Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!

Kỷ niệm ngày Quân Lực: Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa là lẽ sống của miền Na


Kỷ niệm ngày Quân Lực 19 Tháng Sáu:
Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa là lẽ sống của miền Nam tự do


Vann Phan


Có thể nói rằng, trong lịch sử thế giới hiện đại, không có quân đội của bất cứ một quốc gia nào đã thôi tồn tại từ cả mấy thập niên rồi mà vẫn được hằng triệu dân chúng của đất nước đó ngưỡng mộ và tôn sùng như trường hợp của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, một đội quân kiêu hùng, bất khuất nhưng đã phải buông súng tan hàng vào ngày 30 Tháng Tư năm 1975 vì bị Thế Giới Tự Do lầm mê và vô ơn bạc đãi cũng như bị chính người bạn đồng minh Hoa Kỳ bỏ rơi sau hơn hai thập niên chiến đấu trên tuyến đầu để ngăn chặn làn sóng xâm lăng của Cộng Sản Quốc Tế.

Cũng có thể nói rằng chưa có một quân đội nào mà, 33 năm sau khi cuộc chiến kết thúc, lại có được tinh thần thượng võ, tình huynh đệ chi binh và nhất là lòng tưởng nhớ đến các đơn vị cũ, chiến trường xưa như những cựu chiến sĩ trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Cũng chưa có một quân đội nào mà, trong hơn hai thập niên chiến tranh, đã có đến mười mấy vị tướng vị quốc vong thân, trong đó đến năm vị tướng tuẫn tiết vì không chịu đầu hàng kẻ địch: Phạm Văn Phú, Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Trần Văn Hai và Lê Nguyên Vỹ. Và cũng còn không biết bao nhiêu là cái chết vì tổ quốc khác của những sĩ quan cấp tá, cấp úy, cùng các binh sĩ khi họ cùng với gia đình hoặc đồng đội tự sát tập thể mà vì hoàn cảnh nước đã mất, nhà đã tan nên không có con số thống kê nào được ghi lại. (1)

Tập thể những người lính Việt Nam Cộng Hòa gồm nhiều thế hệ thanh niên không phân biệt Nam, Trung, Bắc trong các giai đoạn lịch sử cận đại từ 1954 tới 1975, qua các lần động viên từng phần thời Ðệ Nhất Cộng Hòa và cuộc tổng động viên sau Tết Mậu Thân 1968 thời Ðệ Nhị Cộng Hòa.

Dù bị giam cầm và ngược đãi cả chục năm hay lâu hơn nữa trong những trại tù khắc nghiệt - vẫn được gọi là “trại cải tạo” - đa số các cựu chiến binh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa vẫn còn giữ được tinh thần bất khuất, vẫn thiết tha với màu cờ vàng ba sọc đỏ của quê hương và sắc áo của binh chủng mình từng phục vụ trước đây cũng như vẫn nghĩ đến anh em đồng ngũ đã vĩnh viễn ra đi hay còn lầm than, vất vưởng đâu đó nơi quê nhà. Tại những nơi đang sống cuộc đời lưu vong trên khắp thế giới, trong hầu hết các cuộc đấu tranh chống Cộng Sản và tranh thủ tự do, nhân quyền cho đất nước và dân tộc, những người lính cũ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa vẫn là những kẻ xướng xuất và đi đầu trong mọi hoạt động và phong trào.

Từ Quân Ðội Quốc Gia tới Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và từ “người lính Quốc Gia” tới “anh lính Cộng Hòa”

Ở đây, tưởng cũng nên đề cập đôi chút đến lịch sử của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa từ ngày tập thể này được thành lập cho tới khi bị khai tử một cách tức tưởi vào Tháng Tư năm 1975, là lúc quân Cộng Sản Bắc Việt đạt chiến thắng sau cùng trong cuộc đánh chiếm toàn bộ lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa từ Bến Hải tới Cà Mau.

Vào ngày 8 Tháng Ba năm 1949, sau khi Thỏa Hiệp Eùlysée được ký kết giữa chính phủ Pháp và đại diện Quốc Gia Việt Nam, nước Việt Nam tự do trẻ trung dưới quyền lãnh đạo của Quốc Trưởng Bảo Ðại được Pháp công nhận là một quốc gia độc lập trong Liên Hiệp Pháp (Union Francaise), và Quân Ðội Quốc Gia Việt Nam được thành lập sau đó để chiến đấu bên cạnh Quân Lực Pháp chống lại các lực lượng Cộng Sản Việt Nam dưới quyền lãnh đạo của ông Hồ Chí Minh và các đồng chí như Phạm Văn Ðồng và Võ Nguyên Giáp. Lực lượng mới được thành lập này mang danh xưng - “Quân Ðội Quốc Gia Việt Nam” và, lúc đầu, được đặt dưới quyền chỉ huy của các sĩ quan Pháp cũng như Việt Nam có quốc tịch Pháp, nổi bật nhất là Trung Tướng Nguyễn Văn Hinh.

Năm 1952, các lực lượng thuộc Quân Ðội Quốc Gia Việt Nam gồm có tới 60 tiểu đoàn những “người lính Quốc Gia,” nhưng các chiến binh này chưa hề đóng vai trò đáng kể nào trong cuộc chiến tranh giữa Pháp và các lực lượng Việt Minh Cộng Sản. Người Pháp chỉ nhờ quân đội này làm lực lượng phòng thủ diện địa để cho quân đội Liên Hiệp Pháp rảnh tay mở các cuộc hành quân chống đánh Việt Minh. Cụ thể, lực lượng quân sự non trẻ này đã được dùng để bảo vệ “Chiến Tuyến De Lattre” ở Bắc Việt trong thời gian quân đội Pháp được tạm thời đưa sang tham gia cuộc Chiến Tranh Cao Ly (Hàn Quốc) dưới lá cờ Liên Hiệp Quốc do nước đàn anh của Pháp là Mỹ cầm đầu trong những năm đầu thập niên 1950.

Ðến năm 1954, lần đầu tiên, lực lượng Nhảy Dù trong Quân Ðội Quốc Gia Việt Nam đã tham gia cùng với quân đội Liên Hiệp Pháp trong nỗ lực bảo vệ chiến tuyến Ðiện Biên Phủ. Trung Úy Phạm Văn Phú là một trong các sĩ quan ưu tú của lực lượng Quân Ðội Quốc Gia tham dự các trận chiến vô cùng ác liệt tại đây, từng bị bắt làm tù binh rồi được trả về sau Hiệp Ðịnh Geneva 1954.

Vào ngày 26 Tháng Mười năm 1956, chính phủ Ngô Ðình Diệm khởi sự tái tổ chức các lực lượng thuộc Quân Ðội Quốc Gia Việt Nam, và quân đội này mang danh xưng mới là Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa. Các lực lượng chiến đấu trên không và trên biển được gọi là Không Quân Việt Nam và Hải Quân Việt Nam. (2) Và danh xưng “người lính Cộng Hòa” hay “chiến sĩ Cộng Hòa” hoặc, thân thương hơn, “anh lính Cộng Hòa” ra đời từ đây. Sau cuộc đảo chánh của quân đội lật đổ nền Ðệ Nhất Cộng Hòa dưới quyền Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, Hội Ðồng Quân Nhân cầm quyền đã cải danh quân đội của Nam Việt Nam thành Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa khác xa các quân đội từng chiến bại của thế giới

Dù bại trận, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, thành lũy chống Cộng của Thế Giới Tự Do tại Ðông Nam Á, lẽ sống của miền Nam Việt Nam từ 1954 tới 1975, vẫn khác xa các đội quân chiến bại khác, từ quân đội Ðức Quốc Xã và Phát-xít Ý tới quân đội Thiên Hoàng Nhật Bản và từ đạo quân Quốc Dân Ðảng của Thống Chế Tưởng Giới Thạch đến đạo quân Cuba của Tổng Thống Batista.

- Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa là quân đội duy nhất trên thế giới vẫn sống còn trong lòng dân tộc sau khi bị tan rã và sau khi quốc gia mà họ xả thân phục vụ bị xóa tên trên bản đồ thế giới. Các quân đội của Quốc Xã Ðức, Phát-xít Ý, Thiên Hoàng Nhật, và Cộng Hòa Cuba đã biến mất ngay sau khi các quốc gia và thể chế chính trị đỡ đầu cho các quân đội ấy cáo chung. Ngược lại, 33 năm sau ngày Sài Gòn thất thủ, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa vẫn còn được người Việt hải ngoại khắp nơi trên thế giới cùng với các đơn vị Ðồng Minh từng tham chiến tại Việt Nam vinh danh trong những dịp lễ lạt hay tưởng niệm cựu chiến binh, đặc biệt là vào ngày 19 Tháng Sáu, ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

- Trong bối cảnh chính trị và quân sự tại Á Châu và Mỹ Châu La-tinh từ sau Ðệ Nhị Thế Chiến (hồi hạ bán thế kỷ thứ 20), Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa là một trong số rất ít quân quân đội không biến thành những nhóm quân phiệt mà lại tự đặt mình dưới quyền chỉ huy và sử dụng của một chính quyền dân sự. Chế độ quân nhân tại Việt Nam Cộng Hòa, được khai sinh từ ngày lật đổ Tổng Thống Ngô Ðình Diệm hồi năm 1963 và tái lập vào ngày Quân Lực 19 Tháng Sáu năm 1965, đã tự ý trao quyền cho một thể chế dân sự hoặc xuyên qua các tuyên cáo và quyết định (như Quyết Ðịnh Số 4 ngày 16 Tháng Hai năm 1965 của Hội Ðồng Quân Lực trao quyền quản trị hành chánh quốc gia lại cho phe dân sự tại miền Nam Việt Nam) hoặc qua các cuộc bầu cử tổng thống, Quốc Hội và các hội đồng tỉnh, thành tại miền Nam Việt Nam thời Ðệ Nhị Cộng Hòa. (3) Ðiều đáng chú ý là, cũng vào thời điểm đó, dù không trực tiếp nằm trong tình trạng chiến tranh, các nước bạn của Việt Nam tại Á Châu, như Ðại Hàn Dân Quốc (Nam Hàn), Thái Lan, Indonesia... cũng như một số nước ở Mỹ Châu La-tinh đều nằm dưới quyền cai trị của các chính thể quân phiệt hoặc do phe quân nhân lãnh đạo.

- Chế độ quân nhân tại Việt Nam Cộng Hòa, trong đó có một số tướng lãnh và sĩ quan quân đội tham chính, không tự phát sinh mà ra đời do những hoàn cảnh đặc biệt của đất nước. Ngay như cuộc đảo chánh Tổng Thống Ngô Ðình Diệm hồi năm 1963 để đưa Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng lên cầm quyền, dù vẫn bị coi là tai hại cho nền độc lập của đất nước (vì do Mỹ giật dây) và làm suy yếu nỗ lực chiến đấu chống Cộng, vẫn có thể biện minh được vì chế độ của ông Diệm có khuynh hướng kỳ thị Phật Giáo và không chịu triệt để đi theo đường lối của Hoa Kỳ là nước đang cung cấp kinh viện và quân viện cho miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ. Trái lại, các chế độ quân phiệt tồn tại mà không cần lý do chính đáng, phần lớn là do các lãnh tụ quân sự tự tạo nên lý do tồn tại, như viện cớ phải bành trướng thế lực trên trường quốc tế (trường hợp quân phiệt Nhật Bản trước và trong Ðệ Nhị Thế Chiến), chống xu hướng Cộng Sản (trường hợp Hy Lạp, Thái Lan và Indonesia thời Suharto), chống phiến quân tả phái (trường hợp Chile, El Salvador, Nicaragua...) hoặc chống tất cả các khuynh hướng đối lập (trường hợp Pakistan, Ai Cập, Libya, Myanmar...)

- Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, vì xuất thân từ dân chúng mà ra, đã không hề gây tội ác nào với dân chúng, nếu không nói được là họ đã xả thân chăm lo bảo vệ hạnh phúc của dân chúng. Trong khi đó, uy tín của quân đội Trung Hoa Quốc Gia, một thời từng được coi là đàn anh và cố vấn của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, lại bị tổn thương vì biến cố “28 Tháng Hai năm 1947” với vụ tàn sát hằng chục nghìn thường dân vô tội trên đảo Ðài Loan là lãnh thổ mà, hai năm sau đó, chính phủ và quân đội của cố Thống Chế Tưởng Giới Thạch đã chọn làm chốn nương thân từ lúc Hoa Lục mất vào tay Cộng Sản cho tới bây giờ. Nền Ðệ Nhị Cộng Hòa tại miền Nam Việt Nam tuy cũng mang tiếng là có những thành phần tham nhũng, nhưng mức độ tham nhũng đó chẳng có gì đáng kể một khi đem so với các chế độ quân phiệt hay độc tài đương thời tại những nơi khác, từ Á Châu cho tới Mỹ Châu La-tinh và Phi Châu, đừng nói gì đến chuyện đem so sánh với mức đô tham nhũng hiện nay của các viên chức chế độ Cộng Sản tại Việt Nam bây giờ. Trong khi đó, các thành phần lãnh đạo của những chế độ quân phiệt thường lạm quyền, tham nhũng và gây nhiều tội ác chống lại dân chúng cho nên sau khi các chế độ này sụp đổ thì các lãnh tụ thường bị các chế độ kế tiếp hay chính dân chúng tại các quốc gia đó xử tội. Ðó là trường hợp của nhà độc tài Suharto bên Indonesia và Pinochet ở Chile.

Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, một quân đội ưu tú


- Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, thoát thai từ Quân Ðội Quốc Gia Việt Nam -mà thời Ðệ Nhất Cộng Hòa được gọi là Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa- tuy không tự xưng mình là “quân đội nhân dân” như các đạo quân cộng sản -trong đó có Trung Cộng, Liên Xô, Bắc Hàn, Cuba- từng là đối thủ của họ trên chiến trường, thật sự là một quân đội khai sinh từ nhân dân và vì nhân dân mà phục vụ. Trong hơn hai thập niên chiến tranh chống Cộng khốc liệt, hầu như không có gia đình nào tại miền Nam Việt Nam mà không có thân nhân phục vụ trong quân đội này. Họ có thể là chồng, là cha, là anh, là em, là con, cháu trong gia đình. Hàng hàng, lớp lớp các chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã cầm súng ra chiến trường để bảo vệ miền Nam tự do trước cuộc xâm lăng tàn bạo của Cộng Sản.

- Trong thời gian chiến tranh, phần lớn các sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ đều có ý thức về tình hình chính trị, từ nền độc tài, gia đình trị thời Ðệ Nhất Cộng Hòa cùng những chia rẽ tôn giáo và đảng phái cho đến nạn tham nhũng và bè phái cũng như tâm trạng hoài nghi lý tưởng Quốc Gia thời Ðệ Nhị Cộng Hòa, nhưng số lượng binh lính đào ngũ, quay súng đánh lại Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa không có là bao nhiêu, nhất là so với con số đáng kể các cán binh Việt Cộng trở về với chính nghĩa Quốc Gia qua con đường hồi chánh. Dù biết rõ rằng một số các cấp lãnh đạo dân sự và quân sự trong chính quyền là bất xứng, nhưng ý chí chiến đấu của quân và dân miền Nam Việt Nam đã không vì thế mà sút giảm, và tuyệt đại đa số người lính Cộng Hòa đều giữ vững tay súng chiến đấu chống quân Cộng Sản. Ðiều này cho thấy người lính Cộng Hòa vẫn nghĩ rằng cho dù tập thể quân đội và chế độ tự do, dân chủ mà họ đang phục vụ tại miền Nam Việt Nam không phải lúc nào cũng hoàn hảo, song nếu đem so với quân đội và chế độ Cộng Sản Bắc Việt đương thời thì quân đội và nền Cộng Hòa tại miền Nam tự do vẫn hơn rất xa. Ðiều này còn nói lên ý chí chống Cộng sắt đá của tập thể chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa, đặc biệt là nếu đem so sánh với các thành phần dân chúng khác trong xã hội miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ, tiêu biểu là giới trí thức thân Cộng cà các phần tử trốn tránh nghĩa vụ cầm súng chống quân Cộng Sản xâm lược. Vai trò năng động và quyết định của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa sau khi quân đội Mỹ rút đi từ năm 1973 theo kế hoạch “Việt Nam Hóa Chiến Tranh” đã chứng tỏ người lính Việt Nam Cộng Hòa chiến đấu vì lòng thù ghét chủ nghĩa cộng sản và vì lý tưởng tự do, dân chủ. Nói khác đi, đó là cuộc chiến đấu tự vệ chính đáng để sinh tồn, cuộc chiến đấu cho tự do, no ấm của chính mình, của gia đình, thân thuộc và của toàn thể dân chúng miền Nam Việt Nam.

- Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tồn tại và chiến đấu vì lý tưởng Quốc Gia chứ không phải là vì quyền lợi của một đảng phái hay phe nhóm nào. Dù dưới danh xưng “người chiến sĩ Quốc Gia” hay “người lính Cộng Hòa,” các chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa vẫn chỉ chiến đấu để bảo vệ cho đất nước Việt Nam, cho màu cờ vàng ba sọc đỏ và cho lý tưởng tự do dân chủ của dân chúng miền Nam Việt Nam. Ðiều này trái ngược một cách phũ phàng với cái gọi là “Quân Ðội Nhân Dân Việt Nam” -mà trước kia là của Cộng Sản Bắc Việt mà hiện nay là của Cộng Sản Việt Nam- bởi vì, trong thực chất, đội quân này chỉ chuyên tâm phục vụ cho cái phe đảng đang cầm quyền, đó là đảng Cộng Sản Việt Nam. Ðiều không thể chối cãi là trong khi phương châm của người chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa là “Tổ Quốc, Danh Dự, Trách Nhiệm” thì huấn lệnh cho các chiến binh cộng sản là “Trung với Ðảng, Hiếu với Dân.” Bởi vậy, ngày nay, không ai lấy làm ngạc nhiên khi thấy các lực lượng quân đội và công an nhân dân của Cộng Sản Việt Nam đang được đảng và nhà nước hết sức o bế, cho hưởng nhiều bổng lộc cao trọng, không phải để bảo vệ lãnh thổ Việt Nam, từ vùng đồng bằng cho tới biển cả, chống quân xâm lược Cộng Sản Trung Quốc mà chỉ là để bảo vệ cho đảng và nhà nước cai trị và bóc lột dân tộc Việt Nam dài lâu mà thôi.

- Trong cuộc Chiến Tranh Việt Nam, Việt Nam Cộng Hòa chính là nạn nhân cuộc xâm lấn của Cộng Sản từ miền Bắc do tham vọng chiếm độc quyền cai trị đất nước của đảng Cộng Sản Việt Nam và theo lệnh của Cộng Sản Quốc Tế trong sách lược bành trướng chủ nghĩa cộng sản toàn thế giới. Trong cuộc chiến đấu bảo vệ nền tự do, dân chủ tại miền Nam Việt Nam, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa chẳng những không đánh lại chính nhân dân mình mà, trái lại, còn hy sinh xương máu để bảo vệ cuộc sống tự do và phúc lợi của dân chúng, cho nên người lính Cộng Hòa luôn được đa số dân chúng -những thành phần không bị Cộng Sản mê hoặc- ủng hộ và đi theo (trong các cuộc di tản hoặc chạy loạn) cho đến khi bị địch pháo kích chết thì thôi. Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, với sứ mạng “bảo quốc, an dân” - cho nên đi đến đâu đều được dân thương đến đó - đúng như lời ca trong bài “Anh Ði Chiến Dịch” ngày nào của Phạm Ðình Chương: “Anh đi chiến dịch xa vời. Lòng súng nhân đạo cứu người lầm than... Thương dân nghèo, ruộng hoang cỏ cháy. Thấy nỗi xót xa của kiếp đọa đày... anh đi...” Những “Ðại Lộ Kinh Hoàng” và “Quốc Lộ Máu” lừng danh trong lịch sử Chiến Tranh Việt Nam đã nói lên lòng thương yêu, niềm tin tưởng và kỳ vọng lớn lao của toàn thể dân chúng miền Nam Việt Nam vào các anh chiến sĩ Cộng Hòa: Dù gian nguy cách mấy, dân chúng cũng chạy theo các anh trên đường chạy giặc đầy những chết chóc kinh hoàng và hiểm nguy cùng cực. Dĩ nhiên là lịch sử thế giới từng cho thấy không có nhiều người chạy theo các đội quân Ðức Quốc Xã, Phát-xít Ý, Thiên Hoàng Nhật, hay đạo quân Cuba của Batista khi các đạo quân này tan rã.

Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa là lẽ sống của miền Nam tự do

Ðến đây, thiết tưởng cũng đã đủ để có thể khẳng định rằng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa là lẽ sống của miền Nam tự do. Kể từ khi giới lãnh đạo độc tài của Cộng Sản Bắc Việt ngang nhiên xé bỏ Hiệp Ðịnh Ba Lê 1973 và mở đợt tổng tấn công cuối cùng để cưỡng chiếm miền Nam Việt Nam -khởi đầu bằng cuộc đánh chiếm Ban Mê Thuột hồi Tháng Ba năm 1975-và kể từ khi Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bắt đầu tan rã sau những đợt lui binh dưới áp lực cắt viện trợ của Ðồng Minh Hoa Kỳ (vì nước Mỹ nóng lòng muốn đẩy nhanh mức độ bỏ rơi Việt Nam Cộng Hòa trong sách lược toàn cầu của Nixon-Kissinger), chính phủ Việt Nam Cộng Hòa tại miền Nam Việt Nam đã phải rơi vào chỗ chiến bại. Là chiếc xương sống của công cuộc kháng chiến thần thánh của trên 20 triệu quân, dân miền Nam Việt Nam và cũng là tiền đồn chống Cộng của Thế Giới Tự Do tại Ðông Nam Á, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, lẽ sống của miền Nam tự do, khi sụp đổ, đã kéo theo sự sụp đổ của chính thể Việt Nam Cộng Hòa và miền Nam tự do trước làn sóng xâm lược bạo tàn của Cộng Sản Bắc và tay sai là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam Việt Nam.

Là lẽ sống của miền Nam tự do, người chiến sĩ Cộng Hòa đã nhận được sự ngưỡng mộ và khâm phục lớn lao của toàn thể dân chúng miền Nam Việt Nam, nhất là “trong lòng muôn người biết yêu đời lính,” như từng được nói lên trong một bài hát về lính của Nhạc Sĩ Trần Thiện Thanh. Những bài hát làm rung động lòng người và được khắc ghi sâu đậm trong tâm khảm dân chúng miền Nam Việt Nam trước đây, bây giờ và mãi mãi về sau, có lẽ chính là những nhạc phẩm viết về đời lính và về cuộc chiến đấu hào hùng của người chiến binh Việt Nam Cộng Hòa, những ca khúc nói lên tấm lòng của người em gái hậu phương yêu anh lính chiến xa nhà bằng giọng lời tình tứ, thiết tha: “Có ai biết không em yêu người lính...? Mỗi khi có ai muốn hỏi tên anh, em bảo tên anh là ‘lính’. Lính luôn đa tình đáng yêu...” hoặc “Gởi về anh một lá thư em viết bên đèn khuya... Anh biết không em chờ mà anh vẫn chưa về. Ðêm này là bao đêm nhớ về anh...” Mới đây, trong chương trình ca nhạc DVD “Lá Thư Từ Chiến Trường” do Trung Tâm ASIA sản xuất, hình ảnh thân thương của người lính Cộng Hòa đã được làm sống lại qua những câu ca, điệu múa do hằng chục nam, nữ ca sĩ và nghệ sĩ Việt Nam tại hải ngoại trình diễn, nói lên lòng biết ơn và ngưỡng mộ không hề nhạt phai của người Việt khắp nơi đối với các chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa hơn ba thập niên sau ngày miền Nam Việt Nam rơi vào tay Cộng Sản.

Ngày nay, 33 năm sau, khi hồi tưởng và suy nghiệm về biến cố mất nước ngày 30 Tháng Tư năm nào cùng những hậu quả của nó, những người Việt Nam bình thường -không bị mù quáng vì các tư tưởng lệch lạc hay thành kiến bất công- có thể sẽ đi đến nhận định sau cùng rằng “chính những hy sinh lớn lao và cao cả của người chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trong cuộc chiến chống Cộng trước đây tại miền Nam Việt Nam đã tạo dựng mầm sống cho dân tộc Việt Nam hôm nay.”

Thật vậy, điều may mắn cho dân tộc Việt Nam, ở cả miền Nam lẫn miền Bắc, chính là sự kiện Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, lẽ sống của miền Nam tự do, đã thoát hiểm và sống còn đến trên hai thập niên, cũng vừa đủ thời gian cho mầm tự do, dân chủ đâm chồi và bén rễ trên quê hương Việt Nam. Chính cái mầm mống tự do, dân chủ ấy từ miền Nam Việt Nam đã làm băng hoại nền kinh tế và cả chế độ cộng sản từ Nam chí Bắc, khiến cho Cộng Sản Việt Nam ngày nay chỉ còn là một cái vỏ trống không, dù họ vẫn mang danh xưng là một nước “xã hội chủ nghĩa.” Cái gọi là nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam hiện đang sống trong hoàn cảnh bi đát là tất cả những giáo điều cùng lý luận của chủ nghĩa cộng sản đều lâm vào ngõ bí sau khi các vị “thánh tổ” của chủ nghĩa này từ bên trời Âu, cụ thể là Liên Bang Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Xô Viết, đồng loạt lăn đùng ra chết.

Những gì sẽ xảy ra nếu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và tiền thân của quân đội này không hiện hữu, hay quân đội này tan rã ngay vào thời điểm đất nước bị chia đôi năm 1954, Tổng Thống Ngô Ðình Diệm bị ám sát năm 1963, quân chiến đấu Mỹ phải nhảy vào tham chiến năm 1965, cuộc Tổng Công Kích của Cộng Sản hồi Tết Mậu Thân năm 1968, hoặc ngay cả vào lúc diễn ra trận chiến một mất, một còn hồi “Mùa Hè Ðỏ Lửa” năm 1972 khi các lực lượng Mỹ và Ðồng Minh đã thôi chiến đấu bên cạnh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa?

Thay lời kết

Nghĩ cho cùng, trong suốt thời gian có cuộc chiến tranh kéo dài nhằm thôn tính miền Nam tự do của Cộng Sản Bắc Việt, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, hoặc ngay cả chế độ quân nhân có thời cầm quyền tại miền Nam Việt Nam, chính là thực thể phát sinh từ nhu cầu tất yếu của lịch sử. Nếu cuộc chiến tranh bảo vệ nền tự do, dân chủ tại miền Nam Việt Nam trước đây được coi là chính đáng thì không có lý do gì mà người Việt Quốc Gia từ trong nước lẫn ở hải ngoại lại quên đi ngày Quân Lực19 Tháng Sáu hằng năm.

Ngày mai đây, khi Việt Nam trở thành một đất nước thật sự có tự do dân chủ, khi lịch sử cận đại và hiện đại của Việt Nam được viết lại một cách nghiêm chỉnh và khi cuộc chiến tranh Quốc-Cộng được đánh giá đúng mức, ngày Quân Lực 19 Tháng Sáu phải được coi là một trong những ngày kỷ niệm huy hoàng cả trong quân sử lẫn trong lịch sử dân tộc Việt Nam bởi vì một lý do đơn giản: Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa là lẽ sống của miền Nam Việt Nam, mà miền Nam Việt Nam chính là cái vườn ươm mầm tự do, dân chủ mà giờ đây đang đang đâm chồi, nẩy lộc trên quê hương Việt Nam để đẩy lùi chủ nghĩa cộng sản độc tài, thối nát vào bóng tối của lịch sử. (V.P.)


Chú thích:
(1) Trong cuộc chiến đấu để bảo vệ tự do, dân chủ cho Miền Nam Việt Nam, các chiến sĩ thuộc Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã cống hiến cho đất nước những hy sinh vô cùng to lớn và cao cả mà cho tới nay vẫn chưa có gì đền đáp nổi. Theo các con số phỏng định, vào lúc kết thúc cuộc Chiến Tranh Việt Nam (1959-1975), Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa có 250,000 chiến sĩ bỏ mình và Quân Ðội Hoa Kỳ có 58,000 quân nhân hy sinh. (Wikipedia, 31 Tháng Năm, 2008)

(2) Trong bài viết nhan đề “Ngày Quân Lực” của Chinh Nhân (tức Bùi Ðức Lạc) trên tuần báo Chuông Việt năm 1987, có đoạn sau đây đề cập tới lịch sử Quân Ðội Quốc Gia Việt Nam và Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa:

“Cũng từ ngày 29 Tháng Mười Hai năm 1954, Bộ Tham Mưu Hỗn hợp Việt-Pháp được cải tổ và cải danh thành Bộ Tổng Tham Mưu Quân Ðội Quốc Gia Việt Nam. Vào đầu năm 1956, các Bộ Tư Lệnh Quân Khu được cải danh thành Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn. Vào đầu năm 1958, các đơn vị Sư Ðoàn Khinh Chiến, Dã Chiến cũng dần đà được canh tân thành các Sư Ðoàn Bộ Binh. Vào cuối năm 1965, các Lữ Ðoàn Thủy Quân Lục Chiến, Liên Ðoàn Nhảy Dù cũng theo đà canh tân quân đội được bành trướng thành các Sư Ðoàn Tổng Trừ Bị, các Ðại Ðội Biệt Ðộng Quân được thành lập thành Tiểu Ðoàn rồi Liên Ðoàn và rồi Sư Ðoàn vào năm 1975. Các đơn vị thiết giáp, các Chi Ðội, Chi Ðoàn được canh tân, hiện đại hóa và trở thành các Thiết Ðoàn. Các chiến hạm Hải Quân do Quân Ðội Pháp để lại được thay thế bằng những chiến hạm tân tiến hơn, các Phòng Hải Quân bên cạnh Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn được lập thành các Bộ Tư Lệnh Hải Quân Vùng. Các đơn vị Không Quân từ những khu trục cơ cánh quạt được thay thế bằng những phản lực cơ, rồi các Phi Ðoàn, Sư Ðoàn Không Quân ra đời. Các binh chủng, nha sở cũng được trang bị hiện đại hơn và tăng cường quân số cho phù hợp với nhu cầu của chiến trường và nhu cầu của các đơn vị không tác chiến...”

(3) Bản Tuyên Cáo của Quốc Trưởng, Chủ Tịch Hội Ðồng Quốc Gia Lập Pháp và Thủ Tướng Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa, được công bố ngày 11 Tháng Sáu năm 1965, có đoạn viết:

“Sau khi duyệt lại tình trạng ngày một khẩn trương của đất nước, sau khi đã xét lại và xác nhận rằng: những vơ cấu và thể chế Quốc Gia hiện tại không còn phù hợp với tình thế... Quốc Trưởng Việt Nam Cộng Hòa, Hội Ðồng Quốc Gia Lập Pháp, Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa đồng thanh quyết định long trọng trao trả lại cho Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa trách nhiệm và quyền lãnh đạo quốc gia đã được Hội Ðồng Quân Lực ủy thác cho chúng tôi... Yêu cầu toàn thể đồng bào các giới không phân biệt giai tầng, địa phương, đảng phái và tôn giáo, ủng hộ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trong việc lãnh đạo toàn Quân và toàn Dân đúng theo tinh thần của Cách Mạng 1.11.1963.”
(V.P.)


h**p://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=79994

Tài liệu này đã được đọc 2,764 lần.

    • là người đầu tiên mang tài liệu này vào VietWikipedia vào ngày
      là người cập nhật hóa tài liệu này vào ngày

Current Discussion: Main discussion

  1. No comments have been posted for this discussion.