Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!

  1. Book
  2. Hồ Chí Minh Nhận Định Tổng Hợp - Minh Võ

Đây là một phần của sách 'Book:Tiểu Sử Minh Võ'

HỒ CHÍ MINH
Nhận định tổng hợp * Minh Võ
________________________________

Trình bày: TỪ PHONG
TIẾNG QUÊ HƯƠNG xuất bản
In lần thứ nhất tại Hoa Kỳ
Virginia 2003


MINH VÕ



“Con người không phải thiên thần, cũng không phải thú vật.
Và kẻ muốn làm thiên thần thì thành thú vật”

* BLAISE PASCAL



Tủ sách
Virginia 2003





Thư Nhà Xuất Bản

Xin góp thêm một nén nhang.

Đó là ý nghĩ đến với chúng tôi khi quyết định gửi tác phẩm này tới tay bạn đọc. Ý nghĩ có vẻ hoàn toàn xa với sách vở nhưng đã dấy lên từ những dòng chữ của Minh Võ.

Chủ điểm của tác giả hết sức rõ ràng là nhìn lại những huyền thoại về một nhân vật mà toàn bộ cuộc đời đã gắn kết chặt chẽ với từng biến cố của đất nước Việt Nam suốt nửa thế kỷ qua.

Những huyền thoại đó đã được ghi chép, được nhắc kể bởi hàng trăm người cầm bút trên khắp thế giới để biến thành đủ loại màu sắc vừa dị thường vừa ngược ngạo đến mức người đi tìm chân dung nhân vật khó tránh cảnh bị vây hãm giữa một vùng rừng rậm.

Với mong mỏi tìm vạch một hướng nhìn không bị ngáng trở bởi cảnh chen chúc hỗn loạn rối mù của đủ loại cây cành, Minh Võ đã cố đẩy mọi huyền thoại trở lại điểm xuất phát để nhận rõ từ tính chất đến động cơ thúc đẩy hình thành.

Đôi mắt có hai đồng tử đã biến nhân vật thành mẫu người siêu việt dị thường khởi nguồn ra sao?

Việc nhân vật được coi như vị cha già của dân tộc, như bậc anh hùng cứu quốc vĩ đại nhất lịch sử Việt Nam xuất phát từ đâu?...
Hàng loạt những câu hỏi như thế đã được giải đáp để cây không che mất rừng và rừng không che khuất mắt người.

Nhưng những lời giải đáp mà tác giả đưa ra cho từng huyền thoại lại luôn khua động một âm vang tưởng chừng đã nín bặt từ lâu dưới bề dày của năm tháng.

Từ từng dòng chữ, từng trang sách, không ít hình ảnh cũ trong cuộc sống quê hương đã bừng dậy để khơi gợi một cảm giác não nề.

Hơn bảy trăm trang sách điểm lại các huyền thoại về nhân vật Hồ Chí Minh qua sự nhắc kể của hàng trăm cây bút trên thế giới đã liên tục đặt người đọc vào tâm cảnh ngổn ngang xoay quanh những tai ương biến dân tộc Việt Nam thế kỷ 20 thành một dân tộc bất hạnh nhất trong lịch sử nhân loại.

Ở khắp nơi trên thế giới hẳn không ai còn ngạc nhiên khi nghe kể về những bất hạnh do thời thế mà người dân Việt Nam đã phải trải suốt hơn năm mươi năm qua.

Nhưng có lẽ không mấy ai nghĩ tới nỗi bất hạnh vượt lên hết thẩy mọi nỗi bất hạnh mà người dân Việt Nam đã phải nhận chịu và tiếp tục nhận chịu cho tới giờ này. Nỗi bất hạnh đó là hàng ngày vẫn phải nghe vẳng bên tai những lời lẽ liên tục gợi nhắc các tai ương mà mọi người phải gánh chịu theo kiểu cách diễn tả là những chứng tích huy hoàng của một thời kỳ vẻ vang nhất đối với người dân Việt Nam.

Qua từng trang sách của Minh Võ, người đọc sẽ nghe lại lời tán tụng của Duiker:

"Ông Hồ đã chiếm được một chỗ trong ngôi đền thờ những anh hùng cách mạng từng đấu tranh mạnh mẽ để những người cùng khổ trên thế giới có được tiếng nói đích thực của họ”.

Người đọc cũng phải nghe lại lời Halberstam:

“Hồ Chí Minh là anh hùng số một, anh hùng duy nhất của Việt Nam… là hiện thân cuộc cách mạng của dân tộc ông, là nhà ái quốc vĩ đại nhất Việt Nam ở thế kỷ 20”.

Người đọc càng không thể không nghe lời tán tụng của Hélène Tourmaire:

“Hình ảnh của Hồ Chí Minh đã hoàn chỉnh với sự kết hợp đức khôn ngoan của Phật, lòng bác ái của Chúa, triết học của Mác, thiên tài cách mạng của Lênin và tình cảm của một người chủ gia tộc, tất cả bao bọc trong dáng dấp rất tự nhiên”.

Những cực hình tàn khốc nhất chưa dễ khuất phục nổi sức chịu đựng của con người, nhưng quả là hết sức cay cực khi đối diện với những con người thản nhiên vỗ tay tán thưởng và xưng tụng những tấn tuồng hành hạ đồng loại.

Cho nên, những dòng chữ từ tác phẩm của Minh Võ đã dắt dẫn rất mau ý nghĩ hướng về những nạn nhân của mọi tai ương đau đớn trên đất nước Việt Nam suốt hơn nửa thế kỷ qua.

Xin tất cả hãy nghỉ yên dù vào lúc này vẫn còn phải nghe vọng lại từ một thế giới khác những giọng điệu bất nhân ca ngợi các thế lực tàn nhẫn đã vùi lấp cuộc đời, huỷ hoại mạng sống của không biết bao nhiêu kẻ hiền lương.

Cuốn sách này không nhắm tranh cãi với những kẻ chỉ mang hình dạng con người mà xin được coi như một nén nhang tưởng nhớ tất cả các nạn nhân đã bị đọa đày và uổng tử suốt hơn nửa thế kỷ qua.

Tủ sách
TIẾNG QUÊ HƯƠNG



Kính dâng hương hồn các
anh hùng dân tộc, các chiến sĩ đã hy sinh
vì lý tưởng giải phóng dân tộc.

Gửi các bạn trẻ Việt Nam
ở trong cũng như ngoài nước đang xả thân
tranh đấu cho nhân quyền và tự do.




Đôi Lời Ghi Ơn



Ý tưởng đầu tiên về sự hiện hữu của tác phẩm này do một phụ nữ đáng kính gieo vào đầu tôi cuối năm 1998. Bà là vợ Thiếu Tá Nguyễn Văn Linh bị Việt Cộng hành quyết trong “chiến khu” vì tổ chức kháng chiến sau 30-4-1975. Bà cũng là cháu Giám Mục Lê Hữu Từ từng là cố vấn tối cao của chính phủ Hồ Chí Minh năm 1945. Tên bà là Lê Thị Cúc.

Ba năm sau ý tưởng đó lại được một người khác khơi lại. Đó là nhà văn Uyên Thao, người chủ trương Tủ Sách Tiếng Quê Hương, cũng là người đích thân biên tập, sắp xếp để xuất bản cuốn Tâm Sự Nước Non, Ai Giết Hồ Chí Minh?. Trong tập tiểu luận này, người viết đã dành 7 chương trong số 14 chương để nêu lên cùng một kết luận là cần phải đánh đổ thần tượng Hồ Chí Minh, nhất là huyền thọai “cha già dân tộc”, nếu muốn giải thể chế độ hiện nay để đem lại tự do dân chủ cho Việt Nam. “Đã thấy là cần thì anh phải viết”. Uyên Thao bảo tôi vậy.

Và khi tôi gửi bản thảo đến để Tủ Sách xuất bản, mặc dù đang trong tình trạng cần tĩnh dưỡng sau nhiều cuộc giải phẫu, anh đã để rất nhiều thời giờ và công sức cố nhuận sắc cho tác phẩm có được vóc dáng chững chạc hơn. Những tia lửa hừng hực châm vào giữa những hàng biên khảo khô lạnh trong một số chương chính là từ ngọn bút nồng nàn của anh, một nạn nhân đặc biệt của Cộng Sản.

Vì từ trước chưa bao giờ tôi tự nghĩ sẽ viết loại sách này, nên công việc ban đầu gặp rất nhiều khó khăn trở ngại: Tuổi tác, bệnh hoạn, tài liệu hạn chế, kỹ thuật máy điện toán... Những con virus cứ thay nhau phá phách cái máy cổ lỗ sĩ của tôi. Tuyến Vũ, Thông Vũ phải thay nhau giúp bố chống chọi cực nhọc. Cuối cùng bỗng có người mang đến tặng máy mới với đĩa ngăn chặn Virus tối tân. Đó là nhà thơ trẻ Tâm Vô Lệ, một chuyên viên thượng thặng về máy điện toán, tác giả trường thiên tiểu thuyết Người Tình Điện Toán mới xuất bản.

Những khuyến khích, cổ võ, tiếp tay của bạn bè và của những người bàng quan chỉ vì cùng một ý hướng đưa lịch sử trở lại vùng sáng khiến tôi phấn khởi. Cố gắng gần hai năm trời đã đưa đến kết quả ngày nay, dĩ nhiên còn rất xa đích nhắm của mọi người và kỳ vọng của người viết.

Về ý tưởng hướng đạo, tôi phải ghi nhận ở đây, bài viết về Hồ Chí Minh của Giáo Sư Tôn Thất Thiện trong tác phẩm đa tác giả, Hồ Chí Minh sự thực về thân thế và sự nghiệp, do nhà Nam Á ở Paris xuất bản năm 1990 đã gợi hứng cho tôi phác họa một phần đề án biên soạn cuốn sách này.

Nhân đây tôi cũng xin cám ơn sự giúp đỡ và khuyến khích của nhiều văn hữu và bạn bè trong đó có các anh Lê Văn Thái, Chu Tử Kỳ và người bạn trẻ Trần Ái và trang nhà Thư Viện Toàn Cầu chuyên đi tìm và cung cấp cho tôi một số tài liệu hữu ích; các nhà văn nhà báo Trần Phong Vũ, Đỗ Tiến Đức, Lý Đại Nguyên, Đặng Trần Huân (mới mất cách đây ít ngày), nhà thơ Nguyễn Chí Thiện đã xem trước bản thảo và cho nhiều ý kiến hữu ích; Luật Sư Nguyễn Hữu Thống, Luật Sư Tiến Sĩ Lâm Lễ Trinh không ngừng cho những lời khích lệ quý báu. Anh bạn thông gia Phạm Chí Linh, người thường thích đọc sách của tôi khi còn là bản thảo, đã năng gọi điện thoại hỏi: Sách viết đến đâu rồi, bao giờ được xem bản thảo đây?

Những cử chỉ và lời nói khuyến khích nhắc nhở trên đây đã thúc đẩy tôi phải hoàn thành sớm cuốn sách.

Cũng mong độc giả sẽ tha thứ cho tôi đã không tự giới thiệu một số chương trong tác phẩm mà nhà báo Phạm Phú Minh tức nhà văn Phạm Xuân Đài, nhà báo lão thành Hồ Anh Nguyễn Thanh Hoàng và Luật Sư Tiến Sĩ Lâm Lễ Trinh đã cho phổ biến trên 2 tờ Việt ngữ Thế Kỷ 21 (3 chương) và Văn Nghệ Tiền Phong (4 chương) và trên tạp chí song ngữ Anh-Pháp Human Rights (1 chương đã được chuyển ngữ), coi như gián tiếp giới thiệu trước và quảng bá cho tập sách này.

Và còn nhiều ân nhân nữa không thể nêu hết. Xin tất cả quý vị, quý bạn ghi nhận lòng biết ơn của người viết.

Sau hết, tôi xin chân thành cảm tạ các nhà xuất bản, các tác giả (danh sách ghi nơi phần Thư Mục cuối sách) những tác phẩm được tham khảo để viết cuốn sách này, những tác phẩm mà chúng tôi đọc đi đọc lại một cách thích thú, trân trọng, trong đó tôi học hỏi được rất nhiều, mặc dù có những đoạn mà chúng tôi đã phân tích để mạn phép góp ý với tác giả và vận dụng theo ý riêng, làm chất liệu đánh giá, nhận định về những tư tưởng và hành vi của đối tượng tập sách này.



MINH VÕ Vũ Đức Minh
Nam Cali 30- 4- 2003






HỒ CHÍ MINH

* nhận định tổng hợp

_____________________________________________________




Mục Lục & Ghi chú trước khi vào sách

* Lời nói đầu




PHẦN I

NHẬN ĐỊNH TỪ MỘT SỐ TÁC PHẨM LOẠI TIỂU SỬ

I. Tác giả ngoại quốc

– Chương 01 tr. 053

WILLIAM J. DUIKER và Ho Chi Minh, a life

– Chương 02 tr. 071

J. LACOUTURE và Ho Chi Minh, a political biography

– Chương 03 tr. 089

PIERRE BROCHEUX và Ho Chi Minh

– Chương 04 tr. 097

DAVID HALBERSTAM và Ho

– Chương 05 tr. 107

BERNARD F. FALL và Ho Chi Minh on revolution

– Chương 06 tr. 123

JEAN SAINTENY và Face à Ho Chi Minh

– Chương 07 tr. 131

TƯỞNG VĨNH KÍNH và Hồ Chí Minh tại Trung Quốc

– Chương 08 tr. 141

SOPHIE QUINN-JUDGE và Ho Chi Minh, the missing years 1919-1941

II. Tác giả Việt Nam

– Chương 09 tr. 163

TRẦN DÂN TIÊN và Những Mẩu Chuyện Về Đời Hoạt Động Của Hồ Chủ Tịch

– Chương 10 tr. 181

HỒNG HÀ và Bác Hồ Trên Đất Nước Lê Nin

– Chương 11 tr. 193

PHÙNG THẾ TÀI và Bác Hồ, Những Kỷ Niệm Không Quên

– Chương 12 tr. 201

NGUYỄN KHẮC HUYÊN và Vision ăccomplished ?

The emigma of Ho Chi Minh

– Chương 13 tr. 215

NHÓM ĐƯỜNG MỚI và HCM, Sự Thật Về Thân Thế Và Sự Nghiệp

– Chương 14 tr. 231

HOÀNG QUỐC KỲ và Ma Đầu Hồ Chí Minh

– Chương 15 tr. 237

NGUYỄN THUYÊN và Bộ Mặt Thật Của Hồ Chí Minh

– Chương 16 tr. 243

VIỆT THƯỜNG và Sự Tích Con Yêu Râu Xanh.

– Chương 17 tr. 253

NGUYỄN PHƯƠNG MINH và Hồ Chí Minh, Tên Phản Quốc Số Một Của Thời Đại

PHẦN II

NHẬN ĐỊNH TỪ MỘT SỐ TÁC PHẨM VIẾT VỀ CUỘC CHIẾN VN

I. Tác giả ngoại quốc

– Chương 18 tr. 265

6 TÁC GIẢ và Le Livre Noir du Communisme: crimes, terreur...

– Chương 19 tr. 275

J. BUTTINGER và Vietnam, the unforgetable tragedy

– Chương 20 tr. 285

DOUGLAS E. PIKE và History of Viet Nam Communism

– Chương 21 tr. 295

ROBERT SHAPLEN và The Lost Revolution

– Chương 22 tr. 301

MICHEL TAURIAC và Vietnam, le dossier noir du Communisme

– Chương 23 tr. 309

J. P. HONEY và Communism in North Vietnam

– Chương 24 tr. 317

PHILIP DAVIDSON và Vietnam at war

– Chương 25 tr. 321

ELLEN HAMMER và The Struggle for Indochina

– Chương 26 tr. 331

DANIEL ELLSBERG và Secret

– Chương 27 tr. 343

DENNIS J. DUNCANSON và Government and Revolution in Vietnam

– Chương 28 tr. 349

DEVILLERS & LACOUTURE và La Fin d’une Guerre

– Chương 29 tr. 355

DENIS WARNER và The Last Confucian

II. Tác giả Việt Nam


– Chương 30 tr. 363

VÕ NGUYÊN GIÁP và Những Năm Tháng Không Thể Nào Quên

– Chương 31 tr. 375

NGUYỄN THỊ BÌNH và Mặt Trận Dân Tộc GPMNVN - Chính Phủ

Lâm Thời tại Hội Nghị Paris về Việt Nam

– Chương 32 tr. 381

TRẦN VĂN GIÀU và Sự Phát Triển Tư Tưởng Tại Việt Nam

– Chương 33 tr. 389

HOÀNG VĂN HOAN và Giọt Nước Trong Biển Cả

– Chương 34 tr. 399

SƠN TÙNG và bài nói về Hồ Chí Minh

– Chương 35 tr. 407

HOÀNG TÙNG và Hồ Chí Minh, Trung Quốc và Liên Xô

– Chương 36 tr. 411

BÙI TÍN và Vietnam, la face cachée du régime

– Chương 37 tr. 419

NGUYỄN MINH CẦN và Đảng CSVN qua những biến động trong phong trào Cộng Sản Quốc Tế

– Chương 38 tr. 427

VŨ THƯ HIÊN và Đêm Giữa Ban Ngày

– Chương 39 tr. 435

BẢO ĐẠI và Con Rồng Việt Nam

– Chương 40 tr. 441

TRẦN GIA PHỤNG và Án tích Cộng Sản Việt Nam

– Chương 41 tr. 453

ĐỖ MẠNH TRI và Di Sản Mác-xít tại Việt Nam

– Chương 42 tr. 459

MỘT SỐ TÁC GIẢ KHÁC

PHẦN III

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA HỒ CHÍ MINH


– Chương 43 tr. 479

Chủ thuyết Cộng Sản và bối cảnh tình hình Việt Nam

– Chương 44 tr. 503

Hồ Chí Minh và sự du nhập chủ nghĩa Cộng Sản vào Việt Nam

– Chương 45 tr. 525

Hồ Chí Minh và vụ bán Phan Bội Châu cho mật thám Pháp

– Chương 46 tr. 549

Hồ Chí Minh từ Xô Viết Nghệ Tĩnh 1930 tới CCRĐ 1953

– Chương 47 tr. 567

Hồ Chí Minh và Mặt Trận Việt Minh

– Chương 48 tr. 589

Hồ Chí Minh và tình trạng bị thủ hạ khống chế

– Chương 49 tr. 619

Hồ Chí Minh và cuộc sống thánh thiện

– Chương 50 tr. 645

Hồ Chí Minh và Tito Việt Nam

– Chương 51 tr. 667

Hồ Chí Minh và vị anh hùng ái quốc

– Chương 52 tr. 715

Lời cuối sách


Phụ lục * 731

Thư mục * 747

Danh mục (Index) * 759


GHI CHÚ TRƯỚC KHI VÀO SÁCH


A * Chú thích về một số từ ngữ

– Cách mạng:

Phát xuất từ sự đột biến của sự vật (hay lịch sử) từ lượng sang chất theo duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Nó là sự thay đổi tất yếu. Nó tương phản và không dung nạp ý niệm về cải cách. Nó luôn luôn đi với bạo lực. Nó hoàn toàn khác với khái niệm về cách mạng của người không cộng sản. (HCM hay viết là Kách mệnh, có lẽ để nhớ tới chữ K trong Karl Marx và Komintern, hoặc vì thích dùng chữ K của Nga ngữ?)

– Cộng Sản:

Cộng Sản theo Mác và Lênin, không phải Cộng Sản trước khi có tuyên ngôn Cộng Sản của Mác và Ăng Ghen.

– Chủ nghĩa Cộng Sản:

Cũng thường gọi là chủ nghĩa Mác-xít Lê-ni-nít hay chủ nghĩa Mác-Lê.

– Chế độ Cộng Sản:

Chế độ đại đồng, trong đó mọi sự đều là của chung ai nấy hưởng theo nhu cầu và làm việc tùy sức. Đó là hứa hẹn hấp dẫn của Mác. Trên thực tế chưa có quốc gia Cộng Sản nào áp dụng chế độ này. Tuy nhiên người ta vẫn thường gọi các chế độ theo mẫu mực Liên Xô được áp dụng tại những nước trong phe là chế độ Cộng Sản thay vì phải gọi là chế độ xã hội chủ nghĩa mới đúng.

– Chế độ xã hội chủ nghĩa:

Giai đoạn “quá độ” (tức chuyển tiếp) từ chế độ tư bản đến chế độ cộng sản, trong đó nền kinh tế hoàn toàn do nhà nước chỉ huy theo hình thức hợp tác hóa và về chính trị, một chế độ độc tài triệt để được thiết lập, tập trung mọi quyền hành nơi đảng cộng sản.

– Chuyên chính:

Độc tài, độc đoán, độc quyền, chuyên chế dịch từ dictature của Pháp hay dictatorship của Anh. Đó là chữ dùng theo nghệ thuật tuyên truyền lá mặt lá trái, lập lờ đánh lận con đen... Nó cũng gần như chữ totalitarian regime mà có nhiều người dịch là chế độ toàn trị. Chúng tôi nghĩ, cứ dịch là chuyên chế, chuyên quyền hay cực quyền. Không nên dịch là toàn trị. Vì chữ toàn ngoài nghĩa toàn thể, toàn bộ, còn có nghĩa trọn vẹn, thường ngụ ý tốt. Toàn trị có thể hiểu là một nền cai trị hoàn toàn (tốt).

– Chuyên chính vô sản:

Nền độc tài của giai cấp vô sản, nhưng thực ra là của đảng cộng sản trong đó phần đông cấp lãnh đạo không thuộc giai cấp vô sản. Chuyên chính là từ ngữ do Cộng Sản Trung quốc và Việt Nam dùng để tránh gợi nhắc tính bạo hành áp chế của nền độc tài đảng trị. Thực ra, chuyên chính chỉ có nghĩa là độc tài nhưng với chữ chính ở cuối nghe có vẻ chính trực, liêm chính... từ đó dễ có thể đổi trắng thay đen. Chẳng hạn cổ võ chuyên chính nhưng đồng thời cũng nói dân chủ và đặt tên là dân chủ tập trung với diễn tả “triệu lần dân chủ hơn các chế độ tự do dân chủ Tây phương”. Những cái lắt léo tương tự được giải thích bởi luật mâu thuẫn của duy vật biện chứng!

– Sách lược:

Trong thuật ngữ quân sự Âu Tây có hai từ strategy và tactics thường dịch là chiến lược và chiến thuật. Nhưng Cộng Sản Việt Nam thường dùng tiếng sách lược thay cho chiến thuật. Nhiều người lầm lẫn sách lược là chiến lược, hoặc có khi dịch sang tiếng Anh lại dịch là policy. Như vậy, vô tình đồng hóa sách lược với chính sách.

Thực ra, sách lược dịch từ chữ tactics không phải là policy. Và, chữ tactics trong chiến tranh ý thức hệ do cộng sản chủ trương, không chỉ là chiến thuật quân sự. Do đó, nếu dịch là chiến thuật thì thiếu sót rất cơ bản, dễ dẫn đến ngộ nhận về bản chất chiến tranh ý thức hệ của Cộng Sản là một cuộc chiến toàn bộ (trường kỳ, thường trực, toàn cầu và toàn diện). Chính vì vậy Cộng Sản dịch tactics là sách lược.

Khi nói về chiến tranh ý thức hệ của CS, chúng tôi cũng dùng từ sách lược còn từ chiến thuật chỉ dùng để nói về hoạt động thuần túy quân sự.

Riêng từ chiến lược dịch từ Strategy với nghĩa bao gồm mọi mặt của cuộc chiến. Tuy nhiên cũng có một ít người thích dùng hai tiếng chính lược để nói về những phương lược chính trị cao cấp.

Đối với cộng sản, chính trị cao cấp đến mấy cũng nằm trong khái niệm chiến tranh ý thức hệ là cuộc chiến toàn bộ, toàn diện, toàn cầu, trường kỳ và thường trực. Nó xuất phát từ khái niệm đấu tranh giai cấp do duy vật biện chứng là luật tất yếu của vạn vật. Do đó họ chỉ nói gọn là chiến lược.

– Dân chủ tập trung:

Cộng Sản luôn chủ trương chuyên chính vô sản nhưng cũng thường nói dân chủ tập trung và còn tự phụ khoe nền dân chủ này “triệu lần dân chủ hơn các nước Tây phương”. Cộng Sản lập luận giai cấp vô sản thuộc số đông, khi nắm chính quyền thực thi dân chủ với vô sản, còn chuyên chính với các giai cấp khác thuộc thiểu số nên dân chủ hơn nền dân chủ Tây Phương chỉ dành cho giai cấp tư sản vốn là một thiểu số rất nhỏ bé.

Lập luận này cũng vận dụng cho chủ trương thực hiện dân chủ trong đảng và chuyên chính với kẻ thù mà Cộng Sản khắp nơi đang theo đuổi. Trên thực tế, từ sinh hoạt toàn chế độ tới sinh hoạt nội bộ đảng chỉ cho thấy cách giải thích này là một lối nguỵ biện cho chế độ độc tài không hơn không kém.

Chuyện ông Hồ giải thích dân chủ tập trung bằng hình ảnh chiếc chìa khóa mà ông bỏ vào túi mình sau khi khóa cái rương được nói là do nhân dân trao cho ông giữ hộ quyền dân chủ là một định nghĩa hết sức hài hước nhưng có vẻ khá chính xác về mấy chữ dân chủ tập trung. (Xin đọc trong Phản Tỉnh Phản Kháng Thực Hay Hư, trang 369-370)

– Vô sản:

Nghĩa đen là người không có tài sản. Marx dùng từ gốc Latinh “proletariat” để nhắc thời đế quốc La Mã có một lớp người nghèo cùng cực. Vào thời Marx, người nghèo là đám công nhân tại các nhà máy của các nước công nghiệp phát triển như Anh, Pháp, Đức..., đặc biệt là những công nhân không có tài sản, không có phương tiện sản xuất, sống nhờ đồng lương chết đói do chủ ban cho.

Với Lênin thì vô sản gồm thêm thành phần bần nông, tuy ban đầu Lênin chỉ coi nông dân là đồng minh thân thiết của vô sản, chứ chưa được kể là vô sản.

Trong Tuyên Ngôn Cộng Sản, Marx và Engels đã ghi rõ “bước đầu trong Cách Mạng do giai cấp công nhân lãnh đạo là phải đưa giai cấp vô sản này lên nắm quyền cai trị để thiết lập một chế độ “dân chủ”.

Nhưng ngày nay, người thực sự cầm quyền thống trị tại các nước “xã hội chủ nghĩa” không phải là giai cấp vô sản mà là một “giai cấp (bóc lột) mới” hay giai cấp đặc quyền đặc lợi (Nomenklatura), theo hai nhân vật cộng sản ly khai nổi tiếng thế giới là Milovan Djilas (người Nam Tư) và Maichael Voslensky (người Nga).

– Quốc gia:

Thường được nhắc trong các nhóm từ phe quốc gia, phía ngưòi quốc gia, cuộc chiến quốc gia - cộng sản... Từ này được dùng theo thói quen bắt đầu một cách thiếu chính xác – không hàm nghĩa nhà nước, hay một nước, mà hàm ý dân tộc. Đó là dịch từ chữ Nationalist của Pháp hay Anh. Đáng lẽ phải dịch là dân tộc. Nhưng vì nationalist đối với Internationalist nên người miền Nam từ lâu dùng quốc gia đối với quốc tế, nghe cho thuận tai.

Vì vậy khi nói cuộc chiến Quốc-Cộng thì phải hiểu là cuộc chiến giữa một bên là những người cộng sản theo chủ nghĩa quốc tế, và một bên là những người theo chủ nghĩa dân tộc, chiến đấu vì quyền lợi tổ quốc. Trái lại, đối với đảng cộng sản thì người thuộc phe quốc gia là Việt gian.

– Thực dân mới:

Hai chữ thực dân thì không có gì đáng nói, vì ý nghĩa đã rõ và dù bạn hay địch thì vẫn dùng theo cùng một nghĩa. Nhưng CSVN đã nêu 3 chữ thực dân mới để chỉ Hoa Kỳ, khi nước này viện trợ cho VNCH.

Vốn biết rõ Mỹ không có tham vọng xâm chiếm đất đai làm thuộc địa nên gán chữ thực dân cho Mỹ khó thể thuyết phục dư luận.
CSVN đã tạo ra chữ thực dân mới và đã có một số người gọi theo vì các lý do riêng nào đó, kể cả khi biết rõ Mỹ tham chiến chỉ nhằm chống cuộc chiến toàn cầu của Cộng sản và bảo vệ miền Nam khỏi cuộc xâm lăng của CS Bắc Việt. Khi gọi Mỹ là thực dân mới đương nhiên đã xoá bỏ ý nghĩa chiến đấu tự vệ của VNCH và xuyên tạc sự có mặt của mọi quốc gia Đồng Minh là phi nghĩa vì bị thực dân chi phối.

– Tư bản chủ nghĩa:

Thực ra không có chủ nghĩa tư bản, cũng không có ý thức hệ tư bản. Chỉ có ý thức hệ cộng sản và chủ nghĩa cộng sản. Và cuộc chiến ý thức hệ, chỉ là cuộc chiến một chiều do cộng sản chủ trương. Mấy tiếng tư bản chủ nghĩa là do cộng sản dùng để chỉ kẻ thù chính họ cần tiêu diệt.

Nói nhân dân Việt Nam xâu xé trong cuộc chiến nồi da xáo thịt vì các ý thức hệ ngoại lai là nói theo luận điệu cộng sản. Việt Nam Cộng Hoà cũng như thế giới tự do, chỉ chiến đấu tự vệ trong cuộc chiến ý thức hệ do cộng sản phát khởi theo chủ trương đấu tranh liên tục và trường kỳ.

– Hợp tác hóa (nông, công, thương nghiệp ...):

Chính sách chung của tất cả các chế độ Cộng Sản, trong thời kỳ quá độ, tức trong chế độ xã hội chủ nghĩa (ở giữa tư bản và cộng sản) nhắm tập trung tài sản và phương tiện sản xuất dưới sự điều động và quản lý của một ban quản trị. Trong Cải Cách Ruộng Đất, CS tuyên bố lấy ruộng nhà giầu chia cho dân nghèo, sau đó, tất cả bị lấy lại đặt dưới quyền của một ban quản trị trong hợp tác xã. Mọi người phải làm việc theo sự phân công và lợi tức được phân chia tùy tiện. Lý thuyết có vẻ rất hay, nhưng trên thực tế, với tập quán “cha chung không ai khóc”, kết quả rất thê thảm mà sự thiệt thòi đều do dân nghèo gánh chịu.

– Đoàn kết:

Cộng Sản kêu gọi toàn dân đoàn kết với khẩu hiệu “đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết: Thành công, thành công, đại thành công”. Nhưng đó là một sự đoàn kết bắt buộc đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đoàn kết chỉ đơn giản là tập trung dưới sự chỉ huy của Đảng.

– Liên minh:

Kết bạn trong từng giai đoạn để tiêu diệt một kẻ thù, sau khi tiêu diệt xong kẻ thù đó, thì sự liên minh thay đổi, bạn liên minh ngày hôm trước có thể biến tức khắc thành kẻ thù cần thanh toán vào ngày hôm sau.

– Liên hiệp:

Cũng theo phương pháp liên minh nói trên. Khi thế còn yếu cần liên hiệp với các đảng đối lập. Khi đủ mạnh sẽ phá thế liên hiệp, đẩy các đảng phái đối lập vào thế phải đối đầu và bị tiêu diệt.

– Trung lập:

Chỉ có nghĩa là cô lập. Đối với cộng sản, chỉ có thể hoặc theo họ, hoặc chống họ. Hiểu trung lập theo nghĩa không theo không chống chỉ là tự cô lập để dễ bị Cộng Sản tiêu diệt. Cộng Sản dùng chính sách trung lập để chia rẽ hàng ngũ chống Cộng.

– Hòa bình:

Theo chủ trương đấu tranh giai cấp là cuộc chiến thường trực, toàn diện, thì hòa bình thực sự chỉ có khi nào không còn tư bản, không còn giai cấp. Bao lâu chưa đạt được mục tiêu đó, hòa bình đối với CS, chỉ là một mưu mô dụ đối phương buông súng, trong khi họ vẫn giữ vững tay súng.

B * Hai bức chân dung Hồ Chí Minh thường được giới thiệu tới ngày nay

– Bức chân dung thứ nhất:

Sinh ngày 19-5-1890, tên khai sinh là Nguyễn Sinh Cung sau đổi là Nguyễn Tất Thành, tại xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, trong một gia đình bần nho có thành tích chống Pháp. Từ tuổi thơ ấu đã được hun đúc, rèn luyện để trở thành nhà ái quốc.
15 tuổi đã có ý thức chính trị siêu phàm, phê bình các bậc tiền bối cách mạng lừng danh là những người đi lạc đường sẽ không thể cứu nước được.

Do đó, 21 tuổi quyết chí lên tầu làm phụ bếp rời quê hương để ra đi tìm đường cứu nước.

Mang tên Nguyễn Ái Quốc để tập họp các người yêu nước ở nước ngoài tranh đấu đòi tự do dân chủ độc lập cho tổ quốc.

Gia nhập đảng Xã Hội Pháp để học hỏi và tìm phương tiện đấu tranh cho mục đích trên.

Ra khỏi đảng Xã Hội, sáng lập đảng CS Pháp cùng với những đảng viên Xã Hội bỏ phiếu cho QT3.

Sang Liên Xô gặp gỡ các nhà lãnh đạo QT3, học hỏi, thảo luận, nghiên cứu thêm để tìm đường cứu nước.

Từ Liên Xô sang Trung Quốc, bán báo để kiếm sống và hoạt động cách mạng cứu nước. Từ đó vào làm thông dịch viên cho Borodin. Tập họp giới trẻ VN ở Hoa Nam lập nên Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội.

Được QT3 cử đứng ra sắp xếp thống nhất 3 đảng CS ở Đông Dương thành một đảng duy nhất.

Lập mặt trận Việt Minh để đoàn kết mọi lực lượng yêu nước giải phóng đất nước.

Lãnh đạo cách mạng tháng 8 thành công.

Lập nên nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.

Ký kết hiệp định sơ bộ 6-3-1946 với Pháp để tranh thủ một nền tự trị trong Liên Hiệp Pháp. Pháp muốn tái lập nền đô hộ ở Đông Dương vi phạm hiệp định này khiến Hồ Chí Minh phải lãnh đạo toàn dân kháng chiến chống Pháp để duy trì nền độc lập.

Hồ Chí Minh luôn luôn chủ trương đường lối ôn hòa không muốn có chiến tranh, nhưng do Pháp ngoan cố nên phải quyết chiến. Việc xâm nhập, đánh chiếm miền Nam là do đàn em chủ trương. Hồ Chí Minh bị “thiểu số” nên bất đắc dĩ phải theo.

Những thảm trạng tàn sát người vô tội trong Cải Cách Ruộng Đất, Tết Mậu Thân, Xô Viết Nghệ Tĩnh vv... đều do đám thủ hạ ở dưới gây ra chứ Hồ Chí Minh không chủ trương như vậy.

– Bức chân dung thứ 2:

Sinh ra trong một gia đình nhà Nho. Ngày, tháng, năm sinh đều không rõ vì có nhiều niên hiệu khác nhau. Tên khai sinh là Nguyễn Tất Thành. Thân phụ là phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, đang làm quan cho chính phủ Nam triều bị cách chức vì say rượu đánh chết người. Thiếu phương tiện sinh sống, Nguyễn Tất Thành xuống tầu Latouche - Tréville làm phụ bếp kiếm kế sinh nhai, nhờ đó được chu du thế giới. Đến Marseilles, anh Thành nộp đơn xin vào trường Thuộc Địa của Pháp nhưng bị từ chối. Anh tiếp tục làm bồi tàu, thuỷ thủ để kiếm sống do đó từng qua cả Mỹ lẫn Anh. Thời gian ở Anh không được rõ anh ở đâu làm gì. Năm 1917, Thành trở lại Pháp, tiếp xúc với những nhà ái quốc tên tuổi như Nguyễn Thế Truyền, Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh, nhất là nhà cách mạng Phan Chu Trinh, bạn học cũ của thân phụ anh và được mang tên chung Nguyễn Ái Quốc cùng với các nhân vật này để hoạt động tuyên truyền vận động cho phong trào yêu nước tại Pháp.

Năm 1919 Thành gia nhập đảng xã hội Pháp là một đảng Mác-xít có đường lối đấu tranh tương đối ôn hòa. Anh say mê nghiên cứu học thuyết Marx. Đại tác phẩm Tư Bản Luận là sách gối đầu giường của anh (Sainteny).

Anh cũng theo dõi các biến chuyển trong phong trào Mácxít và tìm đến Lênin vì ông này đã lãnh đạo thành công cách mạng tháng mười.

Cuối năm 1920 dự hội Tours của đảng xã hội, trong đó đảng chia làm hai và anh theo phe ủng hộ QT3 của Lênin tham gia thành lập đảng CS Pháp.

Lúc ấy Manuilski, đồ đệ của Lênin từng lưu vong ở Pháp từ 1905, đang có ảnh hưởng lớn trong đảng CS Pháp, tiếp xúc với Thành mà ông ta chỉ biết dưới tên chung Nguyễn Ái Quốc. Manuilski lợi dụng Quốc để quảng bá chủ trương sách lược mới của Lênin: khai thác lòng yêu nước của nhân dân các nước bị trị để đánh đổ các đế quốc thực dân, làm suy yếu chế độ Tư Bản. Thành cũng lợi dụng Manuilski để có dịp gặp Lênin và các cán bộ cao cấp QTCS. Với sự thông minh và tài ngoại giao anh đã toại nguyện. Anh được được đi dự các hội nghị lớn của QT3, được cử vào ủy ban trung ương QT Nông Dân. Rồi vào trung ương Ủy Ban Tuyên Truyền Quốc Tế.

Cuối năm 1924, Manuilski cử Quốc sang Trung Hoa làm phụ tá và thông dịch viên cho Mikael Borodin, trưởng đoàn cố vấn Liên Xô cạnh chính phủ Quốc Dân Đảng Tôn Dật Tiên. Thực ra, đó chỉ là bình phong, vì Quốc được QT3 trao nhiệm vụ Tuyên Truyền chủ nghĩa CS và lập các chi bộ CS tại Đông Nam Á. Quốc hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ nên được cử đại diện cho QT3 lo hợp nhất 3 đảng CS ở Đông Dương ngày 3-2-1930.

Bị nhà cầm quyền Anh bắt ở Hương Cảng vì tình nghi hoạt động Cộng Sản, bị giam rồi được thả (nhờ QT3 can thiệp cử luật sư người Anh có khuynh hướng thiên tả bào chữa), sau đó bị gọi về Mạc Tư Khoa tái huấn luyện và học 3 năm tại trường cao cấp Lênin.

Trong đại hội VII (1935), theo tình hình Liên Xô muốn đấu dịu với các nước Tư Bản Tây Phương, Đảng CS Đông Dương được lệnh Mac Tư Khoa đổi hướng đấu tranh đòi tự do dân chủ theo chân đảng Cộng Sản Pháp với Mặt Trận Bình Dân.

Năm 1938, Quốc được phái trở lại Trung Quốc chuẩn bị cho cuộc hợp tác Quốc - Cộng của nước này vào năm sau, khi thế chiến II bùng nổ.

Được trang bị đầy đủ về lý thuyết, chiến lược sách lược đấu tranh của Lênin, nhất là được rèn luyện kỹ hơn về tình báo gián điệp và tuyên truyền, Quốc trở lại hoạt động ở Hoa Nam. Ông đã thành công trong việc xâm nhập, thao túng và chiếm danh của Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội, lũng đoạn chính phủ lâm thời của Trương Bội Công, thao túng Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội của Nguyễn Hải Thần. Hai tổ chức này đều đã tiếp nhận Quốc và bị ông phản, vì mục đích của ông là gia nhập để “biến chúng thành tổ chức của mình” thể hiện đúng kỹ thuật đấu tranh theo sách lược liên minh giai đoạn của Lênin.

Năm 1942 Nguyễn Ái Quốc đổi tên là Hồ Chí Minh, nhận sự giúp đỡ của tướng Trương Phát Khuê của THDQ và những người Mỹ trong tổ chức OSS, tiền thân của CIA. Để đổi lại, ông hứa cung cấp những tin tức về hoạt động của quân Nhật tại Việt Nam.
Với uy tín hội Việt Minh của Hồ Học Lãm và tài tổ chức của một cán bộ QTCS lão luyện, Hồ Chí Minh nhân danh hội này, lập nên Mặt Trận Việt Minh ngày 19-5-1941 tại hang Pác Bó tỉnh Cao Bằng, quy tụ đồng bào trong nước tiến hành cuộc Cách Mạng Tháng Tám thành công, lập nên chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.

Dần dần các cá nhân đoàn thể yêu nước từng ủng hộ ông nhưng không tán thành đường lối CS đều bị ông bị loại khỏi Việt Minh. Từ đó Việt Minh coi như đồng nghĩa với CS nên ông lập ra mặt trận Liên Việt để quy tụ những nguời không tán thành đường lối của Việt Minh. Với mặt trận này, Hồ Chí Minh tiến hành chiến tranh chống Pháp.

Nhưng lúc ấy có nhiều dấu hiệu cho thấy dân chúng đã nhận ra tính chất CS của Hồ Chí Minh và các nước Đồng Minh cũng không còn ủng hộ. Tình thế càng nguy ngập hơn do những tổn thất nặng về quân sự sau những trận đánh lớn ở vùng Việt Bắc trong năm 1947.

Ông bèn ngồi viết kiệt tác tuyên truyền dưới bút hiệu Trần Dân Tiên, tự mô tả mình như một nhà ái quốc chân chính được nhân dân gọi là “Cha Già Dân Tộc” với những đức tính dễ thương, lòng nhân ái vô hạn. Ông cho dịch gấp ra tiếng Pháp, gửi sang Ngưỡng Quang, Miến Điện để dịch ra tiếng Anh và nhiều thứ tiếng khác. Cán bộ Cộng Sản khắp nơi dựa theo đó tô vẽ, tạo ra các huyền thoại biến ông thành vị thần bí ẩn và một số nhà báo, học giả ngoại quốc cũng theo đó ca tụng ông là “Cha già dân tộc”, là nhà ái quốc. Nhân danh “cha già dân tộc”, Hồ Chí Minh lôi cuốn, xô đẩy nhân dân vào vòng lửa đạn để nắm vững quyền lực và gây thanh thế.

Áp dụng chiến thuật Mao Trạch Đông và tự đặt dưới sự lãnh đạo của các tướng Trung Cộng Trần Canh, Vi Quốc Thanh, ông đánh thắng Pháp tại Điện Biên Phủ, chiếm được nửa nước, từ vĩ tuyến 17 trở ra.

Lập tức, ông cho tiến hành Cải Cách Ruộng Đất và Hợp Tác Hóa nông, công, thương nghiệp theo mô hình các nước Cộng Sản đàn anh. Trong CCRĐ nửa triệu dân đã bị hành quyết vì “tội sở hữu một số tư điền”, và bị những tòa án nhân dân do ông chỉ thị cho dựng lên kết án họ là địa chủ, cường hào ác bá. CCRĐ coi như thất bại, ông khóc xin lỗi nhân dân, mở ra chiến dịch “sửa sai” để làm cái bẫy bắt gọn những ai ra mặt phê bình “Bác” và đảng.

Kế hoạch kinh tế chỉ huy thất bại khiến kinh tế miền Bắc suy sụp. Năm 1959, ông đưa cán binh xâm nhập miền Nam, mở con đường mòn xuyên lãnh thổ Ai Lao mang tên HCM chuyển quân và vũ khí vào Nam, thi hành chính sách “chiếu cố miền Nam”. Cán bộ “nằm vùng” được lệnh ám sát, bắc cóc, thủ tiêu các viên chức chính quyền miền Nam tại các thôn xã.

Quốc Hội miền Nam đối phó bằng cách ban hành luật 10/59 đặt Cộng Sản ra ngoài vòng pháp luật. Trong khi miền Nam dùng luật pháp để tự vệ, thì ông Hồ và đảng Cộng Sản khủng bố phá hoại miền Nam bằng mọi cách phi pháp. Cuối năm 1960 ông cho lập “Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam” do các cán bộ Cộng Sản nằm vùng đứng sau điều động đẩy mạnh hơn nữa các hành động phá hoại khủng bố.

Sau khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm tại miền Nam bị giết, Hồ Chí Minh theo lệnh Trung Cộng tiến hành một kế hoạch đại quy mô tiến chiếm miền Nam trong lúc hỗn loạn. Nhưng Mỹ đã can thiệp để cố giữ miền Nam thêm 10 năm nữa. Đầu năm 1968, mặc dầu đã gần 80 và đang dưỡng bệnh tại Trung Quốc, ông Hồ vẫn tích cực lãnh đạo và thường xuyên theo dõi cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân là trận đánh quyết liệt đẩy gần năm chục ngàn cán binh Cộng Sản vào chỗ chết.

Hơn năm sau ông cũng chết vào ngày 2-9-1969, nhằm đúng ngày “quốc khánh” của ông.

C * Mười nguyên lý chỉ đạo chiến thuật của Mao Trạch Đông:

1-Trước hết chỉ tấn công những đơn vị cô lập của địch

2-Ban đầu hãy chỉ tấn công những làng nhỏ, hay thị trấn nhỏ, đừng nhắm các vùng đông dân.

3-Trước hết nhắm tiêu diệt địch, không đánh chiếm những trung tâm đô thị hay địa điểm cố định.

4-Trước khi vào trận, phải nắm vững lực lượng của mình hơn hẳn địch để có thể tiêu diệt hoàn toàn địch. Tránh những trận đánh mà không nắm chắc phần thắng hoặc bắt phải tản quân.

5-Không bao giờ khai chiến khi chưa được chuẩn bị đầy đủ. Trong mỗi trận đánh phải cố nắm được ít nhất một cơ may chiến thắng.

6-Phổ biến lý tưởng và tinh thần dũng cảm, sẵn sàng hy sinh, kiên quyết lướt thắng mọi cực nhọc, chấp nhận chiến đấu không do dự.

7-Cố gắng tiêu diệt địch bằng vận động chiến và đánh chiếm các căn cứ địch.

08- Trước tiên hãy tấn công những điểm yếu, phòng thủ kém. Hãy tạo một vùng trống rỗng xung quanh những địa điểm kiên cố của địch. Chỉ tấn công chúng khi nào có hoàn cảnh thuận lợi.

09- Xử dụng vật liệu và nhân sự của địch để tăng cường quân số và đồ tiếp liệu của ta.

10- Triệt để lợi dụng khoảng cách giữa hai trận chiến để tập họp lại lực lượng. Những thời gian nghỉ ngơi như thế không được kéo dài quá lâu, và bằng mọi cách có thể được, phải khiến cho địch không có thì giờ lấy lại hơi sức.

(Theo Bernard Fall, trong Le Viet Minh, chương 10: Triết Lý Chiến Thuật Tác Chiến Của Quân Đội Nhân Dân, mà tác giả nói là Việt Minh triệt để áp dụng trên chiến trường)

Tài liệu này đã được đọc 1,752 lần.

    • là người đầu tiên mang tài liệu này vào VietWikipedia vào ngày
      là người cập nhật hóa tài liệu này vào ngày

Table of Contents

    1. 1Chapter Hồ Chí Minh Nhận Định Tổng Hợp - Lời Nói Đầu - Minh Võ
    2. 2Chapter Hồ Chí Minh Nhận Định Tổng Hợp - Phần I - Chương 1 - Minh Võ
    3. 3Chapter Hồ Chí Minh Nhận Định Tổng Hợp - Phần I - Chương 2 - Minh Võ
    4. 4Chapter Hồ Chí Minh Nhận Định Tổng Hợp - Phần I - Chương 3 - Minh Võ
    5. 5Chapter Hồ Chí Minh Nhận Định Tổng Hợp - Phần I - Chương 4 - Minh Võ
    6. 6Chapter Hồ Chí Minh Nhận Định Tổng Hợp - Phần I - Chương 6 - Minh Võ
    7. 7Chapter Hồ Chí Minh Nhận Định Tổng Hợp - Phần I - Chương 7 - Minh Võ
    8. 8Chapter Hồ Chí Minh Nhận Định Tổng Hợp - Phần I - Chương 8 - Minh Võ
    9. 9Chapter Hồ Chí Minh Nhận Định Tổng Hợp - Phần I - Chương 9 - Minh Võ
    10. 10Chapter Hồ Chí Minh Nhận Định Tổng Hợp - Phần I - Chương 10 - Minh Võ
    11. 11Chapter Hồ Chí Minh Nhận Định Tổng Hợp - Phần I - Chương 11 - Minh Võ
    12. 12Chapter Hồ Chí Minh Nhận Định Tổng Hợp - Phần I - Chương 12 - Minh Võ
    13. 13Chapter Hồ Chí Minh Nhận Định Tổng Hợp - Phần I - Chương 13 - Minh Võ
    14. 14Chapter Hồ Chí Minh Nhận Định Tổng Hợp - Phần I - Chương 14 - Minh Võ
    15. 15Chapter Hồ Chí Minh Nhận Định Tổng Hợp - Phần I - Chương 15 - Minh Võ
    16. 16Chapter Hồ Chí Minh Nhận Định Tổng Hợp - Phần I - Chương 16 - Minh Võ
    17. 17Chapter Hồ Chí Minh Nhận Định Tổng Hợp - Phần I - Chương 17 - Minh Võ
    18. 18Chapter Hồ Chí Minh Nhận Định Tổng Hợp - Phần II - Chương 18 - Minh Võ
    19. 19Chapter Hồ Chí Minh Nhận Định Tổng Hợp - Phần II - Chương 19 - Minh Võ
    20. 20Chapter Hồ Chí Minh Nhận Định Tổng Hợp - Phần II - Chương 20 - Minh Võ
    21. 21Chapter Hồ Chí Minh Nhận Định Tổng Hợp - Phần II - Chương 21 - Minh Võ
    22. 22Chapter Hồ Chí Minh Nhận Định Tổng Hợp - Phần II - Chương 22 - Minh Võ
    23. 23Chapter Hồ Chí Minh Nhận Định Tổng Hợp - Phần II - Chương 23 - Minh Võ
    24. 24Chapter Hồ Chí Minh Nhận Định Tổng Hợp - Phần II - Chương 24 - Minh Võ
    25. 25Chapter Hồ Chí Minh Nhận Định Tổng Hợp - Phần II - Chương 25 - Minh Võ
    26. 26Chapter Hồ Chí Minh Nhận Định Tổng Hợp - Phần II - Chương 26 - Minh Võ
    27. 27Chapter Hồ Chí Minh Nhận Định Tổng Hợp - Phần II - Chương 27 - Minh Võ
    28. 28Chapter Hồ Chí Minh Nhận Định Tổng Hợp - Phần II - Chương 28 - Minh Võ
    29. 29Chapter Hồ Chí Minh Nhận Định Tổng Hợp - Phần II - Chương 29 - Minh Võ
    30. 30Chapter Hồ Chí Minh Nhận Định Tổng Hợp - Phần II - Chương 30 - Minh Võ
    31. 31Chapter Hồ Chí Minh Nhận Định Tổng Hợp - Phần II - Chương 31 - Minh Võ
    32. 32Chapter Hồ Chí Minh Nhận Định Tổng Hợp - Phần II - Chương 32 - Minh Võ
    33. 33Chapter Hồ Chí Minh Nhận Định Tổng Hợp - Phần II - Chương 33 - Minh Võ
    34. 34Chapter Hồ Chí Minh Nhận Định Tổng Hợp - Phần II - Chương 34 - Minh Võ
    35. 35Chapter Hồ Chí Minh Nhận Định Tổng Hợp - Phần II - Chương 35 - Minh Võ
    36. 36Chapter Hồ Chí Minh Nhận Định Tổng Hợp - Phần II - Chương 36 - Minh Võ
    37. 37Chapter Hồ Chí Minh Nhận Định Tổng Hợp - Phần II - Chương 37 - Minh Võ
    38. 38Chapter Hồ Chí Minh Nhận Định Tổng Hợp - Phần II - Chương 38 - Minh Võ
    39. 39Chapter Hồ Chí Minh Nhận Định Tổng Hợp - Phần II - Chương 39 - Minh Võ
    40. 40Chapter Hồ Chí Minh Nhận Định Tổng Hợp - Phần II - Chương 40 - Minh Võ
    41. 41Chapter Hồ Chí Minh Nhận Định Tổng Hợp - Phần II - Chương 41 - Minh Võ
    42. 42Chapter Hồ Chí Minh Nhận Định Tổng Hợp - Phần II - Chương 42 - Minh Võ
    43. 43Chapter Hồ Chí Minh Nhận Định Tổng Hợp - Phần III - Chương 43 - Minh Võ
    44. 44Chapter Hồ Chí Minh Nhận Định Tổng Hợp - Phần III - Chương 44 - Minh Võ
    45. 45Chapter Hồ Chí Minh Nhận Định Tổng Hợp - Phần III - Chương 45 - Minh Võ
    46. 46Chapter Hồ Chí Minh Nhận Định Tổng Hợp - Phần III - Chương 46 - Minh Võ
    47. 47Chapter Hồ Chí Minh Nhận Định Tổng Hợp - Phần III - Chương 47 - Minh Võ
    48. 48Chapter Hồ Chí Minh Nhận Định Tổng Hợp - Phần III - Chương 48 - Minh Võ
    49. 49Chapter Hồ Chí Minh Nhận Định Tổng Hợp - Phần III - Chương 49 - Minh Võ
    50. 50Chapter Hồ Chí Minh Nhận Định Tổng Hợp - Phần III - Chương 50 - Minh Võ
    51. 51Chapter Hồ Chí Minh Nhận Định Tổng Hợp - Phần III - Chương 51 - Minh Võ
    52. 52Chapter Hồ Chí Minh Nhận Định Tổng Hợp - Phần Cuối Sách - Chương 52 - Minh Võ

Current Discussion: Main discussion

  1. No comments have been posted for this discussion.