Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!

  1. Chapter
  2. Bí Mật Cuộc Đời Mao Trạch Đông - Phần I - Chương 59 - Trần Ngọc Dụng

Đây là một phần của sách 'Book:Bí Mật Cuộc Đời Mao Trạch Đông - Trần Ngọc Dụng'

Chương Năm Mươi Chín
Sau cuộc họp với Bành Chân và Lữ Đình Nghị, họ Mao trở nên cáu kỉnh, gắt gỏng. Thuốc ngủ bây giờ hết tác dụng. Có ngày ông thức suốt hai mươi bốn giờ, ăn ít lại và ít bữa hơn trước. Tôi cho tăng lượng thuốc ngủ lên một chút nữa nhưng chỉ đợi khi nào ông thật mệt mới cho uống. Lo lắng vì lượng thuốc ngủ phải gia tăng, tôi còn lo hệ quả mất ngủ của một người có tuổi như ông. Nhưng rất may, sau chừng một tuần lễ, việc ăn ngủ của ông trở lại bình thường, nhờ vậy tôi mới bớt lo.
Vừa thoát lo cho họ Mao thì Trương Ngọc Phụng đến báo: “Tối hôm qua chủ tịch nói có ai rình trên rầm thượng của nhà khách ông đang ở. Ông nói tối nào ông cũng nghe có tiếng động gì trên đó.”
Tôi suýt bật cười. Ý tưởng gì kỳ cục. Làm gì có chuyện người nào lẻn lên rầm thượng được? Hàng rào an ninh chung quanh họ Mao chằng chịt như vậy mà. Nhưng Trương Ngọc Phụng tỏ vẻ nghiêm trọng như họ Mao vậy.
Tôi biết chắc không người nào trên rầm thượng cả. Có thể là súc vật; chuột hay mèo gì đó. Khi chuyện này đưa ra cho các nhân viên tháp tùng, một cận vệ nói anh nghe tiếng như tiếng mèo hoang.
Các cận vệ đặt bẫy, dùng cá làm mồi. Sau hai ngày, hai con mèo hoang bị bắt - một con to bằng con báo và con kia chỉ bằng mèo nhà. Biệt thự của họ Mao tại Vũ Hán ở lọt vào trong rừng và ít khi dùng đến nên súc vật thường ra vào không ai để ý.
Hai con mèo hoang bị bẫy chết để ngoài sân cho họ Mao và các người khác xem. Tôi cho rằng người ta đã áp dụng lý thuyết “kẻ xấu” thì phải bị cho an nghỉ. Vậy mà hoang tưởng của họ Mao vẫn còn rất mãnh liệt. Ông cứ nghĩ có người rình rập trên rầm thượng. Cho nên ông muốn đi ngay.
Vài giờ sau khi hai con mèo hoang bị sập bẫy, chúng tôi trên đường đi Hàng Châu.
Tại Hàng Châu, họ Mao cũng vẫn còn nóng ruột. Thấy vậy, tôi có linh tính về một tình hình chính trị khá căng thẳng. Chúng tôi đến được vài giờ thì vợ Lâm Bưu, Diệp Quân, đến từ Tô Châu, nơi vợ chồng bà thường ở. Bà đòi vào gặp họ Mao tức thì. Hai người nói chuyện kín suốt ba giờ liền. Không ai trong Nhóm Một biết nội dung hai người nói gì.
Ngay tối hôm ấy, khi chúng tôi ăn cơm, họ Mao nói với tôi: “Tôi không biết Đặng Tiểu Bình điều hành cái ban Bí-thư Trung ương theo lối gì nữa. Trước kia y có vấn đề khiến nhiều người thắc mắc, chưa xong thì bây giờ lại có vấn đề. Bành Chân là một. Y kiểm soát cái Đảng uỷ Thành phố Bắc Kinh chặt chẽ đến độ không có gì lọt vào đó được, không một giọt nước nào rớt vào trong đó được. Lữ Đình Nghị thì kiểm soát Ban Tuyên Huấn kỹ như Diêm Vương khiến không một người tả khuynh nào vô lọt. Còn La Thuỵ Khanh nữa; y không chịu chủ trương 'Lấy chính trị làm đầu' và khuynh hướng chiết trung, còn Dương Thượng Côn là một người chuyên môn thu lượm tin tức để chuyền cho hết người này đến người khác.” Từ ngày vụ gài máy bị phát giác, Dương Thượng Côn bị họ Mao nghi là gián điệp. Ông kết luận một cách đay nghiến: “Cũng cái Ban Bí-thư của Đặng Tiểu Bình này.”
Một hai ngày sau, Giang Thanh đến thăm họ Mao. Vừa thoáng thấy bà, tôi đã nhận ra ngay con người bà có sự thay đổi hoàn toàn. Bà đi dứng rất nhanh nhẹn, lưng thẳng tưng, không còn dấu hiệu gì bệnh hoạn nữa. Bà hầu như không thèm để ý sự có mặt của tôi ở đó; mà chỉ nghếch đầu một cái rất cao ngạo. Số người hầu hạ bà nay đã giảm xuống còn một y tá, một người sai vặt và một cận vệ do Thượng Hải phái theo. Bà ta hết phàn nàn kêu ca khó chịu vì ánh sáng hoặc tiếng lớn hay tiếng người xôn xao. Chứng nhức đầu cũng biến mất. Tai không còn nghe tiếng vo vo. Bà mặc nhiên không cần sự chăm sóc của bất cứ bác sĩ nào.
Giang Thanh chỉ ghé lại thăm chồng trong chốc lát rồi lên đường về lại Thượng Hải ngay. Nhưng sau lần thứ hai bà đến thăm họ Mao và ở lại mấy ngày, tôi mới biết họ bàn tính chuyện gì.
Lâm Bưu và Giang Thanh đang hiệp sức thành một liên minh. Hai người triệu tập một hội nghị tại Thượng Hải ngày 2 đến 10 tháng Hai năm 1966 để bàn về ý thức tư tưởng quân đội-hổ trợ văn nghệ. Giang Thanh vấn ý họ Mao về biên bản hội nghị đó, và họ Mao cho tôi đọc tài liệu đã được đúc kết.
Tài liệu đặc mùi Mao. Lữ Đình Nghị bị tố cáo rằng từ ngày thành lập Nước Cộng hoà Nhân dân đến nay “lãnh vực văn chương và những nhà chuyên nghiệp nhất đã đứng ở vị trí của một lực lượng đen để tìm cách khống chế nền chính trị của chúng ta.” Nội dung tài liệu không làm tôi ngạc nhiên bằng mối liên hệ mới giữa Giang Thanh và Lâm Bưu: Đời chính trị của Lâm Bưu thăng tiến nhờ bàn tay của phu nhân chủ tịch. Ông chiếm cảm tình của họ Mao bằng cách chiếm cảm tình của vợ họ Mao trước. Đây là phương cách thường thấy xảy ra trong suốt các thời kỳ lịch sử của Trung quốc, nhưng tôi không bao giờ tin tưởng vào người sử dụng nó vì bản chất xảo quyệt của nó. Dùng Giang Thanh làm tiếng nói thay họ Mao trước công luận, Lâm Bưu có dụng ý muốn giật dây để phu nhân chủ tịch có được chút quyền hành trong tay. Điều này làm tôi lo sợ ngay từ đầu. Giang Thanh mà có quyền trong tay thì lắm tai hoạ xảy ra.
Tôi chưa hề gặp Lâm Bưu. Tôi cũng không bao giờ nhìn thấy ông một cách đàng hoàng như mấy nhà lãnh đạo khác. Theo giải phóng, Lâm Bưu được cất nhắc giữ nhiều chức vụ quan trong nhưng ông ta không làm việc gì xuất sắc. Ông không bao giờ đi dự lễ tại Thiên An môn vào những dịp Quốc khánh hay Lao Động. Chỉ có lần hội nghị 7000 cán bộ tôi mới nhìn thấy bóng dáng ông từ phía sau lưng. Ông được xem là một trong mười tướng của Trung quốc nổi tiếng cương nghị và khắc khổ. Trước kia tôi rất thán phục tài thao lược của ông, và nay với sự liên minh với Giang Thanh tôi mới có dịp tiếp xúc với ông ta.
Tháng Ba năm 1966, chỉ sau khi ghé lại thăm họ Mao, Giang Thanh về đến Thượng Hải thì bị cảm nên gọi tôi lên Thượng Hải chữa bệnh cho bà. Họ Mao giục tôi đi: “Anh lên đó trước đi. Ít bữa tôi sẽ lên. Ở lâu một chỗ không tốt.” Ông vẫn còn bị chứng hoang tưởng chi phối. Ông chỉ ở một nơi nào vài ngày, chứng hoang tưởng lại nổi lên và rồi phải bỏ đi nơi khác. Nay đến Hàng Châu ở ông cũng thấy không an tâm.
Được tham gia và các tranh chấp chính trị, Giang Thanh khỏi hẳn chứng suy nhược thần kinh. Bây giờ bà bị bệnh cảm nhưng không nặng lắm. Tôi đến Thượng Hải hôm trước thì hôm sau Lâm Bưu đến, bảo rằng nghe tin Giang Thanh bị bệnh nên đến viếng.
Đây là lần đầu tiên tôi giáp mặt Lâm Bưu. Bộ quân phục ông mặc trên người làm tôi ngạc nhiên. Nó bó sát như dán lên người bằng keo. Ông đến ngồi chờ tại phòng ngoài cùng với người thư ký. Bỏ chiếc áo khoác ngoài ra, ông trông rất ốm và lùn. Trong nhà mà ông vẫn để nguyên chiếc nón trên đầu vì sợ người ta nhìn thấy cái đầu hói. Chân ông mang giày ủng. Thấy tôi ông không buồn gật đầu hay nói một lời chào hỏi. Đôi mắt ông đen và sáng, chứng tỏ con người có tinh thần mạnh mẽ.
Giang Thanh ra lệnh không cho ai quấy rầy. Hai người nói chuyện với nhau chừng ba giờ đồng hồ. Tôi ngồi đợi bên ngoài, chuyện trò với viên thư ký của họ Lâm, Lý Văn Phổ, và được biết sơ về quá khứ của Lâm. Lâm Bưu và Giang Thanh có nhiều điểm giống nhau: đều từng bị chứng suy nhược thần kinh, bệnh tưởng, sợ ánh sáng chói, tiếng động và ít khi ra ngoài. Giống như Giang Thanh, nhờ tham gia chính trị, các chứng bệnh trên làm cho ông hăng hái hơn, hết suy nhược thần kinh. Nay Lâm Bưu đã thành con người mới. Tôi nghĩ, ông này bị bệnh là vì thiếu thuốc chính trị.
Thật ra ông vẫn còn bệnh. Tháng Tám năm 1966, tức mấy tháng sau khi tôi gặp, lúc ấy Cuộc Cách Mạng Văn hoá đã đến cao điểm của nó. Lâm Bưu ngày càng có nhiều quyền hành hơn khiến họ Uông tìm cách liên minh với người mà họ Mao dự định sẽ cho lên nối quyền ông thì Lâm Bưu thọ bệnh. Uông Đông Hưng liền kêu tôi đến thăm họ Lâm tại tư thất của ông ở Mao Gia Uyển.
Khi đến nơi chúng tôi được đưa thẳng vào phòng họ Lâm. Ông ta đang co ro trong lòng bà Diệp Quân khóc thút thít. Vợ ông đang vỗ về ông như vỗ về một đứa trẻ con. Hình ảnh oai hùng của một vị tướng đâu mất. Từ đó hình ảnh của Lâm Bưu thay đổi hẳn trong tâm trí tôi. Tiếp đến có hai bác sĩ nữa là Hứa Điền Nghị và Vũ Yết Bình phụ vào. Uông Đông Hưng bảo Diệp Quân ra ngoài để tiến hành khám bệnh. Thì ra thận và đường tiểu họ Lâm bị sạn. Các bác sĩ liền cho thuốc, một lát sau Lâm Bưu khoẻ lại, nhưng tôi thấy vậy tôi bỗng coi thường ông. Đành rằng đường tiểu có sạn gây đau đớn vô cùng nhưng với tư cách một vị tướng thì phải tỏ ra có chí khí hơn người mới phải chứ.
Trong khi chúng tôi chờ đợi, Diệp Quân nói cho tôi nghe về chồng bà. Từ những năm 1940 Lâm Bưu đã nghiện thuốc phiện, sau đến bạch phiến. Cuối năm 1949, ông được gửi sang Liên Sô để cai. Hết nghiện, ông trở về nhưng từ đó tính tình ông đổi khác. Lúc nào cũng sợ gió, ánh sáng nên ít khi ra ngoài. Do đó ít khi thấy ông đi họp. Ông rất sợ nước đến độ tiếng nước chảy làm cho ông bị tiêu chảy triền miên và ông không hề uống nước. Diệp Quân nói muốn cho người ông có nước thì chỉ còn cách cho ông ăn canh.
Lâm Bưu không bao giờ dám vào nhà tiêu. Mỗi lần sôi bụng, vợ ông đặt cái bô trên giường cho đi. Tôi nghe mà rụng rời. Như vậy Lâm Bưu đã bị tâm thần nặng lắm. Vậy mà họ Mao dám đưa ông ta lên địa vị cao nhất. Không bao lâu nữa ông sẽ được gọi là “cánh tay mặt của chủ tịch”, và một ngày nào đó Lâm Bưu sẽ cai trị cả một nước.
Trở về Trung Nam Hải, tôi kể cho họ Mao nghe về tình trạng của Lâm Bưu. Ông không tỏ vẻ gì xúc động và cũng không nói gì. Nhưng ngoài họ Mao ra tôi không dám nói gì với ai khác, vì nếu nói ra thì sẽ mang trọng tội.
Tôi ở lại Thượng Hải suốt tháng Ba tuy Giang Thanh đã khoẻ hẳn. Bây giờ tôi có dịp nhìn thấy những hoạt động chính trị của Giang Thanh. Hết người này đến người khác, các tay tả khuynh đến thăm bà và, ai như nấy, đều họp kín với bà. Không khí bí mật bao trùm, như thể báo trước một biến chuyển gì ghê gớm lắm. Diêu Văn Nguyên, người phụ trách tuyên huấn của Thượng Hải mà đã viết bài đả kích Vũ Hân về vở kịch Hải Duệ, không những theo sát cánh với Lâm Bưu mà còn cùng họp kín triền miên với phu nhân chủ tịch, có Tất Bôn Vũ, sau này làm chủ nhiệm Văn phòng Bí-thư* và Quản Phương, một trong những kẻ tả khuynh nhất trong nguyệt san Hồng kỳ theo phò tá thì phải biết sẽ to chuyện.
* Sau khi Uông Đông Hưng đảm trách chức chủ nhiệm Văn phòng Thường Trực năm 1966, Văn phòng Ban Bí-thư và Văn phòng Bí-thư Chính trị được sáp nhập thành Ban Bí-Thư.
Họ Mao đến Thượng Hải ngày 15 tháng Ba. Hai ngày sau ông mở cuộc họp Ban Thường vụ Bộ Chính-trị để tiếp lời Giang Thanh nói về giới giáo dục và học thuật bị trí thức tư sản chế ngự đã lấn lướt quan điểm và tư tưởng của những người tả khuynh. Ông đả kích đích danh bốn người và đặc biệt lên án Vũ Hân, tác giả tuồng kịch Hải Duệ Bị Bãi Chức; giáo sư sử học Kiên Bác Trâm; phó chủ tịch Thành phố Bắc Kinh Đặng Đoá; và trưởng Ban Công Tác Mặt Trận Đoàn kết Thành phố Bắc Kinh Liễu Mộ Hạ. Họ Mao nói, những trí thức tên tuổi này bề ngoài thì đảng viên Cộng sản nhưng trong tư tưởng và hành vi là của Quốc Dân Đảng. Ông chủ trương tung ra “Cuộc Cách Mạng Văn hoá” để đánh vào lãnh vực văn chương, lịch sử, luật pháp, và kinh tế. Tôi quá ngây thơ, chỉ nghĩ rằng cuộc cách mạng nhằm vào văn hoá nói chung và mình có thể đứng ngoài cuộc để dự khán được.
Cuối tháng Ba năm 1966, mấy ngày sau cuộc họp bộ chính trị mở rộng tại Thượng Hải, họ Mao gặp Giang Thanh, Khang Sinh, và Trương Xuân Kiều. Ông nói Tường Trình Đại Cương tháng Hai có nhiều điểm làm lung lạc cuộc đấu tranh giai cấp nên muốn Bản Tường Trình này; Nhóm Năm Người gồm Bành Chân, Lữ Đình Nghị, Khang Sinh, Chu Dương và Vũ Lăng Tây; và Đảng Bộ Thành phố Bắc Kinh do Bành Chân làm Bí-thư phải giải tán. Theo lời ông, những thứ ấy quy tụ nhiều cá nhân không đáng tin cậy. Rồi ông muốn thấy cuộc cách mạng này phải được nới rộng phạm vi hơn nữa.
Cùng một lúc họ Mao chĩa hai mũi dùi tấn công. Một mặt ông kêu gọi Ban Thường vụ Bộ Chính-tri lên án giới trí thức tư sản, một mặt ông đứng ngoài ban Thường vụ này để nuôi dưỡng một trung tâm quyền lực mới quy tụ những người thân cận với ông nhất; đặc biệt gồm Giang Thanh và Khang Sinh - là hai mũi nhọn tấn công trực tiếp vào kẻ thù của ông bên trong ban Thường vụ và Ban Bí-thư Trung ương đảng. Nước cờ đi ra sao chưa ai biết, song đây là lần đầu tiên họ Mao đích thân ra tay tung ra đợt càn quét sâu rộng vào cấp cán bộ cao nhất trong Đảng và chính phủ.
Đầu tháng Tư, chúng tôi trở lại Hàng Châu. Tại đó ông mở các cuộc họp của bộ chính trị mở rộng kéo dài từ ngày 16 đến 20 tháng Tư. Tại lần họp này ông công khai tố cáo Đảng bộ Bắc Kinh do Bành Chân đứng đầu để khai hoả đợt tấn công sắp diễn ra. Họ Mao từ chối không chịu đọc Bản Tường Trình Đại Cương tháng Hai tức là ông muốn cho Bành Chân tự đào huyệt chôn mình. Nay ông lớn tiếng gán cho họ Bành tội chống đảng, chống xã hội chủ nghĩa và đòi giải tán Nhóm Năm Người để lập nhóm khác. Không khí lần họp tháng Tư thật vô cùng căng thẳng.
Tự nhiên tôi cảm thấy bất an. Nhóm Một nay không còn giống như trước; tôi không biết và cũng không tin những người chung quanh. Họ Mao càng ngày càng tự cô lập, khó đến gần vì hàng rào an ninh do Cừ Tất Dư lập nên dày đặc. Uông Đông Hưng đi vắng khỏi Nhóm Một đã mấy tháng nay. Ông đi Nam xương từ hôm Tết Nguyên đán. Không có ông, sự an toàn của tôi bị đe doạ, tâm trạng lạc loài vô vọng bao chặt lấy tôi.
Tôi cần gặp Uông Đông Hưng khi ông đến Hàng Châu để dò la tình hình chính trị và hỏi xem ý kiến ông thể nào. Tôi mong ông trở lại Nhóm Một ngay.
Một đêm nọ trời đã khuya, tôi tìm đến khách sạn Tây Lăng để gặp họ Uông. Lúc ấy Chu Ân Lai đang họp với Uông Đông Hưng. Họ Chu thấy tôi đến, ngạc nhiên. Coi bộ họ Chu không thích tôi ở đó nên hỏi: “Anh biết bây giờ là mấy giờ rồi không? Anh đến đây làm gì vào giờ này?”
“Tôi muốn trình với Đồng chí Uông Đông Hưng về tình trạng sức khoẻ của chủ tịch.” tôi trả lời. “Tại sao anh phải báo cáo khuya khoắt như vậy?” họ Chu thắc mắc. Uông Đông Hưng chận lời: “Tôi kêu ông ta đến đó, thưa Thủ tướng.”
“Vậy thì nhanh lên đi.” ông nói với Uông Đông Hưng. “Hai đồng chí Khang Sinh và Trần Bộ Đà còn chờ chúng ta đó. Đừng bắt họ phải chờ lâu.” Xong ông quay sang nói với tôi: “Sau khi báo xong, thì trở về nhà khách Vãng Trang ngay đấy.”
Tôi không biết lúc ấy Chu Ân Lai đang bực tức và hồi hộp. Theo thái độ đó có thể suy luận tình hình chính trị lúc ấy rất nghiêm trọng. Tôi hỏi họ Uông chuyện gì xảy ra thì ông gạt qua và nói: “Anh biết như vậy là đủ rồi. Chuyện liên quan đến thẩm quyền trung ương. Tốt hơn hết anh không nên hỏi gì cả. Bây giờ cho tôi biết tình trạng sức khoẻ của chủ tịch ra sao đi.”
Không ai cho tôi biết việc gì xảy ra, nhưng không biết thì không an lòng nên sau khi tôi báo cáo xong về sức khoẻ họ Mao, tôi hối thúc họ Uông trở về Nhóm Một gấp. Tôi giải thích, Trương Đạo Chí là người nhút nhác, thường né tránh các chuyện liên quan đến an ninh, không chịu làm việc tích cực. Tôi cho ông ta biết tôi chỉ cảm thấy an toàn khi ông trở lại.
Họ Uông bây giờ cảm thấy mình bị đặt ra ngoài Nhóm Một nên không dám về, trừ phi được họ Mao gọi trở lại. Tuy nhiên Uông hứa họp xong, sẽ ghé lại nhà khách Vãng Trang để chào hỏi mọi người.
Đến khách sạn Tây Lãng mà sao tôi run quá. Chu Ân Lai trông rất bồn chồn nôn nóng. Chắc chắn có nhiều chuyện tôi không biết đang xảy ra. Nhưng tôi biết chắc ông họp khẩn với Khang Sinh và Trần Bộ Đà, là hai nhân vật tả khuynh muốn làm cho đất bằng nổi sóng. Để khỏi bị rắc rối, tôi báo cáo mọi điều mắt thấy tai nghe cho họ Mao. Nếu không, ông biết tôi đi gặp người này, người nọ, thế nào ông cũng cho rằng tôi qua mặt ông.
“Vậy họ đang làm gì ở đó?” họ Mao thắc mắc, thoáng mỉm cười sau khi nghe tôi kể đầu đuôi việc tôi đi gặp Uông Đông Hưng. Tôi cho họ Mao biết Chu Ân Lai bảo tôi phải đi ngay sau khi xong việc vì ông ta có vẻ nghi ngờ tôi đến đó với dụng ý khác.
Họ Mao trấn an tôi: “Thì tới thăm thôi, đâu có gì phải lo lắng.”
Chính việc tôi báo cáo này về sau giúp tôi thoát nạn. Cuối năn 1966, “Nhóm Cách Mạng Văn hoá Trung ương” mới được thành lập để mở rộng tầm hoạt động và Uông Đông Hưng có chân trong nhóm này, đồng thời có ý kiến muốn cho tôi tham gia. Trong thời gian này, mọi cuộc gặp gỡ, họp hành của người nào với bất cứ ai đều có sự theo dõi sát sao. Hôm tôi đến khách sạn Tây Lãng, có một nhân viên an ninh nhìn thấy mặt tôi. Y bèn viết báo cáo gửi cho Khang Sinh - nhân vật chủ chốt trong mọi cuộc thanh trừng. Trong thư, viên an ninh cáo buộc tôi có âm mưu liên kết với Uông Đông Hưng và Chu Ân Lai, và tôi đến đó để thông tin. Khang Sinh trình lá thư này cho họ Mao xem.
Họ Mao đưa lá thư cho tôi để tôi chuyển cho Uông Đông Hưng lưu hồ sơ: “Anh đã báo cho tôi về chuyện này rồi.” Nhờ họ Mao che chở cho tôi và Uông Đông Hưng, lá thư được xếp yên.
Ban Thường vụ bộ chính trị mở rộng lại họp ngày 24 tháng Tư năm 1966. Họ Mao muốn buổi họp bàn về dự thảo do Trần Bộ Đà viết và nhờ họ Mao sửa đổi tài liệu có tên là “Thông Tư của Uỷ Ban Trung ương Đảng Cộng Sản Trung Hoa”. Mục đích của thông tư này là để đả phá cái Bản Tường Trình Đại Cương tháng Hai do Bành Chân viết, nhấn mạnh đến tính chất “học thuật” của cuộc tranh luận về văn nghệ liên quan đến nhân vật Hải Duệ, và để giải tán Nhóm Cách Mạng Văn hoá Năm Người do Bành Chân làm trưởng nhóm. Tại đây nhóm mới được thành lập với tên mới là Tiểu Nhóm Cách Mạng Văn hoá Trung ương đặt dưới quyền của ban Thường vụ bộ chính trị. Mục tiêu của nhóm mới này cũng khác với trước. Phong trào mới này, theo ý họ Mao, là “cuộc tấn công vũ bão” nhắm vào các phần tử tư sản trong đảng, chính phủ và quân đội.
“Thông Tư của Uỷ Ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Hoa” mà được phân phát trong cuộc họp từ ngày 4 đến 26 tháng Năm là do cuộc họp ban Thường vụ thông qua ngày 16 tháng Năm được mệnh danh là Thông Tư 16 thâng Năm - được dùng làm tài liệu soi đường cho Cuộc Cách Mạng Văn hoá trên toàn cõi Trung Hoa.
Họ Mao không dự các kỳ họp tháng Năm. Lúc ấy chúng tôi ở Hàng Châu. Thế nhưng khi ông cho tôi xem danh sách nhân vật trong Tiểu Nhóm mới thành lập, lòng tôi se lại. Kẻ cực tả Trần Bộ Đà đứng đầu, Khang Sinh làm cố vấn. Giang Thanh làm phó. Tay nịnh hót bậc nhất Vương Nhân Trường và người cầm đầu thành phố Thượng Hải Trương Xuân Kiều đồng phó nhóm Các thành viên gồm Vương Lý, Quản Phương, Tất Bôn Vũ và Diêu Văn Nguyên, đều thuộc thành phần hữu phái. Theo họ, những người này do Lâm Bưu đề nghị. Riêng họ Mao đề nghị thêm Vương Nhân Trường.
Việc Giang Thanh nắm quyền trong tay làm cho tôi lo lắng. Bà ta sẽ hâm hở lục lọi cho bằng được các “phần tử tư sản” trong đảng và với quyền hành ấy, bà sẽ tàn sát không nương tay các kẻ thù của bà. Từ năm 1960 đến nay mối liên hệ giữa tôi và bà trở nên xấu đi, với cương vị mới này bà sẽ chẳng tha tôi và gia đình tôi đâu.
Họ Mao biết sự hung hăng của Giang Thanh thế nào cũng gây khó khăn cho tôi nên ông khuyên tôi nên làm hoà với bà, y như cách Mao Viễn Tân, tức cháu kêu bà bằng thím, đã làm. Mao Viễn Tân đối chọi với bà từ hồi y còn nhỏ và lần nào về Trung Nam Hải nghỉ hè, y cũng không bao giờ nói với bà một tiếng. Nhưng từ ngày có Cuộc Cách Mạng Văn hoá, y viết cho họ Mao một lá thư tạ lỗi. Y viết rằng y nhận thấy Giang Thanh là một học trò trung thành nhất của họ Mao khiến cho y đem lòng cảm phục bà một cách sâu đậm.
Họ Mao rất hài lòng với lời lẽ trong thư và ông đưa cho Giang Thanh xem.
Viễn Tân lúc ấy đang học tại Trường Công Binh tại Cáp tân, một nơi thuộc vùng đông bắc Trung quốc. Giang Thanh trả lời cho Viễn Tân và cho về phe với bà. Y được phong trung uý ngay. Lúc có người chống đối Giang thị, Mao Viễn Tân là người đầu tiên ra mặt bênh vực. Nhờ vậy y được thăng cấp rất nhanh. Chỉ trong vòng vài năm mà y được bổ vào chức Bí thư Quân uỷ vùng Mãn Châu.
Họ Mao thấy tôi cũng nên bắt chước như vậy để được lòng Giang thị. Nhưng giữa tôi và bà ta có rất nhiều dị biệt khó dung hoà. Mao Viễn Tân là cháu của họ Mao, uy quyền chính trị của Giang Thanh cho Viễn Tân được nhiều đặc ân dễ dàng để kéo y về phe với bà. Còn tôi, tôi đâu cần bà để được thăng quan tiến chức. Tôi không cần và không thể quỵ luỵ bà. Tôi biết chắc bà sẽ tấn công tôi, và vấn đề chỉ là thời gian. Tốt hơn hết tôi nên yên lặng chờ. Giang Thanh tìm cách hại tôi thì tôi cũng tìm cách ẩn thân vậy.

Tài liệu này đã được đọc 170 lần.

    • là người cập nhật hóa tài liệu này vào ngày

Current Discussion: Main discussion

  1. No comments have been posted for this discussion.