Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!

  1. Chapter
  2. Bí Mật Cuộc Đời Mao Trạch Đông - Phần I - Chương 10 - Trần Ngọc Dụng

Đây là một phần của sách 'Book:Bí Mật Cuộc Đời Mao Trạch Đông - Trần Ngọc Dụng'

Chương Mười


Tôi tìm cách xa lánh mọi dính líu chính trị; không hiểu gì những tranh chấp giữa họ Mao và các cán bộ cao cấp trong đảng. Nhưng qua đầu năm 1956 tôi bắt đầu cảm thấy chủ tịch đang bị các thế lực chính trị kiềm hãm và làm suy yếu. Nhìn lại, năm này đánh dấu một khúc quanh quan trọng, là năm những hạt giống Cuộc Cách Mạng Văn Hóa được gieo xuống làm đảo điên cả đất nước suốt một thập niên sau đó. Bài điễn văn ngầm ý chống lại Stalin trong Đại Hội Cộng Đảng Sô Viết lần thứ hai mươi, tháng Hai 1956, là biến cố khá quan trọng.

Lần đó họ Mao không đi dự đại hội, Chu Đức, sáng lập viên Vệ Binh Đỏ Trung Quốc, cầm đầu phái đoàn đi thay. Lúc ấy họ Chu đã bảy mươi nhưng tóc vẫn còn đen, vui tánh và không có tham vọng chính trị. Sau giải phóng ông chuẩn bị về hưu nên chỉ giữ một số chức vụ danh dự như phó chủ tịch Hội Đồng Chính Phủ Trung Ương (1949-54) tức phó chủ tịch Hội Đồng Quốc Phòng. Đa số thời gian ông dùng để đi thanh tra hoặc trồng hoa lan trong Hoa Viên Trung Nam Hải; ông có đến cả ngàn loại hoa. Chúng tôi vẫn thường gọi ông là tổng tư lệnh và rất kính phục ông về công lao ông đã đưa đảng Cộng Sản lên nắm quyền. Họ Chu chưa biết phải phản ứng ra sao trước lời công kích Stalin của Krushchev nên đã gọi điện thoại về thỉnh ý họ Mao đồng thời họ Chu cũng đề nghị nên về phe Krushchev làm Mao tức giận: “Tên Chu Đức này là một thằng ngu. Cả Krushchev và Chu Đức đều không tin được.”

Họ Mao tin ở quyền uy của một nhà lãnh đạo. Ông tin rằng chỉ có sự lãnh đạo của ông ta, và duy nhất của ông ta, mới có thể cứu vãn và làm thay đổi nước Trung Hoa. Ông ta chính là Stalin của Trung Quốc mà ai cũng biết. Ông muốn mọi người xem ông như vị cứu tinh của dân tộc. Sự công kích của Krushchev buộc họ Mao phải phản ứng vì nó mang ý nghĩa một sự thách thức đến quyền hành của ông. Như vậy thì không thể chấp nhận. Mặc dầu sau đó họ Mao vẫn xem Krushchev là lãnh đạo của Liên Sô, ông vẫn một mực chống đối sự đả kích Stalin. Ông nói nhà lãnh đạo này đã vi phạm nền tảng đạo đức cách mạng - đó sự trung thành không gì lay chuyển được đối với lãnh tụ. Krushchev nhờ Stalin mà có được địa vị đó, nay lại quay lưng chống lại người thi ân cho mình.

Chủ Tịch Mao còn xem sự công kích này là làm lợi cho đế quốc Mỹ. Ông lên án: “Ông ta giao cây kiếm cho người khác, giúp hùm thêm vây. Nếu họ không cần cây kiếm đó nhưng chúng ta cần. Chúng ta sẽ tận dụng nó. Nhà lãnh đạo Sô Viết đả kích Stalin mặc lòng, chứ chúng ta thì không. Không những thế, chúng ta càng phải tiếp tục ủng hộ Stalin.”

Tôi cũng thán phục Stalin. Stalin đối với nước Nga y như họ Mao đối với Trung Quốc - cả hai đều là nhà lãnh đạo vĩ đại và là cứu tinh. Nhưng sự chống đối Krushchev về Stalin của họ Mao không phải vì ông ta thán phục cái ông Liên Sô này mà thật ra vì ông ta khinh miệt Stalin. Tôi cảm thấy sửng sốt khi được nghe họ Mao kể rằng ông và Stalin không có điểm nào hợp nhau. Trang sử của đầu năm 1956 do Mao viết lên đều được tô màu thêm sắc bằng những cơn thịnh nộ của ông. Bây giờ tôi mới thấy họ Mao thường bày trò bịa chuyện cho thích ứng với mục tiêu chính trị của ông.

Giữa họ Mao và Stalin có mối xung đột sâu đậm, phát sinh từ những ngày đầu có cuộc nổi dậy của Cộng Sản tại Giang Tây trong thập niên 1930.

Năm 1924, Đảng Cộng Sản Trung Quốc mới được ba tuổi, Quốc Tế Cộng Sản chỉ thị cho đảng mới này phải liên hiệp với Quốc Dân Đảng. Trung Hoa lúc ấy lâm vào tình trạng hỗn loạn, không có chính phủ nên Quốc Tế Cộng Sản muốn Cộng Sản Trung Quốc hợp tác với những thành phần quốc gia để đánh bại các sứ quân, thống nhất thành một quốc gia duy nhất. Mặt trận thống nhất tuy được thành lập năm 1927, nhưng Tưởng Giới Thạch vẫn tấn công mạnh vào các căn cứ Cộng Sản đóng tại thành thị buộc Mao phải quay về hoạt động tại quê nhà ở Diên An cùng lúc có cuộc khởi nghĩa của nông dân.

Theo truyền thống, các cuộc khởi nghĩa của dân Trung Hoa đều bắt nguồn từ nông thôn. Họ Mao nắm vững điểm này nên cuộc cách mạng ông muốn thực hiện cũng dùng nông thôn làm bàn đạp và lấy lực lượng nông dân làm nòng cốt. Ông chủ trương một sách lược táo bạo, biến cải chủ nghĩa Mác-Lênin để ứng dụng vào điều kiện lịch sử Trung Hoa: Đảng Cộng Sản phải là thành phần chỉ đạo cho cuộc nổi dậy của nông dân. Họ Mao thành lập căn cứ địa trong vùng núi hẻo lánh của tỉnh Giang Tây, cổ động cho nông dân tham gia, cải tổ ruộng đất, đồng thời tung ra cuộc chiến tranh du kích đánh vào lực lượng Tưởng Giới Thạch. Ông tìm cách làm suy yếu lực lượng quốc gia để cuối cùng nông dân sẽ tấn chiếm thành thị. Như vậy, từ Giang Tây, họ Mao sẽ nới rộng phạm vi thế lực dần ra.

Năm 1930, Stalin cử Vương Minh, lúc ấy mới hai mươi lăm tuổi vừa tốt nghiệp tại Liên Xô (cũ), làm đại diện của Quốc Tế Cộng Sản tại Trung Hoa. Vương Minh không giữ chân gì quan trọng trong đảng Cộng Sản Trung Quốc, nhưng theo lời họ Mao, buộc ông quay về nông thôn để hoạt động và đánh phá các đô thị thì cho dù lực lượng có yếu kém cũng đủ sức đương cự nổi. Dưới mắt người Nga, họ Mao bị xem là thành phần bảo thủ và bị ra rìa. Họ Mao kể với tôi rằng: “Theo lời Stalin gọi tôi - tôi là củ cải đỏ ngoài vỏ nhưng trắng trong ruột.”

Cuộc nổi dậy tại Giang Tây bị cô lập. Tưởng Giới Thạch bao vây vùng núi non có căn cứ của Cộng Sản và tung ra hàng loạt các cuộc tấn công ác liệt gọi là “chiến dịch tiễu trừ”. Chiến dịch này sắp đạt kết quả khi họ Tưởng sắp tung ra đợt tấn công thứ năm thì toàn bộ lực lượng bên trong quyết định mở đường máu rút lui mà sau gọi là Cuộc Vạn Lý Trường Chinh. Qua cách đó, họ Mao đã thành công.

Trước sự thiệt hại trên, họ Mao lên án Quốc Tế Cộng Sản. Ông cho rằng ông bị mất cơ hội tốt và phải lãnh chịu hậu quả tan nát như vậy là vì họ: “Trong các vùng do Quốc Dân Đảng kiểm soát sự thiệt hại của chúng ta chỉ có mười phần trăm, trong khi tại các vùng do ta làm chủ thì bị thiệt đến chín mươi phần. Chúng ta không phàn nàn Stalin hay Liên Sô về thảm họa đó. Nhưng chúng ta phải tự trách các đồng chí của ta quá nặng đầu óc giáo điều.” Vương Minh, kẻ trung thành với đường lối Stalin còn hơn chính Stalin, bị họ Mao chỉ trích đích danh là “kẻ phiêu lưu tả khuynh”.

Họ Mao cũng gay gắt lên án rằng sau Đệ Nhị Thế Chiến Stalin đã cúi đầu khuất phục người Mỹ, rồi còn thuyết phục Trung Quốc nên theo gương các đảng Cộng Sản Pháp, Ý, Hy Lạp nạp vũ khí quy thuận chính phủ Quốc Dân đảng. Họ Mao phản đối. Suốt trong thời gian nội chiến, Stalin không hề giúp đỡ lực lượng Cộng Sản một viên đạn hay một khẩu súng “hay không thèm địt một tiếng”. Stalin còn hối thúc họ ngưng chiến dịch Bắc Dương Tử Giang và nhường khu Nam cho Quốc Dân Đảng. “Chúng ta không thèm để ý đến y nữa.” họ Mao nói.

Tôi thường nghe nhiều người nói vũ khí sử dụng trong cuộc nội chiến chống lại Quốc Dân Đảng là của quân Liên Xô (cũ) bỏ lại tại Mãn Châu sau Thế Chiến Thứ Hai. Khi nghe họ Mao nói Liên Xô không giúp ông, tôi không muốn tranh luận làm gì.

Ông kể rằng khi Cộng Sản chiếm thủ đô Nam Kinh của Quốc Dân đảng, Tưởng Giới Thạch bị buộc phải rút về Quảng Châu thì hai Tòa Đại Sứ sứ Anh, Mỹ vẫn ở nguyên vị trí để chuẩn bị làm việc với chính phủ mới. Trong khi đó Liên Xô vẫn ủng hộ Quốc Dân Đảng nên đã dời toà đại sứ của họ đến Quảng Châu cùng với Tưởng, không đếm xỉa gì đến phe Cộng Sản. Theo Mao, Stalin không thích Cộng Sản thủ thắng.

“Rồi qua mùa Đông 1949, chỉ vài tháng sau giải phóng, tôi sang Liên Xô thương thuyết. Stalin không tin tưởng tôi, bắt tôi ở lại đó đến hai tháng mà không tiếp. Cuối cùng tôi nổi giận nói rằng 'Nếu ông không muốn thương thuyết thì khỏi thương thuyết. Tôi đi về.' Hiệp Ước Hợp Tác Tương Trợ Hữu Nghị Trung-Nga kết thúc như vậy đó.” họ Mao kể.

Cuộc chiến Triều Tiên là nguyên do khác làm cho hố rạn nứt giữa họ Mao vào Stalin. Tôi nghe kể trong cuộc chiến tranh này có sự hợp tác chặt chẽ giữa hai nước nhưng họ Mao một mực nói không có. “Khi quân Mỹ tiến đến biên giới Trung Hoa-Triều Tiên tại sông Đại Lữ, tôi nói với Stalin chúng ta nên đưa quân đó đón đánh.” họ Mao kể, nhưng Stalin không chịu. Ông ta sợ xảy ra Thế Chiến Thứ Ba. Họ Mao nói nếu không đánh thì lỡ Mỹ chiếm trọn Triều Tiên, cả Trung Hoa lẫn Liên Xô sẽ bị trực tiếp đe doạ - vì môi hở thì răng lạnh. Họ Mao bèn đơn phương đối trận với Hoa Kỳ, nhưng ông muốn được cung cấp vũ khí. Nếu Nga sợ Anh Pháp lên án thì Liên Xô cứ việc bán vũ khí, Trung Quốc sẽ mua. Trung Quốc sẽ một mình chiến đấu mà không cần Liên Xô nhúng tay vào. Họ Mao cũng cáo buộc Stalin muốn chia rẽ Trung Quốc bằng cách ủng hộ Nhóm Cao Đảng, muốn dựng lên Cao hoàng đế Mãn Châu với hy vọng lập nên một đảng Cộng Sản khác tại đây.

Sự thù ghét Liên Xô của họ Mao làm tôi sửng sốt. Bề ngoài, Liên Xô và Trung Quốc là hai nước anh em đàn anh, làm gương cho sự phát triển xã hội chủ nghĩa và là hai nước đồng minh rất thân thiết. Vậy mà trên thực tế, theo lời Mao, chẳng khác nào đế quốc với chư hầu. “Họ cứ muốn nuốt trửng chúng ta.” họ Mao nói, chúng ta không chịu làm chư hầu ai hết. Lịch sử đã cho ông ta một bài học, nên hoà hoãn với các nước ở xa nhưng phải dùng chiến tranh với các nước gần; ông nghi ngờ âm mưu bành trướng của Liên Xô.

Họ Mao không bao giờ để lộ những điều này cho công chúng biết. Ngược lại, ông cố làm ra vẻ thân thiết với Stalin. Tuy nhiên bài diễn văn của Krushchev quả làm cho chính trị Trung Hoa chia rẽ. Đề nghị của Chu Đức nên đả kích Stalin tạo cho họ Mao một cơn cuồng nộ. Tôi không tin họ Chu muốn đe doạ họ Mao và cơn giận của họ Mao đặt không đúng chỗ. Trước kia tại Giang Tây, hai người này đã có lần đụng độ, nay nhân vụ này, họ Mao mang định kiến rằng lời đề nghị đó “phản ánh cá tánh của y”. Họ Mao bắt đầu nghi ngờ về lòng trung thành của họ Chu.

Lễ Lao Động năm 1956, hai tháng sau khi Krushchev đả kích Stalin, họ Mao nổi trận lôi đình một lần nữa vì Chu Đức bị bệnh. Lẽ ra bị bệnh thì khỏi đi dự lễ tại Thiên An Môn. Nhưng vì việc chụp hình với Mao Trạch Đông rất hệ trọng, khiến Chu Đức lo lắng vô cùng. Ông nói với phu nhân của Nhân Tất Sử, tức bà Trần Xung Dĩnh rằng: Nếu mình không đi thì người ta sẽ cho rằng mình phạm tội tày đình khiến bị cấm không cho dự lễ.” Họ Chu gắng gượng đến chụp hình để chứng tỏ mình còn được tại vị.

Họ Mao không hề quên chuyện Krushchev đả kích Stalin. Tuy nhiên suốt trong năm 1956, sự bực bội của ông nhắm vào nội bộ của Đảng. Trước hết ông chú tâm vào những hình thức nào có tính cách rập khuôn theo kiểu Liên Xô.

Năm 1956 Trung Hoa đã hầu như rập khuôn theo kiểu Liên Xô. Một khối quan lại khổng lồ đã rãi xuống tận các thị trấn, làng mạc, do Đảng Cộng sản trực tiếp nắm quyền. Cuộc tập thể hoá nông nghiệp đã kết thúc, những xưởng máy và cửa tiệm tại thành phố đã được đưa vào hệ thống kiểm soát của chính phủ. Các hoạt động tiểu, thủ công cũng đã tập thể hoá và do chính quyền địa phương cai quản. Nhìn chung, về phương diện kinh tế và hành chánh, sự chuyển hướng lên xã hội chủ nghĩa xem như hoàn tất.

Tuy nhiên sự chuyển hướng về tinh thần để làm thay đổi bộ mặt nước Trung Hoa theo ý họ Mao thì không nhúc nhích. Với khối quan lại khổng lồ mà ngày xưa từng năng nổ bao nhiêu thì nay trở nên quan liêu, vinh thân phì da bấy nhiêu, đã làm cho tư tưởng cách mạng của họ Mao khựng lại. Họ Mao bồn chồn nôn nóng. Ông ta muốn tiến hành gấp rút, tiếp tục khí thế cách mạng. Ngược lại các cán bộ, kể cả giới cao cấp, thì nhẫn nha và để từ từ làm theo kiểu Liên Xô. Theo họ Mao, kiểu Liên Xô thì thiếu hẳn óc sáng tạo, mất hẳn đặc tính Trung Hoa khiến Mao giận hết các thuộc hạ của mình.

Cách mạng theo họ Mao phải là táo bạo, thay đổi và đấu tranh không ngừng nghỉ. Họ Mao cho rằng các cán bộ trong hàng ngũ đảng thiếu phẩm chất. Và sự thể các cán bộ chấp nhận lời đả kích của Krushchev trở thành một đe doạ trực tiếp đến quyền lãnh đạo của ông. Họ Mao phải bảo vệ; ông không thể nhìn thấy những Krushchev Trung Hoa trồi lên trước khi ông nhắm mắt, viết “báo cáo đen” để chống lại ông. Ông luôn luôn cảnh giác trước mọi mưu toan làm xói mòn quyền cai trị của ông.

Tất cả những yếu tố trên đã nhen nhúm và phát triển theo thời gian, để rồi cuối cùng bùng nổ ra Cuộc Cách Mạng Văn Hóa kinh hoàng mấy năm sau đó.

Tài liệu này đã được đọc 230 lần.

    • là người cập nhật hóa tài liệu này vào ngày

Current Discussion: Main discussion

  1. No comments have been posted for this discussion.