Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!

  1. Chapter
  2. Bí Mật Cuộc Đời Mao Trạch Đông - Phần I - Chương 28 - Trần Ngọc Dụng

Đây là một phần của sách 'Book:Bí Mật Cuộc Đời Mao Trạch Đông - Trần Ngọc Dụng'

Chương Hai Mươi Tám
Hè 1958, toàn dân ở Trung Quốc được huy động để thực hiện các công trình thuỷ lợi vĩ đại. Mọi người phải làm gãy lưng để hoàn thành. Đích thân họ Mao đứng ra huy động. Các dự án không nhằm chỉ khuếch trương kinh tế mà mang tính chất khoa trương khả năng sản xuất nông nghiệp. Họ Mao muốn dùng các công trình này để ca tụng sức cần lao và biến nó thành hình thức lao động ai cũng phải xem là vinh quang. Ông muốn lên án thành phần trí thức mà suốt đời ông căm ghét và nguyền rủa là thứ ăn bám xã hội. Chỉ có công nhân và nông dân mới xứng đáng được vinh danh.
Tại Bắc Kinh - theo cơ quan tuyên truyền của đảng cao rao - có hàng trăm ngàn người tình nguyện đi xây một hồ chứa nước sát bên cạnh những lăng tẩm của các vua triều Minh - cách thủ đô chừng ba mươi dặm. Mười ba trong số mười sáu vì vua của triều Minh an nghỉ tại khu này. Công trình làm hỏng hết các lăng này. Quân đội, cán bộ, viên chức chính quyền, công nhân, viên chức từ các trường học, nhà máy, cửa tiệm, mọi người đều phải tham gia lao động.
Các cán bộ cao cấp cũng phải tham dự. Họ chia nhau xuống cầm xẻng xúc đất làm kiểu để chụp hình, ghi danh vào sử xanh.
Chiều ngày 25 tháng Năm 1958, sáu xe buýt chở các cán bộ trong khu Trung Nam Hải, dẫn đầu là xe của họ Mao, đến đỗ tại khu công trường. chủ tịch ngồi ở hàng ghế áp chót trong xe. Tôi ngồi sau lưng ông. Ông nói với mấy người chung quanh: “Thường thường các cán bộ cấp nhớn được kẻ hầu người hạ. Bây giờ đến lượt chúng ta phải làm lao động chân tay. Người ta nói lao động chân tay thì tốt, nhưng ai làm rồi cũng bỏ cuộc. Người ta đến làm việc tại công trường này vì nhiều lý do. Nhiều người đến làm vì họ thích thú. Một số khác thì miễn cưỡng. Tuy nhiên lao động chân tay vẫn là vốn quý; làm việc chân tay còn tốt hơn là không làm gì cả.
Công trường đầy ắp người. Lực lượng chính là quân đội, công nhân làm việc ăn lương, nông dân từ các vùng lân cận và “những người tình nguyện” từ thành phố. Họ Mao đến để kích động tinh thần; đám đông reo hò ầm ỹ, hô vang khẩu hiệu khi Tướng Dương Thành Vũ, tư lệnh quân khu Bắc Kinh phụ trách công trình, nghênh đón chủ tịch khi ông vừa bước xuống xe buýt. Một đại đội lính đến tạo thành một lối đi cho họ Mao và phái đoàn tiến về phía lều chỉ huy. Họ Vương thuyết trình cho họ Mao trong khi ông nhìn quanh toàn bộ quang cảnh.
Xa xa, một con đập đang được xây cất. Trước mặt là một vùng đất đá rộng mênh mông, phủ đầy người. Hàng chục ngàn người đào đất, đập đá và xúc cát vào những cái ky khổng lồ cho ba bốn người dùng đòn khiêng đến mấy toa xe goòng chạy trên đường rầy dẫn xuống chỗ xây đập. Đầu kia làm ngược lại. Từ trên mấy toa xe goòng này, người ta dùng xẻng xúc đất, cát, đá đổ vào các ky khổng lồ rồi có người dùng đòn khiêng đến đổ vào chiếc xe có hàm cá sấu để nghiền nát thành sạn nhỏ. Một bộ phận khác gánh đến nơi đắp đập. Thật là vất vả.
Họ Mao đi về phía chân đập, theo sau là tướng Dương cùng các cán bộ lãnh đạo khác và tôi. Ông cầm cái xẻng và bắt đầu xúc sạn. Tất cả chúng tôi đều làm theo. Mỗi người một cái xẻng, cũng xúc, xới. Họ Mao ăn mặc rất chỉnh tề; áo sơ mi trắng tinh, quần xám nhạt, và giày vải đen. Hôm ấy trời rất nóng bức vì trời nắng gắt. Mặt họ Mao chẳng mấy chốc trở nên đỏ gay, và người đã phủ đầy bụi đất. Mồ hôi trên người ông tuôn xối xả hoà với bụi đất, tạo thành từng vệt loang lỗ trên lưng. Chừng nửa giờ sau, tướng Dương đề nghị chủ tịch nghỉ tay. “Lâu lắm rồi tôi không lao động như thế này. Nên mới làm gì có một tí thì đã mồ hồ đầm đìa.” Nói xong họ Mao ngừng tay; chúng tôi trở về lều nghỉ ngơi, dùng trà.
Họ Mao quay sang hỏi tôi: “Tại sao các người trong Nhóm Một, mỗi người thay nhau ra đây làm việc chừng một tháng nhỉ? Các người phải nếm chút mùi vị vất vả này. Nhiều người từ Bắc Kinh đến làm việc ở đây. Nhân viên Nhóm Một không thể bỏ về được đâu.”
Chiến dịch sửa sai của họ Mao vẫn còn tiếp diễn. Ông nhắm đến không những người trong đảng đã “phạm tội” mà còn cả những người bình thường như tôi. Chúng tôi cảm thấy xấu hổ vì đã “xa rời quần chúng”. Theo họ Mao, người của Nhóm Một sống một đời sung sướng - quá sung sướng. Chúng tôi ăn mặc đầy đủ, có kẻ hầu người hạ. Ông muốn chúng tôi phải nếm chút cực khổ của công nhân, nông dân bằng cách sống và chịu đựng như họ. Ông muốn chúng tôi - đặc biệt cá nhân tôi, là một kẻ sinh ra và lớn lên trong nhung lụa - phải biết mùi cay đắng. Như vậy có nghĩa là tôi sắp sửa phải chịu qua cảnh cải tạo lao động.
Họ Mao đã nói thì chỉ có cách phải làm theo. Tôi thật không chịu nổi cảnh làm công việc gãy lưng như thế này được nhưng buộc lòng phải chấp nhận: “Thưa được. Nhưng chúng ta phải trở về để chuẩn bị đồ đạc.” Họ Mao đồng ý.
Qua sáng hôm sau, xuất hiện trên trang nhất của tất cả mọi tờ nhật báo trên toàn quốc một bức hình họ Mao tay cầm xẻng, bao quanh bởi vô số viên chức cao cấp và dân thường miệng tươi cười. Bức hình cốt chứng tỏ cho mọi người thấy chủ tịch để tâm lo lắng đến quần chúng, cho mọi người hiểu chủ tịch xem trọng lao động chân tay và để chứng minh thiện chí của người; với cương vị như vậy mà vẫn giữ bản chất yêu lao động, muốn gần gũi với dân chúng - hình ảnh này sau đó được in tới in lui đến hàng vạn lần, trên tất cả báo chí, bài nhạc ca tụng chủ tịch Mao. Đó là lần duy nhất trong hai mươi hai đi theo họ Mao tôi thấy ông làm việc bằng chân tay, với cái xẻng trong không đầy nửa giờ. Trong lịch sử nhân loại chưa từng có một hình ảnh đơn giản nào mà có thể gây nên được một sự thôi thúc, hăng hái cho toàn dân trong một nước lao vào con đường lao khổ như của họ Mao.
Tối ngày họ Mao đi lao động biểu diễn về, chúng tôi gặp nhau tại hồ bơi có mái che để bàn về việc nhân viên Nhóm Một tham dự lao động tại công trình đắp đập. Họ Mao vừa mới bơi xong và đang dùng trà cùng Giang Thanh. “Công trình dự trữ nước tại khu lăng nhà Minh là một công trình lớn. Có hằng chục vạn người tình nguyện bỏ công bỏ thời gian ra tham gia. Ngay các người ngoại quốc cũng dự phần. Chúng ta không thể làm cho họ mất cao hứng. Ngày mai, anh, các bí thư và lính cận vệ sẽ lên đó làm chừng mười hay hai mươi ngày. Công việc đơn giản thôi. Chỉ cần xúc sạn, khiêng đi. Chịu mưa nắng một thời gian. Làm đến khi mệt thì nghỉ. Nếu không chịu nổi thì nói cho tôi biết. Tôi sẽ cho đem về.” họ Mao nói.
Họ Mao không trở lại công trường ấy nữa. vì bận việc quá. Ông nói chỉ cần một bí thư và một cận vệ ở lại với ông là đủ. Mọi người khác trong Nhóm Một đều đi hết. “Đi làm giúp tôi. Đại diện cho tôi được rồi.” ông nói. Quay sang Giang Thanh: “Còn bà thì sức khoẻ yếu kém, bà không cần phải đi. Nhưng nhớ đừng cầm chân ai ở lại cả. Để cho họ đi hết nhé.” Giang thị nói: “Thưa, em chỉ cần hai y tá thôi. Mấy người khác có thể đi được.” Bà thấy sự cắt giảm số người hầu hạ sẽ gây rất nhiều khó khăn cho bà.
Sáng hôm sau chúng tôi lên đường. Diệp Tử Long và Vương Tiến Trường cầm đầu. Các cán bộ của các tổ chức khác trong vòng đai thành phố Bắc Kinh cũng đã tự liệu đến tham gia lao động trong vòng hai mươi ngày. Chỉ có Nhóm Một là bết bát nhất. Các nhóm khác đã có người đến làm trước đó năm ngày.
Dù có lao động vất vả, nhân viên Nhóm Một vẫn ưu tiên hơn hết. Các nhóm khác đều phải ở ngoài trời. Họ thay phiên nhau ở trong các lều làm bằng cỏ bện hay ngủ trong các ổ rơm lộ thiên. Tướng Dương cho chúng tôi một phòng học của một trường trung học đệ nhất cấp trong khu vực thuộc địa phận hạt Phương sơn gần đó. Căn phòng trống với diện tích chừng hai mươi mét vuông. Chúng tôi ngủ trên nền, nằm sắp như cá mòi, và chỉ có thể nằm nghiêng một bên mới đủ chỗ. Một người xoay mình thì mấy người kia phải xoay mình theo. Ngủ nghê như vậy nên chúng tôi gần như chẳng bao giờ ngủ được. Tuy nhiên cũng nhờ ở Nhóm Một mới được ưu tiên như vậy.
Tướng Dương còn cho chúng tôi làm việc theo ca tốt nhất, từ khuya đến tám giờ sáng. Đến cuối tháng Năm, làm việc về khuya giúp chúng tôi tránh được cái nắng nung chín người. Hôm nào cũng vậy, làm việc xong, về đến nơi là vừa ăn sáng. Phần ăn sáng là bánh bắp, gọi là oa oa thủ, cháo trắng, và dưa muối - sau đó dự buổi học tập sáng trong đó xoay quanh đề tài nói về nền văn minh nhân loại xuất phát từ lao động chân tay mà ra. Bữa trưa tươm tất hơn một chút - rau xào, ít cơm, xúp nhưng nấu quá tồi, tôi nuốt không nổi. Ăn trưa xong, chúng tôi được ngủ đến chín giờ tối và chuẩn bị lên ca làm việc.
Từ chỗ ở đến chỗ làm việc đi bộ hết một giờ. Gần mười một giờ chúng tôi bắt đầu đi làm. Họ Mao nói công việc rất đơn giản, và quả rất đúng. Chúng tôi dùng xẻng đào đất đá từ lòng sông, đổ đầy các cái ky thật to. Đầy hai ky rồi thì một người dùng đòn gánh gánh đến toa xe goòng nào chưa đầy để chuyển đến nơi đắp đập. Lúc ấy tôi mới ba mươi tám tuổi, khoẻ mạnh, thường chơi bóng rỗ và tập thể dục dụng cụ vậy mà tôi thấy quá vất vả, nặng nề vì tôi chưa hề làm việc nặng bao giờ. Các bắp thịt chuyển động khác với các động tác thể dục thể thao nhiều lắm.
Đêm đến thì trời lạnh buốt vậy mà sau một hai giờ làm việc, ai nấy đều đẫm mồ hôi. Tôi thấy nhiều người đào đất dễ dàng như tôi cầm nĩa xóc thức ăn và có người gánh một lần sáu ky đất đá như vậy mà trông như không. Điệu đi của họ khi gánh đá cũng hay hay, uyển chuyển như đang múa, nhún nhẩy theo sự đàn hồi của chiếc đòn gánh, trông không có vẻ gì nặng nhọc. Đến gần toa xe goòng họ dùng một động tác rất nhẹ nhàng và chính xác, thẩy đất đá trong ky ra đúng vào chỗ muốn đổ. Hầu hết các người làm việc trong Nhóm Một gốc ở thôn quê nên việc này quá dễ dàng với họ. Riêng đối với tôi, mỗi nhát xẻng đưa lên cơ hồ như ngàn cân trì xuống và chiếc đòn gánh như muốn ngoạm sâu vào da thịt khi tôi kề vai vào. Tôi khổ sở lê từng bước gánh tới xe goòng.
Tôi cố gắng hết sức để bắt chước các đồng chí nông dân chừng nào thì người ngợm tôi ê ẩm, đau nhức chừng nấy. Đến một đêm nọ, tôi đuối sức, đổ hai ky đất vào xe goòng rồi chúi đầu luôn vào trong xe luôn – làm cho mấy người chung quanh một bữa cười thoả thích. Họ chọc tôi: “Không nhẹ nhàng như cầm ống nghe và dao mổ, phải không?” Lần đầu tiên trong đời tôi thấy mình bị coi khinh. Tôi hiểu được tâm trạng họ; chắc họ cũng biết sẽ vụng về khi phải cầm ống nghe và dao mổ như tôi đang vụng về với đôi bàn tay lao động thủ công này. Và trong khoảnh khắc tôi nhận ra ngay hình ảnh lao khổ của những người bị chụp mũ hữu khuynh rồi bị đày đi lao động khổ sai phải chịu đến mức nào. Dù sao tôi chỉ bị thử sức có hai mươi ngày.
Còn những người mang tội theo hữu phái thì phải chịu đựng biết đến bao giờ.
Hết ngày này qua tháng nọ, hết năm này đến năm khác, thử hỏi có bao nhiêu người sống sót để thấy ngày về?
Nhiều người tại công trường đề nghị tôi nên phụ trách việc khám bệnh cho những ai bị thương tích. Dĩ nhiên làm việc đó thì tôi thích vô cùng, nhưng họ Mao muốn tôi ra đây để nếm chút cay đắng của cuộc đời. Nếu tôi nhận lời làm y sỹ cho công trường, e rằng ông ta sẽ buộc tội tôi lánh nặng tìm nhẹ.
Sau lần đó, người ta chỉ cho tôi cách làm việc sao cho nhẹ công và đỡ tốn sức. Họ biểu diễn cho tôi cách gánh nhưng tất cả đều vô ích. Một đêm khác, trời mưa tầm tã, người tôi ướt đẫm và run lên vì lạnh. Vương Tiến Trường bảo tôi nên về nghỉ, trong khi mọi người vẫn làm việc cật lực. Làm sao tôi bỏ về một mình được. Vậy là tôi phải cố hơn nữa, giữa cơn mưa như trút nước mà mồ hôi trong người tôi toát ra ướt đẫm.
Đến ngày thứ mười lăm tôi hoàn toàn đuối sức. Không ăn được, không ngủ được. Tất cả sức lực còn lại của tôi cũng đã cạn. Từng thớ thịt đau như giần, tôi bước đi khó khăn. Ngày thứ hai mươi định cho các cơ quan quanh thành phố Bắc Kinh đều đã hết hạn và nay họ lục tục ra về, nhưng số Nhóm Một chúng tôi vẫn còn phải ở lại vì đến trễ năm ngày. Chúng tôi bàn nhau có nên ở thêm hay không. Không ai muốn tiếp tục – kể cả những cán binh từng tham gia Cuộc Trường Chinh cũng muốn thối lui. Tuy nhiên họ vẫn sợ bị họ Mao gán cho tội phần tử lạc hậu. Cuối cùng chúng tôi đành phải ở lại.
Đang rầu thì Tướng Dương Thành Vũ đến cứu như vị cứu tinh. Ông đến để tuyên dương công trạng của chúng tôi: “Các anh đã tỏ ra rất nhiệt tình hỗ trợ cho công trường. Thôi thì mười lăm hay hai mươi ngày cũng vậy. Làm việc cho chủ tịch một giờ còn có giá trị gấp năm ngày ở đây, vì vậy hôm nay tôi ra lệnh cho các anh về.” Ông vừa nói vừa cười. Chúng tôi mừng như mở cờ trong bụng. Được lệnh trở về Trung Nam Hải!
Tiếp đó, chúng tôi họp bình bầu cá nhân xuất sắc cho toán. Có người đề nghị tôi. “bác sĩ Lý đã tỏ ra nhiều cố gắng nhất,” người ấy nói. “Anh ta học cao như vậy, nhưng không bao giờ thấy tự cao tự đại. Anh lúc nào cũng sát cánh với chúng ta, không chểnh mảng công việc và kiên trì cho đến giờ phút chót. Thật xứng đáng là điển hình tiên tiến.” Mọi người đồng thanh chấp thuận.
Tôi không dám nhận danh hiệu đó. Thật mỉa mai cho tôi nếu tôi nhận là các nhân xuất sắc về một công việc mà tôi rất ghét. Tôi đến đây là vì họ Mao ra lệnh cho tôi phải vậy, không phải do tự ý tôi muốn. Với tôi danh hiệu đó không là gì cả. Tôi chỉ là một y sĩ. Sự vinh dự của tôi do nghề nghiệp mình tạo nên. Ngoài ra tôi còn biết, nếu tôi nhận thì người trong Nhóm Một như Diệp Tử Long, chắc chắn sẽ ghét tôi hơn nữa. Họ có thêm cớ để đâm thọc.
Tôi từ chối danh hiệu đó: “Là một trí thức như tôi, tôi lẽ ra phải chịu sự cải tạo lao động. Vì vậy tôi thấy mình không xứng đáng với danh hiệu này, Nếu không thì sự tự nguyện cải tạo của mình sẽ mất đi ý nghĩa.” Mấy người khác không chịu nhưng tôi nhất quyết chối từ.
Diệp Tử Long liền lên tiếng. Thật ra anh ta không thích tôi được bình chọn: “Bác sĩ đã từ chối như vậy rồi có nghĩa anh không thích danh hiệu này. Tôi nghĩ chúng ta nên tôn trọng ý kiến anh ấy.”
Thế nhưng cả toán không tìm ra người nào khác. Cuối cùng Tướng Đương Thành Vũ đưa ra giải pháp: “Tất cả các đồng chí làm việc cho chủ tịch phải không nào. Các đồng chí đều tích cực với công việc nên rất xứng đáng được tưởng thưởng. Vậy thì chúng ta sẽ gọi toán của các đồng chí là toán điển hình tiên tiến.” Thế là ổn thoả. Vui vẻ cả làng. Chúng tôi trở về Bắc Kinh, trong lòng hân hoan và hãnh diện.
Khi xe đổ tại khu Trung Nam Hải, tôi không vội về nhà ngay vì đã hai tuần qua tôi không tắm rửa được. Người ngợm hôi hám bẩn thỉu. Tôi không muốn gia đình nhìn thấy mặt mũi tôi lem luốc như vậy nên tìm đến nhà tắm có tiếng, Tinh Hoa Viện. Với năm “nguyên” (đơn vị tiền tệ của Trung Quốc) tương đương với 10 cân thịt bò, tôi thuê một phòng tắm riêng, có giường bố và bồn tắm lịch sự. Nhân viên nhà tắm kéo vào một bồn đầy nước ấm. Tôi bước vào ngâm mình trong bồn với tư thế thật thoải mái; lần đầu tiên sau mấy tuần lễ liền, nay mới có được cái cảm giác khoan khoái như vậy. Một chặp sau nhân viên nhà tắm đến kỳ cọ đất bám trên người bằng khăn. Sau đó lại thay nước khác. Mấy lần như vậy người tôi mới sạch sẽ. Các bắp thịt nhức nhối không chịu nổi. Quần áo tươm tất. Hai tiếng đồng hồ sau tôi chững chạc trở về nhà mẹ tôi tại Liễu Lập Trang.
Nhìn thấy tôi, mẹ và vợ tôi đều nói: “Anh ốm quá!” Vợ tôi hiểu rất rõ vì cô ta cũng có đi lao động tại hồ chứa nước chỉ một ngày mà khi về nhà người đã đen thui và mệt muốn đuối sức. Hai người bảo tôi nên ở nhà nghỉ vài hôm.
Tôi không dám nghỉ. Họ Mao đang đợi tôi và muốn tôi là người đầu tiên kể cho ông nghe những chuyện lao động. Tôi ngấu nghiến mấy món ăn do mẹ tôi nấu dọn, xong tôi chạy một hơi vào gặp chủ tịch.
Ông ta đang cùng ngồi với Giang Thanh bên hồ bơi. Thấy tôi, ông chọc liền: “Coi anh kìa. Sức gì trói gà không chặt! Anh bị té vào trong xe goòng hả? May mà anh bò ra sớm, nếu không thì người ta đẩy ra đổ xuống làm đập rồi còn gì!” Tôi đến quá trễ. Có người đã tường thuật mọi chi tiết về chuyến đi lao động hai tuần lễ cho ông biết rồi.
Giang Thanh hỏi tôi: “Anh thấy thế nào? Chui vô xe goòng có vui không?” Một y tá của Giang Thanh kể cho tôi nghe: “Họ ăn uống phủ phê, ở chỗ tốt và được người khác phục vụ vì họ thuộc ban tham mưu của họ Mao.” Và cô này tiếp: “Bây giờ mới đến lượt họ nếm chút cực thôi mà.”
Họ Mao khen khéo: “May mà anh không bỏ cuộc nửa chừng.” Tôi thú nhận: “Tôi đuối sức. Đúng là mình không phải nông dân.” “Các trí thức như anh chỉ biết nói và vẽ ra, chứ đâu có biết gì về lao động chân tay. Tôi không nói ngoa khi cho rằng trí thức phải thỉnh thoảng làm việc chân tay mới được. Có thế mới gần gũi với quần chúng và biết giá trị sức mạnh của người dân. Anh phải tham gia lao động thường xuyên hơn. Như vậy tốt lắm.” Lời của họ Mao nghe dễ sợ. Tôi chẳng trông mong đi lại lần thứ hai.
Câu chuyện lao động hai tuần lễ của tôi lan truyền khắp Trung Nam Hải. Việc tôi rớt vào xe goòng trở thành đề tài cho nhiều người đem ra chọc cười được lặp đi lặp lại một thời gian khá dài.

Tài liệu này đã được đọc 237 lần.

    • là người cập nhật hóa tài liệu này vào ngày

Current Discussion: Main discussion

  1. No comments have been posted for this discussion.