viết này, đề cập thói quen của những người có học hành, thậm chí những trí thức khoa bảng đã hồn nhiên và cố ý viết sai tiếng Việt – như những con cừu nhảy lên ở chỗ con đầu đàn đã nhảy trước đó.

    Đùi heo xông khói Đi-ôu-cơ

    Trong một chuyến đi xuyên Việt từ Sài Gòn ra Hà Nội, theo chương trình định trước, con rể tôi lái xe, từ Nha Trang ra sẽ chạy lên Đèo Cả để được ngắm phong cảnh hùng vĩ của một trong những con đèo "trên núi dưới biển" đẹp một cách "hữu tình" này và ngắm bãi biển Đại Lãnh. Thế nhưng khi gần tới đèo thì trời cũng sắp tối. Vì hầu hết xe cộ đều chạy qua Hầm chui Đèo Cả vừa an toàn và nhanh chóng, nên đường đèo rất vắng. Nghe nói xe chạy lẻ loi lên đèo ban đêm rất dễ bị "kẻ xấu" trấn lột hoặc xin đểu. Xin đều cũng là một dạng trấn lột, hay cướp. Thế nên chúng tôi chạy vào hầm chui Đèo Cả.

    Trước khi vào tới Hầm Đèo Cả chúng tôi phải qua một trạm thu phí. Nhìn những chữ lớn HAM DEO CA phía trên trạm BOT này tôi bật cười nhớ lại câu chuyện một người bạn đã kể trước đó.

    Anh bạn người Trung di cư vào Sài Gòn sống từ thời chiến tranh. Bạn vừa đón vợ chồng người anh ruột cùng với đứa con trai 14 tuổi của họ từ Mỹ về thăm. Sau đó họ đi du lịch ra Huế bằng xe đò. Khi xe dừng lại ở trạm thu phí này để mua vé qua trạm, cháu bé 14 tuổi sinh ở Mỹ, không biết tiếng Việt, nói với ba cháu bằng tiếng Anh: "Người Việt viết sai ngữ pháp tiếng Anh ba nhỉ?"

    "Con thấy họ viết sai ở đâu?" người cha hỏi.

    Cậu bé chỉ 3 chữ HAM DEO CA nói: "Đáng lẽ phải viết DEO CA HAM mới đúng." (cậu phát âm là "Đi-ôu-cơ ham") do cậu tưởng ba chữ ấy quảng cáo món... Đùi heo xông khói hiệu Đi-ôu-cơ, vì trong tiếng Mỹ, Ham là đùi heo, hoặc thịt đùi heo được ướp muối hay xông khói.

    Sau khi được ba cậu giải thích đó là chữ Việt, chớ không phải chữ Mỹ, có nghĩa là Hầm chui qua Đèo Cả, cậu tỏ ra hiểu biết và lẫm bẫm với vẻ thích thú: American ham is Vietnamese tunnel! (Thịt đùi heo xông khói ở Mỹ là hầm chui ở Việt Nam)

    [​IMG]
    (Hình do con gái Nina chụp từ trong xe)

    Vỡ đê
    Trong cuốn Chơi Chữ (Nam Chi Tùng Thư xb(?) Sài Gòn, 1960) của cụ Lãng Nhân, kể một câu chuyện xảy ra dưới thời Pháp thuộc, vào khoảng đầu thế kỷ 20. Lúc bấy giờ nền giáo dục và thi cử của ta còn dùng chữ Hán. Một nho sinh từ nhà quê lên Hà Nội trọ học để đi thi mong kiếm một chức quan. Một hôm chàng nhận được dây thép từ nhà đánh lên. Thời bấy giờ việc gởi một điện tín người ta nói là "đánh giây thép."

    Phải có một biến cố gì lớn lắm người dân quê mới phải dùng đến cách "đánh dây thép" để thông tin nhanh. Và để tiết kiệm tiền, người ta phải viết thông tin rất cô đọng, càng ít chữ càng tốt.

    Mở tờ giấy điện tin đọc thấy vỏn vẹn 2 chữ "Vo de" mặt chàng nho sinh biến sắc rồi tái ngắt. Chàng run rẩy suýt ngã quỵ. "Vo de" là vỡ đê. Thời bấy giờ vỡ đê là chuyện sinh tử, cả một tai họa giáng xuống làng xóm như cảnh Thủy điện xả nước theo lũ ngày nay, tất cả người và vật chìm trong nước lũ, người chết, nhà cửa tài sản trôi theo dòng nước cuồn cuộn, ruộng đồng chìm ngập trong nước, hoa màu mất trắng.

    Hình dung tai họa kinh hoàng như thế đã xảy ra ở quê nhà, chàng nho sinh vội vã gác lại việc học, tất tả về quê. Nhưng về đến nơi chàng thấy làng mạc vẫn yên ổn, cảnh vật vẫn thanh bình, chàng nhẹ nhõm trong lòng nhưng vẫn hoang mang. Chỉ khi về đến nhà chàng mới vỡ lẽ: Vợ chàng vừa sinh con trai đầu lòng, một chuyện vui vẻ tốt lành khiến cả gia đình mừng rỡ, đánh giây thép lên Hà Nội cho chàng biết tin vui. Tuy đang còn đi học, đa số (hoặc hầu hết) các vị học trò lúc bấy giờ đều đã trưởng thành và đã có vợ con. Và 2 chữ "vo de" trong cái điện tín chỉ có nghĩa là... vợ đẻ!

    [​IMG][​IMG]
    (Hình trên mạng)

    Chữ Quốc ngữ đội mũ mang giầy

    Trong một bài viết, "Sao lại nói chữ Quốc ngữ Việt Nam 'rất nực cười’?" đăng trên trang mạng Nghiên Cứu Quốc Tế, tiến sĩ Nguyễn Hải Hoành dẫn lời một học giả rất nổi tiếng của Trung quốc hiện đại là "Quý Tiễn Lâm (季羡林 Ji Xian-lin, 1911-2009), người được dư luận chính thống nước này tôn vinh là "Quốc học đại sư", "Học giới Thái đẩu" (Siêu sao trong giới học thuật), "Quốc bảo" (Báu vật của nước nhà)" vân vân, viết rằng "chữ viết của người Việt Nam sau khi được La tinh hóa, đầu đội mũ, chân đi giầy, rất nực cười," (越 南 文 字 拼 音 化 之 后,头戴帽子,脚穿鞋子,很滑稽. [Việt Nam văn tự bính âm hóa chi hậu, đầu đái mạo tử, cước xuyên hài tử, ngận hoạt kê] ) [1]

    Ts Nguyễn Hải Hoành nhận thấy cái ông "đại sư" "quốc bảo" của Tàu nói năng hồ đồ và chứng tỏ chẳng biết gì cả về chữ quốc ngữ của người Việt. Dù vậy, hình tượng "đội mũ mang giầy" mà Quý Tiễn Lâm gán cho chữ quốc ngữ của chúng ta, cũng ngộ nghĩnh đó chớ. "Mũ" và "giầy" theo con mắt Quý Tiễn Lâm chính là các dấu phụ nguyên âm (diacritical marks). và dấu giọng (accent marks) chúng ta "gắn" vào chữ viết của mình.

    Chuyện là như vầy: Những ngày đầu tiên đặt chân đến Việt Nam (xứ Đàng Trong), các giáo sĩ truyền đạo Thiên Chúa Tây phương đã rất ngỡ ngàng khi tiếp xúc với tiếng nói của người bản xứ: Lúc bấy giờ họ chưa có khái niệm gì về các ngôn ngữ Nam Á (Austroasiatic languages) và họ nghe một thứ ngôn ngữ không những hoàn toàn xa lạ với ngôn ngữ mẹ đẻ của họ, mà còn không giống chút gì với các ngôn ngữ trong hệ Ấn Âu quen thuộc của người phương Tây. Giáo sĩ Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes), tác giả quyển từ điển "Dictionarium Annamiticum, lusitanum, et latinum," thường được gọi là "Từ điển Việt – Bồ - La," đã từng viết: "Riêng tôi xin thú nhận rằng, khi vừa tới Đàng Trong nghe người Việt nói chuyện với nhau, nhất là giữa nữ giới, tôi có cảm tưởng như mình nghe chim hót và tôi đâm thất vọng vì nghĩ rằng không bao giờ có thể học được tiếng Việt." [... ]"Linh mục Joseph Tissanier ở Đàng Ngoài từ 1658 - 1663 cũng ghi lại như sau: Tôi xin thú nhận rằng lúc đầu tiếng Việt làm tôi phát sợ, vì thấy nó khác với các ngôn ngữ Âu châu quá, nên hầu như tôi thất vọng trong việc học tiếng này." [2] .

    Giáo sĩ Đắc Lộ kể mấy ví dụ về sự khó khăn phân biệt âmthanh của tiếng Việt trong tai người phương Tây. "Một hôm Lm bạn với Đắc Lộ muốn bảo người giúp việc đi chợ mua . Khi người giúp việc ở chợ về bảo cho ông hay là đã mua như ý Lm muốn. Ông liền xuống nhà bếp coi xem đã mua loại cá nào, thì ông bỡ ngỡ vì người đi chợ mua một thúng đầy . Lm biết ngay vì [ông] đã đọc trại tiếng thành , nên ông xin lỗi người giúp việc. Một Lm khác bảo người nhà đi chém tre[3] , Đoàn trẻ em [người Việt] trong nhà Lm nghe vậy sợ quá, bỏ chạy tán loạn. Thì ra ông phát âm lầm là chém trẻ, nên làm cho đoàn trẻ em khiếp sợ. Phải giải thích mãi trẻ em mới yên tâm trở về nhà với Linh mục." [4]

    Những ký hiệu ghi âm tiếng nói của người Việt để phân biệt ca, cá, và , phân biệt tretrẻ, cũng như phân biệt hamhầm, vợ đẻvỡ đê... chính là cái mà ông "Quốc học đại sư" Quý Tiễn Lâm của Tàu gọi là tiếng Việt "đầu đội mũ, chân đi giầy!"


    [​IMG] [​IMG]
    Alexandre de Rhodes
    (Hình trên mạng) Hình bìa Tự điển Việt – Bồ - La
    (Hình trên mạng)

    Đội mũ mang giầy: chuyện không đơn giản.

    Cái ông "siêu sao học thuật" (Học giới Thái đẩu) của Tàu này không hề... rê đuốc vào chân mình, chỉ nói lấy được. Trong bài viết dẫn trên, Ts Nguyễn Hải Hoành cho biết: "Tiếng phổ thông TQ có 4 thanh điệu, vì thế chữ Latin trong phương án Hán ngữ Pinyin do Nhà nước TQ ban hành sử dụng từ năm 1958 cũng phải kèm theo 4 dấu giọng, ví dụ [lī], [lí], [lǐ], [lì], ngoài ra các phụ âm kép như zh, ch, sh có thể viết tắt là ẑ, ĉ, ŝ. Như vậy chữ Hán ngữ Pinyin (Bính âm) [5] cũng "đội mũ," vì sao cụ Quý Tiễn Lâm lại chỉ chê chữ Quốc ngữ Việt Nam "rất nực cười"?"

    Ts Nguyễn Hải Hoành nhắc lại lời học giả Hồ Thích từ 100 năm trước "phán" về chữ quốc ngữ của người Việt: "Chữ viết Việt Nam hiện nay xem ra giống như chữ Pháp bị nước mưa xối tan ra, giống như phiên bản Latin của chữ hình vuông, vừa không thanh thoát cũng chẳng mỹ quan." Hồ Thích cho rằng chữ quốc ngữ của người Việt Nam vửa không giống chữ Hán, không giống chữ Nôm (đã đành!) lại không giống chữ Pháp, mà cũng không giống cả chữ La tinh, "nghĩa là không đâu vào đâu, chẳng ra cái giống gì." [6]. Lời phán ấy có lẽ khiến một số nhà nho Việt Nam thủ cựu bài bác chữ Quốc ngữ thời đó khoái lắm.

    Xem ra các tay học phiệt Tàu không biết gì về chữ quốc ngữ của Việt Nam, chỉ phán bừa vì họ rất hậm hực về việc Việt Nam "thoát Trung" thành công về mặt văn tự. Với thứ chữ viết La tinh hóa này chỉ trong khoảng 60 - 70 năm người Việt Nam đã hoàn toàn thoát ra khỏi hệ thống văn tự Hán, điều mà người Nhật và người Hàn đã không làm được, dù họ cũng sáng tạo được văn tự riêng cho mình.

    Tiếng Việt có 6 thanh (Phù bình thanh – không dấu, Phù khứ thanh –dấu sắc, Phù thượng thanh – dấu ngã, Trầm bình thanh – dấu huyền, Trầm thượng thanh – dấu hỏi, và Trầm nhập thanh – dấu nặng), nên phải dùng 5 ký hiệu sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng để phân biệt thanh điệu. Tiếng Trung quốc (chỉ có 4 thanh: âm bình thanh, dương bình thanh, thướng thanh, và khứ thanh) không có thanh "trầm nhập" như tiếng Việt nên chữ "bính âm" (pinyin) của họ không mang dấu "nặng", tức là họ có đội mũ mà không mang giầy, giống như anh chàng nhà quê đội mão mà không mang hia, hoặc như Táo quân mặc áo mà không mặc quần chớ gì mà cười tiếng Việt!

    Mặt khác, một chữ tiếng Việt dài nhất, chữ "nghiêng" chỉ gồm 7 ký tự, trong khi một chữ Hán thường có đến hàng chục nét "vẽ" rất rối rắm, khó học, khó nhớ. Ví dụ chữ "Hối" 匯 trong (Hối đoái - 匯兌 ) có 13 nét; chữ "Tê" 虀 (một món dưa chua) có 23 nét; chữ "Thô" 麤 (thô sơ) có 33 nét. Một chữ có âm đọc là [piang], là tên gọi 1 loại mỳ sợi đặc sản của tỉnh Phúc Kiến, có đến... 54 nét! Đó là một trong những lý do khiến người Trung quốc muốn La tinh hóa chữ viết của họ cho dễ học dễ viết. Chuyện không dễ chút nào. Vậy mà họ lại chê chữ quốc ngữ của người Việt "đội mũ mang giầy"!

    Việt Nam là một trong số 124 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới dùng hệ chữ viết La tinh, và là một trong số rất ít các quốc gia châu Á dùng loại chữ viết này. Với hệ thống chữ viết quốc gia bằng chữ cái La tinh, người ta có thể học một ngoại ngữ có tính phổ biến quốc tế như tiếng Anh, tiếng Pháp... và tiếp xúc thẳng với mạng Internet rất thuận tiện mà không phải học thêm một hệ thống chữ viết nào khác. Người Tàu với hơn 1,3 tỷ dân, cũng muốn dân họ có được sự thuận tiện đó để dễ thúc đẩy sự phát triển của đất nước. Họ đã nhiều lần nỗ lực La tinh hóa chữ viết, nhưng không thành công. Rốt cuộc người Tàu đã phải tuyên bố bỏ cuộc. Họ có thể dùng chữ pinyinnhư một giải pháp phụ để phiên âm cho từng mặt chữ Hán, giúp người học / đọc đọc được từng chữ ô vuông đó chớ không thể dùng nó thay cho chữ Hán để viết lách gì được, trong khi người Việt đã hoàn toàn bỏ hẳn chữ Hán, và phát triển chữ quốc ngữ hoàn chỉnh đến mức có thể diễn đạt mọi lãnh vực tri thức – tư tưởng, văn học, và khoa học, mỹ thuật... một cách phong phú và chính xác.

    Việc các học giả Trung quốc chê bai chữ quốc ngữ của người Việt gợi mình nhớ chuyện chùm nho còn xanh của con... cáo!

    Chữ Hán 54 nét dưới đây, do Tiến sĩ Nguyễn Hải Hoành phát hiện, là tên gọi 1 loại mỳ sợi đặc sản của tỉnh Phúc Kiến.
    [​IMG]
    Người Việt nói như hát

    Tiếng Việt có 6 thanh điệu nên chữ quốc ngữ phải dùng 5 ký hiệu (trừ một thanh không dấu) sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng tương ứng. Nhưng các dấu thanh này không phải tự nhiên mà có. Các nhà truyền giáo thuộc Dòng Tên La Mã sáng tạo chữ quốc ngữ vốn là người Bồ Đào Nha. Họ dùng các kỳ tự La tinh trong bảng chữ cái Bồ Đào Nha để ghi âm tiếng Việt. Nhưng bảng chữ cái Bồ Đào Nha, cũng như nhiều bảng chữ cái của các ngôn ngữ Tây phương dùng chữ La tinh khác, không có dấu giọng hay dấu thanh điệu. Vì vậy những chữ Việt sơ khai được viết liền nhau như ngôn ngữ đa âm của phương Tây và không có dấu, ví dụ:

    Sinoa, Sinuua (Xứ Hóa/tức Thuận Hóa),

    Cacham, Cacciam (Ca Chàm/tức Kẻ Chàm hay Thanh Chiêm),

    Unsai (ông sãi),

    Ungue, (ông nghè),

    Oundelin (ông đề lĩnh),

    Nuocman (Nước Mặn),

    Ainam (Hải Nam),

    Quanghia, Quamnguya (Quảng Nghĩa),

    Quignhin (Qui Nhơn),

    Bafu (Bà Phủ/tức vợ quan phủ)...

    v.v...

    Giáo sĩ Ðắc Lộ đã nói tiếng Việt nghe líu lo như tiếng chim, hoặc người Việt nói như hát. Ngay đến người Tàu vốn rất tự phụ với tiếng Hán của họ và miệt thị các ngôn ngữ khác, nhưng vẫn nhận tiếng Việt như tiếng chim hót. Có giai thoại kể ông Mạc Đĩnh Chi đi sứ bên Tàu, bị một viên quan Tàu ra một vế đối:

    "Quých thiệt chi đầu đàm Lỗ luận: Tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri, thị tri." Nghĩa là Miệng lưỡi chim chích trên đầu cành bàn sách Luận ngữ: 'Biết thì nói biết, không biết thì nói không biết, đó mới là biết.’

    Ông Mạc Ðĩnh Chi đối lại: "Oa âm trì thượng độc Chu thư: lạc dữ thiểu nhạc lạc, lạc dữ chúng nhạc lạc, thục lạc?" (Tiếng ếch nhái đọc sách nhà Chu trên bờ ao: vui nhạc với ít người, vui với nhạc nhiều người, đằng nào vui hơn?"

    Vì đối phương trích sách Luận ngữ của Khổng tử dùng các âm "tri chi tri chi" để diễu tiếng Việt như tiếng chim hót, nên ông Mạc Đĩnh Chi trích sách Mạnh tử, với những âm "lạc nhạc lạc nhạc" để chê tiếng Tàu như tiếng ếch nhái.

    Nếu tiếng Việt mà viết bằng phẳng thiếu dấu giọng trầm bổng lên xuống thì đâu còn ra tiếng chim nữa. Các nhà truyền giáo đã phải mượn một số ký hiệu trong bảng chữ cái Hy Lạp cổ để ghi âm các thanh, và dần dần tách riêng từng từ theo tính đơn âm của tiếng Việt.

    Nhưng như thế chưa đủ. Tiếng Việt là một ngôn ngữ không những giàu thanh điệu (tiếng Việt có 6 thanh, trong khi tiếng Hán chỉ có 4 thanh thôi) mà còn có tính chất độc đáo: sự biến đổi độ dài ngắn cao thấp của âm thanh cũng làm cho từ biến đổi, và theo đó ý nghĩa cũng biến đổi hẳn. Ðó là điều các ngôn ngữ khác không có. Trong tiếng Anh, chẳng hạn, ý nghĩa của từ là cố định; thay đổi ngữ điệu chỉ làm thay đổi ý người nói, chớ không thay đổi nghĩa của từ.

    Ví dụ câu nói thông thường và phổ biến "I love you" - Tôi yêu em. Ngữ điệu của câu nói có thể được diễn đạt theo một trong 3 cách:

    1. Khi nói nhấn mạnh vào từ đầu, "I" : "I love you" hàm ý: Tôi yêu em. Chính tôi đây yêu em, chớ không phải nó. Nó chỉ nói xạo thôi. Tôi mới chính là người yêu em.
    2. Nhấn mạnh vào từ thứ nhì, LOVE: "I LOVE you" hàm ý: Tôi yêu em mà. Tôi thực sự yêu em, chớ tôi đâu có hận ghét gì em.
    3. Nhấn mạnh vào từ cuối, YOU: "I love YOU" hàm ý: Tôi yêu em. Tôi yêu chỉ mình em thôi. Cô bé kia tôi không quan tâm.Trong cả 3 trường hợp, ý nghĩa của ba từ "I love you" vẫn là 'Tôi yêu em’, chỉ có ý người nói đổi khác.
    Tiếng Việt thì không như thế. Sự thay đổi thanh điệu sẽ làm thay đổi ý nghĩa của từ. Ví dụ một câu nói gồm các từ: "Bà Ba bả bỏ bã bà Bá." (Bà Ba bả bỏ thuốc độc cho bà Bá.)

    Nếu bỏ hết các dấu thanh điệu, các chữ còn lại, trừ từ "bỏ," chỉ là một âm "ba"

    Ba Ba ba (bỏ) ba ba Ba: không có nghĩa gì hết.

    Về mặt nguyên âm cũng vậy, Đối với người Việt, AnAn, và ÃnÃn – hai từ khác nhau. Khi viết ra, chúng khác nhau về chữ và khác nhau về nghĩa. Đối với tai của nhà ngôn ngữ học, hai từ đó chỉ là một mà do nguyên âm chính của nó được phát âm dài ngắn khác nhau, Các nhà truyền giáo dòng Tên sáng tạo chữ viết cho tiếng Việt là những nhà ngôn ngữ học lỗi lạc. Họ nhận ra nguyên âm chính của từ thứ nhì (Ãn) chỉ là nguyên âm A được phát âm ngắn. Tức là chỉ thay đổi độ dài ngắn, ngậm hay mở của nguyên âm, ta có ngay một từ khác, mang nghĩa khác.

    Thế là họ tìm cách đánh dấu âm A ngắn này bằng một hình trăng khuyết nhỏ trên đầu chữ A. Ðó là chữ Ã. Tương tự như thế, các vị thừa sai Thiên Chúa giáo ấy đã sáng tạo ra các chữ nguyên âm a, ă, â, e, ê, o, ô, ơ, u, ư cho một hệ thống chữ viết mới cho người Việt mà sau này sẽ được gọi là chữ Quốc ngữ - thứ chữ chúng ta đang dùng ngày nay. Đây là một công cụ tuyệt vời ghi âm tiếng Việt chính xác 100 phần trăm: tiếng nói thế nào được viết ra như thế. Và viết thế nào được đọc đúng như thế.

    Công cụ tuyệt vời này trong một thời gian dài từ giữa thế kỷ 17 đến cuối thế kỷ 19 chỉ được sử dụng trong nội bộ các nhà truyền giáo và con chiên người Việt của các giáo đoàn Công giáo. Ngoài cộng đồng giáo dân Thiên Chúa giáo ra, người Việt trong cả nước vẫn tiếp tục dùng chữ Hán và chữ Nôm trong tất cả các hoạt động tri thức. Triều đình dùng chữ Hán như văn tự chính thức của quốc gia. Giới trí thức bên ngoài triều đình, ngoài việc dùng chữ Hán để sáng tác văn học, còn sử dụng chữ Nôm để ghi âm tiếng nói của dân tộc. Nhưng cả hai thứ chữ viết này rất khó học, khó nhớ. Riêng chữ Nôm được nhiều người cho là khó gấp 5 lần chữ Hán. Phải thật giỏi chữ Hán mới có thể dùng được chữ Nôm. Vì thế số người Việt trong nước mù chữ là rất lớn. Người ta ước lượng đến 90 phần trăm dân số mù chữ.

    [​IMG]
    Cảnh trường thi ngày xưa (Hình trên mạng)
    [​IMG]
    Sĩ tử thi Hương (đeo "ống quyển" trước ngực)
    (Hình trên mạng)
    60 năm phát triển của chữ Quốc ngữ

    Sau khi thiết lập nền đô hộ trên đất nước Việt Nam, người Pháp thấy không thể dùng chữ Nho và chữ Nôm trong hệ thống cai trị. Học các thứ chữ này khó quá. Họ quyết định dạy thứ chữ mới theo vần La tinh cho người bản xứ. Thứ chữ do các nhà truyền đạo Thiên Chúa giáo sáng tạo gần với tiếng Pháp hơn. Giới trí thức Nho học bản xứ phản đối kịch liệt thứ chữ mới "do người Tây bày ra" này. Họ muốn giữ lại chữ Nho và chữ Nôm để "duy trì văn hóa dân tộc."

    Tuy vậy, từ năm 1861, người Pháp đã mở trường Thông ngôn tại Sài Gòn, đào tạo một số người biết tiếng Pháp. Họ muốn dùng chữ Pháp thay thế chữ Hán trong giáo dục từ cấp thấp nhất trong làng xã trở lên. Ngày 15/4/1865, tờ Gia Ðịnh Báo, tờ báo tiếng Việt đầu tiên, ra đời tại Sài Gòn, sử dụng chữ viết mới gọi là "chữ Tây quốc ngữ." Ngày 22/2/1869, Phó Đề đốc Marie Gustave Hector Ohier, Thống đốc Nam Kỳ, ký nghị định bắt buộc dùng "chữ quốc ngữ" bằng chữ cái La tinh thay thế chữ Nho trong các công văn của chính quyền ở Nam Kỳ. Từ "Tây" trong "chữ Tây quốc ngữ" được lược bỏ, và "chữ Tây" dành để gọi chữ Pháp-lang-sa. Từ đây, chữ viết mới có tên gọi chính thức là "chữ quốc ngữ."

    Ngày 6/4/1878, Thống đốc Nam Kỳ Lafont ký Nghị định 82 ấn định "Kể từ mồng một Tháng Giêng năm 1882 tất cả văn kiện chánh thức, nghị định, quyết định, lịnh, án tòa, chỉ thị... sẽ viết, ký tên và công bố bằng chữ Quốc ngữ; nhân viên nào không thể viết thơ từ bằng chữ Quốc ngữ sẽ không được bổ nhậm và thăng thưởng trong ngạch phủ, huyện và tổng..."

    Từ cái mốc năm 1869 với nghị định đầu tiên của Thống đốc Nam Kỳ Marie Gustave Hector Ohier đến khi cuốn Ðại Nam Quấc Âm Tự Vị của Huình Tinh Paulus Của ra đời năm 1895 là 26 năm, và tới cuốn Việt Nam Tự Ðiểncủa hội Khai Trí Tiến Ðức năm 1931 là 62 năm.

    Đến lúc này vẫn còn có người đánh giá thấp tiếng Việt. Trong cuốn "Vietnamese Tradition on Trail 1920 – 1945" David G.Marr ghi nhận: "In September 1931, an aging collaborator politician, Ho Duy Kien, during an otherwise routine Cochinchina Colonial Council discussion on primary education, made the mistake of referring to the Vietnamese language as a "patois"similar to those found in Gascogne, Brittany, Normandy, or Provence." (Vào tháng chín năm 1931, một chính trị gia lão thành hợp tác với Pháp, là Hồ Duy Kiên, trong một cuộc thảo luận của Hội đồng Thuộc địa Nam Kỳ về giáo dục tiểu học đã sai lầm khi nói ngôn ngữ Việt Nam như một thổ ngữ dân tộc tương tự như những thổ ngữ thấy ở các xứ Gascogne, Brittany, Normandy, hay Provence của Pháp.) [7] Nghe nói về sau này, thạc sĩ văn phạm Pháp Phạm Duy Khiêm cũng đã phát biểu (không biết ở đâu và trong dịp nào) rằng tiếng Việt còn mang tính thổ ngữ mường mán, đã khiến dư luận phê phán sôi nổi một dạo.

    Nhận xét về hiện tượng đánh giá thấp tiếng Việt này, Tiến sĩ Nguyễn Thiện Giáp viết: "Nhìn chung, những công trình nghiên cứu về tiếng Việt thời thuộc Pháp được viết trên cơ sở lí luận của truyền thống ngôn ngữ học châu Âu, vì thế không tránh khỏi có hiện tượng nhìn tiếng Việt qua lăng kính của các tiếng châu Âu, cụ thể là tiếng Pháp mà sau này có học giả phê phán là có tính mô phỏng, hoặc có người nặng lời gọi là "dĩ Âu vi trung" [8]. ("dĩ Âu vi trung: Lấy châu Âu làm trung tâm).

    Một năm sau cuốn Việt Nam Tự điển của hội Khai Trí Tiến Đức là sự ra đời của Tự Lực Văn Đoàn, 1932. Bất chấp những nhận định chủ quan và tiêu cực về tiếng Việt của vài người như thế, trong thời gian 62 năm đó, tiếng Việt đã được đôi cánh thần kỳ của chữ quốc ngữ nâng lên và bay cao rực rỡ. Vào năm 1933, Việt Nam đã có được 155 tờ nhật báo và tạp chí định kỳ. Nếu so với với "con số 3.812 nhật báo ở Đức vào năm 1926, hoặc 100 tờ báo hàng ngày chỉ riêng của thành phố Paris," [9] thì 155 tờ báo là quá nhỏ bé. Nhưng chỉ mới hơn 60 năm chính thức phổ biến chữ quốc ngữ bắt đầu từ Nam Kỳ và từ khoa thi chữ Hán cuối cùng ở Bắc Kỳ (khoa Ất Mão) năm 1915, và Trung kỳ (khoa Mậu Ngọ) năm 1919, thì con số 155 tờ báo chữ quốc ngữ vào năm 1933 là rất đáng kể.

    Ngay trong vụ Hồ Duy Kiên 1931, theo David G. Marr cho biết: "For the next few months, from one end of Vietnam to another, the quoc-ngu press denounced Ho Duy Kien as rootless (mat goc), unpatriotic, and unrepresentative. Writers pointed out that Vietnamese had no less than 17 million speakers," (Trong vài tháng kế tiếp, trên khắp nước Việt Nam, tất cả các tờ báo quốc ngữ đều tố Hồ Duy Kiên là người mất gốc, không có tinh thần ái quốc, và không đại diện cho nhân dân Việt Nam. Các nhà văn chỉ ra rằng tiếng Việt có không ít hơn 17 triệu người nói." [10] Dân số Việt Nam lúc bấy giờ vào khoảng 20 triệu. 17 trên 20 là một con số rất lớn. Sau năm 1945, số người Việt Nam đọc được chữ quốc ngữ càng tăng rất nhanh.

    [​IMG]
    [​IMG]
    [​IMG][​IMG]
    Chỗ nhảy của những con cừu

    Chữ quốc ngữ của người Việt bản xứ sớm xuất hiện trong các bản tin trên các báo chí tiếng Pháp ở chính quốc và thường xuyên trên báo chí tiếng Pháp tại Việt Nam bấy giờ là thuộc địa của Pháp.

    Khi sáng tạo chữ Quốc ngữ, trong nỗ lực ghi âm tiếng Việt chính xác 100 phần trăm, các nhà truyền giáo người Bồ Đào Nha đã tốn nhiều công sức tạo ra các dấu phụ nguyên âm và dấu thanh điệu cho hệ chữ viết này. Thế nhưng khi xuất hiện trên báo chí tiếng Pháp, tại chính quốc hay tại thuộc địa, những từ tiếng Việt bị lột bỏ hết các dấu, trở nên trần trụi, trông không còn là chữ Việt, mà cũng không giống chữ Pháp hay chữ La Tinh. Tình trạng này là do sự hạn chế về kỹ thuật in typo lúc bấy giờ.

    Chữ Pháp không có các dấu thanh điệu và dấu nguyên âm (tuy chúng có dấu sắc, dấu huyền, và dấu mũ trên chữ "e") Kỹ thuật in typo lúc bấy giờ là đúc từng con chữ rời bằng một hợp kim chì, thiếc, và antimoon. Thợ nhà in sẽ sắp các con chữ thành từng từ vào một "bát chữ" rồi đúc thành "bản kẽm" để đưa lên máy in. Do chữ Pháp không có dấu, và họ không thể vì để in đúng chính tả một vài chữ Việt mà phải đúc cả bộ chữ khác, vả lại, họ không đánh giá cao và không thấy cần tôn trọng chữ viết của dân thuộc địa bản xứ, cho nên các từ tiếng Việt xuất hiện trong các bài báo tiếng Pháp đều không có dấu, "trông không giống ta mà cũng chẳng ra Tây". Đó là một lỗi kỹ thuật. Các nhà trí thức Tây học bản xứ thời đó biết vậy mà cũng phải đành chịu vậy khi bài viết hoặc sách của họ được in ra bằng tiếng Pháp phải chứa những từ tiếng Việt "bất toàn" nếu không nói là què quặt.

    Chính sự hạn chế trong kỹ thuật in ấn này là thủ phạm chính (mà một số người Việt tiếp tay đồng phạm) làm biến đổi không ít các địa danh tiếng Việt trên đất nước mình. Chẳng hạn, làng Hương Bì dưới chân dãy núi Yên Tử thuộc tỉnh Quảng Ninh, được viết không dấu thành Huong Bi. Trong tiếng Pháp, chữ H không được phát âm (H muet: H câm), nên tên làng Hương Bì trở thành Uong Bi, để dần dà thành ra Uông Bí. Tương tự như thế, một địa danh Hồng Hải, biến thành... Hòn Gai!

    Khu vực bến Bạch Ðằng ở quận Nhất Sài Gòn, nơi đặt trụ sở Ngân hàng Quốc gia Việt Nam và Hội Trường Diên Hồng nơi họp Thượng Viện của VNCH, ngày xưa thuộc làng Láng Thọ. Khi xuất hiện trên sách báo tiếng Pháp, Láng Thọ trở thành Lang Tho. Rồi vì chữ H câm, nên Lang Tho thành Lang To, và được đọc theo âm tiếng Pháp là "Lăng Tô." Trong sách Sài Gòn Năm Xưa cụ Vương Hồng Sển có nhắc đến cái thú chiều chiều đi dạo mát Lăng Tô của dân thượng lưu Sài Gòn xưa.

    Chữ Việt không dấu trên báo chí tiếng Pháp thoạt đầu là do hạn chế và thiếu sót kỹ thuật khách quan. Nhưng sự khiếm khuyết này cứ được lập đi lập lại thường xuyên lâu ngày, khiến người ta (giới trí thức tân học người Việt) tưởng đó là điều đương nhiên phải là như thế. Từ đó, hễ phải viết một từ tiếng Việt trong một văn bản tiếng nước ngoài, người ta hồn nhiên tự tước bỏ hết các dấu phụ khỏi chữ viết của dân tộc mình. Họ là những người trí thức cả đó. Nhưng họ không hiểu rằng khi bị mất hết dấu, chữ đó không còn là chữ Việt nữa, nó trở nên vô nghĩa hoặc ý nghĩa không xác định hay khác xa với nghĩa gốc của nó. Người ta không biết "Ham" là chữ "hầm" tiếng Việt, hay một chữ tiếng Anh với nghĩa... thịt đùi heo xông khói; không rõ "vo de" là vợ đẻ hay vỡ đê; "nghi ngoi" là nghỉ ngơi hay nghĩ ngợi; không thể phân biệt Nguyễn Du, tác giả truyện Kiều, hay Nguyễn Dữ, tác giả sách Truyền Kỳ Mạn Lục. Không những người bình thường không hiểu những chữ "không phải Tây mà cũng chẳng còn ta" ấy, mà ngay cả những người có học nhưng kém tri thức có khi cũng không hiểu nó là cái gì. Chẳng hạn, một tác giả (dịch giả?) của một bài viết trên tờ tạp chí Heritage của hãng Hàng Không Việt Nam số Tết Canh Dần 2010 đã dịch ba chữ Việt không dấu Gia Dinh Bao thành… Family News! (Tin tức Gia đình!)

    Gia Ðịnh Báo, tờ báo tiếng Việt đầu tiên của Việt Nam mà tên của nó có đầy đủ dấu rõ ràng ngay trên trang nhất, đã bị người viết tước bỏ hết dấu đi và trở thành... tờ Tin tức Gia đinh!

    Ngày nay kỹ thuật in ấn đã tiến một bước dài thần kỳ như đi đôi hia ngàn dậm. Mỗi người, nếu có nhu cầu, đều có thể sắm cho mình nguyên một... nhà máy in, đặt ngay trên bàn làm việc. Với hàng chục font chữ đủ loại, kể cả ngoài hệ chữ viết La tinh, và khoảng 14 "bảng mã" ( "bộ gõ" chữ Việt có dấu) từ VISCII (VIetnamese Standard Code for Information Interchange), TCVN3 với các font chữ .VnTime, VNSouthernH; VNI (Vietnam-International), BK HCM, Vietware, VIQR, vân vân, đến Unicode, người ta có thể dễ dàng gõ chữ Việt với đầy đủ dấu. Thế nhưng, như những con cừu nhảy cẩng ở chỗ con đầu đàn đã nhảy, người ta vẫn tiếp tục gõ chữ Việt không dấu trong các văn bản tiếng nước ngoài!

    Trong một cuốn sách nghiên cứu âm nhạc viết bằng tiếng Anh của các tác giả người Việt xuất bản trong nước, trong đó những từ tiếng Việt được viết không dấu như thế này:

    "We used traditional technical terms still used by popular artists such as the ngon nhan, ngon chun, ngon nhun… A tendency has appeared among the young instrumentalists and teachers of the dan bau to use a more explicative language for example, by calling the second technique (ngon chun), the descending flexional technique (nhan luyen xuong)" [11]

    Viết bằng tiếng nước ngoài hẳn là để cho người nước ngoài đọc. Nhưng họ cũng phải viết chữ Việt có đầy đủ dấu thì độc giả người nước ngoài mới có thể đọc và hiểu đúng tiếng Việt chớ. Tôi đọc không hiểu những chữ Việt không dấu đó. Người nước ngoài hiểu được không? Thậm chí, trên các danh thiếp, một mặt người ta in tên mình với đầy đủ dấu nghiêm túc, nhưng mặt bên kia người ta tự loại bỏ hết dấu đi, cái tên như thể bị lột truồng. Họ không muốn người ta gọi đúng tên mình sao? Tên mỗi người là một điệu nhạc êm ái thân thương nhất với chính người đó. Xuyên tạc tên của ai là một sự xúc phạm không hề nhỏ. Vậy mà mình tự xúc phạm mình. Những cái tên không mũ không giầy đó vô tình khiến người ta có cảm giác mình tự ti (ông bà chỉ cần gọi tên tôi lơ lớ như vầy được rồi!) chưa nói những cái tên trần trụi như thế dễ gợi người ta nghĩ đến những từ không đẹp. Có lần tôi gặp một cái danh thiếp mang cái tên ba chữ : Ta Tham Du. Như đã nói, chữ Việt không có dấu thực sự là vô nghĩa.

    Sở dĩ con cừu đầu dàn nhảy lên vì chỗ đó có khúc cây ngán chân nó. Người ta đã dẹp bỏ khúc cây trở ngại đó rồi, mà những con cừu đi sau tới đó cũng nhảy lên. Hãy bước tử tế đi. Nhảy ở chỗ không có gì ngán chân mình thì... điên quá!


    [​IMG] [​IMG]
    Gia Định Báo thành...
    Tin tức gia đình! Khay chữ trong nhà in
    (Hình Google)

    [​IMG] [​IMG]
    Chữ in đúc rời
    (Hình Google) Bản kẽm đã lên khuôn (trên máy in) (Hình Google)
    Thiếu Khanh - Chim Việt Cành Nam
     
  12. thiên chương

    thiên chương Công Dân

    Năm xưa ta có Bình Ngô Đại Cáo, nay ta có Hoàng Sa Nộ Khí Phú
    Xin dọc bài này
    Hoàng Sa Nộ Khí Phú

    Theo nhà báo Phạm Viết Đào cho biết trên trang blog của ông thì thi sĩ Kha Tiệm Ly tên thật là Thái Quốc Tế sinh năm 1946 tại Bến Tre. Hiện ông đang sống ở Mỹ Tho. Trước ngày 30/4/1975 thi sĩ Kha Tiệm Ly đã có nhiều bài thơ hay đăng trên các báo và được ngâm trên chương trình Thơ của Hồng Vân, Đài Phát Thanh Sài Gòn.
    Tác phẩm “Hoàng Sa nộ khí phú” của Kha Tiệm Ly được sáng tác trong lúc Internet làm bá chủ trong mọi sinh hoạt học thuật nhưng cái hồn của bài thơ vẫn có khả năng nhắc nhở những ai còn chút lòng với dân tộc, nhất là trước họa diệt vong là có thật trước mắt.

    Ngựa cũ quen đường,
    Đĩ già lậm nết.
    Việc phế hưng mỗi thuở khác nhau,
    Mộng bá chủ bao đời y hệt!
    Ta thấy ngươi,
    Từ Đông Chu bị họa Thất Hùng,
    Đến Hậu Hán bị xiềng Tam Quốc.
    Đất Trường An thây chất chập chùng,
    Bờ Vô Định xương phơi chất ngất!
    Đã biết,
    Hễ gieo chinh chiến là kín đất đau thương,
    Nếu động can qua thì mịt trời tang tóc.
    Vậy mà sao,
    Chẳng lo điều yên nước no dân,
    Lại quen thói xua quân chiếm đất?
    Như nước ta,
    Một dải non sông, nam bắc chung giềng,
    Trăm triệu anh em, trước sau như nhất.
    Hoàng Liên, Tam Đảo, Hồng Hà, Cửu Long, là máu là xương,
    Phú Quốc, Côn Sơn, Trường Sa, Hoàng Sa là da là thịt.
    Máu xương đâu lẽ tách rời,
    Thịt da dễ gì chia cắt?
    Mà là liền tổ quốc phồn vinh,
    Mà là khối giang sơn gấm vóc.
    Người trăm triệu nhưng vốn một lòng,
    Tim một trái dẫu nhiều sắc tộc!
    Nữ nhi chẳng thiếu bậc anh hùng,
    Niên thiếu cũng thừa người kiệt xuất.
    Mười năm phục quốc, gươm Lê Lợi thép vẫn sáng ngời,
    Ba lượt phá Nguyên, sông Bạch Đằng cọc còn nhọn hoắt.
    Thùng! Thùng! Thùng! Liên hồi giục, trống Ngọc Hồi hực bước tiến quân.
    Đánh! Đánh! Đánh! Luôn miệng thét, điện Diên Hồng, vang lời sát thát.
    Ải Chi Lăng, Liễu Thăng chết còn lạc phách kinh hồn,
    Sông Nhị Hà, Sĩ Nghị chạy còn đứng tim vỡ mật.
    Thoáng thấy vó câu Thường Kiệt, Khâm Châu ngàn dặm, không còn bóng quỉ bóng ma(1),
    Chợt nghe tiếng sét Đống Đa, Quảng Đông toàn tỉnh chẳng tiếng con gà con vịt (1).
    Hùng khí dù dậy trời Nam,
    Nghĩa nhân lại tràn đất Bắc:
    Thương ngươi binh bại, tàn quân về còn cấp xe ngựa rình rang (2)
    Trọng kẻ trung can, hổ tướng chết vẫn được khói hương chăm chút (3).
    Mạc Cửu đem quân lánh nạn, chúa ta vẫn mở dạ đón người,
    Hoa Kiều mượn đất ở nhờ, dân ta vẫn chia cơm xẻ thóc.
    Phúc cùng hưởng khi mưa thuận gió hòa,
    Họa cùng chia lúc sóng vùi gió dập.
    Giúp các ngươi như kẻ một nhà,
    Thương các ngươi như người chung bọc!
    Thế mà nay,
    Ngươi lại lấy oán trả ơn,
    Ngươi lại lấy thù báo đức!
    Ăn đàng sóng, nói đàng gió, y như đĩ thúi già mồm.
    Lộn bề ngược, tráo bề xuôi, khác chi điếm già bịp bạc.
    Kéo neo tuần hạm, ào ào đổ bộ Hoàng Sa,
    Quay súng thần công, ầm ỉ tấn công Đá Bắc.
    Chẳng chấp hải qui,
    Chẳng theo công ước.
    Quen nết xưa xấc láo, giở giọng hung tàn,
    Lậm thói cũ nghênh ngang, chơi trò bạo ngược.
    Nói cho ngươi biết; dân tộc ta:
    Từng đánh bọn ngươi chỉ với ngọn giáo dài,
    Từng đuổi bọn ngươi chỉ bằng thanh kiếm bạc.
    Từng đánh Tây bằng ngọn tầm vông,
    Từng đuổi Nhật với thanh mác vót!
    Vì khát tự do mà uống nước đìa,
    Vì đói độc lập mà ăn cơm vắt.
    Sá chi tóc gội sa trường,
    Đâu quản thây phơi trận mạc.
    Hãy liệu bảo nhau,
    Nhìn thây Gò Đống mà liệu thắng liệu thua,
    Thấy cọc Bạch Đằng mà nghĩ sau nghĩ trước!
    Đừng để Biển Đông như Đằng Giang máu nhuộm đỏ lòm,
    Đừng để Hoàng Sa là Đống Đa xương phơi trắng xác!
    Nếu ngươi dựa vào hỏa tiển, phi cơ,
    Thì ta cũng có tuần dương, đại bác.
    So vũ khí, thì kẻ nhược người cường,
    Đọ trái tim, coi ai gang ai sắt?
    Thư hãy xem tường,
    Hoàng Sa hạ bút.
     
  13. thiên chương

    thiên chương Công Dân

    lời thấm thía ý hùng hồn mong tiếng Việt còn mãi mà bừng hùng khí cứu non sông.
    ...
    Ðọc lại Bình Ngô Đại Cáo-

    - Lời Tòa Soạn.- Giữa tình thế có thể gọi là nguy nan của đất nước, khi chính quyền Cộng Sản Việt Nam có âm mưu rõ ràng đang âm mưu dâng đất cho Trung Cộng vào xâm chiếm nước ta, làm dấy lên phong trào phản kháng muôn người như một của dân chúng, đây là lúc chúng ta cần đọc lại bài Bình Ngô Đại Cáo của tổ tiên chúng ta vọng lại từ thế kỷ thứ 15. Năm thế kỷ trước đây nhân lúc nhà Hồ soán ngôi nhà Trần gây suy yếu cho đất nước, quân Tàu mở cuộc xâm lăng Việt Nam với một chính sách vô cùng bạo ngược nhằm đồng hóa dân tộc Việt Nam. Hãy nghe Nguyễn Trãi mô tả tình hình lúc đó để mà so sánh với đất nước ngày nay, bên cạnh quân xâm lăng cũng có một “bọn gian tà bán nước cầu vinh” : “Vì họ Hồ chính sự phiền hà/ để trong nước nhân dân oán bạn. Quân cuồng Minh đã thừa cơ tứ ngược, bọn gian tà còn bán nước cầu vinh. Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn, vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ. Chước dối đủ muôn nghìn khóe, ác chứa ngót hai mươi năm. Bại nhân nghĩa nát cả càn khôn, nặng khoa-liễm vét không sơn trạch.” Chính bọn gian tà thời nay của Việt Nam đã dắt díu nhau sang Tàu để thỏa thuận những gì trong hội nghị Thành Đô, mà dần dần, từng bước một, từng mảng đất đai, biển cả của tổ tiên Việt Nam đang bị người Tàu chiếm đoạt. Người dân biểu tình phản đối thì bọn đầu sỏ cũng chỉ biết cho chạy lại cái đĩa tuyên truyền cũ kỹ đã mấy mươi năm : do thế lực thù địch xúi dục. Lời lẽ của Nguyễn Trãi từ sáu trăm năm trước cứ như là đang diễn giải tình thế hiện nay : “Cậy mình là phải, chỉ quen đổ vạ cho người ; tham công một thời, chẳng bõ bầy trò dở duốc.” Cho nên chúng ta cần phải đọc lại BÌNH NGÔ ĐẠI CÁO như là một bài học thiên cổ cho dân Việt Nam trước đã tâm xâm chiếm Việt Nam của Tàu có sự phụ giúp của “bọn gian tà”. Bài Bình Ngô Đại Cáo cùng lời giới thiệu và bình giải dưới đây chúng tôi mạn phép trích lại từ quyển 1 của bộ Việt Nam Văn Học Sử Giản Ước Tân Biên của Giáo sư Phạm Thế Ngũ, do Quốc Học Tùng Thư xuất bản lần đầu năm 1961 tại Sài Gòn. DĐTK[/B]

    Bình Ngô Đại Cáo

    Nguyễn Trãi

    Tác giả Nguyễn Trãi (1380- 1442) đậu Thái Học Sinh đời Hồ. Thân phụ là Nguyễn Phi Khanh đậu Bảng Nhỡn đời nhà Trần. Sau cả hai cha con cùng làm quan trong triều đình nhà Hồ. Năm nhà Minh xua quân sang đánh Hồ (1406) thì Nguyễn Trãi mới 26 tuổi. Thế địch cường lăng, người trong nước lại chia rẽ, nên trong vòng mấy tháng, cuộc chống đỡ của họ Hồ sụp đổ, đất nước tràn ngập dưới gót giặc xâm lăng. Quân Minh muốn thanh toán những phần tử có danh vọng trong nước mà lại không tán thành sự hợp tác với chúng, nên bắt Nguyễn Phi Khanh đem về Kim Lăng. Nguyễn Trãi theo cha lên đến cửa Nam Quan xụt xùi không dứt. Cha bảo : “Con phải trở về nhà mà lo trả thù cho cha rửa thẹn cho nước chứ đi theo khóc lóc mà làm gì ?” Ông bèn quay về nung chí báo phục. Sau nghe tin có Lê Lợi nổi lên ở Thanh Hóa, tìm vào yết kiến, dâng bài sách bình Ngô, được Lê thu dụng, từ đó ở liền dưới trướng dự việc cơ mưu, và dòng dã 10 năm trong quân, ông đóng vai mưu sĩ, đồng thời đảm nhiệm tất cả công việc từ hàn, thảo mệnh lệnh cùng văn thư giao thiệp với quân Minh. Mười năm qua, cuộc kháng Minh cáo thành. Tháng chạp năm Đinh vị (1428), đạo quân cuối cùng của Vương Thông triệt thối về Tàu. Bình định Vương thiết đàn đại tế Trời đất và ủy cho Nguyễn Trãi viết một bài bố cáo thiên hạ về công cuộc đánh giặc cứu nước của ông. Bài “Bình Ngô Đại Cáo” ấy do Nguyễn Trãi làm, dịch ra Việt văn như sau (bản dịch trong sách Quốc Văn Cụ Thể của Bùi Kỷ) :

    1. Ôn lại lịch sử tiền triều

    « Tượng mảng :

    Việc nhân-nghĩa cốt ở yên dân, quân điếu phạt chỉ vì khử bạo. Như nước Việt ta từ trước, vốn xưng văn hiến đã lâu. Sơn hà cương vực đã chia, phong tục bắc nam cũng khác. Từ Đinh, Lê, Lý Trần gầy nên độc lập, cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên, hùng cứ một phương. Dẫu cường nhược có lúc khác nhau, song hào kiệt đời nào cũng có.

    Vậy nên :

    Lưu Cung sợ uy mất vía, Triệu Tiết nghe tiếng giật mình (1). Cửa Hàm tử giết tươi Toa Đô, sông Bạch đằng bắt sống Ô Mã (2). Xét xem cổ tích đã có minh trưng.” (3)

    2.- Kể tội ác của giặc Minh

    “Vừa rồi :

    Vì họ Hồ chính sự phiền hà/ để trong nước nhân dân oán bạn. Quân cuồng Minh đã thừa cơ tứ ngược (4), bọn gian tà còn bán nước cầu vinh. Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn, vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ. Chước dối đủ muôn nghìn khóe, ác chứa ngót hai mươi năm. Bại nhân nghĩa nát cả càn khôn, nặng khoa-liễm vét không sơn trạch. Nào lên rừng đào mỏ, nào xuống bể mò châu, nào hố bẫy hươu đen, nào lưới dò chim sả. Tàn hại cả côn trùng thảo mộc, nheo nhóc thay quan quả điên liên (5). Kẻ hả miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy no nê chưa chán. Nay xây nhà, mai đắp đất, chân tay nào phục dịch cho vừa. Nặng nề về những nỗi phu phen, bắt bớ mất cả nghề canh cửi. Độc ác thay trúc rừng không ghi hết tội, dơ bẩn thay nước bể không rửa sạch mùi. Lẽ nào trời đất tha cho, ai bảo thần nhân nhịn được.”

    3. - Thuật lại công cuộc bình định

    a) Một ý chí sắt đá :

    “ Ta đây :

    Núi Lam-Sơn dấy nghĩa, chốn hoang dã nương mình. Ngắm non sông căm nỗi thế thù, thề sống chết cùng quân nghịch tặc.

    Đau lòng nhức óc, chốc đà mười mấy nắng mưa, nếm mật nằm gai, há phải một hai sớm tối. Quên ăn vì giận, sách lược thao suy xét đã tinh, ngẫm trước đến nay, lẽ hưng phế đắn đo càng kỹ. Những trằn trọc trong cơn mộng mị, chỉ băn khoăn một nỗi đồ hồi. Vừa khi cờ nghĩa dấy lên, chính lúc quân thù đang mạnh.”

    b) Bước đầu gian nan :

    “ Lại ngặt vì :

    Tuấn kiệt như sao buổi sớm, nhân tài như lá mùa thu. Việc bôn tẩu thiếu kẻ đỡ đần, nơi duy-ác hiếm người bàn bạc. Đôi phen vùng vẫy, vẫn đăm đăm con mắt dục đông (6); mấy thủa đợi chờ, luống đằng đẵng cỗ xe hư tả (7) ; thế mà trông người, người càng vắng ngắt, vẫn mịt mờ như kẻ vọng dương (8) ; thế mà tự ta, ta phải lo toan, thêm vội vã như khi chửng nịch (9). Phần thì giận hung đồ ngang dọc, phần thì lo quốc bộ khó khăn. Khi Linh sơn lương hết mấy tuần ; khi Khôi-huyện quân không một lữ. Có lẽ trời muốn trao cho gánh nặng, bắt trải qua bách chiết thiên ma, cho nên ta cố gắng gan bền, chấp hết cả nhất sinh thập tử. Thế giặc mạnh ta yếu mà ta địch nổi, quân giặc nhiều ta ít mà ta được luôn.”

    c) Những chiến thắng liên tiếp :

    1. Giai đoạn trước : Từ Chí Linh ra Đông Đô

    “ Dọn hay:

    Đem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân mà thay cường-bạo. Trận Bồ đằng sấm vang sét dậy, miền Trà-lân trúc phá tro bay. Sĩ khí đã hăng, quân Thanh càng mạnh. Trần Trí, Sơn Thọ mất vía chạy tan, Phương Chính, Lý An tìm dường trốn tránh. Đánh Tây kinh phá tan thế giặc, lấy Đông đô thu lại cõi xưa. Dưới Ninh kiều máu chảy thành sông, bến Tụy động xác đầy ngoài nội. Trần Hiệp đã thiệt mạng, Lý Lương lại phơi thây. Vương Thông hết cấp lo lường, Mã Anh khôn đường cứu đỡ. Nó đã trí cùng lực kiệt, bó tay không biết tính sao ; ta đây mưu phạt tâm công, chẳng đánh mà người chịu khuất. Tưởng nó phải thay lòng đổi dạ, hiều lẽ tới lui, ngờ đâu còn kiếm kế tìm phương, gây mầm tội nghiệt. Cậy mình là phải, chỉ quen đổ vạ cho người ; tham công một thời, chẳng bõ bầy trò dở duốc. Đến nỗi đứa trẻ ranh như Tuyên Đức (10), nhàm võ không thôi ; lại sai đồ nhút nhát như Thạnh, Thăng, đem dầu chữa cháy.”

    2. Giai đoạn sau : Hãm Đông đô phá viện binh

    “Năm Đinh Mùi tháng chín, Liễu Thăng từ Khâu Ôn tiến sang, Mộc Thạnh từ Vân Nam kéo đến. Ta đã điều binh giữ hiểm đề ngăn lối Bắc quân, ta lại sai tướng chẹn ngang để chẹn đường lương đạo. Mười tám, Liễu Thăng thua ở Chi Lăng, hai mươi, Liễu Thăng chết ở Mã Yên. Hai mươi lăm, Lương Minh trận vong, hai mươi tám, Lý Khánh tự vẫn. Lưỡi dao ta đang sắc, ngọn giáo giặc phải lùi. Lại thêm quân bốn mặt vi thành, hẹn đến rằm tháng mười diệt tặc. Sĩ tốt ra oai tì hổ, thần thứ đủ mặt trảo nha. Gươm mài đá. đá núi cũng mòn, voi uống nước, nước sông phải cạn. Đánh một trận sạch không kình ngạc, đánh hai trận tan tác chim muông. Cơn gió to trút sạch lá khô, tổ kiến hổng sụt toang đê cũ. Thôi Tụ phải quì mà xin lỗi, Hoàng Phúc tự trói để ra hàng. Lạng Giang, Lạng Sơn thây chất đầy đường, Xương giang, Bình than máu trôi đỏ nước. Gớm ghê thay ! Sắc phong vân cũng đổi. Thảm đạm thay ! Sáng nhật nguyệt phải mờ. Binh Vân Nam nghẽn ở Lê Hoa, sợ mà mất mật ; quân Mộc Thạnh tan chưng Cần Trạm, chạy để thoát thân. Suối máu Lãnh câu nước sông rền rĩ, thành xương Đan xá cỏ nội đầm đìa. Hai mặt cứu binh, cắm đầu trốn chạy ; các thành cùng khấu, cổi giáp xuống đầu.”

    d) Thái độ khoan hồng với bọn tướng Tàu bại trận :

    “Bắt tướng giặc mang về, nó đã vẫy đuôi phục tội ; thể lòng trời bất sát, ta cũng mở đường hiếu sinh. Mã Kỳ, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền, ra đến bể chưa thôi trống ngực. Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cổ ngựa, về đến Tàu còn đổ bồ hôi. Nó đã sợ chết cầu hòa, ngỏ lòng thú phục ; ta muốn toàn quân là cốt, cả nước nghỉ ngơi.”

    4. - Nhìn vào ngày mai rạng rỡ

    “Thế mới là mưu kế thật khôn, vả lại suốt xưa nay chưa có. Giang-san từ đâv mở mặt, xã tắc từ đây vững nền. Nhật nguyệt hối mà lại minh, càn khôn bĩ mà lại thái. Nền vạn thế xây nên chăn chắn, thẹn nghìn thu rửa sạch làu làu. Thế là nhờ trời đất tổ tông, khôn thiêng, che chở giúp đỡ cho nước ta vậy.

    Than ôi !

    Vẫy vùng một mảnh nhung y nên công đại định, phẳng lặng bốn bề thái vũ mở hội vĩnh thanh. Bá cáo xa gần, ngỏ cùng nghe biết.”

    * * *

    Mục đích bài cáo này là để cắt nghĩa và thuật lại cùng toàn thể quốc dân một công cuộc do một người xướng lên và theo đuổi bấy lâu cho đến giờ đây nên công rực rỡ. Công cuộc ấy là đánh đuổi giặc Minh để lấy lại độc lập. Người xướng lên ấy là Bình định vương Lê- Lợi. Nguyễn Trãi đã từ cương vị của vương mà lên tiếng bá cáo thiên hạ.

    Mở đầu ôn lại lịch sử tiền triều, xác định ý chí sống độc lập và oai hùng của dân tộc. Độc lập nghĩa là nhất định không chịu thân phận phụ dung, lệ thuộc. Và oai hùng cho nên kẻ nào phạm đến tất được biết tay. Kế đó kể tội ác của giặc Minh. Nhà Minh sao chẳng xem lịch sử mà học lấy bài học cũ. Cớ chi thừa cơ gây hấn, xua quân sang nước ta. Để rồi gây ra bao nhiêu tội ác dã man. Tác giả gợi lại bức tranh đen tối đầy máu lửa và nước mắt của gần 20 năm bị chiếm đóng. Khiến cho người dân - người dân nạn nhân trực tiếp của bàn tay sắt của quân thù - xem đến còn dùng mình, sởn óc, lo hãi, bàng hoàng. May thay giữa cảnh non sông ảm đạm, dân tộc tôi đòi ấy, một ý chí xuất hiện.

    “Ta đây: núi Lam sơn dấy nghĩa...” Tất cả những uất-ức căm thù cùng mong muốn rửa hận của quốc dân đúc kết vào một người : Lê Lợi. Vương thổ lộ cho quốc dân hay lòng dạ của ông : “căm nỗi thế thù, sống chết diệt giặc, đau lòng nhức óc, quên ăn vì giận, trằn trọc lo toan.” Vương tiết lộ với quốc dân những bước đầu trơ trọi ngặt nghèo của cuộc chiến đấu : “thiếu kẻ đỡ đần, ít người bàn bạc, đăm đăm con mắt, đằng đẵng cỗ xe, Linh Sơn lương hết mấy tuần, Khôi Huyện quân không một lữ.” Song đối tất cả những trở lực, Vương đã đem ý chí sắt đá của mình để vượt lên : “cố gắng, bền gan, chấp hết cả nhất sinh thập tử.” Và rồi dần dà được quốc dân hưởng ứng kéo đến dưới cờ, khiến cho thế yếu chuyển mạnh. Cuộc chiến từ thế thủ đổi ra thế công.

    Từ đây bước vào phần chính của bài cáo, người đọc bị lôi cuốn bởi một hơi thở hùng ca (souffle épique) vào một chuỗi chiến thắng lừng lẫy. Giai đoạn trước, từ Chí Linh ra Đông đô, các trận Bồ Đằng, Ninh Kiều, Tụy Động đưa đến Vương Thông phải xin hòa. Giai đoạn sau, hãm Đông đô, đánh viện binh, các trận Chi Lăng, Mã Yên Sơn, Lê Hoa, Cần Trạm đưa đến Vương Thông lại một lần nữa cầu hòa. Khi mạt sát nhục mạ quân địch : “Trần Trí, Sơn Thọ mất vía chạy tan - nó đã trí cùng lực kiệt - đứa trẻ ranh như Tuyên Đức (tức vua nhà Minh) - đồ nhút nhát như Thạnh, Thăng.” Khi biểu dương sức mạnh quân ta : “Sĩ tốt ra oai tỳ hổ, thần thứ đủ mặt trảo nha - Gươm mài đá, đá núi cũng mòn ; voi uống nước, nước sông phải cạn - Đánh một trận sạch không kình ngạc, đánh hai trận tan tác chim muông”. Khi phác họa bức tranh chiến trường với những nét bi hùng : “Lạng giang Lạng Sơn thây chất đầy đường - Xương giang, Bình Than máu trôi đỏ nước - Suối máu Lãnh câu nước sông rền rỉ, thành xương Đan xá cỏ nội đầm đìa”. Tác giả đã luôn luôn kích dương sự rung cảm, trí tưởng tượng người đọc. Và đối với người đọc là quốc dân đương thời tai mắt còn nóng hổi những cảm giác của thời cuộc thì đây quả là một bữa tiệc văn chiến thắng. Người ta phải hồi hộp say sưa sống lại từng trận, từng trận vinh quang. Để cuối cùng vươn lên một thái độ cao ngạo, khinh bỉ trước cái quang cảnh triệt thối của tàn quân địch “ra đến bể chưa thôi trống ngực, về đến Tàu còn đổ bồ hôi”.

    Nhưng sau hết, cũng để trở về một thái độ quảng đại bình tĩnh hơn, mà lại thoáng điểm vẻ ngậm ngùi. Chữ than ôi ! trong phần kết đành rằng chỉ là một công thức tán thán, nhưng nó cũng hắt thở một chút bùi ngùi. Hạnh phúc nào chẳng vương vấn đau thương. Tiếng kèn thắng trận nào chẳng nổi lên giữa tàn phá với rên la. Bấy nhiêu chiến thắng lừng lẫy, song đã phải trả giá hằng bao nhiêu hy sinh ! Tác giả chẳng muốn gợi ra. Chỉ như một đám mây đen che phủ mặt nhật. Giờ đây nhật nguyệt hối mà lại minh. Ngày mai của dân tộc còn dài. Giang sơn đã sáng rạng. Tác giả mời toàn thề quốc dân hãy vui mừng đón hội vĩnh thanh.

    Bài này Nguyễn Trãi đã nhân danh Bình Định Vương mà viết. Song ông cũng đã đặt trong, con ngưòi và tư tưởng của ông nhiều lắm. Tư tưởng của ông mà cũng là ý thức hệ xoay chiều của thời đại. Nhà Trần đã thắng quân Mông Cổ nhờ ở ý chí của một lớp vương hầu quý tộc cùng gia tướng. Đến Lê Lợi xuất thân chỉ là một nông dân áo vải, Nguyễn Trãi nữa đích xác là kẻ sỹ nguồn gốc bình dân. Cha xưa đời Trần tuy đậu Bảng nhỡn song vì trót nặng lòng với đôi mắt của một công nương mà bị triều đình cấm đường hoạn lộ. Cuối đời Trần khí thế của lớp vương hầu suy vi rồi tắt lụi hẳn sau mấy cuộc thanh toán đẫm máu dưới tay Hồ Quý Li. Sự vùng dậy yếu ớt, thảm bại của mấy ông Hậu Trần là một chứng cớ. Họ Hồ thất chính, thất trận đưa dân nước vào họa dầu sôi, lửa cháy mà bơ vơ như “con không cha, nhà không nóc”. Công cuộc kháng chiến kéo dài là vì đòi hỏi sự kết hợp của một lực lượng lãnh đạo mới. Lê Lợi bên cạnh Nguyễn Trãi người nông dân trung lưu sát cánh với nho si đó là hình ảnh của lực lượng mới. Còn chủ nghĩa của họ ? Cái gì đã thúc đẩy nâng đỡ ý chí họ ? Tất chẳng phải ý niệm về triều đình với tôn miếu, thái ấp, với bổng lộc, hay ân huệ của một quốc công, hứa hẹn của một chủ soái. Mà là cảnh tượng dân đen trên lửa, con đỏ dưới hầm, là tình máu mủ là nghĩa đồng bào, và trên nữa ý thức về một lịch sử oai hùng mà mình phải tiếp tục. Đó chính là cái chủ nghĩa về dân tộc, về quốc gia vậy. Chủ nghĩa ấy ở đây lại hiện ra dưới ánh sáng của tư tưởng triết lý nho gia bắt đầu vững mạnh : quan niệm “thánh nhân tham thiên địa tán hóa dục” (quân thù làm “bại nhân nghĩa, nát cả càn khôn”) quan niệm vương sư “điếu dẫn phạt tội”, không bao giờ “độc vũ cùng binh”, quan niệm kính Trời, thờ tổ... tất cả đều là dấu vết của một ý thức hệ nho gia sẽ bắt rễ, nảy ngành phát triển cực độ vào đời Thịnh Lê.

    Nguyễn Trãi đã đem gởi vào bài cáo, cùng với phần báo cáo chiến thắng, những tư tưởng ấy của lực lượng lãnh đạo, mà suy lại thì là của chính ông. Ồng chính là phần tử có ý thức của lực Iượng ấy. Mười năm bên cạnh Lê Lợi hoạch sách, vận trù, ông đã là một bên cánh tay, đúng ra một phần khối óc của Lê Lợi. Mười năm điều khiển tình hình, theo rõi chiến sự, để đi đến buổi khải toàn, đại cáo, ông phải, là người biết rõ hơn cả, “sống” hơn cả, rung động hơn cả với cuộc kháng chiến của dân tộc. Cho nên ông đã đem tất cả tâm hồn mà viết ra một bài cáo vừa có sự thật chính xác, mà tình cảm sôi nổi sức sống dạt dào.

    Phạm Thế Ngũ


    Chú thích :

    1. Lưu Cung là vua nước Nam Hán. Ngô Quyền đánh bại quân Nam Hán ở sông Bạch Đằng (938) mở đường tự chủ cho nước ta. Triệu Tiết với Quách Quỳ chỉ huy quân Tống sang đánh nước ta về đời nhà Lý (1076) bị Lý Thường Kiệt đẩy lui.
    2. Nhắc lại những trận chiến thắng giặc Nguyên đời nhà Trần. Ta giết được Toa Đô ở Hàm tử quan (1285) đuổi quân Nguyên về lần thứ nhất, và bắt sống được Ô Mã Nhi ở sông Bạch Đằng (1287) đuổi quân Nguyên về lần thứ hai.
    3. Chứng cớ rõ ràng.
    4. Thừa cơ hội hết sức làm điều tàn ngược.
    5. Quan: Người không có vợ ; quả người góa chồng ; điên liên : những kẻ không nơi nương tựa. Đều là hạng người cùng khổ trong xã hội.
    6. Muốn tiến về phía Đông, đây muốn lấy Đông Đô.
    7. Cổ xe để trống không bên trái, ý nói để đợi nhân tài giúp rợp,
    8. Trông ra biển không thấy gì.
    9. Vớt người chết đuối.
    10. Vua Tuyên Tông nhà Minh, niên hiệu Tuyên Đức.

    Tác giả Phạm Thế Ngũ
     
  14. thiên chương

    thiên chương Công Dân

    [​IMG]
    Phụ Nữ Nước Việt Hôm Nay


    Em, dáng hình mãnh mai ốm yếu. Hình dáng này, đúng ra là ngồi bên cửa sổ đọc sách, học bài, hay thêu thùa may vá, bấm phím cung đàn. Vì em có nét một tiểu thư, cần được an nhàn nơi lầu son trướng gấm.

    Vậy mà em lại đứng đây, đứng giữa dòng người xao động trong khung cảnh không thể gọi là nơi chốn yên lành - Giữa mọi người lố nhố và em rất nhỏ nhoi, hai tay giương cao với tấm bảng nét chữ mấy dòng: “Phản đối cho thuê đặc khu kinh tế 99 năm, một hình thức trao đất nước cho giặc”.

    ... Hai đứa tranh cãi và đưa tới hành động “vũ phu”, dù anh chưa phải là chồng nhưng muốn giành quyền áp đặt: anh đã đập chiếc nón bảo vệ vào em với lời đe dọa: “Em nên chấm dứt hành động điên rồ đó đi. Tham gia biểu tình chống đối chỉ có thiệt thân, chỉ thêm vướng khổ. Mất nước là mất chung, đâu phải một mình mình đâu mà đi lo những chuyện bao đồng. Nếu em còn tiếp tục, chúng mình sẽ chia tay, và anh sẽ nói gia đình từ bỏ hôn nhân, bỏ việc cưới hỏi”.

    Một đêm không ngủ, chỉ có khóc và âu sầu nghĩ ngợi. Sau cùng thì em quyết định, dứt khoát chia tay một mối tình. Dù rằng một mối tình vun đắp qua một thời gian dài thắm thiết và tin tưởng. Em vẫn tiếp tục con đường mình đang đi: Cương quyết vẫn sẽ đi biểu tình đấu tranh cho sự sống còn cho đất nước, cho dân tộc.

    Người viết cảm thấy vui mừng, và xin kính phục, kính chào em.

    (Ng, Dân - Dáng đứng của Em, người anh thư nước Việt)

    "Bà Trưng quê ở Châu Phong
    Giận người tham bạo thù chồng chẳng quên
    Chị em nặng một lời nguyền
    Phất cờ nương tử thay quyền tướng quân"


    Ngày nay, con cháu hậu duệ hai bà lắm nỗi truân chuyên mà đâu phải vì chuyện công hầu khanh tướng mà chỉ vì "đấu tranh cho sự sống còn cho đất nước, cho dân tộc."

    Cô gái nhỏ nói một câu đơn giản mà thực tế hàng hàng, lớp lớp xã thân tranh đấu không kể gì năm tháng. Chỉ tính về mặt nổi "biểu tình" từ cuộc biểu tình lịch sử ngày 5 tháng 6, 2011 đến nay còn nhớ được:

    -Bùi Minh Hằng

    - Trần Thị Nga

    -Phương Bích

    - Kim Tiến

    - Phương Uyên

    - Mẹ Nấm Như Quỳnh

    ... và muôn ngàn anh thư thầm lặng.

    Và người phụ nữ nhỏ bé tranh đấu kiên cường vì Dân Chủ - Nhân Quyền Huỳnh Thục Vy vừa bị bạo quyền khủng bố và truy tố về tội ... " trét sơn lên cờ dỏ việt cọng. "

    Trước thềm tranh đấu Cách Mạng Mùa Thu, xin viết lại đôi dòng ca ngợi gương tranh đấu kiên cường của người Phụ Nữ Nước Việt Hôm Nay.

    BA THẾ HỆ PHỤ NỮ VIỆT NAM

    MẸ ƠI!

    Khi con gặp nguy nan, cất tiếng kêu hai tiếng “Mẹ ơi!”

    MẸ VIỆT MAM ƠI!

    Khi toàn dân gặp cơn nguy biến, đồng cất tiếng kêu “Mẹ Việt Nam ơi!”

    Mẹ thương con như biển hồ lai láng. Dù đắng cay, khổ cực trăm đường vẫn vì thương, mẹ cam chịu được để nuôi con nên vóc, nên hình.

    Mẹ Việt Nam nghìn đời nhẫn nhục, bao dung. Khi hưng thịnh, mẹ cho con dân mùa màng tươi tốt, vườn tược sum xuê. Khi gặp ách ngoại xâm dày xéo lên thân mẹ, mẹ vẫn kiên trì chảy dòng nước ngọt, lúa thóc đầy đồng để con mẹ no lòng, diệt giặc.

    Phụ nữ Việt Nam, qua bao thế hệ cũng nhọc nhằn như vậy, vì thương. Nhìn tấm hình chị Phạm Thị Lài và cháu nhỏ Hồ Nguyên Thủy bị bạo quyền vùi dập không thương tiếc, bỗng nhớ những người phụ nữ ngày xưa, gặp lúc vận nước suy vi, cũng từng trải qua thảm cảnh như vậy!

    THẾ HỆ PHỤ NỮ THỜI TÂY THUỘC ĐỊA

    Quê tôi miền Đông Nam Bộ đồng khô, cỏ cháy, ruộng gò, đất cứng, phụ nữ thường mua gánh, bán bưng. Mẹ tôi, thời thanh nữ, lặn lội gánh gồng, giúp mẹ nuôi các em. Khi lập gia đình, mở quán nhỏ bán bì, phụ thêm lương chồng, nuôi bầy con nhỏ. Người thôn nữ bình thường đó, cả cuộc đời chừng như không có mấy ngày vui. Lớp lo cho chồng con, lớp lo chiếu cố cha già, mẹ yếu, các em còn nhỏ dại. Nhưng bà mẹ miền Đông của tôi cũng còn may mắn, không phải ly cách gia đình, đổ máu vì mảnh vườn, miếng ruộng như những dì, những chị miền Tây, kiệt thứ.

    Nọc Nạn, quyển sách cấm của Phúc Vân, thuở học trò cũng có lén lút đọc. Ngày nay, lâu quá, quên mất rồi. Chỉ nhớ lại khi tiếng súng hoa cải Đoàn Văn Vươn, Tiên Lãng nỗ vang. Nghe câu nói lẫm liệt của chị Hiền, nội nhân Đoàn Văn Quý, rằng: “Gia đình em chấp nhận chịu thiệt để cho xã hội được,” bỗng nhớ tới những người phụ nữ trong gia đình Biện Toại, trên cánh đồng Nọc Nạn, xứ Bạc Liêu, gần trăm năm về trước.

    Hồi tôi ra tỉnh, học lớp Nhứt, ba tôi vốn là công chức Phòng Điền thổ, mỗi khi có tranh chấp đất đai, thường nghe ông nói ba chữ “khẩn úp bộ,” nghĩa là: Bọn người giàu có không động móng tay, ngồi chực đó, thấy ai quê mùa khai khẩn đất đai, vun bồi tốt đẹp mà vì không biết chữ để lo xin lập bằng khoán, văn tự sở hữu chủ khoảnh đất nhiều năm khai phá, gieo trồng là chúng bỏ tiền ra mua chuộc cường hào xã, quận để toa rập lập bằng khoán cho chúng đứng tên để cướp khống ruộng, đất của người ta.

    Gia đình Biện Toại là lâm cảnh nầy đây. Bang Tắc làm trồng, làm tréo lập văn tự mua mảnh đất kế bên, rồi kê diện tích lấn hết khoảnh ruộng của gia đình Biện Toại. Bị chống đối, xem bề không ăn được, nó đem bán phứa cho con mẹ có nhiều thế lực. Tới mùa thu hoạch lúa, con mẹ chủ dỗm nầy mua chuộc cò Tây đem mã tà vô “cưởng chế” thu lúa tô, coi như Biện Toại thuê ruộng của nó.

    Đêm trước ngày cò Tây vô cướp lúa, cả nhà Biện Toại họp nhau, lạy chào vĩnh biệt mẹ già để hôm sau liều thân với đám Tây tà ăn cướp. Trước bàn thờ gia tiên, anh em bắt thăm để xem ai là người ra trận đầu. Cả hai lần cô Trọng đều trúng thăm.

    Sáng ngày định mạng ấy, cô dắt đứa em nhỏ ra coi Tây đong lúa. Thằng cò Tournier làm phách, nạt nộ, bạt tai cô Trọng, không cho cô chứng kiến vì cô tuổi vị thành niên. Cô Trọng ức lòng mới rút dao nhỏ ra huơ lụi nó. Thằng cò Tây Bouzou thấy vậy, nhảy tới chụp dao, bị thương nhẹ. Thằng kia rãnh tay, trở bá súng đập vô dầu cô Trọng té xỉu. Bé gái chạy về nhà la ó. Cả nhà bèn xông ra, xung trận. Dẫn đầu phe nam là mười Chức, bị cò Tournier bắn trọng thương, nhưng trước khi ngả xuống vẫn lụi được cò Tây một mác khiến hôm sau thằng nầy chết tốt. Dẫn đầu phe nữ là bà Nghĩa, vợ Mười Chức đang mang thai cũng sát cánh cùng chồng chiến đấu.

    Kết quả là nhà Biện Toại có 4 người đem thân đổi mạng cò Tournier gồm Mười Chức và vợ, cùng hai người anh là Nhẫn, Nhịn.

    Vậy đó, người phụ nữ Việt Nam là như vậy đó! Bình thường, nhẫn nhục lo cho chồng con. Khi nguy biến, liều thân chia sẻ!

    Đó là phụ nữ thế hệ đầu thế kỷ trước. Bây giờ là thế hệ phụ nữ thời nam Bắc phân ly.

    PHỤ NỮ THỜI NAM BẮC PHÂN LY

    Tôi chỉ tính viết về thân phận và cách hành xử của hai thế hệ phụ nữ Việt Nam: Bà Nghĩa và cô Trọng hối đầu thế kỷ trước và chị Thương, chị Hiền thời nay, nhưng bạn vừa gởi cho bài viết “ Thân phận người con gái của Cần Thơ” của tác giả Đặng Mỹ Dung. Bài tự truyện ngắn của tác giả “ Ngàn giọt lệ rơi,” ( A Thousand Tears Falling ) đẹp như bài thơ trữ tình, kể câu chuyện của cha mẹ mà cũng là thân phận của chính mình: Hai người phụ nữ, hai mảnh đời khoắc khoải giữa thời chinh chiến điêu linh, mẹ chờ chồng, con trông ngóng cha. Khởi đầu chia cách không vì hoàn cảnh mà vì lòng người ngăn cách, khi bà mẹ của bé gái Cần Thơ từ chối mang con theo người chồng “cách mạng” tập kết ra Bắc vào nắm 1954, do Hiệp định Genève chia cắt hai Miền Nam-Bắc. Người phụ nữ cương nghị Miền Nam khẳng khái nói với chồng: ”Con tôi còn nhỏ quá để tôi nuôi. Nếu để Bác Hồ của anh nuôi chúng nó sẽ hư hết.”

    Ngày 28 tháng Tư 1975, khi Miền Nam đang hấp hối, chàng rễ người Mỹ của bà mẹ của Mỹ Dung, liều lĩnh từ Mỹ sang VN, rước bà mẹ và các em vợ đi Mỹ.

    Người chồng lúc nầy là cán bộ cao cấp cs đang có mặt ở Paris, mới nhắn vợ sang gặp mặt. Sau mươi ngày vui sum họp, bây giờ phải quyết định ở lại Mỹ hay về VN với chồng. Lần nầy người vợ cũng quả quyết như hồi 21 năm về trước. Xin trích lại đoạn văn về cuộc chia tay lần cuối: “Khi má tôi đã sẵn sàng theo ba tôi về Việt Nam, bà bỗng nửa đùa nửa thật hỏi: “Tôi về Sài Gòn mấy thằng cán ngố sẽ làm gì tôi, anh biết không?”Ba tôi chau mày nói: “Sao em dùng những danh từ chữ không đẹp đẽ gì hết vậy?”Má tôi liền đáp:“Trong Nam của tôi chỉ có những chữ đó để kêu họ thôi,tôi đâu biết tiếng gì khác hơn.”Suy nghĩ một lát ba tôi nhìn về phía thật xa rồi nói:“Em về thì mấy anh sẽ mời em lên nói chuyện...Chắc là em sẽ phải đi học tập ít ngày.”Má tôi tỏ ý không bằng lòng nhìn thẳng vào mắt ba tôi, rồi hỏi:“Tôi khôn hơn mấy thằng cán ngố của anh, lại không làm gì ác độc như anh Ba Duẫn của anh, thương nước thương nòi hơn cậu Hồ của anh, thì ai mà dạy tôi học với tập được? Mà tôi đâu có tội gì với Đảng với Bác của anh?”Ba tôi bụm miệng má tôi lại vì hai người đang ở trong villa của cộng sản, nơi mà Nguyễn thị Bình và Lê Đức Thọ đã từng ở trong thời gian hội nghị Ba Lê. Rồi ba tôi hạ giọng nói nhỏ:“Em bỏ nước ra đi khi toàn dân chào mừng cách mạng, em còn để cho con lấy chồng Mỹ.”Má tôi cười ngạo:“Dạ thưa đồng chí, nhưng người Mỹ nầy là cha của cháu ngoại đồng chí. Còn nói chào với đón...thì ai chào ai đón mấy ông rồi sẽ hối hận ê chề sau tuần trăng mật.”Thế là cuộc xum họp tan vỡ. Má tôi trở về Mỹ như một con chim đại bàng bị thương. Ba tôi về Sài Gòn như một hiệp sĩ thua trận.Nhưng tình nghĩa giữa cha mẹ tôi vẫn nồng vẫn đậm.”

    Câu chuyện chia tay tuy không có nước mắt nhưng chừng như có “ ngàn giọt lệ rơi” trong lòng.

    Mà đâu phải chỉ có câu chuyện tang thương của giới thượng lưu kể trên, còn biết bao chuyện đời thường, đau đớn hơn, mang nhiều hệ lụy hơn, nào ai biết!

    THẾ HỆ PHỤ NỮ THỜI “ CƯỞNG CHẾ”

    Bà Nghĩa, cô Trọng vì đất đai, kẻ chết, người đi tù thời Tây thuộc địa. Ngày nay, dưới thời xã nghĩa hiện đại, thân phận người phụ nữ ê chề hơn, tủi nhục hơn. Biết bao người, vì sinh kế bán thân, bán thân từ trong nước ra nơi hải ngoại, Đài Loan, Trung cọng, Triều Tiên...

    Tục ngữ có câu: “ Đất đai không bao giờ dối trá.” Đất thì không dối trá, nhưng cường hào, tư bản đỏ lọc lừa, dối trá, dùng mọi thủ đoạn cướp đất, phá nhà.

    Người phụ nữ VN thời cưởng chế bao phen chống trả cường quyền, xoay trở đủ đường tìm phương giữ ruộng đất của cha ông. Máu chưa đổ chan hòa, người chưa gục ngả như trên cánh đồng Nọc Nạn ngày xưa, nhưng đau đờn, nhọc nhằn kéo dài như vô tận.

    Hai chị Thương, Hiền, nội nhân của Vươn, Quý, nơi vùng ao đầm Tiên Lãng, gia đình chỉ có 4 người đàn ông đều lâm vòng lao lý. Nhà cửa tan nát, ao đầm thủy sản bị cướp trắng, hai người phụ nữ dựng lên chiếc lều con, tảo tần nuôi đàn con nhỏ dại. Vậy mà nào đâu đã được yên thân. Cường quyền vẫn bám theo hành hạ. Chiếc lều tạm bợ qua ngày, chúng nhẫn tâm sai bọn côn đồ, xã hội đen đập phá. Bàn thờ gia tiên chúng đem ném xuống đầm. Nhìn tấm hình chị Thương, nâng niu ảnh thờ của đứa con gái nhỏ chết chìm từ những ngày đầu khai phá ao đầm thấy thật đau lòng.

    Chuyện Cống Rộc, Tiên Lãng, dù sao cũng là chuyện hai gia đình đơn lẽ. Chuyện Văn Giang quan hệ cả làng. Trước bầy quỉ dữ thi hành cưởng chiếm, các bà, các chị tay không tấc sắt, chỉ biết rên siết, van cầu. Chúng chẳng tha, lựu đạn cay ném tới. Vậy mà chị Ngô Thị Ánh chẳng quản thân mình, lại đi hô hào binh vực hai phóng viên, người nhà nước, đến nỗi bị bọn “chỉ biết còn đảng, còn mình” bắt bớ, đánh đập. Vậy đó, người phụ nữ Việt Nam, tấm lòng thương người là như vậy đó! Bọn cường quyền chúng bây có biết vậy hay không? Đất Phụng Công, Văn Giang là đất lịch sử, vết tích nơi Hai bà Trưng khao quân trước khi tiến đánh Luy Lâu, lần đầu tiên thu hồi Độc lập, thu lại nghiệp xưa họ Hùng, từ non hai ngàn năm trước. Bọn cs vô học ngày nay bất biết, đem sắt thép chồng lên xây lầu các, xóa sạch vết tích lịch sử tổ tiên. Tội ác nầy “ Trời không dung, Đất không tha.”

    Chuyện cưởng chiếm đất Vụ Bản, Nam Định còn tàn bạo hơn! Mặc cho các bà, các chị, trẻ em chít khăn thề chết với mảnh đất bao đời lập nghiệp, bọn ưng khuyển xông vô đánh đập chẳng nương tay. Bà lão bảy mươi đánh bễ đầu, thanh niên đập cho gãy cẳng.

    Chuyện người phụ nữ Cái Răng, sông Hậu mới thật là thê thiết! Cũng giống như Đoàn Văn Vươn, vợ chồng Phạm Thị Lài dày công, đổ mồ hôi, sôi nước mắt, khai phá mảnh đất, cất nhà, sinh sống an lành từ mười mấy năm nay. Ngày nay đất bằng, bỗng nhiên dậy sóng. Cường quyền xông tới đuổi đi để chúng xây binh đinh phục vụ nhà giàu. Quá ức lòng, người chồng mấy phen uống thuốc rầy, tự vận. Mẹ con Thị Lài, Nguyên Thủy biết tính sao đây? Kháng cự bằng súng hoa cải như nhà anh Vươn không được. Phòng thủ thụ động như bà con Văn Giang, Vụ Bản cũng chẳng xong. Thôi thì mẹ con là phụ nữ, dùng vũ khí nguyên thủy của phụ nữ, may ra khuất phục bạo quyền? Mẹ con bèn cởi truồng ăn vạ. Chẳng ngờ rằng phỉ đồ vô học, trơ tráo, đâu biết gì lễ nghĩa, liêm sỉ, giữa thanh thiên, bạch nhựt chúng nhào vô bốc hốt, rờ rẩm như chốn không người.

    Xưa nay ngừoi phụ nữ Việt Nam truyền thống, vóc ngọc, thân ngà, tuyết sạch, giá trong, muốn khoe vẻ đẹp, nhiều lắm là kín đáo mặc “ áo lụa mỏng Hà Đông “. Ngày nay, mẹ con chị Lài làm như vậy là vì cùng đường, coi như thân mình đã chết, kể gì tấm thân ngà ngọc!

    Đây là vết ô nhục của bạo quyền cs ngàn năm khôn bề rửa sạch. Dẫu cho ngay ngày mai đây, độc tài toàn trị cs sụp đổ, tội ác nhục nhã nầy vẫn còn ghi lại chẳng bỏ qua.

    HÃY VÙNG LÊN CỨU MẸ VIỆT NAM

    Mấy bửa nay bọn tình báo, phản gián tổng cục 2 cs tung ra cái gọi là “Bản đánh giá của Mỹ về tình hình Việt Nam” với câu kết luận như vầy:

    “Trước mắt, Mỹ (mà trực tiếp là Đại sứ quán Mỹ tại Hà Nội) đang tìm cách xây dựng các mạng lưới xã hội VN, khai thác, lôi kéo và chuyển hóa giới trẻ VN; đẩy mạnh tuyên truyền, kích động gây chia rẽ mối quan hệ Việt-Trung... nhằm thực hiện được mục tiêu chuyển hóa, lật đổ chính quyền VN trong 20 năm tới.

    Tung tài liệu nầy ra, bọn phản gián tính chuyện gì vậy? Với câu kết luận kể trên, ý đồ của chúng thấy rõ bông: Làm nản lòng những ai hiện nay đang dấn thân tranh đấu nhằm

    giải trừ chế độ toàn trị cs vì phải cần 20 năm nữa Mỹ mới chuyển hóa, lật đổ csvn.

    Hiện nay, bọn csvn đang tứ đầu thọ địch: Bên ngoài chúng bị cả Mỹ, Trung Cộng thúc ép như gọng kềm siết chặc. Bên trong, vấn đề cưởng chế đất đai bùng nỗ, kinh tế đang trên bờ vực thẩm, giống như cuồng phong, vũ bảo chực chờ càn quét hàng triệu gia đình vào cơn tuyệt vọng. Chỉ cần một tia lửa kích phát, thùng thuốc súng nỗ bùng là chế độ bạo ngược cs sụp đổ, diệt vong.

    Cho nên:

    DÙ AI NÓI NGỬA, NÓI NGHIÊNG

    VỮNG TÂM KHÁNG CỘNG NHƯ KIỀNG BA CHÂN

    Nguyễn Nhơn ( HNPD )
     
  15. DangQuangChinh

    DangQuangChinh Công Dân

    Chữ nghĩa


    Chữ nghĩa bây giờ kỳ cục ghê
    Đọc hoài như lạc vào cung mê
    Đường ngay nẻo thẳng không đi tới
    Lạc lối đi hoài thật khiếp ghê

    Chữ nghĩa ngày nay là thuốc mê
    Giết người một cách thật nhẹ êm
    Chết rồi còn tưởng nằm mê ngủ
    Chiến đấu cứu nguy biết bao người

    Chữ nghĩa bây giờ thật đảo điên
    Đúng sai sai đúng chỉ vì tiền
    Tình nghĩa được xem như là chín(h)
    Tiền bạc nhiều hơn vẫn là mười

    Chữ nghĩa bây giờ thật chán chê
    Ngán như cơm nếp thay gạo tẻ
    Nếp cũ vẫn còn thật tốt hay
    Đổi mới thành ra nát tan tành

    Chữ nghĩa được dùng bởi bọn điên
    Tuyên truyền dối gạt cứ liên miên
    Người dân bị động đành phó thác
    Riết cũng trôi qua một kiếp người

    Nhưng chữ nghĩa cũng thật là tiên
    Biến độc tài trở thành dân chủ
    Biến đói nghèo thành cảnh ấm no
    Ai ơi học kỹ chữ tự do



    Đặng Quang Chính
     
  16. thiên chương

    thiên chương Công Dân

    Từ Lò Vi Ba Đến Con Ốc Xoáy

    (Sống 150403 - Vùng Oanh Kích Tự Do - Nguyễn-Xuân Nghĩa)

    Nhân khi lo chuyện “cư an tư nguy”, chuẩn bị ứng chiến ngay trong thời bình, Hoa Kỳ phát minh ra cái lò vi ba, microwave, nhờ một tai nạn nhỏ trong phòng thí nghiệm.

    Raythenon là doanh nghiệp đang có hợp đồng với bộ Quốc Phòng để nghiên cứu làn sóng nhỏ li ti, vi ba, cho hệ thống radar. Một nhân viên gặp tai nạn nhỏ là cái kẹo trong túi bỗng chảy thành nước. Nhà khoa học đẩy trí tò mò đi xa hơn, và nghĩ đến một cái lò điện. Raytheon bèn hợp tác với một đồng nghiệp là Litton, và phát minh cái lò đầu tiên vào năm 1949. Đấy là khoa học.

    Mà họ không thành công.

    Vì bước qua doanh trường, các hãng sản xuất đồ gia dụng chưa thấy vật này là hấp dẫn. Lò điện thì nhà nào chẳng có rồi? Sản xuất thêm một loại lò mới thì chưa chắc đã ăn khách. Huồng hồ dân Mỹ thời ấy chưa quen với kiểu biến thực phẩm đông lạnh thành món ăn nghi ngút khói trên bàn. Đi tiên phong thường là người cô đơn.

    Nhẹ nhất là bị đằng sau móc túi. Có khi còn bị bắn vào lưng!

    Nhưng từ bên kia đại dương, người Nhật lại nghĩ khác về cái lò nhỏ bé và mới lạ này. Xứ Nhật thì đất chật người đông, cái gì cũng phải thu vén. Hình ảnh “một căn nhà nhỏ đi về có nhau” của ta có thể là một bức tranh Nhật. Bên trong, cái gì cũng nhỏ, từ ngôi vườn, phòng ốc đến bếp núc. Và đa số thức ăn thì phải hâm lại. Cái gì cũng nho nhỏ xinh xinh như hòn non bộ.

    Chỉ có cái chí là vĩ đại.

    Dân Nhật tự cho là phải anh hùng lắm thì mới là người Nhật. Một quần đảo khô cằn hiểm trở trên vùng giá lạnh, lại dựa lưng nỗi chết là núi lửa, động đất và sóng thần. Người Mỹ nghĩ đến một lãnh thổ vô cương, một thế giới bạt ngàn. Dân Nhật thì thu vén không gian để thủ cho chắc. Khi bung ra thì thiên hạ chấn động.

    Quả vậy, họ nhìn cái lò vi ba dưới con mắt khác người Mỹ, khi đó còn lạng quạng.

    Trong phòng, khách đang hì hục nạo dừa và cho bánh đa vào lò vi ba. Bấm vài phút là có món nhậu với Đế Nga. Sắp đến hạn trả thuế, chủ khách đều ra vẻ khắc khổ bên mấy bài “hài cú” treo trên tường. Để khách ngồi thanh đạm và trịnh trọng như một anh Nhật buồn, chỉ uống Vodka với bánh đa cùi dừa, người viết này nói chuyện kinh bang tế thế!

    Khách lại treo cái lông mày như dấu hỏi. - Bố khỉ, chữ “kinh tế” là xuất phát từ đó…. Nhưng sẽ nói sau.

    ***

    Trở lại cái lò vi ba, Hoa Kỳ phát minh ra một thứ gia dụng mà chưa thấy đắc dụng.

    Người Nhật mua về, cải tiến và trở thành nhà sản xuất lớn. Dân số chẳng đông, mà sản xuất nhiều thì mới rẻ, nên họ sản xuất để xuất cảng. Làm sao bán một cái ý mới trong món hàng mới mà nhiều người chưa thấy ra công dụng? Ấy vậy mà Nhật Bản vẫn thành công.

    Và thế giới biết đến cái lò kỳ diệu nhờ hệ thống Nhật và sản phẩm của Matsushita hay Sanyo, v.v... Năm 1970 thì mua sáu chục vạn, đến 1975 thì thị trường đếm được hơn hai triệu. Năm 1975 đó, chúng ta còn đếm tổn thất và bọn man rợ thì đếm chiến lợi phẩm khi tiếp quản và cải tạo miền Nam.

    Đấy là lúc Hoa Kỳ giật mình.

    Đại gia General Electrics - với các sản phẩm gia dụng mà gia đình nào cũng có - bèn vào cuộc như một máy hủ lô. Rầm rộ. Vài năm sau, là khi Hà Nội bị Tầu “cho một bài học” vào năm 1979, thì thị trường vi ba tại Mỹ mới lần đầu tiên vượt thị trường Nhật. Nhưng lò Nhật vẫn chiếm 25% thị trường này của Hoa Kỳ.

    Khách ngồi bên lại thở hắt: Mỹ phát minh ra lò từ năm 1949, mà chê. Đến 30 năm sau mới chụp lại một ý cũ của mình sau khi Nhật đã áp dụng và hái ra tiền của dân Mỹ? Mẹ kiếp! Vậy mà vẫn có đứa luận rằng “Cái gì Mỹ cũng biết!”

    Thật ra, nhiều người Mỹ còn không biết rằng sau lưng Nhật Bản lại có Đại Hàn đang chồm tới.

    ***

    Dân Nhật tin là phải anh hùng và hơi bi thảm thì mới muốn làm người Nhật. Trên bán đảo Triều Tiên thì người Cao Ly cho rằng phải anh hùng lắm thì mới tồn tại.

    Địa thế của tổ tiên là nơi mà Tầu ra Nhật vào đã nhiều lần trong lịch sử. Hai lân bang đó mà cứ choảng nhau là lại thi thố võ công trên đất Triều Tiên đã! Trong thế kỷ 20, Đại Hàn bị Nhật chiếm đóng và dạy dỗ mấy chục thập niên, từ 1910 tới 1945. Khi Nhật rút là lúc Tầu vào - Chiến tranh Cao Ly (1950-1953).

    Cuộc chiến vẫn chưa kết thúc năm 1953, mà mới chỉ là tạm ngưng bắn thôi.

    Thời Nhật Mỹ tranh đua với cái lò vi ba - và dân ta thống khổ vì trò “giải phóng” của miền Bắc bị cộng sản thống trị - xứ Đại Hàn còn quá nghèo. Thuộc loại nghèo nhất thế giới với lợi tức người dân chỉ bằng 10% của dân Mỹ.

    Thị trường Đại Hàn nghèo và nhỏ hơn Nhật trên một vùng bị thiên nhiên bạc đãi còn hơn đất Phù Tang. Mà lại bị chia đôi! Nhật thì lo núi lửa, chứ Đại Hàn thì nằm dưới tầm đạn Bắc Hàn. Đằng sau là Hồng quân Liên Xô và các sư đoàn Giải phóng quân thủ vai “thiện nguyện” Trung Quốc.

    Đấy là bối cảnh của chuyện “kinh bang tế thế”.

    Khách buông miếng cùi dừa, chằm chằm nhìn vào màn ảnh rực rỡ hiệu Samsung. Chẳng là Âu Châu phát minh ra chữ “kinh tế” hay “economy”, bằng cách ghép tiếng Hy Lạp, gồm có “eco” với “nomia”, có nghĩa khiêm nhường ban đầu “quản trị gia đình”. Nhưng Á Châu có tham vọng hơn, nên ghép câu “kinh bang” với “tế thế”.

    Âu Châu mới chỉ muốn “tề gia”, chứ tại phương Đông, người ta còn muốn trị quốc để bình thiên hạ cơ. Đấy là nguyên ngữ của chữ “kinh tế”.

    Nó nổi bật trong cái lò tôn nhỏ xíu.

    Thấy khách lẩm nhẩm trong miệng, người viết lập tức can ngăn: “ai nói lái là kẻ có tội, chứ quân tử không nói bậy”!

    Chưa kể nhiều ngành khác, Tổ hợp Samsung của Đại Hàn cũng có một phân cục sản xuất đồ điện gia dụng như máy giặt máy xấy, v.v…. Nhưng vì thị trường quá hẹp nên phải nghĩ đến xuất cảng.

    Năm 1976, dù cả nước Đại Hàn chưa hề có một tháp phát hình màu, Samsung đã nghiên cứu để sản xuất truyền hình màu. Cũng năm đó, khi Nhật đang giữ thế mạnh trên thị trường “microwave”, Samsung còn chưa biết làm sao chế ra ra cái lò. Nhưng đã nghĩ đến sản xuất để… bán sang Mỹ.

    Viễn kiến ghê người!

    Một toán đặc nhiệm của Samsung bay qua Mỹ qua Nhật tiếp xúc và mua lò vi ba về. Trong “phòng thí nghiệm” còn nhỏ hơn lớp trung học, kỹ sư của họ tháo tung mấy cái lò mới nhất của G.E., Toshiba, Matsushita hay Litton - để học. Và đêm ngày nghiên cứu bất kể ngủ nghê để biết về kỹ thuật và từng cơ phận cần thiết.

    Rồi biết thêm là cơ phận nào thì mình sản xuất được, bằng máy gì, thiết trí ở đâu với cái giá là phải rẻ hơn của Mỹ của Nhật. Còn bộ phận nào chưa làm được thì mua, hoặc hùn hạp với nhà sản xuất để mua với giá rẻ, rồi sẽ sản xuất lấy cho mình.

    Họ mất cả năm cho cái ống magnetron, bộ phận then chốt vì phát ra sóng điện từ chân không. Các doanh nghiệp Nhật từ chối không mua bán gì cái kỹ thuật bí truyền ấy, Samsung chỉ còn một nơi gõ cửa là công ty Amperex của Mỹ tại tiểu bang Rhode Island. Qua tới nơi mới biết Amperex đã phá sản vì không cạnh tranh nổi với Nhật! Samsung đành phải làm lấy mà thôi.

    Và họ hỳ hục sản xuất để bán, ban đầu là một vài ngàn cái bán cho JC Penny…. Mới lượm bạc cắc thôi.

    Tại Hoa Kỳ, đại gia G.E. bắt đầu thấm mệt vì đi quá trễ vào một thị trường đã rơi vào tay Nhật ngay trên đất Mỹ. Vì Nhật cố tình bán rẻ để lấn đất giành dân hay vì Matsushita, Toshiba có hiệu năng cao hơn? Giới chính trị gõ vào lòng yêu nước lã mà tri hô là doanh nghiệp Nhật cố phá giá để cướp lấy việc làm của dân Mỹ! Lý luận rất nông khi đó của đảng Dân Chủ.

    Tổ hợp G.E. thì thận trọng hơn và qua tận nơi tìm hiểu. Nhờ đó khám phá rằng chẳng những doanh nghiệp Nhật có năng suất cao nên mới bán rẻ, mà trên chiến trường còn có thêm một tay kiếm sĩ cầm đoản đao, là Samsung, với hỗn danh là Tam Tinh!

    Gom lại cho gọn: sau nhiều năm đắn đo đau lòng, kể cả dẹp luôn một xưởng sản xuất của mình, đại gia General Electrics quyết định là giao cho Samsung làm lò cho mình bán trên đất Mỹ. Rẻ và tốt hơn! Thời ấy, dân tỵ nạn của ta mà mua lò microwave có nhãn G.E. thì cũng chẳng để ý đến hàng chữ ở dưới: “Made in Korea”.

    Đấy là lò của Samsung.

    ***

    Chúng ta vừa thoáng chạy qua một chiến trường không tiếng nổ, là thị trường sản xuất loại gia dụng tầm thường là cái lò vi ba.

    Trên chiến trường ấy, ba tay kiếm sĩ Mỹ Nhật Hàn giao đấu bằng trí tuệ: khả năng sáng tạo, tổ chức và sản xuất để phục vụ người mua. Ai khéo hầu khách thì lên làm vua. Lưỡi gươm thiêng do Raytheon rèn được từ 1949 lại bị bỏ xó. Nhật Bản nhặt lên, múa được mấy mùa trên cõi trời Âu-Á-Mỹ. Sau cùng, G.E. đành nhường đất và liên thủ với Samsung để kháng cự…. Từ đó, Samsung trở thành đệ nhất cao thủ về đòn vi ba, môn võ công họ chưa từng biết mới chỉ 10 năm về trước.

    Ngày nay, ngay trên đất Mỹ, Samsung đang tranh ngôi của Apple trên võ đài “smart phones”.

    Hàng ngày, ta thấy quảng cáo và phân vân giữa Samsung Galaxy S5 gì đó với cái iPhone S6+ - mà bà con ta gọi là “Sáu Cộng”. Và đọc tin kinh tế thì ta giật mình khi thấy Samsung đề ra chỉ tiêu năm nay sẽ xuất cảng 32 tỷ đô la sản phẩm chế tạo tại hai xưởng Bắc Kinh và Thái Nguyên.

    Trận đánh giữa Samsung và Apple đã xuất hiện ngay tại Việt Nam, với các chỉ huy trưởng người Hàn người Mỹ. Và bên dưới là đạo quân của các kỹ sư và nhân công Việt Nam.

    Trong khi ấy, anh Sáu Cộng thật ngồi ở cõi Ba Đình thì than là cái đinh ốc ta còn chưa sản xuất nổi. Tại sao?... Câu hỏi cứ như con sên bò trong óc vậy.

    Thấy khách rưng rưng nước mắt về phận nước, người viết bèn an ủi bằng thơ Vũ Hoàng Chương:

    Dấu hỏi vây quanh suốt cả đời:
    Sên bò trong óc, máu thầm rơi.
    Cuối đời một dấu than buông lửng:
    Đinh đóng vào săng tiếng rụng rời!

    Lời giải ở đây là dân ta bị con ốc xoáy vào bộ não từ những năm nảo năm nào. Phép giải ở đây là… lấy đinh mà đóng vào săng. Anh Sáu Cộng mà yên nghỉ ngàn thu cùng đồng loại là côn trùng giun dế thì dân ta mới khá!

    ----Ktg Nguyễn Xuân Nghĩa
     

Chia sẻ, giới thiệu đến bè bạn