TVVN
Wiki

  1. Chapter
  2. Pháp Tuyển - Chết Rồi Sẽ Về Đâu - Hiển Mật
Printable Version

https://www.tvvn.org/forums/wiki_index/?title=Chapter:Pháp-Tuyển-Chết-Rồi-Sẽ-Về-Đâu-Hiển-Mật

Đây là một phần của sách 'Book:Pháp Tuyển - Hiển Mật'

Tài liệu này đã được đọc 379 lần.

    • là người cập nhật hóa tài liệu này vào ngày
CHẾT RỒI SẼ VỀ ĐÂU?


Muốn biết chết rồi sẽ về đâu? Chúng ta phải biết chết là gì?
Nói một cách sơ lược thì khi hơi thở ngưng lại, khí dương từ trên đỉnh đầu đi xuống và khí âm từ dưới Đan Điền đi lên để hợp thành nguyên khí ở huyệt Giáp Tích, ngang tim. Bấy giờ người chết thấy một vầng ánh sáng trong, rực rỡ, gọi là tịch quang của Pháp thân. Khi ánh sáng này biến đi, người ấy sẽ rơi vào trong bóng tối cận tử, nhìn thấy tịch quang của Pháp thân lần thứ hai, trước khi Thần thức thoát khỏi thể xác. Mỗi lần xuất hiện, tịch quang của Pháp thân đều khử bớt nghiệp lực, nhờ vậy người chết mới được tự tại, cầu gì được nấy!
Nếu người chết không lợi dụng cơ hội này để thoát ly sinh tử, thì sẽ lạc vào Trung giới, hóa thành hương linh, mang thân trung ấm. Thân này có khả năng xuyên qua tường vách và di chuyển đồng bộ với tư tưởng của hương linh đến bất cứ nơi nào họ muốn, ngoại trừ tử cung của phái nữ và đạo tràng của Thánh chúng.
Từ lúc mang thân trung ấm, hương linh lại bị nghiệp lực chi phối và thường phải trải qua hai giai đọan là trung ấm Pháp tính và trung ấm tái sinh.
Trung ấm Pháp tính kéo dài 14 ngày là giai đọan mà chư Phật cùng Thánh chúng hiện đến tiếp dẫn và đồng thời cũng là lúc mà sáu đường luân hồi luân phiên phóng hào quang lên để dẫn dụ hương linh. Nếu hương linh không nắm lấy thời cơ này để thoát ly sáu đường, thì sẽ rơi vào trung ấm tái sinh.
Trung ấm tái sinh bắt đầu từ ngày thứ 15 cho đến lúc hương linh rời Trung giới, thuận theo nghiệp trở lại sáu đường để làm trời, người, thần, súc sinh, ngạ quỉ hay tội phạm ở dưới địa ngục.
Tóm lại, lâm chung là thời điểm mà thần thức rời bỏ thể xác, còn chết là thời gian kéo dài từ lúc nạn nhân tắt thở cho đến khi tái sinh vào một trong sáu đường nói trên.
Trong khoảng thời gian gọi là chết, đương sự có ba cơ hội để giải thoát: Cơ hội thứ nhất là lúc thấy tịch quang của Pháp thân lần đầu, sau khi tắt thở. Cơ hội thứ hai là lúc thấy tịch quang lần cuối, trước khi bỏ xác. Cơ hội thứ ba là giai đọan trung ấm Pháp tình, kéo dài 14 ngày kể từ lúc mang thân trung ấm. Thân trung ấm của con người có hình người. Nhưng nếu người ấy bị đọa vào loài thú, thì thân ấy sẽ chuyển thành thân thú trước khi tái sinh.
Trên đây là tóm lược tiến trình chết của một người bình thường, không đắc Pháp, không hoạnh tử, không hôn mê, không đam mê, không phạm trọng tội, không có đức lớn và cũng không có một tâm nguyện đặc biệt nào. Tại sao? Vì những người đắc Pháp, hoạnh tử, hôn mê, đam mê, tội nặng, đức lớn hay có tâm nguyện thì không nhất thiết phải kinh qua tất cả những giai đoạn vừa nói.
Sau khi đã biết sơ lược thế nào là chết, chúng ta có thể trả lời câu: "Chết rồi sẽ về đâu?"
Kẻ phàm phu chủ trương sống cho thoải mái, không tu Đạo, chỉ tùy duyên mà tạo nghiệp. Đến lúc chết, phải theo hành nghiệp để tái sinh vào một trong sáu đường là: trời, người, thần, súc sinh, ngạ quỉ và địa ngục.
Tùy theo ưu tiên dẫn dắt thần thức thọ sinh nơi này hay nơi khác, người ta chia nghiệp ra làm bốn loại:
1. Cực trong nghiệp gồm năm nghiệp rất nặng là giết cha, giết mẹ, giết a la hán, chia rẽ chư tăng và phá huỷ tượng Phật. Những nghiệp này có thể làm thay đổi số mệnh của chúng ta, như khiến chúng ta bị chết non, hay bị đọa vào địa ngục.
2. Cận tử nghiệp là tư tưởng, lời nói hay hành động của chúng ta trong khi hấp hối. Còn theo nghiã hẹp, nó chính là tâm nguyện của người chết.
3. Tập quán nghiệp gồm những thói quen và nhất là những đam mê của chúng ta ở trong đời này.
4. Tích luỹ nghiệp là những nghiệp đã tạo từ trước tới nay mà chưa hề sám hối, nên vẫn còn tồn trữ ở trong tạng tâm của chúng ta dưới dạng chủng tử.
Những người đã phạm cực trọng nghiệp mà không sám hối, lại không gặp một phúc duyên đặc biệt nào, thì sau khi chết sẽ bị đọa vào địa ngục. Đến khi mãn hạn liền bị chuyển kiếp sinh vào ác đạo để đề trả nợ xưa.
Những người không phạm cực trọng nghiệp thì sau khi chết sẽ theo tâm nguyện, thói quen hay tích luỹ nghiệp để trở lại luân hồi.
Những người có một tâm nguyện thiết tha thì sẽ theo nguyện lực mà tái sinh. Thí dụ : Trường hợp người chuyển thân làm chó để giữ gia tài mà ông đã chôn ở dưới gầm giường, nhưng chưa kịp nói cho vợ con biết thì đã chết.
Những người có một thói quen kiên cố hay một đam mê mãnh liệt thì sẽ theo mê tình để tái sinh. Thí dụ trường hợp của một nhà sư già được người quen tặng cho mấy đọt mía. Thầy đem ra trồng ở ngoài vườn. Ít lâu sau, những đọt mía ấy mọc thành một cụm mía xum xuê, tươi tốt khiến thầy ưa thích. Hàng ngày tưới, bón, ngắm, nhìn, bỏ bê bổn phận, đến khi chết đi thầy liền chuyển thân làm con sâu mía!
Những người không có tâm nguyện hay một thói quen đặc biệt nào thì sẽ theo tích luỹ nghiệp để tái sinh. Quy luật chi phối việc tái sinh trong trường hợp này, rất là phức tạp. Nhưng chúng ta có thể nói một cách tổng quát và ngắn gọn rằng: Nếu là người siêng làm việc thiện thì sẽ thăng lên cõi trời, nếu là người nhẫn nại hiền lương thì sẽ trở lại nhân gian, nếu là người nóng giân ưa gây thì sẽ lạc vào thần đạo, nếu là người si mê trộm cắp thì sẽ sinh làm súc sinh, nếu là người tham lam ích kỷ thì sẽ biến thành ngạ quỉ, nếu là người ganh tị độc ác thì sẽ đọa vào địa ngục.
Theo kinh Thủ Lăng Nghiêm thì đại khái, sau khi chết đi, các nghiệp đã tạo trong lúc sinh tiền đều hiện ra hết. Chúng sinh nào thuần tưởng thì bay lên, hóa sinh vào cõi trời. Nếu trong sự thuần tưởng ấy lại có phúc, tuệ và tịnh nguyện, thì tự nhiên tâm trí mở mang, thấy được mười phương chư Phật, tuỳ nguyện sinh về Tịnh Độ. Chúng sinh nào tình ít, tưởng nhiều thì sinh vào hàng phi tiên bay đi nhẹ nhàng. Chúng sinh nào tình, tưởng bằng nhau thì thác sinh cõi người. Chúng sinh nào tình nhiều, tưởng ít thì sinh làm súc sinh, nhẹ thì làm chim, nặng thì làm thú. Chúng sinh nào có bẩy phần tình, ba phần tưởng thì sẽ chuyển thân làm ngạ quỉ. Chúng sinh nào có chín phần tình hay nhiều hơn thì sẽ bị đọa vào địa ngục.
Trên đây là chỗ về của phàm phu, còn người tu hành thì sao? Người tu hành mà không đắc Pháp thì vẫn phải theo nghịệp thọ sinh y như phàm phu. Chỉ khác là hành nghiệp của họ thường là thiện ích hay hiền lương, nên phần lớn họ đều được tái sinh làm trời hay làm người.
Những người tu hành đã đắc Pháp, nhưng lại phát nguyện trở lại Ta Bà thì sẽ theo nguyện lực để tái sinh, như trường hợp của các vị Lạt ma Tây Tạng.
Những người tu hành đã đắc Pháp, nhưng không phát nguyện trở lại Ta Bà thì sẽ được giải thoát theo pháp môn mình chọn. Có rất nhiều pháp môn, nhưng chủ yếu là Thiền, Mật vàTịnh.
1. Người tu Thiền chủ trương phải hằng sống với cái tâm thanh tịnh của mình. Do đó, vào lúc lâm chung họ phải an trú nơi cái tâm thanh tịnh, gọi là Niết Bàn. Còn như sợ tự mình không làm được việc đó, thì phải nhờ người hộ niệm: hoặc đọc kinh Vô Ngã Tướng, hoặc đọc kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa, hoặc khéo léo khuyến tấn để giúp mình giữ tâm thanh tịnh.
2. Người tụng chú chủ trương dùng thần chú, mật ấn và linh phù thỉnh Bổn tôn và Thánh chúng về đạo tràng giúp họ tiêu trừ nghiệp chướng để chứng Pháp thân. Do đó vào lúc lâm chung, họ phải cố nhập vào tịch quang của Pháp thân. Tịch quang này chỉ hiện ra có hai lần, mỗi lần vài phút, sau khi tắt thở và trước lúc thần thức rời bỏ thể xác, nên khó mà nhập được. Nếu không nhập được, thì phải chuyển hướng, hợp nhất với Bổn tôn hay một trong những vị Thánh hiện đến tiếp dẫn ở giai đọan trung ấm Pháp tính. Còn như sợ tự mình không làm được việc đó, thì phải nhờ một vị thầy có thiên nhãn theo dõi và nhắc nhở rằng mình hiện đang đối diện với vị Thánh nào và phải xử trí ra sao?
3. Người niệm Phật chủ trương phải niệm Phật để xin về Cực Lạc. Nhưng Cực Lạc ở rất xa đây, cho dù có thần thông như ngài Mục Kiền Liên cũng không thể tự mình đến được. Muốn về Cực Lạc phải có người đón. Do đó vào lúc lâm chung, họ phải niệm danh hiệu Phật A Di Đà mãi cho đến khi thấy đức Phật, Bồ tát, Thánh chúng hay hoa sen hiện đến tiếp dẫn. Nếu có thể chí thành niệm được liên tiếp mười câu "Nam mô A Di Đà Phật" vào lúc thần thức lìa bỏ thể xác, thì chắc chắn sẽ được toại ý. Còn như sợ tự mình không làm được việc ấy, thì phải nhờ người hộ niệm trước khi chết, trong khi chết và sau khi chết để thúc dục mình niệm Phật xin về Cực Lạc.
Tóm lại, sau khi chết người không tu sẽ theo nghiệp đề tái sinh vào sáu đường là trời, người, thần, súc sinh, ngạ quỉ và địa ngục.
Người tu hành, nhưng chưa đắc Pháp cũng sẽ phải theo nghiệp thọ sinh như người không tu. Chỉ khác là hành nghiệp của họ thường là thiện ích hoặc hiền lương, nên phần lớn họ đều được tái sinh làm trời hay làm người.
Người tu hành đã đắc Pháp, nhưng lại phát nguyện trở lại Ta Bà thì sẽ theo nguyện lực để tái sinh.
Người tu hành đã đắc Pháp, nhưng không phát nguyện trở lại Ta Bà thì sẽ được giải thoát qua pháp môn mình chọn. Điều này có nghiã là người tu Thiền sẽ nhập Niết Bàn. Người niệm Phật sẽ sinh Cực Lạc. Người tụng chú sẽ chứng Pháp thân hoặc sẽ sinh về trụ xứ của Bổn tôn hay trụ xứ của một trong những vị Thánh hiện đến tiếp dẫn ở giai đoạn trung ấm Pháp tính.
Montréal, ngày 13-10-2002
Viết lại ngày 15-10-2007

CHÚ THÍCH
1. Bổn tôn: Đức Phật hay bồ tát chủ của bài chú mà chúng ta trì tụng. Thí dụ : Bổn tôn của người trì chú Đại Bi là bồ tát Quán Thế Âm.
2. Chết: Thông thường, chết gồm có ba giai đoạn:
a. Giai đoạn lâm chung, mau là vài phút, lâu là 3 ngày rưỡi hay 4 ngày, bắt đầu từ lúc người thân của chúng ta tắt thở cho đến khi thần thức của người ấy bỏ thể xác, vào Trung giới.
b. Giai đoạn Pháp tính dài khoảng 2 tuần, kể từ lúc thần thức của người chết vào Trung giới, hóa thành hương linh (cũng gọi là vong linh.)
c. Giai đoạn tái sinh chấm dứt vào lúc hương linh rời Trung giới, thuận theo nghiệp của mình, trở lại luân hồi để làm trời, người, súc sinh, thần, ngạ quỷ hay tội phạm ở địa ngục.
(Xem chữ CHẾT ở phần Giải Nghiã Chữ Khó.)
3. Trung giới: Nơi tạm trú của những hương linh chờ đi tái sinh.