Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!

  1. Chapter
  2. Pháp Tuyển - Duy Thức Học Áp Dụng - Hiển Mật

Đây là một phần của sách 'Book:Pháp Tuyển - Hiển Mật'

DUY THỨC HỌC ÁP DỤNG


Duy thức là môn tâm lý học của Phật giáo. Môn học này rất khó lại có nhiều danh từ chuyên môn, nên ít người ưa thích.

Học duy thức khó, nhưng áp dụng duy thức vào cuộc sống hàng ngày sẽ đem lại nhiều lợi ích không thể tưởng tượng được. Chính vì vậy, biết là khó, nhưng tôi vẫn cố gắng trình bầy các nguyên tắc căn bản của duy thức và cách áp dụng những nguyên tắc ấy để thực hiện những mơ ước của chúng ta.

Theo đức Phật, con người không phải chỉ có một cái tâm. Cái mà chúng ta thường gọi là tâm, thực ra là một tổ hợp của tám yếu tố tâm lý, gọi là thức. Nói một cách khác, tâm gồm tám thức:

1. Nhãn thức, hay thức của con mắt, chủ về nhìn.
2. Nhĩ thức, hay thức của lỗ tai, chủ về nghe.
3. Tỵ thức, hay thức của lỗ mũi, chủ về ngửi.
4. Thiệt thức, hay thức của cái lưỡi, chủ về nếm.
5. Thân thức, hay thức của thân thể, chủ về cảm xúc như đói, khát, nóng, lạnh, đau, nhức, sướng, khổ, nặng, nhẹ v.v...
6. Ý thức, hay thức của ý căn, chủ về tri giác, tức là khả năng tính toán và phân biệt sự vật, cảm giác, tư tưởng, hành động, gọi chung là pháp trần.
7. Mạt na thức, hay Ý căn là khả năng quyết định và điều hành mọi sinh hoạt của chúng ta.
8. A lại da thức, Tàng tâm hay Trí nhớ là khả năng tồn trữ căn thân và hạt giống của tất cả những gì chúng ta thấy, nghe, ngửi, nếm, cảm, biết, nghĩ, nói và làm.

Năm thức đầu của mắt, tai, mũi. lưỡi và thân có nhiệm vụ liên lạc và công tác hầu giúp chúng ta hoặc phát hiện mầu sắc, âm thanh, mùi, vị và cảm xúc hoặc tác động trên thân thể và ngoại vật để biến đổi chúng.
Thức thứ sáu, gọi là ý thức, có nhiệm vụ phân biệt các pháp, xác định nhu cầu và soạn thảo kế hoạch hành động. Thí dụ: Khi thức của con mắt phát hiện và báo cáo có một cái xe. Thức thứ sáu liền khởi phân biệt cho là phải biết lái. Tiếp theo nó đề nghị đi học lái xe. Nếu đề nghị này không bị thức thứ bẩy phản đối, thì thức thứ sáu sẽ hợp tác với thức thứ bẩy để huấn luyện ba thức của mắt, tai và thân lái xe.

Thức thứ bẩy, gọi là ý căn, có nhiệm vụ cân nhắc lợi hại để quyết định hành động. Chỉ tiếc là những quyết định của nó thường sai lạc, vì nó quá cố chấp và bảo thủ. Vừa cố chấp, vừa bảo thủ, thức thứ bẩy có khuynh hướng duy trì các thói quen trong quá khứ và chống lại những tư tưởng cấp tiến của thức thứ sáu. Thí dụ: Khi thức của con mắt phát hiện và báo cáo có một điếu thuốc. Thức thứ sáu liền khởi phân biệt cho là không nên hút, vì hút thuốc có hại cho sức khoẻ. Nhưng thức thứ bẩy của người nghiền thuốc sẽ thúc dục hắn cầm điếu thuốc mà hút. Tại sao? Vì hút thuốc là thói quen hàng ngày của hắn.

Thông thường, nếu thức thứ sáu và thức thứ bẩy chống đối nhau thì chúng ta sẽ theo thức thứ bẩy và bỏ thức thứ sáu. Chỉ những người có nhiều nghị lực mới mong bắt thức thứ bẩy theo thức thứ sáu mà thôi.
Thức thứ sáu và thức thứ bẩy là hai thức thực sự lãnh đạo thân thể của chúng ta. Trong khi thức thứ sáu, hay ý thức, mải mê kiểm soát những động tác mới mẻ và cố ý, thì thức thứ bẩy, tức ý căn, lo lắng điều hành những sinh hoạt quen thuộc và phản xạ mà đặc biệt là việc bảo tồn mạng sống của chúng ta. Nói như vậy, có nghiã là khởi đầu tất cả mọi hành động của chúng ta đều do ý thức đề nghị và sắp xếp. Nhưng khi được lập đi, lập lại nhiều lần đến độ trở thành thói quen hay phản xạ, thì những hành động này lại rơi vào phạm vi kiểm soát của ý căn.

Ngoài việc điều hành những sinh hoạt thường xuyên của con người, ý căn còn giữ một nhiệm vụ rất quan trọng, gọi là truyền tống. Truyền là đưa ước mơ của ý thức vào thức thứ tám để gây hạt giống. Tống là lấy hạt giống từ thức thứ tám ra sáu thức đầu để tuỳ nghi sử dụng.

Để giúp quý vị hiểu được tầm quan trọng của hạt giống, tôi xin kể một thí dụ: Tất cả chúng ta đều biết rau muống do đất, nước, lửa và gió hợp thành. Nhưng lấy một cục đất, một ly nước, một ngọn lửa và một luồng gió để làm rau muống thì rất khó. Ngược lại, nếu có hạt giống rau muống thì ai ai cũng có thể trồng rau muống được.

Cũng vậy, nếu có hạt giống của những gì chúng ta mong đợi thì chắc chắn chúng ta sẽ thực hiện được mộng ước một cách dễ dàng. Gây hạt giống là nhiệm vụ của thức thứ tám.

Thức thứ tám, gọi là tàng tâm có nhiệm vụ tồn trữ các pháp và sản xuất hạt giống. Nhưng ngoài việc chứa các pháp (Hàm Tàng Thức) và gây hạt giống (Chủng Tử Thức), thức thứ tám còn giúp các hạt giống ấy phát triển và thay đổi để thích ứng với nhau (Dị thục thức), trước khi phát cho ý căn đem ra thức thứ sáu để sinh tư tưởng và năm thức đầu để tạo hiện thực.

Đặc tính của thức thứ tám là không lựa chọn mà chỉ ươm những ước mơ của ý thức để gây hạt giống và không cần biết những ước mơ ấy là tốt hay xấu. Chính vì vậy mà kẻ làm ác sẽ gặp ác và người làm lành sẽ gặp lành vậy!

Trên đây là quá trình sinh hoạt của tám thức. Qua quá trình đó chúng ta thấy con người có hai cách để thực hiện những gì mơ ước.

1. Một là sau khi đã xác định được những gì mình thích, ý thức liền hợp tác với ý căn đôn đốc năm thức đầu huy động thân thể thực hiện những đìều mơ ước. Đó là cách dụng nhân lực của những người bình thường và thực tế.
2. Hai là sau khi xác định được những gì mình thích, ý thức liền chăm chú cầu nguyện hoặc là quán tưởng nhằm giục ý căn làm hai việc sau :
• Đem nguyện vọng của mình vào tàng tâm (thức thứ tám) để gây hạt giống.
• Chờ cho hạt giống ấy phát triển đầy đủ, rồi mới lấy ra năm thức đầu khởi thành hiện thực.

Đây là cách vận thần lực của những người có niềm tin và sức định.

Gây hạt giống (huân chủng tử) và tạo hiện thực (khởi hiện hành) là những bí mật ít ai hiểu rõ. Tuy chưa hiểu rõ những bí mật ấy, nhưng chúng ta vẫn có thể áp dụng những khái niệm duy thức này để hoặc cải thiện đời sống hàng ngày, hoặc xây dựng sự nghiệp tu học của chúng ta.

Khởi đầu cả niềm tin và sức định đều yếu, nên thời gian gây hạt giống và tạo hiện thực thường rất dài và bất định. Nhưng nếu chịu khó tu tập, tất có ngày chúng ta sẽ thực hiện được mọi ước mơ một cách tức thời, nghĩa là hễ tìm là thấy, hễ cầu là được vậy!

Người học thần thông phải nghiên cứu về tâm. Tâm có tám thức. Mỗi thức lại có những khả năng và nhiệm vụ riêng. Khả năng và nhiệm vụ của mỗi thức gọi là tâm sở. Tâm sở có 51 loại. Một mình ý thức có đủ 51 tâm sở. Năm thức đầu có 34 tâm sở, ý căn có 18 tâm sở. Còn tàng tâm chỉ có 5. Tâm sở nhiều như vậy không thể nói hết trong bài này. Do đó, tôi xin mạn phép chỉ đề cập đến những tâm sở quan trọng liên quan đến việc thực hiện những ước mơ của chúng ta bằng thần lực.

Muốn vận thần lực, trước hết phải tin vào sức sáng tạo của tàng tâm và tài sửa đổi của ý thức, đúng theo tinh thần của câu :

Ba cõi do tâm tạo ra.

Vạn pháp do thức mà đổi.

Tại sao nói ba cõi do tâm tạo ra? Vì tàng tâm gây hạt giống của ba cõi và phải có hạt giống ấy mới có ba cõi.

Tại sao nói vạn vật do thức mà đổi? Vì ý thức không hài lòng với những gì mình có, nên cứ nghĩ cách thêm cái này, bớt cái nọ khiến cho vạn vật phải thay đổi luôn luôn.

Tin vào sức sáng tạo của tàng tâm và tài sửa đổi của ý thức gọi là Tín.

Có tín tâm rồi, mới dùng ý thức suy xét kỹ lưỡng xem mình thực sự muốn gì, thích gì và cần gì? Suy xét để xác định nguyện vọng của mình gọi là Tứ.

Xác định nguyện vọng xong, phải lưu giữ nó ở trong tâm một cách thường xuyên để ý căn có cơ hội làm quen và chấp nhận nó. Lưu giữ nguyện vọng ở trong tâm gọi là Niệm. Có hai cách niệm thông dụng là cầu nguyện và quán tưởng.

Khi đã quen biết và chấp nhận nguyện vọng của ý thức, ý căn sẽ vui vẻ chuyển nó vào tàng tâm để gây hạt giống và đợi cho hạt giống ấy phát triển hoàn toàn, rồi mới lấy ra năm thức đầu để tạo hiện thực. Muốn cho việc gây hạt giống và tạo hiện thực được mau chóng thì ý thức phải tập trung vào một nguyên vọng duy nhất. Tập trung vào một nguyện vọng duy nhất gọi là Định.

Xem như vậy, muốn thực hiện nguyện vọng của chúng ta bằng thần lực, thì phải vận dụng bốn tâm sở là:

1. Tín tâm sở.
2. Tứ tâm sở.
3. Niệm tâm sở.
4. Định tâm sở.

Tuy nói bốn tâm sở, nhưng chủ yếu là niệm tâm sở, nghiã là khả năng lưu giữ nguyện vọng ở trong tâm. Nếu không giữ được nguyện vọng ở trong tâm, tức là đã quên mất nó. Quên mất nguyện vọng gọi là Thất niệm.



SƠ ĐỒ DUY THỨC
(Tàng tâm là thức thứ tám cũng gọi là nghiệp thức hay thần thức.)

Khi đã thất niệm thì cả ý thức và ý căn đều sẽ suy nghĩ lung tung, hết chuyện này qua chuyện khác. Suy nghĩ lung tung gọi là Tán loạn.

Muốn ngăn ngừa thất niệm và tán loạn thì phải cố gắng lưu giữ nguyện vọng ở trong tâm. Cố gắng như vậy kêu là Tinh tiến.

Tóm lại, tâm do tám thức hợp thành:

1. Năm thức đầu là Trung Tâm Liên Lạc và Công Tác, gồm nhãn thức, nhĩ thức, tỵ thức, thiệt thức và thân thức.
2. Thức thứ sáu là Trung Tâm Nghiên Cứu và Kế Hoạch, gọi là ý thức.
3. Thức thứ bẩy là Trung Tâm Quyết Định và Điều Hành, gọi là ý căn.
4. Thức thứ tám là Trung Tâm Tồn Trữ và Tiếp Liệu, gọi là tàng tâm.

Mỗi thức trên lại có những khả năng và nhiệm vụ riêng. Khả năng và nhiệm vụ của mỗi thức gọi là tâm sở. Có 51 tâm sở, nhưng đối với chúng ta chỉ có 7 tâm sở quan trọng là:

1. Tín tâm sở.
2. Tứ tâm sở.
3. Niệm tâm sở.
4. Định tâm sở.
5. Thất niệm tâm sở.
6. Tán loạn tâm sở.
7. Tinh tiến tâm sở.

Nếu khắc phục được bẩy tâm sở này thì chắc chắn muốn gì được nấy.

Montréal, ngày 30-11-1992
Bổ túc ngày 26-05-2014

Tài liệu này đã được đọc 356 lần.

    • là người cập nhật hóa tài liệu này vào ngày

Current Discussion: Main discussion

  1. No comments have been posted for this discussion.