Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!

  1. Chapter
  2. Bí Mật Cuộc Đời Mao Trạch Đông - Phần I - Chương 19 - Trần Ngọc Dụng

Đây là một phần của sách 'Book:Bí Mật Cuộc Đời Mao Trạch Đông - Trần Ngọc Dụng'

Chương Mười Chín
Sức khoẻ của Giang Thanh bắt đầu có chuyện. Bấy giờ bà ta đang bệnh nặng. Các bác sỹ hằng ngày đều phải lấy mẫu tế bào từ thành tử cung và các kết quả sơ khởi cho thấy bà bị một khối u ác tính. Để cho chắc chắn hơn, các bác sỹ Lâm Kiều Chí và Vũ Ái Phương gửi các phim chụp quang tuyến X đến hai nhà bệnh lý học nổi tiếng nhất nước là Lương Bặc Khương làm việc tại Trường Y khoa Tôn Dật Tiên ở Quảng Châu và Hồ Trịnh Tương thuộc Liên Hiệp Đại học Y khoa Bắc Kinh. Cả hai bác sỹ này đều đồng ý đó là dấu hiệu ung thư cấp tính. Các chẩn đoán sau đó xác định là ung thư nhưng chưa phát tác mà mới ở giai đoạn sơ khởi nên có thể hy vọng chữa khỏi.
Vì Giang Thanh là phu nhân của chủ tịch nên các bác sĩ cần phải nắm phần chắc, nên Bác sỹ Vũ Ái Phương phải mang các tấm phim này sang Liên Xô để tham vấn. Một lần nữa, tại đây cũng xác định như trên. Phó Liên Chương phối hợp làm tất cả chuyện này và đã viết tường trình cho họ Mao, giải thích cặn kẽ.
Họ Mao cho triệu tập các bác sỹ lại. Nữ bác sỹ Lâm Kiều Chí chuyên về phụ khoa là người phụ trách lấy mẫu tế bào đề nghị gửi Giang Thanh sang Liên Sô chữa bệnh theo phương pháp dùng cobal 60. Bệnh viện tại Trung Quốc đã thử xạ trị nhưng không có cobal 60. Trong khi các bác sỹ Liên Sô thì cho rằng dùng cobal 60 sẽ khả quan hơn. Bác sỹ Lâm tìm cách lý giải cho mình và đồng nghiệp vì cho rằng ý kiến đó xác đáng. Vì không một bác sỹ nào muốn nhận trách nhiệm nếu sự tiên đoán của họ có điểm không ổn.
Sau khi nghe xong, họ Mao nói: “Tôi để cho các vị liệu định. Khi nào bị bệnh thì phải nghe theo lời thầy thuốc vậy.” Đề nghị của bác sỹ Lâm được chấp thuận. Giang Thanh sẽ đi Liên Sô, có Bs. Vũ Ái Phương tháp tùng.Giang Thanh có cảm giác bất thường trong người, nhưng không ai nói gì cho bà biết. Nay họ Mao muốn các bác sỹ nói cho bà hay. Khi biết được tin này, bà càng thấy đứng ngồi không yên. Mãi đến khi được giải thích tường tận rằng căn bệnh có thể chữa lành nếu điều trị kịp thời và đúng cách, bà mới yên lòng. Mấy ngày sau, bà lên phi cơ đi Liên Sô.
Đầu tháng Mười một, tôi bắt đầu tính đến chuyện tôi. Tôi có hai đường - một là xin đi học về bệnh nhiệt đới tại Anh và hai là xin học khoá thần kinh tại Bệnh Viện Bắc Kinh do các chuyên viên thần kinh học Liên Sô tổ chức. Người này có tên là Rushinski, đang làm việc tại Trung Quốc. Các trưởng khoa về thần kinh trên khắp nước sẽ về dự khoá học này để sau đó sẽ tiến đến thành lập viện nghiên cứu về thần kinh học cao cấp. Tôi trình với họ Mao về hai khoá học này thì ông hỏi: “Ý anh muốn tham dự khoá học này hả?” Tôi trả lời: “Nếu Chủ-tịch chấp thuận, tôi sẽ đi.” “Học về bệnh nhiệt đới à? Có giúp gì cho tôi đâu?” ông nói với vẻ châm chọc. Tôi biết ngay, nếu có đi tôi chỉ tạm thời vắng mặt, sau khi học về tôi cũng phải trở về làm việc cho ông.
“Nếu anh muốn thì hãy đi dự khoá học tại Bắc Kinh đây. Như vậy anh có thể giúp tôi nhiều hơn nữa.” Vì gần đây, họ Mao thường than phiền về những triệu chứng suy nhược thần kinh, khoá học của tôi về môn thần kinh quả sẽ làm tăng thêm điều kiện buộc tôi phải làm việc cho ông trong tương lai.
“Thưa nếu được Chủ-tịch chấp thuận. Tôi sẽ trình với Bộ Y tế.” tôi thưa với ông. Tuy muốn tạm thời xa Nhóm Một tôi vẫn muốn tiến hành từng bước. Trình với Bộ Y tế nhằm báo cho họ để tìm người thay thế trong thời gian tôi vắng mặt.
Họ Mao hỏi tôi: “Vậy trong thời gian không có anh, ai sẽ thay thế?” Tôi đã dự trù câu trả lời. Bác sỹ Biện, một y sĩ nội trú tại Bệnh viện Bắc Kinh sau tôi năm lớp, tốt nghiệp tại một trường y khoa nổi tiếng ở Nam Kinh. Ông ta sẽ thay tôi.
Họ Mao nói: “Tôi không biết người này. Nếu có người đó, anh có ý định nghỉ luôn không?” Tôi hứa sẽ trở về nếu chủ tịch muốn như vậy.
“Vậy thì bảo Phổ Liên Chương rằng tôi không cần người thay thế. Chúng ta hãy quyết định như vậy đi.” họ Mao nói.
Phổ Liên Chương vui mừng khi thấy tôi bỏ đi - người này không hề muốn tôi làm việc cho họ Mao và cho dù tôi đã nói trước, họ Phó vẫn cắt cử bác sỹ Biện vào thay thế tôi. Tôi hân hoan chuẩn bị dự khoá học. Lúc ấy là giữa tháng Mười Một.
Tôi sung sướng vô ngần khi tìm lại được sự tự do! Chương trình học thật thú vị. Mặc dầu thời gian rất khít khao, tôi vẫn thấy công việc lý thú. Tôi mãi mê làm việc với các đồng nghiệp, nói chuyện thoải mái. Tối nào cũng thức đến hai, ba giờ sáng mà tôi vẫn hăng hái, không thấy mệt như lúc làm việc với “đồng nghiệp” Diệp Tử Long và Lý Nhân Kiều trong Trung Nam Hải. Bác Sĩ Cơ Thúc Hoa, phó giám đốc Bệnh Viện Bắc Kinh mời tôi ở lại sau khi kết thúc khoá học và hứa sẽ tìm cho tôi một chỗ trong viện thần kinh sắp thành lập.
Thẩm Tiên, vợ tôi, cũng vui mừng không kém. Thời gian tuy vẫn còn bận rộn nhưng cũng còn chút thảnh thơi và ít nhất bà có được đời sống bình thường. Cha mẹ nàng từ Nam Kinh dời về ở chung với mẹ tôi. Hai con tôi cũng về ở tại khu nhà cổ của ông bà để lại này. Mọi người vui vẻ. Quyền chính trị của thân nhân tôi được phục hồi sau khi chính quyền Nam Kinh biết tôi đang là y sỹ cho một nhân vật cao cấp tại Bắc Kinh. Tất cả được tái phân loại thành cư dân thành thị nhà nghèo nên cuộc sống bắt đầu dễ thở; trong nhà có tiếng trẻ con cười đùa vô tư.
Căn chung cư trong Khu Trung Nam Hải của tôi vẫn còn mặc dầu ít khi chúng tôi đến đó. Lạc Đạo Nhượng, người tạm thời thay thế chức quyền giám đốc Lực lượng Phòng vệ Trung ương sau khi Uông Đông Hưng bị giải nhiệm, cho phép tôi dời văn phòng về Bệnh Viện Bắc Kinh nhưng không cho tôi dọn đi luôn. Ông muốn tôi trở lại. Trước tôi đã có ba bác sỹ đến làm việc cho họ Mao rồi bị đuổi đi. Họ Lưu đề phòng khi họ Mao muốn tôi trở lại sẽ không gặp trở ngại.
Đam mê với việc học, tôi không còn để ý đến những biến đổi chính trị tại Trung Quốc, mà chỉ biết loáng thoáng rằng họ Mao đã tung ra chính sách mới gọi là “trăm hoa đua nở, trăm ý đấu tranh”. Tôi được biết ngày 27 tháng Hai năm 1957, ông đưa ra lời kêu gọi giới trí thức và thành viên của cái gọi là những đảng dân chủ nên phê bình cung cách làm việc của đảng, để rồi sau đó sẽ có lớp huấn luyện cho nội bộ đảng tự phê bình. Các buổi hôi họp sẽ được tổ chức tại Bệnh viện Bắc Kinh. Tôi quá bận rộn với việc học nên không tham dự các buổi hội họp này. Phong trào chính trị này dường như quá xa vời, giống như một cuộc chiến ở đâu đâu nên không ai hối thúc chúng tôi phải tham gia.
Qua đến mùa xuân năm 1957, tôi vẫn còn tiếp tục công cuộc nghiên cứu, học hỏi và thầm cảm ơn trời đã cho tôi trở về nghề cũ thì ngày 4 tháng Năm 1957, Lý Nhân Kiều đến bệnh viện gặp tôi và nói rằng Chủ-tịch Mao bị bệnh cảm và muốn gặp tôi. Vậy là tôi có lệnh triệu hồi.
Tôi chẳng muốn đi chút nào. Tôi hỏi Lý về Bác sỹ Biện là người thay thế tôi. Bác sỹ Biện có gặp họ Mao vài lần sau khi tôi đi nhưng họ Mao không mấy thích người này. Theo lời người cận vệ, ông ta được sắp xếp để gặp họ Mao trong một buổi dạ vũ vì họ hy vọng không khí buổi tiệc sẽ làm cho vị bác sỹ trẻ này mạnh dạn hơn lên, nhưng rồi mỗi khi gặp Chủ-tịch, ông ta đều run khiến Chủ-tịch không thích. Từ đó không có bác sỹ nào nữa. Họ Mao vừa mới đi Quảng Châu về và Giang Thanh cũng mới từ Liên Sô trở về. Lý Nhân Kiều nói cả hai người đều muốn tôi trở lại làm việc. “Khi Chủ-tịch cần anh, tại sao anh lại từ chối?”
Nhưng tôi đang làm việc cho bệnh viện. Quy định bắt mỗi lần đi đâu phải xin phép. Chỉ có bí thư bệnh viện biết tôi là bác sỹ riêng của Chủ-tịch Mao vì bên an ninh đòi rằng chức vụ của tôi phải được giữ bí mật. Họ sợ có kẻ chủ mưu muốn ám hại Chủ-tịch sẽ lợi dụng và sai khiến tôi. Nếu tôi rời bệnh viện mà không có phép thì người ta sẽ phê bình tôi là lợi dụng đặc quyền, đi ở tuỳ tiện. Như vậy càng gây mất cảm tình.
“Cấp trên của anh biết rõ tình trạng của anh mà.” họ Lý cho tôi biết. Lúc bấy giờ một người tên Vương Tiến Tường chính thức thay thế cho Uông Đông Hưng. Họ Vương này đã chuyển chỉ thị đòi tôi trở lại rồi nên sai Lý Nhân Kiều đến đón. Xe đang chờ bên ngoài. Tôi vẫn đòi đi xin phép với cấp trên của tôi.
“Anh làm không kịp đâu. Chủ-tịch bảo tôi phải đến đón anh ngay sau khi người thức dậy. Không nên để Chủ-tịch phải chờ. Anh có thể lên gặp Chủ-tịch trước rồi trở về xin phép sau cũng được.”
Vậy là tôi không còn cách nào thoát khỏi bàn tay của Nhóm Một. Họ chỉ tạm cho Bộ Y tế mượn tôi một thời gian. Cơ quan Nội An Trung ương vẫn theo sát tôi. Không còn cách nào khác, tôi phải trở về Trung Nam Hải cùng với Lý Nhân Kiều với cái túi xách trên tay.
Về đến nơi tôi thấy họ Mao đang nằm trên giường, mặt mày trông xanh xao và mệt mỏi. Ông kêu tôi đến ngồi một bên. Cận vệ pha trà bưng ra. Tôi vấn an ông thì ông nói: “Không khoẻ lắm. Bị cảm.” Gần hai tháng, kể từ ngày 27 tháng Hai, ông bị cảm nặng và lạt miệng không ăn được.
Ông để tôi khám bệnh. Không có gì trầm trọng; chỉ cảm nặng. Tôi đề nghị uống thuốc ho và vài loại thuốc giúp tiêu hoá.
“Được, tôi sẽ uống.” ông đồng ý. “Anh viết toa để cho cận vệ đi lấy được rồi. Anh khỏi cần đi như mấy lần trước.”
Tôi đồng ý và chuẩn bị ra về.
“Khoan, xin nán lại chút nữa,” họ Mao nài nỉ. Tôi ngồi xuống. Ông nhìn tôi, mỉm cười và nói: “Làm việc cho tôi khó khăn quá nhỉ?” Rồi ông nhắc lại chuyện ông nóng giận mắng tôi tại Bắc Đại Hải. Tôi mỉm cười đáp lễ. Ông liền hỏi tiếp: “Anh định bỏ đi luôn hay sao? Ở đây tôi chưa tìm ra bác sỹ nào. Thôi chúng ta hãy thoả thuận một cách thẳng thắn như thế này. Anh cứ trở lại đây làm việc. Tôi biết anh còn nhiều thời giờ rảnh rỗi. Chúng ta sẽ tìm cách gì để anh làm thêm. Tôi còn nhớ có người bác sỹ bộ trưởng y tế ở dưới thời Quốc Dân Đảng nhờ nghiên cứu buồng trứng của thỏ cái mà được cấp bằng tiến sỹ ở Đức. Anh thấy không, mấy cái bằng cao cấp đó chỉ cần làm một cái gì đó không nghĩa lý gì hết cũng lấy được. Bây giờ anh dùng thời gian rảnh của anh để làm một phòng thí nghiệm thú vật. Phí tổn lập phòng thí nghiệm sẽ do tiền túi của tôi trang trải cho anh, không cần lấy của ngân khố đâu mà anh sợ. Anh thấy thế nào?”
Tôi không nghĩ lập phòng thí nghiệm thú vật tại Trung Nam Hải là điều hay. Người khác sẽ phê bình tôi gắt gao. Trong khu này không ai được quyền nuôi thú, cho dù con mèo, con chó cũng không. Họ sợ thú vật sẽ truyền những bệnh truyền nhiễm sang cho họ Mao và các cán bộ cao cấp sống trong khu. Giang Thanh có nuôi một con khỉ chứng minh điều tôi nói. Thấy một phòng thí nghiệm thú vật không ổn nên tôi đề nghị: “Xin cho tôi dùng thời gian rảnh để đọc sách.”
Ông suy nghĩ một lúc, xong nói: “Vậy cũng được. Nhưng chưa đủ. Kiến thức không thể có được nếu không có thực hành. Thôi, thế này nhé. Anh lo cho sức khoẻ tôi rồi chuyện kia để tính sau.”
Kết cục đâu có gì gọi là “thoả thuận thẳng thắn” đâu. Đó chỉ là một mệnh lệnh được khéo dùng chữ do một chủ tịch đảng đưa ra. Không ai có quyền bất tuân lệnh của họ Mao; lệnh của ông tức là luật. Nếu tôi từ chối, tôi sẽ vĩnh viễn không tìm ra việc làm. Vợ tôi sẽ bị sa thải và cũng sẽ không tìm được việc làm khác. Chưa kể tôi sẽ bị bắt, và có thể bị tra tấn, hành hạ.
Họ Mao còn nhắc lại chuyện cũ: “Tôi yêu cầu anh làm bí thư cho tôi. Nhưng anh không chịu. Trong lịch sử Trung Hoa có rất nhiều nhân vật trước hành nghề y nhưng sau đều trở thành các nhà chính trị nổi tiếng như Tôn Dật Tiên, Lỗ Tấn, Quách Mộ Nhược. Hành nghề thì tốt, nhưng anh không nhất thiết phải tự giới hạn mình trong lãnh vực đó. Biết thêm về khoa xã hội thì vẫn tốt hơn chứ.”
Họ Mao có thể buộc tôi làm y sỹ riêng cho ông thì được chứ ông không thể bắt tôi làm bí thư cho ông. Tôi không phải là một chính trị gia và tôi không hề muốn ép mình để trở thành một bộ phận trong guồng máy chính trị đó.
Ông hỏi tiếp: “Anh vẫn không muốn làm bí thư cho tôi chứ gì? Được rồi. Chỉ cần anh làm y sỹ riêng cho tôi cũng được. Nhưng để chúng ta có thể chuyện vãn với nhau được lý thú, anh nên đọc thêm các Tài Liệu Tham khảo. Có vậy chúng ta mới có đề tài thảo luận và sẽ ở với nhau hoà thuận được.”
Tôi bất mãn vô cùng. Tôi tưởng đã an lành làm việc tại Bệnh Viện Bắc Kinh. Làm việc cho họ Mao tôi không còn dịp nào tiếp xúc với các đồng nghiệp. Trung thành với họ Mao tức là hy sinh bạn bè, hơn nữa tôi ghét cay Diệp Tử Long cùng những người khác trong Nhóm Một; làm việc trong một không khí ganh tị như vậy còn gì hứng thú. Số phận đã an bài phải ở với họ Mao, tôi bị buộc trở về lại với ông ta.
“Tôi đã quyết định từ chức chủ tịch nhà nước rồi,” họ Mao nói tiếp. Tin tức về sự từ chức này tuy còn giữ kín song quyết định đã dứt khoát. “Văn phòng trung ương đã phổ biến thông báo này cho các cán bộ cao cấp trong đảng và chính phủ để họ thảo luận. Diệp Tử Long và Lý Nhân Kiều cùng mấy người trong Nhóm Một không thích tôi từ chức. Tôi bảo họ tôi từ chức vì lý do sức khoẻ nhưng họ không hiểu mà cho rằng tôi hết làm chủ tịch thì họ bị thiệt thòi. Họ nghĩ cái vinh dự ở chỗ làm việc cho chủ tịch nước.”
Bệnh cảm của họ Mao theo tôi thấy không phải là vấn đề chính; nguyên do là từ những sự thay đổi chính trị lớn lao trong suốt sáu tháng tôi vắng mặt. Ở bệnh viện tôi lờ được những biến động này, chứ nay tôi đã trở lại, ắt tôi phải bị lôi kéo vào những cơn lốc chính trị đang chờ sẵn.
Tôi không bao giờ trở về Bệnh viện Bắc Kinh được. Ngay cả đồ đạc của tôi ngoài đó cùng việc nghiên cứu đang dở đang. Tôi goi điện thoại cho bí thư bệnh viện để giải thích về trường hợp bị họ Mao gọi về. Sau đó người ta cho một người cận vệ đến mang hết mọi thứ về lại cho tôi. Cái đêm đầu tiên ấy tôi trở về Trung Nam Hải với Nhóm Một và bị kẹt luôn trong đó. Lần này thì hết cách thoát.


Chương Hai Mươi
1957-1965
Lâm Khải cho tôi biết hết mọi việc xảy ra trong suốt thời gian tôi vắng mặt.
Họ Mao giận vì những lý lẽ nêu trong Đại-hội Tám đề cao quyền lãnh đạo tập thể và phủ nhận sự tôn sùng cá nhân, không xem tư tưởng Mao là nguyên tắc chỉ đạo ý thức hệ của toàn quân và toàn dân cùng nhiều lời phê bình về chủ nghĩa phiêu lưu. Ông xem những cấp lãnh đạo đó là quá bảo thủ và chậm chạp trong tiến trình hình thành cuộc cách mạng thay đổi Trung Quốc. Ông vẫn chưa nguôi giận về Phiên họp lần thứ hai của Đại-hội Tám nhóm vào trung tuần tháng Mười một, nhằm vào lúc tôi tham dự khoá học. Trong bài diễn văn đọc trước buổi họp, họ Mao tuyên bố ý định về một cuộc “sửa sai” hàng ngũ đảng để quét sạch điều mà ông gọi là: “chủ quan, thư lại và cửa quyền.”
Sau phiên họp đó, theo lời Lâm Khải, thì họ Mao trở về phòng, nằm suốt cả tháng như ông vẫn thường làm khi có cuộc tranh chấp chính trị chưa giải quyết xong. Ông chỉ ngồi dậy khi nào đi vệ sinh hay phải đọc diễn văn. Ông dùng lối này để tính toán các thủ đoạn mới sẽ tung ra trong bàn cờ chính trị.
Bài diễn văn đọc ngày 27 tháng Hai năm 1957 chỉ là một phần trong chiến lược ông muốn thực hiện. Họ Mao ra khỏi giường để nói chuyện với Hội nghị Tối cao với tư cách chủ tịch nhà nước. Hội nghị bao gồm các nhân vật trong bộ chính trị và các tướng tư lệnh các quân đoàn cùng những viên chức cao cấp trong chính phủ và các lãnh tụ của những “đảng dân chủ”. Họ Mao gay gắt lên án cung cách quan liêu của đảng và ông khuyến khích các đảng dân chủ này lên tiếng phê bình tiếp tay với ông để vạch ra những lỗi lầm cũa đảng đồng thời cho đề nghị biện pháp “khắc phục”. Ông tuyên bố chiến thắng của cuộc cách mạng và sự thành công cửa cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa, từ đó những mâu thuẫn trong xã hội sẽ “không còn tính cách đối kháng”, và những cách biệt giữa dân chúng sẽ dễ dàng thanh thoả. Trong cuộc “sửa sai” hàng ngũ đảng sắp đến họ Mao sẽ kêu gọi các nhà trí thức bên ngoài đảng mạnh dạn phê bình những sai lầm của đảng.
Những phong trào sửa sai không lạ gì đối với Đảng Cộng Sản. Lần đầu tiên họ Mao ra lệnh sửa sai là năm 1943. Sự khác nhau giữa lần trước và lần này ở chỗ lần này không chỉ nhằm sửa sai một cách sâu rộng nội bộ hàng ngũ đảng mà thôi. Họ Mao hết tin tưởng vào sự tự sửa sai rồi. Ông có ý định kêu gọi công chúng có tiếng nói, nhất là giới trí thức trong các “đảng dân chủ” cần nói lên tiếng nói trung thực của họ. Cộng đảng Trung Hoa là một thể chặt chẽ, đầy quyền thế và bí mật, thường dân không dễ gì dám phê bình hay được phép có ý kiến. Những ai bạo miệng nói lên thì liền bị chụp mũ là phản cách mạng. Hàng trăm ngàn nân nhân vô tội đã biết rõ điều này.
Hơn nữa họ Mao cũng nghi ngờ giới trí thức. Về mặt công khai, ông làm ra vẻ phủ dụ và trọng dụng họ nhưng bề trong ông hoài nghi về lòng trung thành của họ đối với ông. Về phương diện chính trị, giới trí thức cần được cải tạo. “Cải tạo tư tưởng” các nhà trí thức Trung Hoa là việc làm đầu tiên ngay sau khi giải phóng nhằm giáo dục họ phải đứng về phía đảng. Ai không về phía Đảng, tức khắc bị cô lập và bị tấn công từ mọi phía.
Nhà văn Hồ Phương là một thí dụ điển hình. Ông lên tiếng chỉ trích lời kêu gọi của họ Mao khi cho rằng văn chương phải phục vụ cho mục đích chính trị. Họ Hồ thẳng thắn phê bình đích danh Bộ Văn hoá. Riêng những lời chỉ trích mạnh mẽ hơn thì ông cho chuyền tay qua hình thức các bức thư gửi bạn bè. Trong số bạn này có những người trung thành với đảng; họ trình lên cấp trên. Qua năm 1955, họ Hồ bị bắt với tội danh người cầm đầu “một nhóm bí mật chống đảng” chỉ vì dại dột tin vào lời kêu gọi của họ Mao mà phê bình bộc trực như vậy. Họ Hồ bị bắt làm các nhà trí thức khác chùn bước; nhiều người không muốn nói thẳng, ngay với bạn bè.
Chính sách khuyến khích tranh luận trong giới trí thức qua phong trào “trăm hoa đua nở, trăm ý đấu tranh” là một trò chơi theo lối đánh bạc dựa trên sự tính toán cho rằng phần tử phản cách mạng thật sự không có bao nhiêu và những kẻ bạo gan như Hồ Phương rồi sẽ một sớm một chiều im tiếng, và rằng đa số các nhà trí thức sẽ theo họ Mao và lên tiếng tố cáo những kẻ họ Mao muốn thật sự tấn công để ông tiện việc tiến hành cải cách.
Họ Mao có lý do để tin tưởng trò đánh bạc của ông thành công. Cứ mỗi lần tiếp xúc với đại diện các “đàng dân chủ”, ông đều được họ hết lời tán dương. Chính mắt tôi chứng kiến trong một chuyến du nam vào mùa hè 1956. Bịt miệng Hồ Phương xong, các nhà trí thức, các phần tử trung thành còn lại sẽ theo họ Mao hết.
Tại Hội nghị Tối cao tháng Hai năm 1957, sau khi họ Mao than phiền vì sự lãnh đạo thiếu hiệu quả của ông gây cho sự sút giảm về sản xuất kinh tế, Trương Chí Trung, một cựu tướng của Quốc Dân đảng, từng cầm đầu phái đoàn quốc gia thương thuyết với Cộng Sản năm 1945, đã đứng dậy nói trước hội nghị rằng: “Tôi đã nhiều lần so sánh Chủ-tịch với Tưởng Giới Thạch. Họ Tưởng lúc nào cũng phê bình người khác mà không bao giờ nhận lỗi về mình. Nay Chủ-tịch của chúng ta không những không phê bình kẻ khác mà còn nhận trách nhiệm về mình. 'Người đã chịu hết trách nhiệm. Thật khác xa! Thật đáng kính!”
Lời kêu gọi phê bình của họ Mao tàn dần. Đa số các nhà trí thức sợ không dám nói ra. Sự hiện diện của ông trong các cuộc họp, các buổi gặp gỡ đang trở nên rộn rịp hơn lên. Con người ông như có một vầng hào quang đầy quyền năng và chân lý khiến cho những kẻ can đảm hay tâm huyết với tiền đồ tổ quốc đều phải khiếp sợ khi đứng trước mặt ông. Những buổi nói chuyện riêng tư hay gặp mặt thân mật được lồng vào bằng các lời thú nhận sai lần, hối cải về các sai phạm hay lạc lối trong quá khứ. Bù lại, họ Mao nhận được sự hứa hẹn một mực trung thành với ông. Sự hiện diện của họ Mao, cho dù công khai hay riêng tư, không cốt để tìm hiểu hay khuyến khích nói lên sự thật mà chỉ vì cho họ Mao nghĩ rằng ông được mọi người ủng hộ và uy tín của ông đã vang dậy khắp năm châu.
Khi thấy các nhà trí thức hoàn toàn lặng tiếng, họ Mao bước ra khỏi giường để đứng lên hô hào. Tại một Hội nghị Công tác Tuyên Truyền Toàn Quốc vào ngày 6 tháng Ba năm 1957 dành cho các cán bộ cao cấp và “các phần tử dân chủ” không đảng phái, họ Mao lặp lại lời kêu gọi hồi tháng Hai về phong trào “trăm hoa đua nở, trăm ý đấu tranh”, có ý thôi thúc các nhà lãnh đạo “các đảng dân chủ” đừng nên do dự nói lên tiếng nói của mình. Báo chí địa phương đăng tải lời kêu gọi này và các cán bộ đảng trên toàn quốc dùng lời kêu gọi này làm phương châm tuyên truyền, rằng càng yêu mến đảng bao nhiêu càng nên nói hết những điều muốn phê bình bấy nhiêu.
Những lời chỉ trích bắt đầu nổi lên, đầu thì nhẹ nhàng và thường không mấy đáng kể. Cuối cùng “các phần tử dân chủ” nhảy vào và các chỉ trích mỗi ngày một trở nên quyết liệt.
Thời điểm quyết liệt nhất là vào tháng Năm, lúc tôi trở về lại với họ Mao.
Cuộc phê bình tiếp diễn, “những lỗi lầm” của đảng bị chỉ trích mỗi lúc một gay gắt đến điểm mấu chốt sau cùng là vai trò lãnh đạo của đảng. Không phải cá nhân từng đảng viên bị đặt vấn đề mà toàn bộ tư cách pháp lý của đảng bị đưa ra mổ xẻ. Người dân bỗng biện luận rằng đảng Cộng Sản không được độc quyền lãnh đạo quốc gia mà quyền hành phải được chia sẻ cho các giới khác. Nhiều người kêu gọi một hệ thống chính trị đa đảng hoặc chính sách luân phiên, trong đó mỗi đảng sẽ lần lượt lên nắm quyền. Một thiểu số khác còn đi xa hơn khi đòi để cho “các đảng dân chủ” có quân đội riêng.
Sau cùng, chính vai trò lãnh đạo của họ Mao bị chỉ trích. Đảng Cộng Sản bây giờ được ví như một thiền viện Phật giáo trong đó viện trưởng (tức họ Mao) nắm quyền “ra bài bản” cho các thầy tu trong chùa tụng lên - tức các cán bộ dưới quyền họ Mao. Họ cho rằng chỉ được quyền phê bình các thầy tu mà không được phép phê bình ông viện trưởng là vô lý.
Dĩ nhiên họ Mao bị choáng váng. Ông không bao giờ nghĩ sẽ có những lời chỉ trích đích danh ông và cũng không lường được rằng chính bản thân đảng trở thành đối tượng để bị chỉ trích. Từ bấy lâu ông sống trong tiếng hoan hô, ca tụng tán dương, và những kẻ thù cùng những kẻ chống lại ông đều đã bị cầm tù hết nên ông không ý thức được sự bất mãn của giới trí thức lại sâu xa đến như vậy.
Đến giữa tháng Năm, các lời phê bình chỉ trích lên đến cao điểm của nó và làn sóng công luận gần trở thành đối nghịch với đảng. Thậm chí các thành viên trong Uỷ Ban Tư Vấn Quốc Gia của Hội Đồng Nhà Nước là các nhân vật trí thức trong hàng ngũ “các đảng dân chủ” mà thường đưa ra các khuyến cáo cho chính phủ, nay cũng tham gia vào phong trào chỉ trích này. Khi một thành viên trong ban tư vấn đứng lên bênh vực cho đảng thì chẳng ai thèm nghe. Tờ Nhân Dân Nhật báo, tiếng nói của Đảng Cộng Sản do Đặng Thoả làm việc dưới quyền của Phó Giám đốc Cơ Quan Tuyên Huấn là Hồ Kiều Mục bạn tôi, cũng chẳng thèm đếm xỉa gì đến viên tư vấn trên.
Họ Mao phạm một sai lầm khá trầm trọng. Ông nằm miết trên giường, rầu rĩ, bất động, thêm bị cảm nặng nên kêu tôi về, giữa lúc ông bị tấn công mỗi lúc một dữ dội hơn. Ông đang suy tính phương kế trả thù, trong lòng bực bội khôn nguôi.
Ngày 15 tháng Năm, mấy ngày sau khi tôi trở về, họ Mao viết một bài báo lấy nhan đề Sự Vật Đang Đổi Thay để lưu hành bí mật trong giới hàng ngũ cao cấp. Bản chất của chiến dịch sửa sai đã biến dạng. Họ Mao đang chuẩn bị cuộc phản công chống lại những người nào đã lớn tiếng chỉ trích. Mấy ngày kế tiếp, khi các cán bộ cấp dưới và các chủ biên các toà báo biết sắp có cuộc phản công này thì họ liền khuyến khích các tờ báo tiếp tục đăng tải tất cả những lời chỉ trích đồng thời cho đăng luôn những bài bênh vực đảng chống lại thành phần gọi là “hữu phái”.
Họ Mao nói chúng ta cần phải dụ cho con rắn bò ra khỏi hang cái đã. Sau đó chúng ta sẽ đập đầu. Chiến lược của tôi là phải để cho “cỏ độc” mọc hết lên rồi mới nhổ từng cọng một. Phải biến chúng thành phân bón.” Bên các nhà trí thức thì vẫn được cổ võ phải nói hết, còn phía đảng viên thì chuẩn bị để phản công.
“Tôi muốn dùng “các đảng dân chủ” thực hiện cuộc sửa sai đảng Cộng Sản. Nhưng tôi không ngờ họ lại không xứng đáng để tin cậy nữa.” họ Mao nói. Theo ông nghĩ rằng những thành viên trong Liên Hiệp Dân chủ thành lập trong thập niên 1940 quy tụ các nhà trí thức sẽ giúp dung hoà một giải pháp quốc-cộng thì nay “bọn chúng chỉ là một đám băng đảng, đĩ điếm”. Việc Krushchev đả kích Stalin hồi tháng Hai năm 1956 và cuộc cách mạng tại Hung Gia Lợi vào mùa thu cùng năm ấy đã dấy lên một phong trào quốc tế chống Cộng thì tại Trung Hoa, ông nghĩ rằng, đảng và nhân dân Trung Hoa cũng bị kiệt sức theo. Họ Mao tố cáo những người này là đầu óc đầy bùn nhơ.
Ông quay sang sỉ vả Hồ Kiều Mậu đã không có hành động ngăn chặn kịp thời những bài đăng trên Nhân Dân Nhật Báo có nội dung chống đảng: “Nếu anh không quản lý nổi tờ báo,” Ý ông muốn nói đến việc kiểm duyệt các bài này. “thì anh từ chức để cho người khác làm” Ông chỉ thị cho họ Hồ chuẩn bị đợt tấn công những phần tử hữu phái.
Ngày 8 tháng Sáu năm 1957, Tờ + Nhân Dân Nhật báo# đăng một bài mở màn cho sự chuyển hướng chính sách khuyến khích trí thức nói sự thật. Bài báo do họ Mao viết có nhan đề “Nhằm Mục Đích gì?” tố giác một số người âm mưu lật đổ chính quyền xã hội chủ nghĩa và kêu gọi dân chúng chống trả.
Ngày 19 tháng Sáu năm 1957, tờ + Nhân Dân Nhật báo# đăng tải bài diễn văn của họ Mao lần đầu tiên khuyến khích giới trí thức phê bình dưới tiêu đề Nhằm Chấn Chỉnh Những Mâu Thuẫn Trong Nhân Dân được trình bày như là một bài trích nguyên văn nhưng kỳ thật nội dung khác hẳn với ý của họ Mao đã nói. Luận điệu của bài báo này trái ngược với lối nói cởi mở, dung hoà của họ Mao lúc trước. Những người đã từng nghe họ Mao nói đều nhìn nhận rằng không có phần nói về sự phê bình có điều kiện mà phải nói thẳng thắn, trung thực chừng nào tốt chừng ấy mới gọi là trăm hoa đua nở. Không có vấn đề “cỏ độc” hay rắn bò ra khỏi hang. Thế nhưng trong lời lẽ đăng trên báo ngày 19 tháng Sáu, họ Mao đưa ra sáu điều kiện: Phê bình phải phục vụ sự đoàn kết hơn là để chia rẽ; phải phục vụ công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa và củng cố chuyên chính dân chủ nhân dân; phải hổ trợ cho hệ thống xã hội chủ nghĩa, cho quyền lãnh đạo của Đảng Cộng Sản và sự đoàn kết phong trào Cộng Sản quốc tế.
Nổi đau đớn vì họ Mao cho rằng ông ta bị giới trí thức phản bội cũng chẳng kém nào nổi đau đớn của giới trí thức khi thấy chính họ Mao đã phản bội họ. Lời kêu gọi phải nói lên những lời phê bình còn vang vang qua các bài báo và qua các toán công tác trên khắp đất nước Trung Hoa đó, vậy mà khi họ nói ra thì bị quay lưng trở mặt.
Họ Mao biết giới trí thức cảm thấy bị phản bội: “Hiện nay có một số người thuộc phái hữu cho rằng tôi bày mưu để chống họ.” Vẫn theo nội dung bài báo ngày 19 tháng Sáu, “Họ cho rằng tôi đã hối thúc họ tham gia vào chiến dịch đua-nở-và-đấu-tranh rồi quay lại trả thù họ sau khi họ làm theo, nhưng tôi đâu có xúi giục “ý đồ đen tối”. Tôi làm việc công khai mà. Tôi nhờ những kẻ tả khuynh phê bình để giúp đỡ đảng. Tôi không hề kêu gọi họ chống đảng hay tước đoạt quyền hành của đảng. Tôi đã nói với họ ngay từ đầu rằng đừng có gây rối “Gây rối là không tốt đa!' Tôi cảnh cáo họ 'Phải chứng tỏ mình có ích cho đảng.' Một số người chịu nghe, nhưng phần lớn không chịu nghe.” Tôi bây giờ mới hiểu ra rằng ông muốn lợi dụng giới trí thức phê bình những đối thủ của ông, ngờ đâu chính mình châm lửa đốt kiến hoá ra suýt cháy nhà.
Trong khoảng này đến cuối tháng Sáu, chừng sáu tuần sau khi tôi trở lại, Giám đốc Văn phòng Vương Tiến Trường đến bảo tôi: “Chuẩn bị đi.” Họ Mao rời Bắc Kinh. Đi đâu chưa ai biết. Họ Vương chỉ biết sẽ đi trong một thời gian. Mùa trăm hoa đua nở, trăm ý đấu tranh đã qua, nhường chỗ cho chiến dịch phản công thành phần khuynh hữu do họ Mao chủ xướng bắt đầu.


Chương Hai Mươi Mốt
Chúng tôi vẫn đi trên con tàu sang trọng của họ Mao như thường lệ và họ Mao vẫn bị chứng mất ngủ hành hạ. Tuy nhiên hình thức bảo vệ an ninh đã thay đổi hoàn toàn. Tổng số nhân viên an ninh giảm xuống dưới một phần mười so với hồi Uông Đông Hưng phụ trách. Vương Tiến Trường, một người rụt rè, thay thế chức vụ của Uông Đông Hưng cầm đầu lực lượng bảo vệ cho họ Mao nhưng vẫn còn e dè. Anh ta nghe theo lời dặn của họ Mao không sót một chữ nên đã giảm lực lượng này xuống tối thiểu để phối hợp với các lực lượng an ninh địa phương trong công tác bảo vệ an ninh.
Một khi ông có quyết định phản công thì sức khoẻ ông hồi phục nhanh chóng. Bệnh cảm tiêu tan và tinh thần cùng sức lực trở về với ông. Trên đường đi ông và Lâm Khải nói với tôi nhiều chuyện xảy ra trong khoảng thời gian tôi vắng mặt. Qua các lần chuyện trò về khuya tôi được họ Mao cho biết trước những gì sẽ được công bố đó sau một vài ngày.
Họ Mao nói với tôi: “Ta phải nắm địch thủ bằng cách để cho họ tấn công mình trước. Sau đó ta mới phản công theo ba nguyên tắc. Trước hết là của Lão Tử*. Tôi là cha không bao giờ động thủ trước. Khi bị tấn công, tôi rút lui, không làm gì cả, chỉ giữ yên lặng để cho kẻ thù thắng vài điểm. Nếu chúng ta để cho kẻ thù biết ngay, chúng sẽ không dám để lộ mặt thật của chúng ra.” Nói vậy có nghĩa là họ Mao muốn cho tất cả kẻ thù chường mặt ra hết rồi mới lấy 'gậy ông đập lưng ông' - dùng lại cách chúng tấn công ta để phản công lại. “Đây là cách của Khổng tử vậy.”
*Chú thích: Lão tử theo tiếng Trung Hoa vừa có nghĩa triết gia và “cha”. Họ Mao muốn nói cả hai nghĩa này.
Thật ra đây không phải là cách của Khổng tử mà là chiến thuật họ Mao dùng để đối phó với những kẻ hữu khuynh và các đối thủ của ông trong đảng.
“Thoạt đầu nhân dân không biết ai là khuynh hữu hoặc mặt mũi của chúng ra sao, và cũng khó cho chúng ta giải thích. Nhưng nay chúng ta đã nhận diện chúng một cách rõ ràng - là những bọn phản cách mạng. Không phải, đừng gọi chúng là phản cách mạng. Ngôn từ đó không hay. Chỉ cần gọi chúng là những bọn hữu phái.”
Nguyên tắc thứ hai họ Mao dùng là không cầm tù đối thủ nếu họ không gây ra những lỗi lầm nào nghiêm trọng hay bất lợi. “Tại sao chúng ta lại đi nhốt tù họ?” họ Mao giải thích."Họ làm việc được thì cứ để cho họ làm việc chứ. Nếu họ xứng đáng làm những người lãnh đạo thì hãy tận dụng khả năng làm việc của họ để làm ra cái gì có ích. Nguyên tắc này đã có lâu đời trong lịch sử Trung Hoa; ấy là “dụng nhân như dụng mộc.”
Nguyên tắc thứ ba để đối với kẻ thù là cho họ cải tạo trong nội bộ đơn vị làm việc. Từng đơn vị có trách nhiệm phải theo dõi các hành vi của những kẻ hữu khuynh, hữu phái này, nghe ngóng lời ăn tiếng nói của họ. Những kẻ tả khuynh cũng giúp cho ta biết chỗ đúng chỗ sai của ta. Nếu chúng được cải hoá đúng mức, theo lời họ Mao, thì tốt. Họ sẽ cảm thấy an tâm sau khi được sửa sai. Trừ những người nào đó đầu óc cứng như đá thì họ phải chết với cái não cứng đó. “Chúng ta không còn cách nào hơn.” Nhưng ông tin số người cứng đầu này không là bao.
Họ Mao cho rằng ai cũng có thể giáo hoá được. Mọi người ai cũng có thể là người tốt. “Con bò sinh ra không cày đất và không cho sữa thì để làm gì. Con ngựa không dạy làm sao cưỡi được. Bò hay ngựa đều phải được huấn luyện để phục vụ con người. Một kẻ phản cách mạng, hoặc một tên gián điệp chẳng hạn phải có cái tài riêng mới làm được chuyện đó. Nếu không thì làm sao làm nổi? Vậy tại sao chúng ta không giáo hoá họ để sử dụng vào việc có ích?”
Cái làm họ Mao giận nhất là Liên Minh Dân Chủ. Ông nói: “Trong đó không một tên nào tốt cả. Chúng ta nghĩ cần phải giải tán cái Liên minh này nhưng vì chúng ta muốn tạo sự đoàn kết với họ. Nay thì Đảng Cộng Sản phải sửa sai cái Liên Minh Dân Chủ và các đảng dân chủ khác mới được. Chúng ta sẽ lọc ra hàng trăm ngàn phần tử hữu phái, không phải để giết hại họ, vì nếu giết thì phải giết hết. Nguyên tắc chúng ta nêu ra ngay từ thập niên 1940 tại Diên An rằng các cuộc sửa sai không nhằm bắt giết. Lúc ấy Vương Thế Uy đả kích đảng qua tờ báo do y xuất bản - tờ Hoa Huệ Dại – thì chúng ta biết y là người thuộc phe Trotsky và là một gián điệp. Tôi không cho giết y nhưng vì khi rút khỏi Diên An để tránh đợt tấn công của Quốc Dân đảng, nhân viên an ninh giết để phòng hậu hoạn. Tôi phê bình việc giết y.”
Vương Thế Vi cho đăng các bài chỉ trích đảng tại Diên An, lên án cuộc sống xa xỉ của các đảng viên trong khi hô hào tiết kiệm và bình đẳng. Các đảng viên vui chơi, nhảy đầm trong khi dân chúng lầm than đói khổ vì cuộc chiến tranh chống Nhật. Ông ta tuy lên án gay gắt các việc trên nhưng ông không phải thuộc phe Trotsky. Mấy năm sau các cuộc nói chuyên với họ Mao như vầy, tôi đọc Hoa Huệ Dại của họ Vương tôi thấy các lời cáo buộc của ông rất chính xác. Ông ta lên án những vụ tham nhũng y hệt như những gì tôi chứng kiến trong khu Trung Nam Hải. Thì ra sự thoái hoá của đảng bắt nguồn từ hồi còn ở Diên An.
Chúng tôi ngừng tại trạm đầu tiên ở Tế Nam, thuộc tỉnh Sơn Đông sau đó tiếp tục đi Thượng Hải. Tại đây họ Mao được một người ủng hộ hết mình là Chủ-tịch Uỷ ban Thành phố, Khải Thân Thuỵ, tiếp đón. Khải Thân Thuỵ là người duy nhất trong đảng gặp Lê-nin, từng theo học tại Viện Đại học Đông phương và làm việc tại một cơ xưởng tại Liên Sô. Khi Lê-nin đọc diễn văn có ông tham dự. Họ Mao kể rằng họ Khải không bao giờ quên được hình ảnh đó. Có lẽ vì vậy mà ông trở thành một nhà cách mạng. “Anh thấy ảnh hưởng của một lãnh tụ vĩ đại có tác dụng lớn lao như thế nào với quần chúng không?” họ Mao với tôi.
Khải đã chuẩn bị sẵn cho Chủ-tịch ngôi biệt thự xây bằng cẩm thạch có mái lợp bằng đồng, nguyên của một thương gia Do thái tên là Silas Hardoon đến đây làm ăn từ thập niên 1910. Biệt thự toạ lạc ngay giữa trung tâm thành phố có tường cao bằng gạch bao quanh. Vườn tược chung quanh biệt thự vẫn còn tươm tất, có thảm cỏ xanh rờn ôm vòng mấy chiếc hồ nhỏ nhỏ thả hoa súng, và vài cây cổ thụ. Tuy nhiên họ Mao kỵ ở trong các nhà kiểu Tây-phương nên cho dù họ Khải năn nỉ cách mấy ông cũng không chịu, và đòi trở về ở trên tàu.
Không giống những chuyến trước, chuyến đi lần này mang tính chất phô trương. Mọi người đều biết ông đến. Ông muốn chứng tỏ cho toàn quốc thấy ông vẫn còn nắm quyền và chiến dịch phản công những thành phần hữu phái đã bắt đầu.
Chiến dịch trả đũa thành phần hữu phái khởi đầu tại Thượng Hải. chúng tôi đến thăm các xưởng máy; nơi đó các công nhân đã dựng lên những tấm “đại bích chương” - tấm giấy khổng lồ viết chữ thật to, nội dung chống lại những kẻ hữu phái mà họ Mao khen là một sự sáng tạo vĩ đại. Ông nói chuyện với đảng bộ địa phương, quân đội, và cán bộ chính quyền sở tại. Ông cũng tiếp xúc với các văn nghệ sỹ thuộc thành phần tả khuynh của thành phố, gồm các cây bút như Ba Khải, nghệ sỹ Triệu Đán cùng vợ là Hoàng Tôn Anh, và nữ diễn viên Thanh Nghị.
Họ Mao mà tấn công thì họ Mao đi không ngớt. Sau Thượng Hải, chúng tôi đi ngay Hàng Châu, một trong những thành phố đẹp nhất Trung Quốc, có Hồ Tây thơ mộng nhất hoàn cầu. Tôi chưa hề thấy nơi nào thanh lịch như chỗ chúng tôi đến ngụ. Tên gọi Liễu Trang, nay được chỉnh đốn và sửa sang để cho họ Mao đến ở. Ngày xưa trang này của một thương gia buôn trà nổi tiếng giàu có. Toạ lạc trên một doi đất biệt lập trườn sâu vào Hồ Tây, với nhiều kỳ hoa dị thảo, Liễu Trang tuy nhỏ hơn và không nguy nga bằng Cung điện Mùa hè tại Bắc Kinh, nhưng có vườn rộng hơn và thanh lịch hơn những khu vườn tại Tô Châu. Xây theo kiến trúc xưa, Liễu Trang có nhiều tiểu lâu mái cong ngói đỏ đứng giữa hồ nước hoặc giòng suối dẫn vào bằng những chiếc cầu vồng bằng cẩm thạch. Dưới hồ có vô số cá, nhiều tựa như hoa trong vườn xuân, mặc tình cho anh đầu bếp tha hồ biến chế thành những món ăn tuyệt vời.
Nhà lãnh đạo Sô Viết Anastas Mikoyan đến gặp họ Mao tại Hàng Châu. Mục đích là để trấn an ông về vụ Malenkốp-Molotốp bị khai trừ và để giải quyết một số trở ngại trong các cuộc thương lượng về dự án phát triển vũ khí hạch tâm. Họ Mao sai tôi tiếp chuyện với ông này.
Nhà lãnh đạo Sô viết lùn, lưng hơi khòm trạc lục tuần này bị chứng sưng các khớp xương sau lưng và đầu gối. Ông hỏi chúng tôi xem dùng châm cứu có trị được không. Tôi liền thu xếp để ông được gặp một nhà châm cứu nổi danh tại Bắc Kinh, nhưng trong khi nói chuyện, ông mời tôi uống vodka rồi chuyển sang đề tài chiến tranh nguyên tử. Ông giật mình kinh sợ khi nghe họ Mao nói với ông rằng việc hy sinh sanh mạng của hàng vạn người không có gì đáng đặt thành vấn đề.
Một lần nữa họ Mao đưa ra lý luận về “con cọp giấy”. Họ Mao sẵn sàng hy sinh hàng chục triệu người để đương đầu với chiến tranh nguyên tử. Mikoyan quay sang nói cho tôi biết sự sát hại thảm khốc do bom nguyên tử gây ra như thế nào và ông hy vọng Trung Quốc sẽ lấy bài học kinh nghiệm của Liên Sô mà ngưng việc chế tạo bom hạch tâm. Phí tổn hàng chục tỉ rúp chỉ là một chuyện phụ; chuyện chính là hệ luy đến bệnh thiếu máu, sự suy kiệt tuỷ sống không đủ sức tạo ra huyết cầu và đã gây ra cái chết cho viên chức Sô-viết phụ trách việc thử nghiệm bom nguyên tử.
Tôi nói với ông: “Tôi là một y sỹ, tôi không biết gì về nguyên tử, nhưng đứng trên quan điểm y học, tôi chống đối. Đó chỉ là một thứ vũ khí như bao nhiêu thứ vũ khí khác dùng để giết người mà thôi.”
Tôi không có quyền bàn thảo gì thêm về vấn đề khá tế nhị này với một viên chức ngoại quốc. Tốt hơn hết tôi phải trình báo cho họ Mao biết. Đối với họ Mao vũ khí nguyên tử là phương tiện để chế ngự, không phải để giết người. Họ Mao nói: “Mikoyan từng nói với tôi là Liên Sô đã có đủ số bom cho cả hai nước. Cái dù nguyên tử của Liên Sô đủ để che chở cho chúng ta. Ngược lại Liên Sô muốn khống chế chúng ta. Vì lý do đó mà họ không thích chúng ta có bom nguyên tử. Họ sợ rằng chúng ta khiêu khích Hoa Kỳ. Chúng ta đâu có sợ gặp rắc rối với nước nào. Tôi nhất quyết chế tạo bom nguyên tử. Anh tin tôi đi. Không ai có quyền cản chúng ta. Không ai có quyền dạy khôn chúng ta và cũng không ai làm kẻ cả với chúng ta được.”
Nếu họ Mao sẵn sàng hy sinh mạng sống của hàng chục triệu người, tại sao họ Mao không chịu giết hết những kẻ hữu phái? Ông không ra lệnh hành quyết họ như trường hợp Vương Thế Vi, nhưng ông không ngăn cản người khác giết.
Tại Hàng Châu họ Mao nói chuyện thêm một lần nữa rồi nghỉ vài ngày để chuẩn bị đi Nam Kinh thuộc tỉnh Giang Tô, ở lại tại một biệt thự của cựu viên chức Quốc Dân Đảng trước kia. Bấy giờ là vào tháng Bảy, Nam Kinh nóng nực không chịu thấu. Nhiệt độ nhiều ngày lên đến trăm ngoài độ F. Họ Mao chịu nóng giỏi hơn tôi vì hàng ngày có cận vệ mang hàng thùng nước đá vào đặt trong phòng ông; chỉ khi nào ông nói chuyện về chống hữu phái, nước đá tan hết thì tôi cũng bắt đầu đổ mồ hôi.
Bên ngoài, chiến dịch đang lên cao. Họ Mao đọc các tài liệu Tham Khảo Nội bộ với vẻ hớn hở khi thấy trên các trang đăng dày đặc những lời chỉ trích của nhóm hữu phái. Chúng tôi gặp nhau để nói chuyện vãn thường xuyên hơn và kéo dài thâu đêm. Việc ông ngủ ít lại càng làm cho ông thích thú hơn vì tấn thảm kịch chính trị đang dần dần lan rộng ra mãnh liệt hơn.
Lâm Khải, người thân cận với họ Mao trong thời gian tôi về làm việc tại Bệnh viện Bắc Kinh, phân tích cho tôi thấy khía cạnh chính trị trong thái độ của họ Mao. Theo Lâm, họ Mao đang tìm cách hoà hoãn với các đối thủ của ông trong đảng để rảnh tay triệt hạ các thành phần trí thức hung hăng dám đả kích ông. Đặng Tiểu Bình là người trực tiếp thực hiện chiến dịch chống hữu phái này. Đôi khi họ Đặng cũng bất bình với họ Mao nhưng họ Đặng không nằm trong số người bị họ Mao cáo buộc “làm trì trệ”. Lâu về sau tôi mới biết họ Đặng trả thù những người hữu phái xem thường đảng này bằng cách nào.
Từ hậu trường, tôi thấy được mưu toan của họ Mao muốn sửa sai đảng vào năm 1957 qua Cuộc Cách mạng Văn hoá bất thành. Điểm ghi nhớ nhất trong biến cố năm 1957 là những đợt khủng bố gieo rắc lên thành phần hữu phái ngoài đảng. Kỳ thật chủ đích của họ Mao là nhắm vào các đảng viên chủ chốt trong đảng, những người phản đối ông, những người xem thường uy quyền ông và kêu gọi thận trọng hơn trước những ảo tưởng về một xã hội xã hội chủ nghĩa không tưởng mà ông thúc giục phải cố tạo cho bằng được.
Họ Mao muốn những người này bị tấn công, đả kích và thậm chí phải bị khai trừ. Ông không muốn ai đả động đến hệ thống xã hội chủ nghĩa hay quyền cai trị của Đảng Cộng Sản. Và hơn hết, ông không muốn ai đề cập đến vai trò lãnh đạo của ông. Phải đương đầu với tầng lớp người ngoài đảng, ông tạm thời lùi về núp dưới sự liên minh với các đồng chí đối thủ trong đảng. Và những đối thủ này giờ đây cũng hăng hái theo ông để tấn công nhóm hữu phái ngoài đảng vì chính họ cũng cảm thấy bị thương tổn.
Họ Mao đã cho giới cán bộ cao cấp biết rằng ông có thể kêu gọi sự góp ý của người ngoài đảng với dụng ý lấy mối đe doạ này làm cái thòng lọng treo bên cổ những kẻ dám thách thức đến quyền lực của ông. Hầu hết các cán bộ lãnh đạo nay đã rơi vào quỹ đạo của họ Mao. Vì lo sợ họ Mao lại nổi giận, và sợ sự phẫn nộ của giới trí thức chống lại họ khiến họ có lý do ủng hộ ông trong Chiến dịch Bước Nhảy Vọt và chia sẻ niềm tin vào giấc mơ không tưởng của ông. Họ Mao vẫn trắc nghiệm về quyền lãnh đạo đảng. Chủ-tịch vẫn tranh đấu để nắm lại trọn quyền, củng cố lực lương, tập trung sức mạnh để chuẩn bị đánh trả.
Trong lúc đó ông muốn triệu tập cuộc họp đảng để nắm tình hình. Trời Nam Kinh quá nóng. Một người có tật làm đệ nhất bí thư tỉnh Giang Tô là Giang Huy Thanh liền triệu tập các viên chức trong tỉnh đến để đề nghị dời đi một nơi khác dễ chịu hơn.
Họ quyết định đến Thanh Đảo, khu nghỉ mát ở vùng duyên hải thuộc tỉnh Sơn Đông, trước kia bị người Đức chiếm đóng. Nơi này mát mẻ có chỗ bơi rất tốt. Trời nóng quá nên Chủ-tịch phải bỏ xe lửa để đi bằng phi cơ IL-14 do Nga chế tạo. Trên đường đi có ghé lại Tế Nam. Nơi đây ông đánh động những người hữu phái qua bài diễn văn phát cho cán bộ đảng và cán binh trong khu vực Sơn Đông.
Thanh Đảo mát mẻ nhờ có gió biển. So với lò lửa Nam Kinh thì thật thật thần tiên. Thị xã này có nhiều đồi núi giống như Thành phố San Francisco và có lối kiến trúc kiểu Đức với những dãy nhà mái ngói đỏ, tường gạch đỏ có hàng cây chạy dọc theo tường gạch. Họ Mao và đoàn tuỳ tùng ngụ tại một lâu đài trên ngọn đồi nguyên xưa kia là dinh Thống đốc người Đức. Từ toà lâu đài trông ra biển và đảo mắt về hướng phố thị - cảnh trí thật vô cùng ngoạn mục.
Họ Mao đến thưởng ngoạn những nơi nổi tiếng trong vùng là hồ nuôi cá đẹp nhất Trung Hoa; viện Đại học Sơn Đông, nơi Giang Thanh từng sửa chữa những bài thuyết trình nói về Shakespeare của học giả Lương Sử Khưu; xưởng chế tạo xe lửa, nơi công nhân tỏ ra rất sung sướng khi được nhìn thấy họ Mao. Biện pháp an ninh rất nghiêm nhặt. Theo lẽ thì sự hiện diện của họ Mao phải được giữ kín nhưng qua những lần ông đi thăm và các cấm đoán đã làm cho dân chúng không khỏi thắc mắc. Nhiều đoạn đường bị cấm xe cộ lưu thông và người bộ hành qua lại.
Cuộc họp của bí thư các cấp trong tỉnh bắt đầu từ ngày 17 tháng Bảy năm 1957, ngay sau khi chúng tôi đến nơi, và tiếp tục mấy ngày liên tiếp. Người ta tập trung vào chiến dịch mở rộng chống hữu phái và vào phương thức chuyển hướng lên xã hội chủ nghĩa. Tờ Nhân Dân Nhật Báo đăng tải bản tường trình của họ Mao với nhan đề “Các Điều Kiên Chính Trị của Mùa hè 1957” với nội dung bài trừ hữu phái và tái khẳng định cái nhìn về chủ nghĩa xã hội - xây dựng một đội quân quy tụ những chuyên viên kỹ thuật có đầu óc xã hội chủ nghĩa. Họ Mao nói toàn những nghịch lý về sự tập trung quyền lực với nền dân chủ, về kỹ luật với tự do, về tính cách thống nhất ý thức hệ với tự do tư tưởng. Và mục tiêu, theo lời họ Mao, là trong vòng bốn hay năm mươi năm kể từ 1953 Trung Quốc sẽ qua mặt Hoa Kỳ để tiến lên xã hội chủ nghĩa rồi Cộng Sản chủ nghĩa. Đây là hình ảnh mới nhen nhúm trong đầu của họ Mao. Thật vậy chưa ai hình dung ra nổi xã hội như thế cả.
Sống trong tổ kén được bảo vệ kỹ lưỡng cùng với họ Mao, sống với những xa hoa không tưởng và bị che khuất mọi tầm nhìn, tôi hoàn toàn không biết chiến dịch bài trừ hữu phái thật sự ra sao - phạm vi của nó đến đâu, ý tôi muốn nói đến số phận của những cá nhân bị nêu đích danh phải chịu những hình phạt gì. Những gì họ Mao nói với tôi đã mang một sắc thái không tưởng rồi nên những hàm ý của ông trong các lần nói chuyện đó tôi càng không thể nào hiểu nổi.
Tại Thanh Đảo tôi bận rộn với một số công việc, nhưng không dính dấp gì đến chính trị.


Chương Hai Mươi Hai
Vấn đề của tôi là với Giang Thanh. Bà ta đã trở về vào tháng Tư, sau một thời gian chữa bệnh tại Liên Sô, trước ngày họ Mao gọi tôi về, sau đó cùng đi với họ Mao đến Thanh đảo. Phương pháp trị liệu bằng chất cobal 60 có kết quả, nhưng cái u đó ra đi đã để lại cho bà tánh khí gắt gỏng hơn, lo sợ cho bệnh tình mình hơn và khó khăn với người khác hơn. Sau khi ở trong lâu đài được hai ngày, bà ta đẩy hết mấy người tuỳ tùng của họ Mao ra, lấy cớ họ gây ồn ào. Ngay cả tiếng nước dội cầu cũng làm cho bà khó chịu. Bà hỏi: “Ai đến đây để nghỉ ngơi, các người hay tôi?”
Vẫn có hai người chuyên trách về phụ khoa đi theo để chăm sóc bà nhưng từ khi Từ Đạo thôi việc mùa thu năm 1956, bà ta không có bác sỹ riêng. Bà yêu cầu tôi làm việc cho bà. Tôi từ chối với lý do phải chăm lo sức khoẻ cho Chủ-tịch và vì tôi phải đi theo ông luôn trong khi bà chỉ thỉnh thoảng mới đi theo. Bà hiểu điều này nhưng vẫn muốn tôi giúp bà nếu bà cùng đi chung. Bà nói: “Ta không cần giúp nhiều, nếu không có anh ở gần thì các y tá của ta có thể gọi để hỏi ý kiến anh và nhờ anh kê toa giùm.” Tôi đành phải nhận lời.
Cũng vì nhận lời nên tôi mới bị rắc rối. Chừng mấy ngày sau khi đến ở tại lâu đài, giữa lúc đêm khuya và trời đang mưa như thác đổ, chuông điện thoại reo. Một cô y tá của Giang Thanh gọi tôi. Lúc ấy đã quá mười một giờ mà Giang Thanh đòi tôi phải đến gấp. Bà ta bị nghẹt mũi. Sau khi tôi hỏi kỹ thì biết mạch tim vẫn điều hoà, không sốt, tôi bèn nói với người y ta cho bà uống thuốc trị dị ứng và hứa ngày mai tôi sẽ sang xem bệnh. Tôi không có xe và trời mưa tầm tã. Đâu vì chỉ bị nghẹt mũi mà tôi phải lặn lội làm gì hoài công.
Vài phút sau điện thoại reo nữa. Giang Thanh nổi giận và sai y tá sỉ vả tôi nào là bác sỹ vô trách nhiệm, không khám bệnh mà cho thuốc. Tôi cũng giận không kém. Bấy giờ đã quá khuya, và Giang Thanh cũng phải biết trời đang mưa như cầm chỉnh đổ. “Bệnh” nghẹt mũi của bà ta có gì phải lo. Bà đòi tôi đến ngay thì thật chẳng biết điều. Tôi bèn nói ngang: “Nếu bà không ưa uống thuốc thì cứ tự nhiên. Ngày mai tôi đến.”
Qua hôm sau bà từ mặt tôi. Hai chuyên viên về phụ khoa sắp trở về Bắc Kinh nên bà cho mở tiệc tiễn đưa. Theo nghi thức thì tôi phải được mời đến dự nhưng bà giận, không thèm mời tôi. Bà bắn tiếng qua các người hầu hạ bà rằng bà trừng phạt tôi vì tội thiếu lịch sự với bà. Tôi thấy mừng trong bụng. Ăn tiệc với Giang Thanh là một khổ hình. Trong bữa ăn bà đem thuốc ra uống. Cứ mỗi thứ thì khách phải đợi một lúc, nào thuốc điều hoà tiêu hoá, thuốc tăng huyết áp, thuốc an thần và một mớ sinh tố. Ai tưởng bở đến dự tiệc với bà để thưởng thức món ngon vật lạ hay chuyện trò vui vẻ thì ôi thôi sẽ thất vọng to. Giang Thanh lúc nào cũng nói về chuyện bệnh hoạn của mình.
Đến lượt họ Mao bị cảm. Trời đã tháng Bảy rồi mà Thanh đảo vẫn còn mát lạnh và ướt át. Hàng ngày Chủ-tịch đều đi bơi tại bãi biển do Công an tỉnh Sơn đông dành riêng cho ông. Bệnh cảm bắt đầu xâm nhập ngay sau khi ông chấm dứt buổi họp, sau đó biến ra ho, lạt miệng và và trở nên bơ phờ. Thuốc tây của tôi không hiệu nghiệm nên sau vài ngày tôi đề nghị ông ngưng uống. Đệ nhất bí thư tỉnh Sơn đông, Thục Đồng, khuyên tôi nên mời bác sỹ đông y nổi tiếng tại Tế nam đến chẩn bệnh cho họ Mao. Đây là lần đầu tiên họ Mao chịu cho chữa bệnh bằng thuốc bằng đông y. Tuy ông cố nâng cao trình độ nền y học này, ông vẫn không tin tưởng vào nó vì phải uống nóng, thường có vị đắng. Nay vì không gượng nổi nên đành thử một phen. Ông nói: “Anh không cho tôi uống thuốc tây nữa thì tôi biết làm sao bây giờ?”
Tôi không hiểu lý thuyết về đông y, nhưng có nhiều bài thuốc trị bệnh khá công hiệu. Chính cha tôi nhờ thuốc cổ truyền này sống được sau khi uống thuốc tây vô hiệu quả. Tôi nghĩ họ Mao cũng nên thử một lần.
Họ Mao nói: “Vậy kêu họ tới xem bệnh cho tôi nhưng phải có anh giám sát.”
Bác sỹ đông y, Lưu Huệ Dân, người cao ốm, trạc độ sáu mươi tuổi, là người chơn chất thật thà. Vừa gặp họ Mao liền nói một câu để thu phục nhân tâm ngay: “Huệ Dân có nghĩa là làm ơn cho nhân dân. Vậy anh làm ơn chữa cho tôi đi.”
Bắt mạch xong, vị bác sỹ này nói: “Chủ-tịch bị nhiễm cảm sâu vào mấy kinh luôn. Chúng ta cần dùng thuốc để đẩy cái gốc cảm này ra ngoài mới được.”
Họ Mao đã biết mình bị cảm nên ông không mấy thích thú nghe thêm. Điều cần nhất là ông muốn cho hết bệnh. Ông nói với bác sỹ Lưu: “Ta không biết gì về thuốc bắc, có gì thì anh cứ nói chuyện với bác sỹ Lý.” Sau đó ông ra dấu cho hai chúng tôi lui ra. Bác sỹ Lưu cúi rạp mình xuống chào họ Mao theo kiểu cách xưa, xong tôi đưa ông ra ngoài để cùng Thục Đồng bàn cách chạy chữa.
Bác sỹ Lưu nói cần phải uống hai thang, sắc và uống trước khi đi ngủ và phải đắp mền thật kín để cho ra nhiều mồ hôi. Tôi biết Chủ tịch không muốn uống thuốc đắng và không thích trùm người cho nóng. Thường ngày ông thích phòng lúc nào cũng mát và khi ngủ chỉ đắp một chiếc khăn mỏng, chứ không chịu đắp mền.
Tôi phải giải thích cách chữa trị cho họ Mao biết. Ông rầu lắm. Tôi hỏi: “Chắc Chủ-tịch không thích trị theo lối này phải không? Nhưng nếu Chủ-tịch thử một lần, được thì tốt, không được thì thôi.”
Họ Mao chần chừ: “Nếu đã đắp mền thì mồ hôi đã vã ra như tắm rồi, cần gì phải uống thuốc?”
“Thưa đắp mền cùng với uống thuốc khác với đắp mền mà không uống thuốc chớ. Nếu Chủ-tịch thử một lần, không thấy kết quả thì thôi luôn.”
Họ Mao đồng ý: “Được, để ta thử một lần xem. Nếu không ra gì thì ta không làm nữa.”
Vợ của Thục Đồng sắc thuốc. Tôi kiểm ra tất cả các vị để biết chắc không có vị nào độc. Nhưng vì không có phòng thí nghiệm của Phùng Liễu Trường, nên tôi phải hỏi ý kiến của Văn phòng Y-tế Trung ương tại Bắc Kinh để tìm hiểu làm sao biết chắc các vị thuốc này uống vào không gây ngộ độc. Nhờ họ Mao có đường dây điện thoại đặc biệt có sáu bảy đường dây trực tiếp về Trung Nam Hải nên tôi liên lạc được dễ dàng. Văn phòng trung ương cho biết đã có Thục Đồng, là đệ nhất bí thư tỉnh Sơn đông tiến cử bác sỹ chữa bệnh thì nên tin. Tuy nhiên họ không giải đáp cho tôi câu hỏi làm sao nắm chắc được không có độc. Cuối cùng giải pháp đưa ra là: thuốc sẽ được phân ra làm bốn chén, một chén sẽ được khèn lại và gửi cho Văn phòng Y-tế Trung ương, hai chén sẽ do tôi và Thục Đồng uống thử nghiệm, nếu không thấy có dấu hiệu gì nguy hại, mới đưa chén còn lại cho họ Mao uống.
Họ Mao chịu một đêm khổ sở vì mồ hồi ra đầm đìa. Qua hôm sau ông vẫn không thấy thuyên giảm. Bác sỹ Lưu đề nghị nên uống thêm một thang nữa. Chúng tôi lặp lại phương cách trên.
Qua sáng ngày thứ ba, bệnh tình của họ Mao vẫn không suy suyển. Bác sỹ Lưu bắt mạch, xem lưỡi và cho biết bệnh đã lành. Họ Mao thì cho rằng chưa thấy bình phục. Ông vẫn cảm và vẫn ho. Các triệu chứng không thay đổi. Uống thêm ba ngày như vậy nữa, họ Mao vẫn không bớt bệnh.
Bác sỹ Lưu lấy làm lạ. Ông chẩn bệnh lại lần nữa. Lần này ông nói bệnh cảm đã hết nhưng vì kiệt sức nên thấy mệt trong người. Vậy là các thứ như nhân sâm, thuốc hồi lực uống vào để bồi bổ. Văn phòng Y-tế Trung ương đồng ý, tôi và Thục Đồng làm vật thí nghiệm, để họ Mao uống bốn thang như vậy. Rốt cuộc bệnh họ Mao vẫn không thuyên giảm. Trong khi Thục Đồng cam đoan với chúng tôi vài ngày sắp đến sẽ có nắng ráo nhưng chờ mãi không thấy. Tôi bèn đề nghị ông nên trở về Bắc Kinh. Ông đồng ý ngay. Chúng tôi về đến Trung Nam Hải vào đầu tháng Tám thì bệnh cảm của ông cũng tự động hết luôn.


Chương Hai Mươi Ba
Họ Mao muốn tôi học hỏi kinh nghiệm về chiến dịch bài trừ hữu phái này. Ông nói với tôi: “Anh giống như một kẻ ẩn dật, chui vào nơi thâm sơn cùng cốc nên chẳng thấy cái gì hết.” Ngay sau khi chúng tôi về đến Bắc Kinh, ông hối thúc tôi trở về Liên Hiệp Bệnh Viện Bắc Kinh để xem xét tình hình tại đó.
Liên Hiệp Bệnh viện Y-tế Bắc Kinh do quỹ của Rockfeller đài thọ từng là một trong những bệnh viện tối tân và tiện nghi nhất nước Trung Hoa với nhiều bác sỹ giỏi và một tổ chức điều hành khá hoàn hảo. Từ năm 1949, bệnh viện này cải tổ theo lối của Liên Sô. Một số người giỏi bị thuyên chuyển đi nơi khác và quyền quản trị chuyển sang cho Đảng. Người nắm quyền trong bệnh viện bây giờ là bí thư Trương Chí Thanh. Đối với các cán bộ lãnh đạo Đảng, họ Trương là một bác sỹ vì người này được huấn luyện về cứu thương trong lúc còn chiến tranh nhưng đối với các bác sỹ học ở Tây về thì không xem ông ta là bác sỹ. Người này thô lỗ và thiếu học. Nhờ có công theo cách mạng nên được xem là đủ phẩm chất để giữ chức vụ này.
Các bác sỹ thực thụ thuộc nhân viên bệnh viện, bạn bè tôi và một số giáo sư đều cảm thấy đau buồn về sự cải tổ này. Họ tin rằng bệnh viện sẽ không còn phẩm chất tốt của ngày trước. Họ cảm thấy việc gồm thâu quyền quản trị bệnh viện vào tay Bộ Trưởng Y-tế là một sự can thiệp vào nội bộ của bệnh viện. Khi có chiến dịch sửa sai, họ nói hết cái ấm ức này ra. Tôi báo cáo cho họ Mao biết mối lưu tâm này.
Họ Mao không thích lối diễn dịch của tôi về những vấn đề của bệnh viện mà còn cáo buộc tôi chỉ mới nếm một tí rồi không chịu ăn tiếp, do vậy ông bảo tôi phải sang một lần nữa để điều tra thêm.
Tôi tham dự một buổi họp chỉ trích các người “hữu khuynh” trong bệnh viện. Lý Trung Ân, giám đốc trường y khoa và Lý Khắc Hồng, giám đốc chuyên môn của bệnh viện là hai mục tiêu cho họ tấn công, và đối thủ của họ là các nhân viên làm việc tại phòng thí nghiệm - những người không có mấy kiến thức về chuyên môn và về cách điều hành một bệnh viện tân thời. Các bác sỹ trẻ thì nắm rõ hơn về lề lối làm việc của bệnh viện ra sao, và họ rất kính nể những bác sỹ đàn anh nên không tham gia. Hai bác sỹ này bị cáo buộc là có âm mưu xem thường Đảng bộ, có mưu toan muốn tiếm quyền quản trị bệnh viện trong các lãnh vực nhân viên, tài chánh, và hành chánh. Cuộc họp rất sôi động; đám đông rất háo hức và đầy căm phẩn.
Tôi thông cảm với hai vị bác sỹ này nhưng tôi biết nếu công khai phản đối là một điều thiếu sáng suốt. Không ai dám phê bình chỉ trích Đảng. Tôi làm việc cho họ Mao đã ba năm, nhưng tôi vẫn giữ kẻ và tuyệt đối không có ý kiến riêng. Họ Mao nghĩ sao, tôi nghĩ vậy. Không phải vì tôi mâu thuẫn hay tôi phải đè nén những ý kiến của mình để được an toàn mà tôi lấy ý kiến của họ Mao làm của tôi. Tôi không bao giờ tìm cách nghĩ khác với họ Mao làm gì.
Sau cuộc hội họp, tôi đến thăm Bác sỹ Trương Hiệu Khiêm. Người này cùng quê Hồ nam với họ Mao, thuộc một trong những vị bác sỹ kỳ cựu, từng được sắp xếp để khám cho Chủ-tịch tại Bắc Đại Hải. Họ Trương cũng là một cựu giám đốc của chính ngôi trường ông tốt nghiệp ra, tức trường Y khoa Yale-tại-Trung Hoa ở Hồ nam trước giải phóng. Mùa xuân vừa qua ông lớn tiếng tố cáo các cán bộ quản trị bệnh viện đã không hỏi ý kiên ông khi thuyên chuyển nhiều bác sỹ đi nơi khác. Bây giờ, đám người chống hữu khuynh đem ông ra mổ xẻ. Khi gặp tôi, bác sỹ Trương hối tiếc: “Tôi quả thật đã phạm một lỗi lầm ghê gớm là nói nhiều quá. Lẽ ra tôi không nên nói gì hết. Nhưng tôi đâu có ý muốn tiếm quyền của họ. Tôi chỉ nói rằng với tư cách trưởng khoa, tôi phải có chút quyền có ý kiến về các bác sỹ trực thuộc, nhất là cung cách làm việc của họ chớ.” Bác sỹ Trương nhờ tôi “phản ánh quan điểm của ông cho giới chức có thẩm quyền cứu xét” ý muốn nói họ Mao.
Khi nghe xong tường trình của tôi về mọi việc tại bệnh viện lần thứ hai này, họ Mao mỉm cười nói rằng tôi đã hiểu rõ phần nào. Ông giải thích rằng vấn đề nhân viên, tài chánh và hành chánh là ba khâu then chốt cần nắm vững. Mất ba khâu này thì không còn làm ăn được gì hết. “Chúng ta chiến đấu mấy năm liền, hy sinh biết bao xương máu để dành lấy cái quyền đó. Nay bọn hữu khuynh muốn đoạt lấy.” Nhưng ông tha thứ cho họ Trương, họ Mao nói, vì Bác sỹ Trương nghĩ quá đơn giản nên bị người khác giật dây. Nhờ đó Trương Hiệu Khiên không bị trừng phạt.
Hai bác sỹ Lý Trung Ân và Lý Khải Hồng kém may mắn hơn. Mấy tuần sau khi tôi đến thăm bệnh viện, họ bị đưa về nông thôn để “cải tạo” vì tội về phe phái hữu . Lý Khải Hồng, một trong số bác sỹ giỏi nhất Trung Hoa, nay bị đưa về làm nhân viên thư viện của một bệnh viện nhỏ tại Vân Nam, tận miền tây nam xa xôi. Bác sỹ Lý Trung Ân, cũng là bác sỹ xuất sắc, bị đày đi Quế châu. Hai người không bao giờ trở về Bắc Kinh; họ bỏ mạng sau đó vài năm.
Chiến dịch bài trừ hữu phái mỗi ngày một lan rộng nhưng thật tình tôi không hiểu ý nghĩa của chiến dịch này là gì. Tôi cũng không rõ đã có bao nhiêu người bị đưa đi các trại lao động cải tạo hoặc bị tra tấn vì sự “sửa sai” này. Nghe họ Mao nói thì thấy ông quả là người độ lượng đối với kẻ thù, lúc nào cũng cho họ cơ hội để sửa mình. Khi họ Mao nói ông chủ trương giết hại địch thủ, tôi rất tin. Tôi ủng hộ ông và chiến dịch bài trừ hữu khuynh. Họ Mao đúng là người tốt và Đảng Cộng Sản là một đảng tốt. Họ đã cứu nước Trung Hoa.
Chỉ sau ba năm, từ 1957 đến 1960, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Trần Ngọc cho tôi biết đã có hơn nửa triệu người bị buộc tội “hữu khuynh” tôi mới biết con số còn lớn hơn vậy và phần lớn số này bị chụp mũ. Thê thảm hơn là các đơn vị tiến hành chiến dịch được giao chỉ tiêu tìm hữu khuynh; ít nhất mỗi đơn như vậy phải moi ra cho được 5% phần tử hữu khuynh, bất kể họ có thật sự có đầu óc hữu khuynh hoặc thuộc phái hữu hay không. Vì vậy mà con số lên đến hàng trăm ngàn.
Cũng về sau tôi hiểu ra ý nghĩa hai chữ hữu phái là sao, hiểu người ta mất việc làm, hiểu người ta bị đưa đi lao động cải tạo để rồi chết dần chết mòn ở đó. Họ Mao đâu có giết ai. Nhưng lối cải tạo của ông đồng nghĩa với những tra tấn cả thể xác lẫn tinh thần một cách âm ỉ và nhức nhối mà chỉ vỏn vẹn có hai tuần tôi bị đưa đi cải tạo tôi mới thấm thía cái cuộc sống ở những trại này ra sao. Một người sức không vác nổi một “cân” (nửa ký) thì bị bắt phải vác bốn mươi cân, cho đến khi cơ thể người ấy quỵ xuống thì liền bị gán cho cái tội “hữu phái”. Sau đó họ bắt người này phải nhận hết những tội lỗi đã phản bội nhân dân. Người nào chết trong các trại cải tạo của họ Mao còn sướng hơn là sống.
Tôi muốn biết rõ hơn và họ Mao cho tôi cơ hội đó. Chính ông từng nói với tôi: “Nếu chúng ta gộp hết số địa chủ, phú nông, bọn phản cách mạng, phần tử xấu vào phe hữu phái thì con số sẽ lên đến gần ba chục triệu. Cho bọn chúng ở chung một chỗ thì thành một quốc gia rồi. Lúc ấy thì không biết là bao nhiêu rắc rối cho chúng ta. Nay chúng tản mạn trong hàng ngũ Đảng, cơ quan chính phủ thì chúng là những thiểu số đáng kể. Tính đổ đồng ba mươi triệu với dân số sáu trăm triệu thì tỉ lệ 1/20. Đó mới là điểm đáng sợ. Các cán bộ của ta không nhìn thấy điều này. Ta từng nói với họ nên giữ vững vị trí khi bị tấn công, nhận định cho rõ ràng, nhưng nhiều đảng viên lại sợ, không dám bám chặt vị trí, thậm chí còn có người muốn bỏ Đảng để hùa theo bọn hữu phái quay lại chống chúng ta. Bây giờ chúng ta đã nhận diện được chúng, chúng ta phải đánh trả.”
Đây là lần đầu tiên tôi nghe nói đến con số 30 triệu “kẻ thù của nhân dân”. Con số khổng lồ thật nhưng tôi không nghĩ họ Mao nói vô căn cứ. Ông ta phải dựa vào một nguồn tin nào đó đáng tin cậy. Về sau tôi biết con số thật sự còn cao hơn vậy nữa.
Thật không ngờ mạng người quá nhỏ bé đối với họ Mao. Ông nói: “Chúng ta có quá nhiều dân. Chúng ta sẵn sàng chịu mất một ít. Có thành vấn đề gì đâu?”
Rất may lúc đó tôi không hiểu nhiều về họ Mao, không biết phạm vi chiến dịch lan rộng đến đâu và không biết có bao nhiêu bạn bè đã sống lao khổ, bao nhiêu người chết dần mòn. Tôi nhiều lần muốn trốn thoát của bàn tay họ Mao nhưng lần nào ông cũng níu tôi lại. Bây giờ tôi hết cách bỏ trốn. Có rất nhiều thứ tôi có thể biết mà lại không biết. Giả sử tôi biết hết mọi thứ đang diễn ra bên ngoài cái tổ kén được bảo vệ cẩn mật này thì sao? Liệu tôi có chấp nhận được không, nhưng tôi có quyền hành gì. Hay là lúc ấy tôi không nhúc nhích cựa quậy được.
Người Trung Hoa có câu ngạn ngữ “nan đắc hồ đồ”, nghĩa là làm kẻ đần độn cũng khó – chỉ nhờ may mà được. Câu này áp dụng cho tôi thật thích hợp. Nhìn lại thời gian đã qua, tôi quả đần độn thật. Tôi phải như vậy. Chỉ có cách ấy tôi mới sống sót.

Tài liệu này đã được đọc 212 lần.

    • là người cập nhật hóa tài liệu này vào ngày

Current Discussion: Main discussion

  1. No comments have been posted for this discussion.