Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!

  1. Book
  2. Tổng Thức Vận - Lý Đại Nguyên

Đây là một phần của sách 'Book:Tiểu Sử Lý Đại Nguyên'


LÝ ĐẠI NGUYÊN

TỔNG THỨC VẬN

TRÍ TUỆ
XUẤT BẢN
Năm 2000


oOo
o​

NÓI CHUYỆN VỚI NHÀ VĂN LÝ ĐẠI NGUYÊN

TÁC GIẢ CỦA TÁC PHẨM ĐẠO HỌC TỔNG THỨC VẬN

NGUYỄN MẠNH TRINH


H: Xin anh cho một vài dòng về tiểu sử của mình?

Đ: Tôi sinh năm 30, trong gia đình Nho gia Lương y. Lớn lên trong đầu mùa Độc Lập Dân Tộc, sớm lao mình vào cuộ kháng chiến, nhưng cũng sớm nhận ra tư tưởng Duy Vật, chủ nghĩa Cộng Sản là một sản phẩm lý luận tuy gang thép mà hoang tưởng, mê sảng, nguy hiểm cho Con Người và Dân Tộc. Nên 1952 bỏ khu chiến về thành để có thời gian trao dồi kiến thưc. Tuy nhiên máu đấu tranh còn nóng. Tôi đã gia nhập Mặt Trận DÂN CHỦ là sự tập họp của các đảng cách mạng Việt Nam, gồm Việt Nam Quốc Dân Đảng, Đại Việt Quốc Gia Xã Hội Đảng, Đại Việt Quốc Dân Đảng, Đại Việt Duy Dân Đảng. Tôi trực thuộc chi bộ chủ tịch mặt trận của lãnh tụ Nguyễn Xuân Tiếu. Năm 1957 chính thức gia nhập mặt trận truyền thông báo chí và văn học cho tới 1975 Cộng Sản bắt bỏ tù trên 10. Sống tiếp tục với chế độ Cộng Sản toàn trị thêm 10 năm nữa. Năm 1995 tôi tới định cư tại Tiểu Sài Gòn Hoa Kỳ. Tiếp tục sử dụng ngòi bút để cùng với người Việt trong và ngoài nước đánh tan tư tưởng và chế độ Cộng Sản mê sảng, độc tài, ô lậu.

H: Anh làm việc ở nhiều điạ hạt, nên là một khuôn mặt đa diện. Vậy những công việc nào tiêu biểu nhất cho chân dung Lý Đại Nguyên ?

Đ: Có lẽ nhiều người đọc biết tới Lý Đại Nguyên qua những bài viết Bình Luận Chính Trị. Còn chân dung mình muốn đạt thành thì có mấy ai đã được như ý.

H: Với tác phẩm mới in TỔNG THỨC VẬN, anh có vẻ là một nhà Tư Tưởng hơn là một Nhà Văn. Và là một nhà tranh đấu cho Nhân Quyền hơn là một Chính Trị Gia?

Đ: TỔNG THỨC VẬN là một tác phẩm Đạo Học đúc kết, dung hóa tiến trình trên 5000 năm của tư tưởng Nhân Loại, trên 4000 năm tư tưởng Việt Nam và có phần đóng góp viễn kiến của tác giả. Vậy Lý Đại Nguyên không thể không nhận là người viết về tư tưởng, còn dư luận có xác nhận hay không thì không dám can thiệp. Về phần Nhà Văn thì LÝ ĐẠI NGUYÊN vẫn phải dùng văn chương để nói lên những gì mình muốn nói, sự đánh giá hoàn toàn do nơi người đọc.

Tôi đã có một quyết nhận VĂN HÓA CHỦ ĐẠO cho mọi lãnh vực Xã Hội, Kinh Tế, Chính Trị, Cai Trị, Luật Pháp và mọi sinh hoạt khác của con người. Vậy thì tùy duyên mà ứng xử khi thì là nhà Cách Mạng, khi thì nhà Chính Trị, khi là Người Cầm Bút, khi thì tranh đấu cho Nhân Quyền, miễn sao đi đúng hướng chủ đạo của Văn Hóa.

H: Anh giới thiệu với độc giả “NHÂN CHỦ ĐẠO” trong tác phẩm này ?

Đ: Tư tưởng quán suốt của tác phẩm Tổng Thức Vận là Nhân Chủ Đạo. Lấy con người làm đối tượng suy nghiệm, lấy con người làm thước đo trong tiến trình lịch sử. Con người đạt mức cao diệu nhất hiện nay trong tiến trình hằng hóa, thăng hóa của Vũ Trụ. Theo Tổng Thức Vận chính con người mới là Nguyên Nhân Lịch Sử Nhân Loại, chứ không thể đứng ngoài đòi làm chứng nhân lịch sử của chính mình của dân tộc mình và của nhân loại, cũng đừng nên than là nạn nhân của lịch sử. Con Người là Nguyên Nhân Lịch Sử, và là Cứu Cánh của mọi sinh hoạt xã hội, chính trị, kinh tế, khoa học, nói tóm là Cứu Cánh của Văn Hóa. Chỉ có Xã Hội Loài Người mới tạo nổi cuộc sống Văn Hóa, tức là Nhân Văn Sáng Tạo, chưa có một sinh loại nào trên trái đất này làm nổi điều đó

H: Anh có ảnh hưởng nào từ những tư tưởng Việt Nam của Lý Đông A, Trương Tử Anh, Huỳnh Phú Sổù…trong việc đúc kết thành Nhân Chủ Đảo ?

Đ: Các vị đó đều là anh hoa của Việt Nam triển nở ở thập kỷ 40, 50. Nhưng không may mắn cho tôi là chưa được gặp và khi tôi viết Tổng Thức Vận, tôi cũng không được đọc những tác phẩm của quý ngài.

H: Có người cho rằng: Anh có khuynh hướng Đại Việt Duy Dân. Điều ấy chính xác thế nào?

Đ: May mắn là tôi cùng họ với lãnh tụ Lý Đông A. Những bài luận thuyết của tôi đều nêu cao tinh thần Dân Tộc Việt như cụ. Ngay như chữ “Dân Tộc Việt” mà tôi vừa dùng, cụ Lý cũng ưa dùng theo cách đó. Tuy cách nhau 10 tuổi, hai chúng tôi chưa gặp nhau, mà suy nghĩ nhiều điều trùng hợp, nên nhiều người cho tôi thuộc khuynh hướng Đại Việt Duy Dân cũng không là lạ, vì ai đã hội nhập vào truyền thống Văn Hóa Dân Tộc đều có những suy tư tương ứng, tương đồng như nhaụ. Thậm chí tôi đã từng sinh hoạt thân thiết với thế hệ thứ nhất của anh em Duy Dân trong Mặt Trận Dân Chủ nữa.

H: Sự thúc đẩy nào đã làm cho anh viết TỔNG THỨC VẬN? Hình như anh viết từ năm 1962?

Đ: Trong không khí đầu mùa Kháng Chiến 46-51, đi tới đâu cũng nghe giới Thanh Niên bàn thảo về các đề tài Duy Tâm, Duy Vật. Nào là Duy Vật Biện Chứng, Duy Vật Sử Quan. Hẳn nhiên là ít người biết chính xác được những chữ nghĩa đó nó nói lên cái gì? Ảnh hưởng của nó thực sự ra sao? Bàn để mà bàn. Cãi nhau rất dữ tợn, nhưng cũng không đi tới đâu.

Riêng tôi lúc đó còn hơi nhỏ, nên không đủ chữ nghĩa để chính thức tham gia các cuộc tranh cãi. Nhưng đặc biệt mỗi khi nhắc tới, nghĩ tới hai chữ “Duy Vật”, là tôi có một cảm tưởng và cảm giác, như bị nhúng đầu vào thùng hắc ín. Nó bực bội, ngộp thở, bứt rứt sao sao ấy. Từ đó tôi quan tâm tới việc tìm ra một luận cứ nào đó để đánh đổ nó. Với những lập luận của Duy Tâm thì mơ mơ màng màng, chỉ đủ làm cho Duy Vật đưa ra đả phá. Khộng thể bẻ gẫy được Duy Vật Sử Quan, mà Cộng Sản gọi là “Lẽ tất yếu khách quan của lịch sử”, chính lối ngụy biện đẽo gọt lịch sử của Duy Vật Sử Quan cho hợp với chủ quan của Duy Vật Biện Chứng, đã làm cho người nghe thấy nó khoa học và hợp lý. Khó lòng bẻ gẫy. Tôi thực sự quan tâm tới sử học để tìm ra những sơ hở nhất định phải có của luận cứ Duy Vật Sử Quan. Chính vì vậy ngay trong phần đầu của Tổng Thức Vận vấn đề đó đã được nêu ra và giải quyết dứt điểm. Đánh đổ hoàn toàn Biện Chứng Duy Vật Sử Quan của Cộng Sản.

Nếu nói là Giác Ngộ Nhân Chủ Đạo thì đây là vấn đề tôi đã đạt tới đầu tiên. Câu chuyện xẩy ra giữ tôi với vị sư đứng tuổi trong vùng kháng chiến. Khi vị sư đó đưa cho tôi đọc bản dịch KINH KIM CƯƠNG của nhà Phật. Tôi đọc một mạch ngay trước mặt vị sư. Có lẽ trạng thái đọc của tôi sao đó, làm vị sư đó chú ý. Nên khi vừa đoc hết. Vị sư lên tiếng hỏi:

- Cậu có hiểu kinh nói gì không?

- Thưa tôi hiểu. Nhưng có một điều tôi không hiểu.

- Cậu không hiểu điểm nào?

- Kinh này triệt để phá chấp. Phá tất cả mọi thứ chấp. Triệt để phá “Kiến Chấp”. Quyết liệt nhất là phá “Ngã Chấp”. Nhưng sao lại dùng loại Kim Cương cực rắn không thể phá để đặt tên cho Kinh?

- Cậu hỏi tôi, tôi biết hỏi ai đây?

Câu hỏi ngược, kèm theo một nụ cười rất Phật trên tòa sen của vị sư, làm tôi chợt hiểu. “Phải tự hỏi chính mình thôi!” Đúng là Phật tại Tâm. Phật tức Tâm. Tâm tức Phât. NHÂN CHỦ ĐẠO hiển hiện trong tôi. Đó là nền móng, là tư tưởng quán suốt, là biện chứng của TỔNG THỨC VẬN và cũng là sự kiểm chứng giữa lý luận với thực tại, dù là của tôi hay của bất cứ một lý thuyết nào khác, mà tôi có duyên tìm hiểu.

Đúng là TỔNG THỨC VẬN ngưng viết vào ngày 8 tháng 7 năm 1962 tại Đại Lão Sơn Bảo Lộc Việt Nam.

H: Mục đích của anh lúc ấy ? Và bây giờ, năm 2000, có thay đổi không khi xuất bản?

Đ: Mục đích của TỔNG THỨC VẬN mãi không thay đổi. Vì chỉ nhắm mục đích triển khai Nhận Thức toàn diện cùng khắp, mà trong mỗi người chúng ta đều có. Từ đó giúp con người có cái nhìn chính xác hơn trong khắp mặt thực tại.

H: Thông thường, suy tư và cảm nhận sẽ thay đổi tùy theo không gian và thời gian, nhất là sẽ khác biệt tùy theo tuổi tác, môi trường sinh sống. Thế mà tới bây giờ, anh vẫn thừa nhận những điều đã viết từ gần bốn chục năm nay. Có phải anh đã tìm ra được những điều gần nhất với chân lý vào lúc đó?

Đ: Tôi chỉ là người đến sau của những suy tư, những lý thuyết, những đạo lý do những người đi trước đã đề ra, khai phá, tin nhận, chống đối, và tìm các phương án giải quyết, có thành, có bại. Cũng như các cuộc Tổng Hợp Dung Hóa Tư Tưởng đã xuất hiện trong quá khứ để đem vào triển khai tâm linh và tổ chức cuộc sống, đã tạo ra các nền Văn Hóa các Dân Tộc và các nền Văn Minh khu vực. Nay nhân loại gặp nhau trên toàn thế giới, nếu muốn có một cuộc sống an lành, hòa bình, phát triển thì cũng không làm khác hơn là phải có một cuộc Tổng Hợp Dung Hóa Tư Tưởng rộng khắp. Mà phải lấy Con Người làm mẫu số chung, thì mới đáp ứng nổi nhu cầu thăng hóa của lịch sử, đi từ trạng thái Mặc Thức Nhân Nhiên sống theo bản năng sinh tồn, qua Ý Thức Nhân Loại sống với ý thức chủ quan chia cắt, xuất hiện đủ loại Quan Niệm Duy Sang Nhận Thức Nhân Văn với một nền đạo lý Nhân Chủ Tổng Hợp Dung Hóa Thăng Hóa khắp mặt.

Chính vì rõi bước theo lịch sử và kiểm nghiệm của các bậc đạo sư, triết nhân đi trước, với những ảnh hưởng tốt có, xấu có, thành có, bại có, và những chuyển biến trong thực tế cuộc sống đổi thay của thế giới thời đại, dù những điều viết ra trong Tổng Thức Vận không bao giờ được quyền tự nhận là chân lý tuyệt đối bất biến, không thể thay đổi. Nhưng ở đó tìm thấy nguyên tắc dung hóa tư tưởng để hướng dẫn cho nhu cầu sinh họat Tự Do Điều Hợp của mỗi người trong mọi tổ hợp trên toàn thế giới. Thế nên trong giai đoạn nhân loại tiến vào thời đại Nhận Thức Nhân Chủ Nhân Văn trên toàn cầu này, thì những suy nghiệm trong Tổng Thức Vận, vẫn chưa bị mất thời gian tính.

H: Thời thế, hoàn cảnh chính trị, không ảnh hưởng đến suy nghĩ của anh? Hoặc tiến trình quy luật đều bất biến, theo anh?

Đ: Thời thế, hoàn cảnh chính trị luôn luôn ảnh hưởng tới suy nghĩ của tôi chứ. Nhưng đó chỉ là nhất thời. Một khi đã quán đạt được nguyên lý Hằng Hóa của Vũ Trụ. nguyên tắc Thăng Hóa của lịch sử Vạn Hữu và Nhân Loại, khả năng Dung Hóa của tư tưởng Con Người, thì thấy được lộ trình trường cửu của tất cả. Thế thì đâu có gì là bất biến. Chính vì biết được sự biến dịch vĩnh hằng đó, mà thấy được những giai đoạn phải đi qua của chính mình và lịch sử theo “lý nhân duyên quả” của từng hiện tượng, từng vấn đề, để từ đấy đưa ra viễn kiến thì sẽ vượt khỏi những ảnh hưởng nhất thời. Nối nổi nhất thời vào với trường cửu.

H: Có phải “Nhân Chủ Đạo” nẩy sinh từ những đấu tranh quyết liệt giữa hệ thống Duy Thần và Duy Vật?

Đ: Như trên tôi đã thưa, vì dị ứng với Duy Vật, mà tôi đã tìm tới Nhân Chủ Đạo. Nhưng còn người khác thì có thể nẩy sinh ra bởi sự tranh chấp đó.

H: Theo anh, phong trào Hiện Sinh là một cách thế đối kháng tiêu cực với sự hệ thống hóa tư tưởng Duy Thần hoặc Duy Vật? Anh có thể giải thích rõ hơn, và “Nhân Chủ Đạo” là cách đề kháng tích cực? Có sự khác biệt nào giữa tiêu cực và tích cực của Nhân Chủ Đạo và phong trào Hiện Sinh?

Đ: Đúng, phong trào hiện sinh là sự đề kháng quyết liệt với các Tư Tưởng có Hệ Thống, và cho cuộc đời là một chuỗi hợp lý, tạo thành các tập thể dữ tợn, tước đoạt mất sự tự do tuyệt đối của con người, nhưng không đưa ra một giải pháp nào cho con người thực hiện sự tự do tuyệt đối đó. Nhân Chủ Đạo là đường sống của Con Người, đường phát triển của Xã Hội, đường thăng hóa của Lịch Sử. Bởi vậy tập trung vào việc tìm thế cách giải quyết hơn là đề kháng. Tiêu Cực là Phá Hoại, Buông Xuôi và Tích Cực là Phấn Đấu, Xây Dựng. Nếu hiểu theo nghĩa đó thì Nhân Chủ Đạo là tích cực.

H: Với chủ điểm là suy tư về con người, từ lịch sử sơ khai cho đến giờ, rồi đến sự nhận thức, qua vũ trụ quan nghĩ về trời đất, liên tưởng tới bản thể, rồi tìm hiểu đời sống con người và xã hội, để có ý tưởng về văn hóa của nhân loại, để nẩy sinh ra ý tưởng về tự do dân chủ là con đường anh đã đi qua để viết Tổng Thức Vận?

Đ: Đúng vậy.

H: Những suy tư về chiều sâu ấy cũng rất dễ làm độc giả bị lạc trong rừng, chỉ nhìn thấy toàn cây mà không thấy bầu trời, Vậy làm thế nào để hiểu tư tưởng này ở sự đơn giản nhưng chính xác nhất?

Đ: Nhân Chủ Đạo đặt Con Người Tự Do, Tự Chủ, Sáng Tạo làm gốc. Xin người đọc hãy quay vào hỏi chính mình. Đặt mình vào thực tại. Đặt mình vào hoàn cảnh của đối tượng hoặc đối phương. Đặt mình vào công việc, sự việc của thực tế, để thấy nhu cầu và tìm ra cách giải quyết hữu hiệu nhất, khiến cho không hại mình, hại người và hại vật, cùng giúp nhau thăng hóa. Coi việc đọc Tổng Thức Vận chỉ là sự gợi ý cho mình, thì sẽ thấy rõ mặt tất cả, dù cho đó là sự bí hiểm tới mấy cũng thấu suốt.

H: Làm thế nào để lý thuyết vượt qua đựơc thành thực hành. Anh có suy nghĩ phương thế để thực hiện điều ấy. Và trong cuộc đời tranh đấu của anh đã áp dụng như thế nào?

Đ: Tổng Thức Vận vốn không phải là mớ lý thuyết suông, hay là một thức thuyết cao siêu đầy bí ẩn mầu nhiệm, mà là tiến trình Tâm Thức của Nhân Loại đã đi qua, phải đi tới. Từ Mặc Thức Nhân Nhiên qua Ý Thức Nhân Loại tới Nhận Thức Nhân Văn mở ra một Xã Hội Toàn Cầu Hóa khắp mặt. Chính các nước đi trong tiến trình tự nhiên với sự vấp váp cũng đương nhiên, là các nước Dân Chủ Tự Do, lại là những nước đang tiến vào cuộc sống Tự Do Điều Hợp Toàn Cầu Hóa vững vàng nhất. Ngược lại những nước dùng ý chí chủ quan, với ý thức chủ quan, bằng chủ nghĩa Cộng Sản mê sảng thì đã bị sụp đổ trong mưu đồ Thống Trị Toàn Cầu Đại Đồng Hóa.

Nói như vậy không có nghĩa là phó mặc tự nhiên. Khi đã biết Con Người là Nguyên Nhân Lịch Sử thì sự nhận thức đúng, vận động chính xác, sẽ góp phần đầy mạnh tiến trình Nhân Chủ Nhân Văn sớm thành đạt. Khi đã là Xã Hội Toàn Diện thì cuộc vận động cũng phải toàn diện, nhưng chủ yếu là trong Thế Giới Nhân Văn thì Văn Hóa phải là chủ đạo. Chính trị phải là Chính trị biểu hiện của yếu tính Nhân Văn, Kinh tế cũng phải là nền Kinh Tế Tri Thức Nhân Văn, tiến bộ khắp mặt nhằm phụng sự Con Người chứ không phải đẩy Con Người vào cảnh Nô Lệ Vật Chất. Phương tiện của Văn Hóa là khả năng khoa học, truyền thông và tin học mau lẹ rộng khắp bao trùm địa cầu sẽ dễ dàng tiếp giúp cho Nhận Thức đúng của Con Người Thời Đại trao gởi cho nhau. Những nước đi trước kéo các nước đi sau, Dân Chủ Hóa chế độ, Tự Do Hóa Xã Hội, Tư Hữu Hóa Kinh tế. Giúp mọi người tự do ý thức được trách nhiệm điều hợp cuộc sống, để cùng nhau hòa bình phát triển. Tùy hoàn cảnh của từng nước để tiến hành các cuộc vận động khác nhau cho hợp với nhu cầu thực tế.

H: Anh có tin tưởng vào tương lai tốt đẹp của Dân Tộc chúng ta? Và con đường nào anh theo để đạt mục đích đó.

Đ: Tôi có niềm tin mãnh liệt vào tương lai tốt đẹp của Dân Tộc Việt ta. Vì trong quá khứ Dân Tộc ta đã thành công rực rỡ trong một cuộc Tổng Hợp Dung Hóa ba luồng tư tưởng lớn trái nghịch nhau là Phật, Lão, Khổng để mở mùa tự chủ, dựng thành nền Văn Hiến Việt Nam, đại diện trọn vẹn cho nền Văn Minh Thảo Mộc Đông Phương. Rồi 4 thế kỷ nay phải nhận thêm các trào lưu tư tưởng Tây Phương với tất cả những điểm tốt, xấu và quái hóa của chúng. Tạo ra thảm cảnh mà chúng ta đang gánh chịu hiện nay. Nhưng một khi Dân Tộc có Tự Do, Dân Chúng có Tự Chủ thì sẽ triển khai được truyền thống Dung Hóa của Dân Tộc làm thay đổi Thân Phận Dân Tộc và cuộc sống của toàn dân rất mau lẹ. Vậy mục tiêu chính hiện nay của Quốc Dân là phải tích cực đấu tranh và vận động sức mạnh toàn thế giới để Dân Chủ Hóa chế độ. Đó là nhu cầu và điều kiện để cho Toàn Dân xây dựng Xã Hội Nhân Chủ Nhân Văn theo kịp Thế Giới thời đại

H: Tới đây, mọi người đều cho rằng: Dân tộc Việt Nam cần phải hòa hợp để hòa giài dân tộc. Như vậy, có gần với lý thuyết của anh với sự dung hóa? (chịu đựng bao dung để chuyển hóa người, nếu khác trình độ nhận thức).

Đ: Ý nghĩa của Dung Hóa không phải là sự hòa giải, hòa hợp giữ các phe phái chính trị đối nghịch là tạm giải hòa để ngồi chung với nhau một chiếu. Dung Hóa là bao dung lẫn nhau, đãi lọc tinh túy để thành một hiện tượng mới. Như khinh khí, dưỡng khí dung hóa cùng nhau để thành nước. Nước, lúc này là thể lỏng chứ không còn ở thể khí nữa, nhưng khi phân chất ra, chúng vẫn có thể trở về bản chất khinh khí và dưỡng khí, thuộc thể khí như cũ.

Cũng vậy, khi cuộc Dung Hóa giữa Tam Giáo: Phật, Lão, Khổng thành Văn Hiến Việt Nam. Thành nếp sống, bản tính người Việt. Ví dụ như đạo Phật lúc đó, đã là Đạo Phật Việt Nam, có bản chất dung hóa của Việt Nam và những đặc tính tốt đẹp của Lão, Khổng làm cho người theo Đạo Phật Việt Nam, khác với những người theo Đạo Phật ở các nước khác. Thế nên mới có hiện tượng Thiền Sư Vạn Hạnh thời Lý, cũng như Tuệ Trung Thượng Sỉ đời Trần viên dung tam giáo chỉ đạo Quốc Dân. Làm nên những thành công phạt Tống bình Chiêm thời Lý. Ba lần chiến thắng Mông Cổ đời Trần của Dân Tộc Việt Nam.

Khi công cuộc dung hóa chưa trọn vẹn thì việc hòa giải hòa hợp Dân Tộc cũng là một điều cần thực hiện. Nhưng phải hiểu, đây là sự Hòa Giải Hòa Hợp Dân Tộc, chứ không phải là sự hòa giải giữa hai thế lực Quốc, Cộng. Vì hai thế chất đó hoàn toàn khắc chế lẫn nhau, như nước với lửa. Chỉ một bên được tồn tại mà thôi. Chính vì vậy, mà sau khi Cộng Sản chiếm trọn đất nước. Chỉ một năm chúng đã phải tự bỏ lốt Dân Tộc, để hiện nguyên hình Cộng Sản, khống chế, toàn trị, đàn áp, bóc lội dân chúng cả hai miền Nam Bắc. Lúc đó công cuộc Hòa Giải Hòa Hợp Dân Tộc giữa Dân Chúng hai miền mới thực sự bắt đầu. Toàn Dân nhận chân được mình là kẻ bị Cộng Sản thống trị đàn áp bóc lột. Tất cả đều có một đối thủ chung là Cộng Sản, cần phải tiêu diệt. Sự cảm thông giữa người trong nước với nhau, nhận nhau là cùng một Dân Tộc bị trị, Tình nghĩa Dân Tộc thêm đậm đà. Thậm chí giữa người trong nước và lưu vong cũng thấy cần phải hỗ trợ nhau để loại kể địch chung là Cộng Sản. Thiết tưởng bàn đến vần đề Hòa Giải Hòa Hợp bây giờ là lỗi thời. Còn Hòa Giải Hòa Hợp giữa Cộng Sản với Quốc Gia thì đó là một điều không tưởng mê muội.

H: Những thời gian qua, từ những ngày tù tội, chạy trốn trước 1975, đối lập với Chính Quyền, rồi tù nhân chính trị trong chế độ Cộng Sản, đã cho anh những kinh nghiệm nào trong sự suy tư để hình thành một lý thuyết tranh đấu cho Nhân quyền, cho Tự Do của con người?

Đ: Nếu nói lý thuyết cho công cuộc đấu tranh cho nhân quyền và xây dựng cuộc sống tự do cho con người, thì những nét chính đều đã phác thảo ra trong Tổng Thức Vận. Nếu có phải suy tư thì tôi chỉ suy tư về công việc sẽ phải bắt đầu từ đâu? Lần đầu tiên bị tù dưới chế độ đệ nhất Cộng Hòa 1956 vì tội công khai đòi Tự Do Báo Chí trước khi bầu Quốc Hội Lập Hiến, thì chế độ đó mới bảo đảm là Dân Chủ thực sự. Lần đi tù Cộng Sản sau 1975 thì cũng bị nghe đọc lệnh bắt giam vì tội gây hoang mang dư luận quần chúng. Tóm lại cho tới bây giờ tôi vẫn khẳng định là phải bắt đầu bằng việc tranh đấu và thiết lập cho bằng được sự Tự Do Truyền Thông Báo Chí. Muốn giới thiệu “Nhân Chủ Đạo” với tuổi trẻ trong nước cũng không thể thiếu được sự Tư Do Truyền Thông Báo Chí. Còn với tuổi trẻ ở xứ người, thì tôi đành trông vào những người có khả năng ngoại ngữ. Còn tôi thì quá muộn rồi, không đủ sức và thời gian viết bằng ngoại ngữ nữa.

H: Trong tác phẩm của anh có phần “ý niệm từ ngữ của Tổng Thức Vận” rất công phu và chính xác. Nhưng, anh có nghĩ rằng nếu xử dụng ngôn ngữ ít chữ Hán Việt hơn và ít phức tạp hơn, chắc sẽ nhiều độc giả hơn?

D: Từ ngữ là ký hiệu của tư tưởng, ý niệm, việc dùng từ ngữ Hán Việt là làm phong phú cho ngôn ngữ Việt Nam, mới nghe thì khó nhớ, khó hiểu, nhưng hiểu rõ được ý niệm của từ ngữ rồi cũng quen đi. Nhất là những danh từ đạo học, triết học của tiếng Việt Nam chưa hề có. Chúng ta đã phải mượn từ ngữ của đạo Phật, đạo Lão hay đạo Khổng hoặc là dùng từ Hán Việt để dịch những từ Triết Học Tây Phương tương ứng với từ ngữ tiếng Hán của Trung Hoa đã dịch. Trong Tổng Thức Vận là sự Tổng Hợp các luồng tư tưởng, các nền đạo học, các phái triết học cổ kim đông tây. Bởi vậy, những từ ngữ đó đã là từ Hán Việt, và còn phải sáng tạo thêm từ ngữ mới để nói lên những ý niệm mới của nền đạo học Nhân Chủ mới, thì cũng lại phải dùng từ Việt Hán để dễ gợi ra ý niệm đúng với nghĩa muốn dùng. Xin hảy chịu khó làm quen với những từ ngữ mà Tổng Thức Vận tạo ra, cho ngôn ngữ Việt Nam mỗi ngày một phong phú hơn.

H: Anh có nghĩ, sẽ viết thêm một tác phẩm khác về “Nhân Chủ Đạo”, nhưng đơn giản hơn, để có thêm nhiều người đọc hơn? Hoặc một cuốn sách tóm gọn lại để dễ dàng đọc hơn?

Đ: Trước 1975 tại Sài Gòn, tôi đã xuất bản tác phẩm NỀN NHẬN THỨC NHÂN CHỦ TOÀN TRIỂN tóm lược cuốn Tổng Thức Vận. Hiện nay tôi sắp viết xong cuốn ĐỀ CƯƠNG XÂY DỰNG VIỆT NAM, nhằm áp dụng TỔNG THỨC VẬN vào thực tại Việt Nam.

Thay mặt độc giả, xin cảm ơn nhà văn Lý Đại Nguyên về cuộc nói chuyện quý báu này.

NGUYỄN MẠNH TRINH thực hiện.
Litlle Saigon October 28, 2000.

Tài liệu này đã được đọc 487 lần.

    • là người cập nhật hóa tài liệu này vào ngày

Current Discussion: Main discussion

  1. No comments have been posted for this discussion.