Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!

  1. Chapter
  2. Bí Mật Cuộc Đời Mao Trạch Đông - Phần I - Chương 51 - Trần Ngọc Dụng

Đây là một phần của sách 'Book:Bí Mật Cuộc Đời Mao Trạch Đông - Trần Ngọc Dụng'

Chương Năm Mươi Mốt
Họ Mao đã thấy quan tài. Và ông quyết định đẩy mạnh kế hoạch. Mùa hè năm 1962, ông xuất hiện. Khi nghe ông nói trong vài tháng tới sẽ đứng ra chủ toạ hai hội nghị, tôi biết ngay màn phản công đã bắt đầu. Tôi chỉ không biết ai là nạn nhân đầu tiên.
Ngày 6 tháng Tám, hội nghị đầu tiên nhóm tại Bắc Đại Hải, quy tụ một số cán bộ Bí-thư cấp tỉnh. Bộ trưởng và họ Mao đưa ra một bài lấy tên “Giai cấp, Tình hình và Sự Mâu thuẫn”. Từ ngữ trong bài này được gọt dũa kỹ lưỡng với toàn thuật ngữ của chủ nghĩa Mác để ông mở màn tấn công chính đảng của mình. Không dễ gì loại bỏ cán bộ lãnh đạo mà ông không thích vì ông không có quyền làm như vậy. Giống như các cán bộ khác, ông phải dùng đạo dức Mác-xít để phê phán hành động. Dựa trên đạo đức này, ông mới động viên đám đông quay mặt chống lại các cán bộ lãnh đạo mà ông loại trừ.
Theo phân tích của ông thì vấn đề giai cấp chưa đặt ra trong thời kỳ đầu quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Thậm chí lúc tiến hành tập thể hoá, giai cấp trong xã hội vẫn còn tồn tại. Họ Mao nói, cuộc đấu tranh giai cấp phải duy trì một cách bền bĩ, vì sự mâu thuẫn giữa tư bản và vô sản, giữa hai con đường xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa luôn luôn nảy sinh, do đó cần thiết phải có đấu tranh giai cấp.
Trong phiên họp Khoá Mười của Đại hội Uỷ Ban Trung ương nhóm vào tháng kế tiếp tức tháng Chín 1962, họ Mao đưa ra lập luận giải thích cho sự đả kích của ông càng tinh vi hơn. Không chỉ giai cấp và đấu tranh giai cấp còn tồn tại, họ Mao nói, mà cuộc giằng co giữa tư sản và vô sản luôn luôn diễn ra, nhiều khi rất gay gắt. “Giai đoạn lịch sử từ cách mạng vô sản đến chuyên chính vô sản và từ thời quá độ tư bản chủ nghĩa tiến lên Cộng Sản chủ nghĩa, phải mất vài thập niên hay dài hơn nữa.” Theo ông, Trung Quốc đang gặp phải nguy cơ chủ nghĩa tư bản trổi dậy nên phải chiến đấu chống lại bằng con đường đấu tranh giai cấp không khoan nhượng.
Ông còn cho rằng Đảng Cộng Sản đã trở thành chỗ dựa cho chủ nghĩa tư bản; thành phần tư sản hiện diện ngay trong hàng ngủ các cấp uỷ Đảng.
Hai bài diễn văn nặng mùi đấu tranh này mở màn cho những đợt tấn công rộng khắp. Thành phần trí thức được ông chiếu cố đầu tiên, vùa họ vào với Chu Ân Lai và Trần Ngọc và làm đảo ngược sự dung hợp giữa trí thức và công nhân vừa được hai người này thai nghén. Ông nói: “Đảng chưa giáo dục trí thức một cách thích đáng. Tinh thần tư sản vẫn còn vướng vất trong tâm trí họ như những bóng ma. Họ lúc nào cũng chao đảo.”
Ông lớn tiếng tấn công Bành Đức Hoài. Họ Bành có gửi trình một bản kêu gọi cho ông được phục chức bằng cách ủng hộ công xã nhân dân và thề rằng không bao giờ có chuyện lập nhóm phản Đảng hoặc thông đồng với Liên Sô. Thay vì chấp nhận lời thỉnh cầu này, họ Mao còn gia tăng sự chỉ trích, tố giác ông không những chỉ thông đồng với Liên Sô mà cả với những lực lượng phản động trên thế giới; ám chỉ Hoa kỳ. Họ Mao nó, Bành đang cấu kết với tập đoàn phản động thế giới để chống lại toàn thể các nước Cộng Sản. Ông nói, đối với Bành Đức Hoài và bè lũ, không bao giờ có sự thay đổi quyết định về số phận của họ. Tha thứ cho kẻ thù là một việc không thể chấp nhận được.
Sau đó ông quay sang tấn công Lạt Ma Panchen của Tây tạng. Lạt Ma này kết tội ông là “kẻ thù của giai cấp chúng ta”. Vị lãnh đạo tinh thần của Tây tạng, Đức Đạt Lai Lạt Ma, phải bôn tẩu lưu vong năm 1959 khi những cuộc thương thuyết giữa chính phủ Trung Quốc và các nhà lãnh đạo Tây tạng tan vỡ và dân chúng Tây tạng đã nổi loạn. Sự rạn nứt xảy ra tiếp theo sau lời tố giác của Lạt Ma Panchen, mà thường vẫn khúm núm trước Bắc Kinh, rằng cái gọi là “những cải cách dân chủ” của Bắc Kinh đã thiên về bên tả quá nhiều. Ông hỵ vọng nên chấn chỉnh khuynh hướng cực tả tại Tây Tạng này nên được chấn chỉnh.
Lý Vỹ Hán, chủ tịch Mặt trận Thống Nhất của Đảng, người ủng hộ Lạt Ma Panchen, là nạn nhân thứ hai bị họ Mao chĩa súng vào. Họ Mao cáo buộc Lý là một “kẻ thoả hiệp”, tố cáo ông quỵ luỵ các ông chủ Tây tạng và chỉ trích ông đã dung hợp trí thức công nhân. Tức thì họ Lý bị bãi chức. Lạt Ma Panchen không bị bãi chức trở thành đề tài cho người khác đả kích. Trong cuộc Cách mạng Văn hoá, Lạt Ma Panchen bị quản thúc tại gia đến mười năm.
Vương Tiến Trường, phụ trách các Văn-phòng Trung-ương của Đảng đề nghị thắt chặc mối quan hệ với Liên Sô và các nước Đông Âu đồng thời giảm bớt các viện trợ kinh tế cho các Đảng Cộng Sản đang đấu tranh giải phóng tại Á châu, Phi châu và Châu Mỹ La tinh. Tức khắc, Vương bị họ Mao tước quyền và bị cáo là xét lại. Họ Vương không bị mất chức nhưng quyền hành được chuyển qua cho Triệu Huy Mân.
Họ Mao xem chương trình giao khoán đất cho nông dân là một hình thức duy tư bản nên ra lệnh cho ngưng ngay tức khắc, với lý do chính sách nặng màu tư bản và phải bị loại trừ. Ông đả kích Đặng Tử Huy và Liêu Lục Ngạn, là hai người đặc trách về nông nghiệp trên toàn quốc. Đặng Tử Huy, chủ nhiệm Ban Công Tác Nông Thôn từng khuyến khích chương trình nông nghiệp cởi mở từ ngay thời gian tôi mới vào Nhóm Một trong giữa thập niên 1950. Liêu Lục Ngạn, Bộ trường Nông Nghiệp trực thuộc Hội đồng Nhà Nước, từng cho rằng Bước Nhảy Vọt làm xáo trộn tình hình hơn cả thiên tai, thì bị gán cho tội xét lại.
Tăng Tích Thanh, đệ nhất Bí-thư tỉnh An huy là Bí-thư địa phương đầu tiên bị khai trừ, ngay sau khi cuộc họp chấm dứt. Công cuộc thí nghiệm nông nghiệp thành công của tỉnh này bị đình chỉ; sản lượng nông nghiệp của một tỉnh vốn nghèo cùng vùng thôn quê đang đau khổ này cùng kéo nhau vào cơn bế tắc cùng cực.
Cát Mân, Bí-thư huyện Lâm Hiệp, thuộc tỉnh Cam túc - nghèo khổ nhất Trung Quốc chẳng khác gì An huy - là người thứ hai trong danh sách. Cát Mân áp dụng cách giao khoán và kết quả rất khả quan. Sản lượng nông nghiệp gia tăng. Bí thư Đảng uỷ Cam túc, Vương Phương, chứng kiến cảnh đói khát lan tràn trong tỉnh nhà vì hậu quả của việc thành lập nhân dân nông xã nên đã ủng hộ Cát Mân, cho thi hành việc giao khoán. Họ Mao buộc hai người vào tội “dọn đường cho tư bản” nhưng chỉ một mình Cát Mân bị loại, năm 1962. Mãi đến tháng Tám năm 1966 Vương Phương mới bị mất chức. Khi Cách mạng Văn hoá bắt đầu, ông thuộc ba người bị họ Mao ghép vào tội “những kẻ phản động xét lại”. Cát Mân lại bị kết tội một lần nữa, chịu không thấu phải tự vẫn.
Mùa thu năm 1962 là thời điểm cho họ Mao xoay chuyển nội bộ đảng. Quyết tâm của họ Mao là đấu tranh giai cấp không ngừng cho dù duới chế độ xã hội chủ nghĩa đã bịt được mọi tiếng nói của lý lẽ, tiếng nói của bất mãn ngấm ngầm. Tinh thần cởi mở và quả cảm của hội nghị 7000 cán bộ nay đã đảo ngược. Những ai có lòng vì quê hương dân tộc, những ai mạnh dạn chịu nhận lãnh trách nhiệm để đưa sản lương lương thực gia tăng từ những hợp tác xã, những cán bộ nào mạnh dạn chia đất cho nông dân canh tác, nay đều phải im hơi lặng tiếng không dám hó hé. Lập luận của họ Mao về giai cấp và mâu thuẫn giai cấp làm đường hướng cho những vụ thanh trừng tiếp theo mà cao điểm vào năm 1966 là Cuộc Cách Mạn Văn hoá Vô Sản Vĩ đại. Làm phật lòng họ Mao tức là muốn trở thành kẻ phản động và “kẻ lót đường cho tư bản chủ nghĩa”; đối với họ Mao đây là một đại tội.
Những đợt thanh trừng kéo dài sau Khoá họp thứ Mười vào tháng Chín năm 1962 và nhân vật phụ trách việc này là Khang Sinh.
Khang Sinh là một đảng viên kỳ cựu từng theo họ Mao từ Diên An. Người ta đồn Khang Sinh đã bảo lãnh cho Giang Thanh vào đảng rồi sắp xếp cho thị đến Diên An để gặp gỡ và trở thành vợ của họ Mao. Cả Giang Thanh và Khang Sinh đều là người Sơn đông, có bà con thân thiết với nhau từ trước cách mạng 1949.
Lần đầu tiên tôi gặp Khang Sinh năm 1958. Sau năm 1949, ông không tích cực tham gia chính trị vì trong khoảng đó ông đang nằm bệnh viện mãi đến khi có Chính sách Bước Nhảy Vọt mới thấy xuất hiện. Lúc ấy ông trở thành một trong những người ủng hộ họ Mao triệt để. Các bạn tôi làm việc trong Bệnh viện Bắc Kinh có nhiệm vụ chữa trị cho Khang Sinh đều nói họ Khang bị chứng loạn tưởng, nhưng tôi không hiểu vì lý do gì ông này được cho xuất viện. Tôi không tiếp xúc nhiều với người này, nhưng thấy ông thường đến thăm họ Mao. Họ đều nói chuyện riêng với nhau và ít khi thấy người này nói chuyện cười đùa theo lối xã giao như các cán bộ lãnh đạo khác mỗi khi họ đến gặp chủ tịch Mao.
Sau năm 1966 trở đi ông và Giang Thanh tỏ ra thân thiết hơn, nhất là trong thời kỳ Cách Mạng Văn hoá. Hai người thường mời tôi cùng xem những phim Mỹ mà Giang Thanh thích. Cử chỉ của Giang Thanh kính trọng họ Khang đặc biệt hơn với bất cứ người nào khác. Bà thường hỏi ý kiến ông và luôn luôn nhớ nằm lòng những câu ông căn dặn. Giang thị gọi ông là Khang Lão, cách xưng hô với người trưởng thượng vừa bày tỏ lòng thương kính trong ngôn ngữ Trung Quốc. Ông là người duy nhất bà ngoan ngoãn phục tùng với sự trân trọng như vậy.
Tôi thường tìm cách tránh tiếp xúc với Khang Sinh, vì tôi có cảm giác ông ta là người cực kỳ nguy hiểm nhưng không thể giải thích được. Bề ngoài ông ta có vẻ tráo trở. Thậm chí nhìn bức hình chụp của ông, tôi cũng nhận ra nét nham hiểm. Tôi nghĩ ông có sự liên hệ mật thiết với bề đen của đảng, với những hành vi bỉ ổi, tàn độc, xoi mói đời tư kẻ khác, tạo ra kẻ thù mới, tìm tòi mục tiêu để tấn công. Tôi không thích trở thành đối tượng của người này; ngay cả họ Mao cũng không muốn tôi như vậy. Thế nên có rất nhiều thứ tôi không biết về người này.
Hoạt động chính trị của họ Khang để lại nhiều dấu vết lên Khoá Mười. Khi họ Mao chỉ trích Phó Thủ tướng Hy Trung Tuần đã cho phục chức đám Cao Đảng và chống Đảng, họ Khanh được giao phó nhiệm vụ điều tra “âm mưu chống Đảng củ Hy Trung Tuần”. Kết quả, họ Khang cho ra một danh sách hơn ba trăm cán bộ trong đảng, chính phủ, quân đội, kể cả uỷ viên trong Uỷ Ban Trung ương Gia Thái Phục, Mã Vân Thuy, Bộ trưởng Lao Động trực thuộc Hội Đồng Nhà Nước, và Bạch Kiểm, Thứ trưởng Bộ Cơ Khí.
Tôi biết rõ Hy Trung Tuần và vụ ông cùng một số nguời khác bị buộc tội như trên chỉ là chụp mũ. Nhưng nhiệm vụ của Khang là trừ khử đồng chí của y và tiếp tục “những cuộc điều tra” các cán bộ cao cấp trong đảng từ đầu thập niên 1960 để dọn đường cho Cuộc Cách Mạng Văn hoá sắp diễn ra. Sau Khoá họp thứ Mười này, rất nhiều người trở thành nạn nhân; họ Hy bị đưa về Hà Nam và bị quản thúc tại gia cho đến năm 1980. Các người khác trong danh sánh trên không thoát khỏi số phận bị lưu đày hoặc giam cầm.
Sau Khoá họp thứ Mười, họ Mao cũng tìm cách nắm quyền về nông nghiệp, cho đình chỉ mọi lối canh tác riêng rẽ mà ông cho là sự trỗi dậy của chủ nghĩa tư bản. Tiến trình thực hiện chậm chạp, và vấn nạn sai lầm trong Bước Nhảy Vọt nhanh chóng bị quên lãng, cho mãi đến tháng Năm 1963, trong một cuộc họp bộ chính trị và ban bí thư vùng tại Hàng châu, họ Mao mới tuyên bố một cách đắc thắng, rằng ông đã nắm trọn quyền trong tay. Liền đó một dự thảo có tên là Giải Pháp Cho Một Số Vấn Đề Về Công Tác Nông Thôn vào Thời điểm Hiện tại được đưa ra thảo luận. Đề cương của dự thảo này là tìm giải pháp cho việc lực lượng phong kiến và tư bản manh nha trở lại với nông thôn Trung Quốc, dẫn đến đấu tranh giai cấp tại các vùng thôn quê. Để giải quyết, họ Mao tung ra chiến dịch gọi là “giáo dục xã hội chủ nghĩa” đi vào các làng quê Trung Hoa. Kẻ thù của giai cấp phải được vạch mặt chỉ tên, cán bộ và nông dân phải học tập về chủ nghĩa xã hội và đấu tranh giai cấp.
Sống trong bọc nhung của Nhóm Một tôi thật sự không biết gì nhiều về những gì xảy ra trong các vùng nông thôn Trung Quốc - ngoại trừ Bước Nhảy Vọt mà hậu quả của nó thê thảm, phục hồi rất khó khăn và chậm chạp. Tôi không hiểu chiến dịch giáo dục xã hội chủ nghĩa của họ Mao là gì. Ngồi trên xe lửa sau khi tham dự cuộc họp vào tháng Năm 1963 tại Hàng châu về, tôi nói chuyện với Uông Đông Hưng và Lâm Khải về chiến dịch đó. Hôm ấy là lần cuối cùng Lâm Khải trước khi ra đi, không bao giờ trở lại. Đã biết nhân dân nông xã được tái cấu trúc và nông dân gần lấy lại sức sống thì tại sao, tôi vạch cho hai người thấy, họ Mao muốn khuấy động lên một lần nữa. Ông còn cho cán bộ thành thị về các thôn làng để xem xét tình hình tài chánh và kinh tế của các nhân dân nông xã. Hẳn ông cho rằng nhiều cán bộ đia phương đã quá tham nhũng trong thời kỳ đói kém chăng. Các toán thành thị này vừa phải thông hiểu những khó khăn của làng xóm và đồng thời phải đóng vai điều tra viên ngoại cuộc để tìm tòi các cán bộ nào tham nhũng, vấn đề phân phối thực phẩm ra sao, tài sản phân chia thế nào, và nhân viên làm việc trong các công xã trả lương ra sao.
Vợ tôi Thẩm Tiên được cử đi theo những toán đầu tiên về vùng quê. Vậy là chiến dịch có ảnh hưởng trực tiếp đến tôi. Tôi phải lo chăm sóc hai con - John đang học trung học, còn Erchong đang học mẫu giáo, nhưng không biết làm sao vì tôi phải túc trực tại chỗ của họ Mao suốt ngày. Lỡ ông ta đi các nơi thì còn kẹt nữa.
Việc cử Thẩm Tiên đi mang ý nghĩa gì? Nàng là con địa chủ mà làm việc “giáo dục xã hội chủ nghĩa”! Nàng không phải đảng viên Cộng Sản, gia đình nàng còn bị liệt vào thành phần kẻ thù của giai cấp. Nàng đi điều tra và giáo dục cho giai cấp kẻ thù như vậy có lợi gì?
Khi tôi đến can thiệp cho nàng khỏi bị đi thì giám đốc Viện Nghiên Cứu Tây Á và Phi Châu thuộc Uỷ Ban Khoa Học Xã Hội, nơi nàng làm việc với tư cách nhân viên nghiên cứu, thì một người đồng nghiệp của nàng nói, sở dĩ nàng bị đi là vì lý lịch “không trong sạch”. Hãy trông bao nhiêu người có lý lịch như nàng đã bị cải tạo, nay nàng phải có cơ hội để tự cải tạo. Người ấy nói, ai cũng có gia đình cả. Và nếu ai cũng được miễn vì lý do không người chăm sóc con cái thì làm sao thực hiện chiến dịch được. Trung ương đã đưa ra chiến dịch. Mọi người phải biết hợp tác để thi hành, bất chấp mọi khó khăn khác.
Cuối tháng Chín 1963, Thẩm Tiên lên đường đi về nông thôn.
Tôi phàn nàn với Uông Đông Hưng. “Cán bộ lãnh đạo của chúng ta đòi hỏi chúng ta phải làm việc ngày đêm.” Tôi nói tôi xem ông là cán bộ lãnh đạo, “vậy mà không ai chiếu cố đến khó khăn cá nhân của chúng ta cả. Đối xử với nhau như vậy tệ quá.”
Họ Uông đến nói với Văn Phòng Y Tế Trung Ương nhờ can thiệp, giải thích với cấp trên của Thẩm Tiên rằng chồng nàng là bác sĩ riêng của Chủ Tịch Mao. Nàng liền được lệnh trở về ngay.
Trong chiến dịch giáo dục xã hội chủ nghĩ này Lưu Thiếu Kỳ cũng gặp rắc rối với họ Mao. Lưu dùng chỉ thị của họ Mao, sửa đổi theo ý ông xong gọi đó là chỉ thị của ông với tiêu đề Quy Định Về Những Chính Sách Đặc Biệt Trong Phong Trào Giáo Dục Xã hội Chủ Nghĩa Tại Nông Thôn (dự thảo). Nhân một buổi họp của Uỷ Ban Trung Ương Đảng nhóm vào tháng Chín 1963 để bàn về chủ trương của họ Lưu, họ Mao đùng đùng nổi giận cho rằng Lưu đã xem nhẹ nổ lực nâng cao cuộc đấu tranh giai cấp. Theo chỗ tôi biết, họ Mao nổi giận là vì họ Lưu không những không thi hành chủ trương này mà còn dám sửa đổi bản dự thảo của họ Mao làm thành của mình - chứ không phải vì nội dung có tên là Mười Điểm Thứ Nhì. Sau cùng, họ Mao phải là người nói gì cũng đúng. Dự thảo của ông được mang ra cho cuộc họp thảo luận; những từ ngữ, lời lẽ trong đó được giữ nguyên; bất cứ sự sửa đổi nào cũng đều làm cho nó vẩn đục, dơ bẩn.
Họ Mao còn giận Lưu hơn nữa, là Lưu đã xâm phạm đến quyền tối thượng của ông. Trong dự thảo lấy của họ Mao, Lưu Thiếu Kỳ có ý muốn quyền hành nằm trong tay mình khi đề cập đến hai chữ trung ương. Theo họ Mao, chỉ có ông, một mình ông, duy nhất, là trung ương. Không bao giờ có chuyện hai trung ương.
Năm 1964, nổi căm giận đối với họ Lưu tăng cao hơn nữa, khi họ Lưu cử vợ ông ta là Vương Quang Mỹ cầm đầu một nhóm điều tra tình hình sản xuất tại Đào viên, Hà bắc. Phái Vương Quang Mỹ đi công tác là việc làm chính đáng. Nhưng họ Mao không muốn một đoàn người theo Vương thị rồi khi trở về làm rùm beng trước một đám đông cán bộ để tạo thành một tiền lệ cho các toán điều tra khác. Họ Mao không thích Lưu cho vợ cái quyền đó. Ở giai đoạn này, tuy khó tin nhưng có thể nói, tôi đoán được hai cái gai trước mắt mà họ Mao muốn nhổ không ai khác hơn là Lưu Thiếu Kỳ và Đặng Tiểu Bình. Trong khi chờ đợi thời cơ chín muồi, ông tỉa dần các chân tay bên dưới và vẫn để cho cán bộ chóp bu kia ăn no ngủ yên.
Mỉa mai thay, trong khi ông đả kích chuyện họ Lưu trao quyền cho vợ thì Giang Thanh cũng bắt đầu nhận nhiệm vụ chính trị mới.

Tài liệu này đã được đọc 162 lần.

    • là người cập nhật hóa tài liệu này vào ngày

Current Discussion: Main discussion

  1. No comments have been posted for this discussion.