Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!

Tháng Mười và giải Nobel

Dế Mèn mở bản tin tháng Mười,
Mời bạn,

Tài liệu này đã được đọc 659 lần.

    • là người đầu tiên mang tài liệu này vào VietWikipedia vào ngày
      là người cập nhật hóa tài liệu này vào ngày

Current Discussion: Main discussion

  1. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    • This message is awaiting moderator approval, and is invisible to normal visitors.
    [​IMG]

    Mở đầu mùa Nobel hàng năm là việc công giải Nobel về Y Học & Sinh Lý Học. Năm nay, hội đồng tuyền chọn đã trao giải Nobel cho các chuyên gia nghiên cứu về não bộ, về hệ thống "định vị", GPS, của trí não.
    Con người nhận biết vị trí và biết nhìn ra hướng đi, chi tiết này không mới mẻ nhưng qua công trình nghiên cứu cứu của ba chuyên gia, ta hiểu tại sao con người có thể làm được công việc ấy.

    Tiến Sĩ John O'Keefe, cùng với Tiến Sĩ May-Britt Moser và Tiến Sĩ Edvard Moser là những người đã khám phá ra hệ thống tế bào trong não bộ làm công việc nhận biết vị trí, một hệ thống định vị hay GPS có sẵn trong não bộ. Hệ thống tế bào này giúp con người nhận biết vị trí, dẫn đường và ghi nhớ những nơi đã đi qua.
    Khám phá này có thể áp dụng vào việc nghiên cứu cách chữa trị chứng Alzheimer vì một phần của hệ thống định vị bẩm sinh nằm tại thể hình sừng
    (the hippocampus) và phần vỏ não entorhinal.

    Con người và một số động vật hữu nhũ có hai thể hình sừng, nằm sâu trong não bộ, cấu trúc này có nhiệm vụ ghi nhớ và nhận biết. Phần vỏ não entorhinal chia một phần nhiệm vụ và nối kết thể hình sừng với neocortex, phần lớn của chất xám.
    Trong chứng bệnh Alzheimer, các cấu trúc kể trên hư hoại dần khiến người bệnh lạc đường dễ dàng. Khi hiểu được cách hoạt động của hệ thống định vị bẩm sinh, con người có thể hiểu tại sao việc lạc đường, mất hướng xảy ra.
    Công trình nghiên cứu kể trên cho thấy căn bản của trí tuệ con người. Dù chương trình nghiên cứu diễn ra trong chuột nhưng các khám phá khác cho thấy con người cũng có hệ thống tế bào tương tự.

    Tiến Sĩ O'Keefe, một chuyên gia về khoa học não bộ, gốc Hoa Kỳ sinh sống tại Anh, đã tìm ra các tế bào thần kinh trong hệ thống định vị vào năm 1971 qua một chuỗi thí nghiệm: Mỗi khi thả chuột vào một môi trường mới, các tế bào này hoạt động mạnh mẽ, và các chuyên gia đặt tên cho loại tế bào này là "tế bào nơi chốn", "place cell."
    Ông O’Keefe sinh trưởng tại New York City, cha mẹ là người di dân từ Ái Nhĩ Lan; tốt nghiệp đại học từ the City College of New York. Năm 1967, ông O'Keefe tốt nghiệp tiến sĩ tại McGill University, Montreal, Canada; sau đó ông ta tu nghiệp tại University College London, rồi ở lại tiếp tục sự nghiệp nghiên cứu và giảng sạy tại nơi này.

    Đến năm 2005, vợ chồng Tiến Sĩ Moser, người Na Uy, tìm ra loại tế bào khác trong hệ thống định vị. Loại tế bào này có nhiệm vụ phối hợp các phần trong hệ thống giúp con người nhận biết vị trí và tìm ra đường đi. Họ đặt tên loại tế bào này là 'grid cell'.
    Đôi chuyên gia này cũng khám phá ra cách phối hợp hoạt động của hai loại tế bào, "place cell" và "grid cell"; sự phối hợp này giúp con người nhận biệt nơi chốn và hướng đi.

    Nói giản dị là trong trí óc, "place cell" đánh dấu điểm A và B; "grid cell" giúp ta "đi" từ A đến B.

    Ông Edvard Moser là người thành lập trung tâm Kavli Institute for Systems Neuroscience và cũng là người điều hành Centre for Neural Computation. Ông Moser tốt nghiệp tiến sĩ về neurophysiology, tại Đại Học Oslo năm 1995.
    Bà May-Britt Moser là người đồng thành lập và điều hành hai trung tâm nghiên cứu kể trên, là đồng nghiệp và cũng là bạn đời của ông Moser. Bà Moser tốt nghiệp tiến sĩ về neurophysiology, cũng tại Đại Học Oslo năm 1995.
    Đôi vợ chồng chuyên viên sinh trưởng từ đồng quê Na Uy, họ học cùng trường trung học nhưng không quen biết nhau cho đến khi vào đại học Oslo và kết hôn tại đó khi cả hai còn đi học. Cả hai Tiến Sĩ Moser đã có thời gian nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của Tiến Sĩ O'Keefe.

    Giải Nobel gồm 8 triệu Swedish kronor (khoảng 1.2 triệu mỹ kim) được chia đôi, ông O'Keefe một nửa và đôi vợ chồng Tiến Sĩ Moser chia nhau nửa còn lại. Cách "chia: giải thưởng này còn có nghĩa là hồi đồng tuyển chọn nhìn nhận công trình khám phá của các chuyên gia như hai phần với giá trị tương đương.
     
  2. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    • This message is awaiting moderator approval, and is invisible to normal visitors.
    [​IMG]

    Ba chuyên gia, Isamu Akasaki và Hiroshi Amano từ Nhật Bản và Shuji Nakamura tại Hoa Kỳ đoạt giải Nobel về Vật Lý qua phát minh về kỹ thuật "light emitting diodes" hay LED. Làm việc chung và riêng rẽ, các chuyên gia này đã phát minh loại ánh sáng xanh dương, gom chung với ánh sáng đỏ và và xanh lục, ba nguồn ánh sáng tạo thành nguồn ánh sáng trắng ta sử dụng ngày nay.

    Trong thập niên 90 của thế kỷ trước, từ chất bán dẫn, semiconductor, ba chuyên gia kể trên đã tìm ra cách tạo nguồn ánh sáng xanh dương. Trước đó nhiều năm, các nhà khoa học đã chế tạo được nguồn ánh sáng đỏ và xanh lục, nhưng thiếu nguồn ánh sáng xanh dương, ta không thể tạo ra ánh sáng trắng.
    Hội Hàn Lâm Khoa Học Thụy Điển đã phát biểu rằng quý ông Akasaki, Amano và Nakamura đã thành công khi những khoa học gia khác thất bại! Phát minh này khởi đầu một ngành kỹ nghệ mới, kỹ nghệ chế tạo LED, nguồn ánh sáng của thế kỷ XXI, mới mẻ tân kỳ như việc phát minh đèn incandescent trong thế kỷ XX.

    Theo Tiến Sĩ Frances Saunders, chủ tịch Viện Vật Lý (the Institute of Physics), một tổ chức khoa học có tầm mức quốc tế tại London, chế tạo được ánh sáng xanh dương là một phát minh vĩ đại; công trình nghiên cứu [về vật lý] này mang lại lợi ích cho nhân loại, bảo vệ môi sinh và mang ánh sáng đến mọi nơi, thắp sáng nhà cửa và vật dụng hàng ngày.
    Tại Phi Châu, triệu triệu ngọn đèn diode thắp sáng bởi ánh nắng đã thay thế các ngọn đèn dầu gây hư hoại môi sinh.
    Sử dụng cùng mức năng lượng, bóng đèn LED tạo ra gấp 4 lần mức ánh sáng so với bóng đèn fluorescent bulb và gấp 20 lần so với bóng đèn incandescent.
    Bóng đèn LED có thời gian sử dụng lâu dài, dài gấp 10 lần bóng fluorescent và 100 lần so với bóng incandescent.

    Light-emitting diodes, hiện diện khắp nơi từ điện thoại đến máy móc, ống kính… và sự áp dụng kỹ thuật còn mênh mông, con người chưa khám phá hết tiềm năng của nó.

    Chế taọ vật thể phát ra ánh sáng là một chuỗi tiến hóa không ngừng nghỉ của con người; khởi đầu từ ông cụ Thomas Edison chế ra bóng đèn trong thế kỷ XIX. Bóng đèn incandescent dùng điện lực hơ nóng sợi thép phát ra ánh sáng, bóng đèn fluorescent dùng gas làm năng lượng.
    Light-emitting diodes nhỏ cỡ hạt cát, đặt giữa hai mảnh bán dẫn, semiconducting. Khi hai cực âm dương của dòng điện gặp nhau tại các diode, tạo ra ánh sáng. Màu sắc của ánh sáng tùy thuộc vào thể loại của chất bán dẫn.

    Tiến Sĩ Nick Holonyak Jr. từ University of Illinois, người đầu tiên đã tạo ra ánh sáng diode đỏ vào năm 1962, cho rằng LED là bóng đèn tân kỳ nhất!

    Phát minh của ba khoa học gia kể trên xuất phát từ việc chế tạo các tinh thể gallium nitride, một loại bán dẫn tạo ra ánh sáng xanh dương. Tiến Sĩ Akasaki khởi đầu việc tìm kiếm các tinh thể thích hợp từ thập niên 60 tại Matsushita Research Institute, Tokyo. Nhưng mãi đến năm 1986, ông cụ và người học trò, Tiến Sĩ Amano, mới tìm ra cách chế tạo một màng sapphire, tráng một lớp tinh thể gallium nitride. Hệ thống bán dẫn này khi gặp dòng điện đã tỏa sáng một màu xanh dương.

    Tiến Sĩ Nakamura cũng thành công trong việc chế tạo các tinh thể gallium nitrite với hiệu năng cao hơn. Năm 2006, ông ấy đoạt giải Millennium Technology qua phát minh tia laser xanh dương đầu tiên, mở đầu việc chế tạo các vật dụng như Blu-ray players.

    Tiến Sĩ Akasaki, 85 tuổi, từ Meijo University và Nagoya University; cùng Tiến Sĩ Amano, 54 tuổi, từ Nagoya University là người Nhật Bản. Tiến Sĩ Nakamura, 60 tuổi, là người Hoa Kỳ. Giải Nobel trị giá 1.2 triệu mỹ kim được chia đồng đều cho ba nhà khoa học.
     
  3. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    • This message is awaiting moderator approval, and is invisible to normal visitors.
    [​IMG]

    Ông Eric Betzig, 54 tuổi, và ông William Moerner, 61 tuổi là hai chuyên gia Hoa Kỳ, cùng ông Stefan Hell, 51 tuổi, người Đức đã đoạt gỉai Nobel về Hóa Học năm nay qua công trình khám phá các phân tử giúp vật thể lóe sáng, khi cần, để ta có thể nhận diện các cấu trúc trong tế bào qua kính hiển vi.

    Ngay từ thủa xa xưa, năm 1873, khoa học đã tính toán ra các giới hạn của mức quan sát bằng kính hiển vi, đến đâu thì không còn nhận diện. Cho đến 15 năm trước đây, giới hạn kể trên vẫn ngăn chặn của sự thẩm định của con người qua kính hiển vi.

    Từ thập niên 80 của thế kỷ trước, ba chuyên gia kể trên, qua các hoạt động riêng rẽ, đã dẫn đến việc khám phá hai kỹ thuật mới mẻ vào năm 2000 và 2006.
    Tiến Sĩ Betzig, tại the Howard Hughes Medical Institute, Ashburn, Virginia, và Tiến Sĩ Moerner, tại Stanford University, California, đã triển khai căn bản kỹ thuật của kính hiển vi đơn phân tử (single-molecule microscopy) giúp con người quan sát từng phân tử trong các cấu trúc của tế bào, đơn vị nhỏ nhất của sinh vật. Loại kính hiển vi này dùng tia laser chiếu đến từng phân tử, các phân tử này tỏa sáng và nhờ đó ta có thể nhận diện các chi tiết ở mức "nano", cả ngàn lần nhỏ hơn mức "micro".

    Tiến Sĩ Hell, tại Max Planck Institute for Biophysical Chemistry, Göttingen, và German Cancer Research Center, Heidelberg, Đức, đã triển khai kỹ thuật chế tạo "nanoscope", giúp các chuyên viên sinh học có thể quan sát, nhận diện các hoạt động của từng cấu trúc trong tế bào với mức độ chính xác chưa từng thấy.

    Các khám phá của ba chuyên gia đã tạo ra loại kính hiển vi super-resolution fluorescence microscopy, xóa nhòa biên giới giữa hóa học và sinh học.
    Theo Tiến Sĩ Catherine Lewis, director, phân khoa cell biology and biophysics tại the National Institute of General Medical Sciences, Bethesda, Maryland, các khám phá vĩ đại của ba chuyên gia thắng giải Nobel đã mở một cánh cửa cho ta thấy bên trong các tế bào, một việc làm vô cùng mới mẻ.

    Con người có thể quan sát từng cử động của mỗi phân tử trong tế bào ngay tại chỗ, ta có thể nhận diện các phân tử di chuyển bên trong tế bào, thấy các phân tử này hoạt động phối hợp với nhau ra sao.
    Qua kính hiển vi nanoscope, các chuyên gia sinh học có thể tìm hiểu các bệnh tật như Parkinson, Alzheimer và Huntington ở mức vi diệu nhất.
    Nói chung, bệnh tật khởi đầu từ sự hoạt động bất thường của tế bào; để tìm kiếm nguyên nhân, ta cần hiểu rõ tế bào và hiểu rõ sự bất thường của nó.
    Ông Hell dùng kỹ thuật kể trên để tìm hiểu tế bào thần kinh, ông Moerner tìm hiểu các protein gây bệnh Huntington và ông Betzig theo dõi cách sinh sản của tế bào bên trong khối phôi (embryo).

    Ba nhà khoa học chia nhau giải thưởng Nobel trị giá 1.2 triệu mỹ kim.
     
  4. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    • This message is awaiting moderator approval, and is invisible to normal visitors.
    [​IMG]

    Hội đồng tuyển chọn Na Uy (những giải Nobel khác đều do hội đồng tuyển chọn Thụy Điển) đã trao giải Nobel Hòa Bình năm nay cho ông Kailash Satyarthi và cô Malala Yousafzay. Cả hai người đều hoạt động trong lãnh vực nhân quyền và chú trọng đến trẻ em.
    Malala Yousafzay nổi tiếng lẫy lừng khi cô bé bị phiến quân Taliban đón đường chặn xe bus và bắn trọng thương. Cô bé mới 14 tuổi được chuyển qua Anh để chữa trị, và từ đó cùng gia định định cư tại Birmingham, Anh. Malala bị đón đường chặn ngõ chỉ vì cô bé viết bài đăng trên mạng ảo, lên tiếng đòi quyền được đi học cho các em bé gái sinh sống khắp nơi. Sinh trưởng tại Pakistan, cô được cha mẹ cho đi học nhưng những đứa trẻ khác thì bị cấm hẳn. Và cô lên tiếng dùm. Chỉ có thể mà cũng hứng đạn thù. Phiến quân Taliban không chấp nhận việc phụ nữ được giáo dục, và lập mưu đón đường hòng giết cô bé để tắt tiếng nói phản khang. Thoát chết, Malala tiếp tục lên tiếng và cô trở thành tiếng nói của phong trào đòi quyền được đi học cho các bé gái. Năm nay, 17 tuổi, Malala là người đoạt giải Nobel nhỏ tuổi nhất của thế giới.

    Malala nổi tiếng nhường ấy nhưng người cùng đoạt giải Nobel thì không mấy lừng danh. Ông Kailash Satyarthi, 60 tuổi, người Ấn Độ, nguyên là kỹ sư điện nhưng bỏ nghề đi tranh đấu cho quyền làm người của các trẻ em con nhà nghèo khó. Ông ấy thành lập và cộng tác với 'Bachpan Bachao Andolan', một tổ chức tư nhân (non-governmental organization hay NGO) tại New Delhi. Tổ chức này giúp đỡ trẻ em [bị] làm lao công.
    Giải thoát trẻ em khỏi xiềng xích lao động và đưa về trường học là tâm nguyện của ông Satyarthi. Ông ấy đã tổ chức nhiều chương trình huấn nghệ để giúp những đứa trẻ bị cha mẹ bán làm nô lệ để trả nợ. Ông Satyarthi cũng đứng ra biểu tình, phản kháng chống đối những hoạt động lạm dụng trẻ em, bắt chúng làm công việc nặng nhọc. Nhưng các cuộc biểu tình phản kháng ấy đã theo đúng tinh thần "bất bạo động" của Gandhi. Ông ấy cũng đã đóng góp trong việc phát triển các đạo luật quốc tế về quyền làm người của trẻ em.

    Ông Satyarthi đã từng bị chủ nhân của [nô lệ] trẻ em săn đuổi đánh đập bị dám gọi cảnh sát can thiệp và giải thoát đám trẻ bị bắt làm công nhân. Tính đến hôm nay, khi đoạt giải Nobel, ông Satyarthi và tổ chức của ông ấy đã giải thoát được 80 ngàn đứa trẻ. Và khi được báo chí phỏng vấn, ông ấy vẫn nói rằng con số 80 ngàn kia quá nhỏ so với số trẻ em bị mua bán làm nô lệ khắp Ấn Độ.
    Người đàn ông can đảm ấy được mô tả là 'quá bình thường', không nổi bật như bất cứ một người đoạt giải Nobel nào cả. Ông ta dùng hộp điện thư gmail, tự viết thư, trả lời thư, đưa số điện thoại di động của mình cho mọi người và ai cũng có thể gọi cho ông ấy…
    Với ông Kailash, luôn luôn là các câu chuyện về trẻ em bị cưỡng bách lao động, báo chí có thể và nên báo động rầm rộ hơn để nhà cầm quyền ban hành các đạo luật kiểm soát lao động chặt chẽ hơn, trừng phạt những kẻ mua bán trẻ em, Cấm việc kiếm tiền trên mồ hôi nước mắt nhi đồng, cần xây dựng nhiều chương trình giáo dục, huấn nghệ nhiều hơn nữa … Và không chỉ tại Ấn Độ mà các quốc gia khác cũng cần bày tỏ phản ứng mạnh mẽ trước việc cưỡng bách trẻ em lao động …

    Thủ Tướng Ấn, Narendra Modi, đã lên tiếng chúc mừng ông Satyarthi về việ đoạt giải Nobel.

    Kailash Satyarthi là người Ấn thứ bảy đã đoạt giải Nobel. Trước đó là bà Amartya Sen đoạt giải Nobel về Kinh Tế năm 1998 và các nhân vật khác như nhà thơ lỗi lạc Rabindranath Tagore, CV Raman, Har Gobind Khorana, Mother Teresa và Subrahmanyan Chandrasekhar.

    Trong khi các viên chức chính phủ Pakistan lên tiếng ca ngợi cô bé Malala thì giới trung lưu tại Pakistan lại cho rằng cô bé kia bị dùng để bôi nhọ quốc gia họ, Pakistan bị nhìn ngắm như một nơi tăm tối, lạc hậu và bất bình đẳng!

    Theo hội đồng tuyển chọn Nobel Hòa Bình, tại các quốc gia nghèo khó, 60% cư dân là những người dưới 25 tuổi. Được đi học, được bảo vệ để đến trường là những quyền làm người căn bản, cho cả trẻ em cũng như người lớn. Con người được giáo dục và được bảo vệ đầy đủ sẽ dẫn đến nền hòa bình thế giới. Tại những vùng đất bất ổn, trẻ em bị đày đọa, bạo hành liên miên đã đưa đến các cuộc khủng hoảng, chinh chiến qua nhiều thế hệ.

    Hai người đoạt giải Nobel năm nay là hai con người can đảm, hy sinh chính bản thân để đối đầu với bạo lực. Đây là những yếu tố quan trọng cho một người Ấn (theo Ấn Giáo, Hindu) và một người Pakistan (theo đạo Hồi, Muslim), đã chung lưng tranh đấu cho cùng mục đích, bảo vệ trẻ em và chống lại quá khích.
    Giữa hai con người quả cảm kia là một sự tương phản khó ngờ: Một cô gái trẻ tuổi, một người đàn ông bước vào tuổi vàng, một người Ấn, một người Pakistan (hai dân tộc đối đầu thù hận), người nổi tiếng và kẻ tương đối vô danh.
    Thực ra hai con người ấy chỉ là hai mặt của một đồng tiền: Cả hai đều tranh đấu cho quyền làm người của trẻ em, trả nhi đồng về tuổi thơ ấu của chúng.
     
  5. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    • This message is awaiting moderator approval, and is invisible to normal visitors.
    [​IMG]

    Ông Patrick Modiano, 69 tuổi, người Pháp đã đoạt giải Nobel Văn Chương năm nay, ông nhà văn là người Pháp thứ 11 đoạt giải thưởng cao quý này.
    Ngoài giải Nobel, ông Modiano đã đoạt nhiều giải văn chương khác như Grand prix du roman de l'Académie française, the Prix Goncourt, the Prix mondial Cino Del Duca và the Austrian State Prize for European Literature.

    Văn sĩ Modiano không phải là người đứng đầu danh sách "phỏng đoán" của các nhà phân tích văn học thế giới, họ bỏ khá nhiều phiếu cho các nhà văn khác như nhà thơ Ngũgĩ wa Thiong'o (người Kenya) và văn sĩ Haruki Murakami của Nhật Bản. Bá tánh đã từng phỏng đoán việc ông Murakami đoạt giải Nobel từ năm ngoái, nhưng kết quả không như dự đoán.
    Một số các tác giả quen thuộc với người đọc Hoa Kỳ như Philip Roth, Joyce Carol Oates và Thomas Pynchon cũng nằm trong danh sách dự đoán nhưng vẫn không được chọn kể cả ca-nhạc sĩ Bob Dylan.
    Việc tuyển chọn giải Nobel Văn Chương khá kín đáo, ngay cả những người được đề cử cũng không hể hay biết. Ban tuyển chọn (18 thành viên của viện Hàn Lâm Hoàng Gia Thụy Điển) lựa chọn từ danh sách đề cử của các tác gia, những nhà tư tưởng, nhân sĩ, những người đoạt giải Nobel trước đó và những nhà tuyển chọn trên thế giới.
    Giải Nobel Văn Chương và Gòa Bình là hai giải thưởng chịu điều khen tiếng chê nhiều nhất vì các tiêu chuẩn lựa chọn không chính xác, rõ ràng như khoa học, hai với hai là bốn, dễ cân đong đo đếm. Các tác giả nổi tiếng, được ưa chuộng không hẳn sẽ là người đoạt giải Nobel, các tác giả có tác phẩm ảnh hưởng đến xã hội nhân quần cũng không hẳn sẽ đoạt giải Nobel Văn Chương.

    Tác phẩm của ông Patrick Modiano là các cuốn tiểu thuyết dựa trên bối cảnh thời Đức Quốc Xã chiếm đóng Pháp, các câu chuyện ngặn gọn và đôi khi nặng phần tưởng tượng đã đưa đến giải thưởng Nobel năm nay. Ông Peter Englund, của the Swedish Academy, họi nhà văn là một “Marcel Proust tân thời”, luôn đề cập đến kỷ niệm, sự mất mát, nhân cách …
    Dân Tây, tất nhiên là vô cùng hoan hỷ về việc ông Modiano đoạt giải Nobel, họ cho rằng đây là sự nhìn nhận nền văn chương Pháp với các tác gia lâu đời cũng đoạt giải Nobel như Jean-Paul Sartre và Albert Camus. Thế giới sẽ nhìn về Pháp với đôi mắt thán phục nhu những ngày xa xưa… Ông Modiano không phải chỉ là nhà văn của Pháp mà là của thế giới!

    Nhà văn Modiano sinh trưởng tại Pháp năm 1945, ngay sau Thế Chiến thứ Nhì. Mẹ là một tài tử người Bỉ gặp gỡ cha ông, một người Ý gốc Do Thái, trong những năm Pháp bị chiếm đóng. Ông Modiano là người thích âm thầm, ẩn danh, tránh tiếp xúc với báo chí.

    Tại Pháp, tác phẩm của ông Modiano được ưa chuộng, phần lớn nhờ văn phong ngắn gọn, không rườm rà lê thê. Ông nhà văn viết trên dưới 30 tác phẩm nhiều thể loại; một số được chuyển dịch ra tiếng Anh. Nổi tiếng nhất là “Missing Person” cuốn sách về một người lang thang khắp thế giới đi tìm 'thẻ căn cước" của mình. Cuốn tiểu thuyết này đoạt giải Prix Goncourt năm 1978 nhưng chỉ bán được đâu đó 2 ngàn bản tại Hoa Kỳ. “Dora Bruder” là câu chuyện tìm kiếm tông tích của một cô gái Do Thái mất dấu năm 1941. Cuốn “Out of the Dark” mô tả câu chuyện một văn sĩ trung niên hồi tưởng mối tình của với một người lang thang trẻ tuổi. Người đọc Huê Kỳ xem ra không mặn nồng cho lắm với các tác phẩm của ông Modiano.

    Giải Nobel sẽ giúp tác giả bán tác phẩm rầm rộ hơn. Nhà xuất bản sách vở của ông Modiano công bố rằng họ sẽ in thêm ít nhất 100 ngàn cuốn sách từ mỗi tác phẩm của ông nhà vặn Riêng tại Huê Kỳ, nhà xuất bản David R. Godine, đã phát hành ba tác phẩm của ông văn sĩ, hứa hẹn rằng họ sẽ in thêm 15 ngàn cuốn mỗi tác phẩm.
     
  6. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    • This message is awaiting moderator approval, and is invisible to normal visitors.
    [​IMG]

    Năm nay hình như dân Pháp được mùa sau nhiều năm im hơi lặng tiếng, người Pháp thứ nhì đoạt giải Nobel là nhà kinh tế Jean Tirole qua công trình nghiên cứu về mãi lực và luật lệ [điều hành kinh tế].
    Hội Hàn Lâm Khoa Học Thụy Điển ca ngợi ông Tirole, công trình của ông ấy dẫn đến sự thấu hiểu của người thế giới về cách kiểm soát [qua luật lệ] các ngành kỹ nghệ nắm trong tay một số rất ít các công ty.

    Từ giữa thập niên 80, ông Jean Tirole đã miệt mài tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến sự suy sụp của thị trường; sự thấu hiểu này đã giúp nhà cầm quyền kiểm soát các cuộc "gom chung" (merger) công ty và những "đầu nậu" kiểm soát các công ty ấy hầu ban hành luật pháp cấm đoán hay giới hạn việc buôn bán độc quyền. Qua các bài tham luận và sách vở đăng tải rộng rãi, ông Tirole đã trình bày các chính sách kiểm soát thị trường một cách hiệu quả, từ ngành kỹ nghệ truyền thông đến kỹ nghệ tài chánh.

    Ông Tirole, 61 tuổi, làm việc tại the Toulouse School of Economics, Pháp. Ông ấy áp dụng lý thuyết chơi trò chơi, game theory, để tìm ra cách kiểm soát các công ty đang thống chế thị trường.

    Theo hội đồng tuyển chọn, giải Nobel Kinh Tế năm nay nhắm đến việc tiết giảm quyền lực của các ty lớn. Đại diện cho hội đồng tuyển chọn, ông Staffan Normark trao giải Nobel Kinh Tế, the Sveriges Riksbank prize, cho kinh tế gia Tirole theo tinh thần của người thành lập Alfred Nobel, chú trọng đến các ngành kỹ nghệ thiết yếu cho đời sống như nước, điện và truyền thông. Các kỹ nghệ này từ quốc gia đã trở thành công ty tư nhân mỗi ngày một nhiều. Khi các kỹ nghệ thiết yếu ấy nằm trong tay công ty tư nhân thì người tiêu thụ dễ bị bóp chẹt mà không có lối thoát.

    Kết quả nghiên cứu của ông Tirole đã giúp các chính phủ điều hành dễ dàng hơn các ngành kỹ nghệ cung cấp các dịch vụ thiết yếu cho đời sống con người điển hình là đặt giới hạn cho giá cả (cấm bán quá giá luật định). Khi công ty không thể tha hồ đặt giá cả thì việc độc quyền sẽ tiết giảm. Nói giản dị là mức lợi tức của người buôn bán một dịch vụ thiết yếu bị giới hạn thì việc cạnh tranh bớt rầm rộ.

    Ông Tirole và đồng sự, ông Roland Bénabou, đã phân tích kỹ lưỡng cách trả lương phụ trội [để khuyến khích nhân viên nỗ lực] của ngành ngân hàng; các món tiền phụ trội này đã dẫn đến việc làm ăn cẩu thả, cho vay bừa bãi để lấy tiền thưởng nhanh chóng khiến ngân hàng thua lỗ nặng nề. Nôm na là kiểu làm ăn tắt của một số người tham tiền thưởng đã đưa đến sự suy sụp lâu dài của ngành tài chánh.

    Làm thế nào để kiểm soát công ty lớn như Google? Theo ông Tirole thì kỹ nghệ kia (buôn bán trên mạng ảo) có khá nhiều công ty lớn nhỏ đang tranh giành, sự cạnh tranh khiến Google khó lòng chiếm vị thế độc quyền. Bán giá cao? Lập tức sẽ có một công ty khác cung cấp dịch vụ tương tự với giá rẻ hơn. Và người tiêu thụ do đó bớt bị bóp chẹt!

    Đây là lần đầu tiên từ năm 1999, giải Nobel Kinh tế không có mặt người Hoa Kỳ!
     
  7. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    • This message is awaiting moderator approval, and is invisible to normal visitors.
    Những ngày gần đây, Ebola trở thành nỗi lo âu của cư dân Hoa Kỳ khi bệnh nhân đầu tiên, ông Eric Duncan, tử vong vì căn bệnh hiểm nghèo kể trên. Ông Duncan đến Hoa Kỳ từ Liberia nơi Ebola đang hoành hành, gây tử vong cho cả ngàn người và truyền bệnh qua nhiều quốc gia xa gần khác.

    Ông Duncan qua đời nhưng Ebola không ngừng ở đó, đã có hai y tá chăm sóc ông ấy bị nhiễm bệnh. Và sự truyền nhiễm kia khiến dư luận sôi nổi, hoang mang; Ebola ám ảnh người Hoa Kỳ khiến cả bộ máy điều hành quốc gia phải tìm cách trấn an dân chúng.

    Tại Hoa Kỳ, Ebola khởi đầu từ ngày 30 tháng Chín, 2014 khi cơ quan Phòng Ngừa & Chữa Trị Bệnh Tật, the CDC, chứng nhận ca bệnh đầu tiên.

    Bệnh sử của ông Duncan bắt đầu từ ngày 20 tháng Chín khi ông ấy di chuyển từ Monrovia, Liberia qua Brussels, đến Washington và sau cùng đến Dallas. Tại Washington, Sở di trú đã cảnh báo về triệu chứng của Ebola. Viên chức Hoa Kỳ cho rằng khi nhập cảnh, Ông Duncan không lên cơn sốt và cũng không có dấu hiệu bệnh tật.

    Tại phi trường Monrovia, Liberia, ông Thomas Eric Duncan đã được khám bệnh, ông ấy không bị sốt và trả lời về mọi câu hỏi liên quan đến triệu chứng của Ebola kể cả câu hỏi “có tiếp xúc với người bệnh nào không trong suốt 21 ngày trước đó”. Thực ra 4 ngày trước khi lên máy bay, ông ấy đã đưa một phụ nữ đến bệnh viện địa phương, rồi đưa về nhà, và bà ấy qua đời vài tiếng sau đó.

    Ngày 25 tháng Chín, ông Duncan trở bệnh và được đưa vào bệnh viện. Tại Texas Health Presbyterian Hospital, hồ sơ bệnh lý của ông Duncan ghi nhận rằng người bệnh lên cơn sốt, 100.1 độ F; đau bụng, nhức đầu và bớt tiểu tiện. Ông ấy nói với một y tá là vừa đến từ vùng Tây Phi nhưng không giao tiếp với người bệnh nào cả. Chuyên viên y tế ở đó cho rằng bệnh tình ông Duncan không trầm trọng đủ để điều trị tại bệnh viện nên cho bệnh nhân ra về.

    Ba ngày sau, cơn bệnh trở nặng, ông Duncan được đưa vào bệnh viện bằng xe cứu thương, và thân nhân báo với nhóm di chuyển bệnh nhân rằng ông ta đến từ nơi đang có bệnh truyền nhiễm và họ cần cẩn thận.

    Dựa trên lời kể bệnh, CDC khuyến cáo bệnh viện thử nghiệm chứng Ebola, và kết quả được chứng thực.

    Sau đó, thân nhân và những người tiếp xúc với ông Duncan được cách ly và theo dõi tình trạng sức khỏe.

    Bốn người sống chung trong apartment nơi ông Duncan thăm viếng đã chịu cách ly theo lệnh của nha Y Tế địa phương trong suốt 21 ngày sau khi CDC khẳng định rằng ông Duncan bị nhiễm Ebola. Họ được nhân viên của bộ y tế đến thăm và đo thân nhiệt hai lần mỗi ngày. Tính đến hôm nay, ngày 19 tháng Mười, chưa có dấu hiệu gì về sự nhiễm bệnh của thân nhân ông Duncan.

    Tiếng Việt ta dùng chữ “cách ly” để mô tả tình trạng tách rời người / vật để phòng ngừa bệnh truyền nhiễm nhưng Anh ngữ lại phân biệt rõ ràng các tình trạng cách ly:

    1) “isolation” là việc cách ly theo lệnh của bác sĩ điều trị; bệnh nhân được đặt trong khu riêng biệt tại bệnh viện, tùy theo mức độ của sự truyền nhiễm;

    2) “quarantine” là việc cách ly theo lệnh của cơ quan y tế địa phương, của cơ quan công quyền trong một thời gian cố định, và có cảnh sát canh gác, giám sát.

    Trong thời gian điều trị, bệnh viện địa phương đã dùng một loại thuốc mới, còn nằm trong vòng thí nghiệm chưa được phép sử dụng rộng rãi (experimental drug) nhằm cứu mạng ông Duncan, có tên brincidofovir do công ty Chimerix sáng chế. Trong tình trạng khẩn cấp như hiện nay, cơ quan Kiểm Soát Thực Phẩm và Dược Phẩm, the FDA, đôi khi cho phép sử dụng các loại thuốc còn đang được tìm hiểu, chưa chứng minh đầy đủ hiệu quả và biến chứng của chúng. Ông Duncan là người đầu tiên dùng brincidofovir.

    Mười ngày sau khi vào bệnh viện, ông Duncan qua đời. Việc chữa trị có phần phức tạp vì ông ấy được trợ sinh qua ống thở đặt trong cuống họng, nối kết với máy móc và lọc máu, dialysis, khi thận không còn hoạt động. Khi dùng cách chữa trị này, chuyên viên y tế thường xuyên tiếp xúc, sờ mó các chất lỏng, biological fluid, của bệnh nhân và do đó sự rủi ro về truyền nhiễm gia tăng cấp kỳ.

    Theo phương thức chôn cất người bệnh Ebola của CDC, bộ Y Tế tiểu bang (The Texas Department of State Health Services) đề nghị với thân nhân ông Duncan nên hỏa thiêu và họ đồng ý.

    Tưởng cũng nên nhắc lại rằng ngay từ tháng Chín, sở Di Trú và nhân viên biên phòng đã được trao nhiệm vụ thông báo cho CDC nếu họ nghi ngại người nhập cảnh bị Ebola kể cả việc phỏng vấn những du khách có điều kiện nhập cảnh Hoa Kỳ.

    CDC đã đặt việc du hành đến ba quốc gia Guinea, Liberia, và Sierra Leone đến mức báo động hạng 3, Warning Level 3, cảnh giác cư dân Hoa Kỳ rằng không cần thiết thì đừng đến những nơi ấy. Mức báo động hạng 1 cho Nigeria và hạng 2 cho the Democratic Republic of the Congo (DRC).

    Các tình trạng báo động này được cập nhật đều đặn trên trang nhà của CDC. Khi cần du hành đến các quốc gia xa lạ ta có thể đến thăm trang nhà của CDC để tìm hiểu rõ ràng hơn tình trạng y tế địa phương và cần chủng ngừa những bệnh gì. http://wwwnc.cdc.gov/travel/notices

    Tại các “cổng vào” (phi trường địa phương), hành khách đã phải chịu đo thân nhiệt, ai lên cơn sốt bất cứ vì lý do gì đều không được lên máy bay đến Hoa Kỳ. Điều đáng ngại là triệu chứng của Ebola không tỏ lộ trong suốt thời gian “tiềm ẩn” (incubation) từ 2-21 sau khi nhiễm bệnh nên du khách có thể không bị sốt khi lên máy bay như trường hợp của ông Duncan.

    Kỹ lưỡng như thế nhưng các cách phòng ngự kể trên vẫn chưa hoàn hảo. Vẫn có những du khách không biết mình bị bệnh để khai báo hoặc cố tình giấu giếm tình trạng bệnh tật để được nhập cảnh Hoa Kỳ.

    Nhìn chung, có một số dữ kiện quan trọng về Ebola:

    1. Căn bệnh này không lan truyền qua việc tiếp xúc sơ sài (không sờ mó các chất lỏng từ cơ thể như máu, nước tiểu, tinh dịch, đờm rãi…), do đó việc Ebola trở thành trận dịch có một xác suất khá thấp.

    2. Người bệnh chỉ truyền bệnh khi các triệu chứng đã xuất hiện. Khi triệu chứng chưa tỏ lộ, mức truyền nhiễm rất thấp; do đó CDC không đòi hỏi rằng các hành khách trên cùng chuyến bay với ông Duncan phải chịu cách ly, nha y tế địa phương chỉ cần nhận diện và theo dõi tình trạng sức khỏe của các hành khách này mà thôi. Tính đến hôm nay, chưa có hành khách nào trên các chuyến bay đồng hành với ông Duncan bị nhiễm bệnh.

    Ta khẳng định được các yếu tố kể trên nhờ phương pháp theo dõi chặt chẽ và kiểm soát kỹ lưỡng bệnh truyền nhiễm của CDC. Và con người thành công khi đối mặt với siêu vi khuẩn Ebola. Điển hình là mấy bệnh nhân ốm thập tử nhất sinh vì Ebola nhiễm bệnh từ nơi xa xôi và được chữa trị thành công tại Hoa Kỳ khi theo đúng phép tắc cách ly của CDC.

    Việc hai chuyên viên y tế bị nhiễm Ebola sau khi chăm sóc ông Duncan là một điều đáng ngại và đã dẫn đến một số câu hỏi cho các chuyên viên dịch tễ, epidemiology, tại sao, nguyên nhân bắt đầu từ đâu? Khi Bác sĩ Thomas R. Frieden, sếp lớn của CDC, lên tiếng trấn an dư luận, ông ấy đã đề cập đến việc không theo đúng phương pháp cách ly của CDC, và sóng gió nổi lên khắp nơi từ các hiệp hội y tá đến những người liên quan đến Texas Health Presbyterian Hospital. Và họ công kích CDC để bào chữa, để chuyển mũi dùi dư luận về CDC. Tạm hiểu là ông Frieden, một chuyên viên lỗi lạc về y học nhưng chưa phải là một chính khách tài năng, khéo léo né tránh dư luận.

    Sau đây là những điều cần biết về Ebola:

    - Khi tiếp xúc với người xa lạ, đừng quá thân cận (hôn hít, giao hợp…). Nếu bạn là chuyên viên y tế, cần chăm sóc bệnh nhân bất kể lạ hay quen, sẽ cần tối thiểu những vật dụng sau đây:

    . Găng tay (latex là loại tốt nhất)

    . Quần áo không thấm nước

    . Kính an toàn và mặt nạ che kín mặt mũi

    - Khi làm việc trong phòng cấp cứu, khu lọc thận, những nơi phải tiếp xúc với một lượng lớn các chất lỏng từ thân thể bệnh nhân, hãy dùng hai lần quần áo không thấm nước, hai lần găng tay, vỏ bọc giày dép… để gia tăng mức an toàn.

    Trong trường hợp của ông Duncan, Bác sĩ Frieden nghi ngại rằng việc lọc máu và đặt ống thở có thể là nguồn truyền nhiễm từ bệnh nhân sang các chuyên viên y tế.

    Bạn cần làm gì khi trở về Hoa Kỳ từ những nơi đang có trận dịch Ebola?

    Hãy để ý đến sức khỏe qua các hành động sau:

    - Tự theo dõi sức khỏe trong suốt 21 ngày, nhất là khi đã tiếp xúc với người bệnh thú bệnh qua việc sờ mó các chất lỏng từ cơ thể hoặc thịt sống, máu tươi hoặc tại bệnh viện chữa trị các ca Ebola hoặc tham dự nghi lễ tang ma của người bệnh quá vãng.

    - Đi khám bệnh lập tức nếu lên cơn sốt (thân nhiệt 100.4°F/ 38.0°C hay cao hơn) và có những triệu chứng như nhức đầu, đau bắp thịt, tiêu chảy, đau bụng hoặc xuất huyết, bầm tím da thịt mà không có lý do.

    - Nói cho bác sĩ biết về chuyến du hành vừa qua, đã đến đâu, gặp triệu chứng gì trước khi đến phòng mạch hoặc bệnh viện. Hành động này sẽ giúp chuyên viên y tế chữa trị bệnh trạng hiệu quả và phòng ngừa việc truyền nhiễm cho những người khác.

    Bạn cần làm gì nếu đang du hành tại nơi có trận dịch?

    Hãy tự bảo vệ bằng những phương thức sau:

    - Rửa tay thường xuyên hoặc dùng những món xà phòng chứa cồn (alcohol-based hand sanitizer).

    - Tránh tiếp xúc với người và thú bị bệnh.

    - Đừng sờ mó những thứ ta không biết rõ xuất xứ.

    - Đừng sờ mó xác bệnh nhân quá vãng vì Ebola.

    - Đừng sờ mó dơi, khỉ; đừng sờ mó thịt dơi khỉ còn sống.

    - Tránh các bệnh viện tại West Africa nơi điều trị bệnh nhân bị Ebola. Tòa đại sứ Hoa Kỳ tại địa phương có danh sách các bệnh viện này.

    - Đi khám bệnh lập tức nếu lên cơn sốt (thân nhiệt 100.4°F/ 38.0°C hay cao hơn) và có những triệu chứng như nhức đầu, đau bắp thịt, tiêu chảy, đau bụng hoặc xuất huyết, bầm tím da thịt mà không có lý do. Tránh tiếp xúc với kẻ khác cho đến khi được khám bệnh. Trong thời gian này, đừng la cà đến bất cứ nơi nào ngoại trừ trung tâm y khoa.

    Tóm lại là Ebola dù là bệnh nan y nhưng con người đã có cách phòng ngừa và điều trị trợ giúp bệnh nhân qua cơn ngặt nghèo. Ta có thể tin tưởng vào CDC và ủng hộ việc làm đầy những khó khăn của họ. Với đầy đủ các phương tiện tối tân có sẵn kể cả các bộ óc tài ba của thế giới chung lưng cộng sức, nếu CDC không thành công thì đại họa sẽ xảy đến cho con người.

    Riêng với Bác sĩ Frieden, xin cầu chúc ông chân cứng đá mềm, đạt nhiều thành quả tốt đẹp. Việc làm của ông và những người cộng sự được giới chuyên môn ngưỡng mộ và âm thầm tán thành.