Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!

Truyện Kiều Và Tuổi Trẻ

Chủ đề trong 'Câu Lạc Bộ Văn Hóa Việt' do PH44 khởi đầu 7 tháng Năm 2015.

  1. PH44

    PH44 Người thân Tình Nguyện Viên

    Bản đánh máy của Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu
    Ban Tu Thư hiệu đính lần thứ nhất tháng Mười Hai 2014, hiệu đính lần thứ hai tháng Năm 2015
    không có sự đồng ý của tác giả Lê Hữu Mục, Phạm Thị Nhung, Đặng Quốc Cơ.



    [​IMG]
     
  2. PH44

    PH44 Người thân Tình Nguyện Viên

    LÊ HỮU MỤC
    PHẠM THỊ NHUNG
    ĐẶNG QUỐC CƠ


    TRUYỆN KIỀU VÀ TUỔI TRẺ



    làng văn
    IN LẦN THỨ BA
    (có hiệu chính và tăng bổ)
    Paris - 2011



    TRUYỆN KIỀU VÀ TUỔI TRẺ
    Làng Văn in lần thứ ba, tháng 6 năm 2011
    (có sửa chữa và tăng bổ)

    Copyright 1998 by Le Huu Muc, Dang Quoc Co and Pham Thi Nhung.
    Third published by Lang Van

    ISBN: 0-896960-01-04
    Legal Deposit: November 1998
     
  3. PH44

    PH44 Người thân Tình Nguyện Viên

    Trang VII

    Lời Nói Đầu của Bản In Lần Thứ Hai


    Từ khi Truyện Kiều được hành thế đến nay, quần chúng độc giả đã tự chia ra làm 3 phe: Phe triệt để tán thưởng, phe chống đối quyết liệt, và phe trung dung. Ba phe ấy lại được chia ra làm 2 phe nhánh: Nhánh quá khích và nhánh ôn hòa. Hai nhánh nầy còn tự động chia ra làm nhiều khuynh hướng, nhiều sắc thái, và nhiều quan niệm. Người khen thưởng tìm được trong rất nhiều yếu tố để khen. Người chê cũng tìm được đủ mọi lý lẽ để chê bai, dè biểu. Chị Giáo Sư Phạm Thị Nhung và tôi là thầy giáo Quốc Văn. Không năm nào chúng tôi không gặp những chuyện lôi thôi rắc rối về việc dạy Truyện Kiều. Xin nói riêng về trường hợp tôi.


    _____ oOo _____​
    Trang VIII


    Năm 1954, tôi giảng về đoạn Kiều khuyên Từ Hải ra hàng cho học sinh lớp Đệ Nhị C Trường Trung Học Khải Định. Trong lớp có nhiều học sinh ngay thời đó đã nổi tiếng về văn chương như Tạ Ký, Thế Viên, Nguyễn Xuân Thiệp, và Bùi Thị Vân Trà. Khi tôi đang chăm chú giảng bài, có một học sinh giơ tay xin hỏi. Tôi vui vẻ trả lời từng câu hỏi của anh, nhưng càng ngày anh càng đưa cuộc tranh luận về chính trị, đến nổi Tạ Ký phải can thiệp và yêu cầu anh học sinh ra khỏi lớp để cho các học sinh được tiếp tục nghe giảng. Sau đó, tôi được biết anh được sự đỡ đầu của một giáo sư đồng nghiệp của tôi, giáo sư nầy (Tôn Thất Dương Kỵ) tuy được tiếng là một giáo sư rất giỏi, nhưng có khuynh hướng thiên tả. Vấn đề được đưa ra Hội Đồng Kỷ Luật. Tôi nhân dịp xin từ chức và không chịu dạy chung trường với Giáo Sư Dương Kỵ. Cuối cùng, Giáo Sư Dương Kỵ bị ngưng chức, bị tống xuất khỏi Huế cùng với một số nhân sĩ trong Phong Trào Hòa Bình. Sau đó mấy năm, bị trục xuất khỏi miền Nam.

    Như vậy, rõ ràng là việc giải thích Truyện Kiều về nội dung bao giờ cũng dễ gây ra một phản ứng nào đó về phía những người có quan điểm đối lập. Cường độ của phản ứng tăng trưởng theo mức độ đối lập của tư tưởng. Một khi tư tưởng xuất phát từ một hệ ý thức chính trị, phản ứng bùng nổ như tên đạn ở chiến trường. Lúc ấy, phê bình văn học trở thành huyết chiến.


    _____ oOo _____​
    Trang IX


    Năm 1956, Linh Mục Nguyễn Văn Thích vào Sài Gòn đích thân gặp Tổng Thống Ngô Đình Diệm yêu cầu loại bỏ Truyện Kiều ra khỏi chương trình Tú Tài I. Lệnh truyền xuống tổng trưởng Văn Hóa Giáo Dục với câu hỏi tại sao lại lấy chuyện một con đỉ ra mà dạy cho học trò. Các giáo sư Quốc Văn phải trả lời câu hỏi đó. Riêng ở Trường Khải Định, tôi được lệnh hội họp với các giáo sư Việt Văn để làm báo cáo lên Bộ về vấn để nầy. Tôi nhớ có các Giáo Sư Phạm Ngọc Hương, Phan Văn Dật, Bửu Kế, Nguyễn Sỉ Hản, Văn Đình Hy, Trần Đình Bá v.v… và Linh Mục Nguyễn Văn Thích. Sau khi tôi tuyên bố lý do buổi họp, các giáo sư quyết định từ chức hàng loạt nếu Truyện Kiều bị loại bỏ. Rồi các giáo sư lần lượt ra về. Chờ cho các giáo sư đi khỏi, Linh Mục Nguyễn Văn Thích chỉ mặt tôi: “Anh là người phản đạo”. Tôi cười và hỏi lại: “Đạo gì vậy, thưa cha?” Câu hỏi ấy và câu trả lời của tôi vẫn còn hằn sâu trong óc tôi cho đến ngày nay.

    Nếu đạo ấy là Tống Nho, người phản đạo là Nguyễn Du chứ không phải là tôi. Còn cái đạo mà tôi dùng để hỏi lại Linh Mục Thích, tôi cho đó là cái đạo làm người mà Nguyễn Du chủ trương. Mà đạo làm người là gì nếu không phải là nổ lực bảo vệ nhân quyền? Là gắng sức sống trong sạch và quyết liệt chống lại những chế độ, những chính sách, những con người đã phá hoại đời sống trong sạch của mình, dùng sức mạnh của tội ác để tước bỏ những nhân quyền mà chính mình được hưởng?

    Vẩn chưa hết những cái rắc rối về Truyện Kiều. Năm 1963, Đức Tổng Giám Mục Ngô Đình Thục đến nói chuyện với các giáo sư và sinh viên Viên Đại Học Huế. Câu chuyện về học hành lại lan man đến Truyện Kiều. Không hiểu tại sao vừa nói đến Truyện Kiều, Đức Cha thóa mạ Thúy Kiều dữ dội. Những từ ngữ xấu xa như: “Con đỉ Kiều” đến đứa con gái “dâm đảng, bệnh hoạn” v.v… không ngớt được phát ra một cách hung hãn trái ngược hẳn với nét mặt hiền lành


    _____ oOo _____​
    Trang X


    và tác phong nghiêm nghị mà Đức Cha vẫn có. Ở hàng ghế giáo sư, các anh Lê Tuyên, Nguyễn Hữu Trí, Tôn Thất Hạnh v.v… yêu cầu tôi lên tiếng vì lúc ấy, trong Trường Đại Học Sư Phạm Huế, tôi là trưởng phòng Nghiên Cứu Việt Văn và chữ Nôm. Chẳng đặng đừng, tôi men ra đến hàng ghế ngoài cửa, rồi định tiến lên máy phóng thanh. Một ông công an chỉ vào khẩu súng đeo ở hông yêu cầu tôi về chỗ ngồi. Tôi phải về chỗ, nhưng những từ ngữ ghê gớm kia cứ xoay vào óc tôi cho đến bây giờ vẫn chưa hết. Đức giám mục về sau sang Mỹ, chống lại Giáo Hội và bị dứt phép thông công. Trước khi qua đời, ngài đã được hòa giải với Giáo Hội. Nghĩa là ngài đã được Giáo Hội tha thứ. Tôi không biết lúc được Giáo Hội rộng lòng tha thứ cho ngài mọi tội khiên, ngài có nghĩ đến “con đĩ Kiều” đã bị nhiều oan khiên không? Không biết trước khi về với Chúa, ngài có rộng lòng tha thứ cho nó không?

    Đây là chuyện cuối cùng liên quan đến Truyện Kiều. Đại Học Sư Phạm Sài Gòn, tháng Sáu, 1975 tôi bị chuyển về Trường Đại Học Vạn Hạnh. Tôi bị kẹt lại nên phải đến trình diện và phụ trách dời thư viện của trường về trường mới. Một nữ sinh mời tôi ra một góc sân và nói nhỏ với tôi: Mai con vào Tòa Đại Sứ Pháp. Tôi hỏi: Chị được chính phủ Pháp cho đi à? Cô cười như mếu: Vâng, nhưng phải bán trinh cho một thằng làm ở đó. Tôi tỏ vẻ không hiểu. Cô nhắc tới: Thầy quên câu nói của Kim Trọng khi gặp lại Kiều hay sao? Rồi cô đọc: Như nàng lấy hiếu làm trinh. Bụi nào cho đục được mình ấy vay. Kiều lấy hiếu làm trinh. Con lấy tự do làm trinh, có được không thưa thầy?



    _____ oOo _____​
    Trang XI


    Tôi tắc họng, nhưng cũng chính nhờ câu nói đó mà tôi hiểu rõ hơn tầm quan trọng của hai chữ “tự do”. Bây giờ, chúng ta được may mắn sống hạnh phúc trong bầu không khí tự do của các quốc gia dân chủ. Ta có yêu tự do hơn cô nữ sinh viên xấu số kia không? Ta có hiểu hết nội dung ý nghĩa của hai chữ “tự do” hay không? Một khi tự do của ta bị xâm phạm, ta có can đảm tranh đấu như Thúy Kiều để bảo vệ tự do của ta và chống lại những người phá hoại tự do của ta không?

    Trong lần tái bản nầy, chúng tôi xin phép được cảm ơn các hội đoàn và các bằng hữu đã giúp chúng tôi ra mắt sách Truyện Kiều và Tuổi Trẻ. Đầu tiên, chúng tôi xin cám ơn cộng đồng người Việt Vùng Montréal, dưới quyền lãnh đạo của Giáo Sư Bác Sĩ Nguyễn Long Tuyền đã phối hợp với Hội Y Sĩ; Chủ Tịch Bác Sĩ Nguyễn Thanh Bình; Hội Khuyến Học và Phát Huy Văn Hóa Việt Nam; Chủ Tịch Bác Sĩ Đặng Phú Ân tổ chức cho chúng tôi một buổi ra mắt sách đồ sộ. Dưới quyền điều động của Thi Sĩ Nguyễn Bá Dĩnh, và với sự hiện diện của đông đảo thanh niên và các bác sĩ tên tuổi như các Bác Sĩ Từ Uyên, Thân Trọng An, Phạm Hữu Trác; các Giáo Sư Võ Thi, Thái Công Tụng, Hồ Mạnh Trinh; các Cụ Ngô Văn Chụ, chùa Quan Âm, Cụ Mai Xuân Lâm; cộng đồng Công Giáo Montreal. Buổi ra mắt sách đã trở thành một hội luận về Nguyễn Du và Truyện Kiều. Bác Sĩ Nguyễn Thanh Bình đã nhận xét rất kỹ về các chi tiết của tác phẩm liên quan đến Hán học và sở trường của ông. Bác Sĩ Đặng Phú Ân đã ân cần nhắc nhở đến sự nghiệp nghiên cứu chữ Nôm của Lê Hữu Mục và đào sâu những vấn đề liên hệ đến Truyện Kiều.


    _____ oOo _____​
    Trang XII



    Bác Sĩ Nguyễn Lương Tuyền giới thiệu Bản Nghiên Cứu Truyện Kiều do Giáo Sư Đặng Vũ Nhuế viết bản Anh Văn theo bản Pháp Văn của Dược Sĩ Đặng Quốc Cơ. Giáo Sư Tiến Sĩ Hồ Mạnh Trình tiến hành về phần nghiên cứu Truyện Kiều của Dược Sĩ Đặng Quốc Cơ được viết bằng Pháp văn với một phong cách rất trong sáng. Số sách mang đến trưng bày trong những phòng họp đã được bán hết.

    Buổi ra mắt sách thứ hai được tổ chức tại Oklahoma City do Hội Văn Hóa Việt Mỹ tổ chức, phối hợp với Thanh Khí Hoa Tiên Thi Hội và các nghệ sĩ địa phương. Trong đó có Nữ Nghệ Sĩ Kim Dung với tiếng hát tiên nga cao vút và thần đồng Thùy Trang trong những màn vũ dân tộc độc đáo. Ông Nguyễn Văn Cường, chủ tịch VAALA, Thi Sĩ Hoài Việt. Nhà Hán Học Phạm Thế Phiệt đã lần lượt lên sân khấu nói về các thế thơ dân tộc, công trình thi ca Hán Văn của Nguyễn Du và cuốn Truyện Kiều danh tiếng của ông. Đêm văn nghệ bắt đầu từ 19 giờ, và dự định chấm dứt vào lúc 23 giờ.Tuy nhiên, nó được kéo dài đến 5 giờ sáng tại nhà một độc giả Truyện Kiều và Tuổi Trẻ. Thật là buổi ra mắt độc đáo được tổ chức trong tình nghĩa văn nghệ thắm thiết khó quên.

    Ngay sau đó, tôi lên máy bay đến Cali để dự Lễ Ra Mắt Sách Truyện Kiều và Tuổi Trẻ được tổ chức đồng thời với phần biểu diễn Nhạc Họa Truyện Kiều của Nhạc Sĩ Phạm Duy. Hội trường mới xây cất của đôi vợ chồng thi sĩ nổi tiếng Trần Dạ Từ và Nhã Ca rộng lớn là thế mà chẳng mấy chốc đã đông nghẹt. Theo lời mời của Bác Sĩ Chủ Tịch Hội Nhớ Huế Võ Văn Tùng và của một nhóm cựu học sinh Quốc Học và Đại Học Sư Phạm Huế như Bác Sĩ Hà Thúc Như Hỷ,


    _____ oOo _____​
    Trang XIII


    và Nhà Văn Nguyễn Mộng Giác, các nghệ sĩ, giáo sư Việt Văn, các nhà văn, nhà thơ hưởng ứng rất đông. Tỉ dụ: Nữ Nghệ Sĩ Kiều Chinh, Nhạc Sĩ Nguyễn Hiền, Ca Sĩ Kim Tước và Bích Ngọc, Nhà Văn Võ Phiến, Duy Lam, Nhà Thơ Trần Hồng Châu, Cao Tiêu, Nhà Giáo Hà Như Chi, Phan Ngô, Nguyễn Văn Mỹ, Lê Văn, Đoàn Khánh. Mở đầu chương trình, Ca Sĩ Kim Tước hát bài Hẹn Một Ngày Về để giới thiệu Lê Hữu Mục. Ca Sĩ Bích Ngọc hát bài Tình Ca để giới thiệu Phạm Duy. Phần tiểu sử của Lê Hữu Mục được Kỹ Sư Nguyễn Đình Cường trình bày với những chi tiết chưa bao giờ được công bố. Phần tiểu sử của Phạm Duy do Nữ Nghệ Sĩ Kiều Chinh giới thiệu. Kiều Chinh phân tích tài năng âm nhạc độc đáo của một nhạc sĩ lão thành. Sau cùng là bài nói chuyện của tác giả Truyện Kiều và Tuổi Trẻ và bài trình diễn Nhạc Họa Truyện Kiều. Nhiệt tình của ban tổ chức và ban thực hiện đã biến buổi ra mắt sách và trình diễn nhạc họa thành một buổi chiều văn nghệ rất hấp dẫn. Riêng về số sách mang tới hậu trường để bán đã được các khán giả và bằng hữu chiếu cố tận tình.

    Cuối cùng, tôi xin nói tới buổi ra mắt sách tại Louisiana do Hội Sinh Hoạt Văn Hóa Louisiana tổ chức và do Nhà Văn Hoàng Hạc Vũ Như Sơn, tức Giáo Sư Võ Tòng Chính đứng mời. Nhờ khả năng điều động của Nhà Văn Hoàng Hạc và các bạn, nhờ tiếng hát quyến rũ của hai chị em Cô Tạ Kim Oanh, nhờ tài hùng biện của Linh Mục Nhà Văn Trần Cao Tường và Nhà Báo Nguyễn Trọng ở Oklahoma sang, số sách mang đến chẳng những đã bán hết mà mấy cuốn còn lại đã được bán theo lối đấu giá.


    _____ oOo _____​
    Trang XIV


    Tưởng cũng nên nói thêm rằng chính nhờ tài năng phỏng vấn của ký giả lão thành Nguyễn Trọng mà không khí hội trường sôi nổi. Ông đã phỏng vấn Cô Quỳnh Như, sinh viên tiến sĩ báo chí học tại Đại Học Chicago. Cô Quỳnh Như ít nói được tiếng Việt nên buổi phỏng vấn diễn ra bằng tiếng Mỹ, xoay quanh Truyện Kiều mà Quỳnh Như chưa đọc nhưng được ký giả hướng dẫn thế nào mà cô phải tìm mua cuốn Truyện Kiều và Tuổi Trẻ. Phần tiếng Anh trong cuốn sách do Kỹ Sư Đặng Vũ Nhuế viết đã làm cho cô rất thích thú.

    Cuộc tranh luận về Truyện Kiều chưa chấm dứt và sẽ không bao giờ chấm dứt được nếu không phải vào năm 2105 là năm thứ 300 mà Tố Như đã tiên đoán. Vào thời gian xa xôi ấy, mọi hệ ý thức sẽ tiêu vong. Người Việt Nam sống tự do trên đất nước thân yêu của mình, trong một quốc gia mà ta hy vọng là sẽ dân chủ và phú cường vào bậc nhất Đông Nam Á Châu. Vào thời điểm đó, ta mới có điều kiện đi sâu vào thông điệp của Nguyễn Du gởi gắm trong Truyện Kiều. Ta sẽ không chê Thúy Kiều là một con điếm nữa. Ta sẽ thấy nàng là nạn nhân của một xã hội đã phá sản, của một hệ ý thức đã lỗi thời, và nàng là cô gái can đảm suốt đời đã tranh đấu chống lại tội ác để được sống một cuộc đời trong sạch. Muốn trình bày một nhân vật anh hùng như vậy, để bảo vệ giá trị làm người của mình, Nguyễn Du đã phải trả một giá rất đắt. Ông đã phải nghiến răng bẻ gảy cái hệ ý thức đã làm vẻ vang cho dòng họ ông, gia đình ông, và cha mẹ anh em ông. Ông đã phải xét lại giá trị của nền văn hóa đương thời.


    _____ oOo _____​
    Trang XV


    Ông bắt đầu tin vào sức mạnh của nền văn hóa dân gian: Ông thấy một cách cụ thể rằng nền văn hóa bác học, trong đó ông đã sống, không thể đứng vững một mình như vào đời Lý, đời Trần, hay đời Lê Sơ. Nó đã suy thoái và muốn tồn tại. Nó phải được phối hợp với nền văn hóa nhân gian đặc biệt là nền văn học Nôm Na đang phát triển và đang đẻ ra những giá trị mới, khỏe mạnh, và bền vững. Thúy Kiều, đứa con tinh thần của ông, sẽ là tác nhân và chứng nhân của nền văn hóa mới đó.

    Hiện nay, thế giới đang chú trọng về nhân quyền. Nhiều người, trong đó có một số người Việt Nam, lầm tưởng rằng nền pháp chế về nhân quyền chỉ được xác lập trên những truyền thống Âu Mỹ. Các Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy, Tạ Văn Tài, Trần Văn Liêu, và sau đây những chuyên viên về pháp học như Robert Poster, người Mỹ, Tiến Sĩ Hoàng Xuân Hào, hoặc về chính trị như Bác Sĩ Nguyễn Ngọc Quỳ, đã chứng minh với thế giới rằng từ năm 1483, Việt Nam đã phát huy một quan niệm rõ ràng về nhân quyền và đã đứng trên quan niệm ấy để soạn thảo Quốc Triều Hình Luật, gọi tắt là Luật Hồng Đức. Các nhà văn hóa Việt Nam, đặc biệt là các nhà văn vô danh thế kỷ XVII, đã nổi dậy chống lại bản tuyên ngôn văn hóa của chính quyền nhà Lê ban bố năm 1663 dưới quyền điều động của Chúa Trịnh Tạc và thường được gọi là Lê Triều Tứ Thập Nhất Điều Lệ. Phong trào văn học mới quyết liệt chống trả văn học Nho Điển chủ trương sáng tác bằng Hán Văn. Ngôn ngữ văn chương mới được gọi là Nôm Na càng ngày càng được các nhà văn và độc giả hưởng ứng. Cuối thế kỷ XVIII,


    _____ oOo _____​
    Trang XVI


    Hồ Xuân Hương và Nguyễn Du tham gia phong trào và đã đưa phong trào được những thành tựu to lớn. Người Việt chúng ta sống ở hải ngoại trong sự bảo vệ của một nền pháp lý dân chủ, tôn trọng nhân quyền, không nên quên rằng tổ tiên đã tranh đấu trong những hoàn cảnh khó khăn để phát hiện và bảo vệ những nhân quyền. Bất kỳ từ góc độ ý thức nào, ta đừng bao giờ quên công trình của Nguyễn Du trong nổ lực bảo vệ nhân quyền của người phụ nữ nói riêng, và của con người nói chung. Cũng không nên quên rằng sợi chỉ đỏ xuyên qua lịch sử văn hóa Việt Nam không phải là “chủ nghĩa yêu nước”. Sợi chỉ đỏ ấy là nổ lực bảo vệ nhân quyền.


    Thay mặt các bạn
    Phạm Thị Nhung, Đặng Quốc Cơ, và Lê Hữu Mục

    (Còn Tiếp)
     
  4. PH44

    PH44 Người thân Tình Nguyện Viên

  5. PH44

    PH44 Người thân Tình Nguyện Viên

    Trang 3 – 6
    MỤC LỤC:

    Lời Nói Đầu ................................................................................................................................… 9
    Ký Hiệu viết tắt ............................................................................................................................. 13

    Phần I: Dẫn vào thế giới Nguyễn Du

    Bối cảnh lịch sử Truyện Kiều, Lê Hữu Mục .................................................................................. 17
    Niên biểu Nguyễn Du, Lê Hữu Mục .........................................................................…............... 24
    Tác phẩm Nguyễn Du, Lê Hữu Mục ......................................................................….................. 28
    Nguồn gốc Truyện Kiều, Lê Hữu Mục ........................................................................................ 34
    Bố Cục Truyện Kiều, Phạm Thị Nhung ............................................................................…........ 40
    Ba mối tình của nàng Kiều, Phạm Thị Nhung ................................................................…..…..... 43
    Tham Luận của Lê Hữu Mục & Đặng Quốc Cơ ........................................................................... 65
    Giải Thuyết Nôm Học một số chữ Nôm trong Truyện Kiều, Lê Hữu Mục .............................. 72
    Thể lục bát trong Truyện Kiều, Lê Hữu Mục .................................................................…........ 104
    Tổng Luận về Truyện Kiều, Lê Hữu Mục .................................................................................. 110

    Phần II: Tìm hiểu những đoạn văn hay trong Truyện Kiều

    Sắc đẹp của hai chị em Kiều, Lê Hữu Mục ................................................................................. 132
    Kim Kiều hạnh ngộ, Phạm Thị Nhung .....................................................................…............... 143
    Kim Kiều thề ước, Phạm Thị Nhung ........................................................................................... 151
    Buổi trình tấu âm nhạc đầu tiên của Thúy Kiều, Lê Hữu Mục .................................................. 162
    Cậy Em, Lê Hữu Mục ................................................................................................................. 177
    Kiều ở Lầu Ngưng Bích, Phạm Thị Nhung ..................................................................…........... 184
    Đòn ghen Họ Hoạn, Phạm Thị Nhung .........................................................................…........... 195
    Kiều gặp Từ Hải .........................................................................................................…............. 206
    Kiều khuyên Từ Hải ra hàng, Phạm Thị Nhung ......................................................…............... 218
    Tiếng đàn của Kim Trọng, Lê Hữu Mục ...................................................................…............... 230
    Tiếng đàn tái ngộ, Lê Hữu Mục .............................................................................…................. 233
    Cuộc nói chuyện giữa Thúy Kiều và Kim Trọng về Tình Yêu và hôn nhân, Lê Hữu Mục ........ 237

    Phần III: Truyện Kiều khảo chú

    Đặng Quốc Cơ và Bà Hồ Văn Liên chú giải, Lê Hữu Mục khảo chính ...................................... 253

    Phần IV: L' histoire de Kiều et la jeunesse

    Essai de Đặng Quốc Cơ...................................................................................................…........ 521

    Phần V: The Tale of Kiều and the Young

    Essay by Đặng Vũ Nhuế ...................................................................................................…....... 591

    Phần VI: Phụ Lục

    Thư tịch sơ lược, Phạm Thị Nhung ......................................................................…................... 641
    Tranh: Sưu tập của Đặng Quốc Cơ ................................................................….......................... 644
    Lược sử các tác giả ....................................................................................…............................... 681
    Bạt, Lê Hữu Mục ...........................................................................................….….................… 684

    (Còn tiếp)​
     
    Điều chỉnh lại bài đăng lúc: 14 tháng Năm 2015
  6. PH44

    PH44 Người thân Tình Nguyện Viên

    Trang 7 -8

    Cần Hình
     
  7. PH44

    PH44 Người thân Tình Nguyện Viên

    Trang 9

    Lời Nói Đầu


    Mỗi lần nghe thấy một thanh niên hay thiếu nữ Việt Nam bập bẹ một câu tiếng Việt, những người Việt Nam ở hải ngoại thường lo âu: Làm sao cho con cái của chúng ta vừa giật được những mảnh bằng chuyên môn của các nước trên thế giới, vừa hiểu và yêu văn hóa nước nhà? Làm sao cho con em chúng ta vừa nói thông thạo các tiếng trên thế giới, vừa nói giỏi tiếng Việt và không bao giờ coi thường tiếng mẹ đẻ?

    Chúng tôi gặp nhau thường hỏi nhau như thế khi gặp mặt ở Paris. Lúc thì hội họp tại nhà Anh Chị Đặng Quốc Cơ; lúc thì tại nhà Anh Chị Nguyễn Đại Dzương và Phạm Thị Nhung; lúc thì kéo nhau đến nhà Anh Đặng Vũ Nhuế. Khi thưởng thức món cá bỏ lò tuyệt vời của anh, chúng tôi mới giác ngộ rằng, muốn cho văn hóa Việt Nam được giới trẻ ở hải ngoại ưa thích, phải phổ biến nó theo cung cách hấp cá của Anh Đặng Vũ Nhuế, nghĩa là không cần biết con cá ấy là con cá gì, chỉ cần làm sao cho nó thành một món cá Việt Nam, ăn với rau ngò, rau húng, và chấm nước mắm có giằm ớt.

    Chúng tôi đã làm như vậy, và chúng tôi đồng ý chọn Truyện Kiều để làm một bước thí nghiệm đầu tiên. Chúng tôi đã chọn nhan đề cho tác phẩm là Truyện Kiều và Tuổi Trẻ Hải Ngoại; sau đó, vì chữ hải ngoại bị chê là dài dòng quá, chúng tôi thu ngắn nhan đề thành Truyện Kiều và Tuổi Trẻ. Qua nhan đề này, chúng tôi muốn giúp cho các bạn thanh niên hiểu rõ Truyện Kiều, đi sâu vào bản thông điệp của Nguyễn Du gửi cho thanh thiếu niên, yêu cầu họ tin tưởng vào tuổi trẻ của mình, sống thành thật với bản thân một cách tự do, và biết đấu tranh quyết liệt với mọi trở ngại, đầu tiên là với chính mình, để có thể sống một cách trong sạch. Muốn như vậy, các bạn trẻ phải hết sức can đảm, phải khai triển hết sức mạnh của ý chí, đồng thời phải tin vào thế giới bên kia, vào một lực lượng siêu nhiên nhất định, tỉ dụ, người đi đạo Phật phải tin tưởng vào Phật, người đi đạo Chúa phải trông cậy vào tình yêu của Chúa, người theo đạo Khổng phải sống theo đạo đức của Khổng Tử, v.v. Con người phải sống tự do, nhưng trong một quan niệm tự do có kỉ luật, có trách nhiệm, có tổ chức, đồng thời phải có ý thức hợp quần, sống chung với nhau trong hòa bình và tình nhân loại chân thật.


    _____ oOo _____​
    Trang 10


    Triết lý của Nguyễn Du rất đơn giản: Ông kêu gọi mọi người đối xử với nhau với một chút thiện tâm, với một chút lòng vừa đủ để cho tình yêu thương nhen nhúm. Chủ trương tôn giáo của ông chú trọng về sự hòa đồng. Nếu thế kỷ XXI là thế kỷ của tôn giáo thì công phu hòa giải của Nguyễn Du rất ích lợi để xây dựng một nền hòa bình vững chắc.

    Lời nói cuối cùng của Nguyễn Du là ông cầu chúc cho mọi người được trở về làng cũ, về ngôi nhà của mình ngày xưa, để sống trong sự chở che đùm bọc của làng xóm láng giềng. Tiếng nói của Nguyễn Du là tiếng nói của Holdrelin, của Whitman, của những thi sĩ lỗi lạc nhất thế giới. Cho đến nay, cuốn Truyện Kiều không phải chỉ là cuốn sách bói cho những người mê tín. Nó đã trở thành một cuốn Kinh Thi và đang được cả thế giới tôn trọng như một cuốn Thánh Kinh mới.

    Để hoàn thành tác phẩm này, chúng tôi đã đọc tất cả các sách nghiên cứu về Truyện Kiều (với tên cũ là Đoạn Trường Tân Thanh, Truyện Kim Vân Kiều, Truyện Thúy Kiều), đã kiểm soát, điều chỉnh, và thống nhất các cách phiên âm, căn cứ trên những bản Nôm mà chúng tôi có trong tay. Chúng tôi cũng may mắn được đọc nhiều tác phẩm có giá trị về nghiên cứu Truyện Kiều mới được xuất bản, tỉ dụ Triết Lý Nhân Bản Nguyễn Du của Tiến Sĩ Vũ Đình Trác (Tokyo 1984, Hoa Kỳ 1990), Nguyễn Du, Đại Thi Hào Dân Tộc của Triết Gia Phạm Công Thiện (USA,1996). Chữ Mệnh Trong Truyện Kiều của Tiến Sĩ Trần Văn Đoàn (Vietnamologica, Montréal, 1997). Tìm Hiểu Phong Cách Nguyễn Du Trong Truyện Kiều của Học Giả Phan Ngọc (Hà Nội, 1985). Nhờ những công trình nghiên cứu có tầm vóc quốc tế nói trên, chúng tôi phát hiện được những nét hiện đại trong tư tưởng cũng như trong kỹ thuật hành văn của Nguyễn Du. Qua đó, chúng tôi dám khẳng định việc giải quyết một vấn đề mà thế giới ngày nay đang quan tâm.

    Về phía ngoại ngữ, chúng tôi chú trọng đến 4 tác giả và dịch giả. Đầu tiên là Tiến Sĩ Thái Văn Kiểm, tác giả cuốn Etude litte'raire, philosophique et scientifique du Kim Vân Kiều, Sài Gòn, France Vietnam, 1954; nhà Việt Nam Học Pháp Maurice Durand, tổng tài cuốn Mélanges sur Nguyễn Du, EFEO, Paris, 1966; Học Giả Huỳnh Sanh Thông, tác giả bản dịch Truyện Kiều ra Anh văn The Tale of Kiều, Yale University,1984; cuối cùng, Học Giả Xuân Phúc, tức Paul Schneider, tác giả cuốn Kim Vân Kiều, roman-poème, Thanh Long, 1986. Hai Học Giả Huỳnh Sanh Thông và Xuân Phúc đã cho phép chúng tôi toàn quyền sử dụng các bản dịch của quý ông, với những sửa chữa được điều chỉnh cho phù hợp với bản văn của chúng tôi, được phiên âm theo thứ tự trong các bản Nôm hiện hành và sự gợi ý của nhiều học giả khác, đặc biệt là sự gợi ý của nhà Nôm học Nguyễn Quảng Tuân.


    _____ oOo _____​
    Trang 11


    Để soạn thảo cuốn Truyện Kiều và Tuổi Trẻ, chúng tôi đã phân công như sau:

    Phần dẫn nhập gồm hai phần nhỏ. Phần 1 được viết bằng tiếng Việt do Ông Lê Hữu Mục và Bà Phạm Thị Nhung chấm bút. Phần 2 do Ông Đặng Quốc Cơ phụ trách viết bằng tiếng Pháp; bản này được Ông Đặng Vũ Nhuế phiên dịch ra tiếng Anh.

    Phần giảng văn do Bà Phạm Thị Nhung và Ông Lê Hữu Mục đồng đảm nhiệm.

    Phần văn bản do Ông Đặng Quốc Cơ khảo đính và chú thích; ông Lê Hữu Mục hiệu đính phần phiên âm chữ nôm và phần khảo chú. Phần phụ lục chú trọng vào việc trích thêm một số câu thơ trẻ trong Truyện Kiều do Ông Đặng Quốc Cơ thực hiện và đặt tiêu đề cho những đoạn văn trích. Phần tranh ảnh ngoài bìa và trong sách do Ông Đặng Quốc Cơ phụ trách, với sự giúp đỡ tận tình của Ông Thanh Tuệ và Ông Nguyễn Thiện Ngọc đã thực hiện hình bìa và hình trong sách.

    Để hoàn thành tác phẩm này, chúng tôi đã được sự hỗ trợ tích cực của quý ông bà sau đây:

    Kỹ Sư Đặng Vũ Nhuế, Họa Sĩ Tú Duyên, Học Giả Paul Schneider Xuân Phúc, Học Giả Huỳnh Sanh Thông, Bà Dược Sĩ Đặng Quốc Cơ, Giáo Sư Nguyễn Thế Anh, Giáo Sư Đặng Vũ Biền, Giáo Sư Nguyễn Đại Dzương, Bà Hồ Văn Liên, Nhạc Trưởng Lê Như Khôi, Tiến Sĩ Thái Văn Kiểm, Giáo Sư Võ Thu Tịnh, Giáo Sư Nguyễn Thị Hoàng, Tiến Sĩ Âm Nhạc Học Trần Quang Hải, Ông Phan Đình Thìn (ThinArt), Bà Quả Phụ Xuân Phúc, Ông Bà Hà Ngọc Tuấn và Bác Sĩ Nguyễn Minh Tân.

    Chúng tôi xin cám ơn Cô Ngọc Lan, Bà Trương Tuệ và Ông Từ Ngọc Lê, Ông Lê Văn Tứ đã vui lòng giúp đỡ chúng tôi về phần đánh máy.

    Cuối cùng, chúng tôi thành kính thắp nén hương lòng tưởng niệm hương hồn Tiến Sĩ Nguyễn Xuân Việt, một học giả uyên bác đã góp nhiều phần quan trọng vào công cuộc nghiên cứu Truyện Kiều và đã cung cấp cho chúng tôi nhiều tư liệu quý giá chưa xuất bản về Truyện Kiều cũng như về văn học Việt Nam. Đồng thời, chúng tôi xin nghiêng mình trước linh cữu Học Giả Paul Schneider Xuân Phúc vừa mãn phần tại Nice. Học Giả P. Scheider, một nhà nôm học có uy tín, đã để lại cho đời nhiều tác phẩm nghiên cứu về chữ Nôm và văn học Việt nam có giá trị khoa học. Riêng cuốn Nghiên Cứu Truyện Kiều của ông là một cống hiến quan trọng cho khoa văn bản học Việt Nam đang được xây dựng.

    Và bây giờ, xin kính mời quý vị độc giả và các bạn trẻ cùng chúng tôi đi vào thế giới của Truyện Kiều. Tác phẩm của chúng tôi chưa gọi được là một cảo thơm cho nên còn tồn tại nhiều khuyết điểm. Chúng tôi mong sẽ được sự góp ý của quý vị và các bạn trẻ để bổ khuyết. Xin thành thực cám ơn quý vị và các bạn trẻ.

    Paris, ngày 23 tháng 8 năm 1998
    Các tác giả,
    LÊ HỮU MỤC, PHẠM THỊ NHUNG, ĐẶNG QUỐC CƠ



    _____ oOo _____​
    Trang 12


    Chú thích:

    Thánh Kinh (Bible). Định nghĩa:

    1/ Bible: Sách gối đầu giường, livre de chevet (Larousse Dictionnaire Encyclopédique 1985, tome I p.361).
    Các học giả: Phạm Quỳnh, Hélen West,.. coi Truyện Kiều là Thánh Kinh.

    2/ Sách tham chiếu, livre de référence que tous consultent.
    Ex. Ce livre de timbres est la Bible des collectionneurs. Sách sưu tầm về tem này là Thánh Kinh của nhà sưu tập tem. (Hachette)

    3/ Kinh đạo Gia Tô, Hồi Giáo, Nho Giáo... Kinh Dịch, Kinh Thi.
    (Việt Nam Từ Điển Lê Văn Đức, tr.1515)

    Ngẫm mình võ vẽ bút nghiên/ Biết đâu Kinh Thánh, Truyện hiền là đâu? (Hoa Tiên c.404).


    (Còn Tiếp)
     
  8. PH44

    PH44 Người thân Tình Nguyện Viên

    Trang 13

    Ký hiệu viết tắt


    I. Liên quan đến Truyện Kiều.

    1. Các bản Nôm

    LVĐ (Liễu Văn Đường), QVĐ (Quan Văn Đường), ADM (Abel des Michels), KOM (Kiều Oánh Mậu), CMT (Chu Mạnh Trinh), CVT (Chiêm Văn Thị), DMT (Duy Minh Thị).

    2. Các bản quốc ngữ.

    TVK (Trương Vĩnh Ký), ADM (Abel des Michels), NVV (Nguyễn Văn Vĩnh), PKC (Phạm Kim Chi), BK TTK (Bùi Kỷ Trần Trọng Kim), TĐ (Tản Đà), LVH (Lê Văn Hòe), NVH (Nguyễn Văn Hoàn), HĐH (Hồ Đắc Hàm), ĐDA-PN (Đào Duy Anh - Phạm Ngọc), NTG (Nguyễn Thạch Giang), EN (E. Nordemann)

    3. Các nhà nghiên cứu Truyện Kiều

    ĐDA (Đào Duy Anh), NBK (Nguyễn Bách Khoa), HNC (Hà Như Chi), LHM (Lê Hữu Mục), VT (Việt Tử), NST (Nguyễn Sỹ Tế), PTN (Phạm Thế Ngũ), MD (Maurice Durand), VH (Vũ Hạnh), LĐK (Lê Đình Kỵ), VĐK (Vũ Đình Trác), PN (Phạm Ngọc), XP (Xuân Phúc Paul Schneider), PĐQ (Phạm Đan Quế), BVN (Bùi Văn Nguyên), NQT (Nguyễn Quảng Tuân), PCT (Phạm Công Thiện), TVĐ (Trần Văn Đoàn), PTN (Phạm Thị Nhung), ĐQC (Đặng Quốc Cơ), HXH (Hoàng Xuân Hãn), ĐGK (Đinh Gia Khánh), NĐT (Nguyễn Đăng Trúc), NPC ( Nguyễn Gia Khánh), NĐT (Nguyễn Đăng Trúc), NPC (Nguyễn Phan Cảnh).

    4. Các dịch giả Truyện Kiều.

    RC ( René Crayssac), NVV (Nguyễn Văn Vĩnh), XPXV (Xuân Phúc Xuân Việt), HST (Huỳnh Sanh Thông), LCP (Lê Cao Phan).

    5. Bản Hán Văn.

    KVKT (Kim Vân Kiều Truyện), TTTT (Thanh Tâm Tài Tử).

    II. Liên Quan Đến Vấn Đề Chú Giải.

    ADR (Alexandre de Rhodes), T (Taber), G (Génibrel), HTC (Huỳnh Tịnh Của), TĐTK (Từ Điển Truyện Kiều), TĐTV (Từ Điển Tiếng Việt).


    _____ oOo _____​
    Trang 14

    III. Các Ký Hiệu Văn Bản Học.

    c: Câu
    cc: Các câu
    x: Xem
    sđd: Sách đã dẫn
    rải rác: Passim (lấy chỗ này một ít, chỗ kia một ít)
    ~: Tương đương
    >: Biến thành
    #: Khác nhau.

    (Còn Tiếp)
     
    ngd_a likes this.
  9. PH44

    PH44 Người thân Tình Nguyện Viên

    Trang 15 - 16


    PHẦN I

    Nguyễn Du Và Truyện Kiều
     
  10. PH44

    PH44 Người thân Tình Nguyện Viên

    Trang 17

    Bối Cảnh Lịch Sử Truyện Kiều
    Lê Hữu Mục


    Truyện Kiều được Nguyễn Du thai nghén vào những năm 1797 sau khi bị tướng Tây Sơn bắt giam 3 tháng rồi tha về vì liên tài. Về Tiên Điền sau đó, giữa cảnh non sông hùng vĩ của đất Hồng Lam, những biến động về chính trị đã làm cho tâm hồn ông nao nao xúc động. Chắc là nhà thơ của chúng ta đã nhiều lần tự hỏi mình: Tại sao ta lại muốn vào Nam để giúp Nguyễn Ánh? Tại sao ta lại bỏ nhà Lê? Tại sao ta chống nhà Tây Sơn mà tướng Tây Sơn lại cứu ta? Ông nhìn về tương lai mịt mù dặm cát đồi cây. Ông chỉ là một cánh « hoa trôi man mác biết là về đâu? » Xã hội của ông, xã hội thời Lê mạt, chìm đắm trong bầu không khí u trầm ngột ngạt. Đó là bối cảnh lịch sử của Truyện Kiều. Ta thử đi vào chi tiết.

    1- Tình Hình Chính Trị.

    Từ đầu thế kỷ XVI, nhất là vào những năm 1509-1527, đất nước của chúng ta cực kì hỗn loạn. Năm 1527, nhà Mạc nghênh ngang vào chiếm Thăng Long, lạnh lùng làm sự thoán đoạt (usurpation), gây ra cảnh Bắc Mạc, Nam Lê. Nhờ sự phù tá đắc lực của Trịnh Tùng, nhà Lê khôi phục Thăng Long năm 1592, đẩy lui quân nhà Mạc về miền rừng núi, nhưng từ năm 1599 trở đi, khi các tướng Trịnh được mang tước vương, nhà Lê bắt đầu suy yếu, để mặc cho vận nước bị thao túng trong tay các chúa Trịnh. Cảnh Bắc Trịnh, Nam Nguyễn diễn ra tàn khốc; cạnh tranh kịch liệt, thù hận ngất trời, nhất là khi năm 1558 Nguyễn Hoàng vào trấn đất Thuận Hóa, năm 1611 lập Phủ Phú Yên, và năm 1620 đình chỉ việc tuế cống. Năm 1627, bùng nổ một cuộc chiến tranh Trịnh Nguyễn lần đầu tiên, và kéo dài đến cuộc chiến thứ 7 năm 1672. Nhà Nguyễn đóng đô ở Phú Xuân năm 1687, lập ra một chế độ tương đối dễ thở hơn


    _____ oOo _____​
    Trang 18


    miền Bắc, và bắt đầu thu hút các nhân tài Đàng ngoài, như Đào Duy Từ, vào Đàng trong. Cảnh phát triển đất nước ở Miền Nam đang diễn ra tốt đẹp thì năm 1771, anh em Tây Sơn bắt đầu xuất hiện. Năm 1772 hạ Thành Quy Nhơn, năm 1776 hạ Thành Gia Định. Năm 1778, Nguyễn Nhạc lên ngôi vua ở Quy Nhơn. Năm 1785, chiến thắng của Nguyễn Huệ ở Rạch Gầm, Xoài Mút tạo điều kiện cho ông chiếm Thuận Hóa năm 1786 rồi ra Bắc ào ạt tiến vào Thành Thăng Long. Nghiệp nhà Trịnh sụp đổ giáo điều cứng nhắc của Tống Nho lạc hậu. Năm 1788, Nguyễn Huệ lên ngôi vua ở Phú Xuân, lấy niên hiệu là Quang Trung, rồi ào ào tiến quân ra Bắc năm 1789, dẹp tan quân Thanh trong một trận chiến oai hùng. Sự băng hà đột ngột của Vua Quang Trung năm 1792 làm băng giá mọi thiện chí, trong khi Nguyễn Ánh phản công dữ dội, giành lại Gia Định năm 1788, hạ Thành Huế năm 1801 và năm 1802, rầm rộ kéo quân vào Thăng Long, thiết lập giang sơn nhà Nguyễn. Mộng thống nhất quốc gia của các nhà chính trị được thực hiện, nhưng sự vinh quang của họ không làm cho đời sống nhân dân sáng sủa hơn mà chỉ có tác dụng bần cùng hóa mọi tầng lớp xã hội. Bốn phương đã phẳng lặng thực chưa? Tại sao lại có chuyện hai kinh vững vàng? Công đức bình thành có được người dân đội lên đầu không hay chỉ giam hãm họ trong một đời sống tang tóc?

    2. Tình Hình Xã Hội.

    a- Những tác hại của Tống Nho

    Tống Nho đã bị Hồ Quý Ly công kích từ thế kỷ XIII. Nguyễn Trãi cũng nặng lời chỉ trích các nho sĩ chạy theo Trung Quốc, nhưng cả hai nhà trí thức dân tộc này đã chết, và Tống Nho vẫn tiếp tục được coi là khuôn vàng thước ngọc cho mọi giá trị quốc gia. Nạn thất xuất vẫn tiếp tục đè nặng lên thân phận của người đàn bà bị coi là một vị thành niên kinh niên. Tuổi trẻ buồn bã thấy mọi quyền tự do của mình bị tỏa chiết. Không ai có quyền xây dựng cho mình một tư tưởng riêng. Chế độ giáo dục và thi cử để tạo ra nhà trí thức như Trạng Lợn. Bọn vô học như Sở Khanh tự cho phép mình ứng xử như một nho sĩ; sinh viên đại học như Mã Giám Sinh chỉ sống được nhờ nghề nghiệp học được của Tú Bà. Ngay những thạc nho như La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp cũng không có khả năng tiếp thu những phát kiến của tuổi trẻ. Tính bảo thủ già nua của ông đã không giúp ích gì cho Vua Quang Trung mà còn gia tốc sự thất bại của ông vua trẻ tuổi tiến bộ này.


    _____ oOo _____​
    Trang 19

    b- Những tệ lậu của quan lại

    Bị nhồi sọ trong một nền giáo dục ngoại lai, các nhà khoa bảng thời Lê mạt đã triệt tiêu mọi ý thức tự do, dân chủ. Họ suy nghĩ theo những mô hình Trung Hoa đã có tự ngàn xưa. Họ không có một ý niệm gì rõ rệt về hiện tại, về những bước chuyển biến của tư tưởng quần chúng. Vô tình hay hữu ý, họ đã xô đẩy những thanh niên lương thiện vào con đường khổ nhục, phá hoại nặng nề hạnh phúc và nhân phẩm của họ. Họ để cho bọn sai nha tự do đi cướp bóc, đi hành hạ làm tiền người dân hiền lành vô tội. Thật là đầu trâu mặt ngựa cả lũ! Công lý nằm trong tay những ông quan mặt sắt đen xì, xử tội một cách kỳ quặc, bừa bãi, coi « cửa công, phép công », những « lập nghiêm », những « chiếu án luận vào » là những trò hề đùa rỡn! Ông quan to nhất trong Truyện Kiều là Hồ Tôn Hiến, một đại diện chính thức của triều đình, thế mà hắn đã không có đủ khả năng để dẹp giặc bằng quân lực. Hắn chỉ biết lung lạc nhân tâm bằng thế lực của đồng tiền, bằng cái đểu cáng của lung lạc nhân tâm bằng thế lực của đồng tiền, bằng cái đểu cáng của những mưu mô dối trá! Hắn mua chuộc! Hắn hứa hẹn, rồi hắn nuốt lời hứa một cách không xấu hổ! Thắng chiến tranh bằng sự lừa bịp, man trá. Hắn còn không che giấu được thói hiếu sắc của những kẻ nắm uy quyền của nhà vua trong tay, rồi để giữ sĩ diện, hắn gán người con gái mà hắn đã công khai cưỡng hiếp cho một người thuộc hạ. Thật là ti tiện! Thật là bỉ ổi! Buồn cho Nguyễn Du là ông đã phải « vào luồn ra cúi » với bọn này tại triều, vì nợ áo xiêm! Gia đình quan lại là hang ổ của mọi hành động xấu xa ti tiện. Ta thử đi vào nhà quan Lại Bộ thượng thư họ Hoạn xem sao. Hoạn Bà quản trị một cơ ngơi lộng lẫy nguy nga, kẻ hầu người hạ ra vào tấp nập, hô một tiếng thì hàng trăm tiếng dạ ran. Mụ chễm chệ ngồi trên giường thất bảo, và điều mới là hợm hĩnh một cách vô lối. Ban ngày ban mặt mà mụ vẫn cho thắp sáp hai bên chỗ mụ ngồi! Cái ghê gớm đáng sợ trong gia đình này là có nuôi một bọn côn đồ như Khuyển, Ưng làm tay sai. Khi cần thì ép chúng đi đốt nhà, bắt cóc người lương thiện đem về nhà đánh đập, tra khảo, không thèm đếm xỉa đến pháp luật. Chính quyền địa phương không dám ngó tới đã đành, ngay nhà chùa cũng phải kiêng dè, bọn con buôn cũng phải nể mặt!

    c- Thế Lực của Đồng Tiền.

    Đồng tiền tự nó không phải là xấu, nhưng nó đã trỡ thành một khí cụ dơ bẩn trong tay của bọn vô lương tâm. Từ khi công ty thương mại Anh được thiết lập tại Ấn Độ năm 1600, công ty thương mại Hòa Lan tại Phố Hiến năm 1637, hệ thống thương mại Châu Âu phát triển cao tới mức độ thượng đỉnh. Nguyễn Du đã thấy bản chất đổi trắng thay đen của đồng tiền, bản chất tha hóa gớm ghê của nó:


    _____ oOo _____​
    Trang 20

    - Trong tay đã sẵn đồng tiền,
    Dầu lòng đổi trắng thay đen, khó gì!
    (cc.689-690).

    - Tiền lưng đã sẵn, việc gì chẳng xong?
    (652)

    - Một ngày lạ thói sai nha?
    Làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền!
    (cc.597-598)​

    Ba trăm lạng bạc đã đủ giải quyết ổn thỏa mọi khó khăn của gia đình họ Vương. Sức mạnh của đồng tiền là vạn năng: Ông quan, nhà nho sĩ, bọn lầu xanh, tất cả đã bị đồng tiền chi phối nghiệt ngã, trừ Sư Giác Duyên.

    Con người cao quý đã bị đồng tiền biến thành một món hàng. Chính đồng tiền đã xây cất các nhà nhan nhãn ở Bắc Kinh, ở Lâm Truy, ở Vô Tích. Có những nhà chứa khổng lồ, gồm có cả những ngôi lầu nguy nga như Lầu Ngưng Bích, được xây dựng trên bờ biển sang trọng. Có những hành viện nhỏ hơn như của Bạc Hạnh, Bạc Bà. Tất cả điều hoạt động công khai như được chính quyền bảo trợ. Việc đi mua người hình như được tự do vì không làm cho ai ngạc nhiên. Kinh doanh mua bán gái điếm thu hút được cả nho sĩ! Thế lực đồng tiền đã làm đảo lộn mọi giá trị. Người lương thiện bị cưỡng bức vào nơi tội lỗi trong khi những con người tội lỗi lại nói lời đạo đức.

    3- Tình Hình Văn Hóa.

    Những chính sách đối nghịch về chính trị, những mâu thuẫn gay gắt về tư tưởng trong một xã hội đang phân hóa trầm trọng đã ảnh hưởng đến văn hóa. Từ thế kỷ thứ XVII trở đi, sau khi văn học Nho điển cáo chung, các nhà văn nhà thơ bỗng thấy nẩy nở trong đầu óc những suy nghĩ, những nhận định mà các lớp đàn anh của họ không hề biết. Họ muốn giữ sạch mọi tư tưởng vọng ngoại. Họ thích đi sâu vào lòng người Việt Nam, tìm hiểu những vấn đề mà đồng bào của họ đang đặt ra, và họ muốn cùng nhau đưa ra những giải quyết tại chỗ còn nóng hổi. Ta thử xem các nhà văn hóa đã làm được những gì cho xã hội thời Lê mạt.

    a- Chống đối chính sách văn hóa của nhà cầm quyền.

    Ngay từ thế kỷ XVII, chính xác là năm 1663, Trịnh Tạc đã dùng đến sức mạnh để ngăn chặn những đòi hỏi của quần chúng. Ganh tị với người em là Trịnh Toàn, người được quần chúng yêu mến suy tôn là Ông Ninh, Trịnh Tạc đã triệu Trịnh Toàn về kinh đô, bỏ ngục, và hành hạ người em ruột cho đến khi chết. Đó là vào khoảng 1660.

    Ngay sau đó, để dập tắt những xì xào bàn tán của dân chúng chung quanh vụ án bất công này, Trịnh Tạc đã ra lệnh cho Tiến Sĩ Phạm Công Trứ


    _____ oOo _____​
    Trang 21


    soạn thảo sắc lệnh Lê Triều Tứ Thập Thất Điều (47 điều giáo hóa triều Lê), tức 47 giáo điều thắt chặt quần chúng trong một đời sống cổ hủ, lạc hậu như những thế hệ trước. Đặc biệt điều thứ 35 liên hệ trực tiếp đến giới cầm bút. Đây là điều thứ 35 (do Tiến Sĩ Nhữ Đình Toản dịch ra chữ Nôm năm 1760):
    1. Ngũ kinh chư sử xưa nay,
    Với chư tử tập cùng rày văn chương.
    Dạy bèn có ích đạo thường,
    4. Mới nên san bản, bốn phương thông hành.
    Còn như: Thích, Đạo, Phi kinh,
    Lời tà, mối lạ, tập tành chuyện ngoa.
    Cùng là truyện cũ nôm na.

    8. Hết thơ tập ấy, lại ca khúc này.
    Tiếng dâm dễ khiến người say,

    10. Chớ cho in bán, hại nay thói thuần.

    Chỉ tóm tắt có 10 câu, mà 6 câu là những lời cấm đoán gay gắt.

    Từ 1-4 là nói về Nho Giáo và những tác phẩm được viết trong tinh thần Nho gia. Chỉ có Tứ Thư Ngũ Kinh là những sách có ích cho thế đạo, chỉ có những tác phẩm ấy được khắc in để hành thế. Ta để ý đến những chữ: Ích đạo thường và mới nên san bản là những mệnh lệnh gắt gao không thi hành không được. Như vậy, triều đình chỉ biết có Nho Giáo, và mọi công dân phải uốn mình nghe lệnh triều đình, chỉ được học một loại sách duy nhất là Tứ Thư Ngũ Kinh, cùng lắm là những kinh truyện xuất phát từ những tác phẩm ấy. Tất cả được viết bằng chữ Hán tuy là một thứ chữ quốc tế thời đó nhưng vẫn là chữ của Trung Quốc. Ai ngu dốt không biết chữ (ý nói chữ Hán) thì đến những nơi công cộng nghe nhân viên của nhà nước cắt nghĩa cho, dứt khoát không được hiểu Nho Giáo theo những lời giải thích xuyên tạc của bọn nhà văn nhà thơ phản động.

    Bọn phản động này là ai? Câu 5 cho biết đó là bọn Thích tức là các Phật tử, những môn đồ của Đức Phật. Đó là bọn Đạo, tức đạo Lão, bề tôi của Ngọc Hoàng, của bọn vô phu vô phụ. Cuối cùng là bọn Phi Kinh, tức là bọn Công Giáo, chạy theo Tây phương và chỉ biết có Chúa của chúng nó, còn ngoài ra không biết gì đến tam cương ngũ thường, đến tam tòng tứ đức là khuôn vàng thước ngọc của xã hội. Phạm Công Trứ đã vạch mặt chỉ tên những thành phần của ba tôn giáo lớn nhất hồi đó, và đã phê phán các tôn giáo ấy là dị đoan (lời tà, mối lạ), là mê tín (tập tành chuyện ngoa). Ngoa là một tính từ chỉ một lời nói phóng đại,


    _____ oOo _____​
    Trang 22


    vượt quá sự thật. Nhà Nho chủ trương chỉ có họ mới là chân lý cho nên các đạo khác đối với họ chỉ là chuyện ngoa, là chuyện thêm thắt ra cho có, không quy chiếu được vào sự thật. Đấy là nói chung. Nói riêng về văn học, nhà nước để ý tới những tác phẩm viết bằng chữ Nôm và nhấn mạnh vào loại tiểu thuyết viết bằng thơ lục bát hay song thất lục bát. Nhà nước phàn nàn rằng loại tiểu thuyết nhảm nhí ấy, viết bằng một thứ chữ qué (nôm na cha mách qué) mà sao lại được phổ biến rộng rãi như thế: Hết thơ tập ấy, lại ca khúc này. Câu 9 cho ta biết lời giải đáp: Tiếng dâm dễ khiến người say. Có gì đâu? Các truyện Nôm có nhiều người đọc là vì đề cập tới những dâm ô, những chuyện trai gái tiếp xúc với nhau suồng sã như: Chúa Ba nói chuyện với Chúa Thao (trong Chúa Thao Cổ Truyện), những cảnh Ngọc Hoa mới thoáng thấy Phạm Tải đã xúc động và yêu tha thiết (x. Phạm Tải Ngọc Hoa), Cô Cúc Hoa vừa gặp Phạm Công đã ốm tương tư lăn lóc (x. Phạm Công Cúc Hoa). Làm như vậy là vi phạm nguyên tắc nam nữ thọ thọ bất thân. Yêu như vậy là yêu tự do bừa bãi, vượt quyền cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy. Và đó là dâm, theo quan niệm của nhà Nho, không cần phải nói đến những khoái lạc nhục dục, những ham muốn xác thịt quá độ và không chính đáng mới là dâm, mới là xấu xa nhơ nhuốc. Kết luận của nhà cầm quyền là cấm không cho in các loại sách đó: Chớ cho in bán vì nó gây nguy hại cho người đọc và cho đạo lý con người: hại nay thói thuần.

    Trước lời cấm đoán vô lý, lạc hậu ấy, các nhà văn trẻ đã phản ứng dữ dội. Dùng danh xưng nôm na làm phương châm, họ đứng lên anh dũng. Họ xuống đường ào ạt bằng cách tung ra thị trường những tác phẩm nẩy lửa. Cả một phong trào văn học nôm na bùng nổ, đòi chấm dứt phong trào Nho điển già nua, đòi nhà nước ban hành tất cả mọi quyền tự do, quan trọng nhất là quyền tự do, tự do học hành, tự do cư trú, tự do tư tưởng, tự do chọn người yêu và quyết định hôn nhân. Người phụ nữ cũng nhập cuộc đòi thực thi quyền bình đẳng với nam giới, quyền được đi học và đi thi. Họ còn đòi hỏi nhà cầm quyền bảo đảm hạnh phúc cá nhân của họ, bảo đảm sự an ninh của họ bất cứ ở đâu, khi đi đường cũng như ở nhà trọ, và để họ có quyền làm tất cả những gì mà con trai có thể làm được. Về phía các nho sĩ trẻ tuổi, họ không có tham vọng làm quân tử nữa, điều ấy giả dối và lạc hậu. Với một giai nhân yêu kiều dập dìu bên cạnh, họ tự xưng là tài tử, vừa có học thức vừa có nhiều tài năng và dám biểu lộ công khai những tài ấy và không sợ nhà cầm quyền đàn áp.

    b- Trong tình thế ấy, Nguyễn Du xuất hiện.

    Ông phải làm gì để một đàng vừa giải quyết được những vấn đề của thời đại ông, vừa trình bày được một phương pháp luận có giá trị lâu dài để đáp ứng những vấn nạn của loài người muôn thuở?


    _____ oOo _____​
    Trang 23


    Ông đã kịch liệt phản đối những giáo điều cứng nhắc của Nho Giáo, nhưng đồng thời ông cũng đòi hỏi các quyền tự do mà thanh niên yêu cầu phải được giới hạn bởi tinh thần trách nhiệm và phải được đặt trên một nền tảng siêu hình.

    Những tư tưởng đó, ông sẽ trình bày trong cuốn Đoạn Trường Tân Thanh mà ông đã mang nặng đẻ đau suốt 15 năm trường, kể từ khi ông được 30 tuổi (trải qua một cuộc bể dâu), đến khi ông hết làm Cai Bạ Quảng Bình, vào Huế nhận chức chánh sứ sang nhà Thanh năm 1813.

    (Còn Tiếp)
     
    ngd_a likes this.
  11. PH44

    PH44 Người thân Tình Nguyện Viên

    Trang 24

    Niên Biểu Nguyễn Du
    (1766 – 1820)


    1766: Ngày 03-01 (23-11 Ất Dậu): Sinh tại Phường Thăng Long, nguyên quán là Làng Tiên Điền, Huyện Nghi Xuân, Trấn Nghệ An, nay là Tỉnh Nghệ Tĩnh. Tên tự: Tố Như; tên hiệu: Thanh Hiên. Thân phụ là Nguyễn Nghiễm, một quan văn chuyên nghiên cứu sử học và làm thơ bằng chữ Hán. Mẹ là bà Trần Thị Tần, con gái Bắc Ninh, đẹp và giỏi về ca hát.

    1767: Nguyễn Nghiễm (Nhị Giáp Tiến Sĩ) được cử từ Tổng Tài Quốc Sử Quán, Tế Tửu Quốc Tử Giám (viện trưởng đại học) lên Đô Ngự Sử.

    1768-1769-1770: Truyện Hoa Tiên của Nguyễn Huy Tự ra đời, đồng thời với thơ Hồ Xuân Hương.

    1771: Anh em Tây Sơn dấy binh. Nguyễn Nghiễm về trí sĩ, được gia thăng Đại Tư Đồ; kiêm Tham Tụng, sau chuyển làm Thượng Thư bộ Hội.

    1773: Tây Sơn hạ Thành Quy Nhơn.

    1774: Vân Đài Loại Ngữ (Lê Quý Đôn). Nguyễn Nghiễm sung chức Tể Tướng, cùng Hồng Ngũ Phúc vào đàng trong đánh Chúa Nguyễn.

    1775: Quân Trịnh hạ Thành Huế. Bên Mỹ, bùng nổ chiến tranh độc lập, kéo dài đến 1783. Nguyễn Nghiễm qua đời tại Tiên Điền.

    1776: Tây Sơn hạ Thành Gia Định. Lê Quý Đôn viết Phủ Biên Tạp Lục. Adam Smith viết La richesse des nations.

    1777: Lê Quý Đôn: Kiến Văn Tiểu Lục

    1778: Nguyễn Nhạc lên ngôi vua tại Quy Nhơn. Bà Trần Thị Tần, mẹ Nguyễn Du, qua đời, thọ 38 tuổi.

    1780: Vụ án năm Canh Tí. Nguyễn Khản (1734 - 1786), anh cả của Nguyễn Du, bị khép tội mưu loạn với Trịnh Tông, được miễn tội chết nhưng bị bãi chức. Mạc Thiên Tứ qua đời. Đất Hà Tiên được sung vào lãnh thổ Chúa Nguyễn.


    _____ oOo _____​
    Trang 25

    1782: Trịnh Sâm mất; Trịnh Tông lên ngôi chúa, cử Nguyễn Khản làm Thượng Thư Bộ Lại. Lê Hữu Trác viết Lãn Ông Y Tập.

    1783: Thi Hương ở trường Sơn Nam, đậu Tam Trường (tú tài). Nguyễn Khản được thăng Thiếu Bảo, cuối năm được thăng Tham Tụng. Nguyễn Du lập gia đình với cô con gái của Tiến Sĩ Đoàn Nguyễn Thục (1718-1775). Tập ấm chức Chánh Thủ Hiệu Quân Hùng Hậu của cha nuôi họ Hà ở Thái Nguyên.

    1784: Loạn Kiêu Binh ở Thăng Long. Dinh Nguyễn Khản ở Phường Bích Câu bị giật đổ. Nguyễn Khản trốn lên Sơn Tây, ẩn tại nhà người em là Nguyễn Điều, Trấn Thủ Sơn Tây. Lê Hữu Trác viết Thượng Kinh Ký Sự.

    1785: Nguyễn Huệ đại thắng ở Phú Xuân.

    1786: Nguyễn Huệ ra Bắc diệt Trịnh. Nguyễn Khản qua đời tại Phường Bích Câu. Nguyễn Du khởi sự Thanh Hiên Thi Tập. Lê Hữu Trác: Hải Thượng Y Tôn Tâm Lĩnh.

    1787: Võ Văn Nhậm hạ Thành Thăng Long. Hòa ước Versailles được ký kết giữa Nguyễn Ánh và Louis XVI (nhưng không được thi hành).

    1788: Nhà Lê mất nghiệp. Nguyễn Ánh tái chiếm Gia Định. Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng Đế, đặt niên hiệu là Quang Trung.

    1789: Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh. Lê Chiêu Thống trốn sang Trung Quốc kêu cứu. Nguyễn Du về Quỳnh Côi, sống với anh vợ là Đoàn Nguyễn Tuấn, Thị Lang Bộ Lại triều Tây Sơn. Hoàng Quang viết Hoài Nam Khúc. Cách mạng Pháp bùng nổ, phá nhà ngục Bastille.

    1792: Vua Quang Trung băng, thọ 40 tuổi. Ngọc Hân viết: Văn Tế Khóc Vua Quang Trung, Ai Tư Vãn. Nguyễn Ánh phản công.

    1793: Phạm Đình Hổ: Vũ Trung Tùy Bút; Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án: Tang Thương Ngẫu Lục. Anh em Ngô Thì: Hoàng Lê Nhất Thống Chí. Vô danh: Phan Trần. Nguyễn Du từ Quỳnh Côi về thăm Tiên Điền, cuối năm vào Huế chơi với anh là Nguyễn Nễ, rồi trở về Quỳnh Côi.

    1794: Vẫn ở Quỳnh Côi.

    1795: Vẫn ở Quỳnh Côi. Bà vợ Nguyễn Du qua đời.

    1796: Vẫn ở Quỳnh Côi. Mùa đông, Nguyễn Du dự định vào Gia Định cộng tác với Chúa Nguyễn, việc bại lộ, bị tướng Tây Sơn là Thận Quận Công bắt giữ; Thận là bạn Nguyễn Nễ, lại ngưỡng mộ văn tài Nguyễn Du nên chỉ giam 3 tháng rồi tha.

    1797-1780: Về ẩn dật ở Tiên Điền. Đi câu, đi săn, lấy biệt hiệu là Hồng Sơn Lạp Hộ (người săn bắn ở Núi Hồng), hoặc Nam Hải Điếu Đồ (gã đi câu ở Biển Nam).


    _____ oOo _____​
    Trang 26

    Viết: Thác Lời Trai Phường Nón, Văn Tế Sống Hai Cô gái Phường Vải Trường Lưu. Bắt đầu thai nghén Đoạn Trường Tân Thanh.

    1801: Nguyễn Ánh hạ Thành Huế, nhất thống sơn hà. Đặng Đức Siêu viết: Văn Tế Võ Tánh và Ngô Tòng Châu.

    1802: Nguyễn Ánh vào Thành Thăng Long. Nguyễn Du nhận chức Tri Huyện Phù Dung (Phủ Khoái Châu, Trấn Sơn Nam, tục gọi Phủ Khoái, Hưng Yên). Ba tháng sau, thăng Tri Phủ Phủ Thường Tín, cũng thuộc Trấn Sơn Nam. Có thể tiếp tục sửa chữa Đoạn Trường Tân Thanh.

    1803: Xây cất Quốc Tử Giám tại Huế (ý muốn chuyển trung tâm văn hóa quốc gia vào kinh đô mới). Quân Anh chiếm Delhi (Ấn Độ).

    1804: Vua nhà Thanh công nhận nước Việt Nam. Nguyễn Du được cử tham gia phái đoàn ngoại giao đón tiếp sứ thần nhà Thanh sang tấn phong Vua Gia Long. Hoàn tất Thanh Hiên Thi Tập (78 bài); cáo bệnh xin về quê, khởi sự viết Nam Trung Tạp Ngâm. Phạm Thái viết: Sơ Kính Tân Trang. Phan Huy Ích: Dịch Chinh Phụ Ngâm của Đặng Trần Côn ra chữ Nôm (nhưng đây không phải là bản Chinh Phụ Ngâm hiện hành). Kinh Thành Huế được xây cất.

    1805: Thăng Đông Các Học Sĩ (ngũ phẩm), tước Du Đức Hầu, vào Phú Xuân nhậm chức. Hoàn thành Đoạn Trường Tân Thanh tại Huế.

    1806: Nhất Thống Dư Địa Chí.

    1807: Giám khảo thi Hương tại trường thi Hải Dương.

    1808: Xin về quê (Để ý: Nguyễn Du nhiều lần cáo quan, chứng tỏ không khí quê hương đối với ông vẫn êm đềm dễ thở hơn đâu hết).

    1809-1812: Cai Bạ Quảng Bình (tứ phẩm): Đây cũng là thời gian xem lại Đoạn Trường Tân Thanh. Tác phẩm này đã được viết đi viết lại và xem đi xem lại nhiều lần (đúng như ý muốn của Boileau: Ecrivez quelquefois et souvent effacez / Đôi khi viết và nhiều khi phải xóa). Hoàn tất Nam Trung Tạp Ngâm (40 bài), viết Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh ( theo dự đoán của Hoàng Xuân Hãn).

    1813: Thăng Cần Chánh Điện Học Sĩ và Chánh Sứ sang Trung Quốc. Chấm dứt Nam Trung Tạp Ngâm và khởi sự viết Bắc Hành Tạp Lục.

    1814: Đi sứ về. Hoàn tất Bắc Hành Tạp Lục (132 bài, viết trong khoảng 8 tháng, giữa lúc việc công bận rộn). Hoàn tất ĐTTT.

    1815: Luật Gia Long được ban hành (nhưng chắc chắn không đáp ứng nguyện vọng Nguyễn Du vì bộ luật mới nói chung chỉ là một bản dịch bộ luật nhà Thanh). Thăng Hữu Tham Tri Bộ Lễ (tam phẩm).

    1816: Vụ án cha con Nguyễn Văn Thành - Nguyễn Văn Thuyên. Thuyên bị xử chém, Thành bị bức tử. Vũ Trinh, anh rể Nguyễn Du, vì là thày học của Thuyên, bị đày đi Quảng Nam.

    1817: Việt Nam tái lập bang giao thương mại với Pháp.


    _____ oOo _____​
    Trang 27


    1819: Quân đội Anh chiếm Tân Gia Ba.

    1820: Gia Long băng. Minh Mạng lên ngôi, tiếp tục trọng dụng Nguyễn Du, cử ông làm Chánh Sứ sang Trung Quốc báo tang và cầu phong. Chưa kịp đi đã bị lây bệnh dịch và chết vào ngày 16-09-1820 (10-08 năm Canh Thìn), an táng tại Làng An Ninh, Huyện Quảng Điền, Tỉnh Thừa Thiên, được con là Nguyễn Ngũ cải táng tại Tiên Điền năm 1824. Giấc mơ «muôn dặm một nhà» (TK, c. 2435) đã được thực hiện theo ý muốn của Nguyễn Du.

    (Còn Tiếp)
     
    Điều chỉnh lại bài đăng lúc: 14 tháng Năm 2015
  12. PH44

    PH44 Người thân Tình Nguyện Viên

    Trang 28

    Tác Phẩm của Nguyễn Du
    Lê Hữu Mục


    I- Chữ Hán: 3 tác phẩm, gồm tất cả 250 bài thơ

    1- Thanh Hiên Thi Tập (tập thơ của Thanh Hiên, tức Nguyễn Du), được viết từ năm 1786 đến 1804, gồm 78 bài thơ.

    2- Nam Trung Tạp Ngâm (các bài ngâm viết ở Việt Nam), khởi sự từ 1804, hoàn tất vào năm 1812, gồm 40 bài thơ.

    3- Bắc Hành Tạp Lục (ghi vội về cuộc đi sứ sang Trung Quốc), viết trong năm 1813 tại Trung Quốc, gồm 132 bài.


    II- Chữ Nôm: 4 tác phẩm viết bằng các thể văn Việt Nam

    1- Tác phẩm thời trẻ:

    Thác Lời Trai Phường Nón (1783).
    Văn Tế Hai Cô Gái Phường Vải (1783).

    2- Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh (1802): Thể song thất lục bát.

    3- Đoạn Trường Tân Thanh (khởi thảo vào cuối thế kỷ XVIII, hoàn tất vào những năm từ 1805 đến 1813): thể lục bát, gồm 3254 câu.

    III- Giá trị của những tác phẩm chữ Hán

    1- Nói chung, tác phẩm chữ Hán của Nguyễn Du biểu thị những điều ông trông thấy về người đời và đời người và những suy tư, những cảm xúc của ông trước những điều đã trông như mọi người nhưng đã thấy những ý nghĩa sâu xa mà người khác không để ý tới. Người thường như tất cả chúng ta chỉ thấy hiện tượng (mà nhà Phật gọi là tục đế), không trông thấy bản chất của sự kiện (danh từ Phật Giáo gọi là chân đế). Ngược lại, bất cứ một sự kiện, một biến cố nào xảy ra, Nguyễn Du cũng đi sâu vào bản chất của nó để tìm hiểu, và nhờ đó, ông thường hiểu được rõ ràng ý nghĩa cuối cùng của đời người. Và ông khóc.


    _____ oOo _____​
    Trang 29


    Dị đại tương liên không sái lệ.

    Con người sống xa nhau về thời gian (dị đại), nhưng vẫn thương nhau (tương liên) và rơi lệ (không sái lệ). Tại sao thế? Có phải vì thiếu miếng cơm manh áo không? Có phải vì đạo lý điêu tàn và xã hội loạn lạc không? Hay là vì sự bế tắc của chế độ phong kiến?

    2- Đây là những giải đáp của Nguyễn Du.

    a- Cảnh nghèo khó là một hiện tượng phổ biến:

    Việt Nam là một nước nghèo. Chung quanh ông ở khắp mọi nơi, ở đô thành đầy ánh sáng cũng như ở làng quê tối tăm, cảnh nghèo diễn ra với tất cả cái xấu xa của nó. Bên Trung Quốc cũng vậy, ông ngạc nhiên khi thấy bên Trung Quốc cũng đầy rẫy những cảnh cùng khốn như ở Việt Nam. Trong bài Thái Bình Mại Ca Giả sau khi kể lại việc ông đã gặp một ông già mù hát rong nghèo khổ, Nguyễn Du viết:

    Chỉ đạo Trung Hoa tẫn ơn bão,
    Trung Hoa diệc hữu như thử nhân.

    (Thường nghe nói Trung Hoa no ấm lắm,
    Trung Hoa cũng có loại người này!)​

    Hết chuyện ông già mù ở Thái Bình, lại đến chuyện người kéo xe ở Hồ Nam, chuyện bốn mẹ con một người ăn xin sắp chết đói, chuyện những người lao khổ nổi dậy chống triều đình. Chung quanh ông, trên khắp đất Trung Quốc, nhầy nhụa một cái nghèo âm u thê thảm. Đó là những điều mà Nguyễn Du đã trông. Ông đã thấy gì? Ông đã thấy cái nguyên nhân sâu xa của sự nghèo khổ. Đó là cái mầm ác trong lòng người. Chính cái ác độc ấy đã đẻ ra bọn người ích kỷ. Nhờ ích kỷ mà chúng giàu có, chúng học hành đỗ đạt, chúng ngồi trên đầu trên cổ người ta, đâu đâu cũng có mặt chúng nó. Nguyễn Du viết: Long xà quỷ vực biến nhân gian (khắp cõi người ta đầy những rắn rồng quỷ quái). Chúng nói dối để trục lợi; chúng xảo trá để cầu danh. Nguyễn Du viết: Xú danh mãn quách tằng hà dụng, Tặc cốt thiên niên mạ bất tri (Tiếng thối đầy săng giấu để làm gì? Nó chỉ còn nắm xương, ngàn đời có chửi nó, nó cũng không biết). Nó ở đây là Tào Tháo, một tên đa nghi, xảo trá đã giết hại không biết bao nhiêu người, và đã phá hoại cuộc đời của bao nhiêu người lương thiện!

    b- Nguyễn Du kêu gọi những người có thiện tâm.

    Đầu tiên là những người có lòng yêu thương đồng loại, những Cù Thức Tró, Nhạc Phi, Văn Thiên Tường, Hàn Tín, Kê Thiệu, Liêm Pha, Lạn Tương Như, rồi đến các nhà trí thức, các nhà văn nhà thơ lỗi lạc như Khuất Nguyên, Đỗ Phủ, Lý Bạch, Liễu Tôn Nguyên, Âu Dương Tu, Giả Nghị. Đây là hàng ngũ của các nhà văn hóa. Nói như Mai Quốc Liên, trong Nguyễn Du Toàn Tập: « Đối với Nguyễn Du, cái vĩ đại là văn hóa ... Văn hóa là cuộc đấu tranh bi tráng của con người trong trường kỳ lịch sử để khẳng định và phát triển bản chất người.


    _____ oOo _____​
    Trang 30


    Các triều đại trôi qua, quyền lực của vua chúa, huân danh của tướng lãnh, công hầu... thảy đều trôi qua, đều tàn lụi, chỉ còn có con người, chỉ còn có nhân văn... Nguyễn Du chỉ coi trọng và đánh giá cao các nhân vật văn hóa, những anh hùng của nền văn minh nhân loại. Chắc hẳn rằng ông tiếp nối mạch suy tư của Lý Bạch: Khuất Bình từ phú huyền nhật nguyệt, Sở vương đài tạ không sơn khâu (Từ phú Khuất Nguyên treo cao cùng nhật nguyệt, trong khi đài tạ của Sở Vương chỉ còn là Núi Gò) » (x. Mai Quốc Liên, sđd, tr.10).

    Đó là Nguyễn Du đề cao những hành động cứu đời của các nhà văn hóa. Không có những nhà trí thức có tư tưởng và hành động nhập cuộc, nếu không có các nhà văn thơ tố giác những thành phần xấu xa trong xã hội, nếu các nhà có thiện tâm không cứu giúp những người khốn cùng, cuộc đời, đúng như Nguyễn Du đã tả, chỉ là: «Thành quách y nguyên, dân sự khóc. Cát bụi lấm cả quần áo người. Đi ra ngựa xe, về vênh váo, Vêu mặt Quỳ, Cao, tán chuyện đời. Không lộ vuốt nanh cùng nọc độc. Mà xé thịt người nhai ngọt xớt » (nt, tr. 10).

    Giáo Sư Lê Trí Viễn, khi bàn về bài Phản Chiêu Hồn ca của Nguyễn Du, đã viết rất đúng trong Giáo Trình Lịch Sử Văn Học Việt Nam, Hà Nội 1962, tr. 156: « Niềm cảm thông thương xót của tác giả đối với linh hồn trung nghĩa nghìn xưa, nỗi căm phẩn kín đáo ngụ trong những nhận xét sắc cạnh, đanh thép đối với bọn thống trị dã man, lòng thương cảm mênh mông đằng sau cái nhìn hiện thực đối với nhân dân nghèo khổ, như có cái gì vượt quá tầm cảm xúc đối với một cá nhân đã chết, một quốc gia và một thời đại không còn nữa, mà trở thành những cảm khái, những nhận thức đối với bọn thống trị đương thời, đối với cuộc đời trước mắt (sđd, tr.156).

    Tôi nói thêm, và đối với mọi cuộc đời nói chung, mọi con người thống trị về chính trị, về ngôn ngữ, về tình cảm, cả về tôn giáo đạo đức nữa.

    c- Chỉ có tình thương mới cứu được nhân loại

    Từ những thể nghiệm đó trong cuộc sống, Nguyễn Du chủ trương mọi mâu thuẫn giữa cá nhân và cá nhân phải được giải quyết bằng tình thương, bằng một chủ nghĩa nhân đạo cao cả. Những bài thơ ông viết về đề tài này là những bài thơ hay nhất trong số 250 bài thơ chữ Hán của ông.

    Nói về Khuất Nguyên, không phải Nguyễn Du chỉ nói về số phận của những con người ưu tú, tài hoa mà thôi. Cũng không phải Nguyễn Du chỉ thấm thía một cách sâu sắc về sự không phù hợp của Khuất Nguyên đối với cuộc đời.


    _____ oOo _____​
    Trang 31


    Càng không phải chỉ thấy trong tâm trí Nguyễn Du có một sự đối lập ghê gớm giữa cái sáng trong vằng vặc của một tâm hồn là Khuất Nguyên với cái xấu xa đê tiện của cái xã hội này (x. Nguyễn Lộc, sđd, tr. 52). Phải hiểu Khuất Nguyên sâu sắc hơn. Ông đã chết để cảnh tỉnh nhân loại về sự cần thiết phải thương yêu nhau. Thiên hạ đều mê vì không biết đến chân lý đó; chỉ có ông là tỉnh (độc tỉnh) vì, qua những kinh nghiệm đau thương của cuộc đời ông, qua cái thái độ ích kỷ và kiêu ngạo của người đời không muốn tìm hiểu người khác mà chỉ muốn phê phán một cách sai lầm theo những dấu hiệu bên ngoài, Khuất Nguyên, cũng như Thúy Kiều về sau này, chỉ tìm thấy trong cái chết của mình một ý nghĩa cứu rỗi. Nguyễn Du nói nhiều về Khuất Nguyên để nhấn mạnh về điểm này: nếu các nhà văn nhà thơ, các nhà trí thức sống về tư tưởng, các nhà văn hoá đối lập với các nhà chính trị kinh doanh hoạt đầu, nếu quý vị không can đảm như Khuất Nguyên dám chết để nói lên tình thương nhân loại của mình, nhân loại vẫn còn đắm chìm, còn giãy giụa trong bùn lầy của nghèo đói, đau khổ, và bất hạnh.

    Không phải Nguyễn Du chỉ nói đến Khuất Nguyên. Ông đã nói nhiều đến Đỗ Phủ, đến cuộc đời tài hoa nhưng bạc mệnh của ông, nhất là đến nỗi đồng cảm muôn đời giữa những nhà trí thức «khéo dư nước mắt khóc người đời xưa ». Xin nhắc lại một lần nữa câu thơ của Nguyễn Du nói về Đỗ Phủ: Dị đại, tương liên, không sái lệ (dù sống vào những thời đại khác nhau nhưng vẫn thương nhau, và chỉ biết ứa lệ mà thôi). Câu thơ giàu tính nhân đạo làm sao! Nó cho ta thấy, giữa những người cầm bút của đời này, mẫu số chung vẫn là viết để kêu gọi con người yêu thương nhau hơn, vì đó là một chính sách duy nhất để cho loài người tồn tại.

    IV- Giá Trị của Những Bài Thơ Nôm

    Không kể hai bài thơ Nguyễn Du làm để đùa cho vui còn trẻ, bài Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh và Đoạn Trường Tân Thanh (gọi tắt là Truyện Kiều) là hai kiệt tác.

    1- Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh

    Còn được gọi tắt là Văn Chiêu Hồn, được phát hiện ở Chùa Diệc, chứng thực tác phẩm được viết để phục vụ mục đích cúng tế nhân dịp Lễ Vu Lan, được dân chúng gọi là Lễ Cô Hồn, được tổ chức vào Ngày Rằm Tháng Bảy Âm Lịch.

    _____ oOo _____​
    Trang 32

    Tác phẩm được viết theo thể song thất lục bát, gồm 184 câu, chia ra làm 5 phần:

    Phần 1: Nhập đề. Các cô hồn cần phải được giải thoát (cc. 120).

    Phần 2: Mười loại chúng sinh (cc.21-136):
    1- Vua chúa (cc.21-32)
    2- Tiểu thư (cc.33-44)
    3- Quan lại (cc.45-56)
    4- Tướng soái (cc.57-68)
    5- Nhà giàu (cc.89-80)
    6- Kẻ sang (cc.81-92)
    7- Nhà buôn (cc.93-100)
    8- Lính tráng (cc.101-108)
    9- Kỹ nữ (cc.109-116)
    10- Hành khất (cc.117-136)

    Phần 3: Cảnh cùng khốn của cô hồn (137-156)

    Phần 4: Mọi cô hồn phải được giải thoát (157-172)

    Phần 5: Kết luận. Mời các cô hồn đến hưởng lộc.

    Tác giả không phê phán các cô hồn, chỉ tỏ lòng thương xót và giải thích nhu cầu cứu vớt họ. Họ chỉ là nạn nhân của chính họ, của lòng tham dục, của tính ích kỷ, của tính kiêu ngạo chỉ biết lợi lộc của mình là tối cao và sẵn sàng làm mọi điều độc ác để chiến thắng kẻ khác:

    Nào những kẻ tính đường kiêu hãnh,
    Chí những lăm cướp gánh non sông.
    Nói chi đang thuở thị hùng
    Tưởng khi thế khuất vận mà đau!
    (cc. 21-24)

    Tác giả báo động:

    Cả giàu sang, nặng oán thù,
    Máu tươi lai láng, xương khô rã rời
    (cc.27-28)

    Tác giả muốn chứng thực rằng quyền lực bao giờ cũng do bất công mà có. Càng mạnh về quyền lực bao nhiêu, người ta càng xa nhân tính bấy nhiêu và càng dìm sâu nhân loại vào hố thẳm của tội lỗi và nước mắt. Làm thế nào để chấm dứt những cảnh cùng khốn của con người? Nguyễn Du trả lời: Chỉ có tình thương. Đó là giải pháp duy nhất mà ông đã trình bày trong các bài thơ chữ Hán và trong Đoạn Trường Tân Thanh.

    2- Đoạn Trường Tân Thanh là một tác phẩm dùng chất liệu của một tác phẩm của Trung Quốc nhan đề là Kim Vân Kiều truyện. Tác giả là Thanh Tâm Tài Nhân (ở Việt Nam gọi là Thanh Tâm Tài Tử) là một tác giả gần như vô danh, nhưng ĐTTT lại là một kiệt tác. Nội dung của tác phẩm này đề cập tới lòng hy sinh của một thiếu nữ, vì chữ hiếu mà phải sống 15 năm vất vả trong lao tù của các thanh lâu.


    _____ oOo _____​
    Trang 33


    Nhờ tinh thần chiến đấu của cô, tuy phải sống trong bùn lầy của tội lỗi mà cô không bị tanh tưởi vì bùn. Triết lý của tác phẩm thống nhất với tư tưởng của tác giả gửi gắm trong các tác phẩm chữ Hán và trong Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh: Muốn cứu thế gian, chỉ cần có một chút can đảm để sống trong sạch và yêu thương mọi người.


    (Còn Tiếp)
     
  13. PH44

    PH44 Người thân Tình Nguyện Viên

    Trang 34

    Nguồn Gốc Truyện Kiều
    Lê Hữu Mục


    Nguyễn Du đã thai nghén Truyện Kiều vào thời Lê mạt. Khi xã hội bị cực kỳ phân hóa vì chiến tranh, nó đã đặt ra cho ông những vấn đề bức thiết về sự sống. Điều chắc chắn là ông đã hoàn thành tác phẩm ấy vào những năm đầu của thế kỷ XIX khi Gia Long vừa thống nhất được đất nước đã mang đến cho ông một vài tia hy vọng về cuộc đời. Cái không khí bi thảm, đen tối trong phần đầu tác phẩm (và ngưng kết trong bài nhạc Một Cung Bạc Mệnh Của Thúy Kiều) phản ánh tình hình chính trị và xã hội rối ren thời Lê mạt. Ngược lai, những ngày tái hợp đầy tiếng cười và ánh nắng của gia đình họ Vương nói chung và của Kim Trọng và Thúy Kiều nói riêng hồi quang những năm đầu tiên của thời kỳ Nguyễn sơ, thời kỳ đẹp nhất của triều đình nhà Nguyễn khi Gia Long lên ngôi kêu gọi toàn dân đại đoàn kết để xây dựng đất nước. Tiếng đàn của Thúy Kiều trước kia tiêu tao bao nhiêu, sầu thảm bao nhiêu, bây giờ lại vui vầy, lại não nùng xôn xao bấy nhiêu.

    Cũng vì tiếng nhạc này mà nguyên tác của Nguyễn Du mang nhan đề có vẻ triết học là Đoạn Trường Tân Thanh, tiếng nhạc mới, tiếng nói mới về sự đau lòng đứt ruột. Tại sao lại có chữ tân nghĩa là mới? Chỉ vì tác phẩm của Nguyễn Du được viết dựa vào một tác phẩm cổ của đời Minh tên là Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Tử. Cuốn này là một cuốn chép tay hiện một bản còn giữ được tại thư viện trường Viễn Đông Bác cổ Pháp dưới ký hiệu A 953, và bản này đã được Tô Nam Nguyễn Đình Diệm và Hàm Cố Bùi Quang Tung dịch sang tiếng Việt, có đăng trên Văn Hóa Nguyệt San số 45, 47, 48, 49, 50, 52, 55, 56 của Bộ Giáo Dục và Thanh Niên, năm 1971 được Nha Văn Hoá Phủ Quốc Vụ Khanh đặc trách văn hóa in thành sách có kèm theo bản chữ Hán.


    _____ oOo _____​
    Trang 35


    Về tên của tác giả Kim Vân Kiều Truyện, từ trước đến nay giới nghiên cứu vẫn cho rằng Thanh Tâm Tài Nhân (hoặc Thanh Tâm Tài Tử) là Từ Văn Trường, tức Từ Vị. Đó là chủ trương của Lý Nhân Phủ, căn cứ vào hai tác phẩm Từ Văn Trường Tập và Thanh Đằng Lộ Sử Phân Thích, nhưng thuyết này đã bị Ông Lý Trí Trung năm 1983 bác bỏ. Viết sau phần dành cho cuốn Kim Vân Kiều Truyện, do nhà xuất bản Xuân Phong Trung Quốc và Mỹ Quốc nhưng không thấy Kim Vân Kiều Truyện ở sau Từ Văn Trường Tập và Thanh Đằng Lộ Sử Phân Thích. Trong các tác phẩm biết chắc là của Từ Vị, thái độ của tác giả đối với Hồ Tôn Hiến trái ngược hẳn với thái độ của Thanh Tâm Tài Nhân. Do đó, không thể kết luận Thanh Tâm Tài Nhân là Từ Vị. Cuối cùng, Từ Vị là một nhà văn rất lớn đời Minh không thể đồng hóa ông với Thanh Tâm Tài Nhân là một tác giả vô danh (x. Phan Ngọc, Lời giới thiệu cuốn Truyện Kiều đối chiếu của Phạm Đan Quế, NXB Hà Nội, 1991).

    « Kim Vân Kiều Truyện của Thanh Tâm Tài Nhân vốn bắt nguồn từ một câu chuyện có thật do Mao Khôn, một người trong quân đội Hồ Tôn Hiến ghi lại trong sách Ký Tiểu Trừ Từ Hả Bản Mạt. Câu chuyện này về sau được nhiều người viết đi viết lại. Chẳng hạn Lý Thúy Kiều Truyện của Đới Sĩ Lâm, Vương Thúy Kiều Truyện của Dư Hoài, v.v... Nói chung những tác phẩm này tình tiết có thay đổi ít nhiều, nhưng tuyến chính của câu chuyện vẫn là mối quan hệ giữa Thúy Kiều và Từ Hải: Thúy Kiều là một kỹ nữ tài hoa bị Từ Hải, viên chủ tướng của một đám giặc cướp bắt được. Từ Hải hết lòng yêu mến Thúy Kiều, sau Thúy Kiều bị mua chuộc, đã dụ Từ Hải ra hàng. Kết quả là Từ bị giết, Thúy Kiều bị bắt. Trong bữa tiệc hạ công, Thúy Kiều phải đánh đàn hầu rượu Hồ Tôn Hiến, viên quan đã giết chồng nàng. Sau đó, viên quan này bắt nàng lấy một tù trưởng người dân tộc thiểu số, Thúy Kiều đau khổ, nhục nhã, đã nhảy xuống sông tự tử.

    Vào khoảng cuối đời Minh, Thanh Tâm Tài Nhân viết lại chuyện này một lần nữa. Lần này, câu chuyện có bề thế hơn trước rất nhiều. Tác phẩm của Thanh Tâm Tài Nhân không còn là một truyện ngắn, mà trở thành một tiểu thuyết dài, tất cả 20 hồi. Kim Vân Kiều Truyện có nhiều tình tiết phc tạp, nhiều nhân vật, nhiều sự kiện. Đặc biệt trong Kim Vân Kiều Truyện, quan hệ Từ Hải-Thúy Kiều không phải là tuyến chính, mà tuyến chính là cuộc đời mười lăm năm chìm nổi của Thúy Kiều. Tác phẩm không phải kết thúc ở chỗ Kiều tự tử trên Sông Tiền Đường, mà còn có đoạn Thúy Kiều được vớt lên, được cứu sống, và về sau tái hồi Kim Trọng.

    Nói chung, cốt truyện của Kim Vân Kiều Truyện giống với cốt truyện trong Truyện Kiều của Nguyễn Du.


    _____ oOo _____​
    Trang 36

    Nguyễn Du không phải «hoàn toàn sáng tác» như Phan Khôi nói, cũng không phải chỉ lấy đề tài trong văn học nước ngoài giống như nhiều tác giả phương Tây thời Phục Hưng, hay thời kỳ chủ nghĩa cổ điển đã làm, mà ông dựa khá sát vào một câu chuyện có sẵn. Nhưng Kim Vân Kiều Truyện của Thanh Tâm Tài Nhân không phải là một tác phẩm xuất sắc trong văn học cổ Trung Quốc, còn Truyện Kiều của Nguyễn Du lại là một kiệt tác. Chỉ riêng điều đó cũng đã nói lên rằng, mặc dù dựa khá sát vào câu chuyện Trung Quốc, Truyện Kiều của Nguyễn Du vẫn không phải là một phóng tác, lại càng không phải là một truyện dịch» (x. Nguyễn Lộc, Văn Học Việt Nam tập II, NXB Đại Học Và Trung Học Chuyên Nghiệp, Hà Nội, 1978, tr. 63-64).

    Truyện Kiều được viết vào năm nào?

    Có bốn giả thuyết:

    1- Năm 1814, khi đi sứ về (Đại Nam Chính Biên Liệt Truyện, Lê Thước, Nguyễn Quảng Tuân).
    2- Năm 1805 (Nguyễn Văn Thắng, Đào Duy Anh, Hoàng Xuân Hãn).
    3- Năm 1802 (Lê Thành Khôi).
    4- Năm 1796 (Trương Chính).

    Phải thú nhận rằng tình trạng văn bản học hiện nay về Truyện Kiều chưa cho phép giới nghiên cứu khẳng định một cách khoa học bất cứ một vấn đề gì, huống chi là vấn đề soạn niên của tác phẩm. Các giả thuyết nêu trên đều có lý do tồn tại nhưng cũng rất dễ bị bác.

    Nhận định:

    1- Không thể và không cần tìm một soạn niên chính xác


    a- Truyện Kiều là một tác phẩm lớn, có tính quốc tế, có giá trị nhân văn cao độ, không thể giam hãm nó trong một khung cảnh lịch sử nhất định nào. Các vấn đề nêu trên đều có giá trị muôn thuở, lâu dài, liên quan đến nhiều hạng người, trải ra trong nhiều thế hệ. Để hoàn tất tác phẩm, Nguyễn Du phải đầu tư một lượng thời gian tương xứng, nghĩa là rất lớn.

    b- Nguyễn Du chắc chắn đã không viết nổi tác phẩm trong một đêm như đã có người gợi ý. Đây là một tác phẩm dài 3254 câu lục bát, không thể trong một vài trống canh (nghĩa là trong khoảng 4 giờ) mà đọc xong, huống chi là viết.

    c- Quả quyết Nguyễn Du đã viết tác phẩm sau khi đi sứ về, tức sau năm 1814, có thể giải thích được một vài trường hợp sáng tác của nhà thơ, như ông mô tả rừng phong thu đã nhuốm màu quan san, hay nói về nửa rèm tuyết ngậm bốn bề trăng thâu thì phải quan sát tại chỗ, đúng như Học Giả Nguyễn Quảng Tuân đã nghĩ, tức là phải ở Trung Quốc mới có kinh nghiệm trực tiếp để viết. Những suy nghĩ này rất khoa học, nhưng lại phủ nhận truyền thống sáng tác dựa vào ước lệ của các nhà thơ Nho điển sính văn chương Trung Quốc. Ngay trong thơ Nguyễn Trãi, một nhà văn chống Trung Hoa triệt để cũng tràn ngập màu tuyết trắng, nói gì Nguyễn Du. Học Giả Bác Sĩ Trần Văn Tích đã hùng hồn bác bỏ ý kiến của Học Giả Nguyễn Quảng Tuân mặc dầu những ý kiến này, dựa vào văn bản của chính Nguyễn Du, đã có nhiều điểm thuyết phục.


    _____ oOo _____​
    Trang 37

    2- Nguyễn Du đã thai nghén tác phẩm từ 1796 và hoàn tất nó năm 1814

    a- Thai nghén từ 1796, đúng như Trương Chính đã gợi ý, vì vào năm này, Nguyễn Du đã tròn 30 tuổi, cái tuổi đã chín chắn, đã già giặn, đã có khả năng đề cập tới những vấn đề quan trọng của đời người. Nếu cần có văn bản để chứng thực điều này, ta có thể dẫn chứng một số câu thơ chữ Hán trong Thanh Hiên Thi Tập, nhất là những câu thơ 3-4 trong Truyện Kiều: Trải qua một cuộc bể dâu, một cuộc bể dâu là một thế hệ, gồm khoảng 30 năm. Những điều trông thấy: đó là cảnh thất bại nhục nhã của vua Lê, chúa Trịnh, loạn Kiêu Binh năm 1784, sự thăng hà của Vua Quang Trung năm 1792, người vợ yêu quý mệnh chung năm 1795, thái độ ưu ái của Thận Quận Công, tướng Tây Sơn. Mà đau đớn lòng: chữ mà ở đây là một động từ quen thuộc ở miền Trung, như nói mà mắt, rà tay vào mắt làm cho mắt mờ đi, ở đây mà lòng là làm cho tâm hồn nao nao rung động. Và rung động một cách đau đớn. Như vậy, không phải vì vô lý mà Trương Trính đề nghị coi năm 1796 là soạn niên của Truyện Kiều, nhưng nếu muốn cho hợp lý hơn, chúng tôi chủ trương chỉ nên coi năm 1796 là năm khởi sự đi vào sáng tác, có lẽ sau khi Nguyễn Du tình cờ tìm được một bản Kim Vân Kiều Truyện chép tay nào đó.

    Năm 1796 thuộc vào thế kỷ XVIII. Tác phẩm của Nguyễn Du chứa đựng nhiều từ ngữ của thế kỷ XVIII như: Cới trêu, nung sừ, náp, tạn, nghỉ (nó), nghỉ (dễ), xoang, xe châu (nhà táng), giàm buộc, dìu dắng, giòn, vếch đốc, giống (đồ vật), dẫy (đầy), liên lỉ, hãy (còn), vĩ chi, mắng (nghe), dã dề (nhiều), giàm, dằm (êm đằm), dàu (xàu, nhàu), xõ (gày), bờ (nhiều), ngừng (nước mắt), min, dẽ (nghiêm trang), giày giày (hài hòa, đều đặn), tri tri, nhơn nhơn, lụn (tháng lụn), bưng tinh (tinh tinh, rạng đông), giớp nhà (gia biến)...


    _____ oOo _____​
    Trang 38

    Năm 1796, vào khoảng cuối năm, Nguyễn Du rời Quỳnh Côi về Tiên Điền. Những ngày tiếp xúc với đồng bào nơi quê hương cũ đã làm cho Nguyễn Du nhớ lại những từ ngữ địa phương tưởng là đã bị vùi dập trong lòng tiềm thức, như: Nghễ (ngấp nghé), nhằm (đúng), doi (hay soi, thoi), nen, gon (gon lại), bâu (chia bâu). Câu: Trời làm chi cực bấy trời, vang vọng những cung bực của tiếng nói miền Trung. Ngay từ đàn trong câu: Gươm đàn nửa gánh, có thể là chữ giàng (cái cung) của miền Trung. Chữ giàng rất dễ lầm với chữ đàn 彈 đọc âm cuối theo âm hưởng miền Trung. Chúng tôi vẫn duy trì chữ đàn theo ý muốn của Chị Nhung cũng như chúng tôi vẫn tiếp tục suy nghĩ về chữ đàn hay giàng bí hiểm này. Chữ tâng công chúng tôi viết theo chính tả miền Bắc (tâng có g), nhưng trong bản Nôm, chữ tâng được viết là tân, rõ ràng là viết theo cách phát âm miền Trung. Về vần, hơn một câu thơ đã hạ vần in / inh, inh / ang, ghi sâu đậm ảnh hưởng của tiếng nói miền Trung.

    Cuối cùng, Truyện Kiều còn được viết với những từ ngữ cổ. Tỉ dụ: Bâng khuâng (nghĩa cổ là một ý muốn mạnh mẽ), bát ngát là lo bát ngát (lo lắng nhiều điều), chán chường (lõa lồ một cách trơ trẽn ngay trước mắt người xem), liên lì (luôn luôn không ngớt), cho liên (không khi nào ngừng). Những từ với ý nghĩa cổ nay đã dần dần mai một từ thời Nguyễn Du. Ta không lạ gì khi thấy tác giả tùy nghi sử dụng những từ ấy. Nhận xét này tăng cường quan điểm của chúng tôi: Nguyễn Du hoàn thành tác phẩm của ông song song với quá trình biến nghĩa của những từ ngữ ấy, nghĩa là trong một thời gian khá dài. Ta còn thấy trong tác phẩm lẫn lộn những từ đọc theo ngữ âm của hai miền. Tỉ dụ: Từ bể là từ quen thuộc của miền Bắc cũng có khi được viết là biển, từ của miền Trung, nhưng đây là trường hợp không phổ biến.

    b- Nguyễn Du hoàn thành tác phẩm trong những năm 1797-1802-1805

    Đó là thời gian chiến thắng của nhà Nguyễn. Các chúa Nguyễn đã thực hiện được nhiều công trình vĩ đại, và thực sự đã đáp ứng được nhiều nguyện vọng của nhân dân. Trong thời Nguyễn Sơ, Gia Long tiếp tục thành tựu những vĩ tích của tổ tiên, nhưng dần dần, kể từ năm 1803, những cảnh biển dâu mà Nguyễn Du đã trông thấy giữa triều đình nhà Lê, ở Phủ Liêu chúa Trịnh, ngay cả giữa triều đại Tây Sơn, đã làm cho ông đau đớn hơn. Ông ít nói vì không nói thực được lòng mình. Ông luôn luôn xin về quê vì chỉ có ở đó ông mới tìm được sự yên ổn của tinh thần. Bao nhiêu buồn thương nhớ tiếc gậm nhấm linh hồn ông. Ông sống trong một hoàn cảnh bế tắc về mọi phía. Đường đời ông đi đầy cát bụi và không đưa ông đến thiên thai ông ước mơ. Những xôn xao của thời đại mới vang dội trong lòng ông như trong một chiếc bình thủy tinh. Tác phẩm của ông ấp ủ những suy tư ấy, những lo lắng ấy về vận nước, về con người Việt Nam, về loài người. Đào Duy Anh đã theo Nguyễn Văn Thắng quả quyết Nguyễn Du đã hoàn tất tác phẩm tại Huế. Quả thực, cơ ngơi của quan Lại Bộ Thượng Thư dễ tìm thấy ở Huế hơn đâu hết. Giọng nói của Hoạn Bà, của Hoạn Thư là giọng các bà mệ. Một buổi diễn kịch của sinh viên ở Sài Gòn đã cho Hoạn Bà và Hoạn Thư nói giọng Huế rất được các thính giả hoan nghênh. Nguyễn Du đã qua đời tại Làng An Ninh, nơi có Trường Quồc Tử Giám, trường mẹ của họ Mã, có Chùa Linh Mụ, hình ảnh Quan Âm các của Hoạn Thư. Huế còn là kinh đô của biết bao tài tử như Kim Trọng, của biết bao giai nhân như Thúy Kiều. Như vậy, chủ trương của Đào Duy Anh cho Nguyễn Du hoàn thành tác phẩm khi đương làm Đông Các Học Sĩ là hợp lý. Tuy nhiên, nói hoàn thành là đúng. Nói hoàn tất là sai.


    _____ oOo _____​
    Trang 39

    c- Nguyễn Du hoàn tất tác phẩm khi đi sứ về

    Đại Nam Chính Biên Liệt Truyện cho biết Nguyễn Du viết Truyện Kiều khi đi sứ về, tức năm 1814. Lê Thước chấp nhận điều ấy, không ghi chú một sự kiện nào mới. Học Giả Nguyễn Quảng Tuân căn cứ vào bản thân tác phẩm khẳng định Nguyễn Du đã viết Truyện Kiều khi đi sứ về, không nói rõ trong trường hợp cụ thể nào, với hàm ý là Nguyễn Du khởi sự viết khi đã hết bận bịu với việc sứ trình. Như đã nói ở trên, một tác giả, nhất là những tác giả nổi tiếng, không cần phải có cảnh mới có tình. Óc tưởng tượng của họ tăng cường cho những kiến thức sách vở. Họ không cần trông như người thường. Họ thấy như đã bằng trực quan những gì mà người thường chỉ có một cảm giác mông lung mờ nhạt. Nguyễn Du chỉ cần đọc thơ Đường cũng đã đủ nhắc lại tất cả những gì mà thơ Đường chứa đựng. Có điều khi ông sang Trung Quốc, tai nghe mắt thấy những gì xẩy ra bên Trung Quốc, những mầu sắc rực rỡ hơn. Do đó, ông có điều kiện tu chỉnh lại những phác họa đầu tiên của mình. Nói như vậy là chúng tôi chủ trương rằng khi đi sứ, ông đã hoàn thành Đoạn Trường Tân Thanh gần như trọn vẹn. Tiếng đàn mà ông dành cho Thúy Kiều diễn tấu tuy cũng có những nét giống như tiếng đàn của cô Kìm mà ông mô tả trong Long Thành Cầm Giả Ca làm vào thời gian trước khi ông đi sứ, nhưng được tăng cường bằng những âm thanh mới, những tiết điệu phong phú hơn, những tốc độ uyển chuyển với những âm sắc đa dạng mà chắc chắn ông đã được nghe trong những ban nhạc đại hòa tấu ở Bắc Kinh mới có được những kinh nghiệm cụ thể. Nhờ thế, ông đã hoàn tất tác phẩm một cách vinh quang. Phần cuối cùng của tác phẩm với những cung nhạc bắc rộn ràng và với những bữa yến tiệc ánh sáng rực rỡ mang đậm đà màu sắc của cuộc hành trình đi sứ nước người, bầu không khí nhộn nhịp vui tươi khác hẳn cái không gian lạnh lẽo âm u của những phần đầu tác phẩm. Ta có thể căn cứ vào tác phẩm để kết luận, khi đi sứ về, Nguyễn Du đã hoàn tất một tác phẩm mà ông đã khởi sự từ năm 1796, đã hoàn thành suốt những năm từ 1797 đến 1814. Thời gian đó tương ứng với thời gian lưu lạc của Thúy Kiều: 15 năm.

    (Còn Tiếp)
     
    ngd_a likes this.
  14. PH44

    PH44 Người thân Tình Nguyện Viên

    Trang 40
    Bố Cc Truyện Kiều
    Phạm Thị Nhung


    Truyện Kiều gồm 3254 câu thơ viết theo thể lục bát. Nguyễn Du không chia thành từng hồi như trong Kim Vân Kiều Truyện. Tuy nhiên, nếu xét theo mạch lạc của toàn thiên, ta có thể phân ra như sau:

    I- Đoạn Lung (1-8)

    Tác giả trình bày thuyết « tài mệnh tương đố » và « hồng nhan bạc mệnh ».

    II- Chuyện Đời Thúy Kiều (9-3240)

    A- Hội ngộ với Kim Trọng (9-572)

    1- Giới thiệu gia thế Vương Viên Ngoại và tài sắc chị em Kiều (9-38)

    2- Kim, Kiều hội ngộ (39-242)
    - Trong dịp du Xuân, Kiều viếng mộ Đạm Tiên.
    - Giới thiệu tài mạo và tính tình Kim Trọng.
    - Kim, Kiều gặp gỡ.
    - Về nhà, Kiều nghĩ đến Kim Trọng và thắc mắc về số phận của Đạm Tiên.
    - Kiều mộng thấy Đạm Tiên và họa thơ theo chủ đề bạc mệnh.

    3-Kim, Kiều thề ước (243-528)
    - Kim Trọng tương tư Kiều, thuê nhà sau vườn nhà nàng.
    - Trao trả Kiều chiếc kim thoa, Kim đính ước với Kiều.
    - Nhân cha mẹ vắng nhà, Kiều sang thăm Kim -Trọng: Đề thơ, uống rượu, thề bồi, và gảy đàn.
    4- Kim, Kiều tạm biệt vì Kim phải về Liêu Dương thọ tang chú (529-568).



    _____ oOo _____​

    Trang 41


    B- Luân Lạc (569-2738)

    1- Vương Ông mắc nạn, Kiều bán mình (569-776)
    - Gặp cảnh gia biến, Kiều quyết định bán mình.
    - Mã Giám Sinh tới mua Kiều.
    - Vương Ông được tại ngoại đòi liều mình, Kiều phải hết lời khuyên giải.
    - Kiều tâm sự với Thúy Vân về mối tình của nàng và nhờ em thay mình lấy Kim Trọng.

    2- Kiều vào thanh lâu lần thứ nhất (777-1274)
    - Mã Giám Sinh đưa Kiều về Lâm Truy. Biết mình bị lừa vào lầu xanh, Kiều tự vận.
    - Kiều ở Lầu Ngưng Bích. Mắc mưu theo Sở Khanh đi trốn, bị Tú Bà bắt tại trận.
    - Kiều bắt buộc phải tiếp khách.

    3- Kiều lấy Thúc Sinh, mắc phải tay Hoạn Thư (1375-2034)
    - Thúc Sinh lấy Kiều làm vợ.
    - Thúc Ông đưa Kiều ra cửa quan.
    - Hoạn Thư và nỗi lòng "ngứa ghẻ hờn ghen" của nàng.
    - Nhân Thúc Sinh vắng nhà, Hoạn Thư sai Khuyển, Ưng đến bắt cóc Kiều, rồi hành hạ nàng trước mặt Thúc Sinh khi chàng vừa về tới.
    - Kiều được Hoạn Thư cho ra tu ở Quan Âm Các; Thúc Sinh ra thăm, giục nàng bỏ trốn.
    - Kiều ăn cắp chuông vàng khánh bạc của họ Hoạn ra đi.

    4- Kiều vào thanh lâu lần thứ hai (2035-2164)
    - Kiều đến nương náu tại Chiêu Ẩn Am của Sư Giác Duyên.
    - Việc ăn cắp chuông vàng khánh bạc bị lộ, sợ liên lụy, Giác Duyên gởi Kiều cho Bạc Bà.
    - Bạc Bà bán Kiều vào lầu xanh ở Châu Thai.

    5- Kiều lấy Từ Hải. Hết nợ đoạn trường (2165-2738)
    - Kiều được Từ Hải chuộc ra khỏi lầu xanh. Từ lấy nàng làm vợ và coi trọng nàng là một tri kỷ.
    - Từ cho Kiều trả ân, báo oán.
    - Hồ Tôn Hiến dụ hàng. Nghe lời Kiều, Từ giải giáp và bị bắn chết.
    - Kiều bị họ Hồ ép hầu đàn, hầu rượu; sau lại gán nàng cho tên thổ quan. Kiều tự trầm ở Sông Tiền Đường.
    - Đạo Cô Tam Hợp bàn luận về đời Kiều; Sư Giác Duyên được báo trước, vội thuê thuyền vớt nàng.


    _____ oOo _____​
    Trang 42

    C- Đoàn viên (2739-3240)

    1- Kim Trọng trở lại vườn Thúy (2739-2858)
    - Hỏi thăm biết Kiều đã bán mình, Kim tìm đến nhà trú của Vương Ông than khóc.
    - Kim sống với Ông Bà Vương Viên Ngoại và lấy Thúy Vân.

    2- Tìm Thúy Kiều (2859-2966)
    - Kim Trọng và Vương Quan thi đỗ được bổ làm quan.
    - Kim Trọng hỏi thăm tin tức Kiều ở Lâm Truy.
    - Hỏi thăm về Kiều ở Hàng Châu và tưởng nàng đã chết.

    3- Sum họp (2967-3240)
    - Làm lễ chiêu hồn Kiều tại bờ Sông Tiền Đường, được Sư Giác Duyên chỉ dẫn, gia đình và Kim Trọng được gặp lại Kiều.
    - Kiều trở về sum họp với gia đình và kết duyên với Kim.
    - Kim, Kiều đổi tình vợ chồng ra tình bạn.

    III- Đoạn Kết (3241-3254)

    Tác giả nhắc lại thuyết « Tài Mệnh Tương Đố», cho rằng thiện tâm có thể cải được số mệnh.

    (Còn Tiếp)
     
    ngd_a likes this.
  15. PH44

    PH44 Người thân Tình Nguyện Viên

    Trang 43

    Ba Mối Tình của Nàng Kiều
    Phạm Thị Nhung


    I- Trình Bày, Phân Tích Hoàn Cảnh và Sự Diễn Tiến Ba Mối Tình Trong Cuộc Đời Nàng Kiều.

    Thúy Kiều là con gái đầu lòng Ông Bà Vương Viên Ngoại, thuộc một gia đình trưởng giả bậc trung. Nàng có một người em gái là Thúy Vân và một người em trai là Vương Quan. Cả ba chị em đều xấp xỉ tuổi nhau.

    Thúy Kiều có một dung nghi thanh tú, yểu điệu «mai cốt cách», một khuôn mặt diễm lệ, vừa tươi thắm thanh tao, vừa mặn mà quyến rũ.

    Làn thu thủy, nét xuân sơn,
    Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh.
    (c.25-26)

    Tuy sống trong thời đại phong kiến, bị chi phối bởi nền đạo đức khe khắt của Nho Giáo, Kiều vẫn được hưởng sự giáo dục có phần cởi mở của gia đình. Nàng được theo đòi nghiên bút, hội họa, âm nhạc, và ca ngâm. Nhờ có trí thông minh thiên bẩm, lại thêm tính sắc sảo, Kiều trở thành một thi sĩ tài ba mẫn tiệp và một nhạc sĩ xuất chúng.

    Thông minh vốn sẵn tính trời,
    Pha nghề thi họa, đủ mùi ca ngâm.
    Cung thương làu bậc ngũ âm,
    Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trang,
    Khúc nhà tay lựa nên xoang,
    Một cung bạc mệnh lại càng não nhân.
    (c29-34)

    Hai chị em Thúy Kiều và Thúy Vân tuy đã đến tuổi lấy chồng, họ vẫn sống êm đềm dưới gối cha mẹ, trong khung cảnh gia đình nề nếp «trướng rủ, màn che » chưa từng để ý đến một chàng trai nào.


    _____ oOo _____​
    Trang 44

    Rồi một hôm nhân dịp Lễ Tảo Mộ, ba chị em Kiều đi Hội Đạp Thanh. Buổi chiều trên đường về, Kiều đã tận mắt nhìn thấy ngôi mộ hoang phế của Đạm Tiên, và được Vương Quan kể cho nghe về cuộc đời vô duyên bạc phận của người ca nhi tài sắc này. Kiều xúc động mãnh liệt, nước mắt lã chã. Kiều làm thơ viếng mộ rồi than khóc. Nàng không chỉ thương xót riêng cho Đạm Tiên mà còn than khóc chung cho số kiếp đàn bà «Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung» (c.84), và đau đớn, lo sợ cho tương lai:

    Nỗi niềm tưởng đến mà đau,
    Thấy người nằm đó, biết sau thế nào?
    (c109-110)

    Giữa lúc chị em Kiều sửa soạn ra về, tiếng nhạc ngựa đâu đây vẳng lại. Chẳng bao lâu, trước mặt Kiều đã hiện ra một trang văn nhân, trông sao mà tuấn tú, hào hoa phong nhã đến thế «Phong tư tài mạo tột vời» (c.151). «Người quốc sắc» và «Kẻ thiên tài» vừa gặp nhau, họ đã bị hấp lực của nhau thu hút mãnh liệt do sự «đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu» tạo nên.

    Tiếng sét ái tình nổ ra làm cho tâm hồn Kim và Kiều ngây ngất bàng hoàng như mê, như tỉnh. Và rồi vì quá thẹn thùng, e ấp, cả hai đều không dám có một cử chỉ nào biểu lộ, một lời nói nào đổi trao cho nhau:

    Người quốc sắc, kể thiên tài
    Tình trong như đã, mặt ngoài còn e.
    Chập chờn cơn tỉnh, cơn mê…
    (c.163-165)

    Cho mãi tới khi Kim Trọng ra về, Kiều mới đưa mắt lưu luyến nhìn theo:

    Khách đà lên ngựa, người còn nghễ theo
    (c.168)

    Đêm hôm ấy về nhà, Kiều vẫn chưa hết xúc động. Nàng nghĩ đến chàng Kim, bâng khuâng thầm hỏi:

    Người đâu gặp gỡ làm chi
    Trăm năm biết có duyên gì hay không?
    (c.181-182)

    Những mộng mơ yêu đương vẫn không trấn áp nổi nỗi khắc khoải âu lo cho hậu vận do câu chuyện Đạm Tiên gợi ra, nên khi Kiều vừa chợp mắt ngủ thiếp đi, nàng đã nằm mộng thấy Đạm Tiên báo cho biết nàng có tên trong Sổ Đoạn Trường, đúng như lời người thầy tướng đã quyết đoán ngay từ hồi nàng còn thơ ấu:

    Anh hoa phát tiết ra ngoài,
    Nghìn thu bạc mệnh một đời tài hoa.
    (c.415-416)

    Từ đó, Kiều mới mang nặng hội chứng đoạn trường.


    _____ oOo _____​
    Trang 45


    Tuy nhiên, Kiều không phải là một cô gái chỉ biết đa sầu, đa cảm, bi quan yếm thế. Nàng còn có trí thông minh, có tính sắc sảo, liều lĩnh và ý chí phấn đấu mãnh liệt. Nàng luôn luôn vùng vẫy để thoát khỏi số mệnh nghiệt ngã mà giành lấy tự do, hạnh phúc cho đời mình. Khi được tái ngộ cùng Kim Trọng, biết chàng yêu mình chân thành, Kiều đã liều vượt quyền cha mẹ hứa hẹn chuyện trăm năm với chàng, và đã cùng chàng trao khăn, gởi quạt làm tin. Kiều còn khôn ngoan biết nắm cơ hội, tạo hoàn cảnh để xây dựng, nuôi dưỡng cho mối tình của hai người mỗi ngày một thêm gắn bó khăng khít. Nhân dịp bên ngoại có Lễ Sinh Nhật, Kiều kiếm cớ ở nhà một mình để được tự do sang thăm Kim Trọng:

    Xắn tay mở khóa động đào
    Rẽ mây trông tỏ lối vào Thiên Thai.
    (cc. 391-392)

    Hôm ấy, Kiều đã được chiêm ngưỡng nét vẽ già dặn, thần tình của Kim, và đồng thời nàng cũng làm cho Kim phải thán phục về tài «nhả ngọc phun châu» của nàng khi phóng bút đề thơ trên bức tranh tùng của chàng. Lúc tâm sự với Kim về mặc cảm đoạn trường, Kiều chẳng những được Kim hết sức trấn an mà còn đoan kết sẽ sống thác với tình. Chàng quả quyết: ý chí tuổi trẻ sẽ mạnh hơn định mệnh, và nếu có sự bất trắc gì xảy ra trong tương lai, chàng sẽ bảo vệ lòng thành tín của chàng đến cùng dù phải hy sinh tính mệnh:

    «Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều
    Ví dù giải kết đến điều,
    Thì đem vàng đá mà liều với thân!»
    (cc.420-422)

    Kiều sung sướng quá! Tâm hồn lâng lâng như chắp cánh bay lên, và nàng đã cùng người yêu chung hưởng hạnh phúc bên chén rượu nồng «Lòng xuân phơi phới, chén xuân tàng tàng» (c.424).

    Buổi chiều trở lại gia trang, dư hương của hạnh phúc tình ái vừa qua còn làm cho Kiều ngây ngất mãi. Vừa hay tin cha mẹ còn dự tiệc chưa thể về ngay, Kiều mừng cuống quýt. Nàng bất chấp bóng đêm đã bao phủ không gian, chân bước thoăn thoắt vượt qua khu vườn khuya vắng lặng, trở sang nhà Kim Trọng để được thố lộ với chàng tình yêu đang sôi nổi, bồng bột trong lòng:

    Nàng rằng: «Khoảng vắng đêm trường,
    Vì hoa nên phải đánh đường tìm hoa»
    (c.441-442)


    _____ oOo _____
    Trang 46


    Sau nữa là tâm sự với chàng về nỗi lo lắng cho hạnh phúc cùng ai chẳng được bền lâu:

    «Bây giờ rõ mặt đôi ta,
    Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao».
    (c.449-452)

    Thế rồi Kim Trọng và Kiều đã đi đến quyết định làm lễ thề ước «Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương» (c. 452). Trong bầu trời đêm ấy, bóng trăng sáng vằng vặc như chứng giám cho tấm lòng chí thiết, chí thành của họ:

    Vừng trăng vằng vặc giữa trời,
    Đinh ninh hai miệng một lời song song
    Tóc tơ căn vặn tấc lòng,
    Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương.
    (c449-452)

    Đêm còn dài, đôi tình nhân cũng chưa muốn vội xa nhau. Kiều đã nhận lời thỉnh cầu tha thiết của Kim ở lại đánh đàn cho chàng nghe. Khi bản đàn vừa dứt, dường như Kim Trọng đã bị sóng nhạc, sóng tình lôi cuốn làm cho chàng chuếnh choáng, không tự chủ được nữa «Xem trong âu yếm có chiều lả lơi» (c.500). Kiều giật mình tỉnh hồn, nàng vội vàng lên tiếng:

    … Đừng lấy làm chơi
    Dẽ cho thưa hết một lời đã nao…
    …..
    Ra tuồng trong bộc, trên dâu,
    Thì con người ấy, ai cầu làm chi!
    Phải điều ăn xổi ở thì,
    Tiết trăm năm nỡ bỏ đi một ngày!
    (c.501-522)

    để cản ngăn Kim, giúp chàng thoát khỏi cơn sa ngã yếu lòng; và đồng thời Kiều muốn cho Kim hiểu rõ về quan niệm tình yêu đoan chính của mình.

    Kim Trọng tỉnh ngộ. Chính vì Kiều và Kim vượt qua được cơn thử thách này, họ hiểu rõ nhau hơn, nhờ đó tình yêu của họ càng thêm son sắt.

    Sau đêm hạnh phúc tuyệt vời đó, nhiều biến cố dồn dập xảy ra: Kim Trọng phải về Liêu Dương thọ tang chú; Vương Ông bị thằng bán tơ vu oan; bọn sai nha ập vào nhà. Chúng một mặt lợi dụng cơ hội vơ vét tiền của, một mặt đánh đập, tra khảo Vương Ông và Vương Quan tàn nhẫn rồi bắt đem đi.


    _____ oOo _____​
    Trang 47

    Trước cảnh gia biến đòi hỏi phải được giải quyết cấp bách, Kiều đành gạt lệ hy sinh mối tình đầu với chàng Kim, chấp nhận bán mình cho Mã Giám Sinh, một khách phương xa, lấy 400 lạng bạc để có tiền lo lót đó đây, cứu cha già em dại khỏi vòng lao lý, và bảo vệ toàn vẹn cho gia đình.

    Lúc đầu hăng say với lý tưởng hy sinh, Kiều chẳng quản gì đến thân mình, nhưng nay gia đình đã tạm trở về đời sống bình yên như xưa, đêm hôm trước khi phải về với họ Mã, Kiều mới cảm nhận được hết những nỗi cay đắng cho mối duyên tình giữa nàng với chàng Kim. Kiều đã ngồi khóc suốt đêm. Phận nàng ra sao nàng cũng cam lòng, chỉ thương cho chàng Kim đã vì nàng mà mối tình phải dang dở:

    Phận dầu, dầu vậy cũng dầu
    Xót lòng đeo đẳng bấy lâu một lời.
    Công trình kể biết mấy mươi
    Vì ta khăng khít cho người dở dang.
    (c.697-700)

    Kiều đã khẩn khoản nhờ Thúy Vân thay nàng lấy Kim Trọng để trả nghĩa cho chàng. Sau khi trao vật làm tin cho em, Kiều đau đớn quá, nàng có cảm tưởng như mình đã chết. Từ đây, hồn oan vất vưởng. Nàng cầu xin sự cảm thông và tha thứ của người yêu:

    Hồn còn mang nặng lời thề
    Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai.
    Dạ đài cách mặt, khuất lời
    Rảy xin chén nước cho người thác oan.
    (c.745-748)

    Kiều gào khóc thương tiếc cho mối duyên tình ngắn ngủi nhưng «muôn vàn ái ân» của mình, rồi nàng gởi lời lạy tạ Kim Trọng. Sự đau đớn lên đến cực điểm, Kiều đã chết ngất.

    Từ đấy, Kiều bắt đầu bước vào cuộc đời đoạn trường lưu lạc quê người với trăm cay nghìn đắng suốt 15 năm. Suốt 15 năm ấy không một cảnh ngộ nào không gợi cho nàng nhớ nhung đến Kim Trọng.

    Khi về trú phường với Mã Giám Sinh, Kiều biết mình rơi vào tay kẻ tiểu nhân. Nàng có ngay cái tâm lý hối tiếc là đã không trao thân cho người yêu từ đêm ấy:

    Biết thân đến bước lạc loài,
    Nhị đào thà bẻ cho người tình chung.
    (c.791-792)

    Trên đường theo họ Mã đi Lâm Truy, vừa nhìn thấy trăng tỏ rạng trên nền trời, Kiều chạnh nhớ tới Kim Trọng, tới lời thề nguyền cùng ai mà không khỏi tự thẹn:

    Dặm khuya gút tạnh mù khơi
    Thấy trăng mà thẹn những lời non sông.
    (c.915-916)


    _____ oOo _____
    Trang 48

    Theo Mã Giám Sinh về tới Lâm Truy, Kiều mới hay mình bị lừa vào ngôi nhà hành lạc của Tú Bà. Quá đau đớn, nàng đã rút dao liều mình. Tú Bà hoảng hồn, rối rít rước thầy thuốc men rồi lập mưu đưa Kiều ra ở Lầu Ngưng Bích, mụ hứa cho Kiều ở yên đó, chờ tìm được người xứng đáng sẽ gả cho.

    Kiều, thân gái bơ vơ, bị giam lỏng lâu ngày trên lầu vắng, bốn bề cảnh giới bát ngát, quạnh hiu khiến tâm trí nàng dường như lúc nào cũng bị căng thẳng. Bao nhiêu nỗi buồn tủi, cô đơn, nhớ nhung, lo lắng cứ thay nhau hiện ra gậm nhấm, đày đọa tinh thần nàng. Nhất là mỗi khi nhớ đến Kim Trọng, Kiều lại cảm thấy đau đớn, day dứt không nguôi, vì giờ này Kim Trọng còn ở Liêu Dương. Chàng vẫn một niềm tin yêu, chờ đợi nàng. Chàng có ngờ đâu nàng đã vì gia biến phải bán mình đi xa. Nàng đã phụ chàng rồi! Dẫu sao Kiều vẫn đoan chắc với lòng là dù hoàn cảnh có đẩy đưa đến thế nào, tình yêu chung thủy của nàng đối với chàng Kim sẽ không bao giờ đổi thay:

    Bên trời góc bể bơ vơ,
    Tấm son gột rửa bao giờ cho phai.
    (c.1041-1042)

    Lại những khi Kiều nghĩ đến tương lai đầy đe dọa, bất trắc, vì nàng hiện đang sống trong nanh vuốt của Tú Bà, một mụ dầu đanh đá, tráo trở, hiểm độc, có đời nào lại buông tha nàng? Kiều lo sợ quá tưởng đến phát điên, nhưng rồi nàng cố phấn chấn tinh thần để tìm đường thoát thân.

    Cũng vì quá nóng lòng muốn rời khỏi Lầu Ngưng Bích, Kiều đã nhẹ dạ nghe lời dụ dỗ của Sở Khanh, theo hắn đi trốn để cuối cùng rơi vào bẫy của Tú Bà. Bắt được quả tang Kiều phá ước, mụ Tú đánh cho Kiều một trận thừa sống thiếu chết, đến nỗi Kiều chỉ vì muốn cầu lấy sự sống mà phải hứa với mụ từ rày xin chừa «tấm lòng trinh bạch» . Bắt đầu từ đấy, Kiều phải sống kiếp gái giang hồ:

    Biết bao bướm lả, ong lơi
    Cuộc say đầy tháng, trận cười suốt đêm
    Dập dìu lá gió, cành chim
    Sớm đưa Tống Ngọc, tối tìm Tràng Khanh.
    (c.1229-1232)

    «Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh» (c.1233) là những giờ phút ngoại giới tĩnh lặng nhất. Chỉ có ý thức của Kiều đối diện với thân xác ê chề của nàng, Kiều đau đớn quằn quại và không khỏi cái tâm lý so sánh hiện tại với những ngày sống êm đềm hạnh phúc ở nhà khi xưa, để rồi càng thêm chua xót:

    Khi xưa phong gấm rủ là
    Giờ sao tan tác như hoa giữa đường?
    Mặt sao dày gió, dạn sương
    Thân sao bướm chán, ong chường bấy thân?
    (c.1235-1238)


    _____ oOo _____
    Trang 49


    Vì thế, Kiều sống trong cuộc vui mà hồn héo hắt, sống giữa cảnh tấp nập mà lòng cô đơn:

    Vui là vui gượng kẻo là
    Ai tri âm đó mặn mà với ai?
    Thờ ơ gió trúc, mưa mai
    Ngẩn ngơ trăm nỗi, giùi mài một thân.
    (c.1247-1250)

    Kiều chỉ còn biết đêm đêm hướng vọng về quê hương để gửi niềm thương nhớ đến những người thân. Kiều lại cảm thấy tủi hận biết bao nhiêu, cô độc biết nhường nào, vì giờ đây cha mẹ già ở nhà tuy vẫn nhớ thương Kiều, nhưng là thương nhớ đứa con gái đi lấy chồng xa, chứ không hề thương nhớ một con Kiều làm đĩ ! Còn chàng Kim, thời gian cách xa đã khá lâu, chắc chắn chàng đã trở lại vườn Thúy và hay tin nàng nay đã thuộc về tay người khác «Cành xuân đã bẻ cho người chuyền tay» (c.1262). Thế là tội của nàng, Kim đã biết rồi, chàng có thấu cho tình cảnh của nàng chăng?

    Nhớ lời nguyện ước ba sinh
    Xa xôi ai có thấu tình chăng ai?
    (c.1259-1264)

    Dẫu sao, bản án có nặng đến đâu, nạn nhân vẫn cảm thấy được an lòng hơn là lúc chưa được xét xử. Vả lại giờ này, Kiều hy vọng Thúy Vân đã gá nghĩa cùng Kim Trọng:

    Tình sâu mong trả nghĩa dày
    Hoa kia đã chắp cánh này cho chưa?
    (c.1263-1264)

    Còn Kiều, nay đã là gái lầu xanh, đâu còn xứng đáng với chàng? Chính vì Kiều có cái tâm lý và sự suy nghĩ như thế nên kể từ ngày Kiều phải sống ở lầu xanh trở đi, tình cảm của Kiều với Kim Trọng có phần lắng dịu, không còn khắc khoải, day dứt như xưa nữa.

    Giữa lúc Kiều đang sống trong tâm trạng buồn tủi cô độc cùng tột thế ấy thì Thúc Sinh xuất hiện. Vốn người ở Vô Tích, chàng cũng thuộc nòi thư hương nhưng chưa đỗ đạt và đang theo cha mở một ngôi hàng buôn bán ở Lâm Truy. Nghe danh tài sắc Thúy Kiều, Thúc tìm đến. Vừa gặp Kiều, nhan sắc não nùng của nàng đã làm Thúc say đắm ngay:

    Trướng tô giáp mặt hoa đào
    Vẻ nào chẳng mặn, nét nào chẳng ưa.
    Hải Đường mơn mởn cành tơ
    Ngày Xuân càng gió càng mưa, càng nồng.
    Nguyệt Hoa, hoa nguyệt não nùng
    Đêm xuân ai dễ cầm lòng được chăng?
    (c.1281-1298)


    _____ oOo _____
    Trang 50

    Thúc quăng tiền ra mua chuộc Tú Bà để được cùng Kiều miệt mài trong cuộc truy hoan:

    Khi gió gác, khi trăng sân
    Bầu tiên chuốc rượu, câu thần nối thơ.
    Khi hương sớm, khi trà trưa
    Bàn vây điểm nước, đường tơ hòa đàn.
    (c.1295-1298)

    Sống ở thanh lâu, giữa những kẻ phàm phu tục tử thì một văn nhân có thi tài và giỏi đàn, kể cũng xứng đáng với tài sắc Thúy Kiều. Mối cảm tình quyến luyến giữa hai người âu cũng là điều dễ hiểu:

    Lạ chi thanh khí lẽ hằng
    Một dây một buộc ai giằng cho ra.
    (c.1287-1288)

    Thấy Thúc Sinh ăn chơi ra dáng con nhà cự phú:

    Thúc Sinh quen thói bốc rời
    Trăm nghìn đổ một trận cười như không.
    (c.1303-1304)

    Kiều nghĩ ngay đến chuyện Thúc có thể giúp nàng thoát khỏi lầu xanh. Thế nên, Kiều đã cố tình chiều chuộng, quyến rũ Thúc, ngay cả tạo dịp cho Thúc được ngắm nhìn tấm thân ngà ngọc lồ lộ như tượng đúc của nàng khi nàng tắm:

    Rõ ràng trong ngọc, trắng ngà
    Giày giày sẵn đúc một tòa thiên nhiên.
    (c.1311-1312)

    Quả nhiên với tài sắc nhường ấy, lại thêm tính tình đằm thắm, nết na của nàng, Kiều đã hoàn toàn chinh phục được, khiến chàng Thúc đã bỏ hẳn ý định «trăng gió vật vờ» để tính tới chuyện «xây dựng đá vàng» với nàng. Tuy nhiên, qua thói ăn chơi phóng túng, vô độ, và thói si tình đắm sắc say hương của họ Thúc bấy nay, Kiều thừa biết Thúc là một người đàn ông thiếu bản lãnh, thành thực nhưng hời hợt. Vì thế, nàng đã phải đặt ra bao nhiêu vấn đề khó khăn trước mắt từ chuyện tình yêu của Thúc có bền mãi chăng, đến chuyện vợ cả Thúc ghen tuông, chuyện Thúc Ông không chấp nhận… để buộc Thúc phải liệu mà thu xếp sao cho ổn thỏa. Thúc Sinh đã cam kết, thề thốt đủ điều Kiều mới chấp nhận.


    _____ oOo _____​
    Trang 51

    Từ ngày được Thúc Sinh chuộc ra khỏi thanh lâu của Tú Bà, Kiều mới được hưởng những tháng năm êm đềm, hạnh phúc của cuộc sống gia đình:

    Một nhà sum họp trúc mai
    Càng sâu nghĩa bể, càng dài tình sông.
    Hương càng đượm, lửa càng nồng
    Càng xuê vẻ ngọc, càng lồng màu sen.
    (c.1381-1384)

    Huệ lan sức nức một nhà
    Từng cay đắng lại mặn mà hơn xưa.
    (c.1471-1472)

    Khi chung sống với Thúc Sinh, Kiều đã tính ngay đến chuyện «Sao cho trong ấm thì ngoài mới êm» (c.1506), nên đã hết lời khuyên Thúc về quê thú thực cùng Hoạn Thư, vợ cả Thúc, để mong được hợp thức hóa thân phận lẽ mọn của mình «Lớn ra uy lớn, tôi đành phận tôi» (c.1512). Nhưng là người đàn ông nhu nhược, sợ vợ; về tới nhà chàng cứ một mực giấu quanh khiến nàng Hoạn cả giận và cả ghen mới rắp tâm tìm mưu độc trả thù.

    Hoạn Thư ỷ vào thế cha làm quan lớn (Thượng Thư), sai bọn tôi tớ đắc lực đến đốt nhà, phả thuốc mê Kiều rồi bắt về cho Hoạn bà đày đọa, dạy dỗ. Sau Kiều bị Hoạn Bà ép vào vai thị tỳ rồi cho sang hầu tiểu thư họ Hoạn. Kịp khi từ Lâm Truy trở về, Hoạn Thư bắt Kiều ra chào ông chủ rồi thị oai la hét, hành hạ Kiều tàn tệ. Nàng Hoạn cố tình làm cho người chồng trăng hoa, bội bạc và người tình địch phải đau đớn ê chề, không còn dám tơ tưởng đến ngày sum họp.

    Kiều và Thúc Sinh ở thế kẹt «con ở» / «chúa nhà» nên đành ngậm đắng nuốt cay không dám nhận nhau.

    Trước trận đòn ghen ghê gớm của họ Hoạn, Thúc Sinh tuy thương Kiều nhưng chỉ biết đối phó bằng nước mắt. Khi Kiều ra giữ chùa, chép kinh tại Quan Âm Các, Thúc Sinh lẻn đến thăm; biết mình không thể che chở được cho Kiều, chàng đành dứt tình, khuyên nàng đi trốn:

    «Liệu mà xa chạy, cao bay
    Ái ân ta, có ngần này mà thôi».
    (c.1971-1972)

    Kiều vội vàng tìm đường lánh thân nơi Chiêu Ẩn Am của Sư Giác Duyên. Ít lâu sau, nàng bị hai cô cháu nhà họ Bạc lừa bán vào một hành viện ở Châu Thai.


    _____ oOo _____​
    Trang 52

    Kiều sống ở Châu Thai đã lâu năm, nàng quá chán chường, thất vọng vì không tìm ra được một khách làng chơi nào đáng mặt trượng phu, khả dĩ cứu được nàng thoát khỏi kiếp sống ô nhục nơi đây và bảo đảm được cho nàng một cuộc sống yên bình. Thế rồi một hôm Từ Hải, một hiệp sĩ từ biên thùy đột ngột qua chơi. Sự xuất hiện bất ngờ của Từ Hải với tướng mạo uy nghi, lẫm liệt khác thường khiến Kiều nhìn thoáng đã đoán ra ngay đây là một bậc anh hùng, hào kiệt trong đời. Nàng không khỏi sửng sốt, xúc động:

    Râu hùm, hàm én, mày ngài
    Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao
    Đường đường một đấng anh hào!
    (c.2167-2170)

    Còn Từ Hải, một anh hùng cô đơn, từ bao lâu nay chàng vẫn để tâm tìm một hồng nhan tri kỷ, nên khi nghe tiếng nàng Kiều, chàng chú ý ngay tới tính nết khí khái của người kỹ nữ này và lập tức tìm đến. Thế rồi «trai anh hùng», «gái thuyền quyên» vừa giáp mặt, cả hai tự nhiên quyến luyến nhau ngay:

    Thiếp danh đưa đến lầu hồng
    Hai bên cùng liếc, hai lòng cùng ưa.
    (c.2177-2178)

    Sau buổi trò chuyện tâm đắc và đầy hào hứng giữa Từ Hải và Thúy Kiều, cả hai đều bị hấp lực của nhau thu hút mãnh liệt hơn nữa. Từ Hải đã tìm thấy ở Kiều một phụ nữ khả ái, vừa dịu dàng, duyên dáng, vừa thông minh tế nhị, và nhất là một người tri kỷ, đã cảm thông sâu sắc và hiểu rõ được giá trị đích thực của Từ, một anh hùng đang mang hoài bão lập nên sự nghiệp phi thường:

    Cười rằng: «Tri kỷ trước sau mấy người?
    Khen cho con mắt tinh đời
    Anh hùng đoán giữa trần ai mới già»!
    (c.2200-2202)

    Còn Kiều cũng tìm thấy ở Từ Hải một người tri kỷ tâm phúc, vừa chân tình vừa biết quý mến phẩm cách thanh cao của nàng. Hơn nữa, Từ còn là một đấng trượng phu độ lượng, hào hiệp, sẽ là vị cứu tinh của đời nàng, nên nàng đã không ngần ngại phó thác thân phận:

    Thưa rằng: «Lượng cả bao dong
    Tấn dương được thấy mây rồng có phen
    Rộng thương cỏ nội hoa hèn
    Chút thân bèo bọt dám phiền mai sau»!
    (c.2195-2198)

    Từ buổi kỳ ngộ ấy, cuộc đời của Thúy Kiều hoàn toàn đổi thay, và một thiên tình sử mới bắt đầu.


    _____ oOo _____​
    Trang 53

    Từ Hải chuộc Kiều ra khỏi hành viện Châu Thai, lấy nàng làm vợ. Họ đã trở thành một cặp vợ chồng lý tưởng, xứng đôi vừa lứa, tâm đầu ý hiệp, và cuộc sống của họ tràn đầy hạnh phúc:

    Trai anh hùng, gái thuyền quyên
    Phỉ nguyền sánh phượng, đẹp duyên cưỡi rồng.
    (c.2211-2212)

    Sau nửa năm ái ân mặn nồng, Từ Hải lên đường xây dựng sự nghiệp. Từ đi rồi, Kiều như mất hết cả nguồn vui, cả nghị lực sống. Nàng tự giam mình trong phòng vắng, sống đời cấm cung, đêm ngày héo hắt chờ đợi:

    Nàng từ chiếc bóng song mai
    Đêm thâu đăng đẳng nhặt gài then mây.
    Sân rêu chẳng vẽ dấu giày
    Cỏ cao hơn thưởc, liễu gầy vài phân.
    (c.2231-2234)

    Thời gian này, Kiều không hề nghĩ tới Thúc Sinh, còn Kim Trọng thì nàng vẫn tưởng nhớ, nhưng nỗi niềm tưởng nhớ chàng Kim đã thấy có sự phai nhạt rõ rệt:

    Tiếc thay chút nghĩa cũ càng
    Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng.
    (c.2241-2242)

    «
    Tình xưa» nay đã đổi thành «nghĩa cũ». Trên mười năm trôi qua rồi còn gì! Kiều đoán ở quê nhà, Thúy Vân lấy Kim Trọng cũng đã «tay bồng, tay mang». Nàng chẳng nên xen vào hạnh phúc gia đình của họ nữa (dẫu chỉ ở trong tâm tưởng). Huống chi giờ đây Kiều đã là người từng trải, và nàng còn có Từ Hải, một người chồng anh hùng rất mực yêu thương, chiều chuộng nàng. Kiều đang mong Từ trở về với tất cả tấm lòng ngưỡng mộ, tha thiết:

    Cánh hồng bay bổng tuyệt vời
    Đã mòn con mắt phương trời đăm đăm.
    (c.2247-2248)

    Khi Từ Hải đã lập nên sự nghiệp vẻ vang, có binh quyền trong tay, Kiều được Từ phong làm Phu Nhân và cho quan quân đi đón rước về đại bản doanh với tất cả nghị vệ cao sang nhất của một bậc vương phi về nhà chồng. Kiều không những được Từ Hải cho hưởng một cuộc sống giàu sang, xa hoa sung sướng vật chất, nàng còn được Từ chăm sóc đến cả đời sống tinh thần. Từ đã cho lập riêng một tòa án để giúp Kiều trả xong món nợ ân oán, giải được cho nàng bao nỗi uất kết trong lòng. Kiều mãn nguyện quá đã sụp xuống lạy Từ để tỏ lòng thâm tạ:

    «Chút thân bồ liễu nào mong có rày!
    Trộm nhờ sấm sét ra tay
    Tấc riêng như cất gánh đầy đổ đi.
    Khắc xương chíp dạ xiết chi
    Dễ đem gan óc đền nghì trời mây»!
    (c.2423-2426)


    _____ oOo _____
    Trang 54

    Kiều còn cảm động xiết bao trước lời nói đầy nghĩa tình của Từ Hải khi chàng ngỏ ý sẽ có ngày giúp nàng thỏa được nguyện ước trở về quê hương, gặp lại mẹ cha:

    Xót nàng còn chút song thân
    Bấy nay kẻ Việt, người Tần cách xa.
    Sao cho muôn dặm một nhà
    Cho người thấy mặt là ta cam lòng.
    (c. 2435-2436)

    Năm năm Từ Hải lập triều đình riêng «nghênh ngang một cõi biên thùy» (c. 2447) cũng là năm năm Kiều được sống đời hạnh phúc, cực kỳ cao sang quyền quý bên cạnh Từ Hải. Nhưng rồi một biến cố đã xảy ra làm đảo lộn tất cả. Tổng Đốc Hồ Tôn Hiến được vua nhà Minh ủy nhiệm cho việc đem binh đi chinh phục Từ, và họ Hồ đã dụng kế chiêu hàng. Từ Hải lúc đầu đã khẳng khái chối từ, sau vì quá tin yêu Kiều nên đã nghe lời nàng quy thuận triều đình để rồi đưa tới cái chết oan ức của chàng.

    Kiều cố thuyết phục Từ Hải ra hàng cũng chỉ vì nàng tin tưởng vào lời hứa hẹn của vị trọng thần họ Hồ. Vả lại, nàng cũng nghĩ đây là dịp tốt cho Từ Hải, một anh hùng sứ quân trở về với đại nghĩa dân tộc. Như thế, vừa tránh cho đất nước khỏi nạn đao binh, vừa là dịp để Từ Hải lập công đường đường chính chính; rồi nàng sẽ được trở về cố hương, vợ chồng được vinh hiển, mẹ cha cũng được vẻ vang, và nàng sẽ không bao giờ còn bị lưu lạc, gian truân nữa.

    Kiều nào có ngờ đâu việc nàng thuyết phục Từ Hải quy thuận triều đình lại đưa đến hậu quả khốc liệt nhường ấy! Từ Hải khi giải giáp quy hàng đã bị họ Hồ lừa, cho quân đánh úp. Từ bị bắn chết giữa trận tiền. Trước sự tấn công ám muội của đối phương, Từ Hải đã không gục xuống mà chết đứng «Nhơn nhơn còn đứng chôn chân giữa vòng» (c.2520), chỉ tới khi Kiều biết chuyện, chạy đến gục xuống chân Từ gào khóc đến ngất đi, xác thân Từ mới đổ xuống.

    Khóc rằng: «Trí dũng có thừa
    Bởi nghe lời thiếp nên cơ hội này»!
    (c.2355-2356)

    (Còn Tiếp)
     
    ngd_a likes this.
  16. PH44

    PH44 Người thân Tình Nguyện Viên

    Trang 55

    Ba Mối Tình của Nàng Kiều
    (Tiếp Theo)
    Phạm Thị Nhung

    Trước cái chết oan ức do chính mình gây ra cho Từ Hải, một vị đại ân nhân và cũng là người chồng mà Kiều hết dạ yêu thương, cảm phục, Kiều đau đớn quá đến tê dại cả thần trí lẫn xác thân. Khi Hồ Tôn Hiến bắt Kiều hầu đàn trong bữa tiệc khao quân của hắn, Kiều đã mụ đi. Nàng đánh đàn như kẻ say đồng. Nàng cứ xiết mãi mấy ngón tay trên bốn dây tơ. Mỗi lúc một mạnh thêm cho bật lên, cho trào ra tất cả những đớn đau, oán hận của nàng, đến nỗi năm đầu ngón tay nứt ra, máu nhỏ xuống thấm ướt cả bốn dây đàn mà nàng nào có hay biết!

    Sáng hôm sau, họ Hồ sợ mang tiếng, vội ép gả Kiều cho tên thổ quan. Nàng bị điệu thẳng xuống thuyền đem đi. Khi Kiều vừa kịp tỉnh hồn và đối diện với thực tế, nàng cảm thấy nhục nhã ê chề quá, ân hận sâu xa quá. Nàng chỉ còn biết nhảy xuống sông để kết liễu đời mình cho trọn nghĩa, trọn tình với Từ Hải:

    Rằng: «Từ Công hậu đãi ta
    Chút vì việc nước hóa ra phụ lòng.
    Giết chồng mà lại lấy chồng
    Mặt nào còn đứng ở trong cõi đời?
    Thôi thì một thác cho rồi
    Tấm lòng phó mặc trên trời, dưới sông»!
    (c.2629-2634)

    Rất may, Sư Giác Duyên được Tam Hợp Đạo Cô đoán trước cho biết việc này nên đã thuê người thả thuyền giăng lưới vớt được Kiều lên và cho nàng tu ở am của bà. Nhờ vậy, Kiều có ngày được gặp lại gia đình và người yêu xưa.

    Suốt 15 năm Kiều trôi giạt quê người khốn khổ như thế, tình cảnh Kim Trọng cũng rất đáng thương. Từ Liêu Dương trở lại vườn Thúy, được biết Kiều vì gia biến phải bán mình đi xa, Kim vô cùng đau đớn:

    Đau đòi đoạn, khóc đòi hồi
    Tỉnh rồi lại khóc, khóc rồi lại mê.
    (c.2797-2798)

    Vì đã đính ước với Kiều, Kim tự thấy có bổn phận nuôi dưỡng Ông Bà Vương Viên Ngoại thay nàng. Chàng còn nghe theo lời dặn dò của Kiều, chấp nhận lấy Thúy Vân để làm tròn chữ hiếu với cha mẹ. Tuy đã nên duyên với Thúy Vân, lúc nào Kim cũng thương nhớ Kiều:

    Càng âu duyên mới, càng dào tình xưa.
    Nỗi nàng nhớ đến bao giờ,
    Tuôn châu đòi đoạn, vò tơ trăm vòng.
    (c.2846-2848)

    Mỗi khi nghĩ đến Kiều còn đang lưu lạc, chàng không thể đành lòng. Chàng quyết tâm tìm kiếm… Nào là:

    Đinh ninh mài lệ chép thơ
    Cắt người tìm tõi, đưa tờ nhắn nhe.
    (c.2825-2826)

    Nào là:

    Rắp mong treo ấn từ quan
    Mấy sông cũng lội, mấy ngàn cũng pha.
    Giấn mình trong áng can qua
    Vào sinh ra tử họa là thấy nhau.
    (c.2939-2942)

    Cuối cùng, sau mười lăm năm thương nhớ, tìm kiếm khổ công, Kim Trọng đã được tái hợp với Kiều.

    Trong bữa tiệc đoàn viên, Kiều vì nể lòng cha mẹ quá thương xót, muốn nàng kết duyên với Kim Trọng để có nơi nương tựa; và nhất là trước mối tình sâu sắc, thủy chung của Kim, cũng như nàng không muốn mình là kẻ bội ước nên đã chấp thuận chính thức cùng chàng nên duyên đôi lứa:

    Cùng nhau giao bái một nhà
    Lễ đà đủ lễ, đôi đà đủ đôi.
    (c.3133-3134)

    Tuy nhiên, Kiều cương quyết chối từ sự chung thân với Kim. Vì sao? Theo Kiều, nàng muốn giữ mãi cái kỷ niệm thiên liêng của tấm ái tình trinh trắng, thơ ngây, lý tưởng thuở ban đầu. Tấm ái tình ấy đã được tạo nên bằng tất cả sự thanh cao của tình cảm, sự chí thành của tâm hồn, không hề bợn nhơ bởi nhục cảm. Vì thế, Kiều mới dám nói với Kim Trọng đến chữ trinh của nàng “Chữ trinh còn một chút này


    oOo​
    Trang 55


    Trước cái chết oan ức do chính mình gây ra cho Từ Hải, một vị đại ân nhân và cũng là người chồng mà Kiều hết dạ yêu thương, cảm phục, Kiều đau đớn quá đến tê dại cả thần trí lẫn xác thân. Khi Hồ Tôn Hiến bắt Kiều hầu đàn trong bữa tiệc khao quân của hắn, Kiều đã mụ đi. Nàng đánh đàn như kẻ say đồng. Nàng cứ xiết mãi mấy ngón tay trên bốn dây tơ. Mỗi lúc một mạnh thêm cho bật lên, cho trào ra tất cả những đớn đau, oán hận của nàng, đến nỗi năm đầu ngón tay nứt ra, máu nhỏ xuống thấm ướt cả bốn dây đàn mà nàng nào có hay biết!

    Sáng hôm sau, họ Hồ sợ mang tiếng, vội ép gả Kiều cho tên thổ quan. Nàng bị điệu thẳng xuống thuyền đem đi. Kiều vừa kịp tỉnh hồn, đối diện với thực tế, nàng cảm thấy nhục nhã ê chề quá, ân hận sâu xa quá. Nàng chỉ còn biết nhảy xuống sông để kết liễu đời mình cho trọn nghĩa, trọn tình với Từ Hải:

    Rằng: «Từ Công hậu đãi ta
    Chút vì việc nước hóa ra phụ lòng.
    Giết chồng mà lại lấy chồng
    Mặt nào còn đứng ở trong cõi đời?
    Thôi thì một thác cho rồi
    Tấm lòng phó mặc trên trời, dưới sông»!
    (c.2629-2634)

    Rất may, Sư Giác Duyên được Tam Hợp Đạo Cô đoán trước cho biết việc này nên đã thuê người thả thuyền giăng lưới vớt được Kiều lên và cho nàng tu ở am của bà. Nhờ vậy, Kiều có ngày được gặp lại gia đình và người yêu xưa.

    Suốt 15 năm Kiều trôi giạt quê người khốn khổ như thế, tình cảnh Kim Trọng cũng rất đáng thương. Từ Liêu Dương trở lại vườn Thúy, được biết Kiều vì gia biến phải bán mình đi xa, Kim vô cùng đau đớn:

    Đau đòi đoạn, khóc đòi hồi
    Tỉnh rồi lại khóc, khóc rồi lại mê.
    (c.2797-2798)

    Vì đã đính ước với Kiều, Kim tự thấy có bổn phận nuôi dưỡng Ông Bà Vương Viên Ngoại thay nàng. Chàng còn nghe theo lời dặn dò của Kiều, chấp nhận lấy Thúy Vân để làm tròn chữ hiếu với cha mẹ. Tuy đã nên duyên với Thúy Vân, lúc nào Kim cũng thương nhớ Kiều:

    Càng âu duyên mới, càng dào tình xưa.
    Nỗi nàng nhớ đến bao giờ,
    Tuôn châu đòi đoạn, vò tơ trăm vòng.
    (c.2846-2848)

    Mỗi khi nghĩ đến Kiều còn đang lưu lạc, chàng không thể đành lòng. Chàng quyết tâm tìm kiếm… Nào là:

    Đinh ninh mài lệ chép thơ
    Cắt người tìm tõi, đưa tờ nhắn nhe.
    (c.2825-2826)



    _____ oOo _____
    Trang 56

    Nào là:

    Rắp mong treo ấn từ quan
    Mấy sông cũng lội, mấy ngàn cũng pha.
    Giấn mình trong áng can qua
    Vào sinh ra tử họa là thấy nhau.
    (c.2939-2942)

    Cuối cùng, sau mười lăm năm thương nhớ, tìm kiếm khổ công, Kim Trọng đã được tái hợp với Kiều.

    Trong bữa tiệc đoàn viên, Kiều vì nể lòng cha mẹ quá thương xót, muốn nàng kết duyên với Kim Trọng để có nơi nương tựa; và nhất là trước mối tình sâu sắc, thủy chung của Kim, cũng như nàng không muốn mình là kẻ bội ước nên đã chấp thuận chính thức cùng chàng nên duyên đôi lứa:

    Cùng nhau giao bái một nhà
    Lễ đà đủ lễ, đôi đà đủ đôi.
    (c.3133-3134)

    Tuy nhiên, Kiều cương quyết chối từ sự chung thân với Kim. Vì sao? Theo Kiều, nàng muốn giữ mãi cái kỷ niệm thiên liêng của tấm ái tình trinh trắng, thơ ngây, lý tưởng thuở ban đầu. Tấm ái tình ấy đã được tạo nên bằng tất cả sự thanh cao của tình cảm, sự chí thành của tâm hồn, không hề bợn nhơ bởi nhục cảm. Vì thế, Kiều mới dám nói với Kim Trọng đến chữ trinh của nàng « Chữ trinh còn một chút này » (c.3161). Huống chi Kiều không nỡ nhẫn tâm giày xéo, làm hoen ố tấm ái tình trong sáng lý tưởng ấy bằng cái thân ô trọc « hoa tàn, trăng khuyết » của nàng. Đó chính là chút giá trị, chút danh dự của Kiều còn sót lại khiến chàng Kim phải nể vì, trân trọng nàng, chứ không phải đến với nàng bằng tình cảm đoái thương (tức là có thái độ coi thường rồi). Có thế, vết tích nhơ nhuốc của những năm tháng phong trần mới mong lắng đọng, lãng quên, Kiều mới có thể sống thư thái, an vui được.

    Vậy, nếu Kim thực sự yêu nàng, Kim phải hiểu cho tấm lòng «như tuyết, như băng» đó của nàng và đồng thời phải thông cảm cho nỗi khổ tâm riêng mà bằng lòng «đem tình cầm sắt đổi ra cầm cờ» (c.3110).

    Đêm tân hôn, đối diện với người yêu xưa, Kim Kiều cùng xiết bao cảm động:

    Những là sen ngó đào tơ
    Mười lăm năm mới bây giờ là đây!
    (c.3137-3138)


    _____ oOo _____
    Trang 57


    Riêng Kim Trọng, trước người yêu duyên còn mặn mà tình mình thì quá nồng bảo sao Kim thoát khỏi vòng ham muốn ái ân? Nhưng vì thông cảm cho cảnh ngộ của người yêu và để tỏ rõ thái độ quân tử của mình, Kim đành chấp nhận lời yêu cầu của nàng, đổi tình vợ chồng ra tình bằng hữu:

    Bấy lâu đáy bể mò kim
    Là nhiều vàng đá, phải tìm trăng hoa.
    Ai ngờ lại họp một nhà
    Lọ là chăn gối mới ra sắt cầm!
    (c.3175-3178)

    Khi nghe Kim Trọng tuyên bố như vậy, Kiều mừng quá. Nàng vội vàng sửa áo, cài trâm, phủ phục xuống đất lạy tạ Kim Trọng «Khấu đầu lạy tạ cao thâm ngàn trùng» (c.3180).

    Đối với Kiều, Kim Trọng quả là một người tình quân tử mà Kiều hết dạ tri ân. Lần thứ nhất, hồi Kiều còn trẻ, tình yêu đang độ say mê, bồng bột, Kiều đã dại dột sang nhà Kim Trọng giữa đêm hôm, và còn ở lại chơi đàn đến khuya. Kim Trọng đã tỏ ra quân tử, chịu nghe lời Kiều khuyên can mà giữ được tư cách đứng đắn với nàng. Nhờ vậy, thanh danh Kiều đã không bị hoen ố. Lần này, Kiều sau mười lăm năm lưu lạc, đã tái hợp với Kim trên danh nghĩa vợ chồng. Kim một lần nữa lại vì nàng mà chấp thuận «Đem tình cầm sắt đổi ra cầm cờ» (c.3110) để «gạn đục, khơi trong» cho nàng. Đồng thời, Kim vô tình đã giúp nàng giữ được danh tiết với Từ Hải. Đây chính là nỗi khổ tâm riêng của Kiều khi nhận lời lấy Kim mà nàng không thể nói ra, nhưng nay tất cả được giải quyết ổn thỏa, tốt đẹp. Kiều mừng đến nỗi cúi đầu sát tận đất để thâm tạ Kim Trọng và nói với chàng: «Tương tri ngần ấy mới là tương tri!» (c.3184). Ý Kiều muốn bày tỏ cùng Kim là chàng đã hiểu thấu lòng dạ của nàng. Như vậy, chàng Kim chẳng những là tri âm, tri kỷ mà còn là tương tri của nàng nữa.

    Kể từ đó, Thúy Kiều và Kim Trọng được sống hạnh phúc bên nhau cho đến trọn đời:

    Ba sinh đã phỉ mười nguyền
    Duyên đôi lứa cũng là duyên bạn bầy.
    (c.3225-3226)


    _____ oOo _____
    Trang 58


    II– Nhận Xét

    Như chúng ta đã biết, Thúy Kiều là một thiếu nữ thuộc gia đình trung lưu nề nếp. Nàng vừa có tài sắc vừa có phẩm hạnh. Nàng đã yêu chàng văn nhân Kim Trọng và những mong được hưởng một cuộc tình hạnh phúc, thủy chung với chàng. Nhưng vì sống trong một xã hội phong kiến đang thời băng hoại, đầy dẫy những sự tàn bạo, bất công, sa đọa mà ở đó đồng tiền có sức vạn năng, Kiều đã bị đưa đẩy đến hoàn cảnh phải bán mình chuộc tội oan cho cha, phải xa lìa quê hương, gia đình, phải phụ tình người yêu và lưu lạc gian truân suốt mười lăm năm.

    Trên bước phong trần, Kiều đã gặp những người yêu thương nàng chân thành, tha thiết như Thúc Sinh và Từ Hải. Họ đã cứu nàng thoát khỏi địa ngục lầu xanh, lấy làm vợ, và cho chung hưởng những năm tháng hạnh phúc. Kiều cũng yêu thương họ theo lẽ tự nhiên của đời sống tình cảm con người. Như vậy, cuộc đời của Thúy Kiều đã trải qua ba mối tình: mối tình với Kim Trọng, mối tình với Thúc Sinh, và mối tình với Từ Hải. Có điều đặc biệt là cả trong ba cuộc tình này Kiều đều tham gia tích cực, và đôi khi còn là người chủ động:

    Với Kim Trọng: «Vì hoa nên phải đánh đường tìm hoa».
    Với Thúc Sinh: «Càng quen thuộc nết, càng dan díu tình».
    Với Từ Hải: «Chút thân bèo bọt dám phiền mai sau».​

    Tuy nhiên, mỗi mối tình của Kiều đều có những sắc thái riêng biệt.

    1- Với Thúc Sinh:

    Mối tình của Kiều đối với Thúc Sinh khởi đầu hoàn toàn do sự tính toán. Kiều muốn mua chuộc tình yêu của họ Thúc để mong được thoát khỏi cảnh sống ô nhục ở thanh lâu, mong được yên thân.

    Những điều mà tưởng rằng «Thanh khí lẽ hằng, một dây một buộc ai giằng cho ra»«Càng quen thuộc nết, càng dan díu tình» chẳng qua chỉ là những mánh khóe yêu đương mà Kiều cố tình giăng bẫy để chuyển hóa tâm ý của chàng, và Kiều đã đạt được mục đích:

    Sớm đào, tối mận lân la
    Trước còn trăng gió, sau ra đá vàng.
    (c.1289-1290)

    Chứng cớ hiển nhiên Kiều chưa từng yêu Thúc Sinh là cho mãi tới hôm chàng Thúc ngỏ ý muốn hỏi Kiều làm thiếp, chàng mới được biết Kiều không phải là con gái Tú Bà! Điều này cho thấy, mặc dù Thúc đã lăn lóc, đã «dan díu tình» lâu ngày với Kiều ở hành viện, nhưng Kiều chưa bao giờ thố lộ tâm can với chàng.

    Nhưng rồi ngoài cái ơn đã cứu Kiều thoát khỏi cuộc sống xấu xa nhục nhã «đưa người cửa trước, rước người cửa sau» ở lầu xanh, và đã cho nàng hưởng những tháng năm êm đềm, hạnh phúc trong cuộc sống gia đình, Thúc Sinh còn si mê và yêu thương Kiều hết dạ chân thành đã khiến nàng cảm động thấm thía. Thế nên, dù Thúc đã quá nhu nhược không che chở nổi cho Kiều trước trận đòn ghen tàn nhẫn của họ Hoạn, đã nuốt lời thề xưa dứt tình với nàng, nàng vẫn không hề oán giận (chính Kiều đã dự kiến việc này trước khi nhận lời lấy Thúc). Đây là tất cả những lý do vì sao khi Kiều đã là phu nhân của Từ Hải, trước phiên tòa «trả ân, báo oán», Kiều đã nói với một câu đầy tình nghĩa:

    … «Nghĩa nặng nghìn non
    Lâm Truy người cũ chàng còn nhớ không?
    Sâm thương chẳng vẹn chữ tòng
    Tại ai, há dám phụ lòng cố nhân»
    (c.2327-2330)


    _____ oOo _____
    Trang 59

    2. Với Từ Hải:

    Tình yêu của Kiều đối với Từ Hải nảy nở một cách mau chóng và tự nhiên vì ngoài hấp lực về tướng mạo anh hùng lẫm liệt của Từ, Kiều còn cảm chàng vì đồng thanh khí và tình tri kỷ. Kiều vừa gặp Từ Hải là yêu ngay. Chỉ sau buổi đàm thoại tâm đầu ý hiệp, Kiều được Từ Hải đưa ra khỏi thanh lâu, lấy làm vợ và cho hưởng một cuộc sống vô cùng vinh hiển. Kiều đã được Từ Hải yêu thương với tấm lòng chân thành, nồng nhiệt, bao dung, cảm thông, và đầy tình nghĩa.

    Đáp lại tình yêu của Từ, Kiều cũng đã yêu chàng tha thiết:

    - Bằng sự tin cậy, phó thác cả cuộc đời:

    Rộng thương cỏ nội hoa hèn
    Chút thân bèo bọt dám phiền mai sau

    -Bằng tất cả trái tim nồng nàn của người vợ trong cuộc sống hạnh phúc lứa đôi:

    Trai anh hùng, gái thuyền quyên
    Phỉ nguyền sánh phượng, đẹp duyên cưỡi rồng

    -Trong nỗi nhớ nhung, trông ngóng khi Từ xa vắng:

    Cánh hồng bay bổng tuyệt vời
    Đã mòn con mắt phương trời đăm đăm.

    -Trong dạ tri ân:

    Khắc xương chíp dạ xiết chi
    Dễ đem gan óc đền nghì trời mây.

    - Trong lòng cảm mộ:

    Rằng Từ là đấng anh hùng
    Dọc ngang trời rộng, vẫy vùng bể khợi
    (c2549-2550)

    Và bao trùm lên trên tất cả là tình tri kỷ tâm phúc. Kiều cũng như Từ Hải là kẻ phong trần cô đơn, đang khao khát tìm người tri kỷ. Chính Kiều đã thú nhận điều này với Từ:

    Chút riêng chọn đá thử vàng
    Biết đâu mà gửi can tràng vào đâu?
    (c.2187-2188)


    _____ oOo _____
    Trang 60


    Và rồi họ đã gặp nhau. Kiều hiểu giá trị và cảm thông sâu sắc hoài bão anh hùng của Từ Hải, và Từ Hải cũng hiểu rõ giá trị và nguyện vọng của Kiều. Từ đó họ yêu nhau. Họ đem cả tấm lòng chân thành mà đối đãi với nhau (tâm phúc tương cờ). Vì thế, họ chấp nhận được những khác biệt của nhau. Khi cần, họ sẵn sàng vì nhau mà hy sinh sở thích riêng. Đây chính là trường hợp của Từ Hải trước tin dụ hàng của Tổng Đốc Hồ Tôn Hiến. Ban đầu Từ Hải đã khẳng định không chấp nhận, nhưng sau vì quá thương yêu Kiều, chàng muốn chiều nàng nên đã nghe lời đề nghị của nàng, bằng lòng giải giáp quy hàng.

    Kiều hiểu rất rõ điều này nên khi nghe tin Từ Hải bị họ Hồ lừa, Từ Hải đã bị bắn chết, và chết đứng giữa trận tiền «Ai lay chẳng chuyển, ai rung chẳng rời» (c.2522). Kiều hoảng hốt chạy đến, gục xuống chân Từ gào khóc:

    «Trí dũng có thừa
    Bởi nghe lời thiếp nên cơ hội này»
    !​

    Bấy giờ, thây Từ mới đổ xuống. Giọt nước mắt và tiếng khóc của Kiều đã khiến oan hồn Từ Hải siêu thoát. Từ dẫu chết cũng được an ủi vì Kiều đã thấu hiểu nỗi lòng Từ: Từ chết không phải vì thua tài sức quan quân triều đình mà vì quá tin yêu Kiều!

    Tình yêu của Kiều với Từ Hải tri kỷ, tâm phúc đến thế là cùng!

    Từ Hải chết rồi, Kiều đau đớn khôn xiết. Một sự đau đớn vượt quá sức chịu đựng của nàng, đến nỗi Kiều bị mê muội cả thần trí, tê dại cả xác thân. Nàng đánh đàn trong bữa tiệc khao quân của họ Hồ thế nào mà năm đầu ngón tay đều bật máu, ướt đẫm cả dây đàn, nàng cũng chẳng để ý, chỉ say sưa gào khóc thảm thiết trên mấy đường tơ:

    Một cung gió thảm mưa sầu
    Bốn dây nhỏ máu năm đầu ngón tay
    Ve ngâm, vượn hót nào tầy!
    (c.2569-2571)

    Đến nỗi khi vừa tỉnh hồn, biết mình bị ép gả cho viên thổ quan, Kiều đã gieo mình xuống dòng sông tìm cái chết để tạ tình tri kỷ của Từ Hải và để được thủ tiết với chàng!

    3. Với Kim Trọng:

    Tình yêu của Thúy Kiều đối với Kim Trọng thuở ban đầu là một tình yêu lý tưởng, trong trắng, bồng bột, và lãng mạn của tuổi trẻ.

    Vừa gặp được Kim Trọng trong ngày Hội Đạp Thanh, trước vẻ đẹp văn nhân tuấn tú và phong thái hào hoa, phong nhã của chàng, Kiều đã bị xúc động mãnh liệt. Tiếng sét ái tình đã làm cho nàng ngây ngất «Chập chờn cơn tỉnh cơn mê».


    _____ oOo _____​
    Trang 61


    Rồi khát vọng tình yêu tự do và hạnh phúc yêu đương đã đưa Kiều đến sự liều lĩnh vượt quyền cha mẹ ước hẹn chuyện trăm năm với Kim, vạch lá rẽ rào sang chơi nhà Kim, tình tứ và nhắp chén rượu ái ân với chàng, trở lại nhà Kim giữa đêm hôm, nói với chàng những lời yêu thương sôi nổi tha thiết. Nàng còn ở lại cùng chàng thề bồi và chơi đàn đến rất khuya. Nhưng Kiều cũng là người con gái có phẩm hạnh thanh cao, có lòng tự trọng nên đã biết tự cảnh giác, và giúp người yêu cảnh giác. Nhờ vậy, tình yêu của họ đã vượt qua được cơn thử thách mà trưởng thành. Sau đó, cuộc tình của họ bị dang dở. Kiều phải trôi giạt xứ người suốt mười lăm năm. Dù sống trong hoàn cảnh nào, Kiều cũng không quên được tình xưa:

    Tiếc thay chút nghĩa cũ càng
    Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng.

    Cũng vì mười lăm năm Kiều phải lưu ly tân khổ nơi xứ người ấy, đã có biết bao nhiêu biến cố xảy ra trong đời sống tình cảm của nàng, nên khi được trùng phùng Kim Trọng, Kiều tuy đã chấp thuận cùng chàng nên danh nghĩa vợ chồng, nàng tha thiết khẩn cầu Kim hãy vì nàng «Đem tình cầm sắt đổi ra cầm cờ». Kim Trọng đã thông cảm cho cảnh ngộ và nỗi khổ tâm của Kiều mà đồng ý cùng nàng đổi tình vợ chồng ra tình bạn «Lọ là chăn gối mới ra sắt cầm» (c.3178).

    Được đổi tình vợ chồng ra tình bạn mà Kiều mừng đến nỗi vội vàng sửa áo cài trâm, phủ phục xuống đất để thâm tạ Kim Trọng. Như thế, rõ ràng giờ đây tình yêu của Kiều đối với Kim nặng vì nghĩa hơn vì tình, ngả về lý trí hơn tình cảm.

    Chuyện Kim Trọng chấp thuận đổi tình «cầm sắt» ra «cầm cờ» đã được Kiều nhấn mạnh đến hai chữ «tương tri» . Kiều muốn chứng tỏ giữa Kiều và Kim Trọng giờ đây không còn phải là hai thế giới cách biệt nữa mà đã nhập làm một. Tình ý của người này cũng là của người kia. Như thế, tình yêu vợ chồng Kim Kiều đã được chuyển hóa thành tình bạn thâm giao, tri kỷ, tương kính, tương tri. Từ đấy, cặp Kim Kiều đã được sống trọn đời hạnh phúc bên nhau.

    III- Kết Luận

    Nguyễn Du đã kết luận Truyện Kiều bằng giải pháp cho Thúy Kiều trở về sum họp với Kim Trọng, nhưng lại ép họ phải đổi tình vợ chồng ra tình bạn tương tri. Như vậy, theo thiển ý của chúng tôi, có phần gượng ép. Vì theo mạch văn và hợp lý ra kết luận chỉ có thể có ba trường hợp:

    1. Cho Kiều đi tu, và tu được trọn vẹn. Sau khi Từ Hải chết, nhất là sau khi Kiều chết đi sống lại, nàng mới giác ngộ mà lĩnh hội được cái triết lý nhân sinh thâm diệu của nhà Phật: Đời là bể khổ, thế giới vô thường.


    _____ oOo _____​
    Trang 62

    Con người chỉ khi nào có được thái độ sống an nhiên tự tại, nhờ cái tâm thanh tịnh, không còn vọng cầu tham ái chấp ngã mới mong giải thoát khỏi khổ đau và đạt tới hạnh phúc chân như. Kiều đã chứng nghiệm được phần nào điều này khi ở thảo am với Sư Giác Duyên:

    Một nhà chung chạ sớm trưa
    Gió trăng mát mặt, muối dưa chay lòng.
    Bốn bề bát ngát mênh mông,
    Triều dâng hôm sớm, mây lồng trước sau.
    (c.2733-2736)

    Chính vì thế, khi tái ngộ với gia đình và người yêu xưa, Kiều đã xin được ở lại tiếp tục tu hành cùng Sư Bà Giác Duyên. Nàng không còn tha thiết trở về đời sống thế tục nữa:

    Sự đời đã tắt lửa lòng
    Còn chen vào chốn bụi hồng làm chi?
    (c.3045-3046)

    Nhưng có lẽ vì thực tế, Nguyễn Du là con người đa ưu, đa tình, và đa cảm nên ông đã không chọn giải pháp này.

    2. Cho Kiều quyên sinh và chết thật để trọn tình trọn nghĩa với Từ Hải, không cần đặt ra vấn đề đoàn viên.

    Nguyễn Du không dám chọn giải pháp này vì sức ép của xã hội muốn kết cuộc phải có hậu. Do đó, tác giả Đ.T.T.T. đã phải gượng ép cho Tam Hợp Đạo Cô đoán trước việc Kiều nhảy xuống Sông Tiền Đường để Giác Duyên thuê người thả thuyền giăng lưới cứu Kiều lên, rồi đem trả nàng về cho gia đình và Kim Trọng.

    3. Phải để Kiều trở về gia đình và Kim Trọng theo tinh thần trật tự và phần thưởng chữ hiếu của đạo Nho.

    Hết loạn đến bình, hết lưu lạc đến đoàn viên, và ai có công tất sẽ được thưởng. Thế nên, Kiều đã vì hiếu bán mình cứu cha, nay hết hoạn nạn Kiều phải được trở về sum họp với gia đình và được tái hợp với Kim Trọng trong tình nghĩa vợ chồng trọn vẹn. Dù Kiều đã phong trần, theo đạo Nho, chữ hiếu cứu được hết. Kim Trọng, một Tiến Sĩ Nho học chẳng đã dõng dạc gỡ tội cho Kiều:

    «Như nàng lấy hiếu làm trinh
    Bụi nào cho đục được mình ấy vay»!
    (c.3119-3120)

    Bởi vậy, theo đạo Nho, Kiều được quyền hưởng hạnh phúc vợ chồng với Kim Trọng mà không phải có một mặc cảm tội lỗi nào.

    Có lẽ Nguyễn Du đã không chấp nhận lối lý luận thuần lý trí như thế của nhà Nho, và phần nào ông còn thương tiếc mối tình của Từ Hải, muốn cho Kiều được giữ tiết với chàng, nên đã ép Kim Trọng phải đổi tình «cầm sắt» ra «cầm cờ». Có vậy, Kiều mới vừa vẹn được chữ «trinh» với Kim Trọng, đồng thời vẹn được chữ «tiết» với Từ Hải. Như thế, vô hình chung, Nguyễn Du cho ta thấy nàng Kiều đã có hai mối tình lớn: Mối tình với Kim Trọng và mối tình với Từ Hải.


    _____ oOo _____​
    Trang 63 - 64

    Lối kết luận không dứt khoát và nửa vời này chứng tỏ trong con người của Nguyễn Du đã có một sự giằng co, mâu thuẫn giữa con người văn hóa, xã hội Nho Giáo Nguyễn Du, và con người thiên tính (tempérament)* Nguyễn Du. Con người Nho gia Nguyễn Du tất đã chọn Kim Trọng là người tình chính của Thúy Kiều, và mối tình Kim Kiều mới là mối tình lớn nhất đời Kiều. Nhưng con người thiên tính Nguyễn Du chắc chắn ông đã chọn Từ Hải là người tình chính của Kiều, và mối tình Từ Kiều mới là mối tình lớn nhất của đời nàng.

    Cũng chính lối kết luận nửa vời này, Nguyễn Du đã mặc nhiên cho phép chúng ta, những độc giả của ông, được toàn quyền chọn lựa nhân vật Kim Trọng hay nhân vật Từ Hải làm người tình chính cho Thúy Kiều, tùy theo cảm quan của mỗi người, và dù chọn nhân vật nào thì cũng có lý riêng của nó.

    ________________________________________

    (*) Thiên tính Nguyễn Du: Truyện Kiều là một tác phẩm lớn để Nguyễn Du giãi bày tình cảm và mơ ước của mình. Thế nên, nếu chúng ta muốn hiểu rõ tác giả hơn, chúng ta phải lấy chính con người của tác giả qua tiểu sử, hành động, và thơ văn khác của ông để làm căn cứ đi tìm tâm tình, ý thức, và cả vô thức của ông, mới mong có thể hiểu được vì sao có sự giằng co, mâu thuẫn trong tâm hồn Nguyễn Du khi phải chọn lựa một kết thúc nửa vời cho Truyện Kiều như vậy.

    Ta được biết Nguyễn Du là một nghệ sĩ lãng mạn, đa tình, và có nhiều cảm xúc. Cuộc đời của ông đã có nhiều mối tình, mối tình với cô lái đò họ Đỗ bên Sông Hồng, mối tình với hai cô gái làng Trường Lưu… Nguyễn Du còn hay để lòng cảm thương đến những người đàn bà tài sắc nhưng bất hạnh qua thơ chữ Hán như Long Thành Cầm Giả Ca (Tố Như Thi, An Tiêm, Paris 1995, tr.242), Điếu La Thành Ca Giả (Sđd, tr. 69), Ngô Gia Đệ Cưu Ca Cơ (Sđd, tr.183), Độc Tiểu Thanh Ký (Sđd, tr.109). Khi đi sứ Trung Hoa, Nguyễn Du cũng thường làm thơ viếng mộ những danh sĩ mà cuộc đời hẩm hiu như: Điếu Khuất Nguyên (Sđd, tr.194), Viếng Mộ Đỗ Phủ (Sđd, tr.201)… Đặc biệt trong bài văn tế Thập Loại Chúng Sinh, Nguyễn Du đã vượt lên trên tâm sự một cá nhân, một thế hệ mà tỏ lòng xót thương vô hạn, và dâng lời kinh cầu nguyện đến tất cả những cô hồn không nơi nương tựa hương khói trên đường thiên cổ. Họ đang bơ vơ phiêu bạt trong cõi u minh… sớm được siêu sinh tịnh độ.

    Ngoài văn chương, Nguyễn Du còn thích võ nghệ, có tinh thần hiệp sĩ. Năm 1786, nhờ tập ấm của cha nuôi họ Hà, ông được nhận chức Chánh Thủ Hiệu, một chức quan võ tại Thái Nguyên. Năm 1787, Lê Chiêu Thống bỏ chạy sang Bắc Kinh, Nguyễn Du có ý giúp nghĩa quân phù Lê chống Tây Sơn, những mong xây dựng lại xã hội. Việc lớn không thành, ông phải ẩn náu tại Thái Bình, quê vợ. Năm 1796, khi nghe tin Nguyễn Ánh phản công, ông tính vào Nam mượn tay nhà Nguyễn chống Tây Sơn. Việc bại lộ, ông bị bắt. Trở về Tiên Điền, Nguyễn Du chỉ thích đi săn nên mới có bút hiệu Hồng Sơn Lạp Hộ.

    (Còn Tiếp)
     
  17. PH44

    PH44 Người thân Tình Nguyện Viên

    Trang 65

    Tham Luận

    của Lê Hữu Mục và Đặng Quốc Cơ
    về Câu Chuyện Ba Mối Tình Của Nàng Kiều
    do Phạm Thị Nhung thuyết trình ngày 12.10.1997
    tại Cité Universitaire, Paris


    Lê Hữu Mục (LHM): Anh thấy thế nào về bài thuyết trình?

    Đặng Quốc Cơ (ĐQC): Quá hay! Phải nghe chị Nhung nói mới thấy ba mối tình ấy đẹp như thế nào.

    LHM: Anh nghĩ sao về mối tình thứ nhất đối với Thúc Sinh?

    ĐQC: Chị Nhung cho biết rõ đó là một mối tình vì nhu cầu, a need love, như Lewis đã nói. Cả hai đã sống rất hạnh phúc. Họ thật là đôi bạn tri âm, nhưng dù sao Thúy Kiều cũng chỉ là một cô vợ lẽ, ở trên còn có Hoạn Thư, không bao giờ một mối tình tay ba có thể mang hạnh phúc đến cho gia đình cả.

    LHM: Cho nên Thúc Sinh cuối cùng cũng phải chịu thua vợ và lôi cuốn theo sự thất bại của Thúy Kiều.

    ĐQC: Nhưng tại sao khi báo ân báo oán Kiều lại tha cho Hoạn Thư?

    LHM: Phải tha thứ vì chính danh thủ phạm trong vụ tình này đâu có phải Hoạn Thư mà lại là Thúy Kiều! Anh nghe thấy Thúy Kiều nói không: «Giấm chua lại tội bằng ba lửa nồng». Đây là một kinh nghiệm đau đớn cho bản thân Thúy Kiều. «Chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai» (c.2370). Tôi thấy mỗi lần nói đến chữ chồng, phụ âm ch vang dội ở những chữ chung, chưa, chiều, cho, gây ra những tiếng gió rất mạnh có thể làm cho đối thủ là Thúy Kiều phải rùng mình.

    ĐQC: Đúng vậy anh ạ, và từ đấy chắc không bao giờ Kiều nghĩ đến chuyện làm vợ bé nữa dù là cho Kim Trọng.


    _____ oOo _____​
    Trang 66

    LHM: Tôi thấy chị Nhung phân tích đoạn này rất kỹ, và ta có thể kết luận rằng mối tình của Thúy Kiều đối với Thúc Sinh là một mối tình tri âm, có thể mang hạnh phúc đến cho hai người nhưng rất mong manh. Do đó, ta có thể nói Thúy Kiều đã rất sợ những mối tình tay ba, và cuối cùng chính nàng phải chạy trốn để cho gia cang của Thúc Sinh khỏi bị phá hoại. Như vậy, Nguyễn Du đã chống chế độ đa thê.

    ĐQC: Nghe đến đây, tôi mới hiểu rõ tại sao ở một chỗ khác chị Nhung lại cho rằng chính Nguyễn Du đã lên tiếng chống chế độ đa thê khi để cho Hoạn Thư phải biểu lộ tất cả mọi cái độc ác của người đàn bà để bảo vệ hạnh phúc của gia đình mình: Các bà vợ con nhà nề nếp phải bắt chước Hoạn Thư chứ? Tàn nhẫn với địch thủ nhưng rất dịu dàng với chồng con.

    LHM: Thúy Kiều vừa là tác nhân vừa là nạn nhân của vụ đa thê này. Nàng ghê tởm chế độ đó là đúng. Nàng không chăn gối với Kim Trọng về sau này là do đó.

    ĐQC: Bây giờ, chúng mình bàn đến mối tình thứ hai. Anh đặt tên cho mối tình đó là gì?

    LHM: Thì như chính Từ Hải đã nhiều lần nói đó: Mối tình tri kỷ. Nó sâu hơn mối tình tri âm; nó bắt buộc hai người phải hiểu nhau hơn, dám nói thật với nhau hơn, hy sinh cho nhau nhiều hơn, và…

    ĐQC: Phải chết cho nhau nếu cần. Tôi thấy Thúy Kiều và Từ Hải yêu nhau quá anh ạ. Từ Hải đã nghe lời Thúy Kiều. Dù biết rằng nghe lời nàng là chết, chàng vẫn chấp nhận để làm đẹp lòng nàng, cũng như trước kia chàng đã làm đẹp lòng nàng bằng cách cho nàng báo ân báo oán.

    LHM: Tôi thấy quan niệm của Nguyễn Du rất giống Kinh Thánh về tình yêu: «Không có tình yêu nào lớn hơn là chết cho bạn mình» (Gioan, 15, 13). Từ Hải đã chết cho Thúy Kiều, vì chàng biết rằng đời sống phiêu lưu của chàng chưa làm cho Kiều hài lòng. Chàng ngưỡng mộ Hoàng Sào là anh hùng, nhưng khi Thúy Kiệu gợi ra những hình ảnh chết chóc trên Sông Vô Định, chàng hiểu rằng Kiều không muốn cho chàng giết người nữa. Chàng phải bình thường hóa cuộc sống, sống như mọi công dân trong tinh thần cộng tác chặt chẽ với nhà vua. Kiều đã nói đúng chứ, nếu không thì với cái tài lược thao siêu đẳng của chàng, Kiều làm sao mà sống được nếu nàng nói sai?

    ĐQC: Như vậy, chúng ta đồng ý với chị Nhung cho rằng mối tình đối với Từ Hải là mối tình đẹp nhất của nàng, đẹp hơn cả mối tình đối với Kim Trọng nữa phải không?

    LHM: Đúng như vậy, và tôi nói thêm là chị Nhung đã có lý khi chứng thực được điểm này, điều mà từ xưa đến nay chưa có một nhà khảo cứu nào chú trọng tới. Chị còn có lý hơn nữa khi chị nói thêm rằng Kiều đã giữ được chữ trinh đối với Kim Trọng vừa giữ được chữ tiết đối


    _____ oOo _____
    Trang 67


    với Từ Hải. Có chỗ chị còn nói mối tình của Thúy Kiều đối với Kim Trọng lúc đầu rất bồng bột sôi nổi, về sau càng ngày càng lắng xuống chỉ còn lại một chữ nghĩa ngả về lý trí hơn tình cảm. Tôi cho rằng đây chính là ý muốn của Nguyễn Du. Ông muốn cho nhân vật điển hình có đầy đủ trung, hiếu, tiết, nghĩa thì bây giờ, với chữ nghĩa đối với Kim Trọng, chữ trung đối với nhà vua, chữ tiết đối với Từ Hải, chữ hiếu đối với cha mẹ, Kiều là một người tài đức vẹn toàn.

    ĐQC: Như vậy, Nguyễn Du là một nhà Nho chân chính chứ có phải là một nhà Nho cách mạng đâu?

    LHM: Có là một nhà Nho chân chính mới có thể là một nhà Nho cách mạng thưa anh. Giữa nhà Nho Nguyễn Trãi và những nhà Nho đồng thời với ông, ai là nhà Nho chân chính? Người nào bị thanh toán, người ấy là người chân chính. Chân Nho Nguyễn Trãi đã bị bọn ngụy Nho thủ tiêu, nhưng bây giờ ta vinh danh ông như là một nhà trí thức lớn thời đó vì ông đã can đảm sống và chết cho chính nghĩa quốc gia dân tộc. Nguyễn Du cũng thế, ông đã sống và sẵn sàng chết để cứu vãn cho Nho Giáo chân chính khỏi bị thủ tiêu bởi bọn văn thân, bọn «biệt phái mới» chỉ biết bám vào một thứ Nho Giáo giả hiệu do nhà cầm quyền đề ra, mục đích củng cố cho chế độ độc tài của họ. Nguyễn Du cũng đưa ra những nguyên lý trung hiếu tiết nghĩa, nhưng đó là những nguyên lý không phải chỉ có bề dọc mà còn có cả bề ngang, không phải chỉ bắt buộc dân chúng tuân theo mà nhà cầm quyền phải thực sự tuân theo trước hết. Đó là cái mới của Nguyễn Du, cái táo bạo liều lĩnh của ông, cái tính cách mạng mà chúng ta đã có dịp nói tới. Vì là một Nho sĩ chân chính, ông muốn chấn chỉnh Nho Giáo theo ý muốn không phải của nhà cầm quyền mà của người dân, những người dân bị áp bức như Từ Hải, như Thúy Kiều.

    ĐQC: Trở về ba mối tình của Thúy Kiều, anh có đồng ý với chị Nhung rằng vì thương tiếc mối tình của Từ Hải muốn cho Kiều được giữ tiết với chàng nên Nguyễn Du đã ép Kim Trọng phải đổi tình cầm sắt ra cầm cờ chăng?

    LHM: Câu hỏi rất hay, và ngay trong câu hỏi đó, anh đã có vẻ không đồng ý với chị Nhung phải không? Theo tôi, một tác phẩm lớn là một tác phẩm cho phép người đọc tha hồ có ý kiến, nói đầu nào cũng có nhiều bằng chứng ủng hộ do chính tác giả cung cấp cho mình, qua sự chỉ dẫn của những văn liệu phong phú. Chính chị Nhung đã nói rõ điều ấy trong ba dòng kết luận của bài thuyết trình. Tôi thấy không thể nào nói mối tình nào đẹp hơn mối tình nào, bởi vì đẹp nghĩa là gì nếu không phải là cái gì phù hợp với hoàn cảnh bao bọc nó? Như vậy, vấn đề không phải là nói đến vẻ đẹp của mối tình, mà là tìm xem cái gì là cốt lõi của vấn đề quan điểm mà tác giả muốn đưa ra. Theo anh, cái cốt lõi đó là gì?


    _____ oOo _____​
    Trang 68


    ĐQC: Thú thật tôi là một nhà kinh doanh, một nhà kinh doanh khá thành công vì tôi quan niệm rằng đã gọi là kinh doanh thì phải sản xuất, mà đã sản xuất thì phải hợp thời trang, thỏa mãn nhu cầu của quần chúng, nhất là phải đưa ra được một cái gì mới, độc đáo, đặc sắc, và thực dụng. Về văn hóa, tôi thấy Nguyễn Du đã sản xuất rất nhiều, phân phối rất mau, và tiêu thụ rất mạnh, chứng cớ là sách của ông in ra nhiều mà vua chúa muốn xem mà cũng không có, phải sai dân chúng đi lục tìm. Như vậy, sách của ông mang đến một cái gì rất mới mà dân chúng cần biết. Cái mới đó là gì? Chúng ta đã biết rồi, là chống lại những cái lạc hậu của Nho Giáo, những tệ lậu do nó phát sinh như giáo điều, tỏa chiết mọi quyền tự do, khinh miệt phụ nữ, cấm con trai con gái không được lựa chọn người yêu, cấm đàn bà góa không được lấy chồng… Những điều đó ai cũng biết rồi. Tôi chỉ xin nhắc lại để dẫn đến điều này: Khi Nguyễn Du để cho Thúy Kiều tự vận ở Sông Tiền Đường, ta thấy Thúy Kiều muốn chết vì hối hận đã quá vị kỷ, chủ quan khiến Từ chết oan, nhất là đã giết chồng rồi còn lại lấy chồng thì thật sự là một hành động đốn mạt, mặt nào còn đứng ở trong cõi đời? Sau khi Từ Hải chết, Kiều cũng đã thấy cuộc đời đã chết hẳn với nàng. Lý tưởng đã tắt trong đầu nàng, ái tình đã tiêu tan trong tim nàng. Nàng suy nghĩ và ném trả lại hết cho đời để nhảy xuống sông. Sông Tiền Đường không phải chỉ là một khoảng không gian; nó là một ranh giới thời gian rõ ràng: Kiều trước khi chết và sau khi được cứu sống là hai con người khác hẳn. Con người cũ đã chết rồi; bây giờ là con người mới vừa ra đi từ lòng sông. Nước đã rửa sạch mọi tội lỗi. Từ bây giờ, mọi cái trong Thúy Kiều đều mới: Tâm hồn, trí tuệ, tình yêu; tất cả không còn gì dính líu đến trần tục nữa. Chẳng tu thì cũng như tu mới là (c.3108). Từ bây giờ, Kiều bắt đầu nhìn lại tình yêu của mình ngày xưa.

    LHM: Anh nói hay lắm. Tôi xin nói tiếp theo. Nếu chỉ đứng về phía tự nhiên, phía trần tục, hay nói đúng hơn, về phía nhân loại, mối tình của Thúy Kiều đối với Từ Hải là cao nhất rồi, thắm thiết nhất rồi, không có gì say đắm và chứa chan hạnh phúc hơn nữa. Nhưng cũng vì hạnh phúc mà lứa đôi phải cách ly. Hạnh phúc của Từ Hải, như chính chàng nói, là muốn làm sao cho Thúy Kiều được hạnh phúc gặp lại song thân (cc.2433-2436) nhưng thương ôi, muộn dặm chưa thành một nhà, Thúy Kiều chưa may mắn thấy lại gốc phần thì chàng đã «nhơn nhơn còn đứng chôn chân giữa vòng» (c.2520). Hạnh phúc trần tục thật là mong manh, và tất cả phải được chấm dứt ở Sông Tiền Đường.


    _____ oOo _____​
    Trang 69


    ĐQC: Thúy Kiều đã ngã xuống như một thây ma, nhưng nàng đã đứng lên như một cô gái mới. Nàng không bị lệ thuộc vào tình chăn gối như với Từ Hải nữa. Quan niệm của nàng về hôn nhân, về lễ nghi đều đã đổi mới. Điều quan trọng là nàng cảm thấy nàng vẫn còn trong sạch, được chính người yêu xưa của mình công nhận mình còn trong sạch. Đó là điều chính yếu, còn tất cả đều là thứ yếu, kể cả tình yêu theo quan niệm cũ ngày xưa.

    LHM: Tình yêu ngày xưa gọi là tình yêu tự nhiên (amour naturel), tình yêu đôi lứa (amour nuptial), hay tình yêu hôn nhân, tình yêu chăn gối như chính Thúy Kiều nói, còn tình yêu của Thúy Kiều dành cho Kim Trọng bây giờ là tình yêu siêu phàm (amour surhumain), tình yêu siêu nhiên (amour surnaturel) không dễ mà ai cũng có đâu, nhưng phải một lúc nào đó, ta phải có để bổ túc cho tình yêu tự nhiên của ta.

    ĐQC: Tỉ dụ?

    LHM: Muốn nói đến tỉ dụ thì nhiều lắm nếu anh quan niệm tình yêu không phải là chiếm hữu (amour possessif), và yêu không phải là biến người mình yêu thành đồ vật (objet), một món hàng (marchandise) như Thúy Kiều mà ta có thể cò kè bớt một thêm hai.

    ĐQC: Nhưng tôi vẫn muốn anh cho tỉ dụ.

    LHM: Tỉ dụ khi bạn anh đau, khi người phối ngẫu của anh bị tật nguyền, khi phu nhân của anh muốn đi tu, kiểu Đức Mẹ của đạo Công Giáo chúng tôi, kiểu bà thánh Clara, bạn thánh Phan Xi Cô, những mối tình siêu nhiên này, người Công Giáo gọi là những mối tình thánh thiện, rất đẹp, và rất thực. Tôi đã nói đó là một tình yêu hiếm có, nhưng có thể có, và nên có, để làm chứng rằng hôn nhân không phải chỉ có một đường là chấp kinh, là xướng tùy, là chăn gối! Tôi không hiểu tại sao Nguyễn Du lại có những tư tưởng giống Công Giáo thế!

    ĐQC: Như vậy, tôi hiểu thêm như thế này có đúng không. Anh còn nhớ có lần anh nói với tôi về tục thất xuất, nghĩa là đàn ông có 7 lý do chính đáng để bỏ vợ: 1/ không con, 2/ dâm nhác, 3/ không thờ cha mẹ chồng, 4/ hay nói, 5/ trộm cắp, 6/ ghen tương, 7/ có ác tật. Hai điều độc ác nhất là điều 1 và điều 7. Tôi cho rằng Nguyễn Du có ý chống lại hai điều vô nhân đạo này, chẳng hạn, khi quan niệm loại tình yêu siêu nhiên mà chúng ta đang bàn, chắc chắn ông đã nghĩ đến những người vợ có ác tật mà ông chồng có thể bỏ dễ dàng nếu họ chỉ căn cứ trên tự nhiên của tình yêu và hôn nhân. Nhưng nếu họ biết ngoài tính tự nhiên, tình yêu còn có tính siêu nhiên nữa thì làm sao họ dám đòi ly dị vợ, phải không?


    _____ oOo _____​
    Trang 70


    LHM: Nói là không dám không biết là có quá đáng không, nhưng nếu Nguyễn Du chứng minh được một cách cụ thể rõ ràng là có nhiều loại tình yêu và hôn nhân chứ không phải chỉ có một loại «cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy», tình yêu là tình yêu của cá nhân chứ không phải là của gia đình, càng không phải là của gia tộc hay xã hội. Nguyễn Du chủ trương giành quyền tự do lại cho cá nhân bởi vì theo ông, cá nhân không có một quyền hành gì hết trong cộng đồng. Chỉ có cộng đồng là có uy quyền tuyệt đối mà thôi. Cá nhân chỉ được phép cúi đầu phục tòng, vòng tay nghe truyền lệnh, và riu ríu nghe theo. Đó là cái mà Nguyễn Du gọi là định mệnh đó, và đấy là điều mà ông muốn đạp đổ.

    ĐQC: Đạp đổ thì dễ, nhưng xây dựng mới khó khăn. Theo anh, nếu anh đã gọi mối tình giữa Thúy Kiều và Thúc Sinh là mối tình tri âm, giữa Thúy Kiều và Từ Hải là tri kỷ, thì giữa Thúy Kiều với Kim Trọng, anh gọi là mối tình gì?

    LHM: Thưa anh, hai mối tình trên không phải tôi đặt mà do chính các nhân vật nói ra, ngay mối tình giữa Kiều và Kim, Thúy Kiều đã đặt tên cho nó là tương tri: Tương tri dường ấy mới là tương tri (c.3184). Thực ra, Kiều đã dùng chữ này từ khi mới gặp Kim Trọng: « Một lời cũng đã tiếng rằng tương tri » (c.460)

    ĐQC: Hình như các nhân vật đều có nói đến chữ này cả mà, như Thúc Sinh. Sinh rằng: « Từ thuở tương tri » (c.1329). Từ Hải cũng nói thế. Từ rằng: « Tâm phúc tương tri » (c.2219), ai cũng tương tri chứ riêng gì Thúy Kiều?

    LHM: Chịu anh đã thuộc Kiều ghê quá, nhưng xin anh phân biệt cho rằng từ tương tri ấy, Thúy Kiều chỉ dùng để nói về nàng và chàng Kim. Còn hai chữ tương tri kia, một chữ của Thúc Sinh, một chữ của Từ Hải, hai người này đã cho họ và Thúy Kiều là tương tri, còn chính Thúy Kiều dùng chữ ấy để nói về nàng và Kim Trọng mà thôi.

    ĐQC: Đúng như thế. Tôi chịu cách dùng chữ của Nguyễn Du chính xác thực sự. Tôi là nhà khoa học mà cũng thích Truyện Kiều là vì thế. Xin anh kết luận lời tham luận của chúng ta về bài Ba Mối Tình của Nàng Kiều của chị Nhung.

    LHM: Thì chúng mình đã nói hết rồi. Tôi xin tóm lại những ý chính nhé.

    1. Về phương diện nhu cầu, mối tình giữa Thúy Kiều và Thúc Sinh rất đẹp là Kiều đã tìm được ở Thúc Sinh một tri âm và một cứu tinh.

    ` 2. Về phương diện tự nhiên, mối tình giữa Thúy Kiều và Từ Hải đã phát triển đến cao độ. Từ Hải là một người chồng lý tưởng, hơn cả Thúc Sinh, hơn cả Kim Trọng. Kiều và Từ là một cặp tri kỷ. Họ đã sống và chết cho nhau. Huống chi sống vào thời chinh chiến, cuộc tình nào nếu thoát khỏi tử biệt, thì e cũng phải sinh ly.

    3. Về phương diện siêu nhiên, mối tình giữa Thúy Kiều và Kim Trọng là một mối tình thiêng liêng. Họ là một cặp giai nhân tài tử tương tri; cả hai đã tha thứ cho nhau, «họ đã nhập làm một», như chị Nhung nói,


    _____ oOo _____​
    Trang 71


    «tình yêu vợ chồng của họ đã được thăng hoa thành tình bạn thâm giao, tri âm, tri kỷ, tương tri. Nhờ đó, họ đã sống trọn đời hạnh phúc bên nhau». Tôi nói thêm, Nguyễn Du đã không gượng ép khi ông để cho Kim Kiều đoàn viên, cũng như ông đã không gượng ép khi để cho Kim Trọng đổi tình cầm sắt ra cầm cờ, vì đó là chủ trương của ông về tình yêu. Đến bây giờ, ông vẫn còn người đọc là nhờ điểm đó. Muốn hiểu rõ điểm này, xin đọc lại bài nói về quan điểm của Thúy Kiều về tình yêu và hôn nhân.

    Tôi xin nói rõ hơn, ngoài ba mối tình mà chị Nhung đã đề cập tới, còn mối tình «dục vọng» nữa của Mã Giám Sinh, của Sở Khanh, Hồ Tôn Hiến đối với Kiều, kể cả của Thúc Sinh thuở ban đầu mới quen biết nàng. Như vậy, Truyện Kiều đã đề cập tới tất cả 4 loại tình, ấy là chưa kể loại tình cao quý của «người khách viễn phương» đối với Đạm Tiên.

    So với cuốn The Four Loves của C.S. Lewis (nxb Fontana Books, London, 1960), trình bày 4 loại tình yêu là tình yêu mến (affection), tình bạn (friendship), tình dục (eros), tình bác ái (charity), thì Nguyễn Du cũng đã đề cập tới 4 loại tình đó, nhưng trong một tác phẩm mà văn chương và tình cảm đã làm xúc động cả hoàn cầu chứ không phải chỉ là một cuốn cảo luận nhỏ như của Lewis.

    (Còn Tiếp)
     
  18. PH44

    PH44 Người thân Tình Nguyện Viên

    Trang 72
    Giải Thuyết Nôm Học
    Một Số Chữ Nôm Trong Truyện Kiều


    1. Có lục (1) [c.8]

    Lục là sao chép. Đây là danh từ, một bản văn đã được sao chép lại, đồng nghĩa với từ thoại của Nhật Ngữ mà Giáo Sư Hoàng Xuân Hãn hay sử dụng như từ version của Pháp Ngữ. Chữ (2) phải đọc là , không đọc lẫn lộn với từ cổ (3). Phong tình, có lục còn truyền sử xanh, nghĩa là: Về loại chuyện tình, có một bản văn được lịch sử nhắc nhở tới, chuyện đó là chuyện tình xảy ra giữa Từ Hải và Thúy Kiều (x. Nguồn Gốc Truyện Kiều).

    Các lục Truyện Kiều xuất bản trước 1975 phần nhiều phiên âm là cổ lục. Riêng tôi (Lê Hữu Mục), tại các Trường Đại Học (Huế, Saigon, Đà Lạt, Nha Trang, Long Xuyên, Tây Ninh…) tôi vẫn chủ trương phiên âm là có lục, khác với Giáo Sư Bửu Cầm chủ trương phiên âm là có lúc như Trương Vĩnh Ký. Sau năm 1975, các lục Truyện Kiều có uy tín (Đào Duy Anh, Nguyễn Quảng Tuân…) đều ghi là có lục. Tôi đề nghị nên căn cứ trên mặt chữ Nôm mà đọc Nôm. Nếu là chữ cổ thì đọc là cổ, nếu là chữ thì tất nhiên phải đọc là có. Các bản Nôm mà tôi có trong tay (bản CMT, KOM, CUT, QVĐ, DMT...) đều viết là có lục (1) trừ bản Phúc An Đường in năm 1933 khắc là cổ lục. Đây là chuyện nhỏ nhưng rất quan trọng. Nó bắt buộc các nhà phiên âm chữ Nôm phải tự cảnh giác hơn để làm việc một cách khoa học. Đồng thời, và đây là một vấn đề có tính nguyên tắc. Nếu không chuyên về chữ Nôm, đừng lo chuyện văn bản (trừ trường hợp muốn có một văn bản đặc biệt).


    _____ oOo _____​
    Trang 73


    2. Nghĩ (4) [c.12]

    Chữ Hán là nghĩ, như nói suy nghĩ. Từ nghĩ đã đi vào ngữ vựng tiếng Việt, có thể dùng độc lập, như nói: tôi nghĩ. Gia tư, nghĩ cũng thường thường bậc trung. Về tài sản (của Vương Ông mà câu văn đang đề cập tới ), tôi cho rằng nó chỉ thuộc vào loại trung bình thôi. Ngoài từ nghĩ này, tiếng Việt cổ còn có hai từ tương tự là nghỉ (nghĩa là nó, va, ông ấy)nghỉ (nghĩa là dễ mà ta thấy có ghi trong ADR ). Bản TVK phiên âm đầu tiên là nghỉ (dấu hỏi), nhưng không chú thích; bản BK-TTK (1925) cũng phiên là nghỉ với lời chú thích là va, nó, ông ấy, hiểu gia tư nghỉgia tư của ông ấy, tức Vương Ông. Đây rõ ràng là Cụ Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim vì đang nghiên cứu ngữ pháp tiếng Pháp cho nên đã bị ảnh hưởng của môn ngữ Pháp này, chú trọng đặc biệt đến chức năng của các hình dung từ chủ hữu (adjectif possessif, như son, sa, ses…), trong khi tiếng Việt rất lơ là với mọi loại chủ thể và thường lược bỏ.

    Tỉ dụ, ngày nay ta vẫn nói: Nhà bạn tôi, tài sản không có bao nhiêu, từ tài sản không cần phải xác định là tài sản của ông ấy, của va… Do đó, từ nghỉ của lục BK-TTK không thể đứng vững được; còn lại từ nghỉ của ADR. Nghỉ ở đây nghĩa là dễ (facilis) như nói nghỉ làm là dễ làm, nghỉ học là dễ học. Gia tư, nghỉ cũng… nghĩa là gia tư, dễ cũng.. tức là gia tư có khả năng, có lẽ chỉ thuộc vào… Phó từ cũng đi sau từ nghỉ là để bổ túc ý nghĩa cho một động từ (nghĩ, dễ) hơn là một hình dung từ (nghỉ, nó, va…). Như vậy, chữ (4) nên đọc là nghĩ (nghĩ rằng, cho là) hay nghỉ (dễ). Thực ra, từ nghỉ này, được ADR ghi với dấu hỏi, chính là từ nghĩ (dấu ngã), vì vào thế kỷ XVII, tiếng Việt của chúng ta chưa ổn định về thanh điệu, dấu hỏi, và dấu ngã còn dùng lẫn lộn như ở Miền Trung ngày nay. Do đó, cách phiên âm đề nghị sẽ là: Gia tư, nghĩ cũng thường thường bậc trung (dấu phết, đánh sau gia tư). KOM: Gia tư xem cũng…


    3. Hương Thu Thủy [c.25]

    Đây là lục DMT (Duy Minh Thị). Hương, từ cổ, nghĩa là gương, còn thấy trong QÂTT, và ở nhiều địa phương. Chữ hương cổ này chắc là đã được Nguyễn Du dùng nhiều lần, nhưng vì không rành từ cổ (hay từ địa phương) cho nên các nhà phiên âm đã tự động đổi ra gương hay trăng.

    Tỉ dụ: Nhặt thưa, gương giọt đầu cành (c.1133) X. sau. Gương thu thủy nói về con mắt đẹp một cách trực tiếp hơn là làn thu thủy, nhưng vì nhóm từ làn thu thủy đã quá quen thuộc, cho nên tôi chỉ nói đến từ gương để gợi sự chú ý của các nhà nghiên cứu khi đọc đối chiếu các bản Nôm. Bản DMT còn giữ được khá nhiều chữ Nôm viết theo lối cổ. Tôi sẽ đề xuất vấn đề này trong cuốn Khảo Về Nôm Học sẽ in vào năm 2000.


    _____ oOo _____​
    Trang 74

    4. Tạn (5) [cc.41, 831, 1838, 2610, 2704, 2766]

    Đây là một động từ cổ, có nghĩa là đụng tới, gần sát. ADR là người đầu tiên và duy nhất ghi được từ tạn này trong từ điển của ông in năm 1651. Trước khi nói đến từ tạn, ông cẩn thận phân biệt hai từ tậntạn là hai từ khác hẳn nhau. «Tận, hết: finis, is, tận thế, hết thế, finire mundum, finem mundi adesse ». Theo ADR, chữ tận là một từ Hán phải đi chung với một từ Hán, như tận thế, ta có thể nói thêm: tận lực, tận tâm, tận tụy… Ngược lại, ta không thể nói: tạn thế, tạn lực, tạn tâm, tạn tụy. Về từ tạn, ADR cho biết: «Tạn: pertingo, is (đụng tới, chạm tới, sát tới). Nước đã tạn gỗ, pertingit iam aqua ad lignum (nước đã đụng tới gỗ của tàu); tạn mây: usque ad nubes (đến sát mây); tạn trời: attingit coelum (đụng tới trời); đến cho tạn: accedere ita ut attingat (đi cho đến khi nào đụng tới)». Nguyễn Du đến sau ADR ba thế kỷ, vẫn phân biệt rành mạch hai từ tận tạn như ADR. Về chữ tận Hán Văn, ông viết bằng chữ Hán (6), và dùng tận đi đôi với chữ Hán khác: Khổ tận (c.3210). Về chữ tạn Nôm, ông viết bằng chữ tiện (7) và trong 7 trường hợp, chữ tạn đều đóng vai một động từ: tạn chân trời (c.41): sát đến chân trời; tạn mặt (c.1838): sát mặt (bắt quỳ tạn mặt: Hoạn Thư bắt Thúy Kiều quỳ xuống sát mặt ); tạn tay (c.1838): đụng vào tay (Hoạn Thư bắt Thúy Kiều mời làm sao cho tay nàng đụng vào tay ); tạn nơi: đi cho đến khi nào chân đụng chỗ ấy. Phải hiểu từ tạn theo nghĩa cổ của tiếng Việt mới thấy giá trị tuyệt vời của câu thơ 831: «Miếng ngon kề đến tạn nơi. Tất cả các lục TK đã không phân biệt hai từ tận tạn, trừ lục của Paul Schneider Xuân Phúc. Ông Phan Ngọc, trong phần hiệu đính cuốn Từ Điển Truyện Kiều của Đào Duy Anh tái bản năm 1987, đã lầm lẫn khi khẳng định «tận Hán là động từ, mà tận Việt Nam có chức năng giới từ mà không hề dùng làm động từ, bởi vì các nghĩa của nó là hết, cạn, đều đã có các từ bản địa đảm nhiệm» (sđd, tr.417). Nói như vậy là nhà nghiên cứu về tiếng Việt đã không biết động từ tạn!


    5. Trang (8) [c.32]

    Cả câu 32 là: Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trang. Về nghĩa của từ trang, x. chú thích. Ở đây, xin nói thêm trang là một từ Hán chỉ cây đàn, như nói: Cầm nhất trang, kỳ nhất cục. Hồ cầm một trang: Một trang hồ cầm, một cây đàn hồ cầm. Về nghĩa của hồ cầm, x. chú giải. Có người đọc lầm một trang thành Ngải Trương, vì cho rằng chữ một (9), viết tắt (10) là chữ ngải (11). Thực ra, hai chữ rất xa nhau về tự dạng.


    6. Xoang (12) [c.33]

    Xoang là một điệu nhạc, do bản KOM ghi rất chính xác theo thanh luật, ghi là chương như ban CMT có lẽ vì không biết xoang là một thuật ngữ âm nhạc.


    _____ oOo _____​
    Trang 75


    7. Một cung bạc mệnh (KOM, c.34)

    Đây là danh xưng bản nhạc nổi tiếng của Thúy Kiều, do chính nàng sáng tác và lúc còn rất trẻ. Từ cung phù hợp với âm nhạc hơn từ thiên (CMT) là một thuật ngữ văn học. Với nhạc phẩm Một Cung Bạc Mệnh và 4 lần trình tấu xuất sắc, Thúy Kiều đáng được ca tụng là «nữ hoàng xoang», «nữ hoàng nhạc hòa tấu».


    8. Dủ (13) [c.37]

    Các bản Nôm đều nhất trí viết như trên, các bản Quốc Ngữ cùng đều phiên là rủ, trừ Xuân Phúc và Đặng Quốc Cơ phiên là dủ. Tôi can thiệp như sau.

    Trong từ điển VBL (1651), ADR phân biệt rất rõ dủrủ.

    Tỉ dụ: Dủ ngành xuấng (dủ ngành xuống) là bin cành xuống (vin cành xuống), nghĩa là làm cho cành cây dủ xuống. Từ dủ này được viết với phụ âm d. Về từ rủ, ADR cho ví dụ rủ nhau và giải thích là gọi nhau (convocare se invicem), hay là xúi nhau (vel incitare), hoặc khuyến khích nhau làm một việc gì (aut cohortari ad aliquid). Động từ rủ này được viết với phụ âm r. Trong một trường hợp khác, ADR than phiền là nhiều người sống chung quanh vùng Kẻ Chợ (tức Thăng Long, Hà Nội bây giờ) hay phát âm d thành r, và ông cho đó là một thói xấu cần tránh. Hiện nay, gần như không còn phụ âm d ở Miền Bắc nữa, chỉ còn d ở Miền Trung (đọc theo lối cổ là de) và ở Miền Nam. Ở Ninh Bình quê tôi, chính xác là vùng Phát Diệm, người ta phát âm Phát Diệm là Phát Riệm, dân là rân… Tuy phát âm d>r, nhưng khi viết, người ta vẫn phân biệt d ≠ r. Câu 37: Êm đềm trướng dủ màn che, dễ trở thành êm đềm trướng rủ màn che trong khẩu ngữ, nhưng trong văn bản, tôi đề nghị phiên là dủ như sự gợi ý của Học Giả Xuân Phúc. Tuy vậy, tôn trọng thói quen, tôi phiên âm dủrủ.

    Các nhà Nôm học đã theo dõi (viết theo HTC) các diễn biến của những phụ âm d, r, gi một cách rất nặng nhọc. Riêng từ dủ (>rủ) đã trải qua 4 lần biến âm:


    XIII-XIV XV-XVI XVII-XVIII XIX-XX

    Gủ Gủ/Xủ Xủ/Dủ Dủ/Rủ

    QATT QATT QATT TK

    VBL VBL VBL

    Xem bảng trên, rất có thể vào thế kỷ XIX, Nguyễn Du chỉ viết dủ với chữ Nôm (14) (như trong QATT và VBL), nhưng vì phát âm dủ thành rủ nên các học giả đã tự động thêm bộ thủ vào chữ dủ. Do đó, ta có chữ Nôm (15) mà nhiều học giả đọc rất đúng là rủ. Chữ này còn đọc là giũ ở câu 2930: Kiếp phong trần giũ bao giờ cho xong? (KOM). Bản ĐDA cũng phiên âm là giũ nhưng trong Từ Điển Truyện Kiều không thấy ghi từ này. Trong khi Giáo Sư Nguyễn Quảng Tuân tuy đã thận trọng phiên câu 2930 là: Kiếp trần biết giũ bao giờ cho xong, nhưng lại không chú thích về âm cũng như về nghĩa như ông thường làm.

    Tôi phân biệt:

    Dủ (trong trướng dủ)

    Rủ
    (trong rủ nhau)

    (trong chết rũ)

    Giũ (trong giũ bụi)

    Dỗ (trong dỗ dành)

    Xõ (trong xõ mòn)​


    _____ oOo _____​
    Trang 76


    Về từ này, quý Ông Đào Duy Anh, Phan Ngọc, và Nguyễn Quảng Tuân đều đọc là rũ. Ông Phan Ngọc giải thích, c.782: « là trông như gục xuống… Con tằm khi nhả tơ ra thì thân thể dần đi mà thành con nhộng, đây chỉ vì chia tay mà buồn người. Rũ mòn (c.325): rũ xuống và mòn đi (Xương mai tính đã rũ mòn). X. TĐTK, tr. 387». Giáo Sư Nguyễn Quảng Tuân giảng câu tơ chia rũ tằm (c.782) như sau: “ý nói buồn đến nỗi trong lòng bị quặn đau như con tằm bị rút lấy tơ mệt lả đi, nằm ra» (sđd, tr. 114). Riêng câu 325, Giáo Sư Tuân lại thay chữ bằng chữ thâu: Xương mai tính đã thâu mòn, giải thích là: «từ lâu rồi gầy mòn ốm yếu» (sđd, tr. 73). Thực ra, chữ (16) ghi rất rõ về một tình trạng thân thể đang khỏe mạnh bỗng bị gầy mòn ốm yếu, và danh từ để chỉ tình trạng này đó là , viết với chữ xủ (17) (chữ Nôm) và bộ mạch để chỉ một thứ bệnh là bệnh gầy. Chữcòn được viết là (18) (chữ Nôm), không phải chữ thâu (19) là chữ Hán. Chính nhờ chữ này mà Ông Tuân đọc lầm thành chữ Hán thâu mà ta dám khẳng định hai chữ (20) và (21) đều đã ghi một âm rất chính xác là , như nói gầy xõ, xõ mòn (x. G, HTC). Các từ điển G, THTC cho ta một chữ xõ viết bằng chữ xủ, nhưng đó hiển nhiên là chữ Nôm hậu kỳ. Trong Từ Điển Chữ Nôm của tôi (sắp xuất bản), viết chung với con gái tôi là Lê Thị Hiền Minh, tôi sẽ dùng chữ của Nguyễn Du.

    Về từ rủ rỉ (c.2851: Bẻ bai rủ rỉ tiếng tơ), từ điển ADR vừa viết dỉ (tỉ dụ: Nói dỉ, nói di dỉ là nói vào bên tai một điều gì bí mật) vừa viết rỉ (nói sẽ sẽ, rỉ rỉ), nhưng căn cứ vào mặt chữ Nôm (22), rõ ràng là âm dủ dỉ có trước, rồi sau mới phát âm uốn lưỡi mà thành rủ rỉ. Vào thời Nguyễn Du, chắc chắn không còn từ dủ dỉ nữa, chỉ có từ rủ rỉ. Các bản Quốc Ngữ đều phiên âm câu 2851 là Bẻ bai rủ rỉ tiếng tơ, chỉ có Đào Duy Anh phiên âm là Bẽ bài rầu rĩ tiếng tơ (x. Từ Điển Truyện Kiều, bản in lần thứ nhất, khi chưa có sự hiệu đính của Ông Phan Ngọc).


    _____ oOo _____​
    Trang 77

    9. Dàu Dàu (23) [c.58]

    Từ này, miền Nam biến thành xàu, Miền Bắc thành nhàu, nghĩa là héo khô; nói về cây cỏ, hoa lá, bắt buộc phải phiên âm là dàu dàu như trong bản Hà Huy Giáp, Nguyễn Thạch Giang (Hà Nội, 1973), bản Xuân Phúc (Editions Thanh Long, Bỉ, 1986), bản Nguyễn Quảng Tuân (Việt Nam, 1996)… không phiên là dầu dầu, hay rầu rầu như trong bản Đào Duy Anh, Phan Ngọc (Hà Nội, 1987) vì từ rầu rầu được viết Nôm là (24), tụ dạng khác hẳn. Các câu 656, 784, 1051 đều nên sửa lại là dàudàu dàu.

    Chữ (25) trong câu 762 và câu 1002 cũng phải được đọc là dàu. Mới dàu cơn vựng, chưa phai giọt hồng (c.762); Giấc mê nghe đã dàu dàu vừa tan (c.1002). Dàu ở đây nghĩa là đã nhẹ bớt; cơn vựng mới dàu: Cơn ngất xỉu đã giảm bớt; Giấc mê đã dàu dàu: giấc mê đã nguôi ngoai, đã nhẹ đi dần dần. Bản BK-TTK phiên là giầu, từ này không có trong từ điển cũng như không có trong khẩu ngữ. Bản ĐDA-PN đọc là dầu, và dẫn chứng từ điển Taberd. Tôi đã tra lại nhưng không thấy từ dầu này. Génibrel dịch dàu là: amollir (làm cho mềm đi, nhuyễn hóa), attendrir (làm cho bớt cứng), adoucir (làm dịu đi, bớt đi, nhẹ nhàng hơn). Tỉ dụ: dàu giận (tan cơn giận, nguôi giận), cơn bệnh đã dàu dàu (đã bớt đau, đã giảm bệnh).

    Trong các trường hợp còn lại, chữ (26) đều được đọc là dầu.

    Tỉ dụ dầu để thắp đèn (c.251, 712, 1884, 1923, 2082, 3234) dầu, như dầu mà: dù mà. Câu 697 có 3 chữ dầu có thể là chữ dầu này: Phận dầu, dầu vậy cũng dầu, hiểu là: số phận dù là thế nào đi chăng nữa cũng phải bằng lòng như thế không cần gì nữa, ý cũng tương tự như câu 679: Phận sao đành vậy cũng vầy. Theo ADR, dầu vậy là boni consulere (bằng lòng chấp nhận như vậy). Taberd nói rõ hơn: quod factum est, factum est (điều gì đã làm rồi thì là làm rồi). Cũng dầu: vẫn theo ADR là cũng mặc kệ, không kể nữa. Hiểu như vậy là đúng tâm trạng Thúy Kiều lúc đó. Nàng đang nghĩ đến Kim Trọng, thương cho người yêu cũ đã mất bao nhiêu công phu đeo đuổi, thế mà bây giờ vì sự «lật lọng» của nàng (theo lời văn của bản kinh) mà bị thiệt thòi (đúng như chàng đã tiên liệu), thì bây giờ nàng phải làm sao? Kiều khóc lóc thảm thiết, nhưng tỏ ra rất cứng rắn. Nàng quyết định: Đã như thế thì đành vậy, rồi ra sao thì ra. Phải công nhận câu thơ này là một câu thơ bậc thầy mới viết nổi. ĐDA-PN đọc câu này là: Phận rầu dầu vậy cũng dầu, hiểu là số phận đã buồn khổ như vậy, không đủ rõ nghĩa.


    _____ oOo _____​
    Trang 78

    10. Chút đích (27) [KOM, c.76]

    Chữ đích gốc là chữ trích [hay đích] (28) là giọt nước, vật nhỏ không đáng kể. Trương Vĩnh Ký giảng chút đích là chút đỉnh, chút xiểu, tức chút xíu. Bản CMT viết đíchước (29), ai theo bản này thì đọc là chút ước. Ở trên (c.74), khách đã nói: Khéo vô duyên bấy, bấy là nhiều, thì bây giờ khách nói thêm: chút đích, một chút ít gì đó để cho khỏi vô duyên. Hiểu như thế câu thơ có vẻ nhất quán hơn. Chút đích là: nếp tử, xe châu và nấm mồ chôn vội. Như thế là quá hậu hĩnh đấy chứ, nhưng tấm lòng của khách viễn phương quá tốt lành, cho thế vẫn là chưa đủ, vẫn là còn ít quá! Nhờ chữ chút đích này, tôi hiểu rõ hơn tấm lòng quý hóa của người khách viễn phương này. Nó tương phản hoàn toàn với hành động dã man của bọn đã phượng chạ loan chung với Đạm Tiên rồi bỏ rơi nàng không thương tiếc. Ta có thể so sánh đoạn văn này với dụ ngôn người Sa-ma-ri-ta-nô tốt lành trong Tân Ước (Lu-ca, 10, 25-37) để giải thích thế nào là từ bi, bác ái.

    Về chữ chút, xin để ý đến câu 388: Lấy lòng gọi chút sang đây tạ lòng. Gọi chút là gọi cái gì? Kiều muốn nói: tôi có chút thì trân (c.377) tôi xin «thức thức sẵn bày» để chàng dùng cho vui. Vì ở trên đã nói rõ là «thì trân thức thức sẵn bày» cho nên khi gặp Kim Trọng, Kiều chỉ cần nhắc đến chữ chút là người đọc đã hiểu cái chút ấy là gì rồi, không cần nhắc lại, cũng không cần nói rõ là chút ước hay chút đích gì nữa. Bản ĐDA-PN chú giải: «Chút ước là ước hẹn với nhau chút đỉnh. EN và nhiều bản Quốc Ngữ phiên là chút đích mà cắt nghĩa là chút đỉnh là lầm chữ ước (29) với chữ đích (28)» (sđd, tr. 123). Thực ra, không có ai lầm cả, mà chỉ vì người ta căn cứ vào bản Nôm KOM mà thôi. Có lẽ chính CMT đã lầm lẫn thì có, và làm cho nhiều người khác lầm theo.

    11. Vung (30) [KOM, 144]

    Cả câu: Một vung như thấy cây quỳnh cành dao. Đây là phiên âm theo KOM. Trong bản CMT, chữ (31) lại không đọc là vung (cái vung để đậy) mà phải đọc là vùng (vì có bộ thủy chỉ một nơi có nước như vùng đồng bằng có nhiều sông ngòi). Taberd cũng phân biệt rất rõ. Khi viết chữ vung, ông dùng bộ thổ + bông: (32). Khi viết chữ vùng, ông dùng bộ thủy (33). Cách viết hợp lý này được các nhà làm từ điển lớp sau hoàn toàn chấp nhận. HTC và G đều viết hai chữ vungvùng đúng như Taberd đã viết. Như vậy, đọc KOM và CMT, ta cũng nên để ý đến cách viết của hai ông mặc dầu sự phân biệt của hai nhà Nôm học này cũng không được rành mạch như các nhà từ điển học. Tôi theo KOM đọc chữ (34) là vung: «Một vung như thấy cây quỳnh cành dao», khác với các bản Quốc Ngữ thường đọc theo CMT: Một vùng như thể cây quỳnh cành dao. Vung trong KOM là nói về dáng đi nhịp nhàng của Kim Trọng. Lúc trông thấy Thúy Kiều từ đàng xa, chàng đã vội vàng xuống ngựa và từ từ tiến về phía Vương Quan. Dáng đi khoan thai và cố ý làm sao cất bước và giơ tay một cách vô cùng lịch sự. Thúy Kiều đứng nép vào dưới cụm hoa (có lẽ là cụm hoa hồng) làm ra vẻ như e thẹn lắm, không dám nhìn Kim Trọng, nhưng thực ra cô ta đã không bỏ qua một cử chỉ nào của chàng.


    _____ oO0 _____​
    Trang 79


    Trong mắt cô lúc ấy, Kim Trọng như được kết bằng ngọc ngà. Vì chàng mặc áo màu xanh da trời, cho nên Thúy Kiều có cảm tưởng như đang được trông thấy một cây quỳnh màu hồng có những cành ngọc dao xanh thắm đang đi tới chỗ nàng đứng nép. Chữ «cây quỳnh» là để chỉ thân hình Kim Trọng. Có lẽ người chàng cũng khá cao, cho nên Thúy Kiều mới có cảm tưởng đó là một loại cây quý. Cây quỳnh, tức ngọc quỳnh, thức ngọc màu hồng (rubis, pierre précieuse transparente d’un rouge vif nuancé de rose ou de pourpre). Hai tay chàng vung lên nhè nhẹ khi chàng đi trông giống như hai cành cây làm bằng ngọc dao (jade), thứ ngọc màu xanh trong rất đẹp, trông long lanh như có màu trắng của sữa. Màu quỳnh là màu của da mặt, của đôi môi Kim Trọng, màu xanh là màu áo của chàng văn nhân, của con người trí thức quý phái. Kiều không bỏ sót một cử chỉ nào của Kim Trọng. Nàng quan sát chàng rất kỹ. Cả thế giới chung quanh đều biến mất, nàng không thấy đám cỏ xanh đâu nữa, chỉ thấy Kim Trọng với thân hình đẹp đẽ và hai cánh đang vung lên của chàng. Chính vì vậy mà Kiều (cũng như Kim Trọng), cả hai đều «tình trong như đã, mặt ngoài còn e» (c.164), và cả hai đều «chập chờn cơn tỉnh cơn mê » (c.165). Tiếng sét ái tình đã đánh ngã họ. Cả hai đều chỉ còn thấy nhau, chỉ thấy tim họ đập rộn ràng, và không ai muốn ra về nữa, vì họ còn thấy đường đâu nữa mà đi. Tôi hiểu đoạn thơ này như vậy, cho nên tôi không chấp nhận thoại CMT: «Một vùng như thể cây quỳnh cành dao». Nếu ta chuyển cái nhìn của Thúy Kiều hướng về cảnh vật chung quanh, kỹ thuật mô tả của Nguyễn Du thiếu tập trung. Nguyễn Du không bao giờ tả cảnh để mà tả cảnh. Cảnh như vậy là một thứ cảnh không có linh hồn, một thứ cảnh chết. Vả lại, đoạn thơ này nhắc ta nhớ lại câu thơ nói về Vương Diễn (x. chú thích). Câu thơ tả phong thái của Vương Diễn chứ không tả cảnh vật. Thúy Kiều đọc sách nhiều, khi trông thấy Kim Trọng chắc đã liên tưởng đến Vương Diễn. Dó đó, chỉ chú ý đến con người mà thôi, không biết gì đến cảnh vật.


    _____ oOo _____​
    Trang 80


    12. Nghễ(35) [c.168]: Khách đà lên ngựa, người còn nghễ theo

    Các bản Quốc Ngữ đều phiên là ghé (BK-TTK, TVK, NTG, ĐDA-PN, NQT, XP…). Chữ nghễ còn đọc nghé, nghía (ngắm nghía, c.299). Nghễ là chữ Hán nghễ (36), như nói bễ nghễ, đưa mắt nhìn nghiêng. Từ này hiện còn rất thông dụng ở Miền Trung, nhất là ở Huế, nơi có nhiều « người quốc sắc, kẻ thiên tài » (c.163). Từ nghễ biến trại thành nghé, nghía; từ ghé có lẽ gốc ở từ Hán nghi (hay nghị) (37), nói về thuyền hay tàu bè ghé bến để đậu. Từ ghé không dùng một mình.

    Tỉ dụ, ta nói: Ghé mắt, ghé thuyền, ghé đến nơi, ghé đến. Bản BK-TTK ghi là ghé theo, nhưng phải chú thích là ghé mắt theo; chỉ có từ nghễ (hay biến âm của nó là nghé) mới có thể dùng một mình, không cần bổ ngữ.

    Nếu là chữ nghễ, tại sao không viết bằng chữ Hán là (36)? Rất dễ hiểu. Đó là một cách viết Nôm rất thông dụng bằng cách Nôm hóa chữ Hán.
    Tỉ dụ chữ siêu, cái siêu đun nước, gốc là chữ Hán (38), ta viết là (39) vì cái siêu của ta được nặn bằng đất chứ đâu có làm bằng kim loại. Ngay chữ bôn ba (40) là chữ Hán thông dụng mà Nôm cũng viết là (41) thì đủ thấy hiện tượng Nôm hóa chữ Hán rất là phổ biến. Cũng may cho chữ Hán là chữ Nôm bị bức tử quá sớm, nếu không thì ngày nay nhiều chữ Hán đã bị Nôm hóa toàn bộ.

    Tôi dùng chữ nghễ để phục hồi một từ Nôm cổ, để phổ biến từ Nôm địa phương, để chứng minh sức sống mãnh liệt của chữ Nôm chống lại chữ Hán, và nhất là để ghi đậm nét hơn cái tâm hồn giàu tình cảm lãng mạn của cô bé Thúy Kiều. Chỉ có từ nghễ mà tôi nhiều lần được nghe từ miệng các học trò của tôi ở Huế mới diễn tả được tâm trạng này của Thúy Kiều.


    13. La tha (42) [KOM, 170]

    Trong văn bản do Dược Sĩ Đặng Quốc Cơ chú thích, và do tôi nhuận sắc, chúng tôi vẫn ghi theo các bản phổ thông là thướt tha: «Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha». Ở đây, vì chú trọng tới chữ Nôm ghi trong bản KOM, tôi xin gợi ý các bạn trẻ chú ý đến từ la tha rất cổ và rất hay này. Sở dĩ trong văn bản chúng tôi không dùng từ la tha thay thế cho thướt tha vì tôi là người đề nghị dùng từ ấy chưa tìm ra được một ngữ chứng nào cụ thể trong các từ điển, hoặc trong khẩu ngữ. La tha nghĩa là buông xuống một cách từ từ, chậm chạp (theo KOM).


    14. Các câu 239, 240, 241, 242

    Bản Nguyễn Quảng Tuân:

    Ngoài song thỏ thẻ oanh vàng,
    Nách tường bông liễu bay ngang trước mành.
    Hiên tà góc bóng chênh chênh,
    Nỗi riêng riêng trạnh tấc riêng một mình.

    Các bản Quốc Ngữ đều đã chọn lục KOM để tránh lạc vần: chênh chênh/tấc riêng (x. văn bản). Ông NQT chọn lục này nhưng không nêu lý do. Thực ra vần ênh/iêng chưa chắc đã là lạc vận như bản BK-TTK đã chú. Tuy nhiên, Nguyễn Du hình như không thích phiêu lưu trong những trường hợp bấp bênh ấy. X. sau.


    _____ oOo _____​
    Trang 81

    15. Gạc (43) [CMT, 247] Cả câu: Sầu đong càng gạc càng đầy.

    Tôi đã viết khá dài dòng về từ gạc này trên Báo Làng Văn số 149. Thực ra, như ta đã thấy, đó là chữ khắc chứ không phải là gạc, và nếu theo đúng mặt chữ, nên phiên âm câu 247 là: Sầu đong càng khắc càng đầy.

    Chữ (44), tuy chữ Hán là chung, tôi đọc là đong vì tôi biết đây không phải là chữ Hán mà là chữ Nôm. Ông Tuân cẩn thận đã chú thích có thể chữ (45) đông đã bị khắc sai thành chữ (44) chung. Nếu nghi ngờ là viết sau, chữ đầy cũng viết sai là chữ dày, vì chữ đầy phải được viết là (46) [ thủy + đài ] như bản KOM mới thực là đúng mặc dầu ai cũng biết chữ đầy trong các từ điển đều được viết theo QVĐ. Bản KOM viết: Sầu đong càng bạt càng đầy, chữ (47) là chữ bạt chứ không phải là gạt mặc dầu nó rất giống chữ (48) mà ta có thể đọc là ngạt, ngặt, ngắt, gạt. Học Giả Nguyễn Quảng Tuân có lẽ vì quá vội vàng nên đã đọc chữ bạt ra chữ gạt. Sau khi đã đối chiếu nhiều bản Nôm và các bản Quốc Ngữ, ông đã chấp nhận chữ lắc là hay hơn cả: Sầu đong càng lắc càng đầy, nhưng vẫn thú nhận chữ lắc là một chữ được sửa lại và không tìm thấy trong một bản Nôm nào. Trong bài báo của tôi đăng trên Làng Văn nhan đề là: Sầu đong càng gạt càng đầy, tôi đã chứng minh chữ lắc là do chữ khắc mà ra. Theo luật KL mà ta thấy trong những cặp từ kiểm/liễm, các/lác; ngay chữ khắc cũng có một chữ đối âm là lặc (49) nghĩa là khắc trên đá, viết lách. Đồng thời, tôi cũng chứng thực luật KH>G của chữ Nôm.

    Tỉ dụ: khương/gừng, khương/gương, khảy/gảy. Như vậy, chữ khắc đọc là gạc rất là hợp lý. Gạc là một thuật ngữ về đo lường, x. chú thích. Câu 247 phải phiên là sầu đong càng gạc càng đầy mới lột được tài năng dùng chữ siêu đẳng của Nguyễn Du. Đong là đo thể tích chất lỏng (như dầu, rượu) hay đồ có hạt (như ngũ cốc); đã đong thì phải dùng đấu, đong vào những đồ đựng lớn như thạp, chum, kiệu, những đồ đựng không thể lắc một cách dễ dàng như một cái lọ, cái chai. Gạc (nói theo Miền Trung) hay gạt (theo Miền Bắc) là dùng đồ vật bằng gỗ hay bằng tre đưa ngang miệng đồ đong để bỏ đi phần cao hơn cái miệng đồ đựng. Trong trường hợp này, phải dùng từ gạc là một thuật ngữ chứ không thể dùng từ lắc là một từ nói chung. Tôi đề nghị bỏ hẳn từ lắc và chọn từ gạc.


    _____ oOo _____
    Trang 82

    16. Gon (50) [c.248] Cả câu là: Ba thu gon lại một ngày dài ghê

    Chữ (51) (thường đọc luân, luận, Nôm cổ đọc là gon, gọn) là của bản CMT (thường được các nhà nghiên cứu gọi là bản QVĐ). Trong KOM, ta lại thấy chữ (52) đọc dọn là rất đúng: Ba thu dọn lại một ngày dài ghê. Vấn đề là chọn chữ gì đây? Giáo Sư Nguyễn Quảng Tuân quả quyết là chữ dồn. Tất cả bắt nguồn từ âm dồn, thường thường chữ dồn được viết bằng âm cổ đồn (53). Do đó, người ta lấy chữ đồn biểu âm, phụ âm cổ đ muốn biểu âm d hiện đại phải qua phụ âm de.

    Tỉ dụ:

    Chữ Nôm biểu âm chữ thế kỷ XV-XVII chữ hiện đại

    (54) đại deạy dạy

    (56) đỗ deổ dỗ

    (58) đồ deò dò

    (60) đồn deồn dồn

    (61) đồn deọn dọn​

    Như vậy, chữ đồn trong bản Nôm KOM nên đọc là dọn hơn là dồn. Có nhiều bản đọc là dọn (BK-TTK, ĐDA-PN, …) có bản đọc là dồn (TVK, NMT…); đó là đọc theo bản KOM. Theo bản CMT, ta phải đọc là gon, hay gọn, đúng như cách đọc cổ mà HTC đã giữ được. Điều này cho biết, một trong nhiều phụ âm dùng làm biểu âm cho phụ âm g có phụ âm l.

    Tỉ dụ:

    Chữ biểu âm âm từ nhân chứng

    (64) luân, luận gon, gọn (65) HTC

    (66) lợi gợi (67) G

    (68) lại gại (69) G​


    17. Cới trêu (70) [c.264]

    Các bản Nôm TK và các từ điển cổ đều đồng ý chứng nhận cới trêu là một từ có thật. Các từ điển đều lấy chữ cải của chữ Hán để biểu âm. Các bản TK có viết khác nhưng đều lấy âm của các chữ ký và khỉ (hay khải) để biểu âm.

    Tỉ dụ:

    HTC cới trêu cải > cới

    G cới trêu cải > cới (71)​

    CMT cới trêu cải > cới (72)

    KOM cới trêu kí + thủ > cới (73)

    LVĐ cới trêu khỉ + thủ > cới (74)​

    Như vậy, từ cới trêu là một từ có thực, được từ điển ghi chép và các Học Giả TK ghi âm. Phiên cới trêu thành khảy trêu (TVK, NQT), khẩy trêu (ĐDA), khơi trêu (BK-TTK) đều là phiên âm sai. Chỉ có Học Giả Xuân Phúc là người duy nhất đã ghi đúng.

    HTC phân biệt:

    Cải cới (75)

    Cải + thủ gảy, khảy (76)​

    (Còn Tiếp)

     
  19. PH44

    PH44 Người thân Tình Nguyện Viên

    Trang 83

    Giải Thuyết Nôm Học
    Một Số Chữ Nôm Trong Truyện Kiều

    (Tiếp Theo)


    18. Liên lý (77) [c.311]

    Các bản Nôm đều ghi là lân lý (78). Chữ này có vẻ là chữ Hán, nhưng không phải là chữ Hán. Nó chính là chữ liên lý của chữ Nôm cổ có ghi trong ADR và T với nghĩa là sine intermissione, nghĩa là: không dứt, không ngớt. T viết chữ liên theo kiểu chữ Nôm là (79) tức chỉ lấy âm của chữ liên Hán văn (80) (nghĩa là thương yêu, như nói liên mẫn, hay lân mẫn.
    Câu 311: «Sinh rằng: Liên lý ra vào», Kim Trọng nói: Tôi vào ra chỗ này hoài… Kim Trọng không nói dối đâu. Ta cứ đọc những câu từ 283-310 thì thấy chàng đã nhiều lần ra vào chỗ sân nhà Thúy Kiều. Giáo Sư Nguyễn Quảng Tuân đọc là lân lí và giảng như sau: Lân là xóm, lý là làng, tức là xóm làng, đây ý nói chỗ láng giềng hàng xóm với nhau (sđd, tr.72). Học Giả ĐDA và PN giảng lân lý là cái làng bên cạnh, ở đây có nghĩa là nơi gần gũi (sđd, tr.260). Tôi thiết tưởng nên trả lại chữ liên lý cho chữ Nôm và giảng nghĩa như T là đúng nhất với trường hợp ứng xử của Kim Trọng.


    19. Bắc ngọn tường (c.319). Cả câu: Thang mây rón bắc ngọn tường

    Bắc là bắc thang, bắc thang vào tường rồi leo lên. Chuyện rất đơn giản nếu ta phiên chữ (81) là bắc. Các bản Nôm ghi câu này rất khác nhau:

    Bậc mây rón bước ngọn tường (LVĐ, KOM)
    Vén mây qua bước ngọn tường (QVĐ)​

    Các bản Quốc Ngữ do đó cũng phiên âm khác nhau hẳn.

    Bậc mây rón bước ngọn tường (BK-TTK)
    Bực mây dón bước ngọn tường (ĐDA-PN)
    Vén mây nhón bước ngọn tường (TVK)
    Thang mây rón bước ngọn tường (HĐH, NQT)​

    Tôi không hiểu tại sao nhóm chữ bước ngọn tường lại được mọi người đồng ý trong khi lục bản HĐH và NQT rất rõ ràng là thang mây rón (rén) bắc (qua) ngọn tường. Nếu là bước, làm sao bước được trên ngọn tường, trừ ra có tài đu bay. Thực ra, lỗi chỉ ở tại chữ bắc đã viết với bộ túc thành bước trong khi các từ điển và nhiều bản Nôm viết bắc và bước như nhau, nghĩa là không có bộ túc. Bắc thang là scalam admovere. Anh chàng Kim Trọng kiếm đâu được cái thang làm bằng mây (đằng: Rotin), vội đặt đầu thang vào tường, rồi leo lên để nhìn sang chỗ Thúy Kiều đứng, chỉ đơn giản vậy thôi, chứ không phải chàng ta đã vội vàng lêo lên đầu tường, rồi bước đi trên đó. Nếu làm được như vậy, chàng chả cần phải rón, tức là rón rén, thu hình lại để trèo lên một cách cẩn thận từng ly từng tí (kẻo ngã).


    _____ oOo _____
    Trang 84


    20. Dáu bèo (c.330)

    Các bản Nôm đều viết dáu dấu (82), và do đấy, các bản Quốc Ngữ đều phiên âm câu 330 là: «Đài gương soi đến dấu bèo cho chăng?»

    Bản BK-TTK chú: «Đài gương cũng như đài trang là chỗ người đàn bà ở, nghĩa rộng là nói tôn người đàn bà. Dấu bèo là nói phận nhỏ mọn, lời Kim Trọng nói khiêm».

    Bản NQT: «Đài gương là cái giá để gương cho phụ nữ trang điểm; đây chỉ người con gái cao sang. Dấu bèo, dịch chữ bình tung, nói cảnh bèo trôi trên mặt nước chẳng để dấu vết gì. Cả câu là lời Kim Trọng nói khiêm mình chỉ là một thư sinh chưa có danh vọng còn lang thang du học không biết có được Cô Kiều là bậc cao sang để ý đến không?» (sđd, tr.74) Bình tung đúng thực là dấu bèo, nhưng từ ngữ này nhấn mạnh về tính phiêu lưu bất định của bèo. Như trong thơ chữ Hán của Nguyễn Trải, chứ không như trong thơ của Giáp Hải, đã khai triển những giá trị tuyệt đối của bèo. Kim Trọng nói khiêm, đúng vậy, cho nên chàng đã không nói tới cái dấu bèo, chữ Hán là (83) lân hành (hay lân kinh) tức là cái củ, phần mọc ở dưới lòng đất hay dưới nước, thường được dùng để chỉ những cái gì nhỏ mọn, không đáng kể, đồng nghĩa với lân trảo. Bèo là một loại thực vật nhỏ mọn, ở đâu cũng có, không có giá trị gì. Cái củ mọc ở dưới chân bèo lại càng nhỏ mọn hơn nữa, không có gì đáng giá. Khi Kim Trọng tự ví mình với cái dáu bèo, tức là chàng đã nói khiêm cùng cực, coi mình như con giun đất muốn đi yêu một ngôi sao. Ngôi sao ở đây được Kim Trọng gọi là đài gương. Các tác giả Từ Điển Truyện Kiều hiểu đài gương là kính đài, và bác cách hiểu đài gương là gương sen. Lý do là vì gương sen thì làm sao mà soi? Nhưng nếu đúng như vậy, cái kính đài phải đặt ở đâu để cho nó có thể soi xuống «dáu bèo»? Phải khiêng nó ra ao? Phải đặt nó nổi trên mặt nước? Khó quá! Thà hiểu là cái gương sen đi, và đã gọi là gương thì phải soi được chứ nếu không thì làm sao gọi được là gương?

    Đó là nói về nghĩa. Ở đây, tôi chỉ muốn nói về chữ. Chữ dấu viết với bộ túc và chữ dậu là một chữ Nôm hậu kỳ, nghĩa là chữ Nôm đời Tự Đức trở đi, thời của CMT và KOM, không phải thời Nguyễn Du. Vào thời Nguyễn Trải, chữ dấu được biểu âm bằng phụ âm đ, tức bằng phụ âm đ trong chữ đấu. Mỗi lần câu thơ thất ngôn có 7 chữ mà có chữ dấu là y như trở thành lục ngôn (6 chữ) tức là mất đi một chữ. Tôi cho là vì chữ dấu cổ được đọc bằng 2 âm; chữ dấu có 2 âm này (gọi là song tiết) được viết trong ADR là deáu (như các chữ deạy, deổ đã nói ở trên). Ta cứ thử yêu cầu người Huế đọc chữ deấu này thì rõ ràng là ta nghe thấy hai âm: Dy ấu, dy là một âm, ấu là âm thứ hai. Đó là ngữ chứng còn sống. Khi ta phát âm dy thành z (đọc gần như chữ j của tiếng Pháp), chữ dấu co lại thành đơn âm, và đó là chữ dấu của người Bắc ngày nay. Muốn biểu âm cho chữ này, ta đã có sẵn chữ dậu (84), và ta thêm bộ túc (85) để chỉ đó là một dấu vết để lại sau khi đã đi. Ta có chữ (86), âm khác với chữ deấu cổ được viết là (87) (túc + đẩu). X. Taberd.

    Ta phân biệt:

    XV-XVI-XVII deấu
    XVIII-XIX dấu
    XIX-XX dáu (T, HTC)


    _____ oOo _____​
    Trang 85

    Kết luận, ta không thể căn cứ vào chữ dấu của các nhà nghiên cứu TK để gán cho Nguyễn Du là tác giả của chữ đó. Ông đã chỉ viết chữ dáu bằng chữ dậu (88) của Hán Văn. Sau đó, vì không biết từ dáu nghĩa là gì, người ta đã đổi thành dấu cho dễ hiểu. Ta phải đọc lại câu thơ của Nguyễn Du: «Đài gương soi đến dáu bèo cho chăng?» để bảo trì một từ cổ, và để hiểu và viết chữ dáu quạt cho đúng chính tả. Từ dáu trong dáu quạt (cũng như dáu khoai, dáu môn, dáu thơm, bảy dáu) đã bị khai tử trong Từ Điển Tiếng Việt của Viện Ngôn Ngữ Học Hà Nội. Chẳng nhẽ ở ngoài Bắc hiện nay không có được một cái quạt giấy để từ đó có thể biết được thế nào là một cái dáu quạt?


    21. Nhẩm (c.376) Cả câu: Nhẩm cơ hội ngộ đã đành hôm nay.

    Bản KOM ghi nhẩm là gẫm (89). Do đó, nhiều bản Quốc Ngữ đã phiên âm là: «Gẫm cơ hội ngộ đã đành hôm nay» (TVK, NQT), hoặc ngẫm (BK-TTK, ĐDA-PN). Ta đã gặp từ gẫm và ngẫm trong nhiều trường hợp. Ở đây, xin ghi nhận từ nhẩm, nghĩa cũng như hai động từ kia, nhưng chuyên biệt hơn. Từ nhẩm này, vì bị đọc là nẫm như trường hợp Giáo Sư Nguyễn Quảng Tuân, cho nên không được chấp nhận. Thực ra các chữ Hán được viết với chữ niệm (90) đều có âm là nhẫm như (91), trừ chữ (92) ngoài âm nhẩm còn có âm nẫm (nghĩa là năm, và âm năm chỉ thời gian của ta là do chữ nẫm này). Động từ nhẩm trong câu 376 cho biết khi được tin cha mẹ và hai em sắp vắng nhà, Kiều liền tính toán rất nhanh trong đầu óc phải làm những gì, và điều đó rất phù hợp với tuổi tác và tính tình của cô nàng. Từ nhẩm (tính nhẩm, tính thầm trong bụng) có tính bản năng nhiều hơn trí tuệ, rất hợp với cách ứng xử của Cô Kiều lúc đó.


    22. Nung sừ (c.365) Cả câu: Sông tương một dải nung sừ.

    Các bản Quốc Ngữ đều chép nông trờ (TVK) hay nông sờ (BK-TTK, ĐDA-PN, NQT, XP…) Riêng HTC, trong từ điển của ông (in năm 1898), đọc là nung sừ, cắt nghĩa là mênh mông mịt mù, chữ sừ cũng viết bằng chữ trừ (93). Tôi không biết nguồn gốc của từ này. Trương Vĩnh Ký, người sống đồng thời với Huỳnh Tịnh Của không hề biết đến từ này. Các từ điển chuyên về phương ngữ Miền Nam cũng không thấy có. Mặc dầu thế, tôi vẫn tin vào sự có thật của từ nung sừ này. Về nghĩa, nó rất hợp lý (x. chú thích) và không đi ngược lại ngữ pháp như chữ trờ hay sờ (x. chú thích) cũng như không đi ngược lại sự thật địa lý. Khi cuốn Đại Nam Quốc Âm Tự Vị được in xong, TVK còn sống, và không thấy nhà bác học này có ý kiến gì về từ nung sừ bí hiểm này. Như thế, có thể coi là từ này đã được chấp nhận. Tôi thiết tha đề nghị đọc câu 365 là: Sông Tương một dải nung sừ.


    _____ oOo _____​
    Trang 86


    23. Song đào (c.446)

    Chữ song này chữ Hán nghĩa là song cửa, được các bản Nôm viết giống nhau, nhưng vì không hiểu rõ nghĩa gốc của chữ song này nên có nhà nghiên cứu đã đề nghị đổi song đào thành lô đào (94) như BK-TTK, có người tự tiện chữa song đào thành lò đào như Đào Duy Anh (x. Từ Điển Truyện Kiều, bản in lần thứ nhất). Giáo Sư Nguyễn Quảng Tuân trong Chữ Nghĩa Truyện Kiều, (Hà Nội, 1994) đã kịch liệt phê phán lối làm việc sai trái của học giả họ Đào (sđd, tr.178). Trong bản in lần thứ hai, lần này có công hiệu đính của Học Giả Phan Ngọc, các tác giả TĐTK ( năm 1987) nhìn nhận song ở đây không có nghĩa là hai (kiểu như ĐDA đã hiểu sai) mà có nghĩa là cửa sổ để rồi cuối cùng chấp nhận cách giải thích của NQT: «Song đào là cái lư hương để ở bên cửa sổ mà phía ngoài sân gần đó có trồng cây đào » (x. Chữ Nghĩa Truyện Kiều, in lần 2, tr. 179).

    Như vậy, ta có thể hiểu một cách rất đơn giản như trong câu 1367: Đêm thu gió lọt song đào. Nhưng sự thực lại không đơn giản, vì còn có chuyện Kim Trọng đến bên song đào để đốt thêm hương (song đào thêm hương). Hiển nhiên là chữ song đào này không phải là cái song đào của câu 1367. Vậy thì là gì? Ta chỉ cần xem lại chữ song, chữ này được viết chính thức là (95), nhưng tập tục thì quen viết tắt là (96) (tức lược bỏ bộ huyệt). Chữ này lẫn âm với chữ thông, và lại có nghĩa là cái ống khói (cheminée), mà bây giờ ta gọi là lò sưởi, chữ Hán là yên thông (97). Do đó, chữ song trong Truyện Kiều chính là chữ song này, viết có bộ huyệt hay không có bộ huyệt cũng được. Chữ song trong song đào không hề có nghĩa là cửa sổ. Hai chữ chỉ giống nhau về tự dạng (vì cũng là một chữ), nhưng khác nhau về nghĩa. Như vậy, song đào phải được hiểu trong nghĩa của chữ yên thông và cái yên thông ấy hình quả đào. Tức là sự gợi ý của BK-TTK (lò đào), của ĐDA (lò đào), của NQT (lư hương) đều đúng, nhưng phải duy trì chữ song (hay thông) và phải hiểu đó là tên cổ của một thứ lư hương. Có lẽ để tránh mọi ngộ nhận, ta nên đọc chữ song thành âm chính của nó là thông: «Đài sen nối sáp, thông đào thêm hương», hiểu thông là cái lư hương, đào là hình quả đào, có thể đặt ở đâu đó trong căn phòng chứ không cần đặt «ở bên cửa sổ mà phía ngoài sân có trồng cây đào». Hiểu như vậy rõ ràng là quá phức tạp, quá rắc rối mà lại thiếu hoàn chỉnh đối với chữ đài sen. Chẳng lẽ lại phải định nghĩa đài sen là một cái đài nến mà ở ngoài ao có trồng sen?

    Cũng nên để ý đến cách viết của chữ song. Các bản Nôm (và cả Học Giả Nguyễn Quảng Tuân, đều viết là: (Huyệt + tín), chữ (98) (ở trong có chữ tịch) là chữ tín (cái thóp). Chữ (99) này, trong chữ song là (100), không thành chữ, có lẽ chỉ vẽ hình là hai cái chấn song chăng?


    _____ oOo _____​
    Trang 87


    24. Vĩ chi (c.503, c.609)

    Các bản Nôm đều viết là vẻ chi (CMT) hay vẻ gì (KOM) cho nên các bản Quốc Ngữ đều phiên âm là vẻ chi rất đúng. Cái sai ở đây là sai ở bản Nôm. Các từ điển cổ đều có ghi từ vĩ chi nghĩa là sá chi, quản chi (C), hoặc: Qu’est-ce que cela vant trong từ điển G: cái ấy có giá trị gì? Ta phải phục hồi từ vĩ cổ kính này. Về gốc, có lẽ là do chữ vĩ Hán Văn, nghĩa là vật quý giá như ngọc ngà châu báu. Vĩ chi theo chữ này có thể có nghĩa là: Quý báu gì, hay hớm gì. Về chữ viết, đây là một phương pháp mà thầy tôi, Cụ Lê Huy Diễm, thầy dạy chữ Nôm của tôi đời xưa, gọi là phép Nôm hóa Hán Tự, nghĩa là viết chữ Hán theo cung cách chữ Nôm. Tỉ dụ, chữ , Hán tự viết là (101) (chữ ba là sóng trên chữ nữ), chữ Nôm viết tắt 2 lần: (102)

    Chữ (103) viết Nôm thành (104) vĩ là mới viết tắt bằng cách dùng một chữ Hán ít nét hơn để viết một chữ Hán có nhiều nét. Trong nhiều trường hợp, các cụ ta đã Nôm hóa chữ Hán một cách rất tàn nhẫn. Do đó, bị các nhà Nho sính chữ Hán phản pháo lại bằng một từ cũng tàn nhẫn không kém: Nôm na cha mách qué. Nhưng chính nhờ cái mách qué đó mà có chữ Nôm, có Truyện Kiều.

    Tôi đề nghị viết lại những câu:

    503: Vĩ chi một đóa yêu đào
    669: Vĩ chi một mảnh hồng nhan
    1343: Vĩ chi chút phận bèo mây.

    Không nên đọc sai vĩ chi thành vẻ chi rồi cắt nghĩa vẻ chi theo vĩ chi là: Có ra dáng gì, có đáng giá gì (x. Từ Điển Truyện Kiều, tr. 500). Ta cứ thu thập cho đầy đủ các bản Nôm. Thế nào cũng “khai quật” được từ vĩ này dưới các lớp trầm tích của đất và của thời gian. Học Giả TVK là người duy nhất đã phiên âm đúng từ vĩ chi này, mà theo thanh điệu của miền Nam, ông ghi là vỉ chi (vỉ dấu hỏi). Học Giả XP cũng đọc theo là vỉ chi.


    _____ oOo _____​
    Trang 88

    Chữ vẻ của câu 525 cũng không phải dễ đọc:

    Bản LVĐ-QVĐ: Bóng tàu vừa lợt vẻ sân.
    Bản KOM, XP: Bóng tàu vừa lạt vẻ ngân.
    Bản TVK: Bóng tàu vừa lợt vẻ ngân.
    Bản BK-TTK: Bóng tàu vừa nhạt vẻ ngân.
    Bản ĐDA-PN: Bóng tàu vừa lạt vẻ sân.​

    Nếu đó là chữ vẻ (chữ + thái), chữ vẻ ngân có nghĩa hơn vì vẻ ngân là ánh sáng của ngân hà, của trăng. Ánh sáng mà lạt đi, hay nhạt, hay lợt đều có nghĩa. Ta nên để ý đến cặp từ lạt/nhạt; dạng cổ của chúng là nhạt, sau ml > l > nh, cho nên ta có: mlớn > lớn, nhớn; mlài > lài, nhài; mlạt > lạt, nhạt.

    Nhưng đi với từ sân, chữ vẻ hóa ra lạc lõng, và quả thực ngữ vẻ sân khó chấp nhận. Kỳ thực, chính chữ vẻ ngân suy cho cùng tột vẫn không có nghĩa. Tại sao vẻ ngân mà phải hiểu là ánh sáng sông ngân hà? Rồi từ ngân hà phải hiểu là ánh trăng? Tôi thấy chưa có gì là ổn thỏa cả. Ta xem lại thời gian lúc đó. Khi Thúy Kiều và Kim Trọng thề nguyền, ánh trăng ở đỉnh đầu, nghĩa là khoảng nửa đêm. Rồi họ đánh đàn, hình như có vặn ti-vi và nghe karaoke nữa, cho nên quên cả thời gian, trời sáng lúc nào không biết. Họ nhìn ra ngoài sân (cái sân này chắc có thực vì ngôi nhà Kim Trọng thuê là của một đại thương gia, đi giao dịch nước ngoài chưa về), thấy cái riềm nhà, hay mái nhà nói chung (tàu), đang chiếu bóng nó xuống mặt sân, về phía giáp giới giữa cái sân và ngôi vườn (gọi là vỉa sân), thì biết là mặt trăng đã xuống quá thấp phía sau nhà rồi, tức là trời đã sắp sáng rồi! Như vậy, ta hiểu được một phần câu: Bóng tàu vừa lạt (hay nhạt, hay lợt) vỉa sân. Chỉ còn chữ lạt. Hoặc viết chữ Hán lạt (105) (KOM), hoặc thêm bộ thủy: (CMT) để đọc là lợt, nhạt. Tôi nghĩ đến chữ rắt trong ADR, giảng nghĩa là projicere, nghĩa là ném ra phía trước, kéo dài ra đến một chỗ rất xa. ADR cho tỉ dụ: rắt xuống sông (ném vật gì xuống sông). Ông còn nói: tốt hơn, nói là hắt (như ta nói ngày nay, hắt xuống sông). Ta đọc câu 525 là: Bóng tàu vừa rắt vỉa sân, hiểu là: Bóng tàu vừa hắt vỉa sân, tức là cái bóng của riềm mái nhà (có thể hiểu là cái máng xối) đã bắt đầu hắt xuống cái vỉa của cái sân, tức là muốn nói rằng: trăng đã sắp lặn về phía Tây rồi ( phía Tây theo kiến trúc ngày xưa là phía sau), về phía trước nhà, chỉ thấy bóng của mái nhà đổ xuống sân, mặt trời chưa mọc nhưng cũng sắp mọc. Tả trăng mà không cần nói tới bóng trăng, hay ánh trăng: chỉ cần cho độc giả trông thấy bóng của mái nhà là biết có trăng ở phía sau; tả mặt trời mà cũng không cần tả mặt trời, vì nếu lúc ấy trời đã rạng đông thì làm sao còn thấy bóng trăng được nữa!

    Trong văn bản, theo thời đề nghị của Dược Sĩ Đặng Quốc Cơ và Bà Giáo Sư Phạm Thị Nhung, tôi vẫn duy trì cách phiên âm cổ truyền là: Bóng tàu vừa lạt vỉa sân (đúng như ý muốn của hai Học Giả tiếng tăm là Xuân Phúc và Nguyễn Quảng Tuân), nhưng tôi vẫn quả quyết phiên câu thơ 525 là: Bóng tàu vừa rắt vỉa sân. Chữ vỉa ngày nay rất thông dụng: Vỉa hè. Chữ rắt đã mất, nhưng còn chữ hắt. Hai chữ vẻ sânvẻ ngân đều yếu; cách hiểu cũng gượng gạo. Chữ rắt được biểu âm bằng chữ lạt là quy luật thông thường, và từ này cũng chưa cổ bằng từ bóng tàu, và còn dễ hiểu hơn các từ lạt vẻ sân, lạt vẻ ngân, càng nghĩ đến càng thấy khó đứng vững với thời gian.


    _____ oOo _____​
    Trang 89


    25. Sươi (106) [c.552]

    Theo CMT, c.552 là: Dẫu sươi mái tóc, dám dời lông tơ. NQT theo KOM phiên là: Dẫu thay mái tóc, nhưng trong phần khảo dị, ông phiên âm câu 552 CMT (hay QVĐ) là: Dẫu sai mái tóc… Nếu đó là từ sai, phiên âm là thay (theo KOM), hợp lý hơn. Nhưng chữ sai còn đọc là sươi, nghĩa là se, như nói: sươi da là se da, tức là nói da bị khô lại gây ngứa ngáy khó chịu. Ở đây, sươi mái tóc nghĩa là tóc bị khô hay thưa đi vì rụng nhiều. Chữ thay dễ hiểu hơn, và có chữ trong bản Nôm (KOM), nhưng không có giá trị văn chương bằng từ sươi. Danh từ gia chánh có từ thịt muối sươi là thịt có rắc muối lấm tấm, tức là chỉ muối sơ qua vừa đủ mặn. Dẫu sươi mái tóc: nếu đầu tôi bắt đầu lấm tấm có tóc bạc, nếu tôi bắt đầu già, đó là một cách nói rất tình tứ, cách viết quen thuộc của Nguyễn Du.


    26. Giớp nhà (c.646 và c.898)

    Câu 646: Giớp nhà nhờ lượng người thương dám nài
    Câu 898: Giớp nhà đến nỗi giấn vào tôi ngươi.

    Từ này là một từ có thực, được ADR ghi vào từ điển danh tiếng của ông với định nghĩa là điển lệ của gia đình, kể cả về thưởng lẫn về phạt. Trước kia giàu có nhưng đến bây giờ đã bị tiêu tan không còn gì nữa (ADR, x. giớp xưa). Đó đúng là giớp nhà. Chữ này đã được mụ mối dùng trong câu 646 để quảng cáo cho gia thế của Thúy Kiều. Mụ mối khoe: nhà cô ấy trước đây giàu có sang trọng lắm chứ bộ! Chỉ vì câu chuyện thằng bán tơ nó tố cáo mà bây giờ nhà cửa không còn gì nữa. Nếu không thì làm gì phải đi bán mình như thế này. Mụ nói rất ngắn mà rất rõ: vì gia biến cho nên xin ông bà thương tình, chúng tôi không dám xin gì nhiều đâu! Trong câu 898, Vương Ông cũng nói đến nạn giớp nhà đã làm đổ nát gia đình ông: Giớp nhà đến nỗi giấn vào tôi ngươi. (x. chú thích). Cũng chỉ có một chữ giớp ấy mà các bản Nôm viết rất lộn xộn:

    Câu 646:

    (CMT) gấp (107) giớp
    (ADM) rấp (108) giớp
    (KOM) ngặt (109) ngặt​

    Câu 898:

    (ADM) rấp (110) giớp
    (CMT) rấp (111) giớp
    (KOM) cực (112) cức

    _____ oOo _____​
    Trang 90


    Cái khó cho nhà Nôm học là phụ âm đầu của từ giớp không biết phải phát âm thế nào cho đúng. Vào thời ADR, người ta còn phân biệt dễ dàng sự khác nhau về phát âm giữa các phụ âm d, dea, gi, r. Tỉ dụ, ADR không bao giờ lầm lẫn về giấu/dấu, giạt/dạt, gia/dea, rấp/giấp… Về phía Nôm học, các nhà chuyên môn cũng rất thận trọng và đã nghĩ ra được những dấu âm rất hữu hiệu để phân biệt các loại phụ âm. Tỉ dụ các dấu âm cự, tư, ba, xa, ma mà vì không hiểu công dụng, các nhà văn lớp sau (từ thế kỷ XVIII trở đi) đã phế bỏ và gây khó khăn cho chúng ta hiện nay về phương diện ngữ âm học. Nói riêng về từ giớp, người thì đọc là gấp (đúng hơn là gớp), người thì đọc là rấp (đúng hơn là rớp), có khi còn đọc dớp… nghĩa là ta chỉ loay hoay chung quanh những phụ âm gi, d, r mà trước thế kỷ XVIII người ta phân biệt rất rành mạch.

    Không kể Học Giả Đào Duy Anh là người chúng tôi kính trọng về phương diện nghiên cứu sử học nhưng lại nổi tiếng về những sai lầm trầm trọng trong việc nghiên cứu chữ Hán và chữ Nôm (x. Nguyễn Hữu Quang trong bài Nói Chuyện Về Những Khuyết Điểm Của Đào Duy Anh Về Hán Nôm tại Ottawa, có lược đăng trên Báo Làng Văn; Nguyễn Quảng Tuân, trong Chữ Nghĩa Truyện Kiều, rải rác), không kể những học giả đầu tiên về chữ Nôm như Trương Vĩnh Ký, Génebrel… ngay chúng ta hiện nay vẫn khó phân biệt các phụ âm gi/d. Tỉ dụ nhà Nho Học Nguyễn Quảng Tuân, lúc thì viết chữ giấn (Rấp nhà đến nỗi dấn vào tôi ngươi) trong văn bản Truyện Kiều (Toàn Tập Nguyễn Du, tr. 123). Nói gì đến chữ giớp mà nếu không có công trình của ADR và của Giáo Hội Công Giáo thế giới, chắc là đã biến thành những chữ dấp, rấp, gấp xa lạ rồi. Tôi không đủ thì giờ và hoàn cảnh để giải quyết vấn đề này một cách toàn bộ hơn, chỉ xin lạm bàn về chữ gấp (113) mà Học Giả Nguyễn Quảng Tuân đã chủ trương và được nhiều nhà nghiên cứu uyên bác chấp nhận.


    _____ oOo _____​
    Trang 91

    Trước hết, từ gấp (trong gấp gáp, gấp rút) trong các từ điển Nôm và các văn bản Nôm mà tôi biết đều được viết bằng chữ cấp (114), là gốc của nó về âm và về nghĩa. Không có chữ nào là chữ gấp được viết bằng (115). Trong các chữ Nôm được cấu tạo với chữ cập (116), không có chữ nào đọc là gấp, xin đan cử một vài tỉ dụ (theo T, C, G và các bản văn Nôm)

    Cập, cấp, cặp, cợp, gặp, gập, kịp

    Cắp, cặp, gáp, gắp, kẹp

    Ngập, gập, ngợp

    Hấp, hóp, hớp, cạp, cáp, cấp

    Ngập

    Cặp, kíp, níp

    Khớp

    Cạp

    Vấp

    Vậy
    Chữ (117) mà NQT đọc là gấp thực ra trong KOM đều được đọc là gặp (27 trường hợp) và được viết bằng chữ cập trong QVĐ (hay CMT), nhưng phải công nhận, về mặt chữ, đọc như NQT là đã đi tới âm cuối cùng mà chữ ấy có thể cung cấp, trừ chữ gớp mà có lẽ NQT đã không nghĩ tới. Âm G trong gớp sau được ngạc hóa thành giớp là một hiện tượng bình thường của ngữ âm học tiếng Việt. Ta có những cặp g/gi như sau:


    G (hay K) Gi

    Gập-ghềnh giập giềnh (dập dềnh, rập rềnh…)

    Gấu chứa giấu chứa

    Gạch giạch (dạch, rạch)

    Gằm giằm

    Gằn gạo giần gạo

    Găng giăng

    Ghểnh giểnh

    Ghếch giếch​

    Như vậy, có thể Nguyễn Du đã viết chữ giớp, nhưng lấp âm của chữ gớp (mà NQT đọc là gấp). Trong việc chạy đua đi tìm chữ giớp, Nguyễn Thạch Giang là một học giả may mắn nhất. Trong cả hai trường hợp c. 646 và 898, ông đã phiên những chữ bí hiểm kia là dớp, và có thể, trong thực tế, ông đã phát âm là giớp, kiểu như dấn/giấn của Giáo Sư Nguyễn Quảng Tuân, giấu/dấu của hai Ông Đào Duy Anh và Phan Ngọc (hai ông viết yêu dấuyêu giấu).


    _____ oOo _____​
    Trang 92


    Có điều trong cả hai trường hợp, nhà Nôm Học Nguyễn Thạch Giang không hề cho biết vì lý do gì ông lại đọc 2 chữ viết khác nhau ấy thành một âm. Về phần tôi, tôi xin nói tại sao trong trường hợp chữ trất của c.898, tôi cũng đọc là giớp. Phụ âm gi được hình thành từ những phụ âm d, đ, h, t, và nhiều nhất là từ phụ âm ch (trong đó có tr):

    Chi gì

    Chỉ gỉ

    Chức giấc

    Trại giại

    Trận giận​

    Trật giật​

    Chữ trất > giớp cũng nằm trong trường hợp đó. Trước thế kỷ XVIII, muốn báo hiệu sự biến âm của tr > gi, nhà Nôm học dùng dấu chỉ âm cự (118). Dấu này có chức năng biến ch (tr) > gi, nghĩa là biến một phụ âm vô thanh thành hữu thanh; do đó, ta có:


    Triều (chàu) > giàu (119)

    Trà (chà) > già (120)​

    Những dấu âm này, và chức năng ngôn ngữ học của chúng, mặc dầu tôi đã nhiều lần lên tiếng, các nhà Nôm học vẫn chưa nhất trí. Họ vẫn nghe ĐDA, cho các dấu âm đó là dấu nghĩa. Tôi tin rằng sau khi tôi cho xuất bản cuốn Quốc Âm Thi Tập của Nguyễn Trải, vấn đề này sẽ được giải quyết dứt khoát.

    Vì không có dấu âm, chữ trất khó đọc được là giớp, và có lẽ vì thế mà Học Giả Xuân Phúc vẫn phiên âm trấttrất: Trất nhà đến nỗi giấn vào tôi ngươi, và vẫn hiểu trất nhà« la misère de sa famille » (sđd, tr. 75). Tuy nhiên, nếu ta căn cứ vào nhiều chữ Nôm đặt theo quy luật tr/gi, như trận/giận, trật/giật, ta vẫn có quyền đọc trất là giớp.

    Tôi đã tìm được nguồn gốc của từ giớp. Tôi sẽ công bố trong một công trình khác.


    27. Chường(121) [c.773]

    Chữ này là chữ trình Hán văn. Nôm đọc là chiềngchường (x. T, G, C).
    Tỉ dụ: đi thưa về chường. Trong trường hợp c.773: Lạy thôi, nàng mới thưa chường, ta bắt buộc phải đọc trình chường, để tôn trọng vần vàng của câu trên và vần chàng của câu sau. Đọc chiềng là bắt Nguyễn Du làm thơ lạc vận. Các bản Nôm đều viết là chường; các bản Quốc Ngữ đều phiên âm sai là chiềng. Yêu cầu phiên lại là chường.


    28. Ngập ngừng (122) [c.787]: đầy nước mắt.

    Taberd dịch chữ đượm ngừng là oculus lacrymis plenus: mắt đầy lệ. Ngừng là nước mắt còn được thấy trong Quốc Âm Thi Tập, TNNL, TNMG, Chinh Phụ Ngâm. Câu « ngập ngừng lá rụng cành trâm » trong CPN phải được hiểu là: mắt đầy lệ, nàng chinh phụ để cho lá rụng xuống đầu, làm cho cái trâm cài đầu phải cành lên, nghĩa là đầy lên, căng lên. Các chữ ngừng trong TK đều nghĩa là nước mắt (c.1800, 1981), trừ 3 trường hợp ngừng là dừng lại.

    (Còn Tiếp)
     
  20. PH44

    PH44 Người thân Tình Nguyện Viên

    Trang 93

    Giải Thuyết Nôm Học
    Một Số Chữ Nôm Trong Truyện Kiều
    (Tiếp Theo)


    29. Dùi dắng (123) [c.884]

    Phiên âm theo KOM là: Khi vào dùi dắng, khi ra vội vàng. Theo CMT (QVĐ) thì là dùng dắng. Tiếng Việt có dùi dắng, dùn dắng, dùi thẳng (QÂTT), dùng dằng (TK), không có từ dùng dắng như CMT đã viết, và NQT đã phiên âm. Chữ gốc là dùi, rồi dùn, rồi dùng.

    Tỉ dụ:

    Chui ________ Chun

    Lụi _________ Lụn

    Mai khôi _____ Mân khôi

    Bí __________ Bôn

    Mì __________ Miến

    Tươi _________Tiên

    Tỏi __________ Toản​

    Đây là luật n/i rất nổi tiếng, và tôi học được của thầy tôi, [n] đại diện cho các âm mũi (n, ng, nh, m), đại diện cho các nguyên âm i, e, ê, a, ă, â… Những chữ như may/mắn, lanh lợi/lanh lẹn, bể/biển thuộc và quy luật này. Bản BK-TTK đã phiên âm dùi dắng thành đôi đóa, không có nghĩa và không đúng luật ngữ âm.


    30. Ngút(124) [c.915]

    Các bản Quốc Ngữ đều phiên là ngất hay ngắt và không cắt nghĩa hay chỉ cắt nghĩa sơ lược. Chữ ngút ở đây có nghĩa rõ ràng là gió, có địa phương nói là gút. Phân mây rẽ ngút, hay phân mây rẽ gút, đều nghĩa là làm cho gió mây tan tác. Dặm khuya, gút tạnh, mù khơi: Trên con đường đầy bóng tối ban đêm, gió đã ngừng, sương tỏa ra mù mịt. Đọc ngút thành ngất khó có thể hiểu rõ câu thơ.


    31. Cao nhớn (125) [c.924]

    Các bản đều viết chữ nhớn với chữ cự ở trên. Đây là một chữ Nôm thế hệ trước Nguyễn Du, thời Hồ Xuân Hương. Nhữ Đình Toản, Nguyễn Gia Thiều trở về đến Nguyễn Trải, nhưng đó là một chữ viết sai.

    Đầu tiên, nếu viết đúng như thế, chữ rái chứ không phải là chữ lớn (hay nhớn). Chữ (126) gồm có hai bộ phận, cự ở trên là dấu âm cổ, đến thời Nguyễn Du thì hết, thỉnh thoảng còn vài chữ sót lại theo thói quen. Bộ phận thứ hai là chữ lãi (cũng đọc là lại) viết đủ nét là, sau vì viết tháu nên thường viết chữ (127) thành chữ (128) (chữ phụ thành chữ diệp). Chữ (129) âm cổ là klái, sau cho ra tlái > trái; ở câu 2092 đọc là rái, tức dái nghĩa là kính sợ: Nàng đà rái sợ rụng rời lắm phen.


    _____ oOo _____​
    Trang 94


    Các bản Nôm LVĐ và QVĐ đã viết đúng là rái, nhưng vì không rành các chữ Nôm cổ cho nên quý Ông Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim đã đọc lầm là: Nàng đà nhớn sợ rụng rời lắm phen, làm cho câu thơ vô nghĩa. Chữ lớn hay nhớn gốc ở chữ mlớn. Để ghi phụ âm m, các nhà Nôm học cổ đã dùng dấu âm cự (130) và lấy chữ lạn (131) là âm; chữ lạn gồm bộ tâm và chữ lại; phải viết có bộ tâm thì chữ lại mới là chữ lạn. Đây là luật n/i tác dụng ngay trong chữ Hán; lạn = tâm + lại. Như vậy, muốn viết chữ mlớn thành chữ Nôm, người xưa đã viết (132). Xem thế đủ biết chữ mlớn và chữ rái giống nhau như thế nào, và người không rành chữ Nôm bị lầm lẫn không có gì là lạ! Về âm của chữ này, ta vừa có thể đọc là lớn, vừa đọc là nhớn, nhưng đọc là lớn tiện hơn. Câu 924 được đọc là: Ăn gì cao lớn đẫy đà làm sao! (với điều kiện thêm bộ tâm vào chữ lại). Câu 2092 đọc là: Nàng đà rái sợ rụng rời lắm phen.

    Chữ rái sợ nghĩa là sợ hãi một cách kính cẩn (chính là i sợ) đặt vào không khí trụy lạc của nhà Bạc Bà, e không đúng chỗ. KOM đã dùng một chữ đắt giá hơn: Nhớn nhác. Nhớn hay lớn đều xuất phát từ chữ m lớn cổ.

    Ta có:

    Lớn

    Mlớn <

    Nhớn

    Chữ nhác cũng do một chữ cổ là m lác.
    Ta có:

    Lác

    Mlác <

    Nhác​

    Vấn đề của chúng ta là phải hỏi tại sao trong chữ nhớn ta có bộ cự (133) mà tại sao trong chữ nhác không có, tức là chỉ có chữ lác (134), không có chữ (135)? Ta biết chữ cự nghĩa là lớn, dùng ở đây làm dấu âm để biểu âm m trên chữ lãn, để ghi âm cổ mlớn. Các nhà sao lục tưởng rằng đã nói là lớn (hay nhớn), thì phải có bộ cự để chỉ chữ đó nghĩa là lớn, tức là coi dấu cự là một dấu chỉ nghĩa, gọi là nghĩa phù. Vì một sự hiểu lầm của một nhà Nho chép thế nào đó mà trong chữ Nôm mlớn có chữ cự, thực ra, tôi xin nhắc lại, dấu cự là một dấu âm để chỉ tổ hợp phụ âm đầu ml (có khi là kl, như ta đã thấy trong chữ kl). Ngược lại, chữ lác không có nghĩa là lớn cho nên người chép đã tự động bỏ đi không chép. Do đó, ta chỉ có hai chữ nhớn lác, bởi vì chữ lác không có dấu cự, chỉ là chữ lác. Muốn là chữ mlác, phải có dấu âm là (136) ở trên, tức (137), hoặc (138). Hoặc phải chọn một chữ Hán nào đó đọc là nhác. Ta có chữ (139) vừa đọc là lạc vừa đọc là nhạc/nhác. Ít nhất, nếu muốn lược bỏ dấu cự trên chữ lạc, phải chọn một chữ Hán nào đó có âm nhạc/nhác mới có thể đọc là nhác được. Đàng này, nhà sao lục không biết quy luật đó, cho nên đã chỉ chép lại cho ta hai chữ nhớn lác, rồi ta đoán là nhớn nhác nên đọc như thế. Thực ra, đó chỉ là một cách đọc phỏng đoán, theo thói quen, không có tính khoa học. Tôi viết lại hai chữ nhớn nhác theo cách chữ Nôm cổ: (140).


    _____ oOo _____​
    Trang 95

    KOM nhất định đã viết như vậy. Đã là chữ mà Nguyễn Du đã dùng. Vào thời Nguyễn Du, lối viết ấy không thông dụng nữa, nhưng muốn biểu âm một cách rành mạch, có lẽ không có cách viết nào thuận tiện hơn. Do đó, phương pháp viết Nôm cổ vẫn còn được duy trì trong những trường hợp đặc biệt.

    Trước khi kết luận về chữ nhác, tôi xin tiết lộ chữ nhác này thực sự là một chữ cổ, được viết là (141) mà ta đọc là lác/nhác.
    Tỉ dụ:

    Nhác trông lên ai khéo vẽ hình. Sau đó, chữ lác hoặc duy trì hình thức này như nói: Lác thấy, hoặc biến thành liếc ở Miền Bắc, lét ở Miền Nam. Chữ này, các nhà Nôm học Việt Nam không biết đến. Tôi tình cờ đọc một bài báo của Lâm Ngữ Đường về những từ Trung Hoa mất tích mới biết chữ (142) là chữ Nôm. Các từ điển đều viết lác là (143), như trong c.161: Bóng hồng lác thấy nẻo xa. Cũng có thể đọc: Bóng hồng nhác thấy nẻo xa (ĐDA-PN, NMT, BK-TTK), hay liếc thấy (TVK), nhưng đọc chính xác phải là lác thấy (XP).

    Chữ sang trong QVĐ, viết chữ Nôm là (144) (c.530) cũng là một bằng chứng về lý do duy trì chữ cự như là một dấu âm. Các nhà sao lục tưởng rằng chữ cự trên chữ lang, đọc là sang, là một dấu chỉ nghĩa, vì sang trong sang trọng là giàu có phú quý. Họ không thể hiểu được rằng cự là một dấu âm, ghi âm K trong chữ ksang, vì từ cổ của sang khang như ta thấy trong tiếng Mường, mà khang chính là khang đọc thúc lại. Sang tiếng Việt, từ sang cổ vẫn còn duy trì âm hưởng của tổ hợp phụ âm đầu KS nên mới phải có dấu cự. Sau này, khi dấu âm K hoàn toàn mất trong tiếng nói, các nhà Nôm học mới bỏ dấu cự, dùng bộ xước thay thế. Do đó, ta có chữ sang trong KOM, và trong các từ điển.


    32. Xăm xắm (145) [c.1021]

    Câu này, bản KOM ghi rất rõ: Lặng nghe ngẫm nghĩ gót đầu. Do đó, các Học Giả ĐDA, NQT đều đọc theo KOM. Bản QVĐ, thay vào hai chữ ngẫm nghĩ rất dễ viết và dễ hiểu.

    Trong bản đối chiếu các bản Nôm, Giáo Sư NQT đọc hai chữ này là lẩm nhẩm. Các cụ BK-TTK đọc là: Lặng nghe thấm thía gót đầu. Học giả XP phiên là xấm xấm và dịch là chuchoté tức lẩm nhẩm.

    Trong câu 1101, chữ (146) nguyên vẹn lại xuất hiện bên cạnh chữ (147). Đây là bản QVĐ của CMT. Trong KOM, hai chữ này là (148) mà Giáo Sư NQT đọc là lẩm nhẩm: Lặng nghe lẩm nhẩm gật đầu. Trong phần đối chiếu các bản Nôm, NQT đọc: Lặng nghe sẩm tiếng gật đầu (LVĐ), Lặng ngồi thấm thía gót đầu (QVĐ), Lặng ngồi lẩm nhẩm gật đầu (BK-TTK). Ngoài ra, bản ĐDA-PN còn đọc: Lặng nghe tủm tỉm gật đầu.


    _____ oOo _____​
    Trang 96


    Hai chữ (149) ĐDA đọc là tủm tỉm không phải là không có lý, nhưng hình như các học giả của TĐTK có đọc lẫn chữ xâm với chữ (150) tẩm, cho nên mới đọc là tủm tỉm. Về hai chữ (151) của KOM, Giáo Sư NQT đọc là lẩm nhẩm không biết có sát âm hơn hai chữ tẩm ngẫm không?

    Sau khi thử đọc nhiều cách, với những chữ Nôm có hình thái tương tự như những chữ đang đề cập, tôi quyết định đọc (152) là xăm xắn, và chữ (153) là xăm xắm, tức là:

    Câu 1021: Lặng nghe xăm xắm gót đầu

    Câu 1101: Lặng ngồi xăm xắn gật đầu

    Xăm xắm là âm trắc của từ xăm xăm mà ta đã gặp nhiều lần trong TK, (tỉ dụ: Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình), với nghĩa là thẳng một mạch, không dừng lại chỗ nào. Vì xăm xắm là một mạch, cho nên sau đó mới có chữ gót đầu (X. xăm xắm trong Từ Điển Tiếng Việt, Hà Nội, 1988, tr.1179)

    Xăm xắn chính là âm săm sắn (x. Từ Điển Tiếng Việt, tr.881 và 1179), nghĩa là tỏ ra nhanh nhẩu, sốt sắng. Câu 1101 trong bản LVĐ mà Giáo Sư NQT đã phiên âm là: «Lặng ngồi sẩm tiếng gật đầu», chữ sẩm tiếng chính là tiếng săm sắng (hay săm sắn, hay xăm xắn). Vì xăm xắt là sốt sắng, nhanh nhẩu nên mới có chữ gật đầu ở phía sau. Về chữ sắn hay sắng, xin liên hệ với từ rau sắng.

    Tôi giới thiệu với các nhà nghiên cứu chữ Nôm hai chữ xăm xăm (c.1021) và xăm xắn (c.1101) thay vào những chữ lẩm nhẩm, tủm tỉm, thấm thía, xấm xấm, sẩm tiếng.


    33. Đắm, săm (c.2579(

    Hai chữ này trong KOM rất dễ đọc: Càng nhìn, càng đắm, càng say (KOM, 2579), tức là KOM đã lược bỏ từ săm khó đọc và khó hiểu. Chữ này trong CMT (hay QVĐ) được viết là (154). NQT đọc là: Nghe càng đắm, đắm càng say. Ông thú nhận đã đọc theo BK-TTk. Ông đọc chữ (155) là thắm: Nghe càng đắm, thắm càng say (QVĐ). Học Giả XP gọi là xẩm, dịch xẩm là éblouir, sắc đẹp của Kiều làm cho Hồ Tôn Hiến bị lóa mắt như thành mù lòa (như một anh xẩm).

    Ta phải đọc chữ này theo luật th/s, nghĩa là các chữ Nôm có phụ âm s được cấu âm bằng những chữ Hán có phụ âm th. Tỉ dụ:


    Sôi _______ Thôi (TK, c.866, bản CMT)

    Sòm ______ Thầm (TK, c.2286, bản CMT)

    Sớt, Sứt ____ Thất (T)

    Sặm ______ Thẩm (T, C)​

    Như vật, (156) đọc săm là đúng luật. Săm, trong săm soi, hay săm se (x. TĐTV) là ngắm đi ngắm lại một cách thích thú. Đó là hành động của ông quan Hồ Tôn Hiến hiếu sắc.


    _____ oOo _____​
    Trang 97

    34. Sao (157) nao (158) [c.2386]

    Cả đoạn văn là:

    Tú Bà với Mã Giám Sinh,
    Các tên tội ấy đáng tình, còn sao
    Lệnh quân truyền xuống nội đao,
    Thề sao thì lại cứ sao gia hình.

    (cc.2385-2388)​

    Rõ ràng là câu thơ bị điệp vận. Đó là một lỗi nặng. Tôi tưởng rất dễ tránh cho Nguyễn Du cái tội đánh tình ấy, bằng cách đọc chữ còn saocòn nao. Chữ sao (157) và chữ nao (158) có tự dạng giống nhau rất dễ lầm. Câu 2386 đọc là: Các tên tội ấy đáng tình còn nào, rõ nghĩa hơn là còn sao, vì còn nao, theo ADR, là còn nhiều, tức là sau đó, lính tráng dẫn vào một lô đầu trâu mặt ngựa, máu rơi thịt nát tan tành (c.2389). Nếu còn sao thì là còn gì? Câu 236 cũng rơi vào một trường hợp tương tự: Có bản thì phiên là Bỗng không mua não chác sầu nghĩ nao (ĐDA), hay chuốc sầu nghĩ nao (NQT). Đó là đọc theo KOM. Đọc theo CMT lại khác: Bỗng dưng mua não chuốc sầu nghĩ sao. Lúc thì nao, lúc thì sao, chỉ vì hai chữ quá giống nhau, thế thôi. Phải tùy nghĩa của chữ nghĩ mà đọc chữ sau là nao hay sao. Nếu nghĩ là suy nghĩ thì nghĩ nao. Nếu nghĩ là dễ thì là nghĩ sao, tức dễ sao (về nghĩ là dễ, x. ADR).


    35. Choang choác (159) [c.2093]

    Theo NQT, các bản đọc câu 2093 như sau:

    Mụ càng khua giục cho liền
    (KOM)

    Mụ càng xua đuổi cho liền
    (BK-TTK, HĐH)

    Mụ càng xui giục cho nên
    (QVĐ)​

    NQT đã theo các bản BKD-TĐ đọc là:

    Mụ càng xui giục cho liền.​

    Trước hết, phải thanh toán chữ cho liền. Đây là một từ cổ, có ghi trong ADR và trong kinh sách Công Giáo là cho liên, đồng nghĩa với liên liên, luôn luôn. Từ cổ này đã quen thuộc với dạng thức cho liên. Như vậy là không có từ cho liền.

    Thứ hai là đọc lại chữ khua hay xua. Bản KOM viết rõ là khuông (160) chứ không phải (161). Như vậy, không thể đọc là khua hay xua. Hai chữ (159) đọc như thế nào? Tôi đọc là choang choác.

    Chữ (162) là chữ trục, không cần có bộ khẩu cũng đọc là giục, có bộ khẩu là chữ choác. Do đó, chữ (159) là choang choác, tả giọng nói ba hoa chích chòe của Bạc bà liến thoắng giục Thúy Kiều đi lấy chồng, thực sự là đi vào lầu xanh làm gái điếm. Choang choác gốc ở từ quang quác là tiếng ngỗng kêu. Con ngỗng với cổ dài và to như một cái ống phát ra những tiếng kêu to, kéo dài, nghe hết sức chói tai vì được lặp đi lặp lại mãi không ngớt. Tính liên tục này được kéo dài bởi phó từ cho liên, nghĩa là cứ kéo dài ra mãi gần như vô tận.


    _____ oOo _____​
    Trang 98

    36. Bưng tinh (163) [c.2672]

    Ta biết có những cách đọc sau đây:

    Trước hàm rồng cá gieo mồi vắng tanh
    (LVĐ, QVĐ)

    Trước hàm rồng cá gieo mồi băng tinh
    (TĐ)

    Trước hàm rồng cá gieo mình thủy tinh
    (TVK-DMT)​


    NQT bác bỏ chữ băng tinh của Tản Đà, chữ thủy tinh của Trương Vĩnh Ký, và công nhận chữ vắng tanh của KOM: Trước hàm rồng cá gieo mồi vắng tanh (x. CNTK, tr. 144)

    Lý do ông đưa ra: những chữ (164) [thủy], (165) [vĩnh, vắng], (166) [băng] đều giống nhau. Vậy, không cần để ý đến chữ đó. Phải làm sao cho đọc được chữ (167). Chữ này là chữ Hán tanh. Vậy, chỉ có chữ vắng tanh là đúng nhất vì lúc đó là đêm khuya vắng tanh (x. CNTK, tr. 146). Tôi chưa cần lý luận trên chữ Nôm, chỉ cần xét câu văn của NQT đã đủ đánh giá cái ý của ông. Ông viết: «Thúy Kiều gieo mình xuống giữa dòng nước chảy mạnh sóng giồi lúc đêm khuya, vắng tanh làm mồi cho loài cá dữ » (sđd, tr. 146). Trên mặt sông là cảnh nước dẫy sóng dồi thì làm sao có chuyện vắng tanh? Chính cái tiếng nổ đùng đùng của nước thủy triều đã làm cho Thúy Kiều nhận ra đó là Sông Tiền Đường thì làm sao trời đất lại lặng lẽ vắng tanh? Trên sông thì thế, dưới lòng còn ồn ào hơn vì, như NQT cho biết, có nhiều loài cá dữ đang nhe răng tróc vảy muốn nuốt Thúy Kiều. Thế thì làm sao chúng lại để cho mặt nước vắng tanh? Nhà học giả vì say mê lý luận bào chữa cho chữ vắng tanh nên đã quên cả thực tế địa lý và hoàn cảnh lúc đó. Lý do cũng vì ông quá sính chữ Hán và mê thơ Đỗ Phủ!

    Bây giờ đến chữ Nôm. Chữ (168) không phải chỉ đọc là tanh. Hán Văn đọc là tinh như chữ tinh (169). Tôi đồng ý với Tản Đà đọc âm (tôi nói đọc âm) của hai chữ ấy là băng tinh hay đúng hơn là bâng tinh, bưng tinh nghĩa là rạng đông. ADR cho khá nhiều âm chữ này: Bưng tưng, bửng tưng, bưng tinh, rồi tưng tưng, tâng tâng (x. c. 1917). Tôi chọn chữ bưng tinh mà ADR dịch là valde mane (rất sớm), diluculo primo (vừa mới rạng đông, bình minh vừa chiếu rạng). Lúc đó chính là lúc Thúy Kiều trầm mình (x. chú thích). NQT nhấn mạnh lúc đó là đêm khuya đúng rồi. Lúc đó là đêm khuya, rất khuya, và sắp có bưng tinh là những ánh sáng rụt rè đầu tiên của rạng đông.


    _____ oOo _____​
    Trang 99

    Tôi đọc câu 2672:Trước hàm rồng cá gieo mồi, bưng tinh. Cấu trúc của câu thơ rất Nguyễn Du.
    Tỉ dụ câu 1834: Tẩy trần mượn chén giải phiền, đêm thu.

    Nguyễn Du rất thích phương pháp đảo trang, hay gọi như Dược Sĩ Đặng Quốc Cơ là cách đảo ngữ. Ta biết nhiều câu thơ nổi tiếng của ông được xác lập trên biện pháp tu từ học này.

    Tỉ dụ:

    Nước non cách mấy buồng thêu
    (c.157)​
    phải hiểu là:

    Buồng thêu cách mấy nước non;
    Lầu mai vừa rúc còi sương

    (c.876)​

    phải đọc là:

    Còi sương vừa rúc (ở) lầu mai.

    Câu 1834 xin đề nghị đọc là:

    Đêm thu, mượn chén tẩy trần (để) giải phiền;

    XP hiểu giải phiền là giải phiền đêm thu (… dissipons la tristesse de cette nuit d’automne, sđd, tr. 153); đọc theo phương pháp đảo trang, ta thấy nổi ngay cái ý buồn của nhớ mẹ (Suy lòng trắc Dĩ, đau lòng chung thiên, c.1832), không phải nỗi buồn đêm thu. Câu 2672 đọc theo cách đảo ngữ cho phép ta chấp nhận dễ dàng chữ bưng tinh: Bưng tinh, (Kiều) gieo mồi trước hàm rồng cá. Câu thơ này có giá trị là nhờ ở biện pháp tu từ học đảo trang, không cần viện đến biện pháp sử dụng tiểu đối.


    37. Tríu nín [c.176]

    Chữ Nôm là (170) theo bản KOM và (171) theo CMT. Do đó, các bản chữ Quốc Ngữ đều theo đó phiên âm là treo nặng hay gieo nặng.

    Tỉ dụ:

    Giọt sương treo nặng, cành xuân la đà,​

    hay:

    Hạt sương gieo nặng, cành xuân la đà.

    Riêng bản HĐH không đọc là treo hay gieo, mà đọc là tríu. Tản Đà vồ lấy chữ này, nhưng đọc sai theo giọng Bắc là chíu. Hiển nhiên đó là từ tríu, nghĩa là bám vào nhau không rời ra. Nhờ từ tríu này, tôi phát hiện ra chữ nín mà chữ Nôm viết là (172) nhưng tất cả các nhà phiên âm đều đọc là nặng. Thông thường đó là chữ nặng, nhưng chữ này còn đọc là nén, nín, nhất là khi không có bộ thạch đi kèm theo, tỉ dụ (173). Do đó, tôi đọc câu 176: Giọt sương tríu nín, cành xuân la đà. Về ngữ chứng, tôi theo G, vì G theo sự nhận xét của tôi là một nhà cổ từ học mà tôi kính trọng. Mặc dầu về phương diện tập họp những chữ Nôm thông thường, ông đã mắc nhiều khuyết điểm mà ai cũng biết nhưng không muốn nêu ra bởi vì G là một nhà từ điển học chứ không phải là một nhà Nôm học. Tríu là bám vào, như nói: tríu trít hay ghi theo giọng Bắc chíu chít hay chi chít nghĩa là rất nhiều và cái này sít cái kia (TĐTV, tr. 181 và 169); nín là một loại dây thừng bền và chắc dùng để buộc và xoắn chặt các vật với nhau. Động tác này được gọi là đánh nín hay đánh con nín. Con nín là cái chốt cái ngạc mà người ta lồng vào một vòng dây thừng thật chắc để buộc rồi xoắn các vật thật chặt.


    _____ oOo _____​
    Trang 100


    Như vậy, tríu nín là bám vào một vật gì rồi quấn đi quấn lại nhiều vòng. Giọt sương tríu nín, cành xuân la đà cực tả cái cảnh ban đêm hơi lạnh đọng lại thành nước rồi tụ lại thành giọt bám và cành cây lá cây, vừa bám vừa quấn vào càng ngày càng chặt như không rời ra nữa. Do đó, cành cây bị đong đưa, bị lay đi lay lại trông như la đà, nghĩa là lảo đảo và có vẻ bị choáng váng như đang say. Từ tríu nín giàu tính khắc hoạch hơn từ treo nặng hay gieo nặng. nó chỉ cho ta thấy trước mắt của Thúy Kiều lúc đó đang say đắm nghĩ đến Kim Trọng. Cảnh vật chỉ trình diễn những cảnh âu yếm có tính cách gợi dục: trăng thì dòm song, cách dòm thì chênh chếch, ánh trăng thì gieo xuống, cây thì lồng bóng vào nhau, tình tứ nhất là cây hải đường. Nó lả ngọn về phía Đông, nơi có những chàng trai đứng đón các cô gái. Cuối cùng, các giọt sương cũng quấn quýt vào với nhau. Đó là cảnh giọt sương tríu nín, trong khi cành cây thì nghiêng ngả như say rượu. Một đêm xuân nồng nàn mùi vị tình yêu tuổi trẻ. Chỉ mới đấy thôi, Thúy Kiều còn tường Đông ong bướm đi về mặc ai (c.38), thế mà chỉ gặp Kim Trọng có một lần ở Hội Đạp Thanh, đã hết mặc ai rồi, và tâm hồn đã trở thành như cây hải đường lả ngọn đông lân (175). Phải đọc cho được chữ tríu nín mới thấy dụng tâm của nhà thơ Nguyễn Du muốn lột trần cái vẻ đa tình của Cô Kiều và sự gắn bó của cô đối với Kim Trọng. Đọc tríu níngieo nặng, hay treo nặng, hay tríu nặng đi chăng nữa, ta dễ làm sụp đổ cơ cấu hình ảnh mà Nguyễn Du đã cố tình xây dựng để tàn nhẫn (chữ của Ông Phan Ngọc) muốn tố cáo với dư luận cái đa tình nồng cháy của Thúy Kiều.


    38. Tóc xe mối sầu [c.696]


    Ở câu 254, ta đã gặp chữ se, nghĩa là khô: Trúc se ngọn thỏ, tơ chùng phím loan. Chữ (174) đọc se là đúng. Ở câu 696, ta có chữ (175) không thể đọc là se, vì đó là chữ xe. Bản TVK đi đầu tiên đọc là xe và được nhiều tác giả chấp nhận (XP, NQT); bản BK-TTK đọc là se và cũng có nhiều người đồng ý (ĐDA-PN, NTG). Ông NQT đọc là xe, hiểu tóc xe mối sầu là khi kết tóc lại thì «xe cả mối sầu theo từng đoạn tóc» (Truyện Kiều, tr. 107). Tiếc rằng NQT không giảng câu: Áo dầm giọt lệ nghĩa là gì, có thể vì ông hiểu dầm nghĩa là ướt đẫm, nhưng ông hiểu ở một chỗ khác cho nên không muốn mất công chú thích nữa. Thực ra, ở đây dầm không có nghĩa là ướt đầm mà có nghĩa là đầy tràn, như nói: Dầm đườngđầy đường (HTC); vì dầm đầy cho nên xe không có nghĩa là «xe cả mối sầu theo từng đoạn tóc» mà nghĩa là nhiều không thể đếm xiết được. Từ xe cổ này được giải thích là xuất phát từ chữ đa, và được T và G trân trọng ghi lại. Tài liệu cổ nhất về từ này có thể tìm thấy trong sách Chỉ Nam Ngọc Âm Giải Nghĩa của Nhà Sư Pháp Tính in năm 1765 trong đó có câu:

    Vốn xưa làm Nôm xe chữ kép,
    Người thiểu học khôn viết khôn xem.


    _____ oOo _____​
    Trang 101

    Đoạn này chỉ có 2 câu mà Ông ĐDA trong cuốn Chữ Nôm, Nguồn Gốc, Cấu Tạo, Diễn Biến đã đọc sai 3 chữ: Chữ xe ông đọc là xa, thiểu họcthiếu học, khôn viết khôn biết. Riêng về chữ xe, ông đọc là xa, và lẫn lộn với chữ xa (176) cho nên ông đã không giải thích được ý nghĩa của câu thơ. Câu thơ của Pháp Tính rất quan trọng về diện Nôm học. Ông làm chứng rằng trước thời ông, tức là từ thế kỷ XVIII trở về trước, chữ Nôm có nhiều chữ kép, tức là có nhiều từ song tiết. Điều này rất phù hợp với sự thực lịch sử chữ Nôm và tiếng Việt. Ở đây, ta chỉ cần ghi nhớ ý nghĩa của từ xe để đọc câu 696 là: Áo dầm giọt lệ, tóc xe mối sầu và hiểu là: áo đầy giọt lệ, tóc nhiều mối sầu.


    39. Xền (c.1709)

    Chữ này được viết rất rõ ràng là thuyên (177) trong KOM và đoan (178) trong CMT và CVT. Các bản Quốc Ngữ cũng na ná như vậy. Tỉ dụ: Xiên (TVK), chuyền (PKC), xuyền (NQT), suyền (NTG, ĐDA-PN, TTK) và đều cắt nghĩa là đi mau, đi nhanh theo cách hiểu của KOM. Tôi thấy không ổn. TTK là người đầu tiên đề ra chữ suyền, được NTG và ĐDA-PN ủng hộ, riêng NQT đọc [ s ] thành [ x ] và ta có từ xuyền. Như vậy, nếu được chấm theo lối bỏ phiếu thì từ suyền hy vọng được chấp nhận. Tuy nhiên, nhiều vấn nạn được đặt ra:

    - Từ suyền không biết lấy ở đâu ra: Chữ của KOM là thuyên, chữ của CMT là đoan, nếu ta căn cứ theo tự điển Trung Quốc (Từ Nguyên, Từ Hải, Thuyết Văn Giải Tự v.v...). Chữ đoan này, Thiều Chửu còn đọc là chuyên, không thấy những âm suyền hay xuyền.

    - Nếu có đi chăng nữa, các từ này cũng chưa đi vào tiếng Việt được. Chúng chưa có ngữ tịch. Tỉ dụ chữ quốc trong quốc gia, ta có thể nói quốc gia Việt Nam, nhưng không thể nói quốc Việt Nam. Từ quốc chưa có tính độc lập, chưa được nhận và ngữ pháp Việt Nam. Từ suyền hay xuyền cũng thế, không thể nói cánh suyền hay cánh xuyền.

    - Câu 1709: Buồm cao, lèo thẳng, cánh… tất cả đều là từ Nôm. Một từ Hán khó có thể chen chân vào thế giới đó, nhất là khi nó chưa có ngữ tịch. Tôi đọc suyền hay xuyền xền, tức cánh xền là cánh phồng ra, lộng gió và đưa thuyền đi. Về ngữ chứng, G còn giữ được từ xùng xền, hiểu là xùng xình hay thùng thình. Chữ thình này còn đọc là phình, nghĩa là phồng ra, và cánh xền có nghĩa là cánh buồm càng lên vì gió mạnh, phồng to lên và đưa thuyền đi như lướt trên sóng. Từ xền có ngữ chứng hẳn hoi, lại là một âm Nôm, rất phù hợp với nội dung và hình thức của câu: Buồm cao, lèo thẳng, cánh xiền. Câu thơ này có thể hình dung bằng hình vẽ.

    (Còn Tiếp)​
     

Chia sẻ, giới thiệu đến bè bạn