TVVN
Wiki

  1. Chapter
  2. Pháp Tuyển - Giải Nghĩa Chữ Khó - Hiển Mật
Printable Version

https://www.tvvn.org/forums/wiki_index/?title=Chapter:Pháp-Tuyển-Giải-Nghĩa-Chữ-Khó-Hiển-Mật

Đây là một phần của sách 'Book:Pháp Tuyển - Hiển Mật'

Tài liệu này đã được đọc 497 lần.

    • là người cập nhật hóa tài liệu này vào ngày
GIẢI NGHĨA CHỮ KHÓ


A la hán: Người đắc quả Thánh thứ tư của thừa Thinh Văn. A la hán có những nghiã sau:
a. Sát tặc: Dứt sạch phiền não.
b. Vô sinh: Thoát ly sinh tử.
c. Ứng cúng: Đáng được cúng dường.
(Xem: Tứ quả)
A na hàm: Bất Hoàn, tức là người chứng quả thánh thứ ba của thừa Thinh Văn, nên sau khi chết sẽ sinh về các cõi trời Bất Hoàn, ở Sắc giới và không trở lại Dục giới nữa. (Xem: Tứ quả)
A tăng kỳ: Phiên âm từ tiếng Phạn asamkhya, có nghiã là nhiều vô số.
A tu la: Loại chúng sinh đứng hàng thứ ba sau trời và người, thường được gọi là thần, quỉ thần hay phi thiên. Phi thiên nghiã là có phép thuật như trời nhưng không phải trời. A tu la rất kiêu ngạo, thích đấu tranh và ưa đánh lộn.
Ác đạo: Đường ác. Có ba đường ác là: Địa ngục, ngạ quỉ (quỉ đói) và súc sinh.
Ác kiến: Thấy và tin những chuyện sai trái. Có năm loại ác kiến chính là:
a. Thân kiến: Lầm tưởng cái thân tứ đại làm bằng đất, nước, lửa và gió này là có thực.
b. Biên kiến: Chấp một bên. Thí dụ: Tin rằng chết là hết không còn gì nữa (chấp đoạn) hoặc tin rằng chỉ có than thể mới bị chết, còn linh hồn thì bất diệt sống mãi không cùng (chấp thường).
c. Tà kiến: Tin những chuyện không chính đáng còn chuyện chính đáng thì lại không tin. Thí dụ: Chỉ mê tín dị đoan mà không tin nhân quả.
d. Kiến thủ: Chấp những gì mình thấy hoặc nghĩ là đúng, dù có người biết sai chỉ cho cũng không chịu sửa đổi.
e. Giới cấm thủ: Cố giữ những giới cấm, những tục lệ không chân chính của ngoại đạo.
Ái dục: Ái là yêu. Dục là muốn. Ái dục là muốn có cái mình yêu thich, như của cải, sắc đẹp, danh vọng, đồ ăn và ngủ nghỉ v.v..
Ái kiến: Ái là yêu, bao gồm tất cả những mê hoặc về sự, như tham lam và sân giận. Kiến là thấy bao gồm tất cả những mê hoặc về lý, như ngã kiến và ác kiến. Ái kiến bao gồm hai loại phiền não chính của chúng sinh.
An Dưỡng, An Dưỡng Quốc: An là yên ổn; dưỡng là nuôi nấng. An Dưỡng Quốc là thế giới Cực Lạc ở đó ai nấy đều được no đủ và yên vui.
Ao thất bảo: Ao sen ở trên Cực Lạc làm bằng vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xà cừ, xích châu và mã não .
Âm hưởng nhẫn: Thản nhiên chấp nhận những lời khen chê và các tiếng ồn ào ở xung quanh.
Ấm cảnh: Những cảnh tượng mà mình thấy trong lúc đang mang thân trung ấm, hay nói rõ hơn là trong khoảng thời gian sau khi chết và trước lúc tái sinh.
Ấn:
a. Ấn tịnh tràng: Ấn dùng để thanh tịnh Đạo tràng.
b. Ấn hộ thân.
c. Ấn cúng dường.
d. Ấn phổ lễ.
e. Ấn kiết giới: Ấn dùng để tạo một vòng đai an toàn bao quanh đạo tràng.
f. Ấn triệu thỉnh: Ấn dùng để mời chư Thánh tới.
g. Ấn gia trì.
h. Ấn phụng tống: Ấn dùng để tiễn chư Thánh về.
i. Ấn giải giới: Ấn để giải tỏa vòng đai an toàn đã lập ở trên.
Hình 1: Ấn tịnh tràng

Hình 2: Ấn hộ thân

Hình 3: Ấn cúng dường

Hình 4: Ấn phổ lễ

Hình 5: Ấn kiết giới

Hình 6: Ấn triệu thỉnh

Hình 7: Ấn gia trì

Hình 8: Ấn phụng tống

Hình 9: Ấn giải giới

Ba cõi: Cõi dục, cõi sắc và cõi vô sắc.

a. Cõi dục là nơi mà chúng sinh còn có lòng ham muốn, đặc biệt là thích ăn uống và ham dâm dục. Chủ của cõi dục là ngài Tự Tại Thiên Vương, cũng gọi là Ma Vương. (Xem: Cõi dục)
b. Cõi sắc là nơi mà chúng sinh chỉ thích ngồi thiền, không còn ham muốn dục lạc nữa. Chủ của cõi sắc là ngài Đại Tự Tại Thiên Vương. (Xem: Cõi sắc)
c. Cõi vô sắc là nơi mà chúng sinh đã thoát khỏi tình luỵ và hình luỵ. Họ không còn ham muốn cũng không có than xác nữa. (Xem: Cõi vô sắc)
Ba chướng: Phiền não chướng, nghiệp chướng và khổ báo chướng. Ba chướng này che mất chân tính và ngăn cản bước tiến của chúng ta.

Ba đường ác: Địa ngục, ngạ quỉ và súc sinh.
a. Địa ngục khổ vì bị hành hạ
b. Ngạ quỉ khổ vì bị đói khát.
c. Súc sinh khổ vì bị ngu si.
Ba hoặc: (Xem: Hoặc)

Ba hồn:
a. Sinh hồn: Mệnh căn chủ về sự sống
b. Giác hồn: Tình căn chủ về cảm giác.
c. Linh hồn: Thức thứ tám của chúng ta.

Ba kỳ: Vô số. Nghiệp ba kỳ là nghiệp đã tạo trong vô số kiếp.
Ba la mật: Đức hạnh của hàng Bồ tát có khả năng giúp họ vượt biển sinh tử để đến bờ Niết Bàn. Có sáu ba la mật là: Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, thiền định và trí tuệ.
Ba thứ tâm:
a. Chí thành tâm (Xem: Chí thành tâm)
b. Thâm trọng tâm. (Xem: Thâm trọng tâm)
c. Hồi hướng phát nguyện tâm (Xem: Hồi hướng phát nguyện tâm)
Ba thừa: Thinh văn thừa, Duyên giác thừa và Bồ tát thừa.
Báng Pháp: Chê bai Chính Pháp.
Báo: Hậu quả của nghiệp. Báo gồm hai loại là chính báo và y báo. Chính báo là than thể, còn y báo là môi trường sinh hoạt của chúng ta.
Báo thân: Thân quả báo. Báo thân của chúng ta là xác thân bằng xương, bằng thịt hiện nay. Trong khi xác thân của đức Phật gọi là ứng thân còn báo thân của Ngài là thân ý sinh, thường đựơc dùng để độ thiên chúng ở trên trời hoặc để dậy người có duyên trong lúc nằm mơ hoặc khi ngồi thiền.
Bát bất Trung Đạo: Tám cái không của Trung Đạo là bất sinh (không sinh ra), bất diệt (không chết đi), bất đoạn (không dứt ngang), bất thường (không còn hoài), bất nhất (không phải một), bất dị (không phải khác), bất khứ (không ra đi), bất lai (không trở lại). Không ngộ tám chi này thì không hiểu chân đế (chân lý của bậc thánh) và tục đế (chân lý của người đời). Do đó, không thể nào nhận ra Trung Đạo được. Phép quán này gồm nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn quán một chi. Thí dụ: Giai đoạn đầu chỉ quán chi "bất sinh, bất diệt" thông qua năm câu:
a. Có sinh, có diệt: Đây là nói theo kiểu đơn tục của người đời, không hợp với Trung Đạo.
b. Không sinh, không diệt: Đây là nói theo đơn chân của người mới học Đạo, không hợp với Trung Đạo.
c. Giả sinh, giả diệt: Đây là nói theo Trung Đạo về tục đế, giả thiết có tướng sinh diệt phát xuất từ tính bất sinh diệt của các pháp.
d. Giả bất sinh, giả bất diệt: Đây là nói theo Trung Đạo của chân đế, vì nếu sinh diệt đã là giả thì bất sinh, bất diệt cũng sẽ như vậy.
e. Không phải sinh diệt mà cũng không phải không sinh diệt: Đây là dung hợp chân đế với tục đế mà tìm ra lý Trung Đạo.
Bát khổ: Tám cái khổ:
a. Sinh là khổ.
b. Bệnh là khổ
c. Già là khổ.
d. Chết là khổ.
e. Xa người mình yêu là khổ.
f. Gần người mình ghét là khổ.
g. Cầu mà không được là khổ’
h. Năm ấm xí thịnh là khổ. Xí là lửa phực lên. Thịnh là càng ngày càng mạnh. Năm ấm xí thịnh là năm ấm khởi hoặc tạo nghiệp như lửa phực lên càng ngày càng mạnh. Năm ấm xí thịnh khổ là khổ vì năm ấm không ngừng khởi hoặc tạo nghiệp. (Xem: Năm ấm.)
Bát nhã ba la mật: Trí tuệ có khả năng giúp chúng ta vượt biền sinh tử để đến bờ Niết Bàn.
Bảy báu: Vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xà cừ, xích châu và mã não.
Bảy giác chi: Bẩy yếu tố dẫn đến giác ngộ:
a. Niệm: Ghi nhớ đề mục tu tập, gọi là đối tượng chính và những hiện tượng đang xẩy ra ở trong thân hoặc tâm của chúng ta, gọi là đối tượng phụ.
b. Trạch pháp: Quán sát một trong những đối tượng nói trên để thấy rõ đặc tính và tiến trình sinh diệt của nó.
c. Tiến.
d. H ỉ.
e. Khinh an.
f. Định.
g. Xả: Không yêu, không ghét, chỉ thản nhiên chấp nhận những gì xẩy đến với mình.
Bảy thức: Nhãn thức, nhĩ thức, tỵ thức, thiệt thức, than thức, ý thức và mạt na thức, cũng gọi là ý căn.

Bất chính tri: Hiểu biết sai trái. Tâm sở này bao gồm những lầm lỗi nhất thời có thể sửa đổi dễ dàng, nếu gặp thiện tri thức chỉ bảo cho.
Bất định: (Xem Tâm sở).
Bất hại: Không làm thương tổn các chúng sinh khác.
Bất hoàn: Không trở lại Dục Giới nữa. Ý nói người chứng quả A na hàm. Nên sau khi chết sẽ không sinh trở lại Dục Giới nữa. (Xem: Tứ quả.)
Bất Hoàn thiên: Tên của năm cảnh trời Tịnh Phạm, nơi mà chư thiên không sợ bị tái sinh vào Dục Giới nữa.
Bất khả tư nghị: Không thể nghĩ, không thể bàn được.
Bất phóng dật: Không phóng dật, tức là siêng năng, chăm chỉ.
Bất tín: Không tin.
Bất thoái, bất thoái chuyển: Không thụt lùi, cứ mỗi ngày mỗi tiến bộ. Lên ngôi bất thoái là đạt đến mức không sợ bị thụt lùi, mà chắc chắn sẽ tiến mãi, mãi cho đến khi thành Phật. Bất thoái có năm nghiã:
a. Tất bất thoái: Người niệm Phật, bất luận là nhất tâm hay tán tâm, hữu ý hay vô ý, hiểu hay chẳng hiểu, miễn là danh hiệu Phật đã lọt vào tai họ, thì chắc chắn sẽ có ngày họ được Phật độ.
b. Nguyện bất thoái: Người niệm Phật còn nặng nghiệp, nhưng không bỏ nguyện vãng sinh thời sau khi chết sẽ được sinh về Thánh Phàm Đồng Cư Độ.
c. Vị bất thoái: Người niệm Phật đắc sự nhất tâm, phá được kiến tư hoặc, không khởi tham, sân, si nên không sợ mất thánh vị (Thí dụ như người ở Trung Phẩm thì không thể bị giáng xuống Hạ Phẩm.) và sau khi chết sẽ được sinh về Phương Tiện Hữu Dư Độ.
d. Hạnh bất thoái: Người niệm Phật mà phá được trần sa hoặc và một phần (từ 1 phẩm đến 41 phẩm) của vô minh hoặc thì không sợ mất hạnh bồ tát và sau khi chết sẽ được sinh về Thực Báo Trang Nghiêm Độ.
e. Niệm bất thoái: Người niệm Phật phá được 42 phẩm vô minh, liền chứng thực tướng, nên không sợ mất chính niệm và sau khi chết sẽ được sinh về Thường Tịch Quang Tịnh Độ.
Thánh chúng ở Cực Lạc, bất luận là thuộc phẩm nào, cũng đều được 3 loại bất thoái sau, nghiã là không sợ mất thánh vị (không sợ bị xuống cấp), không sợ mất hạnh bồ tát (không chán làm bồ tát) và không sợ mất chính niệm (không khởi ý bỏ Đạo hay đổi Đạo.)
Bẩy báu: (Xem: Bảy báu.)
Bẩy giác chi: (Xem: Bảy giác chi.)
Bẩy thức: (Xem: Bảy thức.)
Bến mê: Bờ bên này của biển sinh tử, tức là cảnh giới của phàm phu, trái với bờ bên kia, gọi là bờ Giác của chư Phật.
Bi: Thương sót những người bất hạnh hoặc đau khổ. (Xem: Vô lượng tâm).
Bích Chi Phật:
a. Độc Giác: Bậc tự tu, tự giác và không lo giáo hóa chúng sinh.
b. Duyên Giác: Người theo Phật tu hành, ngộ ly Nhân Duyên, phá vô minh, chứng Niết Bàn, nhưng không thuyết Pháp độ sinh.
Biến hành: (Xem: Tâm sở)
Biến trang nghiêm: Làm cho thân và tâm trở nên trang trọng và nghiêm túc.
Biện tài: Tài lý luận và thuyết phục.
Biệt cảnh: (Xem: Tâm sở)
Biệt danh của Phật A Di Đà: (Xem: Mười ba biệt danh của Phật A Di Đà.
Bình đẳng tính trí (samatajnâna): Khả năng nhìn thấy chư Phật và chúng sinh vốn cùng một thể. Người đắc bình đẳng tính trí đối xử với mọi người một cách đồng đều, không phân biệt giàu, nghèo, sang, hèn, bạn, thù v.v...
Bỏ dục: Dứt bỏ mọi ham muốn, đặc biệt là: cầu tài, háo sắc, hám danh, ham ăn, thích ngủ.
Bố thí: Dùng tiền bạc, sức lực, kiến thức và kinh nghiệm của mình để giúp đỡ chúng sinh và hộ trì Tam Bảo. Bố thí có ba loại chính là: Tài vật thí, vô uý thí và chính pháp thí.
Bồ đề tâm: Tâm bồ đề hay lòng bồ đề, tức là lòng mong mỏi sớm được thành Phật để cứu độ chúng sinh.
Bồ tát: Người đã giác ngộ, đã giải thoát, nhưng không nhập Niết Bàn, mà lại tự nguyện ở lại Ta Bà để giúp cho những chúng sinh khác cũng được giác ngộ và giải thoát như mình. Bồ tát có 51 bậc chính là:
a. Thập tín.
b. Thập trụ.
c. Thập hạnh.
d. Thập hồi hướng.
e. Thập địa.
f. Đẳng giác
Trong kinh Thủ Lăng Nghiêm, đức Phật kể thêm 4 bậc phụ là Tứ gia hạnh, cộng chung là 55 bậc.
Bồ tát Địa Tạng: Bồ tát Địa Tạng là vị bồ tát có nguyện lực rất lớn. Vào thời xa xưa, ngài đã đối trước đức Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Như Lai mà phát nguyện rằng: ”Từ nay cho đến trăm ngàn muôn ức kiếp về sau, nếu có chúng sinh bị tội báo trong ba đường ác (địa ngục, ngạ quỉ và súc sinh), tôi nguyện sẽ cứu vớt chúng, làm cho tất cả đều được giảt thóat. Chỉ khi những kẻ bị tội báo như thế, thành Phật cả rồi, tôi mới lên ngôi Chính Giác!”
Bồ tát Địa Tạng không những là người bảo hộ, là nơi nương tựa của tất cả mọi chúng sinh bị tội báo trong ba đường dữ, mà Ngài còn nguyện sẽ lập ra nhiều phương chước để cứu độ tất cả những chúng sinh đang đau khổ.
Trong những chúng sinh đang đau khổ này, có những người nghèo khó, người bệnh tật, người đau đẻ, người thất tình, người ngu dốt và đặc biệt là những trẻ em bị xẩy thai hay bị chết yểu.
Người Nhật Bản tin rằng Bồ tát Địa Tạng rất thích con nít. Ngài thương những trẻ em bị xẩy thai hay bị chết yểu, vì chúng chết quá sớm, nên không phân biệt được sống là gì và chết là gì? Do đó, sau khi chết chúng cứ quanh quẩn bên người thân, như cha, mẹ hoặc anh em, nhưng không ai nhìn thấy chúng, không ai nghe được chúng nói và cũng không có ai lo cho chúng, nên chúng rất cô đơn và buồn khổ.
Cũng theo người Nhật Bản, thì sau khi chết những đứa trẻ bị xẩy thai hay bị chết yểu chưa tạo được một công đức nào, mà lại làm cho cha mẹ buồn phiền khổ não, nên chúng không thể vượt qua sông Nại Hà để đi đầu thai! Bởi không thể qua sông, nên chúng đành tụ tập ở bờ bên này, nhặt đá cuội xếp thành những ngôi nhà để tưởng nhớ đến người thân. Nhưng rồi, cứ mỗi buổi chiều, khi căn nhà sắp hoàn thành thì một bầy quỉ hung ác hiện ra, dùng gậy đập phá tất cả những công trình xây dựng của bọn trẻ, còn miệng thì không ngừng la mắng: “Khốn nạn cho tụi bay, chết trước cha mẹ, nên không thể hoàn thành trách nhiệm của người con là phải săn sóc họ vào lúc tuổi già!”
Chính vào lúc ấy, bồ tát Địa Tạng xuất hiện và lũ trẻ, trong cơn kinh hoàng, đã chui vào tăng bào của Ngài để ẩn trốn. Bồ tát Địa Tạng an ủi bọn trẻ và dùng thần lực phóng ra những đạo hào quang rực rỡ khiến bầy quỉ khiếp sợ, bỏ đi...
Vì tin bồ tát Địa Tạng là cứu tinh của các trẻ em bị xẩy thai, bị phá thai hay bị chết yểu, người Nhật Bản lập đền thờ, thờ ĐỊA TẠNG ẤU THỦY (Mizuko), là tượng của bồ tát Địa Tạng bồng một đứa trẻ trên tay cùng với vài đứa trẻ khác đang quấn quít dưới chân Ngài, để cầu Ngài gia hộ cho những đứa con không may mắn của họ.
Bồ tát Địa Tạng thường ngồi trên lưng con chó thần rất thính tai, tên là Đế Thính.
Bồ tát Quán Thế Âm: Vị bồ tát luôn quán tiếng kêu cầu của chúng sinh để hiện thân cứu độ.
a. Để độ chúng sinh trong địa ngục, Ngài hiện tướng ngàn tay, ngàn mắt.
b. Để độ ngạ quỉ, Ngài hiện tướng Thánh giả (Arya avalokitésvara.)
c. Để độ súc vật, Ngài hiện tướng đầu ngựa.
d. Để độ quỉ thần, Ngài hiện tướng 11 mặt (Quán Âm Phổ Chiếu.)
e. Để độ loài người, Ngài hiện tướng Chuẩn Đề (Cundi avalokitesvara.)
f. Để độ loài trời, Ngài hiện tướng người cầm như ý luân.
Ngoài 6 tướng căn bản nói trên, bồ tát Quán Thế Âm còn dùng 33 ứng thân để độ những chúng sinh đang cầu cứu Ngài. 33 ứng thân này là: 1. Thân Phật, 2. Thân Bích Chi, 3. Thân Thinh Văn, 4. Thân Phạm Vương (Brahma), 5. Thân Đế Thích (cũng gọi là Indra, là Cakra, là Ngọc Hoàng), 6. Thân Tự Tại Thiên (Isvara, Shiva), 7. Thân Đại Tự Tại Thiên (cũng gọi là Mahésvara, Vishnou), 8. Thân Thiên Đại Tướng Quân (Tướng thống lĩnh quỷ thần), 9. Thân Tỳ Sa Môn (chúa trời ở sườn núi phía Bắc của núi Tu Di, tức là Vaisravana hay Dharana), 10. Thân Quốc Vương, 11. Thân trưởng giả, 12. Thân tể quan, 13. Thân bà la môn, 14. Thân cư sĩ, 15. Thân tỳ kheo, 16. Thân tỳ kheo ni, 17. Thân ưu bà tắc, 18. Thân ưu bà di, 19. Thân vợ trưởng giả, 20. Thân vợ cư sĩ, 21. Thân vợ tể quan, 22. Thân vợ bà la môn, 23. Thân đồng nam (cậu bé), 24. Thân đồng nữ (cô bé), 25. Thân trời, 26. Thân rồng, 27. Thân dạ xoa, 28. Thân càn thát bà (nhạc thần), 29. Thân a tu la, 30. Thân ca lầu na (chim thần), 31.Thân khẩn na la (nửa người, nửa thú), 32. Thân ma hầu la già (rắn thần), 33. Thân thần chấp kim cang (cũng gọi là Kim Cang Thủ tức là các vị thần dạ xoa, tay cầm chầy kim cương, đứng gác cổng thiên cung hay cửa chính điện.)
Từ số 25 đến số 32 có 8 bộ chúng, gọi chung là Thiên long bát bộ.
Bốn báu: Vàng, bạc, lưu ly và pha lê.
Bốn châu: Bốn châu ở dưới chân núi Tu Di, gồm:
a. Đông Thắng Thần châu.
b. Tây Ngưu Hoá châu.
c. Nam Thiêm Bộ châu.
d. Bắc Cu Lư châu.
Bốn diệu đế: Bốn chân lý mầu nhiệm:
a. Khổ đế: Có nhiều loại khổ, nhưng chủ yếu là khổ khổ, hoại khổ và hành nkhổ.
b. Tập đế: Nguyên nhân của đau khổ là ái dục.
c. Diệt đế: Muốn hết khổ phải diệt dục.
d. Đạo đế: Con đường giúp chúng ta diệt dục để tránh khổ là tám chính đạo, gồm: chính kiến, chính tư, chính ngữ, chính nghiệp, chính mệnh, chính tiến, chính niệm và chính định.
Bốn đại: Bốn yếu tố cấu tạo nên than hình và thế giới vật chất là: Đất, nước, lửa và gió.
Bốn loài, bốn loại: Bốn loại chúng sinh:
a. Thai sinh: Loài từ bào thai sinh ra, như con người.
b. Noãn sinh: Loài từ quả trứng sinh ra, như con chim.
c. Thấp sinh: Loài từ chỗ ẩm sinh ra, như con men.
d. Hoá sinh: Loài do chuyển hóa sinh ra, như con bướm.
Bốn ơn: ơn Tam Bảo, ơn thầy bạn, ơn cha mẹ và ơn chúng sinh.
Bốn qủa Thánh: (Xem: Tứ quả)
Bốn thánh: (Xem: Tứ thánh)
Bốn thể: Theo Đạo gia, linh hồn hay thần thức được bao bọc bởi bốn lớp vỏ:
a. Vật thể: Lớp vỏ vật chất, gọi là thân, tức thân căn.
b. Khí thể: Lớp vỏ sinh lực, gọi là phách, tức mệnh căn.
c. Thần thể: Lớp vỏ tình cảm, gọi là thần, tức tình căn.
d. Thánh thể: Lớp vỏ tri giác, gọi là ý, tức ý căn.
Bốn thiên vương: Bốn vị chúa của bốn cảnh trời trên sườn núi Tu Di, gồm:
a. Trì Quốc thiên vương,
b. Quảng Mục thiên vương,
c. Tăng Trưởng thiên vương,
d. Đa Văn thiên vương.
(Xem: Tứ thiên vương)
Bốn vô lượng tâm: Bốn vô lượng tâm là từ, bi, hỉ và xả. (Xem: Vô lượng tâm)
Bổn tôn: Đức Phật hay Bồ tát chủ bài chú mà chúng ta thường đọc.
Bờ Giác: Bờ bên kia của biển sinh tử, tức là cảnh giới của chư Phật. Trái với bờ bên này, gọi là bến mê của phàm phu.
Bức Phạn thư: (Xem: Phạn thư đồ.)
Ca lầu na: Chim thần có cánh vàng.
Càn that bà: Nhạc thần phụ trách về âm nhạc ở trên trời. Càn that bà cũng có nghiã là hương thần vì họ không ăn cũng không uống mà chỉ hưởng dụng bằng cách ngửi mùi đồ ăn.
Căn: (Xem: Sáu căn)
Căn khổ: Nguyên nhân tạo ra đau khổ.
Căng già sa: Cát ở sông Hằng. Lại cũng có nghiã là nhiều như cát ở sông Hằng. Căng già sa đồng nghiã với hằng hà sa.
Cập: Và, cùng với.
Câu không tuệ: Trí tuệ giúp chúng ta thấy rõ cả chúng sinh lẫn cảnh vật đều là hư vọng, do nhân duyên hợp lại mà thành.
Cõi Dục: Nơi mà chúng sinh còn nhiều ham muốn, đặc biệt là thích ăn uống và ham dâm dục. Cõi Dục gồm 4 châu (Bắc Cu Lư châu, Nam Thiêm Bộ châu, Tây Ngưu Hóa châu, Đông Thắng Thần châu) ở chân núi Tu Di và 6 tầng trung thiên (Tứ Thiên Vương thiên hay đúng hơn là Tứ thiên môn, Đạo Lợi thiên, Dạ Ma thiên, Đâu Suất thiên, Hóa Lạc thiên và Tha Hóa thiên)
Cõi Sắc: Nơi mà chúng sinh chỉ thích tham thiền, không còn ham muốn dục lạc nữa. Cõi Sắc có 18 tầng trời, chia thành 5 nhóm là:
a. Sơ Thiền thiên, gồm có Phạm Chúng thiên, Phạm Phụ thiên và Đại Phạm thiên,
b. Nhị Thiền thiên, gồm có Thiểu Quang thiên, Vô Lượng Quang thiên và Quang Âm thiên,
c. Tam Thiền thiên, gồm có Thiểu Tịnh thiên, Vô Lượng Tịnh thiên và Biến Tịnh thiên.
d. Tứ Thiền thiên, gồm có Vô Vân thiên, Phúc Sinh thiên, Quảng Quả thiên và Vô Tưởng thiên.
e. Bất Hoàn thiên, Tinh Cư thiên hay Tịnh Phạm địa, gồm có Vô Phiền thiên, Vô Nhiệt thiên, Thiện Kiến thiên, Thiện Hiện thiên và Sắc Cứu Cánh thiên.
Ngoài 18 tầng trời kể trên, đôi khi chúng ta cũng nghe nói đến Phạm Thân thiên thuộc Phạm Chúng thiên, Hòa Âm thiên và Đại Tự Tại thiên thuộc Sắc Cứu Cánh thiên.
Cõi Vô Sắc: Nơi mà chúng sinh đã thoát khỏi tình lụy và hình lụy. Cõi Vô Sắc có 4 tầng trời là Không Vô Biên xứ, Thức Vô Biên xứ, Vô Sở Hữu xứ và Phi Tưởng Phi Phi Tưởng xứ.
Công án: Lời nói bí ẩn, không thể hiểu bằng cách suy đoán thông thường, do một vị Tổ thốt ra để giúp cho đệ tử của mình khởi được nghi tình.
Của tăng kỳ: Đồ đạc và vật dung của tăng chúng.
Của thường trụ: Đồ đạc và vật dụng trong chùa. Sở dĩ gọi là của thường trụ vì những thứ này không thể bán hoặc dời chỗ.
Cúng thí người mất: Lợi ich của việc cúng thí người chết được giảng dậy trong kinh Cúng Thí Người Mất, thuộc Tăng Chi Bộ, chương 10, phẩm Cha nu sô ni (Janussoni), mà chúng ta có thể tóm tắt như sau:
Bà la môn Cha nu sô ni hỏi đức Phật: "Bạch đức Thế Tôn, con chuyên lo cúng thí cho người chết, những mong đem lại lợi ích cho họ. Nhưng con không biết họ có được lợi ích thật không?"
Đức Phật dậy: "Chỉ những người thác sinh vào loài ngạ quỉ mới hưởng được đồ cúng thí của thân quyến."
Nghe đức Phật dậy như vậy, Cha nu sô ni liền hỏi: "Nếu người chết không sinh vào loài nga quỉ thì ai sẽ thọ hưởng sự cúng thí ấy?"
Đức Phật trả lời: "Nếu người chết không sinh vào loài ngạ quỉ thì những người thân thuộc khác của người cúng thí hiện đang làm ngạ quỉ sẽ hưởng thay cho họ!"
Cha nu sô ni hỏi thêm "Nhưng nếu cả dòng họ của người cúng thí đều không sinh vào loài ngạ quỉ thì phẩm vật cúng thí ấy sẽ thuộc về ai?"
Đức Phật trả lời: "Trường hợp này không thể xẩy ra. Nhưng dù thế nào đi nữa, người cúng thí đó cũng được phúc đức."
Cuống: Gian dối, lường gạt.
Cực Lạc: Thế giới của đức Phật A Di Đà, tại đó mọi người đều được yên vui sung sướng và có đầy đủ cơ duyên để tu thành Phật.
Cứu cánh: Cuối cùng.
Cửu huyền: 4 đời trước mình, 4 đời sau mình và đời mình.
Chân không: Nghĩa đen là cái không thực sự. Nghĩa bóng là tâm không vọng động của chúng sinh.
Chân tính: Bản thể thanh tinh của tâm thức, của chúng sinh, của vạn vật.
Chấp có: Chấp rằng có mình, có người, có vật.
Chấp đoạn: Chấp rằng chết là hết, không còn gì nữa.
Chấp không: Chấp là không có mình, không có người, không có vật.
Chấp thủ: Cố nắm giữ những gì mình có, mình thích không chịu buông bỏ.
Chấp thường: Chấp rằng mỗi người đều có một linh hồn bất diệt. Vì theo Phật Giáo, linh hồn (thường gọi là thần thức) không bất diệt mà chỉ tồn tại cho đến ngày chúng ta đắc quả A La Hán. Xem: “Duy Thức Tam Thập Tụng.”
Chết: Không còn sống nữa. Chết có 2 loại là:
a. Chết lâm sàng: Khi chúng ta tắt thở.
b. Chết thực sự: Khi thần thức của chúng ta rời bỏ thể xác.
Theo “Tiến trình của sự chết trong truyền thống Phật giáo Tây Tạng” của Đại sư Lozang Gyatso, dịch giả Sonam Nyima Chân Giác thì chết gồm có 10 giai đoạn:
a. Sắc uẩn, địa đại và nhãn thức tan rã.
b. Thọ uẩn, thuỷ đại và nhĩ thức tan rã.
c. Tưởng uẩn, hỏa đại và tỵ thức tan rã.
d. Hành uẩn, phong đại, thiệt thức và thân thức tan rã. Chúng ta tắt thở. Ý thức yếu dần. Thần thức (nguyên thần) không bị thể xác quấy nhiễu nữa, nên càng ngày càng minh mẫn. Đây là lúc thuận lợi cho việc trợ niệm.
e. Khí dương trắng từ trên huyệt bách hội đi xuống luân xa tim tạo ra ảo giác không có gì khác ngoài một màn trắng.
f. Khí âm đỏ từ dưới huyệt đan điền đi lên luân xa tim tạo ra ảo giác không có gì khác ngoài một màn đỏ.
g. Hai khí dương và âm hợp lại thành khí bất hoại (nguyên khí) ở luân xa tim, tạo ra ảo giác không có gì khác ngoài một màn đen, gọi là màn đêm cận tử. Vào lúc này, ý thức hoàn toàn tan rã và thần thức trở nên sáng suốt.
h. Sau một khoảng thời gian dài hay ngắn tuỳ theo căn cơ của từng người, hai khí dương và âm nói trên lại tách ra một chút làm xuất hiện ánh sáng căn bản (Pháp thân) lần thứ nhất.
i. Khi ánh sáng căn bản này biến đi. Màn đêm cận tử trở lại. Thần thức bắt đầu di chuyển rất nhanh về một trong 6 cửa ra của thể xác là: cửa đỉnh đầu (bách hội), cửa mi gian, cửa ở ngực, cửa bụng dưới (đan điền), cửa đầu gối hay cửa bàn chân.
j. Thần thức nhìn thấy ánh sáng căn bản lần thứ hai và thoát ra khỏi thể xác. Chúng ta đã chết!
Theo người Tây Tạng, thời gian từ lúc chúng ta tắt thở đến lúc thần thức ra khỏi thể xác có thể kéo dài đến 3 ngày rưỡi hay 4 ngày.
Chết: Khoảng thời gian kéo dài từ lúc chúng ta tắt thở cho đến lúc tái sinh. Theo “Tử thư Tây Tạng” của Đại sư Liên Hoa Sinh, chết có 3 giai đoạn:
a. Giai đoạn trung ấm lâm chung, mau là vài phút, chậm là 3 ngày rưỡi hay 4 ngày, bắt đầu từ lúc chúng ta tắt thở cho đến khi thần thức của chúng ta bỏ thể xác vào trung giới.
b. Giai đoạn trung ấm pháp tính dài 2 tuần, kể từ lúc thần thức của chúng ta vào trung giới, hóa thành vong linh. Trong giai đoạn này, chư Phật và thánh chúng luân phiên hiện thân để tiếp dẫn những vong linh có duyên.
c. Giai đoạn trung ấm tái sinh chấm dứt vào lúc vong linh rời trung giới, thuận theo nghiệp duyên của mình, trở lại luân hồi làm trời, người, thần, súc sinh, ngạ quỉ hay tội phạm trong địa ngục.
Chí thành tâm hay thành tâm:
a. Lòng chân thực muốn được sinh về Cực Lạc thấy Phật, nghe Pháp của những người chán ngán Ta Bà.
b. Lòng chân thực muốn được cái mình xin, mình cầu.
Chỉ: Ngưng suy nghĩ để an tâm. Chỉ có ba loại là thủ tướng chỉ, nhiếp tâm chỉ và thể chân chỉ.
a. Thủ tướng chỉ là tập trung tư tưởng vào một đối tượng duy nhất không cho tán loạn, giống như cái máy vi đê ô lúc ngưng (pause) nên chỉ phát ra có một hình thôi.
b. Nhiếp tâm chỉ là dập tắt mọi tư tưởng ở trong tâm, giống như cái máy vi đê ô lúc tắt (stop) nên không phát hình nữa.
c. Thể chân chỉ là trạng thái vắng lặng tự nhiên của bản tâm thường đối cảnh nhưng không khởi niệm.
Chính đẳng chính giác: Đẳng là cấp bậc, là quả vị. Chính đẳng chính giác là quả giác ngộ chân chính của đức Phật.
Chính định: Chính là không vướng sáu trần. Định là không khởi vọng niệm. Chính định có những nghiã sau:
a. Ngưng đuổi ngoại cảnh và suy nghĩ viển vông để quán chiếu đối tượng như thực.
b. Giữ tâm rỗng lặng để tạo điều kiện cho việc khai tuệ hoặc thấy tính.
c. Hợp nhất chủ thể và đối tượng.
Chính kiến: Hiểu biết chân chính, đặc biệt là thấu hiểu Bốn Diệu Đế, thấy rõ tính vô thường, khổ não và vô ngã của hiện tượng giới.
Chính mệnh: Sống một cách chân chính, tức là chỉ làm những nghề lương thiện không gây thiệt hại cho các chúng sinh khác.
Chính niệm: Ghi nhớ chân chính.
a. Chính niệm nói chung là thường ghi nhớ những hiện tượng đang diễn ra ở ngay thân và tâm của chúng ta. Trong trường hợp này, chính niệm bao gồm bốn môn, là niệm thân, niệm thọ, niêm tâm và niệm pháp, được giảng dậy trong Trường Bộ Kinh.
b. Chính niệm nói riêng là thường nhớ đến đề mục tu tập và mục đích theo đuổi, không để quên lãng. Thí dụ: Người niệm Phật phải nhớ đến Phật, người trì chú phải nhớ đến chú, người quán tâm phải nhớ đến tâm.
Chính niệm phân minh: Với người niệm Phật, chính niệm phân minh là ý và miệng niệm Phật, còn tai thì lắng nghe tiếng niệm của mình rõ ràng từng chữ, từng câu một.
Chính ngữ: Lời nói chân chính, tức là không nói dối, không ác miệng, không xúi xiểm (không hai lưỡi) và không ba hoa.
Chính nghiệp: Hành động chân chính, tức là không sát sinh, không trộm cắp và không dâm dục.
Chính Pháp thí: Dậy dỗ những người ham học để họ am hiểu Chính Pháp.
Chính quán: Dùng Chính Pháp chuyển hóa tư tưởng, lời nói và hành động của mình để tạo các tác dụng tự lợi, lợi tha. (Xem: Quán)
Chính tiến: Cố gắng chân chính. Chính tiến thong thường là cố gắng ngăn ngừa các việc ác chưa xẩy ra, cố gắng sửa đổi những việc ác đã xẩy ra, cố gắng huận tập những việc lành chưa xẩy ra và cố gắng phát triển những việc lành đã xẩy ra. Tuy nói là cố gắng làm bốn việc trên, nhưng chủ yếu là cố gắng tu tập pháp môn mà mình đã chọn.
Chính tư duy: Suy nghĩ chân chính, thí dụ như:
a. Suy nghĩ sao cho mình trở thành không tham, không giận và không si.
b. Suy nghĩ để tìm ra một phương pháp đoạn trừ phiền não thích hợp với mình.
Chính thọ, Chính thụ:
a. Chính là hợp Đạo lý. Thọ là lãnh lấy kết quả của việc mình làm. Người tu quán hay tụng kinh tập trung tư tưởng vào một pháp. Đến khi pháp ấy nhập tâm, chi phối trọn vẹn mọi cảm giác, tư tưởng và hành động của đương sự, gọi là Chính thọ.
b. Chính là hợp Đạo lý. Thọ là khởi được tác dụng mong muốn. Đọc kinh, quán tưởng, niệm Phật hay trì chú đến khi đắc tam muội, gọi là Chính thọ.
c. Tam muội
Chú: Thần chú, cũng gọi là chân ngôn có tác dụng tiêu tai, tạo phúc, phá ác, tăng thiện. Những bài chú phổ thông và ngắn gọn là:
a. Chú Bạch Y: Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Tăng. Nam mô cứu khổ, cứu nạn quảng đại linh cảm Bạch Y Quan Thế Âm bồ tát. Đát chỉ đá. Án! Dà la phạt đá, dà la phạt đá. Dà ha phạt đá, la dà phạt đá, la dà phạt đá. Ta ha. Thiên la thần, địa la thần, nhân ly nạn, nạn ly thân. Nhất thiết tai ương hoá vi trần. Thiên la thần đẳng.
b. Chú Bát nhã: Yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề. Ta bà ha (Gaté gaté paragaté parasamgaté bodhi. Svaha).
c. Chú cúng dường: Án! Nga nga nẵng tam bà phạ phiệt nhật ra hộc (Om! Gagàna svabhàva vajra hoc).
d. Chú Chuẩn Đề: Nam mô Tát đa nẫm tam miệu tam bồ đề câu chi nẫm đác điệc tha: Án! Chiết lệ chủ lệ Chuẩn Đề. Ta bà ha. (Namo sattanam samyaksambuddha kuthi- nam tadyatha: Om! Chali Chuli Cundi. Svaha.).
Chú Chuẩn Đề giúp người trì tụng trị bệnh, tiêu tai, giải nạn và thành tựu đại định.
e. Chú Chuyển Luân Vương: Bộ Lâm (Brum).
f. Chú Di Lạc (Muội Đát Lị): Nạp chư lại đát nẵng, đát la dạ da, nạp mồ a rị dã, nga lư cát để thấp nga la da, mẫu địa tát đát nga da, mãng hạ tát đát nga da, mãng hạ ca dô lãnh ca da, đát niết, đát niết tha. Án! Muội Đát Lị, Muội Đát Lị, muội đát lã mãng nẵng tẩy, muội đát la sâm bà duệ. Muội Đát Lị nạp bà duệ, mãng hạ sâm, muội dã tát nga ha.
g. Chú Diệt Tội: Ly bà ly bà đế. Cầu ha cầu ha đế. Đà ra ni đế. Ni ha ra đế. Tỳ lê nể đế. Ma ha dà đế. Chân lăng càng đế. Ta bà ha.
Chú Diệt Tội giúp chúng ta sám hối và bạt khổ.
h. Chú Dược Sư: Nam mô Bạt già phạt đế Bệ sái xả lụ rô Thích Lưu Ly bát lật bà hắt ra xà dã. Đát tha yết đa dã. A ra ha đế tam miệu tam bồ đà da đác điệc tha: Án! Bệ sái thệ, bệ sái thệ, bệ sái xã, tam một yết đế. Ta ha.
(Namo Bhagavaté Baisajyaguru Vaidurya prabharajaya Tathagataya, Arhaté samyak sambuddhaya tadyatha: Om! Bhaisajyé bhaisajyé bhaisajya samudgaté. Svaha.
Chú này có thể tạm dịch là: Kính lạy Dược sư Lưu Ly Quang Vương Như Lai, Ứng cúng, Chính đẳng Chính giác sở thuyết thần chú: Tam thân Phật! Chữa cho, chữa cho, xin chữa cho, chữa cho tất cả chúng con khỏi hết mọi bệnh.).
Chú Dược Sư có thể giải trừ tất cả mọi khổ não của chúng sinh.
i. Chú Đại bi tâm: Án! Phạ nhật ra đạt ma hật rị (Om! Vajra dharma Hrih).
j. Chú Đại minh: Án! Ma ni bát di hồng (Om! mani padmi hum). Đây là tâm chú của bồ tát Quán Thế Âm.
k. Chú đảnh lễ: Án! Phạ nhật ra vật (Om! Vajra mud).
l. Chú Địa Tạng. Án! Ha ha ha vĩ sa ma lí. Ta bà ha (Om! Ha ha ha visamayé svaha.) Đây là tâm chú của bồ tát Địa Tạng.
m. Chú hộ thân: Án! Sỉ lâm (Om! Sram).
n. Chú Lăng Nghiêm: Nam mô Tát đát tha, Tô già đa da, A ra đế, Tam miệu tam bồ đà da, đác điệc tha: Án! A ra lệ. Tỳ xá đề. Bệ ra bạt xà ra đà rị. Bàn đà bàn đà nể. Bạt xà ra bàn ni phấn. Hổ hồng. Đô lô ung phấn. Ta bà ha. (Namo Statha, Sugàtaya, Arhaté, Samyak-sambuddhaya tadyatha: Om! Anali. Visadhi. Bira Vajradhari. Panda pandani. Vajrapadni phatr’. Hohum. Duru umphatr’. Svaha).
Chú Lăng nghiêm giúp người trì tụng trừ tà, trị bệnh, tiêu tai, giải nạn, phá ác, tăng thiện.
o. Chú tịnh nghiệp: Án! Ta phạ bà phạ truật đà, ta phạ đạt ma, ta phạ bà phạ truật độ hám. (Om! Svabhava suddha, sarva dharma. Svabhava suddha hum).
p. Chú tịnh tràng: Án! Lam (Om! Ram).
q. Chú vãng sinh: Nam mô A Di Đà bà dạ. Đa tha già đa dạ, đa điệc dạ tha. A di rị đô bà tỳ, A di rị đa tất đam bà tỳ. A di rị đa tỳ ca lăng đế. A di rị đa tỳ ca lăng đa. Dà di nị, dà dà na. Chỉ đa ca lệ. Ta bà ha (Namo Amitàbhaya Tathàgataya Amrtabhavé Amrtasambhavé Amrtavikranté Amrta- vikranta gamini gagana kirtìcaré. Svaha).
Chú vãng Sinh giúp người trì tụng giải trừ các nghiệp chướng căn bản để sinh về Tịnh Độ của Phật A Di Đà.
Chú Viên Mãn: Chú Đại Bi, sở dĩ gọi là Viên Mãn vì chú này có khả năng giúp hành giả đạt được những gì mong muốn.
Chuẩn Đề: (Xem: Bồ tát Quán Thế Âm.)
Chúng sinh trược: Chúng sinh nhơ nhớp, vì hay bất mãn và chống đối lẫn nhau. (Xem: Năm trược)
Chủng tử: Hạt giống. Chủng tử của đất, nước, lửa, gió và hư không lần lượt là: Át (A mầu vàng), Vãm (Vam mầu trắng), Lam (Ram mầu đỏ), Hàm (Yam mầu đen), Khiếm (Kham mầu xanh).
Chủng trí: Chủng trí hay Đạo chủng trí là một trong ba loại trí của tông Thiên Thai gồm: Nhất thiết trí, Đạo chủng trí và Nhất thiết chủng trí.
a. Nhất thiết trí: Trí tuệ của những người đắc không quán, thấy rõ các pháp đều vô ngã, không có thực thể riêng biệt. Với nhất thiết trí chúng ta biết được tên, tuổi, hình dáng, đặc tính, công dụng, nguyên nhân và hậu quả của các pháp, nhưng không rõ quá trình sinh diệt của chúng.
b. Đạo chủng trí: Trí tuệ của những người đắc giả quán, thấy rõ các pháp đều do nhân duyên sinh ra, tuy không có thực thể, nhưng vẫn có giả tướng. Với đạo chủng trí chúng ta biết được quá trình sinh diệt của các pháp và chủng tử của muôn loài.
c. Nhất thiết chủng trí: Trí tuệ của những người đắc trung quán, nên thấy rõ mọi sự, mọi vật và thể tính của chúng.
(Xem: Tam quán)
Chuyển thức: Tên chung của bẩy thức đầu.
Chứng:
a. Sống thuận với. Thí dụ: Chứng tính.
b. Nhìn nhận là thực. Thí dụ: Chứng nhận.
Chướng: Ngăn ngại. Túc nghiệp chướng là trở ngại do những nghiệp cũ gây ra. (Xem: Ba chướng).
Dạ Xoa: Loại quỉ xấu xí, trong đó có nhiều vị đã tình nguyện bảo vệ Phật Pháp và người tu hành.
Dị niệm: Dị là khác, Niệm là nhớ. Dị niệm là nhớ hoặc nghĩ đến những chuyện khác với những gì mình muốn. Thí dụ: người niệm Phật nhớ đến Phật gọi là chính niệm. Quên mất Phật gọi là thất niệm. Nghĩ đến bất cứ việc gì khác gọi là dị niệm.
Diễn: Bắt chước, khai triển ra.
Diệt: Diệt độ. (Xem bài: BỐN DIỆU ĐẾ.)
Diệt độ: Niết Bàn. Khi ta diệt độ nghiã là khi ta nhập Niết Bàn.
Diệt tận định: Phép định giúp chúng ta ngưng các sinh hoạt của bẩy thức đầu. Diệt tận định cũng gọi là Diệt thọ tưởng định, vì thọ là nhiệm vụ chính của ý căn và tưởng là nhiệm vụ chính của sáu thức. (Xem Vô tưởng định.)
Diệu hữu: Nghĩa đen là cái có kỳ diệu. Nghĩa bóng là tất cả các pháp do tâm mình vọng động mà tạo ra. Thí dụ: Mầu sắc, âm thanh, mùi vị, cảm giác, tư tưởng, Cực Lạc, thiên đường, địa ngục v.v...
Diệu quan sát trí (Pratyavekasanajnâna): Khả năng nhìn rõ căn nguyên và đặc tính của các pháp.
Diệu quán: Làm hiện ra những gì mình nghĩ, mình muốn hay mình cần.
Dục: Mong muốn.
Dục giới: (Xem: Cõi Dục.)
Duy thức: Chỉ có thức mà thôi. Chỉ có thức mới là thực còn tất cả đều do thức biến hiện ra.
Duyên giác: Người theo Phật tu quán mười hai nhân duyên, phá màn vô minh, nhập vào Niết Bàn, không độ chúng sinh. Nếu sinh nhằm lúc không có Phật, một mình tu học mà giác ngộ lý Nhân Duyên thì gọi là Độc Giác.
Duyên ngoài: Hoàn cảnh và liên hệ với thế giới bên ngoài.
Dự lưu: Tu đà hoàn (Xem: Tu đà hoàn)
Đà ra ni: Thần chú, chân ngôn.
Đài sáng chói: Đài là cái bệ, cái tòa. Đài sáng chói: Tòa mây kết bằng khói nhang hay khói trầm, nhờ phản chiếu hào quang của chư Phật và Thánh chúng mà trở nên rực rỡ.
Đài vàng: Đài sen bằng vàng.
Đại Hắc (Mahakala): Hoá thân của trời Tự Tại, cũng gọi là thần Huỷ Diệt (Shiva dịch âm là Tháp Bà) của Ấn Độ giáo.
Đại Tự Tại thiên vương (Maha Mahésvara):
a. Thiên chủ của cõi Sắc.
b. Thiên chủ của từng trời Sắc Cứu Cánh.
c. Thần Bảo Tồn (Vishnu) của Ấn Độ giáo.
Đại thiên thế giới hay tam thiên đại thiên thế giới: Tổng hợp của một ngàn trung thiên thế giới và một Tứ thiền thiên.
Đại trí: Trí tuệ lớn. Người đại trí là người có nhiều trí tuệ, người hết sức sáng suốt.
Đại vị: Thay mặt cho, thay thế cho. Đại vị Pham Ma đảnh lễ Tam Bảo tức là thay ngài Pham Ma để đảnh lễ Tam Bảo.
Đại viên cảnh trí (Mahadarsanajnâna): Khả năng chiêm ngưỡng cuộc sống một cách toàn diện. Trong đó, trí và ngu, sáng và tối, thiện và ác, sướng và khổ, trước và sau, cũ và mới không những không chống đối mà còn bổ túc cho nhau nữa. Trí này giống như tấm gương ứng vật hiện hình, tuy phản ảnh tất cả các thế giới của ba đời trong mười phương, nhưng không hề nhiễm trước.
Đàn chỉ: Khẩy ngón tay, búng ngón tay.
Đạo:
a. Đường đi từ chỗ này đến chỗ khác.
b. Nơi mà chúng sinh phải theo nghiệp thọ sinh. (Xem: Sáu đường)
c. Tôn giáo.
d. Bản thể của vạn pháp.
e. Ăn trộm.
f. Đạo đế. (Xem bài: BỐN DIỆU ĐẾ.)
Đạo Bồ đề: Đạo Giác ngộ, tức là Đạo Phật.
Đạo cả: Đạo lớn, tức là Đạo Phật.
Đạo chủng trí: Trí tuệ của hàng bồ tát. (Xem: Chủng trí).
Đạo Lợi thiên: (Xem: Tam thập tam thiên)
Đạo tràng:
a. Nơi đức Phật thành Đạo.
b. Chỗ thờ, cúng Phật ở trong chùa, thường gọi là Chính điện.
c. Chỗ mình tụng kinh hàng ngày.
d. Chỗ thầy tu tham thiền, nhập định.
e. Chỗ pháp sư giảng Đạo hay truyền Pháp.
Đạo vô thượng: Đạo cao nhất không gì hơn được, tức là đạo Phật.
Đế Thích: (Xem: Thích Đề Hoàn Nhân)
Địa Tạng : (Xem: Bồ tát Địa Tạng)
Định (Concentration):
a. Tập trung tư tưởng vào một người, một cảnh hay một pháp duy nhất, để giữ tâm yên tịnh. Tâm mà yên tịnh thì sẽ phản chiếu người ấy, cảnh ấy hay pháp ấy rõ ràng như thực. Trong trường hợp này, định đồng nghiã với chỉ tịnh.
b. Hợp nhất với đối tượng tu tập. Hiểu theo nghiã này, định đồng nghiã với chính thọ.
c. Giữ tâm rỗng lặng để chuẩn bị cho việc thấy tính hoặc khai tuệ, gọi là chính định.
Định: (Xem: Chính định, Diệt tận định, Nhập định, Thiền định, Vô tưởng định)
Đồ chúng: Bọn đệ tử.
Đường ác: Có ba đường ác là địa ngục, ngạ quỷ và súc sinh.
Giác:
a. Bản giác: Tính giác sẵn có của chúng sinh.
b. Thuỷ giác: Sự thức tỉnh đột ngột giúp hành giả nhận ra bản giác, cũng gọi là chứng ngộ.
Giác ngộ: Nhận ra tính giác của mình.
Giải: Làm cho rõ ràng và dễ hiểu. Thí dụ: giải thích một hiện tượng, giải nghĩa một chữ khó. (Xem: Thắng giải)
Giải đãi: Lười biếng, không cố gắng, khác với phóng dật là không siêng năng.
Giải nghiệp: Giải trừ nghiệp chướng.
Giải thoát tri kiến: Tự biết mình đã dứt được phiền não và không bị sinh, tử lôi kéo nữa.
Giới: Lời răn của Phật. Có ba loại giới:
a. Nhiếp luật nghi giới: Đoạn tất cả việc ác.
b. Nhiếp thiện pháp giới: Tu tất cả pháp lành.
c. Nhiêu ích hữu tình giới: Độ tất cả chúng sinh.
Giới: Tên chung của 18 yếu tố cấu tạo nên con người và môi trường sinh hoạt của đương sự. Mười tám yếu tố ấy là:
a. Nhãn giới: Nhãn căn, tức là con mắt.
b. Nhĩ giới: Nhĩ căn, tức là lỗ tai.
c. Tỵ giới: Tỵ căn, tức là cái mũi.
d. Thiệt giới: Thiệt căn, tức là cái lưỡi.
e. Thân giới: Thân căn, tức là thân thể.
f. Ý giới: Ý căn, tức là căn thứ sáu của chúng ta.
g. Sắc giới: Sắc trần, bao gồm hình thể và mầu sắc.
h. Thinh giới: Thinh trần, tức là âm thanh.
i. Hương giới: Hương trần, gồm tất cả các mùi, như: thơm, thối, hôi, tanh v.v...
j. Vị giới: Vị trần, gồm tất cả các vị, như: chua, chát, măn, ngọt, cay, đắng v.v...
k. Xúc giới: Xúc trần là đối tượng của than thể, gồm những cảm giác như: cứng, mềm, trơn, nhám, nóng, lạnh, đau, nhức v.v...
l. Pháp giới: Pháp trần là đối tượng của ý căn, bao gồm cả lý tính và sự tướng mà đặc biệt là tình cảm và tư tưởng của chúng ta.
m. Nhãn thức giới: Nhãn thức, gồm tất cả những cảm xúc và hiểu biết đến từ con mắt.
n. Nhĩ thức giới: Nhĩ thức, gồm tất cả những cảm xúc và hiểu biết đến từ lỗ tai.
o. Tỵ thức giới: Tỵ thức, gồm tất cả những cảm xúc và hiểu biết đến từ lỗ mũi.
p. Thiệt thức giới: Thiệt thức, gồm tất cả những cảm xúc và hiểu biết đến từ cái lưỡi.
q. Thân thức giới: Thân thức, gồm tất cả những cảm xúc và hiểu biết đến từ các bộ phận của than thể khác mắt, tai, mũi và lưỡi.
r. Ý thức giới: Ý thức, gồm tất cả những cảm tình và hiểu biết đến từ ý căn.
Giới: Cõi, như tam giới, tức là ba cõi.
Giới cụ túc: Giới luật đầy đủ. Thọ giới cụ túc là thọ tất cả 250 giới cấm của tỳ khưu tăng hoặc 348 giới cấm của tỳ khưu ni.
Giới sa di: Giới luật của chú tiểu hay của ni cô, gồm mười điều là không sát sinh, không trộm cắp, không dâm dục, không nói dối, không uống rượu, không nằm giường êm, không trang điểm, không múa hát, không ăn sau trưa và không giữ của riêng.
Giới tỳ khưu: Giới cụ túc.
Giới trai: (Xem: Tám giới trai)
Giường sắt, cột đồng: Cảnh ở dưới địa ngục.
Hại: Làm tổn thương đến những chúng sinh khác ở quanh ta.
Hàm linh: Chúng sinh, loài có linh tính.
Hành:
a. Pháp hữu vi gồm tất cả những gì có thể làm ra hoặc hủy đi. Trong trường hợp này, hành đồng nghiã với tạo vật.
b. Động lực thúc đẩy chúng ta tạo nghiệp, gồm 49 tâm sở khác thọ và tưởng, như tham, giận, nghi, sợ v.v...
c. Tạo tác của thân, miệng và ý, gọi là hành động.
Hành động: Tạo tác của thân, miệng và ý. Hành động có ý thức gọi là nghiệp.
Hành uẩn: Uẩn thứ tư chủ về tạo tác, có tác dụng thúc đẩy thân, miệng và ý tạo nghiệp. Hành uẩn bao gồm 49 tâm sở khác thọ và tưởng mà chủ yếu là tư lượng tâm sở. (Xem: Năm uẩn)
Hành xả: (Xem: Xả)
Hạnh:
a. Nết na.
b. Hành, như thực hành hay tu hành.
c. Việc mình quyết làm.
Hạnh Phổ Hiền: Bồ tát Phổ Hiền có mười hạnh đặc biệt là:
a. Kính lễ chư Phật.
b. Xưng tán Như Lai (Khen ngợi chư Phật.).
c. Quảng tu cúng dường (Cúng dường một cách rộng rãi.)
d. Sám hối nghiệp chướng.
e. Tuỳ hỷ công đức (Vui mừng khi thấy người khác tu công đức.)
f. Thỉnh chuyển Pháp luân (Mời Phật thuyết Pháp.)
g. Thỉnh Phật trụ thế (Xin Phật nán ở lại thế gian, khoan nhập Niết Bàn.)
h. Thường tuỳ Phật học (Theo gương chư Phật mà tu hành.)
i. Hằng thuận chúng sinh (Tùy theo hoàn cảnh, khả năng hoặc sở thích của chúng sinh mà giáo hóa.)
j. Phổ giai hồi hướng (Chia sẻ công đức của mình cho hết thẩy chúng sinh, cầu cho tất cả cùng thành Phật đạo.)
Hảo tướng: Tướng tốt, điềm lành. Người niệm Phật nói thấy hảo tướng tức là thấy than hình, hào quang hay tiếng nói của Phật trong lúc nằm mơ hoặc khi tịnh niệm.
Hằng hà sa số: Nhiều như cát ở sông Hằng.
Hằng sa: Cát ở sông Hằng, cũng có nghiã là 10 luỹ thừa 25.
Hận: Oán ghét.
Hậu hữu: Cái mình sẽ có, đặc biệt là cái thân của kiếp tới.
H ỉ (hoan hỉ):
a. Mừng rỡ, sung sướng.
b. Sung sướng khi thấy mình hoặc người khác làm những việc lợi ích hay được hưởng lợi ích.
Hỉ lạc: Hỷ là sướng; Lạc là vui. Hỷ lạc là vui sướng, đặc biệt là vui sướng vì thỏa mãn, vì ly dục, vì nhất tâm, vì đắc định.
Hiền kiếp: Kiếp Hiền là kiếp hiện tại, trong kiếp này có một ngàn đức Phật ra đời.
Hiền kiếp thiên Phật: Một ngàn vị Phật của kiếp Hiền.
Hiền nhân: Người nhiếp tâm tu Đạo. (Xem: Thánh nhân và Thiện nhân.)
Hiện hành: Hiện thực của sáu thức.
Hóa Phật: Tướng giả do chư Phật hay Bồ tát dùng sức thần thông mà biến hiện ra.
Hóa thân: Thân giả tạm do chư Phật hay bồ tát dùng phép thần thông mà biến hiện ra.
Hoạt ngữ: Lời nói sống động, buộc người nghe phải bỏ thói suy luận thong thừơng để chứng ngộ một chân lý hay một thực tại ngầm chứa trong đó.
Hoặc: Lầm lạc, lừa dối. Có ba loại hoặc chính là:
a. Kiến tư hoặc: Kiến hoặc là thấy lầm, tức là thấy không đúng sự thực. Tư hoặc là nghĩ lầm, tức là nghĩ không hợp Chính Pháp. Kiến tư hoặc là mê lầm vì thấy sai hay nghĩ sai.
b. Trần sa hoặc: Mê lầm trong việc đối trị những sự thấy sai và nghĩ sai nhiều như cát (trần sa) của chúng sinh. (Nếu đoạn được trần sa hoặc thì hễ khuyên ai điều gì, họ liền thuận theo).
c. Vô minh hoặc: Mê lầm vì không thấy chân tính của chính mình và của vạn vật.
Hộ niệm:
a. Hộ là giúp đỡ. Niệm là nhớ đến. Hộ niệm là thường nhớ đến và giúp đỡ. Giúp bằng cách nào? Bằng cách ngăn các ác pháp bên ngoài xâm nhập và khiến các thiện pháp bên trong nẩy nở.
b. Giúp đỡ một người ốm nặng hay hấp hối niệm Phật A Di Đà để cầu sinh Cực Lạc. Hiểu theo nghĩa này, hộ niệm đồng nghĩa với trợ niệm. Tuy nói là đồng nghĩa, nhưng chúng cũng có chỗ khác nhau, như trong câu: "Ban hộ niệm trợ niệm cho người hấp hối." Ban hộ niệm trợ niệm cho nhiều người, nhiều đám, việc họ làm có tính cách thường xuyên. Còn mỗi người hấp hối chỉ được trợ niệm trong một thời gian ngắn trước và sau khi chết.
Hối: Ăn năn, tiếc nuối.
Hồi hướng: Hồi là xoay lại; Hướng là nhắm vào. Hồi hướng công đức là thay vì dùng công đức của mình để cầu phúc lợi thế gian thì mình xoay ngược lại để hoặc nguyện vãng sinh Cực Lạc hoặc cầu đắc quả Chính Giác.
Hồi hướng phát nguyện tâm: Lòng tự nguyện dùng hết thẩy công đức hiện có để cầu cho tất cả chúng sinh cùng được sinh về Cực Lạc với mình hoặc là cùng với mình đắc quả Chính giác.
Hồi quang: Xoay ánh sáng (tính thấy) vào trong để quan sát tâm mình.
Hôn trầm (Somnolence ): Hôn là không tỉnh táo. Trầm là không linh họat. Hôn trầm là trạng thái của một người mà tâm không tỉnh táo, thân không linh hoạt. Biểu hiện đơn giản nhất của hôn trầm là buồn ngủ.
Hồng danh: Hồng là lớn. Danh là tên. Hồng danh là tên của chư Phật.
Hợp tướng: Tất cả những gì do nhiều yếu tố, nhiều bộ phận khác nhau hợp thành.
Huyền: (Xem: Cửu huyền)
Huyễn: Ảo, nghiã là không có thực nhưng lại hiện ra như thực.
Huyễn tướng: Những cảnh tượng hư giả do tâm thức biến hiện ra.
Huyệt: Trung tâm sinh lực ở trong thân thể của chúng ta. Có rất nhiều huyệt, nhưng ngoại đạo thường tập trung tư tưởng vào chín huyệt sau:
a. Trường cường, cũng gọi là Vĩ lư
b. Yêu du
c. Dương quan
d. Mệnh môn
e. Linh đài, cũng gọi là Giáp tích
f. Đại chuy, cũng gọi là Yến nguyệt.
g. Bách hội, cũng gọi là Thiên cốc hay Huyền quang.
h. Thần đình, cũng gọi là Mi gian hay Ấn đường.
i. Tố liêu
Tuy nói là chín huyệt, nhưng chủ yếu là Mệnh môn, Linh đài, Bách hội và Thần đình.
Hư vọng: Hư là giả, trái với thực. Vọng là sai, trái với đúng. Hư vọng là không phải thực mà chỉ là chuyện lừa gạt.
Hương thần: Càn thát bà.
Hữu tình: Những loài có tình cảm, biết yêu, biết ghét, biết sướng, biết khổ.
Hỷ : (Xem: H ỉ.)
Kiến Đạo: Trước là thấy rõ các pháp hữu vi đều vô thường, khổ não và vô ngã. Sau lại thấy được con đường thoát ly sinh tử thích hợp với hoàn cảnh và sở thích của mình. (Xem: Tu đà hoàn.)
Kiến tư hoặc: (Xem: Hoặc):
a. Kiến hoặc: Đối cảnh khởi tham sân, (không thấy chân tướng của sự vật, nên khởi lòng tham, giận.)
Tứ đế (khổ đế, tập đế, diệt đế và đạo đế) ở Dục giới có 32 sử. Tứ đế ở Sắc giới có 28 sử. Tứ đế ở Vô sắc giới có 28 sử. Cộng chung thành 88 sử, gọi là 88 phẩm kiến hoặc ở tam giới. (Xem: Sử)
b. Tư hoặc: Muội lý sinh phân biệt (không hiểu Chính Pháp, nên sinh tâm phân biệt.)
Dục giới có 9 phẩm tư hoặc (thượng thượng phẩm, thượng trung phẩm, thượng hạ phẩm, trung thượng phẩm, trung trung phẩm, trung hạ phẩm, hạ thượng phẩm, hạ trung phẩm và hạ hạ phẩm.) Sắc giới có 4 địa (Ly sinh hỉ lạc địa, Định sinh hỉ lạc địa, Ly hỉ diệu lạc địa, Xả niệm thanh tịnh địa), mỗi địa có 9 phẩm. Vô Sắc giới có 4 xứ (Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ), mỗi xứ có 9 phẩm. Cộng chung thành 81 phẩm tư hoặc ở tam giới.
Kiến trược: Hiểu biết nhơ nhớp, vì không phản ảnh đúng sự thực. (Xem: Năm trược)
Kiếp trược: Thời đại nhơ nhớp, vì tràn đầy tệ đoan, tội ác và thiên tai. (Xem: Năm trược)
Kiêu hay kiêu ngạo: Thấy mình hơn người bằng mình hay dưới mình, rồi sinh tâm cao ngạo, khinh thường họ. (Xem: Mạn)
Kinh hành: Vừa suy ngẫm chính pháp vừa đi vòng theo chiều kim đồng hồ.
Kinh hành niệm Phật: Vừa niệm Phật vừa đi quanh bàn thờ Phật theo chiều kim đồng hồ.
Kinh Tất cả chư Phật đều hộ niệm: Kinh mà người đọc sẽ được tất cả chư Phật hằng nhớ đến và giúp đỡ.
Khai huyệt: Mở các huyệt ở trong thân thể của chúng ta. (Xem Huyệt)
Khai tuệ: Khai mở trí tuệ.
Khán thoại đầu: Khán là nhìn, là xem. Thoại đầu là đầu của mỗi câu. Khán thoại đầu là nhìn vào chỗ khởi đầu của mỗi câu mà mình thầm đọc. Nói một cách khác, khán thoại đầu là nhìn vào khe hở giữa hai niệm liên tiếp hay là nhìn vào tâm mình ngay lúc niệm trước vừa diệt và niệm sau chưa sinh.
Khẩn na la: Thần nửa người nửa thú. Khẩn na la thường được dịch là phi nhân tức là giống người nhưng chẳng phải người.
Khí:
1. Theo người Trung Hoa, chúng ta có ít nhất là tám thứ khí, gồm:
a. Trợ nhãn khí, tức là khí trợ mắt, giúp cho con mắt có thể liếc qua hay liếc lại.
b. Trợ nhĩ khí, tức là khí trợ tai.
c. Trợ tỵ khí, tức là khí trợ mũi.
d. Trợ thiệt khí, tức là khí trợ lưỡi, giúp cho cái lưỡi có thể lè ra hay rụt vào.
e. Trợ thân khí, tức là khí trợ thân, giúp cho chân, tay có thể cử động và ruột, gan, tim, phổi, thận, tỳ, vị có thể vận chuyển bình thường.
f. Trợ ý khí, tức là khí trợ ý.
g. Chủ mệnh khí có nhiệm vụ giúp thân thể tăng trưởng và giữ cho nó không bị thối rữa.
h. Bất hoại khí, khí này không những không bị huỷ diệt vào lúc chết, mà còn theo thần thức đi tái sinh.
Bẩy khí đầu gọi là Phách hay là Vía. Khí thứ tám gọi là Nguyên khí.
2. Theo người Tây Tạng, chúng ta có 1 bất hoại khí và 10 hoại khí. Mười hoại khí ấy là:
a. Trợ nhãn khí.
b. Trợ nhĩ khí.
c. Trợ tỵ khí.
d. Trợ thiệt khí.
e. Trợ thân khí.
f. Hướng hạ khí.
g. Hướng thượng khí.
h. Điều hợp khí có nhiệm vụ điều hợp những khí khác để giúp ý căn.
i. Toàn thân khí lưu chuyển khắp thể xác để giúp ý thức.
j. Chủ mệnh khí, cũng gọi là Trợ sinh khí.
Khinh an (Khinh là nhẹ nhàng; An là yên ổn):
a. Trạng thái thanh thản, nhàn hạ của những người không lo sợ, không thắc mắc, cũng không mong đợi gì cả.
b. Trạng thái thanh thản, nhàn hạ của những người thường quên ngoại cảnh, hướng vào nội tâm nên không lo sợ, không thắc mắc, cũng không mong đợi gì cả.
Khổ: Khổ đế (Xem bài: BỐN DIỆU ĐẾ.)
Khổ: Có ba loại khổ chính: khổ khổ, hoại khổ và hành khổ.
a. Khổ khổ: Khổ khổ là khổ vì giác quan bị kích thích quá mức chịu đựng của mình. Thí dụ: Đau quá, nóng quá, đói quá...
b. Hoại khổ: Hoại khổ là khổ vì thân, tâm và hoàn cảnh đổi xấu. Thí dụ: Già yếu ốm đau hay người thân qua đời.
c. Hành khổ: Hành khổ là khổ vì những yếu tố cấu tạo nên thân, tâm và thế giới của chúng ta xung đột với nhau: Thí dụ: Người nghèo mà muốn ăn ngon, măc đẹp hay con cái ngỗ nghịch.
(Xem: Bát khổ.)
Khổ luân: Bánh xe khổ, vòng khổ, ý nói nỗi khổ của con người triền miên không dứt, tựa như cái bánh xe quay tròn.
Không:
a. Tính không: Tính rỗng lặng của các pháp.
b. Tướng không: Tướng của các pháp ở trạng thái tịch diệt, tức là tâm không vọng động của chúng ta. Tâm của chúng ta, khi vọng động mới phát ra hình này, tứơng nọ, gọi là có. Nhưng khi tĩnh lặng liền thâu hết muôn loài, gọi là không. Cũng như cái máy ti vi, khi bật điện mới có hình, gọi là có. Lúc tắt điện liền mất hình, gọi là không. Tứơng không của cái ti vi là màn hình. Còn tứơng có của nó là những cảnh hiện trên màn hình đó.
Không Hành: Mẫu Không Hành là nữ thần có khả năng bay lượn trong không gian.
Không sát sinh: Không giết hại chúng sinh.
Không tà kiến: Không mê tín dị đoan, mà phải tin sâu nhân quả.
La sát: Loại quỉ hung dữ, thích sát sinh và thèm thịt người.
Lạc (An lạc):
a. Yên vui, trái với hỷ là sung sướng. Sung sướng thì không bền, lúc có, lúc không. Yên vui mới bền lâu, không bị thời gian và hoàn cảnh làm chứơng ngại.
b. Khinh an. (Xem: Khinh an.)
Lắng tai nghe tiếng: Lắng tai nghe lấy tiếng mình niệm Phật.
Lâm chung: Chết. Lúc lâm chung là lúc chết.
Lậu tận: Hết phiền não, không còn phiền não nữa.
Lậu tận tỳ kheo: Bậc tu hành đã đoạn hết phiền não.
Lậu tận thông: (Xem: Thần thông)
Lhassa: Thủ đô của Tây tạng.
Lìa nhà bỏ dục: Bỏ nhà cửa, vợ con và các thứ vui thú ở thế gian.
Liên Bang: Liên là hoa sen; Bang là đất nước, là xứ sở. Liên bang là Cực Lạc vì ở đó có rất nhiều hoa sen.
Liên đài: Đài sen.
Liễu cảnh thức: Tên chung của sáu thức đầu có khả năng phân biệt trần cảnh. (Xem: Sáu thức.)
Linh hồn: Theo quan niệm cổ xưa, con người có hai phần chính là: Linh hồn và thể xác. Thể xác bị huỷ diệt vào lúc chết, nhưng linh hồn sẽ tiếp tục sinh tồn trong một thân khác.
Ngày nay, qua các kinh nghiệm cận tử, người ta đã chứng minh được rằng: Chết không phải là hết. Sau khi chết, có một linh thể rời thể xác để thoát ra ngoài!
Linh thể ấy thoát ra ngoài như thế nào?
Có nhiều người đã chết đi ít lâu, rồi đột nhiên sống lại và nói: "Khi mũi ngưng thở và tim ngưng đập. Bác sĩ tuyên bố, họ đã chết. Nhưng thực sự, họ vẫn còn sống, lại biết mình đang di chuyển rất nhanh trong một hầm tối và nhìn thấy ở cuối hầm ấy, có một vầng ánh sáng êm dịu, thánh thoát, như đang chờ đón họ!
Khi họ tới gần, thì mới nhận ra rằng, ánh sáng ấy là hào quang bao quanh một Thiên Thần Ánh Sáng.
Thần Ánh Sáng dùng tư tưởng để hỏi họ: "Đã muốn chết chưa?"
Họ trả lời: "Chưa!"
Thần Ánh Sáng lại hỏi: "Tại sao chưa muốn chết?"
Có người giải thích: "Tôi chưa muốn chết, vì có con nhỏ, không ai săn sóc!"
Có người nói: "Tôi chưa muốn chết, vì có bố, có mẹ, có vợ hay có chồng ốm nặng, cần sự giúp đỡ của tôi!"
Nghe xong, Thần Ánh Sáng liền nói: "Thôi, ngươi hãy về đi!"
Rồi, họ đột nhiên tỉnh lại, như vừa trải qua một giấc mơ!"
Thần Ánh Sáng, mà những người chết đi sống lại thường hay nhắc đến là ai?
Đó là Pháp Thân Phật, cũng gọi là Đại Nhật Như Lai, vì Ngài thường thị hiện như một mặt trời lớn, mà mỗi người chúng ta đều có cơ hội diện kiến vào lúc lâm chung.
Rất tiếc, những ngừơi chết đi sống lại nói trên vẫn chưa lọt được vào thế giới của người chết. Tuy chưa lọt được vào thế giới của người chết, nhưng họ đã giúp chúng ta biết một cách chắn chắn rằng: "Chết không phải là hết và sau khi chết, có một linh thể từ trong thân của chúng ta xuất ra ngoài!"
Linh thể ấy, người bình dân gọi là linh hồn, còn Phật tử chúng ta thường gọi là A Lại Da thức, là Nghiệp thức, là Thần thức, là Tàng tâm v.v...
Các tôn giáo khác khẳng định: "Mỗi người có một linh hồn và linh hồn ấy không bị huỷ diệt vào lúc chết!"
Còn Phật tử chúng ta, lại không nhất trí về thuyết có hay không có linh hồn!
Có người nói có linh hồn, vì họ dựa vào kinh Thập Nhị Nhân Duyên và nhất là các bài luận về Duy Thức. Thực vậy, theo Duy Thức Học, con người có tám thức là:
a. Nhãn thức, tức thức của con mắt, chủ về thấy
b. Nhĩ thức, tức thức của lỗ tai, chủ về nghe.
c. Tỵ thức, tức thức của lỗ mũi, chủ về ngửi.
d. Thiệt thức, tức thức của cái lưỡi, chủ về nếm.
e. Thân thức, tức thức của cái thân, chủ về cảm xúc, như: nóng, lạnh, đói, khát, nặng, nhẹ, đau, nhức v.v...
f. Ý thức, tức thức của cái ý, chủ về tri giác, tức là khả năng tính toán và phân biệt sự vật, cảm giác và tư tưởng, gọi chung là pháp trần.
g. Mạt Na thức hay ý căn là khả năng quyết định và điều hành mọi sinh hoạt của chúng ta.
h. A Lại Da thức hay Tàng tâm là trí nhớ, có khả năng giữ gìn căn thân và hạt giống của tất cả những gì chúng ta thấy, nghe, ngửi, nếm, cảm, nghĩ, nói và làm.
Trong 8 thức này, chỉ có thức thứ tám, gọi là A Lại Da thức, hay Tàng tâm, hay Nghiệp thức là thường còn. Còn 7 thức khác đều bị tan rã vào lúc chết.
Lại nữa, A Lại Da thức, cũng gọi là Tàng tâm, là Nghiệp thức, không những không bị huỷ hoại vào lúc chết, mà nó còn theo nghiệp để tái sinh vào loài này hay loài khác. Nó chính là cái mà người bình dân gọi là linh hồn!
Có người đọc Bát Nhã Tâm Kinh, nhưng không hiểu nghĩa của chữ "không", nên mới chấp là không có thân xác, không có cảm giác, không có tư tưởng, không có hành động, không có tâm thức! Tâm thức đã không, thì làm gì có linh hồn?
Thực ra, chữ "không" trong bài kinh ấy không có nghĩa là không hiện hữu, mà chỉ có nghĩa là không có thực!
Không có thực là không có tự thể, không có tự tính, chỉ là duyên sinh. Tỷ như con hổ ở trong giấc mơ, tuy không có thực với người đã tỉnh, nhưng lại hiện hữu với người đang mơ!
Do đó, nói có linh hồn hay không có linh hồn đều sai cả! Tại sao? Vì linh hồn vốn vô ngã. Đủ duyên thì sinh. Thiếu duyên thì diệt. Nó không nhất định là có, cũng chẳng nhất định là không!
Cũng như, chúng ta không thể nói: "Trên mặt TV phải có hình". Lại càng không thể nói: "Trên mặt TV không có hình!" Tại sao? Vì tất cả hình ảnh trên mặt TV đều tuỳ duyên mà hiện ra hay biến mất! Điều quan trọng là phải biết khi nào mặt TV có hình và khi nào mặt TV không có hình?
Tương tự, linh hồn vốn vô ngã, nên lúc có, lúc không và điều chúng ta cần biết là khi nào có linh hồn và khi nào không có linh hồn?
Khi còn là phàm phu, trôi lặn trong biển sinh tử, thì mỗi người chúng ta đều có một thể xác và một linh hồn! Cái hồn, mà Phật tử chúng ta quen gọi là A Lại Da thức, Nghiệp thức, Thần thức hay Tàng tâm v.v...
Thể xác vốn vô thường và vô ngã, nhưng nó tồn tại cho đến ngày chúng ta tắt thở.
Thế nào là vô thường? Vô thường là không thể như vậy mãi, mà phải thay đổi theo thời gian. Hôm nay thế này. Ngày mai sẽ khác!
Thế nào là vô ngã? Vô ngã là không có thực như vậy, mà chỉ là tuỳ duyên. Đủ duyên thì sinh. Thiếu duyên liền diệt.
Linh hồn cũng vô thường và vô ngã, nhưng nó tồn tại cho đến ngày chúng ta đắc quả A La Hán (Xem: “Duy Thức Tam Thập Tụng”). Chừng nào chúng ta chưa đắc quả A La Hán, thì dù có thay đổi, có tiến hóa, cái hồn ấy vẫn là nó và nhờ có nó, mà các bậc Thánh nhân, có túc mệnh thông, mới có thể truy ra tiền kiếp của người này, người nọ!
Nói khi chưa đắc quả A La Hán, mỗi người chúng ta đều có một linh hồn, vậy khi đắc qua A La Hán thì cái hồn ấy sẽ đi đâu?
Để trả lời câu hỏi này, xin quí vị hẵy lặng ngắm những con sóng biển. Có sóng vì có gió. Gió thổi làm biển động mà thành sóng. Sóng này tồn tại cho đến khi nó đập vào bờ và tan thành nước! Cũng vậy, có Nghiệp thức vì có hành nghiệp. Hành nghiệp làm Tâm động mà thành Nghiệp thức. Nghiệp thức, chính là cái mà người bình dân gọi là linh hồn và linh hồn này sẽ tồn tại cho đến ngày chúng ta đắc quả A La Hán. Bấy giờ, nó sẽ tan biến vào Tâm, như sóng tan thành nước vậy!
Nói cho nhiều, nhưng rút lại là: Chừng nào chúng ta chưa đắc quả A La Hán, thì mỗi người chúng ta đều có một linh hồn. Cái linh hồn, mà Phật tử quen gọi là Nghiệp thức. Nghiệp thức giữ gìn tất cả các nghiệp thiện và ác, mà chúng ta đã tạo ra và vào lúc lâm chung, nó sẽ theo cái nghiệp mạnh nhất, để thọ sinh vào 1 loài xứng hợp với nghiệp ấy.
Lòng bồ đề: (Xem: Bồ đề tâm, lòng vô thượng)
Lòng vô thượng: Lòng cao cả không gì hơn. Đây chính là lòng kháo khát chóng được thành Phật để cứu độ chúng sinh.
Luân: So sánh. Vô đẳng vô luân là không có gì bằng, không có gì so sánh được.
Luân hồi: Trở đi, trở lại trong sáu cõi là trời, người, thần, súc vật, ngạ quỉ và địa ngục. Mặc dầu chủ trương chúng sinh phải trở đi, trở lại trong sáu cõi mãi cho đến lúc chứng quả Thánh, nhưng Phật Giáo không chấp nhận mỗi chúng sinh có một linh hồn vĩnh cửu, mà chỉ coi cuộc sống như một chuỗi hiện tượng phức tạp do nhân duyên tạo ra, luôn luôn biến động và không đồng nhất với chính nó. Cũng như thân thể của chúng ta, lúc nhỏ, lúc lớn và lúc già tuy không phải là một, nhưng cũng không phải là khác.
Lục đạo : (Xem: Sáu đường)
Lục thông: (Xem: Thần thông)
Lưới Đế châu: Lưới bằng châu báu của ngài Đế Thích ở trên cung trời Đạo Lợi.
Ma hầu la già: Rắn thần.
Ma ngoại: Ma, quỉ từ bên ngoài đến, khác với nội ma là năm uẩn và phiền não ẩn nấp trong thân và tâm của chúng ta.
Ma Vương: Thiên chủ của tầng trời Tha Hoá Tự Tại. và cũng là chủ của cõi Dục.
Mạn hay ngạo mạn: Tự cao, tự đại, tự cho là mình hơn người trên mình, rồi sinh tâm cao ngạo, hỗn láo với họ. (Xem: Kiêu và Ngã mạn.)
Mạn đà la: Hoa mạn đà la là hoa sen mầu trắng.
Mạn đà la: Đạo tràng (Xem: Đạo tràng).
Mạn đà la: Đàn tràng. Có 4 loại man đà la:
a. Đại mạn đà la (Mahamandala): Nghiã rộng là thân thể của các loài hữu tình. Còn nghiã hẹp là tượng của chư Phật.
b. Khí mạn đà la (Samayamandala): Nghiã rộng là cảnh vật trong vũ trụ, còn nghiã hẹp là vật dụng của chư Phật, như cành dương liễu, chầy kim cương.
c. Pháp mạn đà la (Dharmamandala): Nghiã rộng là âm thinh, ánh sáng, tên, tuổi và biểu tượng của vũ trụ, còn theo nghiã hẹp là tiếng tụng chú, bức phạn thư, hào quang và hình ảnh của chư Phật.
d. Hạnh man đà la (Karmamandala): Nghiã rộng là hết thẩy mọi động tác của vạn vật, còn nghiã hẹp là oai nghi và sự nghiệp độ sinh của chư Phật.
Mạt na thức: Thức thứ bẩy có tác dụng kiểm soát và điều hành mọi sinh hoạt của tâm. Mạt na thức cũng gọi là ý căn, tức là căn thứ sáu của chúng ta, những căn kia là: mắt, tai, mũi, lưỡi và thân.
Mật tịnh: Pháp tu hỗn hợp bao gồm cả Mật (trì chú) và Tịnh (niệm Phật).
Mê tân: Bến mê, tức là bờ bên này của biển sinh tử, trái với bờ bên kia là Niết Bàn.
Mệnh căn: Khí chủ mệnh có nhiệm vụ duy trì sự sống, đặc biệt là giữ cho thân thể không bị thối rữa và giúp nó tăng trưởng bình thường. Đạo gia gọi là phách hay vía. (Xem: Khí)
Mệnh trược: Đời sống nhơ nhớp, vì tuổi thọ thì ngắn mà mình lại phải vất vả kiếm ăn. (Xem: Năm trược)
Miên(Sommeil): Ngủ.
Minh Vương: Minh là ánh sáng của trí tuệ. Vương là vua. Minh Vương là các vị thần hiện tướng phẫn nộ, dùng trí quang để giải bớt phiền não và nghiệp chướng của chúng sinh.
Một lòng không loạn: Ý nói người niệm Phật, chỉ nhớ đến Phật, người tụng chú chỉ nhớ đến chú và không nghĩ gì khác nữa.
Một trăm lẻ tám (108 = 6x6x3): 6 căn bản phiền não (tham, sân, si, mạn, nghi và ác kiến) của 6 căn ở trong 3 thời (quá khứ, hiện tại và vị lai).
Muôn: Vạn, cũng gọi là mười ngàn.
Mười ba biệt danh của đức Phật A Di Đà:
a. Vô Lượng Quang: Hào quang rất nhiều không thể đo lường được.
b. Vô Biên Quang: Hào quang chiếu khắp mọi nơi không bị giới hạn.
c. Vô Ngại Quang: Hào quang chiếu khắp mọi nơi không gì chướng ngại được.
d. Vô Đối Quang: Hào quang không gì chống đối được.
e. Diệm Vương Quang: Hào quang rực rỡ như một biển lửa.
f. Thanh Tịnh Quang: Hào quang có khả năng tịnh hoá mọi vật.
g. Hoan Hỷ Quang: Hào quang chiếu vào ai thì người đó liền được sung sướng.
h. Trí tuệ Quang: Hào quang có khả năng phá tan mọi mê lầm của chúng sinh.
i. Bất Đoạn Quang: Hào quang sáng mãi không gián đoạn.
j. Nan Tư Quang: Hào quang lạ lùng khó mà tưởng tượng ra được.
k. Vô Xứng Quang: Hào quang không gì so sánh được.
l. Siêu Nhật Nguyệt Quang: Hào quang trội hơn ánh sáng của mặt trời và mặt trăng.
m. Vô Lượng Thọ: Sống lâu vô cùng.
Chú thích: Như kẻ đui mù không thấy ánh sáng mặt trời, người vô minh không thấy hào quang của Phật, mặc dầu hào quang này luôn luôn hiện hữu và chiếu khắp mọi nơi.
Mười điều ác: Sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, ác miệng, xúi xiểm, ba hoa (ỷ ngữ), tham lam, sân giận và tà kiến.
Mười điều lành: Mười điều thiện, trái với mười điều ác nêu trên.
Mười điều thiện: (Xem bài: “Mười việc thiện.”)
Mười hai bộ kinh: Đức Phật đã nói rất nhiều kinh. Những kinh này được sắp thành mười hai bộ là:
a. Khế kinh (Sutra): Những bài giảng về Đạo lý bằng văn suôi, cũng gọi là Trường hàng.
b. Trùng tụng (Geya): Những câu thơ lập lại ý chính của bài khế kinh mà đức Phật vừa giảng xong.
c. Thọ ký (Vyakarana): Những lời tiên báo ai sẽ thành Phật? Hiệu gì? Ÿ đâu? Khi nào?
d. Phúng tụng (Gatha): Bài thơ chỉ có bốn câu, thường gọi là kệ. Phúng tụng cũng được gọi là cô khởi vì nó vốn độc lập, không liên hệ đến những bài trước hoặc sau nó.
e. Tự thuyết (Udana): Kinh do Phật tự nói, không cần có người hỏi.
f. Nhân duyên (Nidana): Bài giảng về nguyên nhân của những việc đã hoặc đang xẩy ra.
g. Thí dụ (Apadana): Chuyện hay việc cụ thể do đức Phật kể lại với mục đích giúp cho người nghe hiểu rõ Đạo lý.
h. Bổn sự (Itivrtaka): Sự nghiệp hoằng pháp lợi sinh của đức Phật ở các tiền kiếp.
i. Bổn sinh (Jataka) : Cuộc đời của đức Phật ở các tiền kiếp.
j. Phương quảng (Vaipulya): Kinh Đại thừa, sở dĩ gọi là Phương quảng vì các kinh này có ý nghiã rất rộng lớn.
k. Vi tằng hữu (Adbhutadharma): Kinh nói về những chuyện chưa ai thấy, chưa ai nghe; những chuyện vượt ra ngoài sức tưởng tượng của mọi người.
l. Lý luận (Upadesa): Lời bình luận về kinh sách, về giáo lý, về cách tu tập của đức Phật hay của các đệ tử.
Mười hai nhân duyên: Vô minh, hành, nghiệp thức, danh sắc, lục nhập, thọ, ái dục, chấp thủ, hậu hữu, tái sinh và lão tử.
Mười lực: Mười trí lực của Phật A Di Đà, gồm:
a. Trí lực biết những gì hợp lý hoặc phi lý.
b. Trí lực biết nghiệp báo ba đời.
c. Trí lực biết các pháp thiền định và giải thoát.
d. Trí lực biết được căn cơ và khả năng của chúng sinh.
e. Trí lực biết cách suy nghĩ và sự ưa thích của chúng sinh.
f. Trí lực biết cách làm bất cứ một việc gì.
g. Trí lực biết rõ cách tu tập của các bậc hữu lậu và vô lậu.
h. Trí lực biết và thấy mọi việc trong vô lượng thế giới.
i. Trí lực biết đời trước của chúng sinh.
j. Trí lực biết mình đã đoạn trừ hết các thói hư, tật xấu, không còn triền phược sinh tử nữa.
Mười sử: Sử là cái có thể sai khiến mình. Có 10 sử căn bản là: tham, sân, si, mạn, nghi, thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ và giới thủ.
Mười tông phái:
a. Câu Xá tông thuộc Tiểu thừa, dưạ vào bộ luận Câu Xá của ngài Thế Thân, chủ trương không có ngã, nhưng có pháp. Nói một cách khác rõ ràng hơn là không có chúng sinh nhưng vẫn có những chất liệu tạo ra chúng sinh, như là năm uẩn và sáu đại.
b. Thành Thực tông thuộc Tiểu thừa, dựa vào bộ luận Thành Thực của ngài Sư Tử Khải (Harivarman), chủ trương không có ngã, không có pháp, nhưng lại có cái không, không ngã cũng không pháp.
c. Luật tông thuộc cả Tiểu thừa lẫn Đại thừa, chủ trương phải giữ giới để sinh định và phát tuệ.
d. Pháp Tướng tông thuộc Trung thừa, đề xướng thuyết Duy Thức, theo đó thì tất cả các pháp đều do thức biến hiện ra, không phải có, không phải không, mà là giả.
e. Tam Luận tông thuộc Trung thừa, căn cứ trên ba bộ luận là Trung Luận (Madhya mika sastras), Thập Nhị Môn Luận (Dvâdasanikaya sastras) và Bá Luận (Sata sastras), nhằm đả phá những chấp trước sai lầm của Ngoại Đạo (chấp có) và của Tiểu Thừa (chấp không) để hiển dương Trung Đạo. Muốn được như vậy thì phải siêng quán "Bát Bất Trung Đạo", tức là quán các pháp vốn bất sinh (không sinh ra), bất diệt (không chết đi), bất đoạn (không dứt ngang), bất thường (không còn hoài), bất nhất (không phải một), bất dị (không phải khác), bất khứ (không ra đi) và bất lai (không trở lại).
f. Hoa Nghiêm tông thuộc Đại thừa, lấy kinh Hoa Nghiêm làm căn bản. Tông này chủ trương tất cả vạn vật đều do nhân duyên sinh ra, hình tướng tuy sai khác nhưng lại có cùng một bản thể vô sinh.
g. Thiên Thai tông hay Pháp Hoa tông thuộc Đại thừa, lấy kinh Pháp Hoa làm căn bản. Tông này chủ trương tất cả chúng sinh đều có Phật tính, chỉ cần nhận ra tính này, đoạn hết phiền não thì sẽ chứng được quả Phật.
h. Thiền tông thuộc cả Tiểu thừa và Đại thừa, dậy phải tham thiền để vào Đạo.
i. Tịnh Độ tông thuộc Đại thừa, khuyên phải niệm Phật A Di Đà, xin về Cực Lạc, để học Đạo.
j. Chân Ngôn tông hay Mật tông thuộc Đại thừa, chủ trương có thể dùng chân ngôn, linh phù và pháp ấn để nhập vào cảnh giới của chư Phật.
Na do tha: 10 luỹ thừa 27, tức là số 1 với 27 số không ở đằng sau.
Não (Angoisse): Lo sợ, buồn phiền.
Năm ấm: Năm pháp ngăn che khiến chúng ta không thấy được Chân tính. Năm pháp ấy là: sắc, thọ, tưởng, hành và thức. (Xem: Năm uẩn.)
Năm ấm xí thịnh: Xí là lửa cháy phừng lên. Thịnh là càng ngày càng mạnh. Năm ấm xí thịnh là năm ấm khởi hoặc tạo nghiệp, như lửa phừng lên càng ngày càng mạnh.
Năm ấm xí thịnh khổ: Cái khổ do năm ấm không ngừng khởi hoặc tạo nghiệp.
Năm căn:
a. Giác căn: Mắt (thuộc hoả đại), tai (thuộc không đại, hành kim), mũi (thuộc phong đại, hành mộc), lưỡi (thuộc thuỷ đại) và thân (thuộc địa đại, hành thổ).
b. Thiện căn: Tín, tiến, niệm, định và tuệ.
Năm giới cấm: Không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối và không uống rượu.
Năm loại trời: Năm loại tiên ở trong tam giới.
a. Thượng thiên: Chư tiên ở các cõi trời Sắc giới và Vô Sắc giới.
b. Không cư thiên: Chư tiên ở bốn cõi trời: Dạ Ma, Đâu Xuất, Hoá Lạc và Tha Hoá Tự Tại, thuộc Dục giới.
c. Du không thiên: Chư tiên du hành ở trong khoảng không gian chứa các tinh tú, đặc biệt là mặt trời và mặt trăng.
d. Địa cư thiên: Chư tiên ở các cõi trời Tứ Thiên Vương và Đạo Lợi, thuộc Dục giới.
e. Hạ thiên, cũng gọi là Địa tiên: Chư tiên sống ở dưới mặt đất, như: rồng, a tu la v.v...
Năm lực: Khi tâm chuyển được cảnh thì căn biến thành lực. Có năm loại lực là: Tín lực, tiến lực, niệm lực, định lực và tuệ lực.
Năm mắt: Xem "Ngũ nhãn"
Năm tội nghịch:
a. Giết cha,
b. Giết mẹ,
c. Giết a la hán,
d. Ly gián chư tăng,
e. Làm Phật chảy máu hay phá huỷ tượng Phật.
Năm thiền chi:
a. Tầm. tứ, h ỉ, lạc và nhất tâm. Trong đó, tầm là hướng về đối tượng, là tìm hiểu đối tượng. Còn tứ là bám lấy đối tượng, là thường nghĩ đến đối tượng.
b. Gíác, quán, h ỉ, lạc và nhất tâm. (Xem: Tứ thiền ).
Năm thời giáo: Thiên Thai Tông chia các cuộc thuyết pháp trong đời của đức Phật ra làm năm thời kỳ:
a. Thời kỳ Hoa Nghiêm: Sau khi thành Đạo, đức Phật đã dành 21 ngày đầu để giảng kinh Hoa Nghiêm.
b. Thời kỳ Lộc Uyển: Thuyết kinh Hoa Nghiêm xong, đức Phật giảng kinh A Hàm trong 12 năm tại vườn Lộc Uyển.
c. Thời kỳ Phương Đẳng: Thuyết kinh A Hàm xong, đức Phật giảng các kinh Đại thừa trong 8 năm.
d. Thời kỳ Bát Nhã: Thuyết kinh Phương Đẳng xong, đức Phật giảng kinh Bát Nhã trong 22 năm.
e. Thời kỳ Pháp Hoa và Niết Bàn: Thuyết kinh Bát Nhã xong, đức Phật giảng kinh Pháp Hoa trong 8 năm và kinh Niết Bàn trong một ngày và một đêm.
Năm thức đầu: Nhãn thức, nhĩ thức, tỵ thức, thiệt thức và thân thức.
Năm trần: Năm đối tượng nhận thức của mắt, tai, mũi, lưỡi và thân gồm: hình sắc, âm thinh, mùi, vị và xúc.
Năm triền cái: Tham, giân, buồn ngủ, tán loạn và hoài nghi.
Năm trược: Năm thứ nhơ nhớp che mất chân tính của chúng ta:
a. Kiếp trược: Thời đại nhơ nhớp, vì đầy những tệ đoan, tội ác và thiên tai.
b. Kiến trược: Hiểu biết nhơ nhớp, vì không phản ảnh đúng sự thực.
c. Phiền não trược: Phiền não nhơ nhớp, vì trong tâm đầy tham, giận, nghi, sợ.v.v..
d. Chúng sinh trược: Chúng sinh nhơ nhớp, vì thường khổ sở, bất mãn và chống đối lẫn nhau.
e. Mệnh trược: Đời sống nhơ nhớp, vì tuổi thọ thì ngắn ngủi mà mình lại phải vất vả kiếm ăn.
Năm uẩn: Năm yếu tố cấu tạo nên con người và thế giới của chúng ta:
a. Sắc: Thân thể, cảnh vật xung quanh và pháp trần.
b. Thọ: Khả năng lãnh nạp trần cảnh để chuyển hóa thành cảm giác, gồm năm loại là sướng, khổ, vui, buồn và xả.
c. Tưởng: Khả năng suy nghĩ, với ba nhiệm vụ chính là nhớ lại quá khứ, nhận biết hiện tại và dự liệu tương lai.
d. Hành: Động cơ thúc đẩy chúng ta tạo nghiệp, gồm 49 tâm sở khác thọ và tưởng. Thí dụ: tham, giận, nghi, sợ v.v.
e. Thức: Khả năng phân biệt trần cảnh và chứa nhóm thân căn và chủng tử của các pháp.
(Xem: Năm ấm.)
Niệm:
a. Ghi nhớ đối tượng để giúp nó nhập tâm.
b. Nhắc đi, nhắc lại một đoạn văn, một danh hiệu hay một bài chú để giữ nó trong tâm.
c. Trong khoảng một niệm là trong khoảng thời gian ngắn ngủi của một tư tưởng, một ý nghĩ.
Niệm tâm sở giúp chúng ta huân chủng tử trong tàng tâm, khác với tưởng tâm sở giúp chúng ta khởi huyễn cảnh nơi sáu thức.
Niệm pháp:
a. Quán tất cả các pháp đều vô ngã, không có thực thể riêng biệt.
b. Theo dõi và ghi nhớ tiến trình sinh diệt của các pháp, đặc biệt là thân thể, hơi thở, cảm giác và tâm trạng của chúng ta.
Niệm Phật tam muội: Niệm Phật cho đến khi lúc mơ, lúc quán đều thấy Phật hiện ra rõ ràng như thực, gọi là đắc Niệm Phật tam muội.
Niệm tâm:
a. Quán tất cả mọi loại tâm (tham, giận, sợ v.v...) đều vô thường, sinh ra rồi diệt, diệt rồi lại sinh.
b. Theo dõi những loại tâm đang sinh diệt ở trong đầu và ghi nhớ tên, tướng, đặc tính cùng tác dụng của chúng.
Niệm thân:
a. Quán thân bất tịnh, đầy những thứ nhơ nhớp như tóc, lông, rỉ mũi, ráy tai, máu, mủ, phân, đờm, nước tiểu, mồ hôi v.v...
b. Quan sát và ghi nhớ cách cấu tạo và sự vận hành của thân thể, đặc biệt là qua những động tác như đi, đứng, nằm, ngồi và thở.
Niệm thọ:
a. Quán tất cả mọi cảm giác đều là khổ.
b. Theo dõi những cảm giác đang sinh diệt ở nơi ta và ghi nhớ tên, tướng, đặc tính cùng tác dụng của chúng.
Niết Bàn (Nirvâna):
a. Niết Bàn: Niết là ra. Bàn là rừng (phiền não). Niết Bàn là cảnh giới của những người đã dứt hết phiền não, đặc biệt là tham, giận và si mê.
b. Tịch Diệt: Tịch là vắng lặng và trống rỗng. Diệt là dứt sinh tử. Tịch Diệt là cảnh giới của những người đã tịnh được bẩy thức đầu là: nhãn thức, nhĩ thức, tỵ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức và tư lượng thức (ý căn), nên không bị sinh tử lôi kéo nữa.
Ngã ái: Yêu mình, yêu cái ta của mình.
Ngã chấp: Chấp có ta và của ta.
Ngã kiến: Thấy và tin rằng mình không những hiện hữu mà còn khác với mọi người, mọi vật ở chung quanh.
Ngã mạn: Tự cao, tự đại, như tự nhận là thánh, khi chưa chứng quả thánh. (Xem: Mạn và Siểm.)
Ngã si: Không biết chân tướng của mình.
Ngạ quỉ: Ma đói. Một trong sáu loại chúng sinh còn chìm đắm trong luân hồi. Năm loại kia là: Trời, người, thần, súc vật và tội phạm ở trong các địa ngục.
Ngoại duyên: (Xem: Duyên ngoài.)
Ngoại ma: (Xem: Ma ngoại.)
Ngọc Hoàng (Yu Hoang):
a. Thiên chủ của từng trời Đao Lợi.
b. Thích Đề Hoàn Nhân (Shakra).
c. Thần Chiến Tranh (Indra) của Ấn Độ Giáo.
(Xem: Thích Đề Hoàn Nhân.)
Ngộ: Hiểu rõ được vấn đề đã làm mình thắc mắc từ lâu.
Ngộ: Nhận ra chân tâm. Có hai loại ngộ là:
a. Tựa ngộ: Biết tâm nhờ kinh sách hay thông qua những lời chỉ dậy của thiện tri thức.
b. Chứng ngộ: Sự thức tỉnh đột ngột giúp hành giả nhận ra tâm mình, cũng gọi là thuỷ giác.
Ngũ đình tâm quán: Quán bất tịnh để trừ tham dục, quán từ bi để trừ sân giận, quán nhân duyên để trừ ngu si, quán giới phân biệt để trừ ngã chấp, quán sổ tức để trừ tán loạn. Xem: Quán giới phân biệt.
Ngũ nghịch: Năm tội nghịch là: Giết cha, giết mẹ, giết La hán, chia rẽ chư Tăng, làm Phật chảy máu hay phá huỷ tượng Phật.
Ngũ nhãn: Năm con mắt, gồm: Nhục nhãn, thiên nhãn, pháp nhãn, tuệ nhãn và Phật nhãn. Năm con mắt này được người xưa định nghĩa như sau:
Thiên nhãn thông không ngại.
Nhục nhãn ngại không thông.
Pháp nhãn chỉ quán tục.
Tuệ nhãn rõ chân không.
Phật nhãn, ngàn mặt nhật.
Thiên nhãn thấy trong tối, thấy thiên đường, thấy địa ngục và những điều ẩn mật. Nhục nhãn chỉ thấy chỗ sáng và không khuất lấp. Pháp nhãn thấy các pháp thế gian, biết nhân này hợp với duyên kia sẽ sinh ra quả nọ. Tuệ nhãn thấy chân không. Phật nhãn thấy rõ tên, tuổi, tính, tướng, thể, dụng, nhân, quả của các pháp như được ngàn mặt trời soi sáng.
Ngũ trược: Năm lớp nhơ nhớp che mất Chân tính của chúng ta là: Kiếp trược, kiến trược, phiền não trược, chúng sinh trược và mệnh trược. (Xem: Năm trược)
Ngũ uẩn: Năm uẩn gồm: Sắc, thọ, tưởng, hành và thức. (Xem: Năm uẩn.)
Nguyện:
a. Những gì mình ước muốn và cố làm.
b. Những điều mình tự hứa hoặc hứa với Phật.
Nguyện vãng sinh: Nguyện sau khi chết sẽ được sinh về Cực Lạc.
Người tịnh hạnh: Người xa lìa dâm dục.
Nghi tình: Lòng khao khát muốn phá giải một công án, muốn giải quyết một vấn đề.
Nghiệp: Hành động có ý thức của thân, miệng và ý. (Xem bài:”NGHIỆP”)
Nghiệp chướng: Những trở ngại do nghiệp ác lúc trước gây ra. (Xem: Ba chướng)
Nghiệp tướng: Tướng do nghiệp mà hiện ra. Người tu thiền đề mục sẽ thấy ba loại nghiệp tướng là sơ tướng, thô tướng và quang tướng.
a. Sơ tướng: Đề mục cụ thể mà hành giả phải tập trung tư tưởng để quán tuởng.
b. Thô tướng: Ảnh của đề mục hiện ra ở trong tâm của hành giả rõ ràng như thực.
c. Quang tướng: Quang tướng là thô tướng sau khi đã phát sáng và trở nên rực rỡ ở trong tâm của hành giả.
Nghiệp thức: (Xem: Thức thứ tám).
Nhạc thần: Càn thát bà.
Nhắm mắt ngó chừng: Nhắm mắt ngắm cái tâm đang niệm Phật.
Nhân đạo: Trong kinh Hành sinh (Sankhararupa patti Sutta), tức là phẩm 120 của Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikaya), đức Phật giảng cho các tỳ kheo rằng: "Nếu một vị tỳ kheo đầy đủ tín, đầy đủ giới, đầy đủ văn, đầy đủ thí, đầy đủ tuệ, lại chuyên định, an trú và tu tập cái tâm mong rằng: "Sau khi thân hoại, mạng chung, ta sẽ được tái sinh trong giới quan lại hay giới tu sĩ" và nếu tâm nguyện này được chuyên định, được an trú, được tu tập đến độ sung mãn, thì vị tỳ kheo ấy sẽ được thọ sinh trong giới quan lại hay giới tu sĩ."
Nói như vậy có nghĩa là, muốn được tái sinh làm người, chúng ta phải hội đủ 6 điều kiện sau:
a. Tín: Tin có luân hồi và sau khi thân hoại, mạng chung, mình sẽ được sinh lại làm người.
b. Giới: Giữ gìn giới luật, mà đặc biệt là: Không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối và không uống rượu để tránh nghịch duyên.
c. Văn: Đọc kinh và nghe giảng để biết rõ những điều kiện cần và đủ để sau khi thân hoại, mạng chung, sẽ được tái sinh làm người.
d. Thí: Thường dùng tài vật, thân mạng, sức lực và kiến thức của mình để cứu giúp chúng sinh, hầu tạo thuận duyên.
e. Tuệ: Thấu rõ lý duy tâm, nghĩa là thấy rõ ràng rằng: Nếu chúng ta chuyên định, an trú và tu tập một tâm nguyện cho đến lúc sung mãn, thì tâm nguyện ấy sẽ biến thành hiện thực.
f. Định: Chuyên định, an trú và tu tập cái tâm mong rằng: "Sau khi thân hoại, mạng chung, ta sẽ được tái sinh trong giới trí thức, giới quan lại hay giới tu sĩ."
Nhập định:
a. Hoàn toàn tập trung vào đối tượng.
b. Hợp nhất chủ thể và đối tượng, cũng gọi là vật ngã huyền đồng.
Nhập lưu: Tu đà hàm. (Xem: Tứ quả)
Nhất Lai: Tư đà hàm. (Xem: Tứ quả)
Nhất niệm:
a. Chỉ có một niệm.
b. Chỉ nhớ đến một người, một vật hay một cảnh thôi.
Nhất sinh bổ xứ bồ tát: Người sẽ thành Phật ở đời sau. Thí dụ như đức Di Lạc.
Nhất tâm: Nhất là một, tâm là lòng. Nhất tâm là chỉ thấy, chỉ nghe, chỉ nghĩ hay chỉ nhớ một đối tượng duy nhất. Với người niệm Phật thì nhất tâm là chỉ nghĩ đến Phật, ngoài ra không thiết gì nữa. Có hai loại nhất tâm là:
a. Sự nhất tâm: Người đắc sự nhất tâm sẽ phá được kiến tư hoặc, nên không còn tham, giận và chấp trước nữa.
b. Lý nhất tâm: người đắc lý nhất tâm sẽ phá được một phần vô minh và chứng được một phần Pháp thân.
Nhất thập bát tý: 18 tay.
Nhất thiết chủng trí: Trí tuệ của đức Như Lai. (Xem: Chủng trí).
Nhất thiết trí: Trí tuệ của bậc Thinh văn. Với nhất thiết trí, chúng ta biết được tên, tuổi, hình tướng, công dụng, nhân, quả và đặc tính (vô thường, khổ não, vô ngã) của các pháp (Xem: Chủng trí).
Nhất xiển đề (atyantika): Người tà kiến, không tin Chính Pháp, nên không thể thành Phật được.
Nhị Thiền thiên: Cảnh giới của những người đắc nhị thiền. (Xem: Cõi Sắc)
Nhu thuận nhẫn: Thản nhiên thích ứng với mọi người, mọi cảnh.
Nhục thân: Thân bằng xương, bằng thịt.
Như Lai tạng tâm: Tâm thâu nhiếp tất cả Đạo pháp và công đức của Như Lai.
Phá giới: Xúc phạm những đìều cấm kỵ.
Phách: Khí chủ mệnh, cũng gọi là trợ sinh khí. Khí này giữ cho thân thể không bị thối rữa và tăng trưởng bình thường. (Xem: Khí.)
Phạm giới: Phạm giới có hai nghiã chính:
a. Cảnh giới của ngài Phạm Thiên bao gồm toàn bộ Sắc giới.
b. Xúc phạm giới cấm, không tôn trọng những điều cấm kỵ.
Phạm hạnh: Hạnh thanh tịnh xa lìa dâm dục.
Phạm Ma (Brahma):
a. Chủ của một thế giới.
b. Chủ của một tam thiên đại thiên thế giới.
c. Chủ của thế giới Ta Bà.
d. Thần Sáng Tạo của Ấn Độ Giáo.
Phạm phụ thiên: Chư thiên ỏ cõi trời Sơ thiền có trách nhiệm giúp ngài Đại Phạm Thiên Vuơng giáo hóa Phạm chúng.
Phạm trai: Không ăn chay hoăc ăn sau 12 giờ trưa.
Phản văn: Xoay tính nghe vào trong để nghe tiếng nói của nội tâm, để lắng nghe tự tính.
Phạn thư đồ: Bức tranh vẽ những chữ Phạn của bài thần chú mà chúng ta thường tụng.
Pháp:
a. Một danh từ rất tổng quát dùng để chỉ tất cả mọi sự, mọi vật thuộc cả thánh lẫn phàm. Pháp có pháp vô tình như thế giới, pháp hữu tình như chúng sinh, pháp vô vi như hư không.v.v.
b. Đối tượng nhận thức của ý căn, đặc biệt là ý nghĩ ở trong tâm.
c. Lời Phật dậy.
d. Quy luật chi phối thân, tâm và thế giới của chúng ta.
e. Những phương pháp giúp chúng ta thoát ly sinh tử, gọi là Đạo pháp. Thí dụ: Bốn diệu đế là Đạo pháp của Thinh văn. Mười hai nhân duyên là Đạo pháp của Duyên giác. Sáu Ba la mật là Đạo pháp của Bồ tát.
Pháp giới hữu tình: Tất cả chúng sinh trong Pháp giới.
Pháp hữu vi: Tất cả những gì có sinh, có diệt, có biến chuyển, có đối đãi. Pháp hữu vi bao gồm chúng sinh và thế giới, gọi chung là tạo vật.
Pháp không tuệ: Trí tuệ giúp chúng ta thấy rõ các pháp vốn vô ngã, không có thực thể riêng biệt (réalité distincte).
Pháp nhẫn: Có ba loại là âm hưởng nhẫn, nhu thuận nhẫn và vô sinh nhẫn.
Pháp tọa: Cái ghế, cái bệ để Pháp sư ngồi thuyết Pháp.
Pháp thân: Thân chân thực của chư Phật và của các pháp ở trạng thái hợp nhất, cũng gọi là chân tính.
Pháp trần: Đối tượng nhận thức của ý căn, gồm sự vật, cảm giác, tư tưởng, hành động và chân lý.
Pháp trung vương: Vua trong Pháp, chữ này đồng nghiã với Pháp vương dùng để tôn xưng đức Phật.
Pháp vô vi: Tất cả những gì không sinh, không diệt, không đối đãi. Thí dụ: Hư không.
Pháp vương: Vua Pháp, một trong những danh từ dùng để tôn xưng đức Phật. Đức Phật là Pháp vương, Thinh văn là Pháp tướng, Bồ tát là Pháp thần.
Pháp vương tử: Con của Pháp vương, tức là bậc đại bồ tát thọ đủ các giáo pháp của Phật, lại hay dùng những pháp ấy để cứu độ chúng sinh.
Phẩm sen: Có 9 phẩm sen: 3 phẩm Hạ, 3 phẩm Trung và 3 phẩm Thượng. Theo Đại sư Trí Húc:
a. Người đầy đủ tín nguyện, nhưng tán tâm niệm Phật thì sẽ được sinh về Hạ Phẩm Hạ Sinh. Nếu ít tán tâm niệm Phật thì sẽ được sinh về Hạ Phẩm Trung Sinh. Nếu chuyên tâm niệm Phật thì sẽ được sinh về Hạ Phẩm Thượng Sinh.
b. Người đầy đủ tín nguyện, lại niệm Phật đến sự nhất tâm bất loạn, đoạn được kiến hoặc cho đến không khởi tham, sân, si thì sau khi chết sẽ sinh về Trung Phẩm. (Xem:Tứ quả.)
c. Người đầy đủ tín nguyện, lại niệm Phật đến lý nhất tâm bất loạn, đoạn trần sa hoặc cho đến phá được một phần vô minh thì sau khi chết sẽ sinh về Thượng Phẩm. (Xem: Bất thoái.)
Phẫn: Giận hờn, giận dỗi.
Phật tính: Tính giác sẵn có của chúng ta.
Phi nhân:
a. Giống như người mà chẳng phải người, đặc biệt là những quỉ, thần hiện hình người để đến nghe Phật nói Pháp..
b. Khẩn na la, tức là thần nửa người nửa thú.
Phi tưởng phi phi tưởng: Chẳng phải tưởng cũng chẳng phải không tưởng.
Phi thiên: A tu la, tức là giống như trời (thiên thần) mà chẳng phải trời.
Phiền não căn bản: Tham, sân, si, mạn, nghi và ác kiến.
Phiền não tâm sở: (Xem : Tâm sở)
Phiền não trược: Phiền não nhơ nhớp vì trong tâm đầy tham, giận, nghi, sợ.v.v...(Xem: Năm trược)
Phóng dật:
a. Không lo làm việc, học hỏi hay tu hành mà chỉ ham chơi hoặc thích nhàn thôi. Nói một cách khác, phóng dật là buông thả mặc cho hoàn cảnh và vọng tưởng lôi kéo.
b. Không siêng năng, khác với giải đãi là không cố gắng.
Phổ Hiền tâm: Phổ là không bỏ chúng sinh. Hiền là không lià Chính giác. Phổ hiền tâm là lòng mong cầu quả Chính giác để cứu độ chúng sinh.
Phổ Hiền thập nguyện: Mười lời nguyện của ngài Phổ Hiền. (Xem: Hạnh Phổ Hiền)
Phú: Che giấu, đặc biệt là che giấu tội lỗi của mình.
Phù trầm: Phù là nổi. Trầm là chìm. Phù trầm là khi nổi khi chìm, ý nói vô thường.
Phúc đức: Có ba loại phúc đức:
a. Thế phúc: Hiếu dưỡng cha me. Phụng sự thầy cô. Không hại sinh mạng. Tu mười nghiệp thiện.
b. Giới phúc: Thọ trì tam quy. Giữ gìn giới cấm. Không phạm oai nghi.
c. Tánh phúc: Phát tâm bồ đề. Tin sâu nhân quả. Đọc tụng kinh điển Đại thừa. Khuyên ngừơi khác tu.
Quán:
a. Dùng Chính pháp chuyển hóa tư tưởng, tình cảm, hành động để tiêu tai tạo phúc cho mình và cho vô lượng chúng sinh, gọi là Quán tưởng (Autosuggestion).
b. Tập trung tư tưởng để chiêm ngưỡng, để nghĩ đến một người, một vật, một cảnh hay một pháp nhất định khiến người ấy, vật ấy, cảnh ấy hay pháp ấy luôn luôn hiển hiện ở trong tâm mình rõ ràng như thực, gọi là quán tưởng (Visualisation).
c. Tập trung tư tưởng để xem xét một người, một vật, một cảnh hay một pháp để hiểu rõ về tên, tuổi, tính, tướng, thể, dụng, nhân, quả và quá trình sinh diệt của nó, gọi là quán sát (Observation).
Quán: (Xem: Bát bất trung đạo, Chính quán, Ngũ đình tâm quán, Quán giới phân biệt, Quán sát, Quán tưởng, Tam quán, Thập xứ quán.)
Quán Âm sở thuyết chư đà ra ni: Những bài thần chú do bồ tát Quán Thế Âm nói ra.
Quán giả: (Xem: Tam quán)
Quán giới phân biệt: Quán trong mười tám giới, gồm sáu căn, sáu trần và sáu thức thực không có gì có thể gọi là ta hoặc của ta.
Quán nhân duyên: Quán tất cả các pháp đều vô ngã, do nhân duyên hợp lại mà thành. Nói một cách khác, tất cả các pháp đều là tướng duyên hợp (corps composé), không đáng cho chúng ta theo đuổi hoặc nắm giữ.
Quán không: (Xem: Tam quán)
Quán sát: Xem xét, nghiên cứu, tìm hiểu một người hay một vật để nhận biết tên, tuổi, tính, tướng, thể, dụng, nhân, quả và quá trình sinh diệt của nó.
Quán tâm: Quán sát tư tưởng để xem chúng sinh ra tại đâu và diệt ở chỗ nào?
Quán Tự Tại: Bồ tát Quán Thế Âm.
Quán tưởng:
a. Tập trung tư tưởng vào một ý niệm để khởi tác dụng tự lợi hay lợi tha (Autosugges tion).
b. Tập trung tư tưởng vào một người, một vật hay một cảnh để làm người ấy, vật ấy hay cảnh ấy hiện ra ở trong tâm mình rõ ràng như thực (Visualisation).
Quán tưởng niệm Phật Quán tưởng niệm Phật bao gồm 16 phép quán:
a. Quán mặt trời.
b. Quán tưởng nước.
c. Quán đất báu.
d. Quán cây báu.
e. Quán ao báu.
f. Quán tổng tướng của đất báu, cây báu, và ao báu ở trên Cực Lạc.
g. Quán tòa sen.
h. Quán hình tượng (sơ tướng) của Phật A Di Đà.
i. Quán sắc thân (quang tướng) của Phật A Di Đà.
j. Quán sắc thân của bồ tát Quán Thế Âm.
k. Quán sắc thân của bồ tát Đại Thế Chí.
l. Quán mình được sinh vào sen báu, gọi là Quán phổ tướng.
m. Quán thấy Tam Thánh hiện khắp mười phương để hoá độ chúng sinh, gọi là Quán tạp tướng.
n. Quán thấy những người sinh về Thượng phẩm, gọi là Quán thượng bối.
o. Quán thấy những người sinh về Trung phẩm, gọi là Quán trung bối.
p. Quán thấy những người sinh về Hạ phẩm, gọi là Quán hạ bối.
Những phép quán này do đức Thích Ca đích thân dậy cho bà Vi Đề Hy và được ghi lại rõ ràng trong kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật. Ai mà tu được, thì ngay lúc còn sống cũng thấy Phật Vô Lượng Thọ cùng hai vị bồ tát Quán Âm và Thế Chí ở trên Cực Lạc.
Quang: Ánh sáng.
Quang minh: Ánh sáng. Có hai thứ quang minh:
a. Trí quang minh hay trí quang: Ánh sáng của trí tuệ.
b. Thân quang minh hay thân quang: Ánh sáng của thân thể.
Quang tướng: (Xem: Nghiệp tướng.)
Quảng độ: Quảng là rộng rãi; độ là cứu giúp. Quảng độ là cứu giúp một cách rộng rãi, không kể thân hay sơ, giầu hay nghèo, sang hay hèn.
Quần phẩm: Những chúng sinh sống với nhau thành từng đoàn, từng nhóm.
Quần sinh: Quần phẩm.
Qui kính: Qui y và kính lễ.
Qui mạng:
a. Thuận theo một người hay một pháp nào đó.
b. Giao mạng sống của mình cho một người nào.
Qui y: Qui là trở về. Y là nương theo. Qui y là quay về để nương theo một khuôn mẫu nào đó. Thí dụ:
a. Qui y Phật: Bỏ tà sư để quay về với đức Phật
b. Qui y Pháp: Bỏ tà pháp để quay về với Chính pháp.
c. Qui y Tăng: Bỏ bạn ác để quay về với tăng chúng.
Rỗng lặng: Trống rỗng và yên lặng.
Sa môn (Sramana): Thầy tu xuất gia theo Phật. Sa môn có ba nghiã chính:
a. Cần giả: Người siêng làm điều thiện.
b. Tức giả: Người dứt bỏ việc ác.
c. Bần giả: Người chịu nghèo, không giữ của riêng.
Sám hối: Có hai cách sám hối là:
a. Đối thú sám hối: Đối trước tượng Phật để sám hối.
b. Thủ tướng sám hối: Sám hối cho đến khi thấy được hảo tướng.
Sát na: Một khoảng thời gian rất ngắn.
Sáu ba la mật: Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tiến, thiền định và trí tuệ.
Sáu căn: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý.
Sáu đường: Trời, người, thần (a tu la), súc sinh, ngạ quỉ và địa ngục.
Sáu niệm: Niệm Phật, niệm Pháp (ghi nhớ Chính Pháp), niệm tăng, niệm giới (ghi nhớ giới luật), niệm thí (ghi nhớ công đức của hạnh bố thí cúng dường), niệm thiên (ghi nhớ mười thiện nghiệp của chư thiên).
Sáu thông: (Xem: Thần thông).
Sáu thức hay sáu thức đầu: Nhãn thức, nhĩ thức, tỵ thức, thiệt thức, thân thức và ý thức, gọi chung là liễu cảnh thức.
Sáu trần: Đối tượng nhận thức của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý, gồm: hình sắc, âm thinh, mùi (hương), vị, xúc và pháp.
Sắc giới: Gồm mười tám tầng trời chia làm năm bậc là: Sơ thiền thiên, Nhị thiền thiên, Tam thiền thiên, Tứ thiền thiên và Tịnh Phan địa, tại đó thiên chúng vẫn còn hình tướng, nhưng đã dứt bỏ được những ham muốn về ăn uống và dâm dục. (Xem: Cõi sắc.)
Sắc pháp: Tên chung của năm căn và sáu trần.
Sắc trần: Đối tượng nhận thức của con mắt, bao gồm hình thể và mầu sắc.
Sắc uẩn:
a. Sắc uẩn, theo nghiã hẹp là vật chất gồm thân thể và cảnh vật xung quanh, còn theo nghiã rộng nó chứa đủ mười một pháp là năm căn (mắt, tai, mũi, lưỡi và thân) và sáu trần (hình sắc, âm thinh, mùi, vị, xúc và pháp).
b. (Xem: Năm uần)
Sân: Tức giận.
Si: Ngu, ngu dốt.
Siểm (Oséquiosité): Siểm là nịnh hót người trên. Khác với Kiêu là khinh khi kẻ dưới và Mạn là tự đề cao mình.
Sinh không tuệ: Trí tuệ giúp chúng ta thấy rõ chúng sinh vốn vô ngã, không có thực thể riêng biệt (réalité distincte).
Sinh tưởng ngã, nhân: Nghĩ rằng có mình và có những người khác mình.
Sơ tâm: Tâm trạng của người tu vào lúc cầu Đạo.
Sơ tướng: (Xem: Nghiệp tướng.)
Sơ Thiền thiên: Cảnh giới cũa những người đắc sơ thiền. Trời Sơ Thiền gồm 4 cảnh:
a. Phạm Thân thiên,
b. Phạm Chúng thiên,
c. Phạm Phụ thiên,
d. Đại Phạm thiên.
Nhưng trời Phạm Thân lại thuộc về trời Phạm Chúng. Do đó, trời Sơ Thiền chỉ có ba cảnh chính là Phạm Chúng thiên, Phạm Phụ thiên và Đại Phạm thiên.
(Xem: Cõi Sắc.)
Sử: Sử là cái có thể sai khiến mình. Khổ đế ở cõi dục có đủ 10 sử (tham, sân, si, mạn, nghi, thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ và giới thủ.) Tập đế và Diệt đế chỉ có 7 sử (trừ thân kiến, biên kiến và giới thủ.) Đạo đế có 8 sử (trừ thân kiến và biên kiến.) Như vậy, tứ đế ở cõi Dục có 32 sử. Tứ đế ở cõi Sắc và cõi Vô Sắc không có sân sử, nên mỗi cõi chỉ có 28 sử. Do đó, cả tam giới có 88 sử, gọi là 88 phẩm kiến hoặc ở tam giới.
Ta Bà thế giới: Đại thiên thế giới của chúng ta hiện nay.
Tà kiến: Thấy và tin những chuyện không chính đáng, còn chuyện chính đáng thì lại không tin. Thí dụ: Người bác thuyết nhân quả gọi là tà kiến.
Tác ý (Attention):
a. Chú ý.
b. Hướng ý căn về một đối tượng.
Tái sinh: Người phạm tội ngũ nghịch mà không biết sám hối thì sẽ đọa địa ngục ngay sau khi chết.
Nếu không phạm tội ngũ nghịch và trong lúc hấp hối, chúng ta lại có hoặc một tâm nguyện thiết tha, hoặc một đam mê mãnh liệt, hoặc một thói quen kiên cố thì sau khi chết, chúng ta sẽ theo cái nghiệp cận tử ấy mà tái sinh.
Nếu không rơi vào những trường hợp trên thì sau khi chết, tất cả những nghiệp mà chúng ta đã tạo từ lúc sinh ra cho đến lúc chết đều lần lượt hiện ra rõ ràng và chớp nhoáng. Nhân đó, chúng ta sẽ sinh tâm phân biệt và sẽ tái sinh vào cảnh giới tương ứng với cái tâm phân biệt ấy.
Theo kinh sách để lại, tâm tiến tu mười thiện là nghiệp của thiên thần (trời), tâm giữ gìn năm giới là nghiệp của loài người, tâm sân giận kiêu căng là nghiệp của quỉ thần (a tu la), tâm si mê trộm cắp là nghiệp của súc sinh, tâm xan tham ích kỷ là nghiệp của ngạ quỉ, tâm nham hiểm độc ác là nghiệp của địa ngục.
Tài vật thí: Đem tiền bạc, đồ vật và ngay cả thân thể của mình cho kẻ thiếu thốn để họ được đầy đủ.
Tam Bảo: Phật, Pháp và Tăng.
Tam đồ: Địa ngục, ngạ quỷ và súc sinh.
Tam giới:
a. Dục giới: Cõi Dục (Xem: Cõi Dục.)
b. Sắc giới: Cõi Sắc (Xem: Cõi Sắc.
c. Vô sắc giới: Cõi Vô Sắc (Xem: Cõi Vô Sắc.)
Tam giới Tôn: Người được cả tam giới kính nể.
Tam kỳ: Tăng kỳ hay a tăng kỳ là vô số.
Tam muội: Phiên âm từ chữ Phạm Samadhi, thường được dịch là chính định hay chính thọ.
Tam quán: Ba phép quán của tông Thiên Thai là:
a. Quán không: Quán tất cả các pháp đều do nhân duyên sinh ra, không có thực thể riêng biệt.
b. Quán giả: Quán tất cả các pháp đều do nhân duyên sinh ra, chỉ có giả tướng hư vọng.
c. Quán Trung Đạo: Quán không và giả đều chẳng rốt ráo. Rốt ráo chỉ có một tâm chân như.
Tam thân: Hóa thân, Báo thân và Pháp thân.
Tam thập tam thiên: Ba mươi ba nước trời trên đỉnh núi Tu Di, hợp thành cõi trời Đạo Lợi:
a. Trung Ương là Hỉ Kiến Thành có cung Thiện Pháp Đường là nơi cư ngụ của Tổng Lãnh Tụ Đế Thích, cũng gọi là Ngọc Hoàng Thượng Đế.
b. Phương Đông có tám cảnh là Ảnh Chiếu thiên, Trí Huệ Hành thiên, Chúng Phân thiên, Mạn Đà La thiên, Thượng Hành thiên, Oai Đức Nhan thiên, Oai Đức Diễm Luân Quang thiên, Thanh Tịnh thiên.
c. Phương Nam có tám cảnh là Sơn Phong thiên, Sơn Đỉnh thiên, Thiện Kiến thiên, Bát Tư Tha thiên, Cu Sá thiên, Tạp Điện thiên, Hoan Hỷ Viên thiên, Quang Minh thiên.
d. Phương Tây có tám cảnh là Ba Lỵ Da Đa thiên, Ly Hiểm thiên, Cốc Nhai Ngạn thiên, Ma Ni Tạng thiên, Triền Hành thiên, Kim Điện thiên, Man Hình thiên, Nhu Nhuyễn thiên.
e. Phương Bắc có tám cảnh là Tạp Trang Nghiêm thiên, Như Ý thiên, Vi Tế thiên, Ca Âm Hỉ Lạc thiên, Oai Đức Luân thiên, Nhựt Hành thiên, Diễm Ma Na Ta La thiên, Tốc Hành thiên.
Tam thập tam thiên lại còn có tên là Đạo Lợi thiên.
(Xem: Cõi Dục)
Tam thế nhất thiết chư Phật: Tất cả chư Phật trong ba đời.
Tam thiên đại thiên thế giới: (Xem: Đại thiên thế giới.)
Tam thiền thiên: Cảnh giới của những người đắc tam thiền. (Xem: Cõi Sắc.)
Tám công đức: Nước ở Cực Lạc có tám công đức là:
a. Trong sạch,
b. Mát mẻ,
c. Ngon ngọt,
d. Nhẹ mịn,
e. Nhuận trơn,
f. Bổ dưỡng,
g. An hòa (không ồn ào, không chảy siết)
h. Giải khát.
Tám chính đạo:
a. Chính kiến,
b. Chính tư,
c. Chính ngữ,
d. Chính nghiệp,
e. Chính mệnh,
f. Chính tiến,
g. Chính niệm,
h. Chính định.
Tám giới trai: Gọi cho đủ là Bát quan trai giới: Bát là tám. Quan là đóng cửa. Trai là thanh tịnh. Bát quan trai giới là tám giới:
a. Không sát sinh,
b. Không trộm cắp,
c. Không dâm dục,
d. Không nói dối,
e. Không uống rượu,
f. Không trang điểm,
g. Không nằm giừơng êm, không ca hát, cũng không xem hát.
h. Không ăn phi thời.
có tác dụng giúp người thọ trì thanh tịnh (trai) sáu căn và đóng các cửa (quan) vào ba đường ác.
Tám thức:
a. Nhãn thức: Thức của con mắt chủ về thấy.
b. Nhĩ thức: Thức của lỗ tai chủ về nghe.
c. Tỵ thức: Thức của lỗ mũi chủ về ngửi.
d. Thiệt thức: Thức của cái lưỡi chủ về nếm.
e. Thân thức: Thức của thân thể chủ về cảm.
f. Ý thức: Thức của ý căn chủ về tính toán và phân biệt các pháp. Nhiệm vụ chính của thức này là quán sát trần cảnh, xác định nhu cầu, dự thảo kế hoạch và huấn luyện sáu căn.
g. Tư lượng thức: Thức thứ bẩy, thường gọi là ý căn, có nhiệm vụ điều hành mọi sinh hoạt của chúng ta.
h. Hàm tàng thức: Thức thứ tám, thường gọi là tàng tâm, là trí nhớ có nhiêm vụ chứa nhóm thân căn và hạt giống của các pháp. Thức này chính là chủ của tâm, nó âm thầm nhắc nhở chúng ta việc này, việc nọ.
Tán loạn (Dispersion): Không tập trung vào một đối tượng, trái với định tâm.
Tàng tâm, Tàng thức: (Xem: Tám thức, Thức thứ tám)
Tạng tâm: Tàng tâm.
Tánh: Xem chữ "Tính"
Tánh không: Xem chữ Không
Tăng kỳ: A tăng kỳ, tức là vô số.
Tâm: Có nhiều nghiã, đặc biệt là:
a. Tâm vương, gồm tám thức là nhãn thức, nhĩ thức, tỵ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức, tư lượng thức (thường gọi là ý căn) và tàng thức (cũng gọi là tàng tâm, thần thức, nghiệp thức, nguyên thần).
b. Bản thể của tám thức, của vạn pháp.
c. Chân tâm, tức là cái tâm chân thực của chúng ta.
d. Tàng tâm, tức là thức thứ tám có khả năng chứa nhóm thân căn và hạt giống của các pháp.
e. Vọng tâm, tức là sáu thức đầu có khả năng phân biệt trần cảnh, gồm: Sắc, thinh, hương, vị, xúc và pháp.
Tâm bồ đề: (Xem: Bồ đề tâm.)
Tâm địa: Địa là nền tảng. Tâm địa là nền tảng của tâm.
Tâm không điên đảo: Đối với người tu Tịnh Độ, tâm không điên đảo là chỉ cầu vãng sinh chứ không mong gì khác.
Tâm pháp: Tên chung của 8 tâm vương và 51 tâm sở.
Tâm sở: Vật sở hữu của tâm vương. Tâm sở có 51 thứ bao gồm cảm giác, tư tưởng và tất cả những động lực thúc đẩy chúng ta tạo nghiệp. Những tâm sở này được chia làm năm loại:
a. Biến hành: Xúc, tác ý, thọ, tưởng và tư lượng.
b. Biệt cảnh: Dục, giải, niệm, định và tuệ.
c. Thiện căn: Tín, tự tàm, tha quý, vô tham, vô sân, vô si, tinh tiến, khinh an, bất phóng dật, hành xả và bất hại.
d. Phiền não: Tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến, phẫn, hận, phú, não, xan, tật, kiêu, cuống, siểm, hại, vô tàm, vô quý, trạo cử, hôn trầm, bất tín, giải đãi, thất niệm, tán loạn, phóng dật và bất chính tri.
e. Bất định: Hối, miên, tầm và tứ (tứ bao gồm cả quan sát và suy nghĩ).
Năm thức đầu hay tình thức có 34 tâm sở, gồm 5 biến hành, 5 biệt cảnh, 11 thiện căn và 13 phiền não (Tham, sân, si, vô tàm, vô quí, trạo cử, hôn trầm, bất tín, giải đãi, thất niệm, tán loạn, phóng dật và bất chính tri.)
Thức thứ sáu hay ý thức có đầy đủ 51 tâm sở.
Thức thứ bẩy hay ý căn có 18 tâm sở, gồm 5 biến hành, 1 biệt cảnh (tuệ) và 12 phiền não (Ngã ái, ngã si, ngã mạn, ngã kiến, trạo cử, hôn trầm, bất tín, giải đãi, thất niệm, tán loạn, phóng dật và bất chính tri.)
Thức thứ tám hay tàng tâm chỉ có 5 tâm sở thuộc loại biến hành là xúc, tác ý, xả thọ (một trong năm loại thọ tâm sở, gồm sướng, khổ, vui, buồn và xả.), tưởng và tư lượng.
Tâm vương: Vua tâm hay vua của tâm. Gọi là vua tâm vì chúng là chủ của 51 tâm sở, thuộc ba uẩn thọ, tưởng và hành. Tâm vương có tám loại là nhãn thức, nhĩ thức, tỵ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức, ý căn và tàng tâm.
Tầm: Tìm kiếm đối tượng, tìm hiểu đối tượng, cũng là hướng về một đối tượng.
Tầm sét: Cái búa của ông thiên lội.
Tập: Tập đế. (Xem bài: BỐN DIỆU ĐẾ.)
Tập nghiệp hay tập quán nghiệp: Thói quen.
Tật (Jalousie): Đố kỵ, ganh ghét.
Tẩu hỏa nhập ma: Tẩu hỏa là hơi nóng từ xương cùng bốc lên; Nhập ma là bén vào tâm bất chính. Tẩu hỏa nhập ma là tình trạng bi đát của những người tu thiền hay tập võ đang lúc công phu mà khởi tà tâm, khiến cho kinh mạch rối loạn đến nỗi hoặc bị nội thương hoặc thành điên dại.
Tiến: (Xem: Tinh tiến).
Tiếp dẫn: Với người tu Tịnh Độ, tiếp dẫn là đến tận nơi để đón về Cực Lạc.
Tiểu thiên thế giới: Tổng hợp của một ngàn thái dương hệ và một Nhị Thiền thiên.
Tinh tiến: Cố gắng không để thoái chuyển. (Xem: Chính tiến.)
Tính hay tánh:
a. Bản thể của vũ trụ. Tính của sự vật, gọi là pháp tính. Tính của chúng sinh, gọi là Phật tính. Hiểu theo nghĩa này, tính đồng nghĩa với tâm.
b. Tác dụng của tâm. Khi tâm đọa vào con mắt, nó sẽ tạo ra một tác dụng, gọi là thấy. Tánh thấy (kiến tính) là biểu hiện của tâm, ở nơi con mắt.
c. Khả năng thấy, nghe, ngửi, nếm, cảm và biết của tâm, trái với tướng, gồm sáu trần.
Tính bản tri: Tính bản giác. (Xem: Giác.)
Tình thức: Nghiã hẹp là năm thức đầu. Nghiã rộng là sáu thức đầu, là nhẫn thức, nhĩ thức, tỵ thức, thiệt thức, thân thức và ý thức.
Tịnh cư: Chỗ ở thanh tịnh.
Tịnh Cư thiên: Tên chung của 5 cảnh trời Tịnh Phạm rất thanh tịnh.
Tịnh độ: Có bốn loại Tịnh Độ:
a. Thường Tịch Quang Tịnh Độ.
b. Thực Báo Trang Nghiêm Độ.
c. Phương Tiện Hữu Dư Độ.
d. Thánh Phàm Đồng Cư Độ.
Tịnh hạnh: Phẩm hạnh trong sạch của người xuất gia, của người xa lià dâm dục.
Tịnh nghiệp:
a. Hành động, lời nói và tư tưởng trong sạch.
b. Hành động, lời nói và tưởng trong sạch có khả năng bảo đảm việc vãng sinh về Cực Lạc. Có ba tịnh nghiệp căn bản: Một là hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự thầy cô, tu 10 thiện nghiệp (thế phúc). Hai là thọ trì Tam qui, đủ các giới cấm, không phạm oai nghi (giới phúc). Ba là phát bồ đề tâm, tin sâu nhân quả, đọc tụng kinh điển Đại thừa, khuyên người khác tu (tính phúc).
Tịnh nhân: Đối với người tu Tinh Độ, tịnh nhân bao gồm những điều kiện, những hạnh nghiệp thanh tịnh cần thiết cho việc vãng sinh về Cực Lạc.
Tịnh Phạm địa: Cảnh giới của những người đắc quả A Na Hàm. Tịnh Phạm địa cũng gọi là Bất Hoàn thiên, Trường Thọ thiên hay Tịnh Cư thiên, gồm năm cảnh trời là:
a. Vô Phiền thiên (Avriha).
b. Vô Nhiệt thiên (Atapa).
c. Thiện Kiến thiên (Sudrisa).
d. Thiện Hiện thiên (Sudarsana).
e. Sắc Cứu Cánh thiên (Akanistha).
Ngoài năm cảnh trời nói trên, đôi khi người ta còn kể thêm hai cảnh nữa là Hòa Âm thiên (Agha nistha) và Đại Tự Tại thiên (Maha mahesvara). Nhưng cả hai cảnh sau này đều thuộc Sắc Cứu Cánh thiên.
Tô tất đế: Diệu thành tựu, chú Chuẩn Đề được gọi là diệu thành tựu, vì nó có khả năng giúp hành giả hoàn thành mọi tâm nguyện.
Tổ tiên: Trước ông, bà là tổ tiên. Sau tổ tiên là ông, bà, cha, mẹ, mình, con, cháu, chắt, chít v.v...
Tổ tiên của loài người: Theo kinh Khởi Thế Nhân Bổn, tức là phẩm 27 của Trường Bộ Kinh (Digha Nikaya) thì tổ tiên của loài người trên trái đất này là chư thiên ở tầng trời Quang Âm, thuộc Sắc giới.
Tội ngũ nghịch: Tội vô gián.
Tội vô gián: Giết cha, giết mẹ, giết a la hán, phá huỷ tượng Phật hay ly gián chư Tăng.
Tổng trì: Tổng là gồm vô lượng pháp môn. Trì là chứa vô lượng nghiã. Tổng trì nói chung là thần chú có khả năng tiêu tai, tạo phúc, phá ác, tăng thiện.
Tu đà hoàn: Thánh qủa thứ nhất của thừa Thinh Văn. Tu đà hoàn có các nghĩa sau:
a. Nhập Lưu : Người mới vào dòng Thánh.
b. Kiến Đạo: Người không những thấy rõ các pháp hữu vi đều vô thường, khổ não và vô ngã, mà còn thấy được con đường thoát ly sinh tử thích hợp với hoàn cảnh và sở thích của mình.
c. Thất Lai: Người còn phải sinh trở lại cõi Dục thêm bẩy lần nữa để tu học.
(Xem: Tứ quả)
Tu la: A tu la, một trong sáu loại chúng sinh gồm trời, người, a tu la, súc sinh, ngạ quỉ và địa ngục. Tu la hay a tu la thường được dịch là thần hay phi thiên.
Tu phúc: Cách dụng công của những người thường tụng kinh, niệm Phật, trì chú hoặc tham thiền để cầu phúc lợi trần gian, như là sống lâu, khỏi bệnh, giầu có, thông minh v.v...
Tu tuệ:
a. Trí tuệ do thực hành Chính pháp mà có.
b. Cách dụng công của những người chuyên tụng kinh, niệm Phật, trì chú hoặc tham thiền để cầu tĩnh tâm, khai tuệ, khác với tu phúc.
Tuần thứ: Có thứ lớp, trước dễ, sau khó.
Túc nghiệp: Nghiệp đời trước.
Túc nghiệp chướng: Những trở ngại do ác nghiệp cũ gây ra.
Tuệ: (Xem: Trí tuệ)
Tuyết Sơn: Núi Hy Mã Lạp Sơn.
Tư đà hàm: Nhất Lai, người đắc quả Thánh thứ hai của thừa Thinh Văn và còn phải trở lại cõi Dục thêm một lần nữa. (Xem: Tứ quả)
Tư hoặc: Nghĩ sai, tức là nghĩ không hợp với Chính Pháp. (Xem: Hoặc)
Tư lượng (Volition ): Cân nhắc lợi, hại để quyết định hành động.
Tư lượng thức: Thức thứ bẩy, thường được gọi là mạt na thức hay ý căn có nhiệm vụ sắp đặt và điều hành mọi sinh hoạt của chúng ta.
Tư tuệ: Trí tuệ do suy ngẫm Chính pháp mà có.
Tứ (tâm sở):
a. Tứ là suy ngẫm về đối tượng, là bám chặt lấy đối tượng.
b. Tứ cũng có nghĩa là tư duy (réflexion), là sự hồi quang phản chiếu của ý thức (retour de la sixième conscience sur elle même) để quan sát những hoạt động của nó.
Tứ đại: Bốn đại, bốn thứ lớn là đất, nước, lửa và gió. Thân tứ đại là xác thân làm bằng đất, nước, lửa và gió.
Tứ niệm: Bốn pháp niệm, gồm Niệm thân, Niệm thọ, Niệm tâm và Niệm pháp.
Tứ quả:
a. Tu đà hoàn, dịch là Nhập lưu, nghiã là vào dòng Thánh. Người đoạn hết 88 phẩm kiến hoặc ở Tam giới, gọi là đắc Tu Đà Hoàn quả. Nếu chưa đoạn đủ 88 phẩm thì gọi là Tu Đà Hoàn hướng. Tu Đà Hoàn cũng gọi là Thất lai, vì những người này còn phải trở lại Dục giới bẩy lần, để tiếp tục tu học.
b. Tư Đà Hoàn, dịch là Nhất lai, tức là còn phải sinh vào Dục giới một lần nữa. Người đọan được kiến hoặc và sáu phẩm đầu của tư hoặc, gọi là đắc Tư Đà Hoàn quả. Nếu chỉ đoạn được từ 1 đến 5 phẩm, thì gọi là Tư Đà Hoàn hướng.
c. A Na Hàm, dịch là Bất lai, nghiã là không còn sinh vào cõi Dục nữa. Người đoạn hết kiến hoặc và 9 phẩm tư hoặc ở Dục giới, gọi là đắc A Na Hàm quả, sau khi chết, sẽ sinh lên một trong 5 cảnh trời Bất Hoàn.
d. A La Hán, dịch là Vô sinh, nghĩa là chứng quả Niết Bàn, không còn phân đoạn sinh tử nữa. Người đoạn hết kiến hoặc và 81 phẩm tư hoặc ở tam giới, gọi là đắc A La Hán quả.
Tứ sinh: (Xem: Bốn loài.)
Tứ thánh:
a. Tu đà Hoàn (Dự lưu), Tư đà hoàn (Nhất lai), A na hàm (Bất hoàn), A la hán (Vô sinh.)
b. Thinh văn, Bích chi, Bồ tát, Phật đà.
Tứ thiên môn: Bốn vùng trời ở trên sườn núi Tu Di, là bốn cửa để vào Đạo Lợi thiên ở trên đỉnh núi. Tứ thiên môn hợp thành Hộ Thế thiên, là nơi cư ngụ của tứ Thiên vương. (Xem: Cõi Dục)
Tứ Thiên vương: Bốn chúa trời ở trên sườn núi Tu Di, có nhiệm vụ giúp vua trời Đế Thích cai trị bốn châu ở dưới chân núi Tu Di, gồm:
a. Đông Thắng Thần châu.
b. Tây Ngưu Hoá châu.
c. Nam Thiêm Bộ châu.
d. Bắc Cu Lư châu.
Bốn chúa trời ấy là:
a. Trì Quốc thiên vương (Virudhaka), ở sườn núi phía Đông.
b. Quảng Mục thiên vương (Virupaksa), ở sườn núi phía Tây.
c. Tăng Trưởng thiên vương (Dhrtarastra), ở sườn núi phía Nam.
d. Đa Văn thiên vương (Dhanada), ở sườn núi phía Bắc.
Tứ Thiên vương thiên: Bốn vùng trời của tứ Thiên vương, ở trên sườn núi Tu Di. Tứ Thiên vương thiên là bốn cửa vào Đạo Lợi thiên, nên thường được gọi là Tứ thiên môn. (Xem: Cõi Dục)
Tứ thiền: (Cảnh giới)
a. Sơ thiền: Cảnh giới của những người xa lià ái dục, nên được vui sướng, gọi là Ly sinh hỉ lạc.
b. Nhị thiền: Cảnh giới của những người, tâm không tán loạn, nên được vui sướng, gọi là Định sinh hỉ lạc.
c. Tam thiền: Cảnh giới của những người bỏ được cái sướng thô thiển, để hưởng cái vui thắng diệu, gọi là Ly hỉ, diệu lạc.
d. Tứ thiền: Cảnh giới của những người không còn sứơng, khổ, vui, buồn, nên tư tưởng luôn trong sạch, gọi là Xả, niệm thanh tịnh.
Tứ thiền (Tu chứng): Bốn thứ bậc của thiền căn bàn, gồm: Sơ thiền, nhị thiền, tam thiền và tứ thiền.
a. Sơ thiền: Hành giả mới lìa ái dục, chưa có định lực, nhưng cũng biết rõ những công đức do việc tu tập đem lại cho mình, gọi là Giác. Đã biết được rồi, lại còn khéo léo phân biệt cái nào thô để bỏ, cái nào tốt để học, gọi là Quán. Trong lúc giác, quán, bỗng thấy sung sứơng, gọi là Hỉ. Sau lúc hoan hỉ, lại được yên vui, gọi là Lạc. Tuy có thọ lạc mà không tán loạn, gọi là Nhất tâm.
b. Nhị thiền: Nếu bỏ được giác và quán, chỉ còn hỉ, lạc, xả và nhất tâm thì liền đắc Nhị thiền.
c. Tam thiền: Nếu bỏ được hỉ, chỉ còn lạc, xả và nhất tâm, thì liền đắc Tam thiền.
d. Tứ thiền: Nếu bỏ được lạc, không còn sướng, khổ, vui, buồn nữa, thì tâm niệm thanh tịnh. Bấy giờ, chỉ còn xả và nhất tâm, liền đắc Tứ thiền.
Tứ Thiền thiên: Cảnh giới của những người đắc tứ thiền:
a. Không kể Bất Hoàn thiên, thì trời Tứ Thiền có 4 cảnh là: Vô Vân thiên, Phúc Sinh thiên, Quảng Quả thiên và Vô Tưởng thiên.
b. Kể cả Bất Hoàn thiên, thì trời Tứ Thiền gồm 9 cảnh là: Vô Vân thiên, Phúc Sinh thiên, Quảng Quả thiên, Vô Tưởng thiên, Vô Phiền thiên, Vô Nhiệt thiên, Thiện Kiến thiên, Thiện Hiện thiên và Sắc Cứu Cánh thiên.
(Xem: Cõi Sắc)
Từ: (Xem: Vô lượng tâm)
Tử thư Tây Tạng: Cuốn sách rất nổi tiếng của Đại sư Liên Hoa Sinh được:
a. Lạt ma Kazi Dawa Sandup và Evans Wentz dịch sang tiếng Anh dưới nhan đề “The tibetan of the dead.”
b. Margarite La Fluente dịch sang tiếng Pháp dưới nhan đề “Livre des Morts tibétain.”
c. Tề Hân phỏng dịch sang tiếng Việt dưới nhan đề “Tây Tạng sinh tử kỳ thư.”
Tự Tại thiên vương (Isvara):
a. Chủ của cõi Dục.
b. Chủ của tầng trời Tha Hóa Tự Tại.
c. Ma Vương (Mara)
d. Thần Phá Hoại (Shiva) của Ấn Độ Giáo.
Tự tàm : Hổ thẹn với chính mình.
Tự tính: Tính sẵn có của chúng sinh, của các pháp.
Tương dung: Chứa đựng lẫn nhau, chấp nhận lẫn nhau.
Tương nhiếp: Thu hút lẫn nhau, hấp dẫn lẫn nhau.
Tướng không: Tướng của các pháp ở trạng thái tịch diệt, khác với tướng có trong lúc hiện hành. Vì tất cả các pháp đều là huyễn hóa do tâm mình vọng động mà hiện ra cũng như những lớp sóng nhấp nhô trên biển cả. Khi biển động thì hiện tướng có: có sóng. Lúc biển lặng thì hiện tướng không: không sóng. Tướng không của các sóng là mặt biển yên lặng, còn tướng không của các pháp là tâm không vọng động của chúng ta.
Tưởng: Làm hiện ra ở trong tâm hình này,vật nọ, rồi đặt cho mỗi thứ một tên khác nhau để tiện bề phân biệt. Tưởng, có ba nhiệm vụ chính là:
a. Ức tưởng: Nhớ lại quá khứ.
b. Thức tưởng: Nhận biết hiện tại.
c. Tập tưởng: Dự liệu tương lai.
Tưởng tâm sở giúp chúng ta khởi huyễn cảnh. Trong khi niệm tâm sở giúp chúng ta huân chủng tử của các pháp.
Tưởng uẩn: Uẩn thứ ba có ba nhiệm vụ chính là nhớ lại quá khứ, nhận biết hiện tại và dự liệu tương lai. (Xem: Năm uẩn)
Tỳ khưu, tỳ khưu ni : Người xuất gia sau khi đã thọ giớí cụ túc thì gọi là tỳ khưu, nếu là đàn ông, hoặc là tỳ khưu ni, nếu là đàn bà . Tỳ khưu có nhiều nghiã, nhưng thường được dịch là khất sĩ, tức là những người trên xin Chính pháp của chư Phât để dưỡng tính, dưới xin thực phẩm của chúng sinh để nuôi thân.
Tỳ Lô Giá Na (Vairocana): Giáo chủ của Mật tông, tượng trưng cho Pháp thân vô tướng, vô vi.
Tha quí: Xấu hổ với người khác, sợ người khác chê cười khi biết mình phạm lỗi.
Thái dương hệ: Mỗi thái dương hệ là một thế giới. Thế giới này gồm có một núi Tu Di, một mặt trời, một mặt trăng, một cõi Dục và một Sơ Thiền thiên. Đứng đầu của một thái dương hệ là ngài Đại Phạm Thiên Vương.
Tham thiền:
a. Tham là nghiên cứu; thiền là lóng lặng vọng tưởng. Tham thiền là lóng lặng vọng tưởng để nghiên cứu đối tượng, hầu có thể thấy rõ đặc tính hay thực tướng của nó.
b. Tham cũng có nghiã là nghi. Tham thiền trong trường hợp này là lặng lẽ suy nghĩ để tự phá giải một công án, một đề tài hay một vấn đề làm mình thắc mắc.
c. Tham thiền là nghệ thuật giúp ta xa lià hình tướng để trở về với chân tính.
Thánh nhân: Người thấy tính tu Đạo. (Xem: Hiền nhân và Thiện nhân.)
Thành sở tác trí (Krtyanusthanajnâna): Khả năng thực hiện ước mơ một cách mau chóng. Nếu luyện được thành sở tác trí thì mỗi khi nghĩ đến vật gì là lập tức có ngay.
Thắng giải: Phân biệt rõ ràng, phán đoán rành mạch.
Thâm tâm, thâm trọng tâm:
a. Lòng tin tưởng sâu xa rằng có thế giới Cực Lạc ở phương Tây, có Phật A Di Đà và có 48 lời nguyện độ sinh của Phật.
b. Lòng tin tưởng sâu xa rằng Phật A Di Đà có thệ nguyện tiếp dẫn rộng lớn, nếu chúng sinh nào chịu hệ niệm qui hướng thì dù có bao nhiêu tội cũng được vãng sinh.
c. Xem: Ba thứ tâm.
Thâm trọng tâm: (Xem: Thâm tâm.)
Thân trung ấm: Thân của chúng sinh kể từ khi về trung giới cho đến lúc được tái sinh vào một trong sáu đường.
Thân mà một chúng sinh bỏ lại vào lúc chết, gọi là tử ấm. Thân mà nó sẽ có khi tái sinh, gọi là sinh ấm. Giữa tử ấm và sinh ấm có trung ấm.
Có hai loại thân trung ấm:
a. Thân trung ấm trong giai đoạn trung ấm pháp tính là thân ý sinh, làm bằng thánh chất.
b. Thân trung ấm trong giai đọan trung ấm tái sinh là thân tư dục làm bằng thần chất.
Thân trung ấm của con người có hình người. Nhưng nếu người ấy bị đọa vào loài thú, thì thân ấy sẽ chuyển từ hình người sang hình thú trước khi tái sinh.
Thần thông: Khả năng làm được những chuyện phi thường. Có sáu loại thần thông chính là:
a. Thiên nhãn thông: Mắt thần có thể thấy những vật ở xa hoặc trong tối.
b. Thiên nhĩ thông: Tai thần có thể nghe và hiểu được tiếng nói của thần linh, chim muông và súc vật ở gần hoặc ở xa.
c. Túc mệnh thông: Khả năng nhớ lại những gì đã xẩy ra ở đời trước.
d. Tha tâm thông: Khả năng đọc được tư tưởng của người khác.
e. Thần túc thông: Khả năng có thể hiện ra ở bất cứ chỗ nào và dưới bất cứ một hình dạng nào.
f. Lậu tận thông: Khả năng trừ được tất cả mọi phiền não, không còn triền phược sinh tử nữa.
Thần thức: Thức thứ tám, cũng gọi là nghiệp thức, tàng tâm, nguyên thần. (Xem: Thức thứ tám)
Thập ác: Sát sinh, trộm cắp, dâm dục, nói dối, ác miệng, xúi xiểm, ba hoa, tham lam, sân giận và tà kiến.
Thập điạ bồ tát (Dasabhumi bodhisattva): Thập địa bồ tát được giảng giải trong kinh Thủ Lăng Nghiêm, gồm:
a. Hoan hỉ Địa (Pramuditabhumi)
b. Ly cấu Điạ (Vimalabhumi)
c. Phát quang Điạ (Prabhakaribhumi)
d. Diệm huệ Điạ (Arcismatibhumi)
e. Nan thắng Điạ (Sudurjayabhumi)
f. Hiện tiền Điạ (Abhimukhibhumi)
g. Viễn hành Điạ (Duramgamabhumi)
h. Bất động Điạ (Acalabhumi)
i. Thập huệ Điạ (Sadhumatibhumi)
j. Pháp vân Điạ (Dharmameghabhumi)
Thập phương nhất thiết chư Phật: Tất cả những đức Phật trong mười phương.
Thập xứ quán: Quán sắc xanh, quán sắc vàng, quán sắc đỏ, quán sắc trắng, quán đất, quán nước, quán gió, quán lửa, quán hư không, quán thức tâm.
Thất câu chi: Bẩy trăm ức. Có bẩy trăm ức đức Phật đã từng tu pháp Chuẩn Đề.
Thất lai: Tu đà hoàn. (Xem: Tứ quả)
Thất niệm (Distration): Không nhớ đến đối tượng, không chú ý đến đối tượng, khác với tán loạn là không định tâm.
Thấy tính: Nhận ra bản thể của tâm mình, chữ Hán kêu là kiến tính.
Thế giới: Thái dương hệ. Mỗi thái dương hệ là một thế giới. Chủ của một thế giới là ngài Đại Phạm Thiên vương.
1000 thái dương hệ họp thành một tiểu thiên thế giới. 1000 tiểu thiên thế giới họp thành một trung thiên thế giới. 1000 trung thiên thế giới họp thành một đại thiên thế giới.
(Xem: Thái dương hệ, Tiểu thiên thế giới, Trung thiên thế giới và Đại thiên thế giới.)
Thích Đề Hoàn Nhân: Thiên chủ của cõi trời Đạo Lợi trên đỉnh núi Tu Di. Thích Đề Hoàn Nhân cũng có tên là: Đế Thích, là Ngọc Hoàng (Xem: Tam Thập Tam Thiên.)
Thiên: Trời.
Thiên long bát bộ: Tám bộ chúng sinh gồm: Trời, rồng, dạ xoa, càn thát bà (hương thần), a tu la (phi thiên), khẩn na la (phi nhân), chim thần và rắn thần.
Thiên thủ, thiên nhãn: Ngàn tay, ngàn mắt.
Thiền: Lóng lặng vọng tưởng để tâm đươc sáng suốt và nhậy bén (gọi là chỉ), hầu có thể quán sát một đối tượng, suy nghiệm một chân lý hay giải quyết một vấn đề nhất định (gọi là quán).
Thiền: (Xem: Tham thiền, Thiền định, Thiền chỉ tịnh, Thiền công án, Thiền đề mục, Thiền đối trị, Thiền minh sát, Thiền quán tưởng, Thiền tổ sư.)
Thiền chi: (Xem: Năm thiền chi và Tứ thiền.)
Thiền chỉ, Thiền chỉ tịnh: Phép thiền giúp chúng ta giữ tâm yên lặng, cũng gọi là chỉ.
Thiền công án: Phép thiền dậy chúng ta dùng nghi tình phá vô minh để nhận ra tâm, tính. (Xem bài Thiền Công Án, Thiền Tịnh Đối Chiếu.)
Thiền đề mục: Phép thiền dậy chúng ta nương theo nghiệp tướng để hoặc hợp nhất với đối tượng, hoặc vào biển tịch quang của Pháp thân.
Thiền định:
a. Thiền là nghệ thuật điều phục tâm mình. Định là nghệ thuật an trụ tâm mình. Thiền định nói chung là nghệ thuât khắc phục phiền não để tập trung tư tưởng vào một đối tượng và tùy theo mục đích theo đuổi mà chia thành ba loại là chỉ, quán và thiền.
b. Thiền định là nghệ thuật giúp ta dập tắt tư tưởng trong tâm và quên lãng cảnh vật bên ngoài, để tâm thể được rỗng lặng, tâm dụng được sáng suốt.
Thiền đối trị: Pháp thiền giúp chúng ta giải trừ một tật xấu nhất định. Thí dụ: Quán bất tịnh để trừ dâm dục, quán nhân duyên để trừ ngu si, quán hơi thở để trừ tán loạn.
Thiền gia, thiền giả: Người tu thiền.
Thiền minh sát: Phép thiền giúp chúng ta thấy rõ tính, tướng, thể, dụng và tiến trình sinh diệt của các hiện tượng đang xẩy ra ở ngay nơi thân và tâm của chúng ta. (Xem: Quán sát)
Thiền quán: Có hai cách quán, là quán sát và quán tưởng. Nên cũng có hai loại thiền quán, là thiền minh sát và thiền quán tưởng.
Thiền quán tưởng: Phép thiền giúp chúng ta tạo ra một tác dụng có lợi cho chính mình hoặc có lợi cho người khác. (Xem: Quán tưởng).
Thiền sinh: Người học Thiền, người tu Thiền.
Thiền tổ sư: Pháp thiền giúp chúng ta nhận ra tính giác của mình và sống thuận với tính đó.
Thiền xúc: Những cảm xúc mà người tu thiền có thể lãnh thọ, như:
a. Động (secousse): Thân lắc, gân giật.
b. Ngứa (démangeaison).
c. Nóng.
d. Lạnh.
e. Trơn (souplesse): Vận động dễ dàng.
f. Rít (raideur): Vận động khó khăn.
g. Nặng (lourdeur).
h. Nhẹ (légèreté): Thân thể nhẹ nhàng.
Thiện căn:
a. Gốc rễ của mọi việc lành, tức là tâm bồ đề. Còn các pháp như bố thí, đọc kinh, niệm Phật, trì chú hay tham thiền đều chỉ là phúc đức hay công đức giúp cho tâm ấy tăng trưởng.
b. Những tâm sở căn bản, từ đó sinh ra các thiện nghiệp. Năm thiện căn chính là: Tín, tấn, niệm, định và tuệ.
(Xem: Tâm sở.)
Thiện nhân: Người đoạn ác tu Đạo. (Xem: Hiền nhân và Thánh nhân.)
Thiện tri thức: Thiện là tốt lành. Tri là nghe tên, hiểu tính. Thức là biết mặt, thấy hình. Thiện tri thức là những người quen biết, hiểu tính tình, sở thích và khả năng của chúng ta, lại có lòng tốt muốn giúp đỡ cho. Có ba loại thiện tri thức:
a. Ngoại hộ thiện tri thức: Những người cúng dường hoặc hỗ trợ hành giả.
b. Đồng hạnh thiện tri thức: Những bạn đồng đạo thường nhắc nhở và cảnh giác lẫn nhau.
c. Giáo thọ thiện tri thức: Những bậc thầy chỉ đạo và hướng dẫn hành giả.
Thinh văn: Người theo Phật, nghe Pháp, đặc biệt là pháp Tứ Diệu Đế. Rồi theo đó tu hành, diệt ái dục, đoạn phiền não để nhập Niết Bàn.
Thọ: Sống lâu. Phật A Di Đà sống lâu vô lượng a tăng kỳ kiếp.
Thọ:
a. Cảm giác do việc lãnh nạp sáu trần tạo ra. Hiểu theo nghiã này, thọ gồm có năm loại là: Sướng, khổ, vui, buồn và xả (xả là không sướng, không khổ, không vui cũng không buồn).
b. Lãnh lấy kết quả của việc mình làm. Người tu quán hay tụng kinh tập trung tư tưởng vào một pháp. Đến khi pháp ấy nhập tâm, chi phối tất cả mọi sinh hoạt của đương sự, gọi là chính thọ hay Chính thụ.
Thọ trì, thụ trì: Thọ hay thụ là nhận lãnh. Trì là giữ gìn. Thọ trì là tin và nhớ.
Thọ uẩn: Uẩn thứ hai có tác dụng lãnh nạp trần cảnh để chuyển thành cảm giác hoặc sướng, hoặc khổ, hoặc vui, hoặc buồn, hoặc xả. (Xem: Năm uẩn)
Thoái chuyển: Thụt lùi, không tiến bộ. (Xem: Bất thoái chuyển)
Thoại đầu:
a. Đầu của mỗi câu mình nói ra. Khi sắp nói ra, gọi là đầu. Lúc đã nói ra, gọi là đuôi. (Xem: Khán thoại đầu.)
b. Tâm của chúng ta vào lúc niệm trước vừa diệt, niệm sau chưa sinh.
Thô tướng: (Xem: Nghiệp tướng.)
Thời mạt pháp: Thời kỳ mà Đạo pháp suy tàn. Nhiều người tu nhưng rất ít người chứng.
Thủ hộ: Thủ là trông nom. Hộ là bảo vệ. Thủ hộ là trông nom và bảo vệ.
Thụ: (Xem: Thọ.)
Thụ trì: Thụ là nhận lãnh. Trì là giữ gìn. Thụ trì là tin và nhớ.
Thuyết: Nói rõ ra.
Thức: Khả năng phân biệt trần cảnh và chứa nhóm thân căn cùng hạt giống của các pháp. (Xem: Sáu thức, Tám thức, Thức uẩn.)
Thức thứ bẩy: Mạt na thức. Thức này có những tên chính sau:
a. Tư lượng thức: Khả năng quyết định và điều hành mọi sinh hoạt của chúng ta.
b. Truyền tống thức: Khả năng đưa hiện thực của sáu thức vào tạng tâm để gây hạt giống và lấy hạt giống từ tạng tâm ra sáu thức để tạo hiện thực.
c. Ý căn: Căn thứ sáu, những căn khác là mắt, tai, mũi, lưỡi và thân.
Thức thứ sáu: (Xem: Ý thức.)
Thức thứ tám: Thức này có rất nhiều tên, nhưng quan trọng nhất là:
a. Chủng tử thức: Khả năng gây (hạt) giống của các pháp.
b. Dị thục thức: Khả năng làm cho các hạt giống nói trên phát triển và chín mùi trước khi đem ra sáu thức để xử dụng.
c. Nghiệp thức: Khả năng giữ gìn hạt giống của các nghiệp thiện, ác để chuyển hóa thành thói quen, sở thích, năng khiếu và cách cảm nghĩ của chúng ta.
d. Tàng tâm: Khả năng và cũng là chỗ chứa căn thân và hạt giống của tất cả những gì chúng ta đã thấy, nghe, ngửi, nếm, cảm, biết, nghĩ, nói và làm, thường gọi là trí nhớ.
e. Thần thức hay kiết sinh thức: Khả năng tiếp nối sinh tử từ đời này qua đời khác mà người bình dân gọi là linh hồn.
Thức uẩn: Uẩn thứ năm có tác dụng phân biệt trần cảnh và chứa nhóm hạt giống của các nghiệp thiện, ác, nhiễm, tịnh khiến cho bản thể chân như bị che lấp đi. Bốn uẩn kia là: Sắc, thọ, tưởng và hành.
Thường trụ: Còn mãi. Của thường trụ là tài sản của chùa, sở dĩ gọi là của thường trụ vì những thứ này không thể đem bán hoặc dời chỗ.
Thượng căn: Bậc thượng căn là người linh lợi có thể thấy, hiểu và chứng Đạo một cách dễ dàng. Trái với kẻ độn căn là người chậm hiểu, tối dạ, ngu đần.
Thượng sách: Cách làm tốt nhất.
Trạch pháp: Người tu thiền minh sát không những phải ghi nhớ đề mục tu tập, gọi là đối tượng chính mà còn phải ghi nhớ luôn cả những hiện tượng đang xẩy ra ở trong thân và tâm của ông ta, gọi là đối tượng phụ. Tiếc là vào mỗi thời điểm nhất định, ông ta chỉ có thể chọn một trong những đối tượng nói trên để quán sát. Quán sát một trong những đối tượng nói trên để thấy rõ đặc tính và tiến trình sinh diệt của nó, gọi là trạch pháp.
Trai (Xem: Tám trai giới)
Trạo cử (Souci): Sự giao động của tâm, thường gọi là lo lắng. Thí dụ: lo lắng khi gặp khó khăn, khi phải quyết định một việc quan trọng, khi đang mong đợi một cái gì.
Trần: Trần là bụi bậm, là đối tượng nhận thức của một căn. (Xem: Sáu trần.)
Trần lao: Trần là bụi bậm, là đối tượng của sáu căn gồm: sắc, thinh, hương, vị xúc và pháp. Lao là vất vả, khó nhọc. Trần lao là cảnh thế gian, trong đó con người vì mê theo sáu trần nên phải chịu vất vả, khó nhọc.
Trần sa hoặc: (Xem: Hoặc)
Trí tuệ:
a. Khả năng nhận ra chân lý, chân tính hay chân tướng của các pháp và giải trừ hết thẩy mọi mê hoặc sai lầm. Xét về nguồn gốc phát sinh, trí tuệ có ba loại: văn tuệ, tư tuệ và tu tuệ. Xét về đối tượng nhận thức, trí tuệ cũng có ba loại: sinh không tuệ, pháp không tuệ và câu không tuệ.
b. Khả năng hiểu biết vạn pháp như thực.
Trí thiền định: Trí tuệ do thiền định mà có.
Trì chú: Đọc và giữ một bài chú ở trong tâm.
Trì chú để phát huy thần lực.
Niệm Phật để vun trồng công đức.
Tụng kinh để khai mở trí tuệ,
Tham thiền để thâm nhập chân tính.
Trì giới: Giữ gìn lời răn của Phật. Giới có ba loại chính là: Tránh điều ác, làm việc lành và độ chúng sinh.
Trì Minh: Theo Tử Thư Tây Tạng, Trì là nắm giữ; Minh là trí tuệ. Trì Minh (Vidyadhara) là các vị thần có trí tuệ và hiện tướng ôn hòa để giải bớt phiền não và nghiệp chướng của chúng sinh, trái với Minh Vương (Héruka) là thần phẫn nộ.
Trì niệm: Trì là giữ; niệm là nhớ. Trì niệm là thường nghĩ đến đối tượng tu tập để giữ nó ở trong tâm.
Trợ duyên: Những yếu tố giúp cho người tu đạt được mục đích, giúp cho nhân kết thành quả.
Trợ Đạo: Giúp cho việc tu hành được dễ dàng.
Trung: Trong. Thí dụ: Tỳ Lô Giá Na cung điện trung là trong cung điện của ngài Tỳ Lô Giá Na.
Trung ấm: (Xem, Thân trung ấm.)
Trung giới: Nơi tạm cư của những vong linh (cũng gọi là hương linh) chờ đi tái sinh.
Trung thiên thế giới: Tổng hợp của 1000 tiểu thiên thế giới và một Tam Thiền thiên
Truyền tống thức: (Xem: Thức thứ bẩy).
Trường thọ: Sống lâu.
Trường Thọ thiên: Tên chung của 5 cảnh trời Tịnh Pham, nơi mà chư thiên sống rất rất lâu.
Uẩn:
a. Uẩn là tích tụ, tức là cùng loại thì hợp lại thành nhóm. Mỗi nhóm là một uẩn. Năm uẩn cấu tạo nên con người và cảnh vật xung quanh là: sắc, thọ, tưởng, hành và thức.
b. Uẩn cũng là ấm. ấm là che đậy. Gọi là che đậy, vì khi năm ấm này khởi lên, thì chúng liền che mất Chân tính của chúng ta.
(Xem: Năm uẩn, Ngũ uẩn)
Ức : Mừơi triệu (10.000.000).
Ức: Nhớ lại quá khứ:
a. Ức niệm: Nhớ lại một chuyện cũ như đã qua rồi.
b. Ức tưởng: Nghĩ đến một chuyện cũ như đang tiếp diễn.
Ức niệm: Ghi nhớ một đối tượng, một Phật hiệu, một bài chú, một đoạn kinh hay một ước nguyện cho đến khi nó chiếm trọn tâm tư của chúng ta.
Ứng thân: Nhục thân hay xác thân, tức là cái thân bằng xương, bằng thịt của đức Phật, khi ngài hạ sinh ở Ấn Độ.
Vạn: Mười ngàn (10.000), cũng gọi là muôn.
Vạn ức : Một trăm tỷ (100.000.000.000).
Vãng sinh: Sinh về Cực Lạc.
Văn tuệ: Trí tuệ do nghe hoặc đọc kinh sách mà có.
Vía: Phách (Xem: Khí)
Viên minh: Tròn và sáng, đầy đủ và sáng suốt. Thí dụ: thiền định đầy đủ, trí tuệ sáng suốt.
Vọng niệm: Vọng là sai trái hay viễn vông. Niệm là nhớ lại hoặc ghi nhớ. Vọng niệm là nhớ sai, nhớ quấy, nhớ những chuyện sai trái, không đúng sự thực hoặc không hợp Chính Pháp.
Vọng ngôn: Vọng ngữ.
Vọng ngữ: Nói dối.
Vọng tâm: Theo nghiã hẹp, vọng tâm chính là ý thức, còn theo nghiã rộng, nó bao gồm sáu thức đầu là nhãn thức, nhĩ thức, tỵ thức, thiệt thức, thân thức và ý thức.
Vọng tưởng:
a. Tưởng là mường tượng ra, suy nghĩ ra.
b. Vọng tưởng là nghĩ sai, nghĩ quấy, nghĩ những chuyện sai trái hoặc vẩn vơ. (Xem: Tưởng)
c. Những ý nghĩ không mong đợi, cũng không muốn có (idées indésirables) trong lúc thiền định hoặc tịnh niệm.
Vô cầu: Nghiã đen là không mong đợi hay ước muốn gì cả. Nghiã bóng là chấp nhận mọi việc xẩy đến cho mình mà không hề có lòng yêu, ghét.
Vô đẳng: Không bằng được.
Vô luân: Không so sánh được.
Vô lượng Quang: Phật A Di Đà, vì hào quang của Ngài chiếu khắp mười phương.
Vô lượng tâm: Gồm bốn loại là từ, bi, hỉ và xả. Những tâm này được gọi là vô lượng vì đối tượng của chúng nhiều không thể kể hết.
a. Từ: Thương mến và mong cho tất cả chúng sinh đều được yên vui, sung sướng.
b. Bi: Thương sót và sẵn sàng chia sẻ mọi đau khổ, mọi ưu phiền của chúng sinh.
c. Hỉ: Vui mừng khi thấy người khác được hưởng lợi ích hay làm những việc lợi ích. Hỉ cũng có nghiã là vui vẻ làm những việc lợi ích.
d. Xả: Thản nhiên chấp nhận mọi xung đột, mọi tình huống của cuộc sống.
Vô lượng Thọ: Phật A Di Đà, vì Ngài sống lâu vô lượng kiếp.
Vô minh: Không sáng suốt, không thấy sự vật như thực. Vô minh có ba mức độ khác nhau:
a. Bất học vô minh: Không học Chính Pháp, nên không biết thực, giả, phải, trái, thiện, ác..., cùng những tương quan nhân quả giữa các hiện tượng.
b. Nhất niệm vô minh: Trong lúc suy nghĩ tạo ra ảo giác rằng có mình, có cảnh độc lập với nhau. Rồi nhân đó, mới động lòng ham muốn và tạo ra vô số vọng nghiệp.
c. Vô thuỷ vô minh: Tình trạng thiếu sáng suốt tự ngàn xưa, khiến chúng ta không nhận ra ChânTâm.
Vô minh hoặc: (Xem: Hoặc)
Vô niệm:
a. Không niệm bằng miệng hay bằng ý, mà để tạng tâm tự niệm cho minh nghe.
b. Nói người niệm Phật đến mức thượng thừa, tuy miệng và ý không niệm Phật hiệu, nhưng Phật hiệu vẫn tự động vang dội trong tâm.
c. Trạng thái của tâm khi niệm trước đã diệt và niệm sau chưa sinh.
d. Nói người tu thiền trong lúc nhập định Diệt Thọ Tưởng, không còn cảm giác cũng không suy nghĩ nữa.
Vô ngã: Không có thực thể riêng biệt.
a. Vì cả chúng sinh lẫn cảnh vật đều do nhân duyên sinh ra, không có thực thể riêng biệt, nên đức Phật mới nói là vô ngã.
b. Vì mỗi người, mỗi cảnh, mỗi vật đều không thể tự chủ, mà phải phụ thuộc vào các yếu tố khác ở ngoài nó, nên đức Phật mới nói là vô ngã.
c. Vì tất cả đều do nhân duyên hòa hợp mà sinh ra, nên không có pháp nào có thể gọi là "TA" hay là "cái của TA".
Vô quí: Không xấu hổ với người khác, không sợ người khác chê cười.
Vô Sắc giới: Cõi Vô Sắc, tại đó thiên chúng không bị tình lụy và hình lụy, vì họ không còn yêu, ghét cũng không có thể xác nữa. (Xem: Cõi Vô Sắc).
Vô si: Không ngu si.
Vô sinh: Quả thánh thứ tư của đạo Thinh Văn, cũng gọi là A la hán. (Xem: Tứ quả)
Vô sinh nhẫn: (Xem: Vô sinh pháp nhẫn).
Vô sinh pháp nhẫn: Đức nhẫn của những người đã nhận ra và sống với thực thể không sinh, không diệt của các pháp.
Vô sở hữu: Không có gì cả, hoàn toàn trống rỗng.
Vô tàm: Không xấu hổ với chính mình, không ray rứt mỗi khi phạm lỗi.
Vô tâm:
a. Không có tâm phân biệt.
b. Không để ý đến sắc, thinh, hương, vị, xúc và pháp, gọi chung là sáu trần.
c. Nói người tu thiền bỏ được sáu trần, không bị ngoại cảnh và vọng tưởng ràng buộc nữa.
Vô tướng: Tướng là hình trạng bên ngoài có tác dụng tạo cho mỗi pháp một sắc thái riêng biệt, khiến ta có thể dựa vào đó để phân biệt nó với các pháp khác. Vì hình sắc và trạng thái của mỗi vật đều do tư tưởng kết thành, nên đức Phật mới nói vô tướng, tức là không có thực thể khách quan.
Vô tưởng định: Phép định giúp chúng ta đình chỉ mọi sinh hoạt của 6 thức đầu, khác với Diệt tận định, trong đó, hành giả đình chỉ được mọi sinh hoạt của 7 thức đầu.
Vô tưởng thiên: Cảnh giới của những người đắc Vô tưởng định.
Vô thường: Thay đổi, không thể giữ mãi trạng thái hay hình tướng hiện thời được.
Vô thượng: Trên cao nhất, không gì hơn được. Đạo vô thượng là Đạo Phật.
Vô uý: Không sợ.
Vô uý thí (cho cái không sợ, làm cho hết sợ): Bảo vệ và an ủi những chúng sinh đang lo âu sợ hãi để họ được yên lòng.
Vô vi:
a. Làm mà như không làm.
b. Làm mà không gượng ép, mà không vướng mắc.
c. Làm những gì mình nghĩ là tốt, là đúng, là cần mà không mong được báo đáp.
Vô xâm: Không làm hại được.
Xả:
a. Không sướng, không khổ, không vui cũng không buồn. Hiểu theo nghiã này, xả thuộc về thọ tâm sở.
b. Không yêu cảnh thuận, không ghét cảnh nghịch, chỉ vui vẻ làm những việc lợi ích cho mình và cho vô lượng chúng sinh. Hiểu theo nghiã này, xả thuộc về hành tâm sở.
c. Thản nhiên trước mọi xung đột, mọi biến chuyển của cuộc sống. Hiểu theo nghiã này, xả thuộc vô lượng tâm
Xan (Avarice): Hà tiện, keo bẩn từ của cải đến lời nói và kiến thức đều không chịu bố thí, không chịu chia cho người khác. Thí dụ: Thích ở một mình một nhà. Thích mọi người chỉ khen mình thôi. Thích chỉ mình mới có hay mới biết cái này, cái nọ.
Xúc:
a. Tiếp xúc: Sự giao hợp của căn và trần làm duyên sinh ra thức.
b. Cảm xúc: Đối tựơng nhận thức của thân thể.
Xúc trần: Đối tượng nhận thức của thân thể, đặc biệt là những cảm giác nặng, nhẹ, cứng, mềm, nóng, lạnh, trơn, nhám, đau, nhức v.v..
Ý căn: Thức thứ bẩy có nhiệm vụ kiểm soát và điều hành mọi sinh hoạt của chúng ta. (Xem: Thức thứ bẩy.)
Ý thức: Thức thứ sáu chủ về tính toán và phân biệt các pháp. Thức này có nhiệm vụ quán sát trần cảnh, xác định nhu cầu, soạn thảo kế hoạch và huấn luyện sáu căn.
Hiển Mật

Quick reply to this message Trả lời Trả lời có kèm theo trích đoạn Trả lời có kèm theo trích đoạn Trích Dẫn Nhiều Lần (bấm vào đây trước, sau đó bấm nút Trả Lời) Mang bài này vào Blog
06-13-2014, 10:45 AM #58
Hình biểu tượng của NuocCamLo
NuocCamLo
Hội Viên NuocCamLo hiện không có mặt trên Thư Viện Toàn Cầu Đệ Nhị Đẳng Bảo Quốc Huân Chương

Gia nhập
Jun 2013
Bài đăng
1,228

Định sẵn Re: TEXT: PHÁP TUYỂN - Hiển Mật - Đỗ Hữu Trạch

MỤC LỤC


LỜI GIỚI THIỆU
LỜI TỰA
1. Lời tựa của tập Pháp Tuyển 2 001
2. Lời tựa của tập Pháp Tuyển 2011
DẪN NHẬP
PHẬT GIÁO
1. Đức Phật và Phật Giáo
2. Phật Giáo
3. Mười việc thiện
4. Bốn Diệu Đế
5. Mười hai nhân duyên
6. Sáu ba la mật
7. Ba môn học vô lậu
8. Phật pháp yếu lược
CẦU NGUYỆN
1. Cầu hay không cầu ?
2. Cầu nguyện
3. Sám hối
ĐỌC KINH
1. Đọc kinh
2. Giới kinh
3. Di Đà bản nguyện kinh
4. Nghi thức đọc kinh A Di Đà
5. Nghi thức đọc kinh Bát Nhã
NIỆM PHẬT
1. Tịnh Độ Tông
2. Điều kiện vãng sinh Cực Lạc
3. Cực Lạc có hay không?
4. Người có tội có được vãng sinh không?
5. Niệm Phật luận
6. Niệm Phật yếu lược
7. Niệm Phật khó hay dễ
8. Niệm Phật và sáu ba la mật
9. Nghi thức niệm Phật
10. Nghi thức niệm Phật rút gọn
11. Bí quyết niệm Phật
12. Yếu chỉ niệm Phật
13. Vài nghi vấn về Tịnh Độ
14. Bồ tát Quán Thế Âm
TỤNG CHÚ
1. Tụng chú
2. Nghi thức tụng chú Đại Bi
3. Nghi thức tụng chú Chuẩn Đề
THIỀN ĐỊNH
1. Thiền định,
2. Thiền luận
3. Thiền minh sát
4. Thiền đề mục
5. Thiền công án
6. Thiền Tổ sư
7. Thiền, Tịnh đối chiếu
8. Thiền, Tịnh song tu
9. Khuyến tu
DUY THỨC
1. Duy thức
2. Duy thức học áp dụng
PHỤ LỤC
1. Chính tư
2. Tự lực và tha lực
3. Tha lực
4. Nghiệp
5. Chết rồi sẽ về đâu?
6. Phật Giáo có thể giúp gì cho những người sắp từ giã cõi đời?
7 Trợ niệm vãng sinh
8. Cầu siêu
GIẢI NGHIÃ CHỮ KHÓ