Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!

  1. Chapter
  2. Bí Mật Cuộc Đời Mao Trạch Đông - Phần I - Chương 52 - Trần Ngọc Dụng

Đây là một phần của sách 'Book:Bí Mật Cuộc Đời Mao Trạch Đông - Trần Ngọc Dụng'

Chương Năm Mươi Hai
Giang Thanh xuất hiện trước công chúng lần đầu tiên vào ngày 29 tháng Chín năm 1962, chỉ hai ngày sau khi phiên nhóm Khoá Mười chấm dứt. Lúc ấy bà tiếp phu nhân Tổng thống Sukarno, và bức hình của phu nhân chủ tịch Mao lần đầu tiên xuất hiện trên Nhân Dân Nhật Báo vào ngày hôm sau. Khi họ Mao bắt tay với phu nhân Tổng thống Sukarno, Giang Thanh trong bộ Âu phục, đứng giữa hai người, miệng cười toe toét; phía sau là phu nhân của Chu Ân Lai, Đặng Doanh Triều. Tờ Nhân Dân Nhật báo từng đăng hình của vợ Lưu Thiếu Kỳ, Vương Quang Mỹ nhiều lần qua những lễ lược. Với tư cách chủ tịch nhà nước. Lưu Thiếu Kỳ ra đón và bắt tay bà Sukarno tại phi trường. Vương thị với danh nghĩa đệ nhất phu nhân Trung Quốc, theo chồng ra đón đệ nhất phu nhân của Nam Dương.
Sự xuất hiện của Giang Thanh gây nhiều chú ý trong dân chúng. Như vậy là vi phạm điều cấm bà tham gia chính trị đã có từ lâu, nhưng vì Vương Quang Mỹ nên Giang Thanh phải ra mặt, cho đúng với phong tục ngoại giao. Ngoài ra, sự xuất hiện này còn có dụng ý chính trị. Gia tài văn hoá và nghệ thuật Trung Hoa sắp mai một duới tay bà và chính nền văn hoá và nghệ thuật này là mảnh đất cho Cuộc Cách Mạng Văn Hoá Vô sản sắp sửa được tung ra chọn làm đất đứng.
Thoạt tiên nhờ sinh hoạt chính trị mà cuộc sống của bà trở nên thoải mái hơn. Càng lao mình vào các sinh hoạt chính trị, các chứng suy nhược thần kinh và hoang tưởng của bà càng vơi dần. Tôi ít bị gọi giật giọng đến giải quyết những việc rầy rà về các cô y tá hầu hạ bà. Nhưng đối với tôi bà vẫn một lòng thù hận và nay bà muốn dùng ưu thế chính trị của bà để tìm cách ăn thua với tôi. Cuộc đụng độ đầu tiên giữa tôi và Giang Thanh mới đổi lốt xảy ra đầu năm 1963.
Tôi nghe tin Nhà hát Bắc kinh mới được cải tổ và đang trình diễn vở tuồng Hồng Đào bản mới. Hồi còn nhỏ tôi đã mê xem ca kịch, và nay vở này được dàn dựng với cái tên mới Lý Huệ Nương. Những tên tuổi nổi danh trong làng văn nghệ gồm cả Thiên Hân, một cây bút viết kịch trứ danh, cũng viết bài ca tụng tình tiết vở kịch và nói lên nổi lòng và sự trả thù của người đàn bà bị bóc lột. Giám đốc Ban Mặt Trận Thống nhất Bắc kinh, Liễu Mộ Hạ, viết thêm một bài với bút hiệu Phạm Hưng, hết lời ca tụng vở tuồng này, và thêm rằng phần về ma trong vở kịch không có gì sai trái.
Lúc còn nhỏ tôi được xem vở tường Hồng Đào này nhưng tôi không nhớ rõ những tình tiết. Ngoại trừ cảnh nói về hồn ma người con gái đẹp hiện về, nhảy múa một cách thướt tha trong tà áo lụa trắng tinh là tôi còn nhớ rõ. Nay nghe vở tuồng đang diễn, tôi háo hức muốn đi xem lại nhưng vì phải ở bên cạnh họ Mao suốt ngày nên đành thôi.
Rồi, như ngẫu nhiên, một đêm nọ họ Mao nói về tuồng hát. Ông nói ông không thích tuồng hát nào có vai gái đẹp, mà chỉ thích các nhân vật trung niên. Nghe nói tuồng Lý Huệ Nương này vừa có cả vai gái đẹp và vai trung niên, tôi liền đề nghị ông nên đi xem.
Ông đồng ý. “Vậy kêu họ vào trình diễn tại Hoà Nhân Sảnh đi. Như vậy tất cả có thể xem được. Bảo Uông Đông Hưng sắp xếp đi.”
Buổi trình diễn được xem là một sự kiện đặc biệt nên tất cả mọi người trong Trung Nam Hải đều đến dự xem, kể cả vợ tôi.
Giữa lúc trình diễn, tôi đang ngồi sau lưng họ Mao bỗng nhận thấy mình đã làm một việc quá khờ dại. Tôi không nhớ nội dung câu chuyện nên khi đến đoạn gây rắc rối là lúc tướng quốc nhà Tống là Giả Thời Đạo lúc ấy là một ông già đang xem ca vũ trên thuyền thả trên Hồ tây ở Hàng châu - một nơi họ Mao thích đến nhất. Bầy tỳ thiếp của họ Gia đang bao quanh ông thì bỗng, Lý Huệ Nương, một trong số tỳ thiếp này nhìn thấy một chàng thư sinh đi ngang qua. Cô nàng la lớn lên: “Thật là chàng trai tuấn tú!” khiến họ Gia nghe được. Họ Gia giận quá bèn ra lệnh hành hình người tì thiếp mà ông sủng ái nhất. Cảnh tôi còn nhớ là người con gái này hiện về - bóng ma người đẹp tìm cách trả thù ông.
Ngay lúc người con gái trong cảnh buộc miệng kêu lên khi thấy chàng thư sinh, thái độ của họ Mao thay đổi. Ông ta bỗng đùng đùng nổi giận - một lối nổi giận tôi ít khi thấy. Ông trân người lại, mắt nhướng lên. Tôi biết mình đã dại dột tạo cho ông cảm tưởng phạm thượng. Cảnh diễn ra trước mắt không khác nào đang kể lại chính cuộc sống trụy lạc của ông. Ông tàn nhẫn từ chối lời van xin của người đàn bà đến với ông để được quyền lấy chồng khi trở về quê cũ. Không được, người đàn bà này đã tố cáo ông là tên tư sản dâm dãng.
Buổi hát kết thúc, họ Mao vỗ tay vài cái rồi vội vã đứng dậy, hầm hầm ra về chứ không nhiệt liệt tán thưởng như mọi lần trước, tuơi cười bắt tay các diễn viên, cảm ơn rối rít. Tưởng đề nghị của mình đem đến niềm vui cho ông, nào ngờ lại chuốc lấy tai hoạ. Trên đường về không ai nói điều gì. Tôi biết ông giận tôi và đang tìm cơ hội để quạt cho tôi một trận.
Ít hôm sau, xuất hiện trên tờ Văn Hữu Báo những bài lên án tác giả viết vở tuồng lẫn người phê bình là Liêu Mộ Hạ không có lập trường ý thức hệ đúng đắn, thiếu tính chất đấu tranh giai cấp. Vở tuồng bị cấm trình diễn, cấm các cảnh ma hiện hồn. Họ Mao bắt đầu chỉ trích Bộ Văn hoá không có sự chỉ đạo sát sao trong công tác kịch nghệ và gọi bộ này chi để phục vụ cho “vua chúa và quần thần trong triều, cho những người trẻ có tài, và những tên nước ngoài chết bầm”. Không ngờ một vở tuồng với diễn xuất và cảnh dàn dựng tuyệt vời như vậy lại trở thành đề tài chính trị và ý thức hệ to tát, đưa đến những cuộc đấu tranh giai cấp mà họ Mao suy diễn để áp đặt lên toàn dân Trung Quốc.
Nhiều tháng trôi qua, tôi vẫn chưa yên. Uông Đông Hưng đến nói với tôi: “Chúng ta gặp rắc rối to.” Giang Thanh cho rằng tuồng Lý Huệ Nương quá bậy; một hột giống khá độc nói về ma quái, ca tụng mê tín dị đoan.” Giang Thanh biết không phải chính miệng họ Mao đòi xem vở kịch này mà có người xúi ông đi xem. Các cán bộ cao cấp hoặc ban bí thư không ai đề nghị. Vậy thì người đó phải là thân cận với họ Mao hoặc là ủng hộ cho Nhà hát Bắc kinh. Bà biết tôi thích hát tuồng nhất trong số những người thân cận với họ Mao và họ Mao thường nói với tôi về môn giải trí này. Vậy chỉ có tôi đã đưa đề nghị đó, nhưng bà không nêu tên tôi ra.
Họ Mao bảo vệ tôi, không phải vì ông thương tôi nhưng vì ông cần tôi chữa bệnh cho ông. Khi Giang Thanh đến hỏi họ Mao ai đã đề nghị ông xem vở tuồng ấy thì ông bảo đã quên. Uông Đông Hưng cũng che chở cho tôi bằng cách nói rằng không biết ai đề nghị mà chỉ biết tuân theo lệnh của chủ tịch. Hơn nữa, ông nói, không biết gì về tuồng tích nên không biết hay hoặc dở.
Giang Thanh vẫn nằng nặc đòi tìm biết cho bằng được và buộc cả họ Uông phải tìm cho bà. Uông báo động cho tôi biết: “Bà ta đang tìm cách búa anh đó. Bà muốn anh ra khỏi nơi này. Bấy lâu nay bà đang tìm một cái cớ xác đáng và đây là dịp bằng vàng đối với bà.” Ông nói thêm, Giang Thanh không dễ gì bỏ qua chuyện này. Bà quyết chụp cho tôi cái mũ hữu khuynh cho bằng được.
Cuối cùng, Uông Đông Hưng và tôi bàn với nhau rằng nên cho Giang Thanh biết vì họ Mao đọc xong bài báo của Thiên Hân nên muốn đi xem thử. Chúng tôi trình với họ Mao như vậy, và ông đồng ý. Uông Đông Hưng đưa bài báo cho Giang Thanh đọc.
chủ tịch phu nhân mắt sáng lên. Than ôi, việc này của chúng tôi làm đã gây hại cho Thiên Hân. Bà có chứng cớ trù dập ông. “Thì ra mấy tên trong bọn nghệ sỹ, văn chương đứng đàng sau giật dây.” bà nói với tôi sau khi đọc xong bài báo. “Tốt lắm. Để mấy thằng trôi sông lạc chợ đó thò đầu ra cho ta tóm hết. Chúng chạy trời cho khỏi nắng.” Bà định đi Thượng Hải. Bà và Khải Khánh Đà nay đã thành liên minh chặt chẽ, và hai người trù tính mở đợt tấn công.
Tuy nhiên bà chưa chịu buông tha tôi mà vẫn cố tìm kế điệu hổ ly sơn để bắt tôi. Trước khi lên đường đi Thượng Hải, bà bất chợt hỏi tôi: “Anh xem tuồng Lý Huệ Nương rồi phải không? Anh thấy thế nào?”
Tôi trả lời: “Tuồng đó diễn lâu rồi. Người ta chỉ làm cho náo hoạt vậy thôi, tương tự như tuồng Bạch Đầu Nương vậy thôi. Cả hai vở tuồng đều nói lên tình cảnh người thiếu phụ bị cường hào ác bá hành hạ.” Nghe tôi nói vậy, bà thắc mắc tại sao hai vở tuồng lại giống nhau được.
Tôi giải thích rằng hai vở tuồng đều nói lên người phụ nữ bị đàn áp nổi lên để trả thù. Trong Bạch Đâu nương thì nhân vật còn sống nhưng bị đánh đập tra tấn tàn nhẫn chẳng khác nào đã chết thành hồn ma. Trong Lý Huệ Nương thì chết thật và hồn ma trở về. Giang Thanh cho lời tôi nói vô lý. “Hai vở tuồng khác nhau xa hoàn toàn. Một bên có hồn ma; như vậy là đề cao óc mê tín, không tốt cho quần chúng.”
Tôi giải thích thêm: “Nhưng kịch nghệ là một nghệ thuật. Ma đây chỉ là sự dàn dựng mang tính chất biểu tượng. Như kịch Hamlet của Shakespeare chẳng hạn, cũng có ma. Đó đâu phải là mê tín.”
Giang Thanh không đồng ý. Đối với bà, nói đến ma là mê tín và khơi động sự đối kháng giai cấp. Shakespeare là người Anh và ông đã chết, vở kịch của một người ngoại quốc đã chết không có tác dụng tiêu biểu cho thực tế đang diễn ra. “Không thể lấy chuyện ma trong các vở kịch của Shakespeare ra mà bảo như vậy chúng ta chấp nhận chuyện ma quái. chủ tịch đã thấy có nhiều vấn đề nguy hại trong lãnh vực văn nghệ cần chấn chỉnh. Anh nên tin lời tôi đi.” Bà cảnh cáo tôi.
Đối với Giang Thanh, tôi là người quá bảo thủ và không thể nào gột rữa được cái chất tư sản trong người tôi. Nếu tôi cứ tranh cãi với bà, thế nào cũng bị bà gán cho hai chữ hữu khuynh. Rất dễ dàng. Mới bốn mươi ba tuổi đời mà tóc tôi bắt đầu điểm sương vì quá sầu lo vì phải làm việc cho Nhóm Một. Người tôi ốm hơn trước, nhưng tôi vẫn phải sống, vì lợi ích của bản thân tôi phải ngậm miệng làm thinh.
Giang Thanh đi Thượng Hải với cương vị một nhà duyệt xét văn hoá. Khải Khánh Đà, một kẻ nhất mực trung thành với họ Mao, hâm hở phò tá Giang thị. Ông giới thiệu bà với Trương Xuân Kiều, chủ nhiệm Ban Tuyên Huấn Thượng Hải. Chương trình làm việc thật bận rộn. Bà đi xem hết rạp này đến tuồng khác, hết kịch này đến ban nhạc khác. Đi đâu bà cũng nói: “Tôi chỉ là một người lính, đi tuần hành trên trận địa ý thức hệ giúp cho chủ tịch. Tôi chỉ quan sát rồi báo cáo cho chủ tịch.”
Bà quan sát và nhìn thấy những gì? Không cần ngạc nhiên vì ai cũng biết bà nhìn thấy đâu đâu cũng bị chủ nghĩa tư bản làm ô nhiễm, đâu đâu cũng bị cái quá khứ xấu xa làm ảnh hưởng.
Ngày 12 tháng Mười hai năm 1963, họ Mao bảo tôi đọc bài báo cáo những kết quả do Giang Thanh điều tra ra được trong lãnh vực văn hoá do Khải Khánh Đà đúc kết, lấy tên là Báo Cáo Đúc Kết Về Những Thay Đổi Cách Mạng Trong Kịch Nghệ Tại Thượng Hải. Họ Mao khen bài này, ông nói: “Chúng ta đã xây dựng nền tảng chủ nghĩa xã hội về kinh tế, nhưng thượng tầng kiến trúc - tức văn chương và nghệ thuật - chưa có gì thay đổi. Những người có xác không hồn vẫn còn nắm giữ lãnh vực nào. Chúng ta không đánh giá thấp các thành tựu của mình trong lãnh vực phim ảnh, kịch nghệ, dân ca, hội hoạ và tiểu thuyết, song còn nhiều vấn đề tồn tại, nhất là trong địa hạt sân khấu. Chúng ta cần nghiên cứu kỹ vấn đề này. Thậm chí giờ nầy mà đảng viên vẫn còn ca tụng nghệ thuật của thời phong kiến và tư bản mà xem thường nghệ thuật xã hội chủ nghĩa. Thật là sái quấy.”
Mấy tháng sau, họ Mao quay sang chỉ trích Hiệp Hội Văn Nghệ Toàn Trung Hoa: “Trong suốt mười lăm năm qua những tổ chức và đoàn thể dưới quyền hiệp hội này không thực thi chính sách đảng. Họ vẫn hành động như những lãnh chúa, xa rời quần chúng, không muốn tiếp cận với công nhân, nông dân và chiến sĩ. Họ không phản ánh được cách mạng xã hội chủ nghĩa là thế nào. Con đường họ đang đi là con đường xét lại. Nếu những tổ chức này không được cải tạo triệt để thì một ngày kia chúng sẽ trở thành một loại Câu Lạc Bộ Petofi của Hung Gia Lợi mà thôi.” Khi các công nhân trẻ tại Hung Thành lập Câu Lạc Bộ Petofi năm 1954 để đòi quyền tự do và dân chủ, chính quyền chờ đến hai năm sau mới ra tay đập tan, năm 1956. Tại Trung Hoa lúc này họ Mao đang có kế hoạch đập tan tương tự để tiêu diệt những người bất đồng chính kiến với ông.

Tài liệu này đã được đọc 188 lần.

    • là người cập nhật hóa tài liệu này vào ngày

Current Discussion: Main discussion

  1. No comments have been posted for this discussion.