TVVN
Wiki

  1. Chapter
  2. Pháp Tuyển - Cầu Siêu - Hiển Mật
Printable Version

https://www.tvvn.org/forums/wiki_index/?title=Chapter:Pháp-Tuyển-Cầu-Siêu-Hiển-Mật

Đây là một phần của sách 'Book:Pháp Tuyển - Hiển Mật'

Tài liệu này đã được đọc 378 lần.

    • là người cập nhật hóa tài liệu này vào ngày
CẦU SIÊU


Chúng ta ai nấy đều biết là những người tu hành đã đắc Pháp thì sẽ được như nguyện. Còn những người có tu nhưng chưa đắc Pháp và những người không tu đều phải theo nghiệp trở lại luân hồi. Nếu là nghiệp tốt, thì họ sẽ được tái sinh làm người hoặc hoá sinh làm trời và chúng ta sẽ chúc phúc cho họ. Nhưng nếu là nghiệp xấu thì họ sẽ bị đọa vào địa ngục, ngạ quỉ hoặc súc sinh và chúng ta nên tìm cách cứu họ. Cứu bằng cách nào? Cứu bằng cách cố gắng nhờ một thiện tri thức đắc thiên nhãn giúp đỡ hoặc chí thành làm lễ cầu siêu cho đương sự.
Thiện tri thức đắc thiên nhãn có thể giúp gì cho người chết? Để trả lời câu hỏi này, tôi xin thuật lại một chuyện, do thầy Khế Định kể, như sau: Một hôm Bùi Hưu bị bệnh nặng, nên mới sai con đi mời Thiền sư Hoàng Bá. Hoàng Bá đến đúng lúc Bùi Hưu đang mê man. Hoàng Bá hét lớn: "Bùi Hưu!" làm ông ta giật mình tỉnh dậy.
Hoàng Bá bảo: "Ông vừa thấy cái gì, hãy kể lại coi."
Bùi Hưu nói: "Tôi vừa thấy một cái hồ, nước ở đó trong xanh rất đẹp. Đang định nhẩy xuống tắm, thì thấy một ông tăng gọi tên tôi, nên giật mình tỉnh dậy!"
Bấy giờ, Hoàng Bá mới giải thích: "Nếu không nhờ lão tăng gọi ông, thì ông đã thác sinh vào loài rồng!"
Qua thí dụ trên, chúng ta thấy bậc thiện tri thức đắc thiên nhãn, có thể giúp người chết một cách rất dễ dàng và chính xác. Tiếc là không dễ gì tìm được một thiện tri thức đắc thiên nhãn! Do đó, thông thường chúng ta chỉ biết giúp người chết bằng cách cầu siêu cho họ!
Cầu siêu bao gồm những nghi thức, cúng dường, cầu nguyện, sám hối, tụng kinh, niệm Phật hay trì chú, nhằm giúp cho một hay nhiều vong linh thoát ly ác đạo. Có hai cách cầu siêu chính: Một là giúp cho vong linh vãng sinh Cực Lạc. Hai là giúp cho vong linh được tái sinh làm người hoặc hóa sinh làm trời.
Cách thứ nhất chỉ áp dụng được cho những người vừa mới chết. Muốn thế, chúng ta nên đọc kinh A Di Đà để khuyến khích họ niệm Phật, cầu sinh Cực Lạc. Tiếp theo, chúng ta phải niệm danh hiệu Phật A Di Đà cho họ bắt chước làm theo. Nếu trong lúc chúng ta hành lễ, đương sự phát được lòng tin, niệm danh hiệu Phật, cầu sinh Cực Lạc, thì chắc chắn sẽ được toại ý!
Cách thứ hai có thể áp dụng cho mọi trường hợp và thường được thực hiện dưới một trong hai dạng sau đây:
1. Tu phúc, cúng dường, sám hối, niệm Phật, trì chú, đọc kinh, đặc biệt là kinh Điạ Tạng. Rồi hồi hướng phúc đức, cầu cho vong linh thoát ly ác đạo, tái sinh làm người hay hoá sinh làm trời. Tại sao? Vì theo kinh Điạ Tạng, niệm danh hiệu của bồ tát Địa Tạng hay của một đức Phật mà mình tin ưa sẽ tạo được rất nhiều công đức và chúng ta có thể chuyển nhượng 1 phần 7 số lượng công đức ấy để chuộc tội cho người thân. Trong đó, có cha mẹ bẩy đời của chúng ta.
2. Đợi rằm tháng bẩy, mua sắm lễ vật, cúng dường chư Tăng, cầu xin các thầy, chú nguyện cho vong linh người chết được tái sinh làm người hoặc hoá sinh làm trời.
Có nhiều người không tin vào việc cầu siêu, viện lý, khi xưa, thần thông quảng đại như ngài Kiền Liên mà còn chẳng cứu đựơc mẹ ruột của mình, thì một vị tăng bình thường của thời đại này, liệu có thể giúp gì cho thân nhân của chúng ta?
Thực ra, trong lúc cầu siêu chúng ta có thể gặp những trường hợp khó mà siêu được, nhưng cũng có những trường hợp có thể siêu được, miễn là chúng ta có nhiệt tình muốn giúp người chết và biết cách xử sự là đủ.
Nói khó mà siêu được, như trường hợp của mẹ ngài Kiền Liên trong kinh Vu Lan. Theo kinh này, sau khi chứng được thần thông, lòng hiếu phát động, muốn độ cha mẹ, ngài Kiền Liên liền dùng mắt tuệ xem xét thế gian, thấy vong linh của mẹ mình bị đọa vào loài ngạ quỉ, thân thể gầy ốm, da bọc lấy xương. Mục Liên thương sót, tức thời lấy bát sới cơm dâng lên. Mẹ ngài vui mừng, tay trái che bát, tay phải bốc ăn. Nhưng cơm chưa tới miệng đã hóa thành than hồng, không thể ăn được!
Mục Liên thấy vậy, liền khóc oà lên. Tức tốc chạy về, bạch lại với Phật đầu, đuôi sự việc.
Phật bèn dậy rằng: "Mẹ con gây tội, gốc đã ăn sâu, chẳng thể lấy sức của một mình con mà mong cứu được. Không cứ gì con, mà cả đến Thiên thần, Tà ma, Đạo sĩ cũng đều thúc thủ. Muốn cứu mẹ con, phải nhờ oai lực của chư tăng ở khắp mười phương..."
Tiếp theo, Phật khuyên tứ chúng, vào rằm tháng 7, tức ngày Tự Tứ, nên vì bố mẹ đời này và bẩy đời đã qua, mà sắm lễ vật, cúng dường chư tăng, cầu xin các ngài chú nguyện cho họ: Nếu còn tại thế, khoẻ mạnh, yên vui. Nếu đã qua đời, xa lià đường ác, trở lại làm người, hoặc sinh lên trời.
Nói có thể siêu được, như trường hợp của mẹ nàng Quang Mục trong kinh Địa Tạng. Theo kinh này, về đời xa xưa, cách đây không biết bao nhiêu a tăng kỳ kiếp, có đức Phật ra đời, hiệu là Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Như Lai. Trong thời tượng pháp của Ngài, có một vị La Hán nhân đi giáo hoá, gặp người con gái, tên là Quang Mục làm cỗ cúng dường.
Vị La Hán hỏi: "Con cúng dường ta để cầu việc chi?"
Quang Mục thưa: "Hôm nay là ngày giỗ của mẹ con. Con muốn mượn công đức cúng dường này để tạo phúc cho mẹ. Không biết mẹ con đã thác sinh chỗ nào?"
Trạnh lòng thương xót, vị La Hán liền nhập định quán thấy mẹ của Quang Mục đang bị đọa trong đường ác, cực khổ vô cùng. Nên khi xuất định, ông mới hỏi Quang Mục: "Mẹ con lúc còn sống đã làm những gì, mà nay phải đọa vào trong đường ác, chịu nhiều cực khổ như thế?"
Quang Mục thưa: "Mẹ con lúc còn sống thường thích ăn cá, ăn ba ba v.v... Không những ăn các loại đó, mà còn ăn rất nhiều trứng của chúng, hại có đến mấy ngàn vạn mạng. Xin tôn giả từ mẫn thương xót, chỉ cho con cách cứu mẹ con!"
Vị La Hán liền khuyên Quang Mục: "Con nên chí thành niệm danh hiệu đức Thanh TịnhLiên Hoa Mục Như Lai và tô vẽ hình tượng của Ngài thì kẻ còn, người mất đều được phúc cả."
Quang Mục nghe xong, liền xả những vật sở thích để sưu tầm và tô vẽ tượng Phật, lại dốc lòng cung kính lễ bái. Đến quá nửa đêm, chợt thiếp đi và chiêm bao thấy thân Phật sắc vàng rực rỡ, như núi Tu Di, phóng hào quang rất lớn mà bảo rằng: "Chẳng bao lâu nữa mẹ con sẽ sinh vào nhà con. Vừa biết đói rét, đã biết nói ngay!"
Quả nhiên, ít lâu sau người ở gái trong nhà sinh được một đứa con. Chưa đầy ba ngày mà đã biết nói. Cúi đầu khóc lóc, bảo Quang Mục rằng: "Ta vốn là mẹ của con. Từ lúc bỏ con mà đi, đã bị đọa vào các đại địa ngục. May nhờ phúc lực của con mới được đầu thai làm người hèn hạ, còn bị chết non, chỉ sống đựơc mười ba năm. Rồi lại phải đọa vào đường ác. Con có cách gì cứu được mẹ chăng?"
Quang Mục nghe nói, biết đích thực là mẹ mình, nghen ngào vừa thương, vừa khóc mà thưa với con của người ở rằng: "Nếu quả là mẹ tôi, chắc biết rõ căn nguyên tội cũ, do hạnh nghiệp gì mà bị đọa vào đường ác như thế?"
Con của người ở đáp: "Vì hai nghiệp giết hại và chửi rủa, cho nên phải chịu báo như thế. Nếu chẳng nhờ con làm phúc cứu trừ khổ nạn cho ta, thì hai nghiệp ấy chưa có thể giải đựơc!"
Quang Mục lại hỏi: "Sự thể tội báo trong địa ngục như thế nào?"
Con người ở đáp: "Những nỗi khổ của tội phạm thực không nỡ nói ra. Mà có nói cho đến trăm ngàn năm cũng không hết được!"
Quang Mục nghe rồi, nức nở than khóc, hướng lên trên không mà khấn rằng: "Xin nguyện cho mẹ con thoát khỏi địa ngục mãi mãi. Hết kỳ mười ba tuổi, không còn tội gì nặng, khiến phải trở lại đường ác nữa. Nếu mẹ con được lià hẳn ba đường ác và nơi hèn hạ này, cho đến đời đời, kiếp kiếp không còn phải làm thân đàn bà nữa, thì con xin đối trước tượng Phật Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Như Lai, nguyện từ nay cho đến trăm ngàn vạn ức kiếp về sau, hễ có chúng sinh chịu khổ trong ba đường ác, thì con thề sẽ cứu bạt hết, khiến cho họ thoát cảnh địa ngục, ngạ quỷ và súc sinh. Những chúng sinh bị tội báo như thế thành Phật cả rồi, nhiên hậu con mới lên ngôi Chính Giác."
Dứt lời, liền nghe thấy đức Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Như Lai bảo rằng: "Này Quang Mục! Con thật có lòng đại từ mẫn, tha thiết vì mẹ mà phát lời nguyện lớn như thế. Ta quán thấy mẹ con khi hết hạn mười ba tuổi bỏ báo thân ấy, sẽ được sinh làm Phạm chí, thọ lâu trăm tuổi...."
Xem như vậy, ngài Kiền Liên không cứu được mẹ mình, vì thái độ của mẹ ngài không thuận lợi cho việc tiếp cứu và cách xử sự của ngài cũng không hiệu nghiệm. Nàng Quang Mục cứu được mẹ mình, vì thái độ của mẹ nàng rất thuận lợi cho việc tiếp cứu và cách xử sự của nàng lại rất hiệu nghiệm.
Thực vậy, mẹ của ngài Kiền Liên chỉ bận tâm về cái khổ đói, khát của loài ngạ quỉ, mà không biết tại sao mình bị sinh làm ngạ quỉ và cũng không hề nghĩ đến việc phải thoát khỏi cảnh ngạ quỉ, đầy khổ đau. Vì vậy, khi ngài Kiền Liên dâng bát cơm lên, bà không bảo ngài phải lo độ bà, mà chỉ sợ các vong khác dành giật, một tay che bát, một tay bốc ăn. Thái độ này làm cho việc tiếp cứu trở nên cực kỳ khó khăn. Khó đến mức phải nhờ oai lực của tăng đoàn. Tại sao? Vì chỉ tăng đoàn mới có đủ oai lực để làm bà thức tỉnh, không cầu no nê, mà cầu giải thoát!
Lại nữa, thấy mẹ đói khát, ngài Kiền Liên không nghỉ đến việc cứu mẹ ra khỏi ác đạo, mà chỉ vội vã dùng thần lực, tự tay dâng cơm cho riêng mẹ mình. Hy vọng bà sẽ được no nê. No nê trong cái thân ngạ quỉ! Đây chính là lý do khiến ngài bị thất bại!
Ngược lại, mẹ của nàng Quang Mục biết rõ tại sao mình bị đọa đầy. Bà không mong được yên vui trong cảnh địa ngục, mà quyết tâm tìm cách thoát ra. Thái độ này khiến cho việc tiếp cứu trở nên dễ dàng.
Lại nữa, biết mẹ bị đọa, nàng Quang Mục không xin cho mẹ mình miễn bị hành hạ và được thanh nhàn nơi đọa xứ, mà chỉ lo nương vào Phật lực, giải bớt nghiệp chướng của bà để đưa bà ra khỏi địa ngục. Nhân đó, nàng lại biết được nỗi khổ của chúng sinh trong cùng cảnh ngộ và phát đại bi tâm, nguyện độ tất cả bọn chúng trước khi đắc quả Chính Giác. Chính cái đại bi tâm này đã phá tan nghiệp chướng còn lại của mẹ nàng để giúp bà, khi bỏ thân phận hèn hạ của con người ở, liền đựơc sinh làm Phạm chí.
Nói một cách khác, tuỳ theo hoàn cảnh, việc cầu siêu có thể có hiệu nghiệm, cũng có thể không hiệu nghiệm, nhưng lý tưởng nhất là khi hội đủ ba điều kiện sau:
1. Vong linh không cầu yên vui nơi ác đạo, mà tha thiết muốn được thoát ra.
2. Tang chủ và thân nhân tham dự buổi lễ phải thực tình thương mến và bằng lòng hy sinh tài vật và công sức để cứu dõi vong linh.
3. Chủ lễ phải tin rằng cầu siêu là hợp tình, hợp lý, hợp pháp và phải ý thức rõ ràng rằng không phải cá nhân mình cầu siêu, mà mình cầu siêu với tư cách đại diện cho tăng đoàn ở khắp mười phương.
Lại nữa, khi làm lễ cầu siêu chúng ta nên vì người chết, chứ không nên vì mình. Thế nào là vì người chết? Vì người chết có ba nghiã:
1. Đăng ký cầu siêu tại ngôi chùa, mà lúc sống, người chết thường lui tới. Tại sao? Vì họ đã quen với cách tụng niệm của quí thầy ở đó và có thể nhịp theo một cách dễ dàng. Nếu suốt đời, người chết chưa hề đến chùa, thì nên đăng ký cầu siêu tại ngôi chùa nào, mà quí thầy thường khai thị cho vong linh trước khi niệm Phật. Tại sao? Vì nếu không được khai thị rõ ràng, thì vong linh sẽ không hiểu tại sao chúng ta lại họp nhau niệm Phật? Rồi chán nản bỏ đi, thay vì hoan hỉ hành lễ cùng với chúng ta!
2. Chủ lễ phải khai thị, đọc kinh và niệm Phật bằng tiếng Việt, hay đúng hơn là bằng tiếng mẹ đẻ của người chết, một cách thật rõ ràng, rành mạch để cả người chết và người sống đều có thể đọc theo và hiểu được ý nghiã của việc, mà họ đang làm. Không nên ê a, gõ mõ và đánh chiêng rộn ràng, cốt ý làm cho mọi người được vui tai.
3. Tang chủ và than nhân nên mời một hay nhiều thiện tri thức đến dự lễ, để giúp vong linh của người chết phát khởi lòng tin, bỏ hết tham, giận, hướng về chư Phật, mà cầu giải thoát. Thế nào là thiện tri thức? Thiện là tốt lành. Tri là nghe tên, hiểu tính. Thức là biết mặt, thấy hình. Thiện tri thức không cần phải là một cao tăng, mà là một người quen hay một người bạn biết tính tình, sở thích, khả năng của người chết và lại có lòng tốt muốn giúp đương sự được siêu thoát.
Vai trò của thiện tri thức rất quan trọng. Nhờ sự hiện diện của người này, mà vong linh mới vui vẻ tham dự khóa lễ và nghe lời chủ lễ, làm những việc cần thiết để được giải thoát.
Dù muốn hay không, đến một tuổi nào đó, chúng ta, ai nấy đều phải đối diện với cái chết và thường đi dự lễ cầu siêu của bạn bè hay bà con. Tuy thường đi dự lễ cầu siêu, nhưng vẫn có nhiều người không tin là việc làm này có ích lợi thiết thực cho người chết. Vì vậy, tôi xin kể lại một chuyện có thực, của Sư Ông Giác Hạnh, trụ trì chùa Hội Phước ở Bà Rịa, nói về con ma, tên Lê Văn Quốc.
Lê Văn Quốc, nguyên là y sĩ ở bệnh viện Rạch Giá. Làm việc tại đó từ năm 1980 đến năm 2000 thì bị giết chết, hưởng dương 45 tuổi.
Cậu Quốc có một người em cùng cha khác mẹ, tên là Lê Thị Xuân Lan, tức là ni cô Liên Thiền, đệ tử của ni sư Thiền Liên, tu tại tịnh thất Ngọc Nguyên, ở Hội Bài.
Nhân có một nhóm người Nhật qua Việt Nam đầu tư, cần mua đất để lập công ty. Cô Thiền, tức ni cô Liên Thiền về Rạch Giá bán 7 mẫu ruộng và 5 mẫu vườn của mẹ để lại cho cô và gom được một số tiền khá lớn.
Do đó, người chị dâu của cô là bà Quốc mới động lòng tham, xúi chồng là cậu Quốc đi kiện, để đòi chia gia tài. Nhưng cậu Quốc không chịu, nói là hai miếng đất đó là của mẹ cô Thiền cho riêng cô ấy và anh chỉ là người anh cùng cha, khác mẹ với cô ta, thì làm sao kiện được?
Sau nhiều lần hối thúc mà không có kết quả, bà Quốc liền thuê bạn của chồng đi giết chồng bà, để bà tự mình đứng ra kiện tụng! Do đó, ngày 18 tháng 10 năm Canh Thìn, tức là ngày 13 tháng 11 năm 2000, đám người giết mướn ấy mới rủ cậu Quốc đi nhậu. Rồi thừa lúc cậu say rượu đã giết cậu và đem xác về nhà, trả cho bà Quốc. Bà này vội vã lấy chiếu cuốn lại và chôn ở vườn sau.
Ngày 22 tháng 10 năm Canh Thìn, cô Thiền được tin anh mình đã chết và đã được chôn cất xong xuôi rồi. Nghi là có chuyện mờ ám, nên cô mới đến Sở Công An tỉnh Rạch Giá, yêu cầu giúp đỡ để điều tra sự tình.
Bấy giờ, tỉnh cử hai người công an của tỉnh, phối hợp với công an phường đến khám nhà cậu Quốc. Họ tìm thấy chỗ chôn dấu, khai quật xác của cậu lên, đem vào bệnh viên Rạch Giá để khám nghiệm và đồng thời cũng bắt luôn bà Quốc và mẹ của bà. Cả hai người này và gian đảng đều bị xử bắn trong tháng 1 năm 2001.
Riêng cô Thiền, chờ khám nghiệm tử thi xong, mới đem xác của cậu Quốc về nhà cũ của bố, mẹ chôn ở sau vườn. Rồi mới trở về tịnh thất.
Ngày 22 tháng 11 năm Canh Thìn, tức ngày 17 tháng 12 năm 2000, vong linh của cậu Quốc lên tịnh thất, nhập vào cô Thiền, xưng rõ tên họ và trách, vì cô mà cậu bị hại. Sau đó, lại thúc dục cô uống thuốc ngủ tự tử. May có ni cô Thanh, từ Bà Rịa lên thăm, ngăn cản. Trong lúc hai người dằng co nhau, cô Thanh bị cậu Quốc cắn vào ngón tay cái. Đau quá, cô mới phát vào đít cậu và nói: "Chết rồi sao còn làm khổ người khác, mà nó là em mình chứ ai? Tiếp theo, cô khuyên cậu nên thương em, để cho nó tu."
Nghe ni cô Thanh khuyên như vậy, cậu Quốc mới dịu lại, không làm dữ nữa!
Hôm sau, 23 tháng 11 năm Canh Thìn, cậu Quốc nhập vào chú tám Độ là bà con của cô Thiền, hiện làm Chính Án ở Rạch Giá, nhờ thím tám Độ gọi điện thoại cho Sư Ông, xin cho cậu được qui y với bà thầy, mà cậu đã cắn đêm qua.
Vì vậy, chiều hôm ấy, Sư Ông mới cho người ra đón ni cô Thiền và ni cô Thanh về chùa Hội Phước. Quốc cũng đi theo và năn nỉ xin được qui y với ni cô Thanh.
Mới đầu Sư Ông không chịu, nói cậu nên qui y với ông. Nhưng cậu từ chối và giải thích vì đã nhận ra ni cô Thanh, là sư phụ kiếp trước của cậu. Do đó, Sư Ông mới bằng lòng cho phép ni cô Thanh qui y cho vong linh, cũng gọi là hương linh của cậu Quốc.
Lúc ni cô Thanh nói: "Bây giờ vong linh hãy nói theo tôi: Đệ tử tên là..."
Cậu liền tiếp: "Lê Văn Quốc 45 tuổi, chết ngày 18 tháng 10 năm Canh Thìn."
Sau khi nhận được Pháp danh là Minh Tâm thì cậu vui mừng đảnh lễ Tam Bảo và sư phụ, rồi thăng liền.
Bốn ngày sau đó, Quốc qua Mỹ, đến nhà cô Út của cậu, tên là Lê Thị Mỹ, nhập vào dượng Út và nói với cô Út: "Con là Quốc nè, cô Út! Con đã qui y rồi. Pháp danh của con là Minh Tâm. Cô Út cho con tiền làm lễ trai tăng."
Cô Út hỏi: "Bao nhiêu?"
Minh Tâm nói: "$2000.00"
Cô Út bằng lòng hứa cho.
Minh Tâm mừng rỡ trở về Việt Nam, mượn xác cô Thiền, nói với Sư Ông: "Cô Út con đã hứa cho $2000.00, xin Sư Ơng làm lễ trai tăng cho con."
Sư Ông hỏi: "Làm làm sao?"
Minh Tâm nói: "Con muốn mời 100 vị tăng về chùa Hội Phước để cúng dường vào dịp 100 ngày của con."
Sư Ông chấp thuận.
Từ hồi Sư Ông biết làm Phật sự đến giờ, chưa ai dám sửa bài tác bạch của ông, thế nhưng lần này Minh Tâm đã buộc ông phải sửa đi, sửa lại ba lần, đặc biệt là phần hồi hướng, như sau: "Hôm nay con thỉnh 100 vị tăng về chùa Hội Phước để cúng dường, hồi hướng công đức cho tất cả những vong linh chưa siêu độ!" Vì theo cậu, thì các vong linh này rất tội nghiệp và cần được giúp đỡ.
Lại nữa, trong cuốn hồi ký của ni sư người Nhật tên là Satomi Myodo, được Nguyên Phong dich sang tiếng Việt, dưới nhan đề HOA TRÔI TRÊN SÓNG NƯỚC, cũng có một câu chuyện thực như sau:
"Một hôm, đang ngồi tĩnh tọa, tôi thấy một người lạ mặt, bước vào nhà. Đó là một người đàn ông trung niên, mặt mày sáng sủa, mặc áo kimono hiệu O Shima rất đắt tiền. Ông này đến trước mặt tôi và nói:
- Thưa bà, tôi là cha của Tomaro. Khi còn sống, tôi làm nghề cho vay lãi. Cái nghiệp xấu đó cứ ám ảnh tôi hoài. Nên khi qua đời, tôi bị đọa vào một cảnh giới tối tăm, ô trọc. Lúc nào cũng có cảm giác như đang sống trong một vũng bùn nhầy nhụa. Muốn ngoi lên nhưng không được!
May nhờ vợ tôi là người hiền lương, thường tụng kinh, niệm Phật, hồi hướng công đức cho tôi.
Hàng ngày được nghe lời kinh của bà ấy, tôi mới bắt chước đọc theo và quyết tâm sám hối. Đến nay, nghiệp cũ trả xong. Tôi vừa thoát khỏi chỗ tôi tăm dơ bẩn đó để đến một nơi sáng sủa yên vui, nên tôi muốn nhờ bà nhắn hộ với vợ tôi rằng, hãy bỏ qua những món nợ còn lại, đừng đòi nữa! Tôi đã lầm khi cho vay lãi nặng và rất hối hận về việc làm này!
Tomaro là một trong những đứa trẻ hay chơi trước của nhà tôi. Cha nó qua đời từ nhiều năm qua. Mẹ nó ở nhà làm nghề may để nuôi con. Mặc dầu bận rộn công việc, nhưng bà vẫn sớm, khuya tụng niệm rất chân thành. Khi nghe tôi kể lại chuyện này, mẹ của Tomaro gật đầu, nói:
- Quả đúng là chồng tôi, ông làm nghề thương mại và cho vay nợ lãi. Lúc chết, ông còn để lại rất nhiều giấy nợ. Nhưng thấy lãi xuất quá cao, nên tôi do dự, không biết phải xử trí thế nào? Nay nhờ bà cho biết như vậy, thì tôi sẽ đem đốt những giấy nợ ấy, để giải toả nỗi lo lắng của chồng tôi!"
Qua những câu chuyện trên, chúng ta thấy việc cầu siêu cho người chết rất quan trọng và hữu ích, không nên xem thường. Tại sao? Vì đã có nhưng vong linh hiện về xác nhận như vậy.
Nói đến đây, tôi chợt nhớ có lần đi nghe một thiền tăng thuyết Pháp. Thầy không tin việc cầu siêu, nên tuyên bố: "Nếu cầu siêu có ích lợi thật, thì chúng ta cứ việc tự do phóng túng, rồi đợi đến lúc chết, nhờ người đem một ít lễ vật cúng dường chư tăng nhờ các ngài chú nguyện cho được sinh về lạc cảnh, cần gì phải tu tập?"
Tuyên bố như vậy thì rõ ràng là không biết nguyên tắc cầu siêu! Tại sao? Vì nguyên tắc cầu siêu là cả chủ lễ lẫn tín chủ đều phải tin rằng danh hiệu của đức Phật và lời chú nguyện của chư tăng có tác dụng giải nghiệp, cũng như thuốc tẩy có khả năng xóa sạch mọi chữ sai trên những trang giấy của chúng ta.
Dùng thuốc tẩy để xóa những chữ viết sai, cũng như dùng danh hiệu Phật hay lời chú nguyện để giải trừ ác nghiệp là những việc hết sức đơn giản và hiển nhiên, chỉ tiếc là có nhiều người không hiểu, nên mới bàn ngang, tán dọc hoặc thực hiện một cách cẩu thả làm hư việc của tín chủ!
Lại nữa, tuy thuốc tẩy có khả năng giúp chúng ta xóa mọi chữ sai, nhưng nếu cứ tuỳ tiện viết bậy thì sẽ phải khổ công tẩy xóa. Cũng vậy, tuy danh hiệu Phật và lời chú nguyện có khả năng giải trừ nghiệp chướng, nhưng nghiệp chướng càng sâu thì công phu giải nghiệp lại phải càng nhiều.
Do đó, tùy theo sự sốt sắng của người sống và hạnh nghiệp của người chết, việc cầu siêu có thể lâu hay mau. Nếu muốn chắc chắn được việc, chúng ta phải kiên nhẫn và chí thành cầu nguyện cho đến khi thấy được hảo tướng. Thấy được hảo tướng là gì? Thấy được hảo tướng là mơ thấy hoặc quán được thân hình (1), hào quang hay tiếng nói của Phật.

Montréal, ngày 07-07-2004
Bổ túc, ngày 03-06-2009

CHÚ THÍCH

1. Phạm chí: Người tu phạm hạnh, tu sĩ Bà la môn.
2. Quán được thân Phật: Thấy Hóa Phật hiện ra như thực.