Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!

Tháng Mười Một, mùa tạ ơn

Tháng Mười Một là dịp lễ Tạ Ơn của người di dân Hoa Kỳ.
Dế Mèn mở bản tin ngắn, mời bạn.

Tài liệu này đã được đọc 773 lần.

    • là người đầu tiên mang tài liệu này vào VietWikipedia vào ngày
      là người cập nhật hóa tài liệu này vào ngày

Current Discussion: Main discussion

  1. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    • This message is awaiting moderator approval, and is invisible to normal visitors.
    [​IMG]

    Kỹ nghệ truyền thông tranh giành ráo riết, buôn bán tử tế e rằng không kiếm đủ bạc tỷ nên người buôn kẻ bán hè nhau… gạt gẫm khách hàng. Họ tìm đủ mánh lới rủ rê người tiêu thụ, quảng cáo cật lực các ưu điểm của món hàng rao bán, xem vậy nhưng không phải vậy, để câu khách.
    Đến nay thì câu chuyện gian dối của AT & T vỡ lở, chuyện làm ăn không đàng hoàng của họ bị cơ quan Kiểm Soát Thương Mại, the Federal Trade Commission hay FTC, phanh phui, đưa AT &T ra tòa và bố cáo các hoạt động dối trá lừa gạt khách hàng của công ty này. Và AT &T đang loay hoay chữa lửa.

    Theo bản cáo trạng của chính phủ liên bang, để đỡ tốn kém, AT&T đã giảm vận tốc xuất hiện của dữ liệu khi người tiêu thụ mua chương trình sử dụng dữ liệu không giới hạn hay "unlimited data". Bạn nghĩ xem, khi lạc lối, lái xe lòng vòng và cần dùng hệ thống định vị của điện thoại di động tìm kiếm đường đi mà chiếc điện thoại kia ì ra, chẳng nhúc nhích thì hỏng rồi? Hoặc giả bạn đang lượn sóng đọc báo xem TV, đến một tiết mục hấp dẫn nào đó mà thỉnh thoảng mới thấy vài hàng chữ hoặc hình ảnh chập chờn, âm thanh lõm bõm tiếng được tiếng mất thì đến bao giờ mới thưởng thức cho hết tiết mục hay ho kia? Dịch vụ ta trả tiền không dùng được thì mua làm chi? Công ty cung cấp chỉ "nói cho hay" mà làm chẳng nổi thì đâu còn giá trị gì?
    Đây có phải là chuyện xảy ra lâu lâu một lần vì "kẹt sóng"? Không, không bạn ạ. Đây là mánh khóe bài bản mà công ty truyền thông áp dụng để tiết giảm việc sử dụng dữ kiện của người tiêu thụ dù họ đã mặc cả và trả tiền đầy đủ. Nôm na là AT &T chơi xấu, tiền khách hàng đã trao mà cháo chỉ múc ít ít; họ múc ít cháo đến độ người tiêu thụ chán nản, ngưng dùng dữ liệu hoặc dùng tối thiểu để đỡ bực mình chờ đợi dù đã trả tiền đều đều và đầy đủ. Nói dễ hiểu là AT&T treo đầu dê và bán thịt chó.

    Mánh khóe tiết giảm vận tốc xuất hiện của dữ liệu có tên là “throttling" nôm na là "bóp nghẹt"; các công ty truyền thông áp dụng khiến người tiêu thụ khó lòng tiêu xài đúng mức dịch vụ họ đã mua nhất là trong những vùng đông đúc như New York và San Francisco. AT&T không phải là công ty duy nhất áp dụng mánh khóe bê bối này nhưng họ là kẻ dẫn đầu, chơi xấu nhiều nhất các khách hàng từ những người mua món "xài tha hồ", muốn xài bao nhiêu thì xài không chịu thêm phí tổn, đến cả các khách hàng chỉ mua giới hạn ở mức 2 GB. Theo báo New York Times, ít nhất 25% khách hàng của AT&T bị ảnh hưởng bởi việc "chậm chạp" có mục đích kia.
    Các công ty khác? Cũng cá mè một lứa nhưng ít lộ liễu hơn. Như bài bản Sprint’s My Way hứa hẹn mục "xài tha hồ" trong suốt thời gian mua dịch vụ nhưng họ kê khai lờ mờ (fine print) trong hợp đồng rằng những người xài nhiều thì vận tốc chuyển dữ liệu sẽ bị giới hạn, người xài khoảng 5 GB chẳng hạn.
    T-Mobile cũng không khác cho mấy, họ rao hàng rằng công ty tui không giới hạn vận tốc chuyển dữ liệu nhưng thỉnh thoảng khi kẹt sóng thì người xài nhiều chịu ảnh hưởng chút xíu…
    Verizon "bóp cổ" các khách hàng còn dùng hệ thống 3G và định áp dụng mánh khóe này với các khách hàng đã mua hệ thống 4G nhưng gặp lời cảnh cáo dữ dội của của cơ quan Kiểm Soát Thương Mại nên chùn tay. Ít ra công ty này chẳng phải lo âu cho lắm vì đã mấy năm nay, họ không còn rao bán món "xài tha hồ" nữa. Họ chỉ bán dịch vụ "xài tới đâu trả tiền tới đó".

    Trở lại với AT&T gạt gẫm khách hàng, cơ quan Kiểm Soát Thương Mại Hoa Kỳ cho rằng công ty này hứa hẹn nhiều [để khách hàng vui vẻ trả tiền] mà chẳng làm tròn lời hứa [nên khách hàng thua lỗ]. "Xài tha hồ" nghĩa là xài thẳng tay thoải mái; khi ngăn ngừa việc xài tha hồ của khách hàng là lừa gạt. Bà Edith Ramirez, sếp lớn của FTC, cáo buộc công ty kể trên tội dối trá. Dĩ nhiên là AT&T phản đối lời cáo buộc ấy. Họ bào chữa rằng đã "bỏ nhỏ" với khách hàng là việc "kẹt sóng" có thể xảy ra nếu sử dụng dữ liệu nhiều.

    Cách buôn bán của kỹ nghệ truyền thông thay đổi theo thời gian. Ngày xưa, những năm trong thập niên 90 của thế kỷ trước, khởi đầu là họ bán dịch vụ điện thoại di động theo thời gian sử dụng, xài bao nhiêu trả tiền bấy nhiêu. Kế tiếp là những món "gọi tha hồ" hay muốn nói bao nhiêu lâu thì nói, hết pin điện thoại thì thôi, không tính thêm tiền. Rồi đến món "tha hồ dùng điện thoại bất kể xa gần", không tính thêm tiền khi gọi bạn bè chốn xa. Thế là quý khách hàng thích tán chuyện cứ việc ôm điện thoại suốt ngày đêm.
    Khi điện thoại thông minh ra đời, cỗ máy nhỏ xíu kia khuân vác cơ man nào là "app", mỗi thứ một công dụng khác nhau để đọc báo, lướt sóng, tìm đường đi, chụp hình, gửi thư, gửi tín hiệu … Thủa ban đầu, thủa hệ thống 3G còn thịnh hành, những dịch vụ ấy chẳng tốn kém bao nhiêu, nên người mua kẻ bán tạm hài lòng. Nhưng khi món 4 G ra đời, và bá tánh bắt đầu trực tiếp chuyển phim ảnh, âm nhạc, xem TV… hầu như các "app" này dùng kho dữ liệu trên mạng ảo mỗi lúc một nhiều, nên "data usage" gia tăng cấp kỳ. Khi khách hàng hoan hỷ sử dụng dịch vụ họ mua bao và tốn kém khá khá thì người bán phản ứng ra sao? Họ âm thầm giới hạn việc sử dụng kho liệu của khách hàng. Kết quả là ta chẳng sử dụng được bao nhiêu dịch vụ kia dù đả trả tiền đầy đủ theo hợp đồng.

    Một khiá cạnh khác, người tiêu thụ trở thành "ghiền" mạng ảo, lúc nào cũng kè kè chiếc điện thoại di động để làm một công việc nào đó thì việc giới hạn kho dữ liệu trở nên cái gai trong mắt người tiêu thụ. Riêng dân Huê Kỳ, chỉ trong tháng 12 của năm 2013, đã tiêu xài trên dưới 269.1 tỷ MB dữ liệu qua điện thoại di động mỗi tháng, gấp đôi số lượng data tiêu xài trong suốt năm 2012. Tạm hiểu là các công ty cung cấp dịch vụ truyền thông trở nên khốn đốn vì khách hàng phóng tay tiêu xài tha hồ. Và họ đã phải vay mượn hoặc mua thêm lượng "sóng" từ các công ty bạn để thỏa mãn nhu cầu của khách hàng.
    Theo ông Logan Abbott, sếp lớn của Wirefly.com, lượng 'sóng', bandwidth, chỉ có giới hạn và bá tánh ai cũng dùng nhiều thì lấy đâu ra để cung cấp? Điều dễ hiểu là sự đình trệ xảy ra.

    Theo FTC, AT&T bóp nghẹt việc sử dụng của 25% tổng số khách hàng (3.5 triệu trong số 14 triệu người mua dịch vụ).
    Trong khi ấy có những khách hàng mua món "bao bụng" nhưng thực sự chẳng tiêu xài bao nhiêu; nói chung người tiêu thụ trung bình dùng khoảng 1-2 GB lượng dữ liệu. Và họ lỗ nặng vì trả tiền nhưng không dùng.

    Kết luận? Trả tiền cho số lượng dữ liệu tiêu xài, đừng mua nhiều hơn, phí lắm, bạn ạ! Ngược lại, nếu ta dùng nhiều thì nên mở hầu bao để mua cho đủ lượng dữ liệu kẻo cứ bị "bóp nghẹt" mỗi khi cần thì cũng khó chịu lắm? Món hàng rẻ không thể tiếp tục "rẻ" mãi mãi!
     
  2. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    • This message is awaiting moderator approval, and is invisible to normal visitors.
    [​IMG]


    Theo án bản mới nhất của 'Thánh Kinh' [của thần Lưu Lỉnh] về whisky, Murray’s Whisky Bible 2015, thì giải quán quân thế giới về whisky về tay Nhật Bản, công ty cất rượu Suntory.
    Tin vui của Nhật Bản lại là tin không vui cho các vùng đất trong quần đảo Ăng Lê, từ Anh đến Scotland (Tô Cách Lan) và Ireland (Ái Nhĩ Lan). Đây là nơi món giải khát nặng ký kia khôn lớn, và đã chiếm lamh4 thị trường từ mấy trăm năm nay. Có lẽ nào giải quán quân về whisky ngon lại lọt vào tay hậu sinh khả úy như Nhật Bản?
    Bảng xếp hạng kia khiến dân Tô Cách Lan lại nóng mặt hơn nữa khi chẳng có món whisky nào của họ được nằm trong 5 món hàng đầu; nôm na là đã thua mà còn thua đậm! Hmm!

    Ông Jim Murray, tác giả cuốn thánh kinh kia kê khai rằng ông ấy đã nếm sơ sơ cà ngàn mẫu whisky của thế giới trước khi trao giải nhất cho món Yamazaki Single Malt Sherry Cask 2013. Thức uống này được khen nức nở là ngon lắm, thơm lắm, có vị đậm đà (rich) [của] "trái cây" (fruity), mùi hương lại nồng nàn (“exquisite boldness") chạy… xộc vào mũi(?). Tạm hiểu là ông thần lưu linh vừa ý vừa lòng với món whisky "thần kỳ không thể tả" kể trên nên tặng số điểm 97.5 /100!

    Whisky hay whiskey là một loại rượu cất từ hạt ngũ cốc, lúa mạch, lúa mì, bắp ngô… lên men, theo định nghĩa này thì rượu nếp của ta, cất từ hạt nếp lên men cũng là một loại whisky (?) Tiến trình cất rượu whisky bắt đầu từ việc ép hạt khô nẩy mầm, hay "malting", hạt khô dầm trong nước cho đến khi nhú mầm thì đem rang cho khô để mầm hạt ngưng tăng trưởng. Hạt nẩy mầm chứa phân hóa tố, enzyme, cần thiết cho việc chuyển hóa tinh bột trong hạt thành các loại đường và phân hóa tố tách phân các protein tiêu thụ bởi men (yeast). Hạt lên men hóa rượu và ta dùng hệ thống nồi & ống dẫn để hơ nóng hạt lên men để cất lấy chất lỏng, rượu.
    Tuy theo công thức chế biến riêng của mỗi tay nấu rượu, người ta dùng các loại hạt khác nhau, dùng chung nhiều loại hạt với số lượng gia giảm để tạo hương vị riêng, và cả cách "ngâm" rượu đã cất vào thùng chứa để lấy thêm hương vị, "aging". Loại thùng "ngâm" whisky thông dụng nhất là các thùng gỗ (cask), chế tạo từ gỗ sồi trắng đã thui đen (lấy thêm hương vị gỗ đã cháy).
    Whisky được ngâm khoảng 10-20 năm trước khi đóng chai đem bán. Tất nhiên không phải loại rượu nào ngâm lâu cũng có nghĩa "càng lâu càng ngon".

    Hầu hết các loại whisky đều chứa khoảng 40% nồng độ rượu (alcohol), tùy theo luật phap địa phương, nồng độ này có thể thay đổi. Như mọi món ăn thức uống khác, whisky cũng được phân loại theo loại ngũ cốc sử dụng, cách cất rượu và thời gian "ngâm", nghĩa là cả ngàn thứ whisky khác nhau với bảng giá từ mấy chục đến cả ngàn mỹ kim.

    Whisky có một lịch sử lâu đời. Tên gọi whisky (whiskey) là cách viết theo Anh ngữ của chữ uisce/uisge hay "nước" từ gốc Gaelic, cổ ngữ của Ái Nhĩ Lan (vẫn còn được sử dụng tại quốc gia này, kèm theo Anh ngữ). Rượu, theo Latin, là "aqua vitae" hay nước [để] sống! Món rượu whisky được ghi chép trong sách vở từ thế kỷ XVI. Như thế, whisky hình như do người Ái Nhĩ Lan chế biến đầu tiên và những giống dân hàng xóm bắt chước theo nhưng người Tô cách Lan lại qua mặt chủ nhà trong cách chế biến whisky. Họ nổi tiếng đến độ cả thế giới dùng chữ "Scotch" để chỉ riêng cho loại whisky chế biến từ Tô Cách Lan, "Scotch whisky".

    Rượu nói chung là thức uống chứa alcohol, theo truyền thuyết rượu xuất hiện từ thời Babylon trong thế kỷ thứ nhì trước Công Nguyên, đồng thời với hương liệu và nước hoa. Tài liệu sớm nhất đề cập đến việc cất hóa chất (đun nóng chất lỏng để thu góp hơi nước) hiện diện tại Alexandria từ thời cổ Hy Lạp, thế kỷ thứ nhất sau Công Nguyên.
    Kỹ thuật cất rượu được sách vở ghi chép từ thời Trung Cỏ tại vùng Ả Rập truyền sang Âu Châu, và sách vở ghi chép, bằng chữ La Tinh, về rượu xuất hiện trong thế kỷ thứ XII. Các tu viện La Mã cất rượu để dùng như dược phẩm chữa trị đau bụng và đậu mùa.
    Mãi đến thế kỷ XV, kỹ thuật cất rượu mới truyền sang Ireland và Scotland, thủa ấy rượu có tên "nguồn sống" hay "Aqua Vitae" dùng như dược phẩm với mục đích chữa trị bệnh tật.
    Ngày xa xưa, rượu mới cất là cồn loãng, cũng không được "ngâm" trong thùng gỗ nên mùi vị không ngon ngọt như ngày nay.

    Xưởng cất rượu Old Bushmills Distillery, chế biến Irish whiskey tại vùng bắc Ái Nhĩ Lan, là cơ xưởng lâu đời nhất của thế giới được cấp giấy phép cất rượu vào năm 1608.
    Nổi tiếng nhất trong thế giới rượu lậu là "moonshine", một loại whisky chế biến lén lút trong đêm tối tại các trang trại tư nhân để trốn thuế sau khi đạo luật English Malt Tax of 1725 ra đời, đánh thuế các loại whisky sản xuất và bán ra thị trường Scotland.

    Tại Huê Kỳ, trong thời nổi dậy đòi độc lập, cư dân dùng whisky như một loại tiền tệ để mua bán, đổi chác. Chính Tướng George Washington cũng làm chủ một cơ xưởng cất rượu tại Mount Vernon. Và nông dân Huê Kỳ cũng tự cất rượu chế biến từ hạt bắp ngô để kiếm bạc thay vì bán bắp ngô như ngũ cốc, thức uống nặng ký hơn món ăn.
    Trong thời "cấm rượu" (the Prohibition), những năm 1920 - 1933, chính phủ Huê Kỳ cấm bán rượu, và chỉ cho phép cất rượu để dùng như dược phẩm. Các món "thuốc" này chỉ được bán theo toa bác sĩ tại các dược phòng. Nhân dịp ấy công ty Walgreens phát triển mạnh mẽ, từ 20 dược phòng đã lên đến 400 cửa tiệm trong một thời gian ngắn ngủi. Câu chuyện "cấm rượu" thủa xưa xem ra in hệt như chuyện cấm marijuana đang diễn tiến ngày nay.

    Whisky nổi tiếng nhất thế giới có lẽ là từ Scotland; xuất cảng khắp thế giới và đem lại cho Anh quốc mối lợi nhuận khá lớn, khoảng 7 tỷ mỹ kim hàng năm; Huê Kỳ là nơi nhập cảng nhiều nhất các loại Scotch whisky và theo sát nút là Pháp.
    Với một thị trường hấp dẫn như thế nên không lạ là xưởng chế biến whisky mọc lên khắp nơi, từ Á sang Âu, Mỹ. Mỗi nơi dùng loại ngũ cốc địa phương và pha trộn lượng ngũ cốc cất rượu theo kiểu địa phương chưa kể việc "ngâm" rượu trong thùng gỗ sồi để lấy thêm hương vị.

    Trở lại với chuyện thắng giải whisky của Nhật Bản, công ty Suntory, xuất hiện từ năm 1923 lò cất rượu whisky nhiều tuổi nhất của Nhật Bản, chỉ chế biến sơ sơ có 18,000 lọ, bán trên trang nhàn của thánh kinh và một số cửa tiệm đặc biệt tại Anh với giá 160 ông Washington. Quý và hiếm lắm, mai dô, mại dô!
    Long trọng hơn nữa là việc whisky của Scotland rơi khỏi bảng xếp hạng của 5 món whisky hàng đầu. Đây là lần đầu tiên trong suốt 12 năm treo giải của thánh kinh do thần Lưu Linh công bố, Scottish whisky lọt sổ phong thần! Chỉ mới năm ngoái, Glenmorangie Ealanta của Scotland đã đứng đầu với 97.5 điểm!

    Cái lưỡi sành nếm rượu như ông Ron Taylor cũng gật gù phát biểu rằng ông ấy không lạ khi nghe Suntoro đoạt giải whisky hạng nhất, công ty này là một lò cất rượu rất ngon, được nhiều nơi trên thế giới ưa chuộng; chính những tay cất rượu Nhật Bản kia đã chế biến và cung cấp whisky cho nhiều nhà phân phối khác kể cả các bảng hiệu "Scottish whisky", nghĩa là rượu mang nhãn hiệu Tô Cách Lan nhưng thực ra được chế biến từ Nhật Bản!

    Thế giới quả là một mặt phẳng, người ta đi từ đông sang tây và ngược lại; hàng hóa chuyển đi khắp nơi nên chẳng còn mấy thứ thực sự là "địa phương", phải không bạn?

    *Cụng ly với Hereami
     
  3. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    • This message is awaiting moderator approval, and is invisible to normal visitors.
    Thủa xa xưa ấy, bằng cấp dính liền với "tri thức" (sự hiểu biết) và "trí thức" (người có học vấn cao); học vấn hầu như chỉ dành riêng cho giới quý tộc và tu sĩ. Quan niệm ấy thay đổi dần và đến ngày nay thì trường học mở cửa cho mọi người, bất cứ ai muốn học và có thể học.
    Đề san bằng những chênh lệch xã hội, ta có các trường công (học phí thấp hoặc miễn phí) và các chương trình trợ giúp người nghèo khó đi học, từ việc cấp học bổng đến các món tiền cho vay nhẹ lãi. Mục đích của các chương trình trợ giúp ấy cao quý như thế nhưng vẫn bị lạm dụng và lợi dụng. Vẫn có những người nhanh tay lẹ mắt tìm ra cách kiếm tiền, tuy hợp pháp nhưng thiếu đạo đức, từ người nghèo. Các trường học mở ra như nấm sau cơn mưa, quảng cáo rầm trời về các chương trình học mau kiếm tiền lẹ để dụ dỗ học trò. Hậu quả là tiền mất nhưng tật vẫn mang, họ vay mượn để đi học, kiếm mảnh bằng nhưng sau khi "tốt nghiệp", mảnh bằng kia chẳng có giá trị gì. Học trò không kiếm ra việc làm và mang thêm một món nợ khó lòng hoàn trả.

    [​IMG]

    Cuốn sách vừa được công bố, Aspiring Adults Adrift, tạm dịch là "Những đứa trẻ mới lớn trôi giạt", của Tiến Sĩ Richard Arum, New York University, và Tiến Sĩ Josipa Roksa, associate director, University of Virginia’s Center for Advanced Study of Teaching and Learning in Higher Education, khiến người đọc giật mình. Tác phẩm ấy nghiên cứu, tìm hiểu cách sinh sống của 1,000 sinh viên tốt nghiệp năm 2009. Các bài tường trình trong cuốn sách khá u tối: Khoảng 2/3 số sinh viên này ráo riết tìm việc làm trong năm 2011, 1/3 học tiếp chương trình cao học. Trong số 700 sinh viên tốt nghiệp đi tìm việc, 40% không có việc làm, làm công việc thấp hơn sức học hoặc làm công việc với số lương dưới 20,000 mỹ kim/ năm.

    Theo hai nhà nghiên cứu về giáo dục kể trên, một số đáng kể các sinh viên tốt nghiệp năm 2009, sau hai năm tìm kiếm vẫn không tìm ra việc làm tương xứng và lâm vào hoàn cảnh nghèo túng và "bất khiển dụng". Không có việc làm, các sinh viên này quay về sống với cha mẹ, cậy nhờ cha mẹ chu cấp và hầu như không hội nhập với xã hội chung quanh như một người trưởng thành, nôm na là họ sinh hoạt như những đứa trẻ còn vị thành niên. Một sự thất bại lớn trong tiến trình trưởng thành của một con người. Một người lớn [sống] lênh đênh như con thuyền không [mỏ] neo, như mảnh gỗ trôi giạt

    Nguyên nhân nào khiến các sinh viên ấy gặp khó khăn như thế ngoài sự không may sinh sống trong thời kinh tế suy trầm?

    [​IMG]

    Phân tích các chi tiết, Tiến Sĩ Arum cho rằng cha mẹ, trường học và sinh viên chia nhau trách nhiệm cho sự thất bại ấy; xã hội không nên chê trách đổ lỗi cho thế hệ Millenium vì vẫn có những người trẻ thành công. Kẻ thất bại là do họ quá cả tin, tin vào bài bản quảng cáo của các trường ốc bán bằng cấp, chỉ cần học tí ti nhưng vẫn kiếm việc dễ dàng và việc làm với lương bổng hậu hĩ. Thí dụ rõ ràng nhất là việc các sinh viên kia chỉ cần tự học hỏi khoảng 1 tiếng mỗi ngày mà vẫn đạt số điểm toàn khóa trên trung bình, GPA cỡ 3.2 lúc ra trường!
    Học hành mà dễ như thế thì đâu mấy ai cố gắng dùi mài tìm kiếm?

    Một nguyên nhân khác, theo Tiến Sĩ Roksa, thay cho các chương trình học thiết thực và nặng ký, trường ốc chỉ chú trọng và quảng cáo ầm ĩ về các sinh hoạt giải trí như phòng thể dục, các trò thể thao để thu hút sinh viên và tiền học phí của họ! Sinh viên ghi danh vì cách sinh hoạt tại trường ốc hơn là vì các môn học. Không mấy trường học kê khai chi tiết các chương trình học, giảng dạy những gì, tỷ lệ sinh viên ghi danh/ tốt nghiệp và tỷ lệ sinh viên kiếm ra việc làm khi theo học ngành học ấy!
    Bạn thử vào thăm các trang nhà của đại học mà xem, trường ốc nào cũng khoe hình ảnh của sân chơi, phòng thể dục, chỗ ăn ở của sinh viên… Mọi chỗ đều trang hoàng như khách sạn hay khu nghỉ mát để thu hút sinh viên! Đi học mà như đi chơi thì trẻ em nào không thích? Và khi cha mẹ không đầu tư thời giờ tìm hiểu con cái cũng như trường ốc chúng theo học thì việc thất bại là điều khó tránh.

    Thêm một điều đáng buồn là trào lưu "kiếm điểm dễ" của sinh viên. Các em bảo nhau ghi danh rầm rộ vào các lớp học "dễ", giáo sư nhẹ tay chấm điểm, hay 'học ít điểm nhiều'. Đáng buồn hơn nữa là việc trường ốc ngày nay chỉ mướn giáo sư theo hợp đồng, hiếm khi mời dạy học vĩnh viễn (tenured). Khi giáo sư được nhiều sinh viên ưa thích, ghi danh theo học đông thì hợp đồng với trường học được gia hạn. Giáo sư nào chấm điểm kỹ lưỡng, nặng tay, thì ít được ưa chuộng và khó duy trì được công việc giảng dạy! Tạm hiểu là học trò không chịu thương chịu khó, trường ốc lại tạo điều kiện cho các em không cần chăm chỉ!

    Nhìn chung, kinh nghiệm học hành dễ dãi và thiếu thực tiễn ấy không trang bị đủ cho sinh viên tốt nghiệp ra đời kiếm sống vì các lý do sau:

    - Học hỏi quá ít. Theo ông Arum và bà Roksa qua cuộc nghiên cứu, 45% số sinh viên không học được cách suy luận, critical thinking, vì họ chỉ ghi danh học các lớp "dễ" và không tự học hỏi suy luận về đề tài giảng dạy trong lớp. Họ đạt số điểm tối thiểu trong các cour học đòi hỏi sự suy luận, các lớp "khó". Các sinh viên này, nếu tìm được việc làm, cũng là những người mất việc trước nhất so với các sinh viên đạt số điểm cao trong các cour đòi hỏi sự suy luận.

    - Học các ngành học không được hãng xưởng quý trọng. Như nhiều bài nghiên cứu kết luận: Kỹ sư tốt nghiệp dễ kiếm việc và lương bổng cao. Ngành thương mại cũng là ngành học dễ kiếm việc. Các ngành khác như khoa học nhân văn, đạo đức, truyền thông báo chí … là những ngành học chịu tỷ lệ thất nghiệp cao, 7% - 9%.

    - Tốt nghiệp từ các trường "dễ dãi". Các sinh viên chịu học và theo học các ngành học cần thiết (ngành học được hãng xưởng xem trọng) thì thành công bất kể họ theo học ở đâu. Nhưng với các yếu tố kể trên gom chung với nhau, yếu tố "trường ốc" ảnh hưởng khá nhiều đến lương bổng. Nói chung, sinh viên viên tốt nghiệp từ các trường có tiếng dễ kiếm việc và kiếm được việc với lương bổng cao hơn so với các sinh viên tốt nghiệp từ trường không danh tiếng.

    Hiểu ngọn ngành các chi tiết dẫn đến thất bại của việc học hành thì làm thế nào để thành công?
    Tất nhiên, người trẻ không dễ thay đổi ý kiến của họ về trường ốc nhất là việc chú trọng đến cách giao tiếp. Khá nhiều các bài tham luận về sinh viên đại học vẫn chú trọng đến sự giao tiếp trong xã hội, các tác giả này vẫn cho rằng việc giao tiếp dễ dàng sẽ giúp sinh viên kiếm việc dễ dàng. Và các sinh viên dùng nhiều thời giờ để giao tiếp, kết bè kết bạn trong thời gian đi học, học ít chơi nhiều, đã rất hài lòng với kinh nghiệm đại học của họ, dù đang thất nghiệp và phải nương nhờ cha mẹ!

    Theo hai nhà nghiên cứu, Tiến Sĩ Arum và Tiến Sĩ Roksa, cha mẹ chưa hiểu rõ "trọng lượng" của họ trong việc thúc đẩy con em và trường ốc. Phụ huynh có thể đòi hỏi trường học đặt tiêu chuẩn cao về việc giảng dạy và chú trọng đến việc huấn luyện những kỹ năng cần thiết đáp ứng với nhu cầu của thị trường nhân công bằng các phương thức sau đây:

    1. Nói thẳng và nói thật. Cha mẹ cần chỉ dẫn cho con em biết sự liên quan giữa kỷ luật (chịu khó, chuyên cần), học hỏi và thành công ngay từ khi còn bé dại. Trẻ em cần hiểu rằng khoảng thời gian của đại học là lúc đầu tư vào tương lai. Đầu tư cẩn thận thì đạt kết quả tốt đẹp. Việc giao tiếp, giải trí, chơi thể thao… chỉ là các sinh hoạt phụ, đi kèm với mục đích chính là học hành.

    2. Đòi hỏi chi tiết, chứng cớ để thẩm định: Khi đưa con cái đi thăm viếng đại học, các tour hướng dẫn là các màn trình diễn quảng cáo của trường ốc. Thay vì trầm trồ trước các khuôn viên đẹp mắt, phòng ốc khang trang, cha mẹ hãy hỏi thăm thầy cô hướng dẫn các chi tiết về chương trình giảng dạy, như trường đòi sinh viên bao nhiêu giờ đọc sách mỗi tuần, bao nhiêu bài tham luận (cỡ 20 trang) mỗi lục cá nguyệt, bao nhiêu giờ tự học… Đây là các yếu tố quan trọng của tiến trình huấn luyện kỹ năng suy luận, phân tích.
    Rõ ràng cụ thể hơn, cha mẹ nên hỏi về số điểm của sinh viên trong các môn thi về suy luận như the Collegiate Learning Assessment, hay bản tường trình về cour học trong the National Survey of Student Engagement (NSSE). Nhiều trường đại học thu góp các chi tiết ấy nhưng không [muốn] công bố.

    3. Chú trọng đến nghề nghiệp trong tương lai. Cha mẹ cần biết rằng trên 40% sinh viên tốt nghiệp kiếm được việc làm qua các chương trình giới thiệu của đại học, qua các chương trình nội trú (internship), công việc thiện nguyện hoặc các việc làm trước đó.
    Công việc từ văn phòng giới thiệu của trường học thường có giá trị hơn so với với việc làm đến từ sự quen biết cá nhân. Do đó, cha mẹ cần thúc đẩy trường ốc hoạt động mạnh mẽ hơn trong công việc giới thiệu việc làm, thúc đẩy con em tận dụng cơ hội nội trú, tập các thói quen cần thiết khi được phỏng vấn xin việc, và các dịch vụ liên quan đến kiếm việc làm sau khi tốt nghiệp.

    Sửa soạn cho tương lai người trẻ là một cuộc đầu tư lớn của cha mẹ, của chính các em và của trường ốc. Cha mẹ trong vai trò giám sát cần chú ý đến tiềm năng và sức lực của con em, huấn luyện cho các em các thói quen theo kỷ luật như chuyên cần, chịu khó và dẫn dắt chúng khi vào đại học. Đây là khoảng thời gian quan trọng để đứa trẻ trưởng thành, sống xa nhà là cơ hội phát triển óc tự lập. Được trang bị với các kỹ năng cần thiết, các em sẽ thành công dễ dàng hơn khi vào đời sinh sống.
     
  4. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    • This message is awaiting moderator approval, and is invisible to normal visitors.
    [​IMG]

    Chỉ một cú vấp ngã là cuộc sống con người có thể thay đổi hoàn toàn, cuộc thay đổi không thể kềm hãm xoay chuyển. Sự đau đớn thể xác đi kèm với nỗi vật vã tâm thần. Đây là câu chuyện ám ảnh tuổi vàng khắp chốn.

    Con người sống lâu hơn, ít bệnh tật hơn nhưng tuổi thọ lâu dài kia có những khúc quanh không như ý. Cơ thể trải qua những biến chuyển cần sự thích nghi và chấp nhận từ mỗi cá nhân. Chao ôi, biết bao nhiêu là biến chuyển trong cái thân thể mong manh manh kia sau 70 - 80 năm trang trải thời gian?
    Mắt nhìn không còn tỏ tường. Tai nghe không còn thính, có vị còn chịu chứng ù tai, tinnitus, những âm thanh tai quái u u trong đầu suốt ngày đêm. Khứu giác chẳng còn "cảm" được một mùi hương nhẹ nên vị giác hầu như mòn mỏi. Khoảng 70% khả năng "nếm" đến từ khả năng "ngửi". Rượu [ngon] không còn giữ được hương vị cũ dù vẫn mang lại cảm giác lâng lâng và đôi khi còn gây chuếnh choáng nhanh chóng. Bắp thịt không mạnh mẽ như trước, khuân vác một món gì cũng khó kham. Khớp xương ê ẩm khiến việc xê dịch chậm chạp… Chưa kể sự thăng bằng, balance, kết hợp từ khả năng nhìn thấy, sức mạnh của bắp thịt, và khả năng cảm nhận vị trí của thân thể (proprioception) trong môi trường chung quanh, sút giảm qua thời gian. Và cuộc sống có thể đến khúc ngoặt không ngờ khi trượt chân, vấp ngã.

    Tại Huê Kỳ, số người cao niên (65+ tuổi) té ngã và chịu biến chứng nặng nề mỗi ngày một gia tăng. Nha Thống Kê của cơ quan Kiểm Soát và Phòng Ngừa Bệnh Tật (the CDC) công bố một con số đáng ngại, chỉ trong năm 2012, trên 2.4 triệu người té ngã, trong số ấy trên 200 ngàn người tử vong vì biến chứng trong cùng năm.
    Theo hội chuyên khoa về tuổi vàng, Geriatrics, tai nạn gia tăng khi con người quá lạc quan quá tự tin, không lượng sức mình; người có tuổi cũng không ngoại lệ nhưng chịu ảnh hưởng của tai nạn nặng nề hơn. Những thứ bình thường trước đây bỗng dưng trở thành chướng ngại vật trong một phút không ngờ: các bậc thang, tấm thảm trên sàn nhà, bồn tắm trắng bóng, vồng u trong chỗ đậu xe, rễ cây ngoài vườn …, và ngay cả con chó con mèo quanh quẩn bên chân hằng ngày. Những món thuốc trị chứng cao huyết áp, chữa trầm cảm…có thể gây chóng mặt, choáng váng khiến việc vấp té, trượt chân xảy ra dễ dàng hơn.

    Trong số các cụ cao niên té ngã và gãy xương chậu, 20% tử vong trong cùng năm, 80% còn lại chịu ảnh hưởng nặng nề. Họ không còn tự di chuyển nên việc nhàn tản trên một quãng đường ngắn trở nên bất khả. Nghiều người mất luôn khả năng lái xe vì chân ga chân thắng không còn nhậm lẹ nên dễ gây tai nạn.
    Không thể tự di chuyển, các cụ này trở nên phụ thuộc vào người chung quanh, từ bạn bè, hàng xóm láng giềng đến con cái. Tuổi vàng ít sợ đau đớn thể xác nhưng họ lại hãi hùng trước viễn ảnh mất hết khả năng độc lập.

    Một sự thật khó chấp nhận là việc càng cao tuổi, càng dễ té ngã. Theo Tiến Sĩ Judy A. Stevens, chuyên viên Dịch Tễ, epidemiologist, tại CDC, té ngã xem ra giản dị nhưng lại là nỗi ám ảnh kinh hoàng cho tuổi vàng, không mấy ai muốn nhắc đến và ngay cả người bị té cũng không muốn đề cập đến. Lý do? Các cụ ngượng ngùng, bạn ạ, ngại bạn bè chê cười mình vụng về, nhưng lý do sâu thẳm nhất, các cụ sợ con cháu lo lắng quá lại khênh họ vào nhà dưỡng lão hầu được (bị) chăm sóc kỹ lưỡng hơn, và từ đó mất luôn cuộc sống độc lập riêng tư. Họ sợ hung thần té ngã còn hơn các trận đau ốm. Đau ốm khi hết bệnh còn có thể độc lập chứ té ngã thì lôi thôi lắm!

    Phục hồi sau khi té ngã là một hành trình gian nan, chậm chạp. Với các ca gãy xương "bình thường", sau khi bó xương, nối xương và vết thương tạm lành, bệnh nhân trải qua thời gian tập luyện để có thể tự di chuyển. Chương trình phục hồi kéo dài vài tháng, từ việc dùng xe lăn, khung cân bằng đến cách dùng gậy để chống đỡ thân mình và giúp thăng bằng. Nhiều cụ không còn leo thang được nữa vì cần dung khung sắt để di chuyển, và từ đó phải lià bỏ tổ ấm nơi có các bậc thang thân quen, gần gũi. Thay đổi chỗ ở là cả một cú sốc trong tuổi vàng. Cụ nào chấp nhận và chịu thích nghi thì vết thương "lìa tổ ấm" sớm lành, cụ nào rầu rĩ vật vã với chỗ ở mới thì nhanh chóng rơi vào nỗi trầm cảm u uất và không thiết sống!
    Ngược lại, được sinh sống trong khung cảnh quen thuộc là nỗi ấm áp, thoải mái trong tuổi vàng ngay cả khi các cụ không còn có thể tự chăm sóc thân thể.

    Như mọi loại bệnh tật, phòng ngừa là phương cách tốt nhất. Tế ngã cũng thế. Phòng ngừa té ngã để tránh thương tật và các biến chứng thay đổi đời sống của bệnh nhân.
    Để phòng ngừa té ngã, bà Judy Stevens cho rằng thể dục là yếu tố quan trọng nhất. Khi thân thể khỏe mạnh, bắp thịt cứng cáp, thì ít bị té ngã; và nếu bị té ngã thì ảnh hưởng cũng bớt trầm trọng so với các cụ ít động đậy, đi lại.
    Các lớp thể dục, nhất là các buổi dạy về thăng bằng, như tập đứng một chân, lăn trái banh Bosu cho quen với sự chông chênh. Môn Thái Cực với các động tác co duỗi thong thả, chậm chạp giúp thân thể phối hợp hoạt động của bắp thịt và hai lá phổi thở hít nhịp nhàng. Sự phối hợp này cần thiết cho việc hô hấp, thăng bằng và dáng đi đứng của thân thể.
    Hiệu quả cụ thể nhất của sự tập luyện thân thể là việc có thể tự đứng dậy từ ghế ngồi mà không cần vịn tay: bắp thịt hai chân và bắp thịt bụng, lưng cứng cáp đủ để chống đỡ và thăng bằng thân thể khi thay đổi vị thế.

    Những yếu tố khác không kém quan trọng là việc dùng các món thuốc. Thuốc trị cao huyết áp, khoảng 70% các cụ tuổi thất thập dùng món thuốc này, gây chóng mặt khi huyết áp xuống nhanh và dễ té ngã nếu không cẩn thận. Chưa kể các thứ dược thảo lợi tiểu, giảm đường giảm mỡ (?) hầm bà lằng khác bán tự do trên thị trường mà các cụ Á Đông dùng thường xuyên như uống trà.
    Xin mở ngoặc để nhắc đến dược thảo một chút: Dược thảo là con dao hai lưỡi rất sắc, có thể vô cùng hiệu quả trong việc chữa trị một bệnh tật nào đó, nhưng dược chất trong dược thảo có liều lượng bao nhiêu lại là một điều bí mật. Bí mật thứ nhì là món dược thảo tuy có cùng tên nhưng mức khác biệt về dược chất [và dược tính] lại là khoảng cách mênh mông… chưa kể các phụ chất có dược tính khác.
    Các cụ dùng thuốc trị cao huyết áp có tỷ lệ té ngã cao gấp đôi những người không dùng. Đặc biệt là loại thuốc lợi tiểu, diuretic, [dùng để giảm cao huyết áp và suy tim]. Nếu cần dùng, các cụ nên uống thuốc ban ngày để tránh những chuyến vào nhà vệ sinh trong đêm tối. Món thuốc khác, món thuốc trị mất ngủ, có thể gây mất thăng bằng, và nếu có thể, nên thay thế bằng một ly sữa ấm, một cuốn sách dễ đọc hoặc một vài bản nhạc êm dịu.

    Cách phòng ngừa ngừa té ngã khác là cách xếp đặt vật dụng trong nhà, loại bỏ tấm thảm đặt hờ hững trên sàn nhà, bàn ghế nằm gọn ghẽ trong một góc khuất, dẹp giày dép, đồ chơi… trên lối đi.
    Các cụ trong tuổi vàng cần đi khám mắt hàng năm và đeo kính để duy trì thị lực. Dùng kính đơn tròng khi đi bộ và chỉ dùng kính hai tròng, ba tròng (bifocal, progressive lenses) khi đọc sách, ngồi tại chỗ vì loại kính này có thể gây vấp té.

    Trong nhà cần có đèn đủ sáng để thắp rõ vật dụng chung quanh. Và món vật dụng cần thiết nhất, với các cụ sống đơn chiếc, có lẽ là món "gọi cấp cứu" có thể trong dạng vòng đeo trên cổ tay có nút bấm, có thể là dây đeo trên cổ.

    Mùa thu của cuộc đời không nhất thiết sẽ là mùa tàn úa, mùa lá vàng; với sự chấp nhận, sửa soạn và sẵn sàng cho tinh thần, mùa thu có thể trở thành ...vàng lá, vàng ròng với các chuyến du ngoạn thong thả để tận hưởng sự thanh nhàn khi tâm tư không còn vướng bận với sinh kế nhọc nhằn và bổn phận dưỡng dục khó khăn?
     
  5. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    • This message is awaiting moderator approval, and is invisible to normal visitors.
    Vào những năm cuối thập niên qua, nợ mua nhà là nỗi ám ảnh có tầm mức quốc gia của Huê Kỳ. Số người vay tiền mua nhà lên cao điểm khi nhà băng, công ty tài chánh trở nên chủ nợ vô cùng dễ dãi nên bá tánh mua nhà ào ào, mua bất kể tình trạng tài chánh. Và cơn sốt địa ốc lên cao dần, cao dần cho đến khi con bệnh nhà cửa làm kinh, co giật. Cái bong bóng kia vỡ toang và cả một quốc gia khốn đốn. Một số người vay không thể trả nổi món nợ khó kham nên xù nợ, những người khác dù vẫn có thể trả nợ góp nhưng chọn lối ra đỡ tốn kém bằng cách xù nợ vì căn nhà không còn trị giá như khi đã mua. Nghĩa là món nợ [vay để mua nhà] cao hơn trị giá căn nhà, tiếp tục trả nợ là… đưa tiền vào hư không; và như thế nên người ta bỏ nhà chạy lấy người, kê khai khánh kiệt để làm lại từ đầu, ẩn nhẫn cho đủ thời gian xóa nợ rồi trở lại thị trường nhà cửa.
    Những năm gần đây, một thứ nợ khác cũng sôi sục không kém là món nợ học phí, student loan. Theo bài tường trình mới nhất của bộ Giáo Dục, khoảng 650,000 sinh viên vay tiền chính phủ liên bang đã xù nợ, và các sinh viên này phần lớn từ các cơ sở kinh doanh về dục, nôm na là loại trường mở cửa để kiếm tiền, for-profit. Số trường ốc có mục địch kiếm bạc không nhiều, chỉ mươi cơ sơ làm ăn nhưng lại tạo ra món nợ khổng lồ. Tạm hiểu là nồi canh to kềnh chỉ có mấy con sâu nhưng đủ khiến bá tánh rầu rĩ.

    Các con số thống kê khiến ta sửng sốt, từ năm 2011, cứ 7 người trẻ tốt nghiệp đại học là có một người xù nợ, nói giản dị là khoảng 14% số sinh viên đi vay đã vỡ nợ. Đây là những người trẻ mới vào đời, vào đời với một món nợ không thể trang trải thì tương lai họ đi về về đâu? Nhất là khi các công ty tài chánh đã vô cùng uyển chuyển với chương trình trả nợ, trả ít, trả lâu dài… giúp người vay có thể cáng đáng dễ dàng hơn. Vậy mà con nợ trẻ tuổi vẫn xù, và đây là mối ưu tư của phụ huynh, của các nhà giáo dục cũng như kinh tế. Người trẻ là tương lai, mà tương lai tối om như thế thì không ưu tư sao được?!

    Theo bà Debbie Cochrane, research director of The Institute for College Access and Success, sinh viên và phụ huynh cần chú ý đến những đại học có nhiều sinh viên vay nợ học phí và con số xù nợ cao, họ ra trường trong một tình trạng [tài chánh] tệ hại hơn so với lúc bắt đầu đi học. Và các con số thống kê của chính phủ liên bang nêu ra những chi tiết kia: Một số rất nhỏ các trường học vụ lợi lại tạo ra con số xù nợ khổng lồ!

    Với một tỷ lệ khác thường như thế thì chính phủ giải quyết ra sao? Bộ Giáo Dục ngừng cho vay, họ không cho sinh viên theo học tại 21 đại học đứng hàng đầu trên bảng phong thần về xù nợ! Những trường này có tỷ lệ sinh viên xù nợ 40% liên tiếp suốt 3 năm (diễn nôm là nếu tỷ lệ xù nợ cao chỉ một năm thì cũng được chính phủ bỏ lơ). Tạm hiểu là trường thu nhận học viên vô cùng dễ dãi, thúc dục học viên vay mượn chính phủ để đóng học phí. Dạy dỗ huấn nghệ không bao nhiêu nên học viên học xong không thể kiếm ra việc làm hầu trả nợ học phí.
    Trong số 21 đại học nặng tiền nợ, 20 là các trường vụ lợi! Đây là các ngôi trường dạy nghề, nhỏ xíu. Như the Coast Career Institute, tại California, có tỷ lệ sinh viên xù nợ là 56% dù số sinh viên theo học chỉ vỏn vẹn 169 người. Mười một trường trong bảng phong thần xù nợ là trường dạy nghể làm đẹp hoặc cắt tóc.

    [​IMG]

    Nhìn chung, trong năm 2011, khoảng 19% học viên tốt nghiệp từ trường vụ lợi xù nợ; từ trường công lập, 12.9% sinh viên xù nợ, và từ trường tư, không vụ lợi, chỉ 7.2% sinh viên xù nợ.
    Đứng đầu trên bảng phong thần xù nợ là University of Phoenix, hệ thống kinh doanh Giáo Dục lớn nhất tại Huê Kỳ với 242,000 sinh viên; trên 45,000 người đã xù nợ học phí.
    Về phía đại học công lập, ngôi trường có tỷ lệ sinh viên cao nhất là Ivy Tech, một đại học cộng đồng tại Indiana nơi 23% sinh viên vay nợ đi học đã xù nợ. Tuy nhiên dù nhiều sinh viên xù nợ (tỷ lệ cao) nhưng số tiền nợ tương đối thấp vì trường công, học phí nhẹ hơn trường tư.

    Với tấm ảnh giáo dục tối hù như thế, thì phụ huynh phải làm sao để hướng dẫn con em, những đứa trẻ sắp học xong trung học? Ta cần chú ý đến một số chi tiết sau đây:

    • Tìm kiếm các đại học ít tốn kém. Bộ Giáo Dục Hoa Kỳ công bố các chi tiết về học phí, số sinh viên theo học, học nghề gì, tỷ lệ vay nợ và xù nợ là bao nhiêu… các chi tiết này giúp phụ huynh có chút khái niệm về mức tốn kém, mức thành công (kiếm ra việc làm sau khi học xong) và có thể tranh xa các trường học tốn tiền!
    Phụ huynh có thể tìm kiếm các con số kia, được cập nhật hàng năm, trên trang nhà của bộ Giáo Dục. Ngoài ra trang nhà MONEY của hãng thông tấn CNN cũng kê khai danh sách các đại học tư thục ít tốn kém nhất.
    Tuy nhiên, tài chánh chỉ một trong nhiều yếu tố để chọn trường học, các ngành học và tiềm năng của con em cũng là các yếu tố quan trọng khác.

    • Nhìn nhận giới hạn của mình. Đừng vay mượn nhiều hơn mức lương có thể kiếm ra trong ngành theo học sau khi tốt nghiệp. Theo ông Mark Schneider, president of College Measures và cũng là cố vấn của MONEY’s Best Colleges rankings (ht*p://time.com/money/collection/moneys-best-colleges/), số tiền trả góp khoảng 11% số lương có thể kiếm được trong năm đầu tiên đi làm là tạm đủ. Ta có thể ước đoán mức lương theo nghề nghiệp và địa phương sinh sống theo tài liệu của các cơ quan hữu trách tiểu bang và liên bang. Hàng năm bộ Lao Động công bố các con số về lương bổng của một số nghề phổ thông.

    Nếu đã học xong, đang đi tìm việc làm và cần phải trả nợ học phí (khoảng 6 tháng sau khi tốt nghiệp) hãy cẩn thận lựa chọn:

    • Một chương trình trả góp thích hợp với tình trạng tài chánh: Thông thường nhất là chương trình trả góp 10 năm nhưng cũng có một số chương trình trả góp lâu dài hơn với số tiền trả góp hàng tháng nhẹ hơn hoặc hoãn lại việc trả góp một thời gian. Các chương trình này và các các phương thức lựa chọn cách trả góp dựa trên lương bổng được công bố trên trang nhà của Bộ Giáo Dục.
    Ngoài ra có một số điều kiện khác giúp đỡ sinh viên sớm thoát nợ học phí như việc trả góp đều đặn, đúng ngày tháng sau 10 năm, phần nợ còn lại sẽ được chủ nợ (chính phủ) bỏ qua, cả tiền gốc lẫn tiền thuế nếu làm việc cho một cơ quan công quyền, hoặc cơ sở không vụ lợi (non-profit)

    • Trả góp "tự động": Khi ta cho phép ngân hàng khấu trừ số tiền trả góp hàng tháng, tự động chuyển từ trương mục của mình đến trương mục của chủ nợ, chính phủ sẽ giảm mức lãi suất 0.25%.

    • Trả bớt tiền nợ gốc khi có thể, điều này sẽ khiến ta thoát nợ nhanh chóng hơn thời gian đã định và bớt được một số tiền lãi.

    • Giảm lãi suất: Khi vay nợ với một lãi suất cao, hãy tìm cách giảm lãi suất qua việc "refinance", nói giản dị là vay một món tiền khác với lãi suất thấp hơn để trả món nợ chịu lãi suất cao.
    Trước viễn ảnh sinh viên xù nợ quá nhiều, chính phủ và các công ty tài chánh đang rao bán chương trình giảm lãi suất để con nợ có thể cáng đáng món tiền trả góp hàng tháng kẻo chủ nợ mất trắng nếu con nợ xù luôn!

    Nếu không thể trả nợ:

    • Đừng ngần ngại: Không mấy ai hăm hở khi phải đối đầu với những chuyện không vui như gặp gỡ, tiếp xúc với người thu nợ nhưng ta vẫn cần làm công việc khó khăn ấy, càng sớm càng tốt, ngay khi lỡ kỳ trả góp đầu tiên. Chủ nợ có khuynh hướng dễ dãi hơn khi con nợ muốn điều đình và vẫn có ý muốn trả nợ, ta có tránh được những món tiền "phạt" khi "lỡ" vài kỳ trả góp.

    • Khi bất khả, cần khai phá sản. Đây là cách lựa chọn cuối cùng vì phá sản sẽ ảnh hưởng đến tín dụng trong suốt 7 năm về sau, trong thời gian này, con nợ xù không thể vay mượn mua bán chi bằng tín dụng.

    Món nợ nào cũng là một nỗi ám ảnh nặng vai xã hội. Vay nợ mua nhà là câu chuyện sôi nổi một thời của những người đã trưởng thành ra đời làm ăn sinh sống; chủ nợ là các ngân hàng, công ty tài chánh. Vay nợ đi học là câu chuyện của những người còn cắp sách. Món nợ học phí của học trò đã trở thành cơn nhức đầu của chính phủ Huê Kỳ vì chính phủ là chủ nợ. Khi con nợ [mua nhà] xù thì nhà băng sập tiệm, kỹ nghệ tài chánh lao đao nên chính phủ phải đứng ra bảo kê, trang trải kẻo cả nước khốn quẫn. Khi học trò học … hết chữ rồi ra trường mà không kiếm được việc làm sinh sống thì cũng chẳng thể trả món nợ học phí chồng chất. Và cũng chính phủ đành nuốt cục nợ. Cả hai trường hợp, công quỹ đến từ tiền đóng thuế của người dân. Bất kể con nợ nào xù, bá tánh cũng phải chia nhau trả góp! Con nợ xơ xác thì chủ nợ xính vính, chỉ có những kẻ trung gian, đứng giữa thu bạc là ăn nên làm ra.