Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!

  1. Chapter
  2. Những Điều Cần Biết Về Ung Thư - Ung Thư Da Melanoma - Trần Lý Lê

Đây là một phần của sách 'Book:Những Điều Cần Biết Về Ung Thư - Trần Lý Lê'

Những Điều Cần Biết Về Ung Thư Da - Melanoma

Bác Sĩ Trần Lý Lê

Tài liệu của Viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ (National Cancer Institute)

Melanoma là một loại ung thư da, khởi thủy từ tế bào melanocyte bị ung hoại. Hằng năm, có trên năm chục ngàn người bị melanoma tại Hoa Kỳ.
Để hiểu rõ về chứng bệnh này, ta cần hiểu những điều căn bản về da và về melanocyte, tế bào này có nhiệm vụ gì, tăng trưởng ra sao và những gì xảy ra khi bị ung thư.

Da
Da là bộ phận lớn nhất trong thân thể, bao bọc, bảo vệ cơ thể chống lại hơi nóng, ánh nắng, thương tích và nhiễm trùng. Da điều tiết thân nhiệt, giúp cơ thể dự trữ nước, mỡ và tạo vitamin D.
Da gồm có hai lớp chính: Lớp da bên ngoài gọi là epidermis (biểu bì), và lớp da phía trong (nằm dưới biểu bì) là dermis.
Biểu bì gồm những tế bào phẳng, giống như vảy, gọi là squamous cells. Dưới lớp tế bào phẳng này là những tế bào tròn gọi là basal cells. Phần cuối của biểu bì chứa những tế bào tạo nên màu da có tên là melanocytes (chứa melanin).
Dermis chứa mạch máu và mạch bạch huyết, chân tóc (hair follicles) và những tuyến mồ hôi (sweat gland) cũng như tuyến dầu (oil gland). Tuyến mồ hôi giúp cơ thể điều tiết thân nhiệt, và chất mỡ nhờn (sebum) giúp da không bị khô nứt. Mồ hôi và chất mỡ nhờn toát ra bên ngoài qua những lỗ chân lông nhỏ gọi là pores.

Xem hình vẽ:

[​IMG]

Melanocyte và Mole

Melanocyte tạo ra melanin, sắc tố tạo nên màu da, màu mắt. Khi ra nắng, melanocytes tạo ra nhiều melanin làm da trở nên sậm màu.
Đôi khi những melanocytes gom tụ lại với nhau tạo nên những vùng da nâu sẫm hoặc đen, không có ác tính, gọi là moles (tên y học là "nevus", hoặc "nevi" để chỉ số nhiều). Mole thường thấy trên da, có người có đến 40-50 moles. Mole có thể có màu hồng, đỏ, nâu hoặc những màu tương tự như sắc da. Những người da đen thường có những mole màu đen. Mole có thể phẳng hoặc mọc trồi lên thành những cục u trên da, có dạng tròn, hoặc bầu dục và thường nhỏ hơn cục gôm ở đầu bút chì. Mole có thể xuất hiện từ thủa sơ sinh hay khi trưởng thành, thường là trước tuổi 40 và mờ dần khi về già. Khi cắt bỏ, mole thường không mọc trở lại.

Căn bản về ung thư
Ung thư xuất phát từ tế bào, đơn vị căn bản của mô. Bình thường tế bào da tăng trưởng, sinh sản và tạo tế bào mới. Mỗi ngày tế bào da già lão, chết và tế bào mới thay thế.
Đôi khi tiến trình sinh hóa trật tự này trở nên bất thường. Tế bào mới xuất hiện khi không cần thiết, và tế bào già lão hoặc tế bào hư hoại không chết như đã định. Các tế bào dư thừa này tạo thành khối, gọi là khối u hay bướu.

Bướu hay khối u có thể "lành" (benign) hoặc "độc" (cancerous):

Bướu lành:
• Ít khi gây tử vong
• Không ăn lậm (invasive) đến các mô lân cận
• Không lan xa đến những bộ phận khác trong cơ thể

Bướu độc như ung thư:
• Có thể gây tử vong
• Có thể tái phát sau khi đã được cắt bỏ, chữa trị
• Có thể ăn lậm đến các mô lân cận
• Lan ra các bộ phận khác; việc lan tràn của khối u gọi là metastasis.

Melanoma xuất hiện khi melanocyte (tế bào sắc tố) trở nên ung hoại. Hầu hết melanocyte nằm tại da; khi melanoma xuất hiện trên da, gọi là cutaneous melanoma; đôi khi xuất hiện trong mắt gọi là ocular melanoma hoặc intraocular melanoma. Hiếm khi, melanoma xuất hiện ở màng óc (meninges), đường tiêu hóa, hạch bạch huyết hoặc những bộ phận khác. Bài này chỉ đề cập đến loại melanoma trên da, câu hỏi về các loại melanoma khác có thể hỏi tại The Cancer Information Service (1-800-4-CANCER).

Melanoma nằm trong danh sách của những loại ung thư thường thấy. Tỷ lệ ung thư gia tăng theo tuổi tác, nhưng có thể xuất hiện trong những người trẻ tuổi. Ở phái nam, melanoma tìm thấy trên lưng, từ vai đến hông hoặc đầu cổ. Ở phái nữ, melanoma tìm thấy ở hai chân. Hiếm khi tìm thấy melanoma ở những người da đậm màu, nhưng khi xuất hiện, melanoma thường tìm thấy ở dưới móng tay, móng chân, lòng bàn tay, gan bàn chân.

Khi melanoma lan tràn, tế bào ung thư xuất hiện ở những hạch bạch huyết lân cận. Hạch bạch huyết tinh lọc và giữ lại vi khuẩn, tế bào ung thư, hoặc những vật lạ xâm nhập vào cơ thể qua mạch bạch huyết. Khi tế bào ung thư xuất hiện ở hạch bạch huyết có nghĩa là ung thư đã lan đi những nơi khác trong cơ thể như gan, phổi, hoặc não bộ. Trong những trường hợp này, sách vở y học gọi là metastatic melanoma tại gan, tại phổi...

Ai có thể bị melanoma?

Dù chưa biết rõ nguyên nhân gây ra melanoma, nhưng y học đã tìm ra một số yếu tố liên quan đến loại ung thư này, gia tăng tỷ lệ bị ung thư, gọi là "risk factors". Tuy nhiên, vẫn có nhiều bệnh nhân bị melanoma mà không có yếu tố rủi ro nào cũng như người có nhiều yếu tố rủi ro nhưng vẫn không bị melanoma.

Các cuộc nghiên cứu cho thấy các yếu tố sau đây gia tăng tỷ lệ melanoma:
• Dysplasti nevi: Loại moles có hình thể khác thường, lớn hơn, vòng bọc chung quanh không rõ rệt, màu sắc không thuần nhất, có màu hồng hoặc nâu sẫm, thường phẳng nhưng đôi khi trồi lên da. Tỷ lệ melanoma gia tăng với những người có dysplastic nevi. Tỷ lệ melanoma gia tăng cao hơn nữa với những người có thân nhân dysplastic nevi và bị melanoma.
• Nhiều mole trên da: Trên 50 vết moles gia tăng tỷ lệ melanoma.
• Người da trắng, dễ mọc tàn nhang, dễ bị phỏng nắng, (tròng mắt xanh lơ) có tỷ lệ melanoma cao hơn những người da màu xậm.
• Những người bị melanoma hoặc ung thư da trước đây
• Những người có thân nhân bị melanoma
• Những người bị suy yếu hệ đề kháng bệnh HIV, dùng những loại thuốc làm giảm tính đề kháng (sau khi được ghép bộ phận...)
• Những người bị phỏng nắng (da phồng những mụn nước) khi còn thơ ấu
• Tia cực tím: Những người thích tắm nắng, tỷ lệ melanoma gia tăng với số lần tắm nắng và mức độ tia cực tím xuyên qua da. Tia cực tím từ mặt trời còn gây ra sự lão hóa nhanh chóng trên da, da nhăn nheo trước tuổi và trở nên dày, sần sùi. Những nguồn phóng xạ nhân tạo từ đèn hoặc máy phát phóng xạ (sunlamp, đèn "nướng" da tại các phòng làm đẹp như "tanning booth") có thể hư hoại da và dẫn đến melanoma.
Bác sĩ khuyên can mọi người tránh ánh nắng và các nguồn phóng xạ nhân tạo.

Phòng ngừa
Cách phòng ngừa melanoma giản dị nhất là bảo vệ da, tránh tia UV từ ánh nắng và từ các máy móc. Việc tránh phỏng nắng nên bắt đầu từ thủa thơ ấu để phòng ngừa ung thư da những năm về sau.
- Nên tránh ánh nắng lúc mặt trời lên cao, khoảng 10 giờ sáng đến 2 giờ trưa vào mùa đông và 11 giờ sáng đến 3 giờ chiều vào mùa hè.
- Dùng quần áo che kín thân thể, mũ nón che đầu, cổ và mặt đề có thể chắn tia cực tím.
- Dùng những loại thuốc chống nắng (sunscreens) chắn nhiều quang phổ (broad-spectrum, UVB và UVA) sẽ bảo vệ da. Dùng kem chống nắng (sunscreen), những loại kem chống nắng bằng cách thấm, phản chiếu (absorb, reflect, scatter) cả hai loại tia cực tím UVA, UVB. Thuốc chống nắng được xếp loại theo sun protection factor (SPF), một đơn vị đo lường về hiệu lực. Những loại thuốc chống nắng có nhãn hiệu "broad-spectrum coverage" và có sun protection factor (SPF) từ 15 trở lên, loại thuốc có SPF trên 30 giúp chống nắng hữu hiệu nhất. -- Tránh các loại máy móc phát tia UV như sunlamp và máy nướng da (tanning).
- Đeo kính mát có khả năng "thấm" tia cực tím (UV-absorbing lenses), nhãn hiệu sẽ ghi "block 99% of UVA & UVB", để bảo vệ mắt và vùng da quanh mắt.

Dấu hiệu & Triệu chứng

Dấu hiệu sớm nhất là sự thay đổi trên da về kích thước, hình thể, màu sắc của những mole đã có trên cơ thể. Hầu hết những melanoma đều có màu xanh xám hoặc đen, melanoma có thể xuất hiện như một mole mới với hình thể khác thường và trông rất "xấu xí".

Nếu có câu hỏi, hãy gặp bác sĩ để tham khảo khi da thay đổi. Đừng tự chẩn đoán bệnh tật. Hình ảnh giúp ta thêm chi tiết nhưng không đầy đủ bằng việc khám bệnh và lấy ý kiến từ bác sĩ.

Hãy dùng hệ thống "ABCD" để nhớ các chi tiết cần theo dõi:
• A(symetry): Sự cân bằng: Tại mole, nửa này không giống nửa bên kia
[​IMG]

• B(order): Viền mole chỗ đậm chỗ nhạt, sần sùi, không rõ rệt, vùng da chung quanh mole có thể trở nên xậm màu.
[​IMG]

• C(ol or): màu sắc không thuần nhất, nhiều màu khác nhau trên cùng một mole, đôi khi có cả màu trắng, xám, đỏ...
[​IMG]

• D(iamter): Kích thước: Mole trở nên to hơn, melanoma thường lớn 1/4 inch hay 5 mili mét
[​IMG]

• Melanoma có rất nhiều hình thể, có thể không theo bất cứ một quy luật nhất định nào, có khối u có cả 4 đặc tính kể trên; tuy nhiên, có mole chỉ thay đổi 1, hoặc 2 đặc tính.
[​IMG]

Melanoma trong thời kỳ sơ khởi có thể xuất hiện từ một cái mole đang thay đổi hình dạng, chẳng hạn như một vùng da trở nên tím đen, đóng vảy, hoặc trở nên ngứa ngáy. Khi melanoma vào thời kỳ trầm trọng, khối u trở nên cứng, chảy máu hoặc ngứa ngáy khó chịu.

Khi đi khám bệnh thường niên, quan sát da là một phần của việc khám bệnh, tuy nhiên vẫn nên áp dụng cách tự khám xét da hàng tuần. Cần báo cho bác sĩ biết các thay đổi trên da. Bác sĩ có thể chuyển bệnh nhân đến bác sĩ chuyên khoa về da, dermatologist.

Việc chữa trị melanoma rất thành công khi chữa trị sớm, khối u còn mỏng và chưa lậm sâu đến những tế bào bên dưới, kể cả lớp tế bào mỡ gọi là cutaneous fat và bắp thịt. Khi melanoma ăn lậm đến những lớp tế bào dưới da, có nghĩa là ung thư đã lan đi những bộ phận khác và việc chữa trị trở nên khó khăn cũng như không mấy hữu hiệu.
Những người đã bị melanoma có thể bị melanoma lần thứ nhì ở những vùng da khác. Vì vậy, nên đi khám bệnh đều đặn dể truy tìm mầm ung thư sớm.

Dysplastic Nevi
Loại mole bất thường có khuynh hướng trở thành melanoma rất cao và có hình dạng rất giống melanoma. Số Dysplastic Nevi xuất hiện không đồng nhất với mọi người và có khuynh hướng trở thành melanoma. Vì thế, cần theo dõi quan sát thường xuyên (mỗi 3-6 tháng) những mole bất thường này để tìm sự thay đổi nếu có. Xem thêm bài Những Điều Cần Biết Về Moles.

Dysplastic Nevi thường rất giống melanoma. Bác sĩ chuyên môn có thể nhận ra sự khác biệt giữa dn và melanoma; đôi khi, bác sĩ cắt bỏ những nevi này để phòng ngừa.
Trong một số gia tộc, nhiều người có Dysplastic Nevi, và một vài người bị melanoma. Thân nhân là những người có tỷ lệ bị melanoma rất cao , Do đó nên đi khám bệnh thường xuyên mỗi 3-6 tháng.

Chẩn bệnh
Nếu nghi ngại khi quan sát một khối u, bác sĩ sẽ trích mô làm sinh thiết (biopsy). Trích mô là cách chẩn đoán ung thư chính xác nhất. Khi trích mô, bác sĩ cố gắng cắt bỏ cả vùng da với hình thể bất thường và đem quan sát dưới kính hiển vi, phương pháp này gọi là excisional biopsy. Khi khối u quá lớn để cắt bỏ hoàn toàn, bác sĩ lấy ra một mảnh da và đem thử nghiệm. Bác sĩ sẽ không bao giờ bào (shave off) hoặc đốt (cauterize) một khối u mà họ tình nghi là melanoma.

Trích mô được thực hiện tại văn phòng bác sĩ, dùng thuốc tê tại vùng da làm sinh thiết. Bác sĩ bệnh lý (pathologist) sẽ kiểm nghiệm những mảnh da này để tìm ung thư. Đôi khi, sẽ cần đến hai bác sĩ bệnh lý để kiểm nghiệm những tế bào này.

Quý vị có thể đặt những câu hỏi sau trước khi bác sĩ trích mô (làm sinh thiết):

-Trích mô ảnh hưởng đến việc chữa trị ra sao?
-Bác sĩ chọn phương thức nào để trích mô?
-Việc trích mô kéo dài bao nhiêu lâu? Tôi sẽ thức trong khi làm sinh thiết? Có đau đớn lắm không?
-Làm sinh thiết có rủi ro không? Tôi có bị xuất huyết? Nhiễm trùng?
-Chừng nào thì tôi biết kết quả? Ai sẽ là người giải thích kết quả cho tôi hiểu?
-Thẹo sẽ như thế nào?

Định kỳ
Khi bệnh trạng đã rõ, bác sĩ cần định thời kỳ của melanoma trước khi bàn thảo việc chữa trị. Melanoma được định kỳ bằng chiều dày của khối u, chiều sâu của những tế bào dưới da bị lậm ung thư melanoma và ung thư đã lan đến đâu. Bác sĩ sẽ cắt bỏ những hạch bạch huyết lân cận để định thời kỳ của melanoma (Cách giải phẫu này có thể được xem là một phần của việc chữa trị vì cắt bỏ hạch bạch huyết ung thư có thể kiểm soát bệnh trạng). Bác sĩ có thể sẽ dùng đến quang tuyến phổi, thử máu và những hình ảnh (images) của cả gan, xương và não bộ.

Những thời kỳ của melanoma


Thời kỳ 0: Melanoma nằm tại lớp da ngoài cùng (epidermis) và chưa ăn sâu đến những tế bào bên dưới.

Thời kỳ I:
- Vùng da bị melanoma còn mỏng, khoảng 1 mili mét hoặc ít hơn; lớp biểu bì (epidermis) có thể bị trày xát; hoặc,
- Vùng da bị melanoma dày khoảng 1-2 mili mét, nhưng biểu bì không bị lở loét.
Melanoma chưa lan đến hạch bạch huyết lân cận.

Thời kỳ II: Vùng da dày ít nhất 1 mili mét,
- hoặc chiều dày đã trên 2 mili mét, biểu bì lở loét; hoặc
- không có vết lở.
Melanoma chưa lan đến hạch bạch huyết lân cận.

Thời kỳ III: Melanoma đã lan ra những tế bào chung quanh
- nhưng chưa lan đến hạch bạch huyết; hoặc
- đã lan đến hạch bạch huyết lân cận.

Thời kỳ IV: Melanoma đã lan đến những bộ phận khác như gan, xương...

Ung thư tái phát (recurrence): Ung thư đã chữa lành, bây giờ tái phát, có thể tại nơi cũ hoặc ở chỗ da khác.

Chữa trị
Việc chữa trị ung thư tùy thuộc vào loại ung thư và thời kỳ, kích thước và vị trí nơi khối u xuất hiện, tình trạng sức khỏe toàn diện. Hầu hết mọi trường hợp, mục đích của việc chữa trị là để cắt bỏ hoặc tiêu diệt ung thư hoàn toàn.

Nên thảo sẵn những điều cần hỏi trước khi đi khám bệnh. Để ghi nhớ mọi chi tiết, hãy dùng máy thu âm hoặc nhờ thân nhân đi theo ghi chép giúp.

Bác sĩ hoặc chính quý vị có thể muốn gặp một bác sĩ chuyên môn về ung thư da như bác sĩ da, bác sĩ giải phẫu và bác sĩ chuyên về xạ trị.

Ý kiến thứ nhì

Trước khi bắt đầu việc chữa trị, quý vị có thể tham khảo một bác sĩ khác để lấy ý kiến về chẩn đoán và chữa trị. Nhiều hãng bảo hiểm sẽ trả chi phí này nếu quý vị hoặc bác sĩ yêu cầu.

Quý vị cần một thời gian để thu góp tài liệu, y sử, các kết quả thử nghiệm và sắp xếp buổi tham khảo với một bác sĩ khác. Việc chờ đợi thường không ảnh hưởng đến kết quả của việc chữa trị. Để an tâm hơn, quý vị có thể thảo luận về việc chờ đợi này với bác sĩ của mình.

Nhiều cách để tìm một bác sĩ cho ý kiến thứ nhì: Hỏi bác sĩ của mình, hỏi chi tiết tại bệnh viện, những tổ chức y tế địa phương, trường Y khoa… để lấy tên một vị bác sĩ chuyên khoa.

Trước khi chữa trị, bệnh nhân nên hỏi bác sĩ những câu hỏi sau:

 Chứng bệnh của tôi ở thời kỳ nào?
 Những cách chữa trị nào có thể dùng được? Bác sĩ đề nghị cách nào, lý do tại sao? Các cách chữa trị có thay đổi không?
 Tôi sẽ bị những biến chứng gì? Làm cách nào để giảm bớt những biến chứng này?
 Có biến chứng nào ảnh hưởng lâu dài hay không?
 Cách chữa trị có ảnh hưởng nhiều đến khuôn mặt, ngoại hình của tôi không? Nếu có thì giải phẫu thẩm mỹ có giúp gì không?
 Có cuộc thử nghiệm lâm sàng nào cho chứng bệnh của tôi hay không?
 Tôi có cần đi khám bệnh định kỳ thường xuyên không?

Những phương cách chữa trị
Giải phẫu, hóa chất, sinh hóa hoặc cả xạ trị được dùng để chữa melanoma. Bệnh nhân có thể được chữa trị bằng một, hai, ba hoặc cả bốn phương cách kể trên. Ở bất cứ thời kỳ ung thư nào, thuốc giảm đau cũng được sử dụng để giúp bệnh nhân bớt đau đớn và có thể chịu đựng việc chữa trị.
Bệnh nhân nên thảo luận với bác sĩ về việc giảm đau và về việc tham gia các cuộc thử nghiệm lâm sàng.

Giải phẫu
Giải phẫu là phương cách thông thường nhất để chữa melanoma. Bác sĩ cắt bỏ vùng da ung hoại và một ít tế bào chung quanh, tránh để sót lại những tế bào đã có mầm ung hoại. Kích thước và cả chiều sâu của vùng da bị cắt bỏ tùy thuộc vào chiều dầy và độ sâu của khối u.
-Bác sĩ có thể cắt bỏ hoàn toàn một vùng da ung hoại mỏng trong khi làm sinh thiết mà không cần đến cuộc giải phẫu thứ nhì.
-Khi melanoma không được cắt bỏ hết lúc làm sinh thiết, trong lần giải phẫu thứ nhì, bác sĩ cắt bỏ hoàn toàn khối u (sau khi làm sinh thiết, tình trạng ung thư đã được thẩm định kỹ lưỡng, việc cắt bỏ hoàn toàn khối ung thư rất quan trọng) và cắt bỏ cả những tế bào (có hình thế bình thường) chung quanh khối ung thư, gọi là "margin" để cát bỏ mọi tế bào ung thư. Đây là việc cần thiết. Nếu khối melanoma dày, bác sĩ có thể cần cắt bỏ một vùng da lớn.

Nếu khối ung thư lớn, bác sĩ sẽ cần ghép da để vá vết thương và làm vết thẹo nhỏ bớt. Da trên phần thân thể khác sẽ được dùng để vá.

Hạch bạch huyết gần khối u cũng sẽ được cắt bỏ để thử nghiệm và định thời kỳ ung thư. Khi có dấu vết ung thư tại hạch bạch huyết, có nghĩa là ung thư đã lan đến các bộ phận khác. Có hai phương cách để cắt bỏ hạch bạch huyết:

a. Sentinel lymph node biopsy: Được thực hiện sau khi có kết quả của sinh thiết (biopsy) nhưng trước cuộc giải phẫu thứ nhì (excision). Một dung dịch chứa chất phóng xạ (radioactive substance) được chích vào vùng da ung hoại, dung dịch lan dần ra những tế bào chung quanh, bác sĩ nhìn vào màn hình (computer screen của một máy dò phóng xạ) để theo dõi sự lan tràn của dung dịch này; phương pháp thử nghiệm được gọi là lymphoscintigraphy. Hạch bạch huyết đầu tiên khi dung dịch chứa chất phóng xạ lan đến gọi là sentinel lymph node(s); cách tìm kiếm sentinel lymph node gọi là sentinel lymph node mapping. Bác sĩ cắt bỏ sentinel lymph node(s) để thử nghiệm.
Nếu hạch bạch huyết sentinel có dấu vết ung thư, bác sĩ cắt bỏ toàn bộ hạch bạch huyết trọng phần thân thể này. Nếu hạch bạch huyết sentinel không có dấu vết ung thư, các hạch bạch huyết khác được giữ lại.

b. Lymph node dissection: Bác sĩ cắt bỏ hoàn toàn những hạch bạch huyết chung quanh vùng da bị melanoma.

Phương cách chữa trị sau khi giải phẫu để hủy diệt hoàn toàn tế bào ung thư được gọi là adjuvant therapy và bệnh nhân có thể cần sinh hóa trị liệu (biological therapy).
Khi melanoma đã lan đến những bộ phận khác trong cơ thể, giải phẫu thường không có kết quả khả quan. Bác sĩ thường chữa bằng hóa chất, sinh hóa, quang tuyến hoặc cả ba phương cách sau khi giải phẫu.

Hóa chất trị liệu
Chữa trị melanoma bằng hóa chất để diệt các tế bào ung thư. Hóa chất được dùng theo chu kỳ: chữa trị - nghỉ - chữa trị tiếp theo - nghỉ. Bệnh nhân được chữa trị tại văn phòng, trung tâm y tế hoặc tại nhà, đôi khi việc chữa trị thực hiện tại bệnh viện.

Bệnh nhân được chữa trị theo một trong những cách sau:
a. Thuốc uống hoặc chích theo máu luân lưu khắp cơ thể
b. Isolated limb perfusion (hoặc isolated arterial perfusion): Với loại melanoma xuất hiện ở chân hoặc tay, hóa chất được chích vào động mạch của cánh tay hoặc cẳng chân. Sự tuần hoàn của phần tứ chi này được ngăn chặn trong một thời gian ngắn để hóa chất có thể đến thẳng vùng tế bào bị ung hoại và hầu hết hóa chất được giữ lại trong phần thân thể này.
Hóa chất có thể được hâm nóng trước khi truyền vào mạch máu, phương cách này gọi là hyperthermic perfusion.

Sinh hóa trị liệu (Biological therapy hoặc immunotherapy)
Dùng sức đề kháng, miễn nhiễm của cơ thể để chống lại ung thư hoặc làm giảm những biến chứng của trị liệu. Sinh hóa trị liệu cho melanoma dùng những chất gọi là cytokines. Cơ thể sản xuất một lượng cytokines nhỏ khi bị nhiễm trùng hoặc những bệnh tật khác. Trong phòng thí nghiệm, những chuyên gia có thể chế tạo một lượng cytokine lớn. Sinh hóa trị liệu dùng cytokine để phòng ngừa sự tái phát của melanoma sau khi giải phẫu. Với những bệnh nhân có thể bị tái phát, bác sĩ dùng interferon alpha và interleukin -2 (IL-2 hoặc aldesleukin) để chữa trị hậu giải phẫu.

Xạ trị
Dùng tia phóng xa cao độ để đốt tế bào ung thư; cách trị liệu này có thể được sử dụng để a) giảm kích thước những khối melanoma đã lan đến não bộ, xương.., b) giảm những triệu chứng do khối ung thư gây ra. Bệnh nhân được chữa trị tại bệnh viện 5 ngày mỗi tuần trong nhiều tuần lễ.

Chọn lựa cách chữa trị theo thời kỳ ung thư
Việc quyết định phương cách hữu hiệu nhất cho mỗi trường hợp sẽ tùy thuộc ở bác sĩ và bệnh nhân. Một vài phương cách chữa trị được sử dụng bao gồm:

Thời kỳ 0: Giải phẫu để cắt bỏ vùng da bất thường và một ít tế bào chung quanh.

Thời kỳ I: Giải phẫu để cắt bỏ vùng da bất thường, bác sĩ có thể cắt bỏ đến cả 2 cm (3/4 inch) của những tế bào bình thường chung quanh và có thể cần ghép da để vết thương chóng lành.

Thời kỳ II hoặc III: Giải phẫu để cắt bỏ khối da ung thư, bác sĩ có thể cắt bỏ đến cả 3 cm (1 1/4 inch) của những tế bào bình thường chung quanh và có thể cần ghép da để vết thương chóng lành. Đôi khi bác sĩ cắt bỏ những hạch bạch huyết chung quanh.

Thời kỳ IV: bệnh nhân được chữa trị để làm giảm bớt đau đớn, giảm những biến chứng của ung thư dù những cách trị liệu ung thư không mấy khả quan.
a. Bác sĩ có thể cắt bỏ khối da ung thư, hạch bạch huyết và những bộ phận khác đã bị ung thư ăn lan.
b. Xạ trị, sinh hóa hoặc hóa hất được sử dụng để giúp bệnh nhân dễ chịu hơn

Melanoma tái phát
Tùy theo nơi chỗ, cách chữa trị trước đây và những yếu tố khác. Ở thời kỳ IV, không có phương cách nào để chữa trị khi melanoma tái phát. Tuy nhiên, bác sĩ vẫn tìm cách làm giảm đau đớn và giúp bệnh nhân dễ chịu hơn (palliative care) bằng những phương cách kể trên.

Bệnh nhân có thể:
- Giải phẫu cắt bỏ hạch bạch huyết có dấu hiệu ung thư hoặc khối u đã lan đến các bộ phận khác.
- Xạ trị, sinh hóa tố hoặc hóa chất để giảm triệu chứng.
- Hóa chất được hâm nóng và chích thẳng vào khối u.

Biến chứng của trị liệu
Cách chữa trị ung thư có thể hủy hoại các tế bào bình thường và tạo ra phản ứng phụ. Phản ứng phụ tùy thuộc vào cách chữa, mức chữa trị và không đồng nhất cho mọi người cũng như không đồng đồng nhất từ lần chữa trị này sang lần chữa trị khác.
Trước khi chữa trị, bác sĩ sẽ giải thích về phản ứng phụ và cách tiết giảm.

Giải phẫu
Biến chứng tùy thuộc vào kích thước và nơi chỗ của khối da ung thư bị cắt bỏ.
• Sự đau đớn hậu giải phẫu có thể chữa bằng thuốc giảm đau.
• Cơ thể sẽ yếu và mệt mỏi trong nhiều ngày sau khi giải phẫu.
• Vết thẹo có thể lớn hoặc nhỏ tùy theo kích thước và chiều sâu của khối da bị cắt bỏ. Thẹo thường mở theo thời gian. Đôi khi, có những vết thẹo trồi lên da, sần sùi và tím đỏ (keloid). Khi khối u lớn và sâu, bác sĩ cần cắt bỏ các mô chung quanh kể cả bắp thịt. Mặc dù ghép da có thể giảm thẹo nhưng vết thẹo vẫn khá rõ.
• Khi hạch bạch huyết ở nách hoặc háng bị cắt bỏ, dòng bạch huyết bị luân lưu chậm, đọng lại tạo nên sự sưng trướng ở tay hoặc chân gọi là lymphedema. Những phần thân thể này dễ bị nhiễm trùng sau khi hạch bạch huyết (có công dụng thanh lọc) bị cắt bỏ, vì vậy cần xem xét da kỹ lưỡng để tìm những dấu hiệu của sự nhiễm trùng.

Hóa chất
Phản ứng phụ tùy thuộc vào loại thuốc và lượng thuốc sử dụng. Nói chung, những loại hóa chất chữa ung thư ảnh hưởng đến những tế bào sinh trưởng nhanh chóng trong cơ thể. Trong cơ thể bình thường, những tế bào tăng trưởng và sinh sôi nhanh chóng là:

- Tế bào máu: bạch cầu (giúp cơ thể chống lại sự nhiễm trùng), tiểu cầu (làm đông máu), hồng cầu (dẫn dưỡng khí đi khắp cơ thể). Khi tế bào máu bị hủy hoại bệnh nhân thường bị nhiễm trùng, bị xuất huyết (vì máu không đông), và cảm thấy yếu sức, mệt mỏi (vì thiếu máu, thiếu dưỡng khí). Khi các tế bào máu hạ thấp, bác sĩ sẽ dùng thuốc men để thúc đẩy cơ thể sản xuất thêm các tế bào cần thiết này.
- Tế bào tại chân tóc: bị hủy hoại gây rụng tóc. Tóc có thể sẽ mọc trở lại nhưng màu tóc và sợi tóc có thể đổi khác.
- Tế bào lót bộ phận tiêu hóa (từ miệng đến hậu môn): bệnh nhân bị lở miệng, môi, tiêu chảy, biếng ăn. Bác sĩ sẽ dùng thuốc men để tiết giảm các phản ứng phụ này.

Sinh hóa trị liệu
Biến chừng tùy thuộc vào loại sinh hóa được sử dụng, thường là những triệu chứng của bệnh cúm như sốt cao độ, nóng lạnh, bắp thịt ê ẩm, yếu mệt, biếng ăn, buồn ói, nôn mửa và tiêu chảy, đôi khi da nổi mẩn đỏ...Những triệu chứng này sẽ hết khi việc trị liệu chấm dứt.

Xạ trị
Phản ứng phụ tùy thuộc vào lượng phóng xạ và nơi chữa trị. Phản ứng phụ có thể bao gồm đỏ rát da và rụng lông, tóc. Xạ trị cũng gây mất sức, mệt mỏi; các phản ứng phụ này hết khi việc trị liệu chấm dứt.

Dinh dưỡng

Dinh dưỡng rất quan trọng trong mọi giai đoạn, trước khi, trong khi và sau khi chữa trị ung thư. Bệnh nhân cần một lượng đầy đủ calorie, protein, sinh tố, và khoáng chất. Khi cơ thể được bồi bổ đúng mức, bệnh nhân thường cảm thấy dễ chịu hơn.

Tuy nhiên, bệnh nhân có thể gặp khó khăn trong việc ăn uống vì nhiều nguyên nhân, mệt mỏi, biếng ăn hoặc khó nuốt thức ăn. Khi dùng hóa chất trị liệu, bệnh nhân có thể không còn nếm được thức ăn, hoặc cho rằng thức ăn không còn hương vị, thơm ngon như trước. Bệnh nhân cũng có thể chịu các phản ứng phụ như biếng ăn, buồn nôn, ói mửa, hoặc tiêu chảy.

Có nhiều cách để bồi bổ cơ thể khi không thể ăn uống đầy đủ. Hãy thảo luận với chuyên viên về dinh dưỡng (registered dietitian) để chọn cách dinh dưỡng thích hợp với đầy đủ calorie, protein, sinh tố (vitamins), và khoáng chất (minerals).
Khi có thể, nên duy trì sự hoạt động, đi bộ, yoga, bơi lội hoặc những hoạt động khác có thể gia tăng năng lực. Nên thảo luận với bác sĩ về việc vận động cơ thể và báo cho bác sĩ biết khi việc vận động gây đau đớn.

Thăm bệnh định kỳ

Sau khi chữa trị, bệnh nhân sẽ cần được khám bệnh định kỳ. Ngay cả khi không có dấu hiệu nào về ung thư tái phát, vẫn cần thăm bệnh vì mầm ung thư có thể còn sót lại trong cơ thể.

Khám bệnh định kỳ giúp bác sĩ kiểm soát theo dõi diễn tiến của bệnh trạng.
Báo cho bác sĩ biết nếu bị bệnh giữa những buổi khám bệnh định kỳ.
Sau khi chữa trị ung thư da, nên:

a) Tự khám xét da hàng tuần

b) Cần đi khám bệnh theo định kỳ để truy tìm xem ung thư có tái phát hay không
c) Đi khám bệnh khi trên da có sự thay đổi.

Những nguồn trợ giúp


Chứng bệnh nan y như ung thư có thể thay đổi cuộc sống của người bệnh và cả thân nhân. Những thay đổi này khó thích nghi và chấp nhận, nên điều dễ hiểu là bệnh nhân cũng như những người thân yêu thường trải qua những giai đoạn khó khăn, phân vân, bất an, buồn rầu.

Người bệnh có thể lo âu về gia đình, công việc làm, hoặc sinh hoạt hàng ngày kể cả việc chịu đựng và thích nghi với việc trị bệnh, những chuyến ra vào bệnh viện, phản ứng phụ và những phí tổn trị liệu.

Sống với căn bệnh nan y, người bệnh thường sợ hãi, tự trách, giận dữ hoặc buồn rầu. Những cảm tính này sẽ khiến đời sống nặng nề buồn thảm hơn. Bệnh nhân có thể tìm những nguồn trợ giúp chia sẻ qua quý vị hữu, thân nhân, chuyên viên tâm lý hoặc cả những bệnh nhân khác.

Nguồn trợ giúp có thể bao gồm:

Bác sĩ, y tá, những chuyên viên trong nhóm trị liệu có thể trả lời hầu hết những câu hỏi liên quan đến bệnh trạng.
Chuyên viên xã hội, chuyên viên tâm lý hoặc những vị lãnh đạo tôn giáo có thể giúp đỡ phần tinh thần. Chuyên viên xã hội có thể giới thiệu hoặc chỉ dẫn những nguồn tài trợ, việc chuyên chở, trị liệu tại nhà…

Những nhóm hỗ trợ: bệnh nhân và người thân gặp gỡ các bệnh nhân khác và thân quyến họ để chia sẻ và trao đổi kinh nghiệm về căn bệnh và việc chữa trị. Những nhóm hỗ trợ này có thể gặp gỡ qua sự họp mặt, điện thoại, hoặc qua internet.

Các chuyên viên tại 1-8-4-CANCER (điện thoại miễn phí trên lãnh thổ Hoa Kỳ) có thể giúp bệnh nhân tìm những chương trình hỗ trợ, dịch vụ và các tin tức, tài liệu liên quan đến ung thư.

Sự hứa hẹn của ngành khảo cứu ung thư


Bác sĩ tại Hoa Kỳ đang thực hiện nhiều cuộc thử nghiệm lâm sàng. Thử nghiệm lâm sàng được hoạch định với mục đích trả lời các câu hỏi quan trọng về cách trị liệu hữu hiệu nhất.

Những tìm hiểu khoa học đã tạo được nhiều lợi ích, giúp con người sống lâu hơn, và khoa học tiếp tục tìm kiếm. Các chuyên gia đang tìm kiếm phương pháp ngăn ngừa ung thư, cách tìm ra bệnh sớm hơn, cũng như cách trị liệu hiệu quả hơn.
Các chuyên gia đang thử nghiệm các hóa chất trị liệu. Họ tìm hiểu kiếm các loại thuốc mới, các cách dùng chung nhiều loại thuốc, và lượng thuốc mới. Ngoài ra các chuyên gia cũng tìm cách tiết giảm phản ứng phụ của việc trị liệu.

Trang nhà của viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ có phần tin tức về thử nghiệm lâm sàng: h*tp://www.cancer.gov/clinicaltrials. Tại đây ngoài các tin tức về thử nghiệm còn có những chi tiết về các cuộc thử nghiệm lâm sàng về ung thư.
Nguồn tài liệu, tin tức từ viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ. Quý vị có thể lấy tin tức cho chính mình, thân nhân hoặc bác sĩ của mình.

Điện thoại (miễn phí trên lãnh thổ Hoa Kỳ): 1-800-4-CANCER (1-800-422-6237).
Điện thoại dành cho những người lãng tai: 1-800-332-8615

Trang nhà của viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ cung cấp tin tức về cách ngăn ngừa ung thư, truy tìm, chẩn đoán, chữa trị, di tính học, thử nghiệm lâm sàng. Ngoài ra còn có những dữ kiện về các chương trình khảo cứu, chương trình tài trợ và cả thống kê về ung thư.

Trang nhà: h*tp://cancer.gov
Nếu quý vị cần thêm chi tiết hoặc các dữ kiện khác, hãy dùng “online contact form” tại: h*tp://www.cancer.gov/contact hoặc gửi điện thư về: cancergovstaff@mail.nih.*** (thay thế *** bằng “gov”)

Tự khám da


Bệnh nhân nên tự khám da thường xuyên tại nhà. Hàng tuần, thường sau khi tắm, dùng một gương lớn (có thể nhìn toàn thân, full length mirror) và một gương cầm tay trong phòng có đủ ánh sáng để quan sát. Bắt đầu từ những vùng da có bớt, có vết lở, vết nám, những cục u đen, quan sát xem có sự thay đổi nào không trên những vùng da này, sau đó tìm kiếm những dấu vết mới xuất hiện, nếu có.
- Cục u, bớt mới
- Vết đổi màu mới
- Thay đổi về kích thước, hình thể, màu sắc của một cục u đả xuất hiện trước đây.
- Vết lở không lành

Phương cách tự khám da:
• Khám xét mọi nơi, kể cả lưng, da đầu, giữa hai mông và phần da trên bộ phận sinh dục.
• Nhìn từ trước ra sau khắp thân thể, dơ hai tay lên và tìm từ phải sang trái của cơ thể. Cong khuỷu tay và tìm kiếm từ bàn tay, cánh tay trước và sau, bắp tay. Nhìn từ trước ra sau chân, cẳng chân và bắp đùi, rồi mông và da trên bộ phận sinh dục. Quan sát cả các kẽ ngón chân, kể cả lòng bàn chân. Quan sát mặt, cổ, da đầu, nên dùng lược chải tóc để rẽ tóc cho dễ thấy da đầu.

Tài liệu

Viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ cung cấp những tài liệu (ấn bản, tạp chí) về ung thư, những tài liệu này bằng tiếng Anh và Tây Ban Nha.

Quý vị có thể đặt mua (ấn phí tối thiểu) qua điện thoại, trên trang mạng hoặc bằng thư từ, hoặc vào trang nhà kể trên, và tự in phụ bản cho mình.

Thư từ gửi về:

Publications Ordering Service
National Cancer Institute
Suite 3035A
6116 Executive Boulevard, MSC 8322
Bethesda, MD 20892-8322

- Những Điều Cần Biết Về Ung Thư Da
- Những Điều Cần Biết Về Moles

Chữa trị ung thư (Cancer Treatment)

- Hóa chất trị liệu và quý vị (Chemotherapy and You)
- Xạ trị và quý vị (Radiation Therapy and You)
- Làm thế nào để tìm một bác sĩ hoặc nơi trị liệu nếu quý vị bị ung thư (How To Find a Doctor or Treatment Facility If You Have Cancer)
- Câu hỏi và câu trả lời về targeted therapy (Targeted Cancer Therapies: Questions and Answers)
- Câu hỏi và câu trả lời về cách trị liệu ung thư bằng ánh sáng (Photodynamic Therapy for Cancer: Questions and Answers)

Sống với ung thư (Living With Cancer)
- Cách ăn uống dành cho người bị ung thư (Eating Hints for Cancer Patients)
- Giảm đau đớn (Pain Control)
- Thích ứng với ung thư thời kỳ sau cùng (Coping With Advanced Cancer)
- Những ngày sắp tới: Đời sống sau khi chữa trị ung thư (Facing Forward Series: Life After Cancer Treatment)
- Những ngày sắp tới: Những cách tạo sự thay đổi cho ung thư (Facing Forward Series: Ways You cần Make a Difference in Cancer)
- Dành thời giờ: Hỗ trợ những người bị ung thư (Taking Time: Support for People with Cancer)

Khi ung thư tái phát (When Cancer Returns)
- Những tổ chức cung cấp dịch vụ giúp những người bị ung thư và thân nhân họ (National Organizations That Offer Services to People With Cancer and Their Families)

Thử nghiệm lâm sàng (Clinical Trials)
- Tham dự thử nghiệm lâm sàng (Taking Part in Cancer Treatment Research Studies)

- Những yếu tố nguy hại (Risk Factors)

Người chăm sóc bệnh nhân (Caregivers)
- Khi người thân yêu được chữa trị bệnh ung thư: hỗ trợ người chăm sóc (When Someone You Love Is Being Treated for Cancer: Support for Caregivers)
- Khi người thân yêu bị ung thư ở giai đoạn cuối: Hỗ trợ người chăm sóc (When Someone You Love Has Advanced Cancer: Support for Caregivers)
- Những ngày sắp tới: Khi cuộc chữa trị ung thư của người thân chấm dứt (Facing Forward: When Someone You Love Has Completed Cancer Treatment)

* Tài liệu của Viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ, NIH 02-1563, tháng Ba, 2003


Tài liệu này đã được đọc 856 lần.

    • là người cập nhật hóa tài liệu này vào ngày

Current Discussion: Main discussion

  1. No comments have been posted for this discussion.