Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!

Toàn Cầu trong Thư Viện

Chủ đề trong 'Kiến Thức Khắp Nơi' do lltran khởi đầu 15 tháng Bảy 2009.

  1. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    Chuyện côn trùng xứ Jordan

    [​IMG]

    * Hình ảnh của bộ Canh Nông Hoa Kỳ (United States Department of Argriculture, USDA)

    Bộ Canh Nông Jordan loan báo rằng họ đã sử dụng kỹ thuật “ngừa thai” có tên là Sterile Insect Technique (SIT) để ngăn sự sinh sản của loài côn trùng Mediterranean fruit fly hay gọi tắt là Medfly và bảo vệ mùa màng.

    Việc ngừa thai dùm côn trùng này đã giảm phí tổn về thuốc diệt trùng từ 350 JD (Jordan dinar, khoảng 500 mỹ kim) xuống 20 JD (khoảng 30 mỹ kim) cho mỗi mẫu đất canh tác.

    Medfly hủy hoại 50% các loại hoa màu như cam, quýt, cà tím… mỗi năm trong nhiều năm. Khi bộ Canh Nông bắt đàu áp dụng kỹ thuật ngừa thai kể trên, hoa màu hư hại do Medfly chỉ còn ở mức 1%.

    Kỹ thuật ngừa thai dùm côn trùng bao gồm việc gây giống một số lớn Medfly, những côn trùng đực được (bị) chiếu một lượng phóng xạ (irradiated) thấp, đủ để hủy diệt sự sinh sản, và sau đó, đàn côn trùng đực được phóng sinh tại những trang trại. Nơi đây, côn trùng cái (thiên nhiên) kết giống với các côn trùng đực nhưng chúng không thể sinh sản. Yêu nhau xong, các đàn Medfly lăn ra chết.

    SIT là một kỹ thuật do hai nhà Côn Trùng Học Hoa Kỳ, Tiến Sĩ Raymond C. Bushland và Tiến Sĩ Edward F. Knipling sáng tạo trong thập niên 50. Hai ông đã đoạt giải thưởng World Food Prize năm 1992. SIT là một cách diệt côn trùng hữu hiệu nhất từ trước đến nay.

    Medfly (Ceratitis capitata) được xem như loại côn trùng phá hoại mùa màng trầm trọng nhất, chúng ăn ráo trọi khoảng 300 thứ hoa màu khác nhau trên khắp thế giới.

    Bộ Canh Nông Jordan bắt đầu sử dụng SIT từ năm 1998 sau khi các quốc gia nông nghiệp khác dùng SIT và thành công trong việc bảo vệ hoa màu. Dùng côn trùng để diệt côn trùng thay cho hoa chất. Mỗi tuần, các chuyên viên nông nghiệp thả khoảng 1 triệu con Medfly đực nhiễm phóng xạ vào các nông trại, chủng Medfly từ thiên nhiên bị tiêu diệt từ từ vì chúng không thể sinh sản và tiếp tục các thế hệ côn trùng mới. Trong khoảng 9 – 18 tháng, Medfly tại vùng canh tác kia sẽ tuyệt giống.

    Các hoa màu được bảo vệ bằng SIT được xem như “không dùng chất diệt trùng” (pesticide-free) và dễ bán hơn, nhất là xuất cảng qua các quốc gia có luật kiểm soát thức ăn khá chặt chẽ, không cho phép buôn bán các loại cây trái đã qua thuốc diệt trùng.

    Đề án diệt Medfly đã tốn khoảng 164 ngàn mỹ kim cho chính phủ Jordan tính từ năm 1998 đến nay.

    Tvvn.org, tháng Mười Một 2007
     
  2. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    Dân Tây ăn vạ,

    [​IMG]

    Hôm nay, ông Tây bà đầm lại lăn ra ăn vạ. Lần này họ rủ rê nhau đình công; tất cả những phương tiện di chuyển công cộng đều dậm chân tại chỗ. Thế là người dân đành cuốc bộ, đi xe đạp hay dùng xe riêng để đến sở, đến trường. May quá Dế Mèn đã dìa đến nhà chứ còn lang thang bên Tây thì chắc điên cái đầu!

    Việc dân Tây trong ngành vận chuyển lưu thông lăn ra ăn vạ dính dáng đến quyền lợi hưu trí mà ông tông tông mới keng Nicolas Sarkozy đang cố gắng sửa đổi để chính sách hưu bổng (pension reform) được đồng nhất tại Pháp. Không hiểu tại sao và tự bao giờ những công chức trong ngành vận chuyển giao thông (xe buýt, xe điện, xe lửa, máy bay) lại được hưởng quyền lợi hưu trí sớm hơn những người khác? Và Tổng Thống Sarkozy muốn thay đổi điểu đó, nghĩa là khoảng 500 ngàn công chức Pháp trong chục triệu người chịu ảnh hưởng của sự thay đổi.

    Chính sách mới nhắm đến việc giảm ảnh hưởng của các nghiệp đoàn lao động (labor union). Nếu chính phủ mới có thể thực hiện được sự thay đổi về chính sách hưu bổng hôm nay thì may ra họ có thể thay đổi những chính sách khác về công việc làm, trợ cấp cũng như thuế má trong tương lai mà cứu vãn tình trạng kinh tế. Pháp là một quốc gia đắt đỏ, sưu cao thuế nặng mà mức sống của người dân không mấy thoải mái. Những công ty ngoại quốc buôn bán tại Pháp thường không ăn nên làm ra vì sở phí quá cao. Hàng hóa vật dụng sản xuất tại Pháp, trừ mấy món xa xỉ phẩm và thời trang, không tranh đua nổi với thế giới vì quá đắt đỏ. Chỉ nhập cảng mà hổng xuất cảng thì làm sao phát triển? Cứ như thế nên nền kinh tế của Pháp từ từ xuống dốc và đi vào mùa thu chết. Những người trẻ tuổi hôm nay thường tự vấn làm thế nào để khôi phục nền kinh tế đang xuống dốc kia? Làm sao để có thể tiếp tục tài trợ ngân quỹ khổng lồ của quốc gia họ từ hưu bổng, y tế đến giáo dục, chi thì nhiều mà thu thì ít, chẳng lẽ cứ… in tiền Euro mà xài với nhau?

    Lần trước, năm 1995, khi chính phủ thử thay đổi chính sách hưu bổng, người ta đã tổng đình công, cuộc đình công kéo dài 3 tuần lễ, sinh hoạt của quốc gia này tê liệt hoàn toàn và chính phủ đành nhượng bộ. Lần này, những công dân trẻ tuổi hơn đã thấm thía ít nhiều sự thua sút về kinh tế của đất nước mình so với thế giới nên ủng hộ chính phủ. Họ cho rằng các công chức ngành giao thông kia ích kỷ quá, không xá chi đến ích lợi của cả quốc gia. Họ đi xe đạp đến nơi làm việc và trên giỏ xe đạp, họ cắm những tấm bảng tỏ ý ủng hộ chính phủ. Trong khi đó, cuộc đình công của ngành giao thông kéo theo nghiệp đoàn năng lượng, (khí và điện lực) gas and electricity, họ dọa dẫm rằng nước Pháp sẽ tối thui (blackout) nếu chính phủ cứ đòi thay đổi chính sách hưu bổng…

    Dế Mèn nghĩ đến vài lần khi thành phố New York bị mất điện, chao ôi là hỗn loạn nên lấy làm ưu tư dùm bạn bè ở xứ Phú Lãng Sa kia. Ưu tư xong thì thầm hỏi không biết ông tông tông đẹp trai Sarkozy kia có đủ hùng khí của ông già gân Ronald Regan mà sa thải quách những nhân viên không chịu làm việc khi công việc của họ ảnh hưởng đến sự an nguy của công chúng như những người Kiểm Soát đường bay (Air Traffic Controller) tại Hoa Kỳ năm xưa hay không?

    Tvvn.org, tháng Mười Một 2007
     
  3. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    Hội nghị thượng đỉnh của cộng đồng Âu Châu

    Tuần này, các quốc gia trong cộng đồng Âu Châu sẽ nhóm họp, cuộc hội nghị thượng đỉnh, để bàn thảo về hiến pháp của họ.

    Trong cuộc hội nghị này, các quốc gia thành viên sẽ thảo luận ráo riết về nhiều đề tài, từ việc dang tay đón nhận các quốc gia thành viên mới cho đến chính sách đối ngoại (foreign policy), và nhất là làm thế nào để sửa soạn đón nhận quốc gia thành viên khổng lồ Nga Xô, mỗi ngày một hăm hở và cứng cỏi khó chịu hơn! Nhưng có lẽ việc soạn thảo và thỏa thuận về hiến pháp sẽ là đề tài nóng bỏng nhất, chính đề tài này đã khiến cộng đồng Âu Châu tê liệt cả 2 năm nay sau khi Pháp và Hòa Lan bỏ phiếu chống về những chính sách liên hệ đến kinh tế và chính trị!

    Tuần lễ vừa qua, bà Angela Merkel (Chancellor của Đức), chủ tịch cộng đồng Âu Châu đã thương thảo với Ba Lan về sự phản kháng của họ. Ba Lan đòi cộng đồng thay đổi cách bỏ phiếu để Ba Lan có một tiếng nói nặng ký hơn. (Theo hệ thống bỏ phiếu hiện nay, một số quốc gia như Đức, Anh..., phiếu bầu của họ "nặng ký" hơn so với quốc gia đang phát triển trong cộng đồng, vì thế không lạ lùng chi khi Ba Lan đòi thay đổi việc bỏ phiếu). Cuộc thương thảo giữa bà Meckel và Ba Lan không suông sẻ, và sẽ là một đề tài nhức đầu cho 27 quốc gia (được bỏ phiếu) trong cộng đồng vào những ngày sắp tới.

    Đức đưa ra một số đề tài để bàn thảo:
    - Đổi "Hiến Pháp" (constitution) thành "Hiệp Ước" (treaty)
    - Bỏ huy hiệu của cộng đồng Âu Châu (symbol of EU statehood)
    - Định nghĩa rõ ràng hơn về vai trò của quốc gia thành viên
    - Hủy bỏ Điều Khoản về Quyền Lợi Căn Bản (Fundamental Rights) và chỉ sử dụng khi cần thiết trên mặt luật pháp (Hổng hiểu hổng hiểu???)
    - Thêm phần vai trò của cộng đồng trong những vấn đề liên quan đến năng lượng, sự thay đổi thời tiết

    Để có sự thỏa thuận giữa các thành viên trong cộng đồng Âu Châu, Đức cho rằng bản "Hiến Pháp" sẽ phải đổi tên thành "Hiệp Ước", hủy bỏ những điều khoản như cờ và "đồng ca" (anthem) và "bỏ qua" ngay cả những điều khoản về xã hội cũng như quyền sống như một con người. (Điều này ta có thể hiểu được vì sự khác biệt khá xa trong mức sống, sự hiểu biết cũng như tài nguyên giữa các quốc gia thành viên. Những điều khoản được chấp nhận bởi Anh, Pháp, Đức..., các quốc gia nghèo như Ba Lan khó bề kham nổi, nên dĩ nhiên là họ hổng chịu!)

    Cộng đồng Âu Châu có thể sẽ có một vị chủ tịch mới, mỗi 5 năm, thay cho hệ thống chuyền tay hiện nay cứ mỗi 6 tháng và nhiệm vụ trao lại cho một vị nguyên thủ quốc gia của các quốc gia thành viên.

    Ngoài những khó khăn về hành chánh, cộng đồng Âu Châu không thuận thảo về nhiều thứ khác, nhất là việc "đối ngoại". Mỗi quốc gia đều lo lắng về quyền lợi của mình, quân sự cũng như kinh tế, và dĩ nhiên là họ muốn duy trì ảnh hưởng kinh tế cũng như sức mạnh quân sự của riêng họ, làm sao mà có một chính sách "chung" áp dụng cho mọi thành viên? Ngoài ra, cộng đồng Âu Châu còn loay hoay về việc có nên để Thổ gia nhập hay không? (Pháp bỏ phiếu chống). Làm thế nào để duy trì cán cân giữa các cường quốc khi Nga Xô đang hăm hở đòi làm "đàn anh"? Ba Lan đòi quyền "ăn nói" vì hiện tại tiếng nói của Ba Lan chỉ bằng một nửa tiếng nói của Đức, và chỉ có một mình Tiệp bỏ phiếu thuận ủng hộ Ba Lan. Anh đang lo lắng về việc tạo "tiếng nói" chính thức cho cộng động Âu Châu, một thực thể có hiến pháp và được các quốc gia thành viên nhìn nhận là tiếng nói đại diện cho cả cộng đồng; nếu (chữ NẾU thiệt bự) điều khoản này thành sự thật, Anh có thể mất chỗ ngồi trong Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc... Và một trăm lẻ tám thứ khác... Như thế, người ta còn cãi nhau dài dài và khi thỏa thuận, hình như ta sẽ có một hiệp ước chẳng có mấy điều khoản quan trọng (water down treaty). Và vì những điều khoản không quan trọng mấy, nên người ta mới có thể gật đầu thỏa thuận chăng?

    Thôi thì ta cứ để họ bàn thảo với nhau, thỏa thuận được cái chi hay cái đó, phải không bạn? Cộng đồng nào mà chẳng lộn xộn năm người mười ý huống hồ cả mấy chục quốc gia, tiếng nói, phong tục khác nhau? Nhất là trong lịch sử, họ đã có thời đánh nhau một mất một còn, bây giờ ngồi lại mà thương thảo thế này là...lịch sự lắm rồi, bạn nghĩ sao?

    Tvvn.org, tháng Sáu, 2007
     
  4. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    Vì di dân, nhờ di dân …


    [​IMG]

    Con người với bản năng sinh tồn sẽ tìm kiếm một cuộc sống no đủ, từ vật chất đến tinh thần. Khi không thể sinh sống tại một vùng đất khắc nghiệt, người ta đi tìm nơi trú ngụ khác. Những di dân này đem theo văn hóa, ngôn ngữ và bắc nhịp cầu giữa đất tổ và quê hương mới. Từ đó, họ thay đổi dần dần bộ mặt của đất tạm dung. Khi nhóm di dân kia lớn mạnh, họ thay đổi bộ mặt của cả thế giới, mỗi ngày một ít, từ kinh tế, giáo dục đến văn hóa nghệ thuật.

    Nhìn từ một khía cạnh nhỏ, thế hệ nối cầu, những người đầu tiên đến một vùng đất mới , sau khi tạm ổn về nơi ăn ở và công việc làm, bắt đầu tìm cách đưa thân nhân đến vùng đất an lành hơn. Và những di dân kia đã làm gì để nối cầu? Họ gửi tiền bạc cho thân nhân ở quê cũ qua những dịch vụ chuyển tiền.

    Western Union là một trong những công ty đang hấp hối vì dịch vụ điện tín chào thua internet và điện thư, đã tìm ra lối sống qua dịch vụ chuyển tiền. Từ đó công ty này chỗi dậy và sống hùng sống mạnh, đè bẹp cả trăm công ty chuyển tiền khác khắp nơi trên thế giới. Hàng năm, Western Union đã chuyển khoảng 1 tỉ mỹ kim của những di dân nghèo khó cho thân nhân họ. Phải nói rằng di dân là nguồn sống không những của thân nhân họ mà còn là nguồn sống của Western Union, vì thế công ty này theo sát các tiến triển về luật di trú, những phong trào kỳ thị di dân, tìm kiếm và theo dõi các hoạt động của di dân, từ cách sinh sống, công việc làm chốn ăn ở … hầu như kỹ lưỡng và chính xác hơn cả cơ quan Kiểm Tra Dân Số (Census Bureau) của chính phủ Hoa Kỳ!

    Mở rộng các chiến dịch quảng cáo, Western Union sử dụng ngay cả những ngôn ngữ không mấy phổ thông như Tagalog (nhắm đến cộng đồng Phi), Twi (cộng đồng Ghana)… Chính bà sếp lớn của Western Union, Christina A. Gold cũng thừa nhận rằng di dân trên toàn cầu là nền móng làm ăn và phát triển của công ty họ.

    Con số chi nhánh của Western Union cao gấp 5 lần tổng số các quán McDonald, Starbucks, Burger King, và Wal-Mart cộng lại! Có thể nói rằng, công ty này có mặt khắp nơi, khắp chốn để “sửa túi” nhưng không “nâng khăn” dùm di dân! Vậy mà chẳng mấy ai để ý hay tìm hiểu khuôn mẫu thương mại (business model) này, từ người dân cho đến học giả. Hầu như những dịch vụ chuyển tiền này, dẫn đầu bởi Western Union, đã lẳng lặng thiết lập hạ tầng cơ sở của việc di dân toàn cầu, thúc đẩy những thay đổi về kinh tế, chính trị và văn hóa khắp thế giới.

    Riêng trong năm 2006, di dân từ những quốc gia nghèo khó đã chuyển 300 tỉ mỹ kim về quê hương họ, số tiền bạc lớn gấp 3 lần ngân sách tài trợ của các quốc gia giàu có cộng lại! Trong khi các quốc gia giàu có kia hoạnh họe đòi hỏi quyền lợi bánh quy trao lại, những người di dân vẫn âm thầm nai lưng cặm cụi kiếm tiến để giúp đỡ thân nhân họ, bánh ít tiếp tục trao đi! Các dịch vụ chuyển tiền này tạo ra một nhịp cầu khá vững chắc để di dân có thể tin cậy mà sử dụng, tuy nhiên họ đòi hỏi một lệ phí khá cao, từ 4% - 20%!

    Đã có những luật sư thay mặt di dân kiện Western Union về tội làm ăn không ngay thẳng, dấu giếm chi tiết về lệ phí khá cao của họ và thắng kiện! Chẳng là Western Union chơi trò dụ dỗ, họ quảng cáo “gửi 300 mỹ kim về Mễ chỉ tốn 15 mỹ kim lệ phí” nhưng thật ra khi đến tay người nhận, số tiền chỉ còn 275 mỹ kim qua mức “hối xuất” do chính công ty đặt ra. Đối với một di dân đầu tắt mặt tối ở mức lương tối thiểu, 40 mỹ kim vào năm 1998 là một số tiền khá lớn. Dĩ nhiên là Western Union chối bay chối biến, không nhận tội lỗi, nhưng đã trả mấy chục triệu mỹ kim để thương thảo.

    Làm ăn không ngay thẳng coi bộ khó khá nên Western Union sửa sang lại bộ mặt, sau một thời gian bị bêu riếu là bóp cổ người nghèo; để sơn phết lại bộ mặt đầy những dấu $, Western Union đã tiêu xài khoảng 1 tỉ mỹ kim trong 4 năm qua, trang điểm cho công ty một khuôn mặt tử tế hơn, có vẻ thân thiện với di dân hơn, đáng tin cậy hơn. Thay vì quảng cáo chúng tôi chuyển tiền nhanh như chớp mắt (làm việc hiệu quả), họ chuyển hướng qua những hình ảnh có tính cách gia đình và xã hội mà ca rằng gửi tiền, ta gửi cả tương lai dưới tấm ảnh một cô bé Phi tốt nghiệp tại trường học đứng cạnh bà mẹ là Y Tá tại Luân Đôn! Những hình ảnh đám cưới giữa dân địa phương và người ngoại quốc được quảng cáo là “nối nhịp cầu”. Và Dế Mèn không biết Western Union có dính dáng chi đến các dịch vụ cưới hỏi cô dâu địa phương với những ngoại kiều tại Việt Nam, tại Thái, Phi, Nga Sô… hay không? Họ cũng là những thân chủ tương lai của những dịch vụ gửi tiền?

    Để tiếp tục món lợi nhuận khổng lồ kia, Western Union đã giảm lệ phí tại những thị trường có người cạnh tranh (nhưng giữ nguyên lệ phí ở những nơi một mình một chợ); hỗ trợ nhiều chiến dịch vận động những thay đổi trong luật Di Trú, dễ dàng hơn cho di dân nhập cảnh, dễ dàng hơn cho di dân kiếm việc làm ngay cả những người cư trú bất hợp pháp! Họ tài trợ giúp đỡ những tổ chức tranh đấu cho di dân, và vận động cho việc hợp thức hóa những cư dân bất hợp pháp. Nói tóm lại là Western Union đang sử dụng tiền bạc của họ vào việc thay đổi các đạo luật về di trú tại Hoa Kỳ, nghĩa là những đạo luật sẽ giúp công ty này kiếm được nhiều tiền hơn nữa!

    Tại Panama, nhân viên của Western Union giúp đỡ về luật pháp để các di dân này không bị trả về nguyên quán. Tại những quốc gia khác, Western Union cặp kè ráo riết với những người xin nhập cảnh, họ đặt văn phòng giúp đỡ miễn phí gần sở Di Trú nơi nửa triệu người Phi đang chờ giấy tờ để đến Hoa Kỳ làm việc. Thương hiệu của Western Union la liệt khắp nơi, từ chiếc ghế đến tấm thực đơn của quán ăn… chỗ nào cũng Western Union. Khi chính phủ Phi mở các chương trình huấn luyện cho công dân sắp rời quê nhà, Western Union xen vào đứng ngay bên cạnh để chỉ dẫn cách gửi tiền về Phi qua dịch vụ của họ. Quảng cáo ráo riết đến thế là cùng!

    Dubai nơi khá đông công dân Phi đến làm việc trong các khách sạn, tiệm ăn… , nhân viên của Western Union đến tận nơi làm việc để giúp các công nhân này gửi tiền cho nhanh về Phi, và nếu có một dịp họp mặt nào đó của các công dân Phi, hầu như việc tổ chức đều được tài trợ phần nào bởi Wastern Union.

    Khi phân tich khuôn mẫu thương mại của công ty này, các tay phân tích tài chánh đều gãi đầu tự hỏi làm thế nào mà một công ty chuyên về điện tín, điện thoại lại chuyển mình, thay hình đổi dạng nhanh chóng đến thế? Từ một công ty khổng lồ của thế kỷ thứ 17, sập tiệm vào thế kỷ thứ 20, chỉ 2 năm sau, Western Union chỗi dậy sau khi được First Data mua vào năm 1995, và ăn nên làm ra nhanh chóng, gia tăng mãi lực 20% mỗi năm.

    Về mặt điều hành, Western Union có 320,000 văn phòng trên thế giới. Công ty này tổ chức như một hệ thống “đại lý" (franchise), 60% các dịch vụ chuyển tiền được thực hiện bên ngoài Hoa Kỳ, nhưng Western Union tiếp tục tranh giành với các công ty khác theo chiến thuật “tầm ăn dâu”. Mỗi chi nhánh (đại lý) đều ganh đua ráo riết vì họ nhận lệ phí theo mỗi lần gửi tiền, khoảng 2.50 mỹ kim.

    Thí dụ điển hình nhất là chi nhánh Western Union tại phố Tàu, New York. Người quản lý, ông Sun Lee thực hiện khoảng 100, 000 lần chuyển tiền mỗi năm. Khách hàng phần lớn là những người Hoa Lục nhập cảnh bất hợp pháp, họ không đến Bưu Điện, họ không dùng Bưu Tín (Money Order) vì họ sợ cảnh sát, và mua bán với ông Lee đây thì dễ dàng quá xá, tiền trao là cháo múc tại quê nhà xa lắc nửa địa cầu, hổng ai hỏi han chi về địa chỉ, giấy tờ của người gửi! Những hình ảnh tương tự có mặt tại các thành phố dọc biên giới Hoa Kỳ - Mễ Tây Cơ, khách hàng hỏi thăm xem có cảnh sát không trước khi xuất hiện để gửi tiền.

    Theo Inter-American Development Bank, 41% cư dân bất hợp pháp từ Châu Mỹ La Tinh tại Hoa Kỳ dùng những dịch vụ gửi tiền. Và công ty Western Union công bố rằng họ là những người buôn bán theo luật định, không dính dáng chi đến chuyện di trú, hợp pháp hay không hợp pháp.

    Năm 2006, Western Union tách rời khỏi First Data, chiếm giữ 14% thị trường của dịch vụ gửi tiền trong khi công ty thứ nhì, MoneyGram, giữ 3%. Mặc dù Western Union đã giảm lệ phí, nhưng lệ phí cho dịch vụ của họ cũng vẫn đắt nhất. Western Union cung cấp một dịch vụ khá thuận tiện cho di dân kể cả mở cửa vào ngày cuối tuần, đặt văn phòng tại những nơi di dân tụ họp chung sống (nôm na là xóm nghèo), và dùng các nhân viên dịa phương nói tiếng bản xứ của những cộng đồng di dân ấy.

    Với phương thức buôn bán nhắm vào thị hiếu và gần gũi với khách hàng như thế, ta không lạ là khách hàng của Western Union khá chung thủy với công ty này.

    Riêng Dế Mèn, nếu thực sự muốn tìm hiểu về một cộng đồng di dân, những kiểu mẫu được các nhóm di dân sử dụng để nối cầu..., Dế Mèn sẽ bắc ghế ngồi chăm chú quán sát cách Western Union làm ăn và phát triển cơ sở buôn bán của họ vì sự thành công kia đã bắt nguồn từ những bài học chưa có trường Thương Mại nào chỉ dẫn.

    Tvvn.org, tháng Mười Một, 2007
     
  5. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    Nga Sô: Những tỉ phú mới keng

    [​IMG]

    Vào thập niên 70, những ông hoàng Ả Rập khăn đội áo chùng được săn đón như những công tử rộng tay rải tiền. Ở thập niên 90 thì ngôi vị vương tôn công tử này rơi tõm vào tay con cháu Thần Thái Dương, người Nhật Bản vung tay xài tiền vì kinh tế của họ quá phồn thịnh. Đến những năm 2,000 thì người Nga bắt đầu lộ diện như các công tử Bạc Liêu xa xưa. Và các công ty buôn bán xa xỉ phẩm lại xoay sang o bế thân chủ mới hết mức.

    Tuần lễ vừa qua, tại cuộc hội chợ có tên là Hội Chợ Triệu Phú, Millionaire Fair, tại Moscow, những công ty buôn bán xa xỉ phẩm từ máy bay riêng, xe hơi, vật trang sức, quần áo… đều tụ họp để bày hàng và quảng cáo các món hàng của mình.

    Hiện nay Nga Sô có 53 tỉ phú, tài sản của họ tộng cộng là 282 tỉ mỹ kim theo danh sách những người giàu nhất thế giới của tạp chí Forbes. Ngoài ra, lớp người giàu có thứ nhì ở Nga là 103,000 triệu phú với tổng số tài sản là 670 tỉ mỹ kim, theo các nhà Kinh Tế học tại the Center for Economic and Financial Research, một trung tâm đầu não về thương mại tại Moscow. Riêng Ngân Hàng Thế Giới, các chuyên gia về kinh tế cho rằng 15.8% người Nga sống dưới mức nghèo khổ (below poverty line) vào năm 2005. Dù theo tài liệu nào, ta cũng có thể đồng ý rằng đã có những tài phiệt mới tại Moscow, họ tạo ra một thị trường xa xỉ phẩm, kể cả máy bay riêng cỡ 500 triệu mỹ kim.

    Người quảng cáo, người đi xem, cả ngàn người chen chân nhau tại hội chợ đều cho rằng triệu phú Nga Sô đang rủng rỉnh, sẵn sàng mở túi tiền mua bán những món hàng đắt giá. Và một số người xem đã trở thành khách mua.

    King Koil là một hãng sản xuất nệm giường, bán với giá 70,000 mỹ kim một cái nệm làm bằng tơ lụa, cashmere, cô tông và thêu chỉ bằng vàng. Không biết nằm cái nệm kia có êm lưng hơn chút nào không? Họ bán được 2 tấm nệm trong ngày hội chợ đầu tiên. Cũng trong ngày đầu tiên, hãng A1 Motor đã bán một chiếc Porsche với giá 170,000 mỹ kim cho một triệu phú trẻ.
    Đến ngày thứ ba của hội chợ, hãng LA Connection đã bán mấy thứ lỉnh kỉnh như miếng sắt cản đầu xe (car grille) với giá 55,000 mỹ kim; và mấy cái tay lái gắn pha lê của xe hơi với giá 22,000 mỹ kim, những thứ chỉ để ngó cho vừa mắt chứ hổng phải để xài!

    Tuy nhiên, người ta nói rằng dù dân Nga đang ăn nên làm ra, danh từ “triệu phú Nga” có lẽ chưa chính xác, vì có rất nhiều người Nga, trên lý thuyết, là triệu phú: Giá nhà cửa tại Moscow nhảy một bước lên đến trời xanh trong vòng 3-4 năm nay nên nếu họ mua 1 chung cư ở thời điểm đó, chủ nhà nghiễm nhiên trở thành triệu phú qua đêm. Và không biết bao nhiêu người đã trở thành triệu phú chóng vánh như thế, ít ra là triệu phú trên giấy tờ.

    Những người nếu không phải là triệu phú cũng có thể mua vui trong giây phút bằng cách đứng tại những trụ điện thoại, nơi tiền giả xếp từng chồng chung quanh, chụp hình đem về làm kỷ niệm cho một giấc mơ tiền muôn bạc ức!

    Hội chợ Triệu Phú được tổ chức hàng năm từ 2005, do một tài phiệt Hòa Lan, ông Yves Gijrath tổ chức. Mục đích là để giới thiệu với những người Nga giàu có những món xa xỉ phẩm của thế giới. Ông này ước lượng rằng hội chợ đem đến món tiền khoảng 743 triệu cho các công ty buôn bán tại hội chợ.

    Những món lợi nhuận khổng lồ đến từ dầu thô khiên dân Nga giàu sang nhanh chóng, và họ chưa mấy quen thuộc với với những món xa xỉ phẩm nặng phần trình diễn, cũng như những tên tuổi dính liền với các món xa xỉ phẩm kia. Nói một cách khác, người Nga là những người mới giàu, nên các công ty thương mại sẵn sàng bỏ thời giờ để “huấn luyện”, giới thiệu với những triệu phú kia các trò chơi mới: Thú tiêu tiền! Từ những con dao bỏ túi bằng platinum, kem Movenpick, bàn bi da chế tạo theo ý thân chủ, máy bay, du thuyền, chung cư ở Dubai…

    Nếu bạn không được thư mời? Bạn có thể mua vé vào hội chợ với giá 30 Euro (44-57 mỹ kim) để xem những người giàu có làm chi với túi tiền của họ!

    Lạ lẫm với những món hàng mới, người Nga tò mò và muốn biết món hàng nào đắt giá nhất, món nào tốt nhất. Những người giàu cũ, 10-15 năm theo tiêu chuẩn của Nga, đã bắt đầu thay đổi sở thích, họ tránh các món hàng lộng lẫy, quáng cáo rầm rộ và tìm mua những món xa xỉ phẩm kín đáo hơn, làm bằng tay, độc nhất vô nhị và có nhãn hiệu “nghệ thuật”. Mạc Tư Khoa có hình ảnh của Dallas, Texas trong những ngày bận rộn với dầu thô.

    Theo học giả Marshall Goldman, the Davis Center for Russian and Eurasian Studies tại Đại Học Harvard, người Mỹ cũng trải qua một thời kỳ kinh tế phồn thịnh; họ kéo nhau sang Âu Châu mua lấy được những món hàng có thể mua, và bị người Âu Châu đã bĩu môi chê bai là giàu xổi, là trọc phú chỉ biết tiền … Ngày nay, cái tước hiệu giàu xổi trọc phú kia rơi vào tay người Nga. Khác với sự khó chịu của người Hoa Kỳ của thế kỷ thứ 19, người Nga bây giờ lại hãnh diện với sự giàu có mới mẻ kia và nhăn răng cười mà nói rằng hổng có tiền xài thì ghen hử...

    Thì ra, mỗi thời mỗi đổi khác!

    Tvvn.org, tháng Mười Hai, 2007
     
  6. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    Malawi: Bài học tự lực tự cường


    [​IMG]

    Sau vụ bắp mất mùa năm 2005, 40% dân số Malawi cần thế giới giúp đỡ cho qua cơn đói kém. Năm nay, 2007, chỉ hai năm ngắn ngủi, Malawi đã có thể tự nuôi dưỡng và còn cưu mang những quốc gia láng giềng. Người Malawi đã bán bắp cho tổ chức Thực Phẩm Quốc Tế (World Food Program) của Liên Hiệp Quốc và xuất cảng mấy trăm ngàn tấn bắp qua Zimbabwe. Những gì đã thay đổi bộ mặt nghèo đói của Malawi, một quốc gia đã phải xin ăn hàng năm cả mấy chục năm ròng rã?

    Ngoài ngũ cốc là nguồn thực phẩm chính, năm nay, Malawi cũng không còn cần sữa bột để nuôi những công dân bé bỏng của họ nữa. Ba tấn sữa bột của United Nations Children’s Fund được ông Juan Ortiz-Iruri, đại diện của Unicef tại Malawi hoan hỷ tặng lại cho Urganda vì Malawi không cần đến số sữa kia.

    Malawi đã thành công trong việc tự nuôi ăn, và sự thành công này có thể áp dụng cho việc thay đổi sự đói kém của cả Phi Châu? Lý do gì đã đưa đến thành quả tự lực tự cường kia? Những nông dân giải thích ngắn gọn: Phân bón!

    Ngân Hàng Thế Giới và cả Hoa Kỳ, trong 20 năm qua, đã thúc đẩy Malawi tiến hành việc tự do thương mại và giảm tài trợ cho nông dân qua việc giảm giá phân bón. Sau lần mất mùa năm 2005, Tổng Thống tân nhiệm Bingu wa Mutharika đã quyết định ngược lại. Ông ta tìm cách gia tăng việc tài trợ cho nông dân, mặc cho Hoa Kỳ và Anh xì xào khó chịu.

    Đất đai tại Malawi, và những quốc gia Phi Châu khác, đã khô cằn không còn màu mỡ qua bao nhiêu năm canh tác; và nông dân không thể cáng đáng nổi một lượng phân bón cần thiết mua ở giá thị trường. Một viên chức trong bộ Canh Nông của Malawi, ông Patrick Kabambe nói rằng chúng tôi nghèo đói vì không có cách dùng tài nguyên có sẵn.

    Sự thành công của Malawi trong việc sử dụng trợ cấp nói lên mức quan trọng của ngành canh tác tại quốc gia này và cả Phi Châu: Muốn no đủ, cần chú trọng đến canh nông. Điều này có nghĩa là chính phủ cần đầu tư vào những thứ căn bản như phân bón, hạt giống, hướng dẫn nông dân kỹ thuật canh tác mới, tín dụng, và bắt đầu những khảo cứu về nông nghiệp.

    Malawi là một quốc gia nông nghiệp, đất ít, dân mỗi ngày một đông. Những mảnh đất cày cấy cứ bị cắt thành từng mảnh để chia cho con cháu, và người dân đã tận dụng mỗi vuông phân đất đai. Đất ít, lại giảm màu mỡ sau mỗi mùa trồng cấy, kết quả là hoa màu mỗi năm một giảm, và người dân dù làm cật lực vẫn không đủ ăn.

    Trước đây, chính phủ Malawi muốn tài trợ (subsidize) nông dân nhưng vì áp lực của các quốc gia cứu trợ nên không thể thi hành chính sách “giảm giá phân bón”. Các quốc gia cứu trợ như Hoa Kỳ, Anh… thường thúc đẩy chính sách “privatized economy” có nghĩa là buôn bán tự do, để thị trường định giá sản phẩm kể cả nhu yếu phẩm, và chính phủ không nên tài trợ một kỹ nghệ nào (phần sợ tham nhũng? Phần lo ỷ lại?) dù chính Hoa Kỳ vẫn tài trợ cho nông dân tại quốc gia họ.

    Trong thập niên 80 và 90, Ngân Hàng Thế Giới thúc đẩy Malawi bỏ hẳn việc tài trợ phân bón mà theo một con đường mới: nông dân nên trồng cấy những loại hoa màu bán được giá, và dùng lợi tức để mua thức ăn và những thứ cần thiết. Kết quả của chương trình “cải tiến” này là giá phân bón lên quá cao tại các quốc gia Phi Châu, không nông dân nào có thể cáng đáng nổi. Đất đai khô cằn, lại thiếu phân bón nên không thu hái được mấy hoa màu. Các quốc gia Phi Châu vẫn đói và phải tiếp tục nhờ cậy vào sự giúp đỡ của thế giới!

    Ông Jeffrey Sachs, Tiến Sĩ Kinh Tế tại Đại Học Columbia, cho rằng những quốc gia tài trợ đã lấy đi vai trò điều hành của chính phủ, và ông đã giúp phần vận động cho chương trình “tài trợ phân bón” với Ngân Hàng Thế Giới cũng như khuyên can các quốc gia tài trợ nên đầu tư vào phân bón và hạt giống cho nông dân Phi Châu.

    Tại Malawi, chính phủ đã bán rẻ cho nông dân phân bón từ năm 2006, đất được bón phân và những trận mưa đổ từ trời cao đã giúp mùa màng. Nông dân đã thu hái một con số hoa màu kỷ lục, 2.7 triệu tấn bắp trong năm 2006 và 3.4 triệu trong năm 2007 so với 1.2 triệu tấn trong năm 2005.

    Năm 2006, chính phủ Malawi đã bán cho mỗi gia đình nông dân 2 bao phân bón (110 cân Anh mỗi bao), đủ dùng cho 1 mẫu đất, với giá 15 mỹ kim (khoảng 1/3 giá thị trường). Ngoài phân bón, nông dân còn được mua hạt giống dưới giá thị trường.

    Chính sách trợ giúp ngành canh tác của Malawi đưa đến kết quả tốt đẹp khi các chuyên gia về Kinh Tế bắt đầu cân đo đong đếm, lượng bắp thặng dư trong 2 năm vừa qua được tính bằng tiền bạc: 74 triệu mỹ kim tài trợ cho phân bón và hạt giống đã đem 120 -140 triệu mỹ kim hoa màu, một cuộc đầu tư thắng lợi! Và các chuyên viên Canh Nông cũng như Kinh Tế đã bắt đầu phân tích sự thành công kia với hy vọng áp dụng cách đầu tư tương tự tại các quốc gia Phi Châu khác.

    Bài học Malawi đã khiến Ngân Hàng Thế Giới chuyển hướng, họ bắt đầu những chương trình tài trợ phân bón và hạt giống trong khi vẫn thúc đẩy các chương trình tự do thương mại. Và những chuyên gia thế giới cũng thúc đẩy chính phủ Malawi đặt chính sách giảm tài trợ phân bón dần dần để nông dân, đến một thời gian nào đó, có thể tự túc, nghĩa là thu hái đủ hoa màu để mua phân bón với giá thị trường mà không cần sự tài trợ của chính phủ họ hay thế giới.

    Malawi thành công vì quốc gia này có một người lãnh đạo tự trọng và thương dân. Tổng Thống Bingu wa Mutharika, sau khi phải đi xin thế giới giúp đỡ đã đau đớn nói với dân chúng ..ta cần tự lực..và Malawi sẽ không đi xin ăn nữa nếu tôi còn là Tổng Thống. Thiếu một người lãnh đạo tự trọng, bài học Malawi có thể áp dụng ở những nơi khác một cách thành công như thế không? Chính sách là căn bản bản quan trọng nhưng yếu tố nhân lực cũng quan trọng không kém, vì chính sách không thể tự nó hoạt động mà phải có con người áp dụng và điều hành, Dế Mèn nghĩ như thế nên mơ mộng, Việt Nam mình sẽ có một ngày, sẽ có một người...

    Tvvn.org, tháng Mười Hai, 2007
     
  7. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    6.0

    Đơn nam viết hữu?

    [​IMG]

    Theo tài liệu của Ngân Hàng Thế Giới năm 2007, Nam Hàn là quốc gia Á Châu đầu tiên có dân số gần cân bằng giữa nam và nữ. Năm ngoái, tỷ lệ trẻ em nam nữ là 107.7 bé trai/100 bé gái, và chính phủ Nam Hàn thở ra nhẹ nhõm vì từ thập niên 90, họ có quá nhiều bé trai, tỷ lệ nam /nữ chênh lệch quá xa về phía nam nhân (116.5/100).

    Nam Hàn cũng như các quốc gia Á châu khác, theo xã hội phụ hệ, nam nhân mang tên họ và huyết thống của gia đình. Người con trai sẽ thừa hưởng của hương hỏa để giữ hương khói cúng giỗ tổ tiên trong khi những đứa con gái giữ vai trò phụ thuộc. Và các bà mẹ khi sanh một đứa con gái thường tạ lỗi với chồng và gia đình. Đấy là chuyện của những năm 60 tại Nam Hàn.

    Khi kỹ thuật siêu âm trở nên phổ thông, và được sử dụng để tìm kiếm phái tính của thai nhi, tỷ lệ phá thai hủy bỏ những bào thai nữ gia tăng nhanh chóng, tỷ lệ phá thai vì giới tính lên cao nhất vào đầu thập niên 90. Chính phủ Nam Hàn vội vã thi hành một chính sách mới, những chiến dịch vận động người dân giữ lại những thai nhi nữ, những chương trình phát thanh, TV đều đề cập đến vai trò quan trọng của phụ nữ, làm con, làm vợ, làm mẹ. TV Nam Hàn còn đi xa hơn nữa, họ thay thế câu nói “đơn nam viết hữu…” bằng những khẩu hiệu như “nuôi một đứa con gái thành người bằng nuôi 10 đứa con trai”.

    Ngoài ra, năm 1987 chính phủ Nam Hàn ban hành đạo luật cấm các bác sĩ “tiên đoán” giới tính của thai nhi, và cấm dùng siêu âm để tìm kiếm giới tính. Nhưng luật là luật, nhất là khi phí tổn làm siêu âm khá rẻ nên dân chúng vẫn lén lút thử nghiệm và phá thai nếu thai nhi là con gái. Không hiểu việc “trọng nam khinh nữ” theo cổ tục có phải là lý do gây “gái thiếu trai thừa” nên chú rể Nam Hàn phải nhập cảng cô dâu Việt Nam?

    Sự thay đổi quan niệm về giới tính tại Nam Hàn khiến những nhà Xã Hội Học phấn khởi, họ cho rằng sự thiếu cân bằng kia sẽ từ từ mất dấu, ngay tại những quốc gia nghèo khổ Á Châu khác như Hoa Lục và Ấn Độ, nơi quan niệm “trọng nam” cộng với kỹ thuật siêu âm tìm giới tính đã đưa đến việc phá hủy thai nhi nữ từ 30 năm nay. Tiến Sĩ Chung Woo-jin, Đại Học Yonsei, Hán Thành, nói rằng Hoa Lục và Ấn Độ đang tìm hiểu Nam Hàn kỹ lưỡng, là một quốc gia với xã hội tương tự và nền kinh tế đang chuyển mình, Nam Hàn đã trở thành một “kiểu mẫu” về nhân chủng.

    Theo United Nations Population Fund, năm 2005, Hoa Lục có tỷ lệ 120 bé trai /100 bé gái; năm 2006, Việt Nam có tỷ lệ 110 bé trai / 100 bé gái, và Ấn Độ, khoảng cách trong tỷ lệ về giới tính còn cao hơn nữa. Bản tường trình của cơ quan tìm hiểu nhân số này còn nói rõ về hậu quả của việc mất cân bằng giới tính: Tình trạng “gái thiếu” dẫn đến việc buôn người, cả một thế hệ thanh niên tại Hoa Lục thiếu vợ nên đành đi mua phụ nữ xứ lạ. Sự khác biệt về ngôn ngữ, tình cảnh xã hội nên các cuộc “hôn nhân” đổi chác mua bán kia không bền chặt; các phụ nữ được (bị) mua kia trở thành một món hàng. Riêng tại Ấn Độ, sự chênh lệch về nam nữ khá rõ ràng, những đứa bé gái nếu không bị cha mẹ hủy hoại từ trứng nước, khi khôn lớn sẽ là một gánh nặng vì cha mẹ sẽ phải trả một món tiền (hồi môn) để gả chồng. Những phụ nữ Ấn Độ với món hồi môn ít ỏi bị bạo hành, xua đuổi bởi gia đình chồng.

    Cũng như Nam Hàn, nam nhân tại Ấn Độ và Hoa Lục được ưu đãi, họ thừa hưởng di sản của cha mẹ, và cũng là người chịu trách nhiệm săn sóc cha mẹ lúc tuổi già bóng xế; nhưng con dâu là người làm công việc chăm sóc cha mẹ chồng. Người con dâu Đại Hàn theo cổ tục, hầu cơm cha mẹ chồng trong thế quỳ gối!

    Theo Giáo Sư Chung, ngay trong thập niên 60-70, người Đại Hàn nhìn đứa con trai như một cách “đầu tư” trong tuổi già, một hình thức “an sinh”. Không có con trai là một điều bất hạnh, nên họ tạ tội với tổ tiên và bỏ vợ cũ, lấy vợ mới! Không biết có ai dạy cho những người đàn ông này biết là giới tính của đứa con quyết định bởi chính những tinh trùng của họ không nhỉ?

    Vào thập niên 70-80, quốc gia này bị cuốn hút theo cuộc cách mạng kỹ nghệ, xã hội Nam Hàn thay đổi theo một đường lối khó ngờ. Những đứa con trai rời gia đình theo chân công việc làm ăn, bỏ lại cha mẹ già. Những công dân lớn tuổi nhận ra rằng họ sung túc hơn, không cần sự giúp đỡ của con cái. Những đứa con gái, không còn bị trói buộc bởi bổn phận với gia đình chồng, trở về chăm sóc giúp đỡ cha mẹ mình. Theo một cuộc thống kê khảo sát về xã hội, Tiến Sĩ Kim Seung-kwon, Institute for Health and Social Affairs của chính phủ Nam Hàn, tường trình rằng phụ nữ Nam Hàn giữ vai trò chính trong việc duy trì tình gia đình, thăm viếng giúp đỡ cha mẹ trong khi nam nhân thường giữ khoảng cách xa lạ, ngay cả với cha mẹ mình. 90% các cuộc họp mặt gia đình, phụ nữ là người đứng ra tổ chức. Một cách thực tế hơn, vào tuổi già, cơ hội nhờ cậy con gái cao hơn so với đứa con trai!

    Thực ra khi kinh tế phát triển, cuộc “cách mạng” xã hội khác cũng theo chân, nam nhân không còn đủ khả năng giữ phụ nữ trong nhà; và những phụ nữ kia bắt đầu chen chân ngoài xã hội, trong học đường, những công sở, nơi buôn bán. Tuy nhiên, cuộc cách mạng này diễn ra chậm chạp, phụ nữ Nam Hàn vẫn bị áp lực phải nghỉ việc khi mang thai hay khi lập gia đình dưới danh xưng “từ nhiệm vì công ty đề nghị” (resignation on company’s suggestion).

    Năm 2006, 60% nữ sinh trung học vào đại học so với 10% trong thập niên 80. Trong Quốc Hội Nam Hàn, phụ nữ chiếm 13% (so với 6% 4 năm trước đây). Và phụ nữ khi mang thai, theo luật pháp, vẫn có thể giữ công việc và có thể nghỉ ba tháng dưỡng nhi.

    Luật pháp Nam Hàn đã góp phần thay đổi quan niệm xã hội Khổng Mạnh, bắt đầu từ đạo luật cho phép phụ nữ được thừa hưởng gia tài của cha mẹ. Đạo luật này thay thế hệ thống thừa hưởng di sản theo giới tính tự ngàn năm trước; và chính đạo luật này trên căn bản thừa nhận sự bình đẳng nam nữ. Những đạo luật khác cho phép phụ nữ đi học, làm việc và chen chân trong xã hội đã đưa đến những thay đổi mà ta thấy ngày nay.

    Như thế việc “đơn nam viết hữu” chỉ còn là câu nói cũ rích, không mấy giá trị trong xã hội ngày nay. Việc “ông bà dạy” cũng là việc tương đối, chỉ có thể áp dụng trong một thời điểm nào đó?

    Tvvn.org, tháng Mười Hai, 2007
     
  8. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    Đất khổ và những kẻ bất lương

    [​IMG]

    Năm 1890, vua Bỉ Leopold Đệ Nhị hạ lệnh cho quần thần xây dựng một viện mồ côi tại Congo, thủa ấy là thuộc địa của hoàng gia Bỉ. Congo hay những xứ Phi Châu khác giữ tục lệ thân nhân nuôi nấng những đứa trẻ không còn cha mẹ, ý niệm tổ chức một cơ sở nuôi nấng chung những trẻ em không thân thuộc là một khái niệm xa lạ và quái dị.

    Vua ra lệnh làm việc "phúc thiện" nên quần thần phải hết sức hãn mã, cũng phải kiếm cho ra con nít để bỏ vào viện mồ côi cho đúng phép vua. Quân lính hoàng gia bắt cóc trẻ em mang chúng đến một nơi xa xôi để nuôi, huấn luyện thành lính và rửa tội cho đẹp ý vua. Những đứa trẻ sống sót trong chuyến đi từ các thôn làng nơi sinh trưởng đến “viện mồ côi” trở thành lính trong quân đội hoàng gia.

    Từ khi người Âu đặt chân đến Phi Châu, họ đã tận dụng khai thác tài nguyên của miền đất này từ quặng mỏ đến con người, người lớn làm công nhân, trẻ em bị huấn luyện để trở thành quân đội địa phương, và được tẩy não để sống theo nếp sống văn minh Âu Châu.

    Vua Leopold này và những ông vua khác đã cướp bóc, tàn phá các vùng đất thuộc địa; sự độc ác tham lam ấy vẫn còn là một sự xấu hổ của những người Âu Châu có lương tâm. Những tội ác kia được bọc trong một lớp vỏ toàn những mỹ từ “hảo tâm”, “khai hóa”… Người Phi Châu còn nhắc lại câu chuyện bắt lính năm xưa như một vết thương lịch sử, vết thương còn khá sâu nên khi lịch sử lập lại ở thế kỷ thứ 21, điều dễ hiểu là họ phẫn nộ và bày tỏ những phản ứng dữ dội.

    Tháng Mười vừa qua, một nhóm người Pháp dưới danh nghĩa “từ thiện” đã bị bắt giữ tại Chad khi họ đem 103 đứa trẻ “mồ côi” lên máy bay sang Pháp làm con nuôi. Tổ chức “từ thiện” Zoé’s Ark, qua trang mạng của họ, với những hình ảnh thảm thương tại Darfur đã khích động từ tâm của người thế giới. Họ kêu rêu rằng cứ mỗi 5 phút là có một đứa trẻ bị giết hại, và tổ chức này dự định cứu giúp 10,000 đứa trẻ. Thế là người ta tích cực đóng góp tiền bạc để thuê những chuyến bay đưa cô nhi ra khỏi vùng đất chiến tranh. Tổ chức này nói rằng họ hoạt động tại Darfur và Chad. Như ta biết, 4 năm nội chiến ròng rã với những trận chém giết man rợ, 200,000 người bỏ mạng và 2.5 triệu người khác trở thành kẻ lang thang không nhà. Nạn nhân cơ cực nhất vẫn là những đứa trẻ và phụ nữ. Hình ảnh những đứa trẻ đói trơ xương, vất vưởng, những phụ nữ bị bạo hành khiến người thế giới xúc động và mở lòng giúp đỡ.

    Cho đến khi bị bắt giữ thì câu chuyện của tổ chức “từ thiện” Zoé’s Ark vỡ lở, những người tình nguyện kia là những mẹ mìn! Theo cuộc điều tra của Liên Hiệp Quốc, phóng viên ngoại quốc và cảnh sát địa phương, những đứa trẻ đó không mồ côi, chúng có cha mẹ và thân nhân nuôi nấng. Những đứa trẻ biết nói đã nói rằng chúng bị dụ dỗ bằng bánh kẹo, và một số cha mẹ nói rằng các mẹ mìn hứa hẹn đưa con trẻ đến một thành phố lân cận để đi học và cha mẹ vẫn có thể thăm viếng con em bất cứ lúc nào. Sự nghèo đói và thiếu thốn khiến những người Phi Châu kia trở nên dễ tin, và sự cả tin kia khiến họ bị lừa gạt nhanh chóng dễ dàng.

    Phi Châu là một miền đất bị thượng đế bỏ quên, những cơn hạn hán triền miên khiến lúc nào cơm áo cũng là một ám ảnh; bệnh tật là một cơn hồng thủy khác, từ sốt rét đến AIDS, và các cuộc nội chiến đẫm máu đã tiếp tục đầy đọa miền đất kia. Hậu quả là những đứa trẻ bơ vơ và đã có khá nhiều cô nhi viện rải rác khắp nơi tại Phi Châu, người ta cố gắng nuôi dưỡng những đứa trẻ bất hạnh kia tại nơi sinh trưởng của chúng để giữ lại mối liên hệ thân tộc thay vì bứng rễ đem cô nhi đến một nơi xa lạ. Dù nghèo như thế, khổ như thế nhưng những quốc gia Phi Châu vẫn ban hành các đạo luật “con nuôi” khá khắt khe; nghĩa là họ vẫn không mấy tin tưởng và thích nghi với cung cách “con nuôi” của văn hóa xã hội Âu Mỹ. Do đó, việc nuôi con nuôi Phi châu không mấy phổ thông so với Á Châu và Đông Âu.

    Riêng tại các quốc gia Phi Châu theo Hồi giáo như Chad và Sudan, luật Hồi giáo được áp dụng trong gia đình; khái niệm “con nuôi” của Âu Mỹ là một sự việc trái ngược với đạo giáo địa phương. Không hiểu những mẹ mìn vì ngu dốt hay vì quá kiêu căng nên cho rằng việc làm bất chính khuất tất của họ, xa xôi đủ để không ai chú ý?

    Sự mâu thuẫn lớn hơn nữa là việc các quốc gia Âu Châu đang soạn thảo những đạo luật di dân khắt khe với mục đích ngăn làn sóng di dân từ Phi Châu; gần nhất là đaọ luật mới của Pháp đòi kết quả DNA để chứng thực sự liên hệ gia tộc khi xin chiếu khán nhập cảnh cho thân nhân! Nói tóm lại là các quốc gia Âu Châu không mấy hoan hỷ đón nhận di dân từ Phi Châu. Nhập cảnh chính thức khó khăn quá thì người ta lén lút. Trong khi những thuyền nhân Phi Châu bị bão tố nhận chìm lúc vượt biển Đại Tây Dương đến Tây Ban Nha tìm đường sống, cả một chuyến bay 103 đứa trẻ Phi Châu được đưa vào Pháp dưới danh nghĩa trẻ mồ côi để làm con nuôi? Sự trái ngược oái oăm kia khiến cả người Âu lẫn người Phi đều đặt câu hỏi về mục đích của cái hội “từ thiện” kia và cả chính phủ của họ!

    Sáu người Pháp làm việc cho tổ chức Zoe’s Ark đã khai rằng họ cứu vớt các cô nhi kia tại Darfur, phía Tây Sudan; nhưng thực ra những đứa trẻ này có cha mẹ và chúng là công dân Chad, không phải người Sudan!

    Khi chuyến bay bị giữ lại, cảnh sát địa phương tìm thấy mấy chục đứa trẻ, quấn băng vải như thể bị thương tích, có cả những bình nước biển lòng thòng trên thân thể chúng. Khi khám xét, tất cả là một màn kịch dở do các mẹ mìn đạo diễn. Tệ hại hơn nữa, một cuốn video thu hình các mẹ mìn đắp bông băng giả lên thân mình những đứa trẻ; cuộn băng này do một phóng viên đi theo kín đáo thu nhận.

    Sự việc vỡ lở, dư luận Chad phẫn uất đòi xử tử các mẹ mìn, người dân của quốc gia này biểu tình phản đối trước tòa lãnh sự Pháp, biểu ông Tây bà đầm cút về nhà và ngừng bóc lột hiếp đáp dân họ. Ông tông tông Nicolas Sarkozy phải khăn gói sang Chad để rửa mặt cho dân Tây và dàn xếp đưa những tội đồ kia về Pháp với lời hứa sẽ đưa các mẹ mìn trở lại Chad chịu xét xử theo luật pháp địa phương.

    Ngày 26 tháng Mười Hai, mẹ mìn Tây ra trước tòa án Chad, cả 6 đều lãnh án 8 năm khổ sai về tội bắt cóc con nít. Như những người mồm miệng trơn tru, các nhà ngoại giao Pháp đều nói rằng bản án kia hoàn toàn tùy thuộc vào chính phủ Chad dựa trên quyền tự trị của quốc gia này, nhưng chinh phủ Pháp sẽ xin phép dẫn độ các tội đồ về Tây để chịu hình phạt. Các nhà ngoại giao cũng như những tay phân tích luật pháp đều tin rằng 6 mẹ mìn sẽ được giải giao cho chính phủ Pháp và chịu hình phạt tại Pháp thay vì tại Chad.

    Một ít chi tiết về Chad: quốc gia này có dầu thô và đang được các tài phiệt ngoại quốc đầu tư rầm rộ, Hoa Lục là quốc gia hăm hở nhất. Dù kinh tế có vẻ phát triển, Dế Mèn chưa biết tiền chạy biến đi đâu mà dân vẫn đói kém, nhưng 2 triệu công dân tí hon (dưới 5 tuổi) là những đứa trẻ yếu ớt nhất trước nạn đói, bệnh tật và chết chóc; 20% sẽ chết trước khi đủ 5 tuổi vì bệnh tật, 40% có nguy cơ còi cọc, trí não kém phát triển vì đói triền miên. Những đứa trẻ này, cũng như mấy chục triệu đứa trẻ khác khắp châu Phi đang chờ sự giúp đỡ của thế giới.

    Có thể nào những người khốn khổ kia được giúp đỡ mà không bị lợi dụng hoặc lạm dụng?

    Tvvn.org, tháng Mười Hai, 2007
     
  9. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    Tha hương cầu thực, chuyện di dân

    [​IMG]

    Giữa những miền đất khổ, người ta đi tìm sự sống:

    [​IMG]

    Từ những quốc gia nghèo đói, người dân đi tìm một cuộc sống dễ thở hơn, việc di dân xảy ra tại ngay cả những miền đất khổ, từ những người nghèo khổ nhất, họ di chuyển từ nơi khổ tận cùng đến nơi bớt khổ. Chuyện tha hương của những người Haiti lén lút vào lãnh thổ Dominican Republic để tìm việc làm độ nhật. Dominican Republic không phải là một nơi sung túc nhưng lợi tức trung bình cho mỗi đầu người là 2,860 mỹ kim hàng năm, 6 lần cao hơn so với Haiti (480 mỹ kim hàng năm)!

    Những nông dân từ Haiti trốn sang Dominican để làm việc trong những nông trại trồng chuối, mỗi ngày lương là 5 mỹ kim và bị chửi rủa ... dân Haitian hôi hám, những con quỷ đen đủi. Khị bị bắt gặp những nông dân cư trú bất hợp pháp kia bị trả về nguyên quán, và họ tiếp tục trở lại, lén lút và bất hợp pháp như lần đầu.

    Giữa những miền đất nghèo khổ, di dân đến những miền đất bớt khổ thường là những người nghèo hơn; họ kiếm ra ít tiền hơn và bị đối xử tệ hại hơn so với những di dân tìm đường đến những quốc gia khá giả.

    Theo Ngân Hàng Thế Giới, có 74 triệu di dân giữa những quốc gia nghèo khổ, cuộc di dân này được gọi là “south to south migration” trong khi cuộc di dân đến những quốc gia giàu có được gọi là “south to north migration” với 82 triệu người. Những người cùng khổ kia đã gửi về bản xứ từ 18 -55 tỉ mỹ kim mỗi năm; chính số tiền mồ hôi nước mắt kiếm được kia đã giúp những người cùng khổ nhất địa cầu sống sót.

    Các tòa nhà tại Costa Rica là do di dân từ Nicaragua xây cất. Nông phẩm tại Argentina do người Paraguay thu hái. Người Nepal đào hầm mỏ tại Ấn Độ. Người Nam Dương làm công trong những tư gia tại Mã Lai. Một số di dân dành dụm để thực hiện những chuyến đi về “phía Bắc” hay các quốc gia giàu có hơn. Những người khác chỉ đủ tay làm hàm nhai, tiếp tục lây lất tại những vùng đất “miền Nam” mà không thể đi xa hơn nữa. Người ta đoán rằng với các quốc gia giàu có đóng chặt cửa vào, những chuyến “Nam tiến” sẽ gia tăng.

    Dân Dominican không mấy ưa thích người láng giềng nghèo khổ Haitian, họ vẫn còn hậm hực về chuyện người Haiti cai trị quốc gia họ mãi đến năm 1844; và người Haiti trả lời bằng cách kể lại chuyện năm 1937 khi người Dominican giết mấy chục ngàn dân Haiti dọc biên giới trong chiến dịch “làm cỏ”!

    Người Haiti đến Dominican từ thế kỷ trước, làm việc trong những ruộng mía; ngày nay di dân Haiti làm công ở những công trường xây cất, và họ khó trốn tránh nhà chức trách. Chính phủ Domican ước lượng rằng có khoảng 1 triệu dân Haiti sinh sống bất hợp pháp tại quốc gia họ.

    Dưới mắt người Haiti, Dominican ăn trên ngồi trước, thuê được nhân công rẻ mạt lại còn xua đuổi và hiếp đáp nhân công trong khi người Dominican bực bội cho rằng họ là những người láng giềng nghèo nhưng tốt bụng đã chia nắm cơm hẩm với những kẻ cùng quẫn kia, 30% ngân sách y tế của Dominican được tiêu xài cho di dân Haiti mà vẫn bị chê bai là thiếu tình người.

    Sự khác biệt rõ ràng nhất nằm ở sông Massacre, ranh giới giữa hai quốc gia. Phía Dominican, Dajabon là một thành phố buôn bán với 10,000 dân cư, đường tráng nhựa, có điện nước. Bên kia sông là Ouanaminth của Haiti, rộng gấp 7, 8 lần nhưng là một bãi đất lầy vơi những con đường đất, rác rưởi và heo gà chạy quanh. Hai lần mỗi tuần, người Dominican mở cầu và cả chục ngàn người Haitian tràn qua bên giới mua những sản phẩm hiếm hoi tại đất nước họ như trứng, đinh, bột mì … Và lính gác Dominican kiểm soát biên giới gắt gao để ngăn những người Haiti muốn ở lại. Hối lộ và bạo hành xảy ra như cơm bữa dọc theo con sông Massacre này!

    Dọc theo biên giới có nhiều trạm canh, cảnh sát bắt giữ những người nhập cảnh bất hợp pháp, nhưng di dân bất hợp pháp vẫn có thể cư ngụ vì chủ nhân của họ cần người, và cảnh sát địa phương nhắm mắt làm lơ. Các viên chức của sở Di Trú Dominican nhìn nhận là di dân cần thiết cho kinh tế và các công xưởng thu nhiều lợi nhuận nhờ di dân. Nỗi sợ hãi bị trả về nguyên quán khiến những di dân Haiti nhắm mắt chịu bạo hành, xử tệ và chấp nhận hầu như bất cứ hoàn cảnh nào để sống còn. Họ chấp nhận “luật bất thành văn” kia, vì họ đến từ một nơi quá nghèo khổ.

    Chính phủ Dominican cho rằng di dân bất hợp pháp của đất nước họ là một vấn nạn cũng khó khăn như vấn nạn di dân tại Hoa Kỳ. Các quốc gia giàu có cung cấp ý kiến về việc xây dựng phát triển kinh tế tại Haiti, và khi mức sống của người dân đầy đủ hơn, người dân sẽ không cần phải tha hương cầu thực nữa. Trong thực tế, các chương trình phát triển kia chưa thấy tăm hơi và Dominican tiếp tục è cổ cưu mang người láng giềng kia.

    Tình trạng di dân tại Dominican tăm tối như thế còn những quốc gia “miền Nam” khác thì sao? Argentina cần di dân dể duy trì kinh tế qua lương nhân công rẻ nên cho phép những di dân bất hợp pháp nhập tịch trong khi Nigeria và Nam Dương xua đuổi những di dân đến lãnh thổ của họ.

    Nhiều quốc gia “miền Nam” nhận di dân nhưng chính người dân của họ lại di chuyển đến nơi khác như việc người Dominican đến Hoa Kỳ, nên thị trường nhân công được thay thế bởi dân Haiti; chính Tổng Thống Leonel Fernadez của Dominican cũng đã trưởng thành tại Hoa Kỳ! Sự oái oăm kia đưa đến “tiêu chuẩn hai mặt”, theo ông Dilip Ratha, một chuyên viên kinh tế của Ngân Hàng Thế Giới, những quốc gia này đòi cách chính quyền nơi định cư xử đẹp với dân họ nhưng chính họ lại xử tệ với di dân từ các quốc gia khác!

    Cảnh sát Ai Cập giết 26 di dân Sudan tại trại tạm cư vào năm 2006. Năm ngoái, người Costa Rica bỉ thử di dân Nicaragua là “Nicas”; khi 2 con chó dữ cắn xé đến chết một di dân Nicaragua, người Costa Rica đứng quanh vòng tay quan sát, và báo chí ủng hộ việc làm của 2 con chó kia!

    Phân tích, giải thích thế nào đi nữa sự thật vẫn nằm tại căn bản của đời sống, con người sẽ phấn đấu đi tìm đất sống, cho mình và cho người thân yêu. Vì sự sống còn, di dân chấp nhận khổ nhục và chịu bạo hành. Thay đổi một vài đạo luật về di dân không thực sự thay đổi đời sống của di dân, nhưng sự phát triển về kinh tế, xây dựng một đất nước dễ thở hơn sẽ là những yếu tố giữ chân người dân ở bất cứ vùng đất nào, đâu có mấy ai muốn cắt đứt gốc rễ của mình mà tha hương cầu thực, phải không bạn?

    Tvvn.org, tháng Giêng 2008
     
  10. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    Mặt trăng và đỉnh Everest


    [​IMG]

    * Đỉnh Everest, nhiếp ảnh gia M. Wilford

    Tuần trước, nhà thám hiểm Sir Edmund Hillary qua đời, hưởng thọ 88 tuổi. Cùng với cụ Tenzing Norgay người dẫn đường, cụ Hillary là người đầu tiên trên thế giới đã leo đến đỉnh Everest ngày 29 tháng Năm năm 1953. Sự thành công của cụ Hillary đã đánh dấu một bước tiến về lòng quả cảm, ý chí sắt đá và sức chịu đựng của con người trong việc khắc phục thiên nhiên.

    [​IMG]

    Ngày nay, người ta cho rằng việc con người leo đến đỉnh núi Everest và việc đặt chân lên Mặt Trăng năm xưa, là những bước tiến vĩ đại nhất của loài người.

    Đỉnh núi cao nhất địa cầu đã là nơi không tưởng của bao nhiêu thế hệ con người, đã có rất nhiều người bỏ thân trên con đường mạo hiểm và những cái chết kia khiến con người cho rằng đỉnh Everest là nơi không tưởng, xa vời như Mặt Trăng lơ lửng trong không gian ngoài kia! Thủa ấy, không ai nghĩ đến Mặt Trăng như một hành tinh con người có thể đặt chân đến, Sputnik còn nằm trong vòng thử nghiệm của một phi thuyền không gian… Hai thanh niên trơ trọi kia đã đặt chân lên đỉnh núi, nơi không tưởng và xa vời nhất của thế giới!

    Rặng Hy Mã Lạp Sơn tuyết phủ quanh năm kia đã là một mục tiêu ganh đua của nhiều quốc gia trên thế giới từ bao đời. Đỉnh núi Everest được đặt tên theo nhà Địa Lý người Anh, Sir George Everest, của thế kỷ thứ 19, thủa Nepal còn là thuộc địa của Anh. Năm 1924, hai nhà thám hiểm Anh, George Mallory và Andrew Irvine, leo núi nhưng không trở về. Sau đó là những cuộc thám hiểm không tên khác, và những người thám hiểm đều mất dấu.

    Cụ Hillary khi được phỏng vấn về đỉnh Everest đã diễn tả rằng “cả thế giới chung quanh như trải ra trước mắt ta, một cái bản đồ bao la ngút mắt.” Ông John Glenn, phi hành gia Hoa Kỳ trong chuyến bay quanh quỹ đạo năm 1962 cũng phát biểu tương tự “cả tiểu bang Florida trải mỏng như tấm bản đồ trước mắt”.

    Giây phút khó khăn mạng sống treo mành được ghi nhận khi đá dưới chân cụ Hillary nứt rẽ làm hai mảnh “giây phút kinh hoàng ấy, tôi có thể nhìn xuống 10,000 bộ Anh giữa hai chân”. Phút kinh hoảng ấy hắn tương tự như lúc các phi hành gia Apollo 13 gọi về căn cứ “ Houston, chúng tôi gặp khó khăn”? Cái khó khăn kia là việc phát nổ phía sau phi thuyền. Hẳn một sự đam mê vô bờ nào đó đã khiến những con người dấn thân này chấp nhận hiểm nguy và mặc cả với tính mạng mình?

    Ba năm sau thành quả 1953, hai nhà thám hiểm Thụy Sĩ cũng lên đến đỉnh Everest. Đến năm 1996 thì ngọn núi cao nhất thế giới kia được xem như nơi những tay leo núi lơ mơ có thể đến thăm với sự giúp đỡ của nguời dẫn đường. Cũng năm ấy, 8 người leo núi bỏ mạng; tất cả là 615 người leo đến đỉnh núi trong khoảng thời gian 43 năm, 1953-1996.

    Hiện nay, số người leo núi thành công đã lên gấp 4-5 lần con số kể trên, riêng năm 2007 đã có 500 người đến đỉnh núi thở khói trời mênh mông! Những cuộc leo núi không còn là những lần mạo hiểm nữa, vật dụng tối tân hơn, kỹ thuật theo dõi khí tượng, ghi dấu đường đi tân tiến hơn, và cuộc leo núi trở thành một chuyến du lịch khá đắt tiền, khoảng 60,000 mỹ kim kể cả lệ phí cho người dẫn đường.

    Lên đỉnh Everest không còn là một dấu tích lịch sử của con người nhưng đỉnh núi tuyết phủ mênh mông kia vẫn là một cái mốc để tiến tới của một cá nhân, chiến thắng chính mình, từ sự sợ hãi đến tận cùng của đam mê. Nỗi đam mê kia được chia sẻ với những người thám hiểm chung bước nhưng sự chết vẫn là một riêng tư đơn độc? Năm 2006, ông David Sharp, 34 tuổi, nằm chết cô đơn gần đỉnh núi trong lúc 40 người khác đi qua để theo hết con đường thám hiểm. Nhưng 10 ngày sau, khi ông Lincoln Hall, 50 tuổi, cũng năm chờ chết cô đơn như thế thì có người dừng chân giúp đỡ, ông Dan Mazur, bỏ qua giấc mộng thám hiểm của mình và chờ đợi những toán cứu người đến nơi. Người thành công và những người không thành công dường như đã chứng minh rằng con người thay đổi nhưng thiên nhiên núi đá và sự hiểm nguy không thay đổi. Ông David Sharp đã thử đến lần thứ ba và nỗi đam mê chết theo ông ta ở đỉnh Everest.

    Cái chết cô đơn của David Sharp đã khiến con người khó chịu với những câu hỏi về đạo đức và sự an toàn của việc thám hiểm đỉnh Everest. Câu hỏi về tiền bạc, phần thưởng, thiên nhiên và sự thách thức của con người, những câu hỏi phức tạp rối rắm, không bình dị như khi cụ Hillary và người dẫn đường xông pha mạo hiểm trong những năm đầu thập niên 50. Họ leo núi với tinh thần đồng đội, sự tương trợ và lòng tin cậy. Cụ Hillary luôn luôn nhắc đến người đồng hành Tenzing Norgay; cụ Norgay gốc người Sherpa, một bộ tộc Nepal.

    Sir Edmund Hillary là người Tân Tây Lan, sau khi lên đến đỉnh Everest đã sống một thời gian tại Nepal. Tại đây, cụ hỗ trợ việc xây trường học, trung tâm y tế, và những cơ sở công cộng khác tại những thôn làng Sherpa. Qua tổ chức the Sir Edmund Hillary Limalayan Trust, cụ Hillary đã thu góp được cả chục triệu mỹ kim để tài trợ những chương trình phát triển kia. Người Sharpa nhớ thương cụ và kính trọng cụ như vua nước họ.

    Tin cụ Hillary qua đời được cộng đồng Sherpa tại New York, the United Sherpa Association, ghi nhận và con cháu của những người Sherpa xa xứ kia tổ chức một buổi lễ cầu hồn để vinh danh cụ Hillary.

    Từ đỉnh Everest của rặng Hy Mã Lạp Sơn đến thành phố New York, hai địa điểm không có một chút chi tương đồng nhưng thế giới đã nối gần đủ một vòng tay, 1953-2008, 55 năm dài nhưng chưa đủ để ta quên tên tuổi của một con người lỗi lạc.

    Tvvn.org, tháng Giêng 2008
     
  11. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    Chiếc xe hơi rẻ nhất thế giới: 2,500 mỹ kim

    Hãng Tata Motors của Ấn Độ vừa đưa ra thị trường một chiếc xe hơi rẻ nhất thế giới, chiếc xe có tên “Nano” trị giá 2,200 - 2,500 mỹ kim. Câu hỏi của các kỹ sư cơ khí và những người thiết kế là hãng sản xuất kia đã bỏ bớt những thứ gì trong chiếc xe để có thể chế tạo một mẫu xe hơi ít tốn kém như thế, và sự tiết giảm tối đa kia có ảnh hưởng đến sự an toàn không?

    Theo các nhà sản xuất bộ phận xe hơi, hãng Tata Motors đã bỏ qua khá nhiều bộ phận, nghĩa là chiếc xe… ở trần, chỉ có cái sườn, nóc, 4 bánh xe, những bộ phận tối thiểu để giúp chiếc xe… chạy! Thân sau của xe nhỏ xíu, chỉ đủ chỗ cho một chiếc cặp táp, và đầu máy đặt sau xe chỉ có mã lực tương đương với một chiếc máy cắt cỏ loại lớn!

    [​IMG]

    Về hình dáng, chiếc Nano nhìn giống giống một hạt đậu, đầu xe nhỏ đuôi xe phình ra, hình thể này giúp giảm sức ngăn của gió. Nano có 4 cửa và… 5 chỗ ngồi. Dĩ nhiên là hổng có radio, máy nóng máy lạnh gì ráo; hầu hết mọi bộ phận trong xe đều dùng sức người (manual) như kính cửa sổ, tay lái ...


    Khi thiết kế, các kỹ sư Ấn Độ chỉ chú tâm đến câu hỏi duy nhất: Bộ phận ấy có cần thiết không? Nếu cần thì mức tối thiểu (phải có) là bao nhiêu? Chẳng hạn như trục xe, bộ phận nối liền tay lái với các bánh xe, bình thường là một trục thép ròng. Ở chiếc Nano, hãng sản xuất Sona Koyo Steering System dùng một ống thép rỗng (vừa nhẹ vừa đỡ tốn thép)! Tata dùng một hệ thống “wheel bearing” chỉ đủ để chiếc xe di chuyển ở vận tốc 45 dặm một giờ. Khi chạy nhanh hơn, hệ thống kia sẽ mòn mỏi hư hại sớm hơn. Chiếc Nano “nhẹ” nên không cần một bộ máy lớn. Máy xe được chế tạo bởi công ty Bosch của Đức, khoảng 600-660 phân khối với mã lực 30-35, và phí tổn là 700 mỹ kim.

    Chiếc xe Nano dùng hệ thống sang số có tên “continuous variable transmission”, thay cho hệ thống “manual” (mà ta gọi là xe sang số tay) hoặc “automatic transmission” (xe tự động). Hệ thống sang số này gia tăng vận tốc rất chậm, nghĩa là ta cứ mặc sức đạp ga nhưng chiếc xe sẽ không vọt lẹ (slow acceleration). Đó chỉ là một vài thí dụ chính nhưng tóm lại là hãng Tata Motors kia đã tìm đủ mọi cách để tiết giảm phí tổn trong việc chế tạo một chiếc xe rẻ nhất. Mua xe "ở trần" nhưng người tiêu thụ vẫn có thể “thêm thắt” các món phụ tùng theo ý muốn. Bạn thích một cái còi xe kêu thật to? Một bộ đèn pha sáng chói con mắt? Một hệ thống báo động phát ra những âm thanh bíp bíp nhức nhối mỗi khi chiếc xe đi lui? … Đây là những món “sắm” thêm cho oai, và người ta mua ào ào!

    Xe “nhẹ ký” như thế thì bán cho ai? Thị trường nào? Ngay tại nội địa bạn ạ! Dân Ấn Độ mỗi ngày một khá giả, họ muốn một chiếc xe bốn bánh thay cho những chiếc xe hai bánh đang di chuyển khắp phố phường. Năm 2007, người Ấn Độ đã mua 1.5 triệu chiếc xe hơi, và các tay phân tích thị trường xe hơi đã ước đoán rằng năm nay, Ấn Độ sẽ qua mặt Hoa Lục về thị trường xe cộ.

    Người Ấn Độ trong giấc mơ sang giàu của họ thấp thoáng có chiếc xe hơi nhưng tình trạng xã hội địa phương có cho phép không, nghĩa là hạ tầng cơ sở đã sẵn sàng cho những chiếc xe hơi chưa? Mumbai, Delhi có đủ đường lộ rộng đủ để những chiếc xe kia di chuyển không? Đường sá hổng có, xe đạp chen chân với xe bò, xe kéo và người đi bộ thì chỗ đâu cho mấy chiếc Nano này nhúc nhích?

    Tại Delhi, nha Giao Thông của thành phố đã ngần ngại công bố những con số chóng mặt: Dân số là 17 triệu người, mỗi ngày, thành phố này thêm 650 chiếc xe vào lưu lượng giao thông. Cuối năm 2007, người ta đếm được 5.4 triệu chiếc xe đăng bộ tại Delhi, chưa kể những chiếc xe từ thành phố khác chạy qua hay ghé lại thăm viếng! Xe đông như thế, người nhiều như thế thì thành phố làm sao? Chỗ ở không đủ lấy đâu ra đất đai để xây thêm hay nới rộng đường lộ? Những nhà thiết kế đô thị bấm bụng thở dài trong khi dân chúng cứ tiếp tục giấc mơ chiếc xe bốn bánh …

    Cái nhìn từ nội địa Ấn Độ đã rầu rĩ với xe cộ như thế còn quốc tế thì sao? Người ta xao xuyến bất an lắm bạn ạ!

    Những tay phân tích kỹ nghệ xe hơi thì khen rằng kỹ nghệ Ấn Độ với cái nhìn mới keng về kỹ thuật (tìm kiếm kỹ thuật rẻ tiền nhất, “ta chỉ cần bạc thì mua vàng làm chi”, mệnh danh là “Gandhian engineering”), Ấn sẽ chiếm vị trí dẫn đầu trong kỹ nghệ sản xuất xe hơi như ngày trước người Nhật Bản đã đẩy con cháu chú Sam ra khỏi thị trường qua các phương châm rất… Nhật Bản như “kanban” (đúng lúc, đúng thời) và “kaizen” (cải tiến không ngừng).

    Những kỹ sư cơ khí thì băn khoăn lo lắng, cái xe nhẹ hều thế kia thì làm sao an toàn? Hầu hết các loại xe của Hoa Kỳ đều được chế tạo theo tiêu chuẩn an toàn, và “tiêu chuẩn an toàn” ấy tốn trên 2,500 mỹ kim cho mỗi chiếc xe! Hay là những chiếc Nano kia chỉ lưu hành tại Ấn Độ trên những con đường chật hẹp và kẹt xe nên nếu tai nạn có xảy ra, sự va chạm ở vận tốc 5-10 dặm một giờ và va chạm với xe đạp, xe kéo hay xe bò thì hành khách trong chiếc Nano kia an toàn lắm lắm so với những người chung quanh?

    Những tổ chức bảo vệ môi sinh thì thở dài thườn thượt, cái xe này thiếu tất cả mọi bộ phận đốt xăng, lọc khói, thải khói theo tiêu chuẩn quốc tế và các thành phố Ấn Độ sẽ ô nhiễm đến mức độ không thể nào ô nhiễm hơn nữa?

    Dù khen hay chê, chấp nhận hay từ bỏ, điều ta nhận ra rằng Ấn Độ đã áp dụng thành công một số tiêu chuẩn mới của thị trường tiêu thụ. Các nhà sản xuất xe hơi trên thế giới sẽ phải thay đổi cách tính toán, cách làm việc nếu họ muốn cạnh tranh với kỹ nghệ xe hơi Ấn Độ. Điều Dế Mèn có thể đoán được khá chắc chắn là những chiếc xe Nano kia nếu muốn xuất cảng và lưu hành tại ngoại quốc, với các tiêu chuẩn khắt khe hơn về môi sinh và an toàn người ta sẽ không thể bán một chiếc Nano với giá 2,500 mỹ kim. Lúc ấy, không biết giá một chiếc Nano sẽ là bao nhiêu?
     
  12. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    Nhật Bản, văn hóa điện thoại di động

    Việc sử dụng kỹ thuật điện tử phổ thông nhất trong đời sống là việc dùng điện thoại di động. Từ Âu sáng Á, chỗ nào người ta cũng dùng điện thoại di động, ngay ở hẻm núi Petra, trong túi người dọn dẹp phòng vệ sinh cũng có tiếng điện thoại. Với những đứa trẻ tuổi 13, 14, điện thoại di động là một vật không thể thiếu, nhất là những đứa trẻ trong thành phố. Ta có thể nói rằng thế hệ sắp tới là thế hệ điện thoại di động.

    Tại Nhật Bản, thế hệ điện thoại di động bắt đầu tạo tiếng nói của họ, thế hệ đã sử dụng điện thoại từ những năm trong tuổi dậy thì. Họ có thể dùng ngón tay cái để bấm các cái nút nhanh như chớp mắt và hầu như họ dùng chiếc điện thoại di động kia vào tất cả mọi việc, từ nghe nhạc, xem phim, gửi thư từ… đến cả việc viết tiểu thuyết!

    Bài tổng kết của kỹ nghệ sách vở Nhật Bản khiến nhiều người ngỡ ngàng: Trong số 10 cuốn tiểu thuyết bán chạy nhất, 5 cuốn đã được viết trên điện thoại di động và 3 cuốn chạy nhất là ba cuốn truyện viết từ điện thoại di động. Người Nhật Bản gọi các cuốn truyện này là “cellphone novel”. Những cuốn truyện này hầu hết là chuyện tình ướt át viết bằng những câu ngắn theo dạng “tin nhắn” (text message); hầu như không có cốt truyện mà cũng chẳng có nhân vật chính, nhân vật phụ như những cuốn tiểu thuyết thông thường. Nói tóm lại là tác giả nghĩ cái chi viết cái đó, viết lâu ngày đủ một số trang giấy là xong một cuốn truyện!

    Bắt đầu từ năm 2000, sau khi Maho no i-rando, một tổ hợp chuyên làm các trang mạng, nhận thấy rằng những người dùng các trang Nhật Ký (blog) để viết truyện; tổ hợp này tạo ra một thảo trình giúp người viết đăng những bài viết chưa xong lên mạng ảo; người đọc có thể góp ý kiến, thêm thắt… và từ đó tạo ra một câu chuyện dài. Số người viết và đăng truyện chỉ mới gia tăng 2, 3 năm trở lại đây khi các hãng điện thoại bắt đầu cho người tiêu thụ dùng điện thoại để viết và đăng bài lên mạng ảo miễn phí. Thế là từ đó người ta thấy những nhà văn mầm non loay hoay với ngón tay cái, viết lách tha hồ bằng điện thoại, bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào, họ cũng có thể viết khi hồn văn chương lai láng!

    Hầu hết những người tiêu thụ đều mua một “dịch vụ” điện thoại di động với giá nhất định (flat rate), nhưng khi viết hăng say quá, những ngôi sao văn chương đang lên kia có thể tiêu xài cả ngàn mỹ kim mỗi tháng cho hãng điện thoại. Và họ… lặn sâu một thời gian (chắc để trả cho hết lệ phí?), không viết tiếp nên khoảng thời gian kia có tên là “death packet”. Người đọc không thấy tăm hơi người viết trong khi câu chuyện còn dang dở trong thế giới văn chương điện thoại di động. Việc ngừng viết không dính dáng chi đến cảm hứng mà nối liền với cái bill điện thoại với nhiều con số không. Dế Mèn không biết ngày trước ta gọi khoảng thời gian "bế tắc" của nhà văn là cái chi? Có ăn nhậu gì với việc… hết tiền không hay chỉ hết ý?

    Các cuốn truyện từ điện thoại di động được viết như “tự truyện”, người viết dùng ngôi thứ nhất "tôi" để kể chuyện nên có hình dạng của một tập nhật ký hơn là một cuốn tiểu thuyết. Hầu hết các tác giả là phụ nữ, họ viết về chuyện…tình (dĩ nhiên?!), chuyện tâm linh, chuyện thức tỉnh… Chẳng hạn cuốn truyện “Bầu Trời Yêu Thương” (Love Sky), viết bởi một phụ nữ trẻ tuổi tên Mika, được 20 triệu người Nhật đọc trên máy điện toán hoặc điện thoại di động. Đây là một câu chuyện sướt mướt có đầy đủ những hỷ nộ ái ố, từ chuyện tình dục trong tuổi mới lớn, cưỡng dâm, thai nghén đến cả một chứng bệnh nan y, không thiếu một thảm trạng nào! Câu chuyện làm thế hệ phụ huynh phì cười khi đọc cuốn sách nhưng lại đáp ứng đúng thị hiếu của thế hệ mới lớn, từ cách nhìn cuộc đời đến cách sử dụng ngôn ngữ và nhất là việc tiện lợi của điện thoại di động. Tác giả viết bằng những chữ bị cắt gọn để viết cho nhanh và vừa vặn với khung hình tí hon của chiếc điện thoại di động. Khi xuất bản, cuốn sách kia được in ra với đầy đủ các ký hiệu của cách viết “tín nhắn”, những câu đối thoại, và trở thành cuốn tiểu thuyết bán chạy nhất trên thị trường chữ nghĩa Nhật Bản. Người ta đang sửa soạn để làm một cuốn phim phỏng theo cuốn tiểu thuyết này!

    [​IMG]

    *Cô Rin, hình của the New York Times

    Một ngôi sao văn chương khác, cô Rin 21 tuổi, viết truyện “Nếu Anh” (If You) trong 6 tháng khi cô còn học trung học năm chót. Cô gái này, trên xe điện ngầm đến chỗ làm bán phần hay bất cứ lúc nào rảnh rang là cô ta loáy hoáy viết trên chiếc điện thoại và đăng trên một mạng ảo có nhiều người đọc. Câu chuyện bao quanh 2 người bạn thiếu thời yêu nhau đứt ruột với một mớ tình tiết éo le dài 142 trang giấy. Sau khi các độc giả đọc qua điện thoại và bầu là câu chuyện hay nhất, cuốn sách được xuất bản và đứng thứ 5 trên danh sách các cuốn sách bán chạy nhất!

    Tác giả của các cuốn truyện đến từ điện thoại di động là những người mới keng trên văn đàn Nhật Bản về nghệ thuật cũng như tuổi đời, trên dưới 20, chưa có tác phẩm nào trước đó, và người mua là những người trẻ tuổi trong cùng thế hệ.

    Các nhà bình luận văn chương cho rằng các cuốn sách bán chạy kia là hình ảnh của thế hệ mới lớn trong xã hội Nhật Bản, thế hệ chỉ thích đọc truyện tranh. Dế Mèn đặt tên cho thế hệ thích truyện tranh kia là thế hệ văn chương mì ăn liền; liếc một cái là xong cuốn truyện tranh manga, chỉ cần hình vẽ cho lạ mắt, màu sắc hấp dẫn .. nông cạn như những nhân vật trong các cuốn truyện trên điện thoại di động. Các nhân vật không có một bản sắc nào rõ rệt và những đoạn văn phần lớn bao gồm những hàng chữ không thành câu và những mẩu đối thoại.

    Như những nền văn hóa lâu đời, văn chương Nhật cũng nặng phần “tải đạo”, mỗi cuốn sách được xem là giá trị đều mang một ý tưởng mới lạ nào đó và những đoạn văn đều chuyển một số hình ảnh cũng như cảm tính sâu đậm hơn là những câu đối thoại có thể khôi hài hóm hỉnh nhưng có tính cách nhất thời, nghe qua rồi bỏ. Dế Mèn đoán rằng thế hệ văn chương mì ăn liền không có thời giờ cho những đoạn văn sâu lắng cần ngẫm nghĩ. Họ xa lạ với những câu chuyện có hình ảnh xa vời, và chóng chán với những cuốn sách triết lý. Điều dễ hiểu là nhóm độc giả kia chọn những câu chuyện gần gũi, ở tuổi mới lớn, cô cậu nào chẳng có chuyện giận dỗi, những mối tình tưởng tượng, những thất vọng … Bây giờ có người viết đúng những điều họ nghĩ và câu chuyện trở nên đắt hàng vì độc giả thấy bóng dáng mình trong câu chuyện thời thượng kia?! Quan trọng hơn nữa là thế hệ văn chương mì ăn liền là nhóm người có thể tiêu xài nhanh chóng không nghĩ ngợi những món tiền do cha mẹ cấp phát và mãi lực của họ tạo thành một thị trường khá lớn cho nhà xuất bản.

    Ngắm nhìn chiếc điện thoại di động nhỏ xíu kia, các giáo sư văn chương Nhật Bản băn khoăn tự hỏi nếu dùng máy điện toán để viết liệu các tác giả có đổi phong cách hay không? Nghĩa là câu văn sẽ đầy đủ hơn và họ sẽ dùng những chữ văn chương hơn, có ý nghĩa sâu đậm hơn chăng?

    Riêng Dế Mèn khi đọc thử một trang đánh máy dịch ra Anh ngữ từ câu chuyện “Bầu Trời Yêu Thương”, hình ảnh sâu đậm về văn chương Nhật Bản hoàn toàn biến mất. Các câu đối thoại cộc lốc, nôm na như những mẩu truyện tranh viết từng kỳ trên các nhật báo Hoa Kỳ! Dế Mèn mà mua phải cuốn sách kia chắc sẽ tiếc đứt ruột cái công đọc sách và 20 mỹ kim.

    Tvvn.org, tháng Giêng 2008
     
  13. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    Chiếc bánh may mắn

    [​IMG]

    Mỗi lần ghé quán ăn Tàu, tại Hoa Kỳ và tại nhiều quốc gia khác trên thế giới, món cuối đi cùng với tờ hóa đơn tính tiền là một vài chiếc “bánh may mắn”, Dế Mèn dịch tạm từ chữ “fortune cookie”.

    Bánh may mắn là bánh gì và nguồn gốc từ đâu Dế Mèn chưa hề nghe nói đến khi còn sống ở quê nhà, người láng giềng Trung Hoa kềnh càng ở ngay bên cạnh cả mấy ngàn năm mà chuyện chiếc bánh may mắn kia chẳng có ai nhắc đến? Bánh nướng, bánh dẻo, bánh bò, bánh tiêu… thập cẩm những món bánh, sao lại thiếu bánh “may mắn”?

    Bánh may mắn là một chiếc bánh hình bán nguyệt bẻ gập ở giữa, giòn, ngọt và có mùi vani, bên trong gói một tờ giấy nhỏ in câu ngụ ngôn, danh ngôn nào đó. Đại loại, ở hiền gặp lành…, năng chào thời quen… và cả một dãy con số mà đã có người dùng để mua vé số và trúng xổ số!

    Tối hôm nọ, trong bữa ăn với một vài người bạn từ Âu Châu, mấy chiếc bánh may mắn kia cũng xuất hiện cùng với một đĩa cam tươi cắt miếng. Thế là đám bạn bè xoay ra bàn cãi về chiếc bánh may mắn, rồi họ “googling” tìm kiếm bằng mấy chiếc BlackBerry ngay tại bàn ăn rồi đùa giỡn ỏm tỏi. Câu chuyện theo Dế Mèn về nhà, rồi tò mò tìm kiếm, bây giờ mách lại với bạn…

    Người Trung Hoa nhận bánh may mắn là của họ, và kể lể rằng vào thế kỷ thứ 13 & 14, khi tổ nghiệp nhà Minh Chu Nguyên Chương liên kết với các nhóm quân đội trong cuộc chiến tranh chống lại nhà Nguyên (Mông Cổ), đã bỏ những tín hiệu vào bánh nướng, một hình thức truyền tin kín đáo. Nghĩa là việc bỏ một mảnh giấy vào chiếc bánh là chuyện năm xưa do tổ tiên người Trung Hoa nghĩ ra. Từ đó trong những dịp lễ tết đặc biệt, người Trung Hoa cũng bỏ những lời chúc tụng vào bánh trái. Tục lệ này theo chân những di dân Trung Hoa đầu tiên đến Hoa Kỳ để làm đường rầy xe lửa, những người dân công có tên là the “Chinese 49’ers” của đầu thế kỷ thứ 19. Không có bánh nướng, những di dân kia đã chế ra bánh ngọt, cũng có những mảnh giấy bên trong … Giả thuyết này coi bộ không xuôi chút nào, di dân thủa ấy nghèo xác xơ, lấy chi mà mầy mò làm bánh, in giấy rồi gói vào bánh, vừa nhiêu khê vừa tốn kém, suốt ngày quần quật sức đâu nghĩ chuyện xa vời? Dế Mèn đoán như thế nên hổng tin!

    Giả thuyết thứ nhì cũng do người Trung Hoa chế biến. Họ nói rằng ông David Jung, chủ nhân của xưởng the Hong Kong Noodle Company tại Los Angeles đã biến chế chiếc bánh may mắn đầu tiên năm 1918. Thấy những người nghèo đói quanh quẩn trước xưởng nhà, ông Jung kia chế ra những chiếc bánh gói bên trong là nhưng câu nói an ủi do một mục sư nhánh Presbyterian viết hộ, rồi đem cho những người nghèo đói kia; nghĩa là vừa đỡ đói bụng vừa đỡ đói (tấm) lòng.

    Người Nhật Bản lại bảo rằng bánh may mắn do một người Hoa Kỳ gốc Nhật biến chế: Ông Makoto Hagiwara, một nhân công tại Japanese Tea Garden trong công viên Golden Gate ở San Francisco. Ông Hagiwara bị đuổi việc một cách bất công, sau đó được vị thị trường tân nhiệm mướn lại. Để tỏ lòng tri ân bạn bè, những người đã giúp đỡ và an ủi lúc thất thế, ông Hagiwara chế ra chiếc bánh và bỏ một miếng giấy để chữ “cám ơn” bên trong rồi đem biếu bạn bè (năm 1914). Chiếc bánh may mắn Hagiwara được đem trưng bày trong cuộc triển lãm the Panaman-Pacific Exhibition, trong Hội Chợ Thế Giới tại San Francisco năm 1915.

    Đến đây thì ta có hai phe, phe Los Angeles và phe San Francisco, họ cãi nhau ỏm tỏi rồi nhờ một vị Chánh Án phân xử trong một phiên tòa không chính thức (quasi-legal process), Historical Review, tại San Francisco năm 1983. Vị quan tòa xử phần thắng về phe Nhật Bản. Phe Trung Hoa phụng phịu ra về, bĩu môi chê trách phiên tòa và cả vị quan tòa!

    Khi đọc xong những chi tiết này thì Dế Mèn nhận ra một điều, dù chiếc bánh may mắn kia do người Mỹ gốc Nhật Bản hay gốc Trung Hoa chế biến, chiếc bánh xuất phát từ Hoa Kỳ! Vừa hớn hở chuyển mấy bản tin kia cho bạn bè qua điện thư thì nhận được thư M. Anh chàng gửi lại cho Dế Mèn mấy tấm ảnh kèm thêm một hàng chữ “bánh may mắn xuất phát từ Kyoto” và cả một mớ tài liệu liên hệ!

    [​IMG]

    Như thế này, bạn ạ! Năm 1994, cô Yasuko Nakamachi xuất bản cả một cuốn sách viết về chiếc bánh may mắn và nguồn gốc của nó! Cô này đã tiêu xài 6 năm ròng rã để tìm kiếm, loại bỏ cũng như xác nhận các giả thuyết về chiếc bánh kia từ khi còn là sinh viên ban Cao Học về Lịch Sử tại Đại Học Kanagawa. Tác giả chưng ra nhiều bằng cớ chứng minh lập luận của mình. Bằng cớ lâu đời nhất là bức tranh vẽ Moshiogusa Kinsei Kidan trong một cuốn truyện xuất bản từ năm 1878. Cuốn truyện này kể chuyện học việc từ một tiệm làm bánh hay “senbei”. Người Nhật Bản gọi các loại bánh giòn giòn là “senbei”, và chiếc bánh may mắn được gọi là “tsujiura senbei”, “omikuji senbei” hoặc “suzu senbei”. Bức tranh vẽ hình người học việc đứng trước khuôn bánh nướng trên lò than, những khuôn bánh vẫn còn được sử dụng tại các lò bánh ở Kyoto cho đến bây giờ; lò bánh Hogyokudo vẫn nướng và bán những chiếc bánh tương tự. Những chiếc “tsujiura senbei”có hình dạng chiếc bánh may mắn mà ta thấy ngày nay!

    Như thế giả thuyết do cô Nakamachi chưng ra là hợp lý hơn cả, vừa có hình ảnh vừa có tài liệu cổ xưa để chứng minh. Chiếc bánh may mắn kia có nguồn gốc từ Kyoto, Nhật Bản và có thể ông cụ Hagiwara chế biến theo lối cổ truyền vào những năm đầu thế kỷ thứ 20 tại Hoa Kỳ? Mấy chú Ba thì chắc thấy hay mắt nên nhận vơ và kiếm bộn bạc qua việc thương mại? Còn phe ta thì hoan hô tác giả Nakamachi tìm kiếm đến nơi đến chốn để Dế Mèn và bạn bè không còn thắc mắc ỏm tỏi bàn luận nữa.

    Xin mời bạn một chiếc bánh may mắn và chúc bạn một năm mới may mắn, an vui!

    Tvvn.org, tháng Giêng 2008
     
  14. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    Ai Cập, tôn giáo, tuổi trẻ và hôn nhân

    [​IMG]

    Ai Cập cùng những quốc gia Hồi giáo như Jordan, Syria, Morocco và Algeria đang loay hoay chuyển hướng; họ không muốn giới trẻ chú trọng đến tôn giáo như ngày trước. Tại những nơi này, qua cái nhìn của tôn giáo, chính phủ bị xem như tham nhũng và bất tài. Với một hình ảnh khắt khe như thế, chính phủ sở tại dĩ nhiên là lo lắng toát mồ hôi về đảo chánh và những lãnh tụ tôn giáo lên cầm quyền, biến quốc gia họ thành những miền đất hoàn toàn Islam. Nghĩa là những căn bản của xã hội như nguồn gốc Ả Rập và tinh thần quốc gia bị thay thế bằng tôn giáo, người địa phương sẽ trở thành tín đồ Hồi giáo thuần thành và chỉ biết đến tôn giáo.

    Với 60% dân số trong tuổi 20, những người trẻ dễ bị khích động nên khi tinh thần tôn giáo (thay cho tinh thần quốc gia) mạnh mẽ quá (dễ trở nên cuồng tín), niềm tin tuyệt đối vào tôn giáo đã trở thành một nỗi ám ảnh cho chính quyền.

    Ngay tại Ai Cập, miền đất nặng tinh thần tôn giáo và bảo thủ từ ngàn xưa, những người trẻ hôm này lại càng bảo thủ hơn nữa, họ hướng về tôn giáo và theo giáo điều của kinh Q’ran chặt chẽ hơn. Một thế hệ trước, không mấy phụ nữ đội khăn che mặt, chẳng mấy nam nhân đến đền thờ để cầu kinh 5 lần mỗi ngày. Bây giờ, hầu như phụ nữ trẻ nào cũng trùm khăn và các đền thờ vào giờ cầu nguyện là tấp nập những thanh thiếu niên. Theo thống kê của chính phủ, năm 1986, một đền thờ cho mỗi 6,031 người dân. Năm 2005, con số này biến thành một đền thờ cho mỗi 745 người dân, và dân số Ai Cập hầu như gấp đôi kể từ năm 1986. Như thế ta có thể đoán tôn giáo thịnh hành như thế nào tại quốc gia này. Ông Mohamed Sayed Said, Xử Lý Thường Vụ Giám Đốc trung tâm Ahram Center for Political and Strategic Studies, cho rằng quốc gia Ai Cập hầu như rơi vào tay những người cực đoan, chính quyền không thể trốn khỏi vòng kiềm tỏa của tôn giáo mà cũng không thể giảm bớt sự quá khích kia.

    Sự cực đoan tôn giáo kia có những ảnh hưởng chi mà chính phủ hoảng hốt như thế? Câu trả lời là rất nhiều vấn đề xã hội cũng như chính trị, bạn à!

    Đạo Hồi ngăn cấm việc gần gũi, những giao tiếp trai gái, không cho phép chuyện tình tự, yêu thương. Tín đồ nam nữ chỉ có một lựa chọn là lập gia đình, sự ngăn cấm này tạo ra khá nhiều áp lực dồn nén trong một xã hội. Thêm vào đó, các vị lãnh đạo tôn giáo của đạo Hồi không phân chia giữa tôn giáo và quốc gia; những miền đất không theo đạo Hồi là những miền đất thù nghịch, hay rõ ràng hơn, giáo dân không nên và không được giao tiếp với các quốc gia “đồi trụy” Âu Mỹ kể cả giao thương buôn bán vì những ảnh hưởng “xấu”. Tóm lại là chính quyền tại các quốc gia “muốn” cấp tiến này, muốn buôn bán với Âu Mỹ, cũng như áp dụng những chính thể “tự do” hơn nhìn chiều hướng tôn giáo cực đoan như một mối đe dọa của chính quyền, đến quyền lực của họ.

    Những gì đã đưa đến việc con người đi tìm niềm tin của cuộc sống trong tôn giáo? Tại những miền đất Trung Đông, câu trả lời có vẻ rõ nét hơn. Sự thất bại của ngành Giáo Dục đã tạo ra một thế hệ thanh niên nam nữ học hành dở dang, trường học không đào tạo được chuyên viên, những người tốt nghiệp từ một ngành giáo dục nghèo nàn không đủ khả năng và kiến thức để tranh dành với chuyên viên ngoại quốc. Họ tốt nghiệp nhưng không tìm ra việc làm tại địa phương cũng như ngoại quốc. Bạn cứ tưởng tượng, sinh viên tốt nghiệp đại học về thương mại chưa hề sử dụng máy điện toán, kỹ sư chưa hề thực hành trên bất cứ loại máy móc nào thì làm sao nói đến việc chế tạo? Hậu quả là các ngành học không mang lại một tài năng hay kinh nghiệm cụ thể nào đủ để các sinh viên tốt nghiệp tìm được việc làm như ý. Ngoài ra, sự thất bại về kinh tế khiến việc làm khó kiếm hơn nữa, những người trẻ tuổi không có việc làm, không có chi để giải trí, người dân mất tin tưởng vào chính phủ và với một dân số phần đông là những người trẻ tuổi, Ai Cập như một núi lửa có thể bùng vỡ bất cứ lúc nào!

    Cac nhà Xã Hội Học Ai Cập đã nhìn nhận một cách xót xa rằng những người trẻ tuổi của họ đang đắm chìm trong mối trầm cảm và tuyệt vọng chung cuả xã hội. Sự tuyệt vọng buồn rầu đưa đến phẫn hận và oán ghét chính quyền thiếu khả năng để nâng cao đời sống dân chúng. Trong khi tìm quên trong niềm tin tôn giáo, hy vọng Allah sẽ dẫn dắt họ ra khỏi mối tuyệt vọng kia, thanh thiếu niên Ai Cập phá phách các cơ sở làm ăn. Chẳng hạn như họ vào quán ăn và ăn quỵt, sau đó bào chữa rằng quán ăn kia bán rượu bia (không theo luật Islam) và cầu nguyện xin Allah tha thứ. Cái vòng lẩn quẩn phạm pháp rồi xin thần thánh tha tội vì chính phủ ngu muội và giả dối quá!

    Vùng đất nơi giới trẻ mất phương hướng dễ trở thành một nơi để rủ rê khuyến dụ họ theo hướng cực đoan, không thấy ánh sáng trong con đường hầm ở kiếp sống này, họ nhìn về đời sống khác. Nếu trở thành quân cảm tử và “hy sinh”, Allah sẽ đưa họ đến một cuộc sống quang vinh vĩnh cửu khác. Và cứ như thế các nhóm khủng bố đã tạo lập đoàn quân cảm tử của họ như tầm ăn dâu.

    Hiểu được đầu mối của những khó khăn kia, các chính quyền sở tại tìm cách chữa cháy. Thay đổi hệ thống giáo dục đòi hỏi nhiều năm và nhiều chuyên viên, núi lửa sắp bùng vỡ đến nơi thì làm thế nào sửa đổi cấp kỳ? Họ tổ chức các đám cưới tập thể, bạn ơi! Thì ra hôn nhân là căn bản quan trọng của gia đình trong truyền thống Ả Rập, việc lấy vợ lấy chồng là sự đánh dấu của tuổi trưởng thành. Những người độc thân bị xã hội tránh né và cô lập. Khổ một nỗi đám cưới ở những vùng đất này là những… đại lễ, phí tổn khá cao mà một người thanh niên trung bình khó cáng đáng. Năm 1999, theo Giáo Sư Diane Singerman tại American University, một đám cưới tại Ai Cập tốn khoảng 6 ngàn mỹ kim, 11 lần mức lợi tức trung bình của một gia đình. Ngày nay, phí tổn này gia tăng 25% nữa, nghĩa là một thanh niên phải đi làm và để dành ít nhất chục năm để có đủ tiền cưới vợ! Không có tiền làm đám cưới nên quý ông đành…ở vậy, và chính phủ lo ngại việc độc thân (nên dễ nổi loạn phá phách) của con dân. Thế là chính phủ tài trợ việc đám cưới tập thể.

    Tuần lễ này báo chí Trung Đông đăng tải những tấm hình về đám cưới tập thể, khoảng 60 chục đôi vợ chồng mỗi lần.

    Thoạt tin lúc đọc những bản tin và hình ảnh về đám cưới tập thể, Dế Mèn nghĩ đến ông Mục Sư Moon và một giáo hội nào đó như chuyện năm xưa. Nhưng khi đọc kỹ thì hóa ra chính phủ Ai Cập đứng ra tác thành cho con dân thì mới thấy lạ lùng quá nên mầy mò tìm hiểu thêm, đâu có mấy thủa chính phủ tổ chức cưới vợ lấy chồng giùm cho người dân??? Khi đọc thêm tài liệu về đời sống xã hội tại Ai Cập và hiểu rõ ngọn ngành thì Dế Mèn thầm tạ ơn Đất Trời cho mình được sinh sống tại một vùng đất tự do, có những cơ hội học hỏi và làm việc theo khả năng. Chao ôi là may mắn, phải không bạn?

    Tvvn.org, tháng Hai 2008
     
  15. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    Toyota, sẽ thay đổi?

    [​IMG]

    Năm mươi năm sau khi bán loạt xe đầu tiên tại Hoa Kỳ, Toyota thẳng thắn nhìn nhận rằng họ đã học hỏi được rất nhiều thứ từ Detroit, thủ phủ sản xuất xe hơi của Hoa Kỳ. Chiếc Toyota đầu tiên, kiểu AA, là phó bản của một chiếc Chevrolet 4 cửa. Những kỹ sư và nhân viên cao cấp của Toyota đã đến và ăn dầm nằm dề ở Detroit, soi mói từng góc xưởng sản xuất của công Ford Motor trong thập niên 50 để cóp nhặt kiểu mẫu mang về Nhật mà bắt chước. Cóp nhặt và bắt chước là một hình thức yêu mến và nể phục nhưng cũng có nghĩa là ăn cắp tài sản trí tuệ nếu sử dụng không có sự đồng ý của chủ nhân.

    Toyota bắt đầu nghề sản xuất xe hơi từ những bước căn bản, bắt chước và làm một mình, thế rồi họ bắt tay với General Motors để học nghề, từ việc đưa ra thị trường một kiểu xe mới đến việc quảng cáo, tài trợ… Học luôn cả cách các công ty Hoa Kỳ điều hành nhân viên, từ thợ trong xưởng máy đến người đặt chương trình thương mại, Toyota sử dụng các kiểu điều hành kia trong hãng xưởng của họ tại Nhật Bản và cả các nơi khác trên thế giới.

    Trước khi thấy mặt thành công, Toyota đã trải qua những thất bại sâu đậm. Sau Thế Chiến thứ nhì, hãng xưởng tan tác, công ty này phải xoay qua chế tạo bát đĩa và thức ăn cho đến khi xưởng máy hoạt động trở lại. Chiếc xe đầu tiên được đưa vào thị trường Hoa Kỳ là chiếc Toyopet, chiếc xe tệ hại đến nỗi công ty này phải đóng cửa đại lý; hai năm sau mới dám thò mặt ra thị trường lại! Và Toyota đã có những năm dài thành công rực rỡ.

    Toyota đã tạo nên tên tuổi trong kỹ nghệ sản xuất xe hơi, những chiếc xe của họ được xem những sản phẩm với phẩm chất cao, tiết kiệm xăng, nhưng danh thơm tiếng tốt kia đã mất mát phần nào trong thập niên này, khi Toyota phải thu hồi một số kiểu xe sau khi bán ra thị trường, và chiếc vận tải loại nhẹ, Tundra, bị giới tiêu thụ cho rằng loại xe uống xăng như bợm nhậu uống rượu! Nhưng chê thế nào thì chê, Toyota vẫn ăn nên làm ra, năm ngoái, công ty này qua mặt General Motors cái vèo, họ xếp hàng đầu như một công ty sản xuất xe hơi lớn nhất trên thế giới, và xếp hàng nhì dứng trên hãng Ford ngay tại Hoa Kỳ.

    Trong khi General Motors và Ford tiếp tục lỗ lã tại vùng Bắc Mỹ dù đã thắt lưng buộc bụng ráo riết bằng cách đóng cửa hãng xưởng và sa thải cả chục ngàn nhân công, Toyota lại hớn hở vì lời lãi hàng tỉ mỹ kim trong việc buôn bán. Toyota đang sửa soạn mở thêm hai xưởng sản xuất xe hơi khác, tại Ontario và Mississippi. Lúc này, Detroit đang cố gắng thay đổi hình ảnh phí phạm xăng dầu thì Toyota đã bán được 1 triệu chiếc xe sử dụng hỗn hợp điện-xăng, loại xe có tên hybrid. Đây là một bài học cay đắng thấm thía cho những công ty sản xuất “ngủ quên trên chiến thắng”.

    Toyota không ngừng ở đó, họ đã nếm mùi thất bại và thành công nên họ không dám ngủ quên, họ tiếp tục cải tiến không ngừng, kẻo cái hãng sản xuất Ấn Độ nhà nghèo kia lại qua mặt họ như năm xưa Toyata qua mặt con cháu chú Sam. Toyota làm thế nào để cải tiến? Nhiều thứ lắm bạn ạ!

    Thứ nhất, Toyota tiếp tục tìm cách giản dị hóa công việc dây chuyền của nhân công, làm thế nào để cái dây chuyền kia bớt một hay nhiều tác động. Họ phân tích các tác động của nhân công, các bộ phận cần chế tạo rồi dùng người máy để thử các công việc kia, từng tác động một, tác động dư thừa nào có thể bỏ bớt, rồi huấn luyện nhân công các cách thức phương pháp mới. Nghĩa là cắt bớt thời giờ cần thiết để làm xong một bộ phận nào đó, diễn nôm na ra là tiết kiệm một ít tiền nhân công, dù chỉ 1 mỹ kim một giờ, vài triệu giờ như thế là người ta tính ra bạc triệu!

    Tại những trung tâm “huấn luyện” tại Toyota City, Nhật Bản, và một trung tâm huấn luyện khác tại Geortown, Kentucky, Hoa Kỳ, các kỹ sư đang chuẩn bị những chương trình huấn luyện quy mô cho nhân công của họ khắp nơi trên thế giới. Huấn luyện nhân công là một phần quan trọng trong chương trình phát triển của Toyota. Với xưởng chế tạo trên 27 quốc gia trên thế giới và những hãng xưởng khác đang được thành lập, nhân công của Toyota nói nhiều ngôn ngữ, kể cả Nga và Thổ. Các viên chức điều hành của Toyota sẽ trải qua khá nhiều thử thách để thích nghi với những nền văn hóa xa lạ, cung cách làm việc, tinh thần làm việc không mấy quen thuộc với Toyota và truyền thống của Nhật Bản. Họ phải làm thế nào để lập lại những thành công của Toyota tại Nhật Bản trên một vùng đất xa lạ, sử dụng các phương tiện địa phương và cùng lúc, trao hẳn quyền điều hành cũng như trách nhiệm cho công ty địa phương.

    Theo ông John Paul MacDuffie, một giáo sư tại the Wharton School of the University of Pennsylvania, đường hướng mới của Toyota là cách điều hành của một công ty quốc tế muốn trưởng thành, và truyền tay kinh nghiệm của họ. Toyota công bố rằng việc làm của họ sẽ đưa đến mãi lực 10 triệu chiếc xe mỗi năm trong vòng 10 năm sắp tới, giữ vị trí số một trên thế giới và sẽ bỏ xa đối thủ lớn nhất là General Motors (GM). GM dù chưa công bố mãi lực năm 2007 nhưng cho biết mức buôn bán của công gia tăng khoảng 1.5% hàng năm so với mức gia tăng 7% của Toyota.

    Toyota phát triển một cách chậm rãi nhưng chắc chắn, bắt đầu từ Hoa Kỳ, công ty con tổ chức in hệt như công ty mẹ tại Nhật Bản, tổ hợp Toyota Hoa Kỳ đặt tại California, kiểm soát 1,300 đại lý bày bán những chiếc xe chế tạo tại Nhật Bản, Kentucky, Indiana, Texas, và sắp sửa thêm xưởng sản xuất tại Mississippi. Ngoài ra, tại California, Toyota cũng có cả trung tâm thiết kế tại California và sắp sửa có them một trung tâm nữa tại Michigan.

    Tại Âu Châu, công ty tiếp tục chiến thuật tầm ăn dâu, công ty con nằm tại Bỉ trong khi xưởng sản xuất tại Pháp chế tạo kiểu xe Yaris, 24 tiếng một ngày. Đây là điểm son của Toyota vì Dế Mèn chưa biết làm thế nào mà ban Điều Hành của Toyota thương thảo với các nghiệp đoàn công nhân của Pháp để họ làm việc theo tinh thần Nhật Bản (nhiều tiếng một ngày) và không lăn ra ăn vạ đình công mỗi khi nhõng nhẽo? Không có mấy công ty quốc tế đặt xưởng chế tạo tại Pháp mà ăn nên làm ra, hay là còn quá sớm để Dế Mèn xuýt xoa khen?

    Thành công tại châu Mỹ và châu Âu, nhưng tại Hoa Lục, Toyota còn đang lúng túng, hãng xưởng chưa được mở mang rộng rãi, chỉ chế tạo vài ngàn chiếc xe một năm. Toyota công bố rằng năm 2003 họ đã ký hợp đồng với một công ty chế tạo xe hơi khá lớn của Hoa Lục, First Automotive Works, và hiện nay đang xây cất những hãng xưởng tại địa phương, năm năm tình lận đận chăng?

    Dĩ nhiên là Toyota không một một mình một chợ, Ford Motor đang chạy theo hụt hơi dù công ty này đang lỗ lã nhiều tỉ mỹ kim trong vài năm qua. Ford không có sự lựa chọn nào khác, cạnh tranh hoặc lăn ra chết. GM cũng cố gắng đuổi theo Toyota theo cùng một mẫu phát triển kể trên. Món hàng nào bán chạy, thì cứ tiếp tục quảng cáo, gia giảm theo thị hiếu địa phương rồi từ đó mà buôn bán chứ mỗi địa phương lại theo một kiểu khác thì có nước sập tiệp vì phí tổn thiết kế, chế tạo và quảng cáo!

    Toyota cho rằng việc huấn luyện nhân công theo mẫu mực Nhật bản là điều cần thiết để duy trì phẩm chất các món hàng của họ, và vì thế cố gắng “xuất cảng” cả cách làm việc ra ngoại quốc.

    Tại các quốc gia nơi nhân công làm việc theo tinh thần trách nhiệm, sử dụng ngay món hàng do chính họ chế tạo nên nhân công cũng là những người tìm ra những cái hay những cái dở theo cái nhìn của người tiêu thụ. Điều này không xảy ra tại những quốc gia nghèo như Hoa Lục, nhân công chưa từng lái xe hoặc có một chiếc xe để sử dụng làm phương tiện chuyên chở. Vì thế tại những địa phương này, việc huấn luyện trở nên cần thiết hơn nữa.

    Tại xưởng Motomachi, trên 3,000 động tác lắp ráp một chiếc xe đã được thu hình và các cuộn phim này được sử dụng rộng rãi để hướng dẫn và huấn luyện nhân công. Những cuộn phim tỉ mỉ nhiều chi tiết, bao gồm từ cách cầm một cái kìm, một cái bơm thế nào cho đúng cách để nhân công khỏi mỏi tay nhanh chóng!

    Mới đây, các nhân công của Toyota tại Thái Lan đã được huấn luyện cách sơn xe, những câu chỉ dẫn được chuyển dịch từ tiếng Nhật sang tiếng Thái, và các cuộn phim chỉ rõ làm thể nào để sơn trong thế quỳ gối và dùng một dụng cụ để xịt sơn. Mục đích là sơn sao cho đều các thân xe. Các cử động được đo lường qua máy móc, khi xịt quá nhiều sơn hoặc quá ít sơn, nhân công sẽ được báo cho biết và chỉ dẫn thêm.

    Toyota theo chân Detroit theo cách làm việc kiểu dây chuyền, họ bắt chước nhưng cải tiến các phương thức kia đến mức tỉ mỉ và hoàn hảo. Mỗi nhân công chỉ làm một số tác động khiến họ trở nên quen thuộc và có thể làm công việc của mình thuần nhuyễn với một thời gian tối thiểu. Phí tổn về tiền lương nhân công tại xưởng Tsutsumi giảm được 20% theo cách làm việc thứ tự theo tổ chức kể trên. Thứ nhất, nhân công không phải tìm kiếm các bộ phận và dụng cụ cần dùng, mỗi ngày sau khi xong việc, các món cần dùng kể trên theo dây chuyền mà trở lại nơi xuất phát, thêm ốc, thêm đinh, thêm bộ phận và đến nơi làm việc của mỗi nhân công. Đỡ tốn thời gian cho các nhân công mới hoặc các nhân công làm việc bán thời gian. Thứ nhì, các nhân công lớn tuổi của Nhật Bản vẫn giữ được công việc, dù họ không còn sức để làm những công việc nặng nhọc. Các công việc nặng nhọc được đảm nhận bời các công nhân bán thời gian, trẻ và ít kinh nghiệm nên lương thấp hơn. Nghĩa là cách điều hành của Nhật Bản tận dụng sức lực và khả năng của nhân công.

    Tóm lại là Toyota đang chuyển hướng, dùng các tay điều hành địa phương nhiều hơn, nhưng vẫn áp dụng cách thức làm việc của Toyota tại những nơi xa xôi, từ việc lắp một con ốc cho đến việc sơn một thân xe, họ cố gắng giữ “phẩm chất” Toyota, tiếng tăm mà công ty đã cố gắng xây dựng trên nửa thế kỷ qua. GM và Ford cũng đang bắt chước như thế. Không biết công ty nào sẽ thành công nhất trong cuộc đua quốc tế kia?

    Tvvn.org, tháng Hai 2008
     
  16. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    Bầu cử kiểu Nga Sô

    [​IMG]

    Hoa Kỳ đang mùa bầu cử, và các ứng cử viên chạy xuôi chạy ngược để vận động, chính trường Hoa Kỳ sôi nổi bận rộn. Cử tri tha hồ dòm chân nhìn cẳng các ứng cử viên xem ai đáng mặt để ta bỏ cho một lá phiếu mà vô tòa Nhà Trắng kia ngồi làm Tổng Thống. Bầu cử ở một xứ tự do là như thế, còn ở một miền đất giả vờ tự do như Nga Sô thì sao? Người ta đã vận động như thế nào, làm những gì trong cuộc bầu cử vị nguyên thủ quốc gia vừa qua? Cứ đọc báo mà não nề, bạn ạ!

    Nga Sô là một quốc gia cộng sản mới được thả lỏng, đói quá, lạc hậu quá không thả lỏng e người dân làm loạn chăng? Dân chúng được phép tự do kiếm tiền và tiêu tiền nhưng còn những món tự do khác thì sao? Người dân có được bỏ phiếu cho ứng cử viên mà họ chọn không? Câu trả lời dứt khoát là không. Những người phản kháng bị giết bằng độc dược dù họ đã trốn ra ngoại quốc, những đảng phái đối lập bị trù ép, tận diệt… Bàn tay sắt bọc nhung của ông tông tông mặt lạnh như thần chết Putin kia xuất hiện khắp nơi mọi chốn.

    Tháng Mười Hai năm ngoái trước ngày bầu cử quốc hội, tại các hãng xưởng khắp Nga Sô như xưởng chế tạo xe hơi GAZ tại Nizhny Novgorov, các ông cai đi lùng khắp xưởng, gọi từng công nhân ra mà biểu rằng bầu cho đảng viên thân cận của Tổng Thống Vladimir V. Putin, không thì chết mất xác. Bỏ phiếu xong sẽ phải gọi điện thoại báo tin cho ông cai là đã làm xong bổn phận. Người ta kiểm điểm kỹ lưỡng xem ai đã bỏ phiếu, bao nhiêu phiếu đã được bầu theo lời chỉ dẫn, và người ta sẽ tìm ra cái kẻ không vâng lời mà bỏ phiếu bậy bạ!

    Người lớn đã được chỉ dẫn đến nơi đến chốn thế còn con nít thì sao? Cũng có việc để sai bảo như thường! Trẻ em được thầy cô phát cho những bích chương quảng cáo chương trình Putin, biểu đem về nhà mà giải thích cho bố mẹ biết Tổng Thống Putin anh minh tài giỏi ra sao. Tại một số trường học, thầy cô tổ chức những buổi “họp mặt” ngay tại nơi bỏ phiếu, cha mẹ đứa học trò nào không đi bầu là đứa trẻ ấy sẽ bị đội sổ.

    Những người vận động cho đảng đối lập, the Union of Right Forces, đều được dạy bảo kỹ lưỡng qua cả trăm cú điện thoại bất kể ngày đêm, dọa nạt rằng phải chấm dứt ngay cái việc vận động kia kẻo chính họ và thân tộc sẽ bị giết. Như thế, thế giới có thể hiểu loáng thoáng được rằng không có tự do thực sự tại Nga Sô. Sau những năm sóng gió trong thập niên 90, ông Putin dưới danh nghĩa “phục hồi Nga Sô” đã thẳng tay đè bẹp những tổ chức đòi “dân chủ”, biến mọi cơ chế xã hội thành một cơ chế chính phủ và tóm chặt một mảnh lớn kinh tế. Ông tông tông bóp cổ tất cả các môi trường truyền thông từ báo chí đến truyền thanh, truyền hình, mạng ảo; quốc hữu hóa hầu hết các ngành kỹ nghệ quan trọng, và sẵn sàng dùng bạo lực để nghiến nát các tổ chức đối lập.

    Với bàn tay sắt bọc nhung, vừa cười cười vừa bóp cổ, dĩ nhiên là cơ chế độc đảng của ông Putin toàn thắng trong cuộc bầu cử vừa qua. Người kế vị Tổng Thống do ông Putin chọn lựa sẽ chính thức trở thành tông tông là ông Dmitri A. Medvedev. Ông Putin sẽ trở thành “Thủ Tướng”, đứng đầu nội các mới, một thứ Thái Thượng Hoàng tân thời và ông Tổng Thống mới keng sẽ chỉ để ngó cho đẹp mắt?

    Không có một thể chế dân chủ thực sự nhưng người dân Nga không cảm thấy họ bị ức chế. Ra khỏi chế độ nghèo đói năm xưa dưới thời liên bang Xô Viết, đói triền miên nên bây giờ được ăn uống thả cửa, ít ra có thức ăn để ăn mà không phải xếp hàng rồng rắn, người dân Nga nếm mùi no đủ nên đã thấy Nga Sô ngày nay "giàu sang" khác xa thời trước. Nền kinh tế của Nga phát triển mạnh mẽ nhờ những nguồn dầu thô, và hàng xa xỉ phẩm tràn ngập thị trường, Nga Sô ngày nay không còn bộ mặt của một nước cộng sản lạc hậu đói rách năm xưa, nhưng sự tự do của họ ngừng ở đó; cái thòng lọng của chính phủ độc đảng như Mafia vẫn còn lơ lửng trên đầu.

    Những sự việc không mấy hay ho như việc chính phủ đóng cửa, cấm phát hành một số báo chí, cũng như việc cảnh sát khám xét lục lọi các cơ sở của những tổ chức đối lập chỉ được đăng tải bởi báo chí ngoại quốc, còn những tờ báo địa phương thì nín khe.

    Hầu như ở địa phương nào, xa hay gần Moscow, các viên chức nắm quyền đều là người trong đảng của ông Putin. Họ công nhiên tuyên bố rằng phải độc đảng như thế mới được, chứ ba cái dân chủ lộn xộn kia chỉ tổ gây rối loạn cho đất nước, và tốt hơn hết là dẹp quách cái vụ bầu cử kia đi cho xong, dân chúng đâu có biết cái chi mà bầu với bán?!

    Những kẻ cầm quyền độc tài kia có lẽ cũng đúng phần nào, sau những năm rối loạn, kinh tế kiệt quệ sau khi thể chế cộng sản tàn lụi, đất nước Nga xơ xác nghèo đói lạc hậu, chỉ có mỗi một món võ khí nguyên tử, bán được ít tiền nhưng… ăn hổng được nên dân chúng chờ đợi cầu mong một chính thể vững chắc, ai dẫn đầu cũng đặng miễn là đem lại cho dân chúng một ít cơm áo. Đói quá, thiếu thốn quá nên không ai để tâm đến “dân chủ”, nhất là nền dân chủ của Âu Mỹ.

    Riêng tại Nizhny Novgorov, một trung tâm kỹ nghệ cách Moscow khoảng 250 dặm, với dân số 1.3 triệu người; ngày trước có tên là Gorky, là nơi giam giữ những lãnh tụ đối lập và dĩ nhiên là báo chí ngoại quốc bị cấm ngặt. Sau khi liên bang Xô Viết tan rã, thành phố này trở thành một miền đất “giải phóng”, được thế giới chú ý đến như nơi phát xuất tiếng nói “đối lập” (tương đối) của dân Nga. Cái tiếng nói “đối lập” kia chưa kịp lớn nhanh lớn mạnh cho lắm thì đã bị tắt ngóm. Hôm nay, chính quyền Moscow gửi đến đó một thống đốc mới. Vừa đặt chân đến nơi, ông Valery P. Shantsev đã ra lệnh cho thuộc hạ là làm thế nào để đảng United Russia (do ông Putin lãnh đạo) toàn thắng thì làm. Viên chức là đảng viên và đảng viên là các viên chức cầm quyền, nghĩa là không có một lằn ranh nào giữa chính quyền và đảng United Russia.

    Các viên chức địa phương đã tổ chức những cuộc mạ lỵ tập thể các ứng cử viên từ đảng đối lập; họ bị gọi là những kẻ tham nhũng, phản bội và một mớ những tội lỗi khác. Báo chí cứ im hơi lặng tiếng không hó hé chi ráo. Thế rồi cuộc bầu cử tại Nizhny Novgorov chấm dứt và kết quả như mọi quan sát viên ngoại quốc đã biết trước, đảng United Russia toàn thắng, chiếm hết mọi số ghế từ A đến Z, như mọi thành phố khác và cả cuộc bầu cử trên toàn quốc.

    Toàn thắng xong, cái đảng United Russia kia loay hoay tìm cách hợp thức hóa quyền hành của họ. Chẳng là cuộc bầu cử diễn ra như một màn kịch độc diễn tệ hại, dù người dân im hơi lặng tiếng, và báo chí ngoại quốc dè bỉu, hình như cái chính phủ kia cũng biết đỏ mặt. Họ sợ rằng người dân không chịu đi hoan hô nữa thì việc rêu rao là ông Putin được toàn dân ủng hộ trở nên khôi hài cho nên tất cả mọi người, người lớn trẻ em, sinh viên, nhân công đều bị lùa lên xe vận tải và chở tuốt ra điện Cẩm Linh để hô hoán hò hét vỗ tay khen ngợi, chúc mừng đảng United Russia toàn thắng. Ông Putin lãnh tụ anh minh đời đời ngồi dính trên ghế hổng chịu đi, hết nhiệm kỳ tổng thống rồi thì thành thủ tướng, cũng được tung hô rầm rĩ.

    Thế là vở kịch bầu cử tại Nga hạ màn, người thế giới ngó nhau thắc mắc không biết đến bao giờ người dân Nga mới thực sự được nếm món dân chủ? Hay cộng sản muôn đời vẫn là cộng sản? Nghèo rách áo hay dư bát ăn, chính thể cộng sản nào cũng độc tài và sắt máu như nhau?

    Tvvn.org, tháng Ba 2008
     
  17. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    Làm công, cho mướn, kiểu Ấn Độ

    [​IMG]

    Ấn Độ, dù đang vươn mình, cũng vẫn là một quốc gia nghèo đói, nơi một phần ba dân số sống dưới mức “nghèo khổ”, thiếu ăn triền miên.

    Cái đói cái nghèo khiến con người quay quắt vì cơm ăn áo mặc. Họ sẵn sàng làm những công việc khó khăn, nguy hiểm để kiếm sống, kể cả cho thuê tử cung, mang thai và sinh nở dùm cho những người lạ mặt. Danh từ hay ho là “surrogate motherhood” hay “mẹ nuôi”; và kỹ nghệ “mướn người sanh” hay rõ ràng hơn là “mướn tử cung” (the reproductive outsourcing industry) đang lớn nhanh lớn mạnh tại Ấn Độ. Những trung tâm Y Tế tại Ấn đã khoe rằng họ nhận được cả chục cú điện thoại mỗi ngày hỏi thăm về dịch vụ cho mướn tử cung này. Sở dĩ các trung tâm Y Tế tại Ấn hấp dẫn như thế là do tài năng của các bác sĩ chuyên môn về sinh sản, luật pháp lỏng lẻo, và hấp dẫn nhất là mục chi phí thấp!

    Các dịch vụ cho mướn tử cung bị cấm ngặt tại một số tiểu bang của Hoa Kỳ và một số quốc gia Âu Châu nhưng lại hợp pháp tại Ấn. Chi phí cho mỗi lần thụ thai, mang thai, và sanh nở là 25 ngàn mỹ kim, khoảng 1/3 phí tổn tại Hoa Kỳ. Chi phí này bao gồm mọi thứ từ tiền Bác Sĩ, tiền mướn… tử cung, tiền mua trứng (người bán trứng và người mang thai có thể là 2 phụ nữ khác nhau), và tiền vé cho 2 chuyến baykhứ hồi đến Ấn Độ. Chuyến thứ nhất để trao tinh trùng giúp trứng thụ tinh, chuyến thứ nhì để đem đứa trẻ về cố quốc nơi xuất phát của người thuê sanh nở.

    Trung tâm Y Tế nổi tiếng nhất trong dịch vụ này là the Rotunda Clinic tại Mumbai. Những viên chức tại đây cho biết là họ không cho phép bất cứ sự giao tiếp nào giữa người mua và kẻ bán. Những người mua dịch vụ đến trung tâm này và trao tinh dịch, người bán trứng và cho mướn tử cung cũng đến đây để thụ tinh hoặc thụ thai nhưng không hề gặp gỡ nhau. Các bác sĩ tại Rotunda cho rằng những phụ nữ mang thai với trứng của một phụ nữ khác sẽ không quấn quýt với thai nhi vì không có “liên hệ về di tính” (genetic connection).

    Không ai biết rõ dịch vụ cho mướn tử cung có con số là bao nhiêu. Theo ông Rudy Rupak, Giám Đốc PlanetHospital, một công ty cung cấp dịch vụ du lịch Y Tế (medical tourism), họ thực hiện 25 trường hợp trong năm ngoái ; năm nay số dịch vụ này sẽ lên đến khoảng 100. Mỗi khách hàng vừa ý sẽ kéo theo cả trăm những khách hàng mới.

    Một trung tâm Y Tế khác, Anand Clinic tại Gujarat, hiện đang có khoảng 50 phụ nữ đang mang thai với các bào thai từ những người Hoa Kỳ, Anh và các quốc gia khác. Trong số phụ nữ này, 15 người đang sống tại nhà trọ ngay bên cạnh trung tâm Anand cho đến ngày sinh nở vì họ không có chỗ ở. Với số tiền kiếm được sau khi sinh nở, các phụ nữ kia có thể bắt đầu cuộc đời. Trung bình, họ kiếm được 7,500 mỹ kim cho mỗi lần mang thai, số tiền này tương đương với 10 năm lương bổng của một công nhân trung bình. Các bác sĩ Ấn cho rằng phụ nữ địa phương không mắc phải những cố tật có hại cho sức khỏe như uống rượu, dùng ma túy ngay cả không hút thuốc lá nên họ sẽ có những đứa con mạnh khỏe hơn (so với phụ nữ sinh sống tại các quốc gia khá giả khác).

    Indian Council of Medical Research công bố các điều luật về dịch vụ cho thuê tử cung: Người cho thuê từ bỏ hết quyền phụ mẫu và không dính dáng chi đến đứa trẻ; tên bà mẹ cũng để trống trong giấy khai sinh.

    Những người ủng họ, gồm những cha mẹ ngoại quốc và cả những bác sĩ Ấn, cho rằng đây là một dịch vụ có lợi cho cả đôi bên, người mua kẻ bán. Người mua mua được một dịch vụ như ý, vừa túi tiền. Người bán có một món tiền lớn, một món tiền mà suốt đời họ không thể tạo dựng hay mơ ước; nay nhờ cho thuê từ cung mà những phụ nữ này có thể tự tạo một đời sống cho mình, và đôi khi cho cả gia đình.

    Kẻ chống đối cho rằng dịch vụ buôn bán này đảo lộn thiên chức làm cha mẹ, người bán vì nghèo khổ quá nên dễ bị lừa gạt hoặc bắt nạt. Nhiều phụ nữ không biết đọc biết viết thì làm sao biết được họ đã ký giấy cho phép cái chi? Điển hình là những tờ hợp đồng nơi ký tên là dấu tay của người cho thuê thay cho chữ ký.

    Một cơ quan của chính phủ Ấn, the Ministry of Women and Child Development, nói rằng họ sẽ soạn thảo những đạo luật chi tiết hơn để bảo vệ quyền lợi của những phụ nữ cho thuê tử cung. Nhưng chưa có dấu hiệu chi về đạo luật mới này, bao gồm những chi tiết gì và khi nào thì trở thành luật?

    Ta đứng giữa một con đường mà ngả rẽ giữa cái thực tế và lòng đạo đức hình như trộn lẫn với nhau, khó tách rời một cách rõ ràng. Những người không có cách chi khác để sinh tồn và phải sử dụng thân xác mình một cách lương thiện, ít ra sức khỏe của họ được chăm sóc cẩn thận trong thời gian mang thai kia. Làm sao chê trách được dù thiên chức làm mẹ bị xếp hàng với một dịch vụ thuê mướn? Những người mua cũng là những người lương thiện không kém, họ muốn làm cha mẹ nhưng vì lý do nào đó không thể; đâu có chi không tử tế về việc thuận mua vừa bán kia?

    Điều làm Dế Mèn băn khoăn khó chịu mãi là việc ra đời của một đứa trẻ. Đứa con là sự kết tinh từ tình yêu của cha và mẹ; khi đứa trẻ kết tinh từ sự đổi chác, không biết đứa trẻ ấy sẽ nghĩ thế nào về cách chào đời của nó?
     
  18. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    Tuyết không rơi ở Andorra

    [​IMG]

    Mùa đông năm nay tuyết không rơi ở Andorra, tai hại quá đi mất, cái thành phố nhỏ xíu kia khốn đốn vì thiên nhiên ngoảnh mặt! Nơi du lịch để người ta trượt tuyết mà tuyết không chịu rơi thì những dịch vụ của hàng quán, khách sạn … bán cho ai? Đâu có mấy du khách muốn trượt tuyết đến thăm?

    Thế là cả thành phố xôn xao, nhất là trong cuộc hội họp của thành phố nhân dịp lễ Thánh Charles Borromeo vừa qua. Người thành phố nhìn nhau thở dài thườn thượt, họ sẽ phải thắt lưng buộc bụng như nhiều nơi khác trên thế giới khi kinh tế đi vào mùa thu chết như thế này dù trời sang xuân.

    Principality of Andorra là một quốc gia nhỏ xíu rộng 180 dặm vuông (cỡ một nửa thành phố New York), nằm trong núi đồi và thung lũng của rặng Pyrenees; lọt thỏm giữa biên giới Pháp và Tây Ban Nha. Thủ đô của Andorra là Andorra la Vella, quốc gia tí tẹo này là một quốc gia độc lập, có mặt trong Liên Hiệp Quốc như một thực thể có đầy đủ chủ quyền theo quốc tế công pháp từ năm 1993. Tuy nhiên, Andorra vẫn chịu “bảo bọc” bởi Pháp và Tây Ban Nha, trên danh nghĩa ông tông tông Pháp Nicolas Sarkozy và Đức Hồng Y Joan Enric Vives i Sicilia của Urgel, Tây Ban Nha là hai vị đứng đầu (Chief of State). Dân số của Andorra theo thống kê năm 2007 là 71,822 người già trẻ lớn bé.

    [​IMG]

    Ngày xửa ngày xưa, vào thế kỷ thứ IX cụ Charlemagne uýnh lộn với với quân đội Moor và dành được vùng đất này, từ đó được khoanh tròn trên bản đồ như một vùng đất riêng. Vua La Mã Charles Đệ Nhị đã giao quyền cai trị Andorra cho Hồng Y của Seo de Urgel. Các công tước vùng Foix phản đối kịch liệt, và cuối cùng người ta đồng ý với nhau rằng Andorra thuộc về cả 2 quốc gia, Pháp và Tây Ban Nha vào năm 1278. Từ đó, Andorra là một vùng đất cai quản bởi vị Hồng Y của Urgel và vua (rồi đến tổng thống) Pháp. Ngày ấy, hàng năm người Andorra giữ tục lệ “triều cống” cả hai “thiên triều” (đóng thuế) bằng những đùi heo, những ổ bánh mì và những chai rượu!

    Bao nhiêu thăng trầm đã qua, đến năm 1935 họ xây nhà máy phát điện đầu tiên bên sông Valira. Năm 1950, Andorra chỉ có 6,000 dân và đến năm 1959, con đường dẫn đến biên giới Tây Ban Nha mới được tráng nhựa.. Nói tóm lại là Andorra tương đối biệt lập với các vùng đất chung quanh.

    Khi tuyên bố độc lập vào năm 1993, Andorra chấm dứt tục lệ triều cống, và hai vị sếp kia trở nên những người đứng đầu làm kiểng. Andorra có Hiến Pháp và theo chính thể dân chủ, quốc gia được điều hành bởi một quốc hội dân cử với đầy đủ ba ngành hành pháp, lập pháp và tư pháp.

    Về mặt hành chánh, Andorra chia làm 7 “quận hạt” (district), người Andorra chính gốc xuất phát từ Catalan chiếm 33%. Dế Mèn phải mở ngoặc ở đây mà nói nhỏ với bạn rằng người Catalan hổng chịu nhận mình là người Tây Ban Nha dù ngày nay đất đai của họ (Barcelona và vùng lân cận) nằm trong lãnh thổ của Tây Ban Nha. Dân Catalan có tiếng nói riêng, khác khá xa với tiếng Tây Ban Nha, bạn ạ! Trở lại với dân số của Andorra, người Tây Ban Nha chiếm 43%, Bồ Đào Nha 11% và người Pháp 7%; phần còn lại là di dân đến đấy lập nghiệp. Ngôn ngữ chính thức của Andorra là tiếng Catalan, dù người dân vẫn dùng tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha!

    Andorra thu hút du khách qua kỹ nghệ du lịch, trượt tuyết, và ngân hàng. Quốc gia này không đánh thuế lợi tức và thuế hàng hóa rất thấp. Thế thì họ kiếm tiền ở đâu mà tiêu xài? Ngân hàng “bí mật” bạn ạ! Cũng như Liechtenstein và Monaco, Andorra có luật ngân hàng rất rộng rãi, người ta có thể mở trương mục ký thác tiền bạc mà không cần tên tuổi chi ráo. Vì thế những người Âu Châu muốn trốn thuế rinh tiền đến đây mà gửi! Ba quốc gia tí teo này làm công việc giữ tiền cho dân ngoại quốc và được (bị?) mệnh danh là “Thiên Đàng Không Thuế”, nằm trên bảng phong thần của the Organization for Economic Cooperation and Development! Dế Mèn không biết là bao nhiêu lâu nữa thì Andorra cũng như các quốc gia ngân hàng kia phải ngưng việc giữ tiền bí mật của họ; áp lực của các quốc gia (mất thuế) khá nặng nề trên phương diện ngoại giao cũng như kinh tế!

    Sống về nghề giữ tiền mà Andorra chỉ có 5 ngân hàng với khoảng 1,500 nhân viên. Trong thời vàng son, kinh tế Andorra phát triển mạnh mẽ, họ xây nhà san sát, những cao ốc ngất nghểu lấy hết sinh khí của một thành phố miền núi nhỏ nhỏ xinh xinh (mà bạn ta, người Mây Đầu Sông gọi là xinh xinh như cái đinh đóng guốc!) với những mái nhà đá (slate) tường vôi…

    Sống về du lịch mà du khách không chịu dừng chân vì trời hổng chịu đổ tuyết, ngành ngân hàng cũng bị thu hẹp cho phù hợp với luật pháp về tài chánh của các quốc gia chung quanh nên chẳng lạ là Andorra đang thở dài áo não!

    Sáng nay, Marie Laurence gửi cho Dế Mèn một mẩu tin của Reuters nói về Andorra và nền kinh tế ngắc ngoải. Bạn ta còn hỏi thêm một câu rằng Dế Mèn có nhớ chi về Andorra không vậy? Bạn ơi, 10 năm rồi còn gì, ngày ấy Dế Mèn đi leo đồi với Marie Laurence, nhìn quanh thấy thành phố… xấu ỉn, xấu ình vì toàn là cao ốc và các toà nhà thương mại; Dế Mèn chưa biết chỗ leo đồi ở đâu nên hỏi tới. Marie Laurence phì cười đùa rằng ta leo cầu thang trong mấy tòa nhà kia thì cũng như đồi núi vậy! Thật ra, mấy ngày nghỉ ở đó, Dế Mèn có leo đồi và đồi núi nằm bên ngoài thành phố. Dế Mèn không nhớ chi về Andorra mà chỉ nhớ Marie Laurence tóc vàng sợi nhỏ của những ngày Paris năm xưa!

    Tvvn.org, tháng Ba 2008
     
  19. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    Napoli, rác và mozzarella


    Mấy hôm nay người ta xôn xao bàn tán về rác, rác ở Napoli (viết theo tiếng Anh là Naples), bên Ý, bạn ạ! Mấy tháng rồi, cả thành phố miền biển kia lên cơn sốt vì rác. Rác thải ra không có người dọn, không có chỗ đổ và rác từ những nơi khác cứ bị người ta rinh đến đổ quanh vùng Napoli. Thế thì tai hại bạc triệu đến nơi rồi! Mùa xuân là mùa nắng ấm sau những ngày đông ủ ê lạnh giá, tháng Ba là trời nơi ấy bắt đầu ấm áp và hoa lá nở tưng bừng. Trời ấm có nghĩa là mùi rác sẽ bốc lên đến mây xanh. Napoli là thành phố nơi du khách dừng chân trên đường đến Capri, Surriento, Almafi... những thành phố nghỉ mát bên bờ biển của Ý. Bây giờ mà rác đầy đường, đất trời bốc mùi khó ngửi như thế thì ai mà muốn đến?

    Napoli là một thành phố cổ nằm ở miền Nam của Ý, có trên 2,500 năm lịch sử. Thành phố nằm giữa những núi lửa (đã tắt hay còn âm ỉ?) Mount Vesuvius và Phlegrarean Fields bên bờ vịnh Napoli. Người Hy Lạp tìm ra và đặt tên thành phố là “Neapolis” có nghĩa “thành phố mới”, Napoli giữ một vai trò khá quan trọng trong lịch sử Magna Graecia và sau đó, lịch sử La Mã. Những thành quách được xây và phá hủy qua bao nhiêu thời đại. Ngày nay, trung tâm thành phố được UNESCO xếp vào danh sách Di Sản Thế Giới.

    [​IMG]

    Napoli là thành phố đông dân thứ nhì của Ý, và một trong những thành phố đông dân nhất của Âu Châu, 3.8 triệu người, trong số đó, 1 triệu người sinh sống ngay trong trung tâm thành phố.

    Thành phố này là nơi xuất phát của món pizza, một món bánh mặn làm bằng bột mì, trên mặt rải cà chua và mozzarella rồi đem nướng. Về sau người ta vẽ rắn thêm chân, bỏ thêm hành, ớt xanh, nấm, xúc xích, thịt bằm.... Khi món pizza này chạy sang đến California thì ta có thêm dứa tươi trên mặt bánh và gọi tên là “Hawaian pizza”. Dế Mèn chưa biết tên của ông đầu bếp chế biến ra cái món pizza thập cẩm kia, con bé Dưa Muối ở nhà mỗi lần gặm pizza thì cứ nhè mấy miếng dứa, dụ dỗ thế nào cũng lắc đầu quầy quậy!

    Trở lại với chuyện rác rưởi, tệ hại là rác bắt đầu gieo tiếng xấu cho Napoli. Người ta nghe đến rác ngập Napoli qua chuyện mozzarella. Chẳng là Napoli là nơi sản xuất mozzarella, một loại cheese “tươi” (unriped) lẫy lừng của Ý và của cả thế giới. Từ khi rác rưởi chiếm đóng thành phố, cái thứ phế thải kia bắt đầu ảnh hưởng đến món cheese ngon miệng này. Rác ảnh hưởng đến mozzarella làm sao mà người ta kêu la rầm rĩ như thế? Chính phủ Nam Hàn bắt đầu cấm nhập cảng mozzarella vào quốc gia họ. Cộng đồng Âu Châu bắt đầu gửi người giám sát đến Napoli mà xem xét các hãng xưởng sản xuất xem có hợp vệ sinh không, nước nôi sử dụng có đúng tiêu chuẩn y tế không... Chẳng là mớ mozzarella sản xuất mấy tháng trước, khi đem thử nghiệm thì người ta đo được một lượng dioxin (một loại hóa chất có thể gây ung thư) khá khá trong món ăn thơm ngon kia. Thế là người ta la toáng lên và đổ đi tìm gốc gác của việc nhiễm độc tai hại này. Làm thế nào mà dioxin lại có mặt trong mozzarella? Nước uống đã bị nhiễm độc rồi chăng? Có phải từ những đống rác bốc mùi quanh thành phố kia chăng?

    Mozzarella là một loại cheese tươi chế tạo bằng sữa trâu nước (water buffalo) và được cộng đồng Âu Châu chứng nhận là đặc sản của Napoli, nghĩa là món thức ăn phải được chế tạo bằng sữa trâu nước và chế tạo tại Napoli mới được gọi là “mozzarella”. Mozzarella là những nắm cheese tươi, nằm trong nước, chỉ giữ được vài ngày, khó để lâu. Món mozzarella cũng được bán dưới dạng xông khói hoặc xấy khô, bọc vỏ để giữ lâu hơn.

    [​IMG]

    *Hình ảnh của Reuters

    Napoli và pizza, Napoli và mozzarella, thành phố và thức ăn dính chặt với nhau không rời. Không có mozzarella lấy chi mà nướng pizza cho ra hồn? Hàng quán đều bứt tóc bứt tai không biết làm sao, khách ăn cũng không dám rớ tới pizza. dù hàng quán đã dề bảng rõ ràng là chúng tôi nướng pizza với những loại cheese khác, cheese làm bằng sữa bò! Dịch vụ này kéo theo dịch vụ khác, âu cũng vì những đống rác ngập trời!

    Khổ thân Napoli, chính phủ Ý cứ lờ tít cả mấy năm nay về cái chuyện rác rưởi, mặc người thành phố kêu la oán thán. Rác cứ ùn ùn kéo đến, hình như mấy tay mafia tóm chặt mọi dịch vụ đổ rác, từ việc đấu thầu cho đến những nghiệp đoàn đổ rác...Rác của Ý chỉ chạy quanh trong lãnh thổ họ chớ hổng bưng ra biển được, nhất là những thành phố thơ mộng êm đềm như Surriento, Capri... Kỹ nghệ du lịch bảo vệ bờ biển, khách sạn chặt chẽ bằng cách thương thảo với các dịch vụ đổ rác, rác mang đi đâu thì mang chớ hổng được héo lánh đến đó. Đọc đến đây hẳn bạn đã đoán ra, Napoli ... nghèo, so với những vùng đất chung quanh nên bị rác đổ ngập đầu, và chính phủ Ý chẳng biết giải quyết làm sao cho ổn thỏa nên đành phe lờ. Nhưng phe lờ mãi cũng chẳng được, đến hôm nay thì cộng đồng Âu Châu bắt đầu lên tiếng về món mozzarella va tình trạng ô nhiễm của Napoli.

    Chính phủ Ý đành phải mở cuộc điều tra xem dioxin từ đâu đến mà lại có mặt trong mozzarella và... rác từ đâu đến, hai thứ có dính dáng chi với nhau không. Trong khi chính phủ điều tra thì các hãng sản xuất hè nhau... cầu nguyện, bảo rằng họ làm ăn tử tế từ mấy trăm đời, mozzarella của Napoli lúc nào cũng thơm ngon từ thế kỷ thứ Bảy, bây giờ mới bị quân... khủng bố phá đám gieo tiếng xấu cho món ăn lẫy lừng thế giới kia, ông Trời ngó xuống mà xem! Cả 500 triệu mỹ kim mãi lực chứ đâu phải là ít? Không bán được mozzarella thì người thành phố biết làm sao? Sạt nghiệp đến nơi, và thế giới đâu còn cái món cheese tươi kia nữa? Dế Mèn xem TV thấy mấy ông bà làm cheese hoa chân múa tay diễn tả nỗi lo âu của họ mà băn khoăn ái ngại!

    Năm xưa Dế Mèn ghé Napoli mấy ngày trên đường đi Surriento, thành phố lè phè không được tươm tất cho lắm nên không mấy yêu thích. Bây giờ nhìn thấy nỗi lo âu của người thành phố, từ sinh kế đến môi sinh, sức khỏe... những lo âu rất người, rất gần gũi với người Việt ta, lòng tự dưng cám cảnh. Cái chính phủ thổ tả kia chưa thi hành đầy đủ bổn phận cầm cân nảy mực của họ, hôn quân thì dân khổ, thời đại nào cũng thế!

    Tvvn.org, tháng Ba 2008
     
  20. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    Nếp cũ, đời mới

    [​IMG]

    * Hình ảnh của the International Herald Tribune

    Hai năm sau khi trở thành thành viên của Cộng Đồng Âu Châu (European Union, EU), Ba Lan bắt đầu thấm thía cái giá của “đời mới” khi các đạo luật của EU về kinh tế, thương mại …được áp dụng tại đất nước họ. Kinh tế thay đổi theo một đường hướng tốt đẹp hơn? Có thể lắm, dân Ba Lan có thể sang các quốc gia lân cận tìm việc làm tương đối dễ dàng. Những quốc gia Âu Châu khác có thể đến Ba Lan và mở hãng xưởng chế tạo sản phẩm với một phí tổn thấp hơn so với các quốc gia Tây Âu giàu có khác. Cái lợi thì thấy ngay trước mặt nhưng cái không lợi thì bắt đầu xuất hiện từ từ. Những cái không lợi ảnh hưởng đến 23% dân số, những người Ba Lan sinh sống bằng nghề canh tác.

    Các đạo luật về Thực Phẩm và Y Tế của EU đòi hỏi việc vắt sữa bò bằng máy móc để sữa bớt nhiễm trùng. Các nông trại nuôi thú, chuồng phải đổ nền xi măng. Các lò sát sinh phải dùng máy móc theo luật định… Tóm lại là luật pháp của EU nhằm bảo vệ người tiêu thụ và có khuynh hướng phát triển kinh tế qua những cách chiết giảm phí tổn, bớt thời giờ.

    Nông dân Ba Lan từ bao nhiêu năm vẫn canh tác theo truyền thống ông bà để lại. Họ vẫn nuôi gia súc trong những cái chuồng nền đất, lót rơm lót cỏ, vẫn vắt sữa bò bằng tay, vẫn làm thịt gia súc đem bán trong các phiên chợ đầu làng theo lối xưa. Ở các thôn làng trên lãnh thổ Ba Lan, người ta vẫn chưa chịu dùng các loại giống đã được “thay đổi” theo kỹ thuật DNA (để lúa lớn nhanh, ít lệ thuộc vào nước, và có sức đề kháng sâu bọ mạnh hơn). Người ta vẫn dùng trâu bò để kéo cày chứ ít chịu xài máy cày; và thay cho thuốc trừ sâu bọ, họ để rơm trên các cánh đồng, hy vọng thời tiết mùa đông lạnh lẽo sẽ diệt hết sâu bọ!

    Rải rác khắp quốc gia Đông Âu này vẫn còn khoảng 1.5 triệu nông trại nhỏ nhỏ, canh tác theo tính cách cá nhân. Trung bình một nông trại có diện tích khoảng 17 mẫu (so với 59 mẫu đất cho mỗi nông trại tại Đức, Pháp hoặc Tây Ban Nha), nói tóm lại là nông dân Ba Lan thích sống và làm việc theo lối riêng lẻ, cò con. Ngay trong thời kỳ bị cộng sản nhuộm đỏ, nông dân Ba Lan vẫn không chịu theo hoàn toàn lối canh tác "hợp tác xã".

    Hẳn bạn đang tự hỏi, canh tác riêng lẻ thì đã sao? Theo luật bù trừ về kinh tế & sản xuất, khi ta có những nông trại lớn, nhiều ngàn mẫu đất, việc sử dụng máy móc sẽ tạo ra một năng suất cao hơn, máy cày có thể chạy một mạch từ thửa đất này sang thửa đất kia, nhanh hơn và hiệu quả hơn so với sức người và sức trâu bò. Khi năng suất cao hơn thì phí tổn sẽ được chiết giảm, sản phẩm sẽ thấp giá và dễ bán hơn. Chẳng hạn như việc công ty Smithfield Farms, chuyên sản xuất thịt ba rọi muối xông khói (bacon), thuê đất nuôi heo tại Ba Lan, dùng thực phẩm gia súc bằng đậu nành mua từ Phi Châu với giá rẻ mạt, nên giá thịt heo tuột dốc và ảnh hưởng đến những nông trại buôn bán nhỏ nhỏ kia. Bộ Canh Nông Ba Lan công bố một con số đáng kể: Từ khi trở thành thành viên của EU, giá thịt heo và sữa bò tại Ba Lan giảm 30%! Điều này có nghĩa là người tiêu thụ mua được các sản phẩm kia với giá rẻ hơn, nhưng các nông trại nuôi heo nuôi bò tại Ba Lan đang kêu Trời vì phá sản! Làm sao họ có thể tiếp tục đổ mồ hôi chăn nuôi và bán rẻ những tảng thịt heo hay những thùng sữa bò?

    Mấy ngày truớc, nông dân Ba Lan đã biểu tình trước dinh Thủ Tướng Donald Tusk, kêu la rằng các đạo luật về thực phẩm của EU đã bóp chết cách sống của họ! Họ cần chính phủ giúp đỡ một cách thiết thực hơn. Chính phủ Ba Lan đang loay hoay với nan đề này; và hình như họ sẽ không có cách giải quyết thỏa đáng, nền kinh tế đang thuận lợi cho 3/4 dân số, làm sao có thể chuyển hướng để giúp đỡ 25% những người còn lại? Không theo các đạo luật của EU làm sao buôn bán với các nước láng giềng? Ngay trong thị trường địa phương, dân Ba Lan cũng sẽ mua sản phẩm nhập cảng vì giá rẻ hơn? Thế thì còn cách nào khác nữa không? Như trợ giúp riêng (subsidized) nông dân chẳng hạn? Nghĩa là tài trợ các nông trại nhỏ để họ tiếp tục sinh sống và chăn nuôi, sản phẩm sẽ bán theo giá thị trường.

    Thật ra EU cũng có vài đạo luật giúp đỡ riêng cho nông dân trong cộng đồng Âu Châu. Các đạo luật này tài trợ những chương trình gần như hợp tác xã, nghĩa là các nông trại cần tụ họp, mua máy móc để cày cấy, chăn nuôi theo tính cách quy mô hơn và sử dụng máy móc trong việc vắt sữa, làm thịt…

    Để được giúp đỡ bởi EU qua chính phủ, các nông dân sẽ phải thay đổi nếp sống cũ, thay đổi cách chăn nuôi canh tác cổ truyền theo tục lệ và thói quen xa cũ… Đó là điều mà các nông dân Ba Lan không muốn áp dụng. Một số bỏ đất hoang, kiếm sống qua công việc làm trong hãng xưởng, số còn lại sống thoi thóp trên những mảnh đất tổ tiên.

    Những sự thay đổi to lớn như thế đều mang theo những tiếng nấc, phải không bạn?

    Tvvn.org, tháng Tư, 2008
     

Chia sẻ, giới thiệu đến bè bạn