TVVN
Wiki

  1. Chapter
  2. Pháp Tuyển - Nghiệp - Hiển Mật
Printable Version

https://www.tvvn.org/forums/wiki_index/?title=Chapter:Pháp-Tuyển-Nghiệp-Hiển-Mật

Đây là một phần của sách 'Book:Pháp Tuyển - Hiển Mật'

Tài liệu này đã được đọc 406 lần.

    • là người cập nhật hóa tài liệu này vào ngày
NGHIỆP


Để giải thích những bất công trong xã hội, Phật giáo dùng thuyết Nghiệp Quả. Khi bị hỏi:
1. Tại sao có người sinh ra được thông minh, có người sinh ra lại ngu dốt?
2. Tại sao có người sinh ra được khoẻ mạnh, có người sinh ra lại đau yếu?
3. Tại sao có người sinh ra được giầu sang, có người sinh ra lại nghèo hèn?
Đức Phật trả lời: Vì nghiệp của họ khác nhau! Thực vậy, người sinh ra được thông minh, vì đời trước thường giúp người khác tu học, hiểu rõ điều hay lẽ phải.
Người sinh ra bị ngu dốt, vì đời trước không thực lòng chỉ bảo cho người khác, lại thường mắng họ là đồ ngu dốt.
Người sinh ra được khoẻ mạnh, vì đời trước thích phóng sinh hoặc thường giúp người bệnh hoạn.
Người sinh ra bị đau yếu, vì đời trước thích sát sinh hoặc thấy người bệnh hoạn thì vui thích.
Người sinh ra được giầu sang, vì đời trước thích bố thí, xây chùa, dựng tháp, in kinh.
Người sinh ra bị nghèo hèn, vì đời trước thích trộm cắp hoặc keo bẩn, không chịu giúp ai.
Nói như vậy, thì mọi sự xẩy ra cho chúng ta đều do nghiệp cả! Nhưng nghiệp là cái gì và làm sao mới giải trừ được cái nghiệp của mình?
ĐỊNH NGHIÃ
Nghiệp là những hành động, những việc làm có ý thức của thân, miệng và ý.
Khi chúng ta cố ý nghĩ một chuyện gì, nói một câu gì, làm một việc gì, bất luận là thiện hay ác cũng đều gọi là nghiệp. Nghiệp bao gồm tất cả những việc mà chúng ta tự mình làm ra, hoặc sai người khác làm, hoặc thấy người khác làm mà vui theo.
PHÂN LOẠI
Xét về phương tiện, nghiệp có ba loại là: Thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp.
1. Thân nghiệp gồm tất cả những hành động có ý thức, do thân thể tạo ra, đặc biệt là sát sinh, trộm cắp và tà dâm.
2. Khẩu nghiệp gồm tất cả những lời nói có ý thức từ miệng lưỡi thốt ra, đặc biệt là nói dối, xúi xiểm, ác miệng và ba hoa.
3. Ý nghiệp gồm tất cả những tư tưởng do ý căn tạo ra, đặc biệt là tham lam, sân giận và tà kiến.
Xét về đạo đức, nghiệp có hai loại là: Thiện nghiệp và ác nghiệp.
1. Thiện nghiệp là những việc lành có tác dụng đem lại hạnh phúc cho chúng ta và cho những người liên can. Có rất nhiều thiện nghiệp, nhưng căn bản là không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không xúi xiểm, không ác miệng, không ba hoa, không tham lam, không sân giận và không tà kiến.
2. Ác nghiệp là những nghiệp dữ làm cho chúng ta hay những người liên can phải đau khổ. Có rất nhiều ác nghiệp, nhưng căn bản là sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, xúi xiểm, ác miệng, ba hoa, tham lam, sân giận và tà kiến.
Xét về cường độ, nghiệp có bốn loại là tích luỹ nghiệp, tập quán nghiệp, cận tử nghiệp và cực trọng nghiệp.
1. Tích luỹ nghiệp là những nghiệp mà chúng ta đã tạo ra từ những đời trước và vẫn còn lưu trữ ở trong tàng tâm của chúng ta.
2. Tập quán nghiệp là nhưng nghiệp đã được lập đi, lập lại nhiều lần, đến độ biến thành thói quen, như nghiền thuốc lá, mê đánh bạc v.v...
3. Cận tử nghiệp là những tư tưởng, lời nói hay hành động của chúng ta trong lúc gần chết. Những nghiệp này có tác dụng hướng dẫn thần thức thọ sinh nơi này hay nơi khác.
4. Cực trọng nghiệp là những nghiệp rất mạnh có thể làm thay đổi số mệnh của chúng ta, có thể khiến chúng ta bị chết non hay đọa địa ngục, như giết cha, giết mẹ, giết a la hán, chia rẽ chư tăng, phá huỷ tượng Phật.
Xét về thời gian trả báo, nghiệp có bốn loại là: Thuận hiện nghiêp, thuận sinh nghiệp, thuận hậu nghiệp và bất định nghiệp.
1. Thuận hiện nghiệp là những nghiệp tạo ra trong đời này và sẽ phải lãnh quả ở đời này.
2. Thuận sinh nghiệp là những nghiệp tạo ra trong đời này và sẽ lãnh quả ở đời tới.
3. Thuận hậu nghiệp là những nghiệp tạo ra trong đời này, nhưng không lãnh quả ở đời này hay ở đời tới. Quả báo của những nghiệp này sẽ chỉ phát khởi ở một trong những đời sau nữa.
4. Bất định nghiệp là những nghiệp tạo ra trong đời này, nhưng quả báo lại không nhất định ở đời nào cả. Có khi ở đời này, có khi ở đời tới, có khi ở đời sau.
Vì có thể phải lãnh quả của các nghiệp đã tạo trong quá khứ, nên mới có kẻ hiện đời làm ác mà đựơc yên vui và cũng lại có những người thấy rất hiền lương mà bị khốn khổ.
NGHIỆP NHÂN
Những yếu tố thúc đẩy chúng ta tạo nghiệp gọi là nghiệp nhân. Có rất nhiều nghiệp nhân, nhưng chủ yếu là vô minh và ái dục.
1. Vô minh là không sáng suốt, là không biết rằng tất cả mọi sự, mọi việc, mọi pháp đều do tâm mình tạo ra, vốn vô thường và giả dối, mà ngược lại, còn coi chúng là thường, là thực, nên mới đem lòng mong muốn tìm cầu. Vô minh là gốc của ngu si và tà kiến. Ngu si là không biết đâu là đúng, là sai, là thực, là giả. Tà kiến là lấy sai làm đúng, chấp giả là thực.
2. Ái dục: Ái là yêu thích; Dục là mong muốn. Ái dục là mong muốn thực hiện được những gì mình thích. Vì có hai loại thích là thích xây dựng và thích phá hoại, nên ái dục cũng chia làm hai là tham lam và sân giận. Tham lam là tình cảm thúc đẩy chúng ta chiếm đoạt, đòi hỏi hoặc nắm giữ những gì mình yêu thích. Sân giận là tình cảm thúc đẩy chúng ta phá bỏ, chồng đối hoặc xua đuổi những gì mình không thích.
NGHIỆP QUẢ
Nghiệp quả là quả của nghiệp, bao gồm bản thân của chúng ta và môi trường xung quanh. Nghiệp quả phản ảnh nghiệp nhân. Vì nhân lành sẽ tạo quả vui còn nhân dữ sẽ sinh quả khổ.
Thông thường ít có người toàn thiện hoặc thuần ác. Do đó. đời người mới vui buồn lẫn lộn. Ngay kẻ khổ nhất cũng có khi mãn nguyện và người sướng nhất cũng có lúc than van.
QUÁ TRÌNH TẠO NGHIỆP VÀ LÃNH QUẢ
Muốn hiểu rõ quá trình tạo nghiệp và lãnh quả, phải nghiên cứu về tâm. Muốn nghiên cứu về tâm thì nên học Duy Thức.
Duy thức là môn tâm lý học của Phật giáo theo đó, con người không phải chỉ có một cái tâm. Cái mà chúng ta gọi là tâm, thực ra là tập hợp của tám yếu tố tâm lý, gọi là thức. Nói một cách khác, tâm gồm tám thức:
1. Nhãn thức, hay thức của con mắt chủ về nhìn.
2. Nhĩ thức, hay thức của lỗ tai chủ về nghe.
3. Tỵ thức, hay thức của lỗ mũi chủ về ngửi.
4. Thiệt thức, hay thức của cái lưỡi chủ về nếm.
5. Thân thức, hay thức của thân thể chủ về cảm xúc như đói, khát, nóng, lạnh, đau, nhức, sướng, khổ, nặng, nhẹ v.v...
6. Ý thức, hay thức của ý căn chủ về tri giác, tức là khả năng tính toán và phân biệt sự vật, cảm xúc và tư tưởng, gọi chung là pháp trần.
7. Mạt na thức, hay Ý căn là khả năng quyết định và điều hành mọi sinh hoạt của chúng ta.
8. A lại da thức, hay Tàng tâm là khả năng tồn trữ căn thân và hạt giống của tất cả những gì chúng ta thấy, nghe, ngửi, nếm, cảm, biết, nghĩ, nói và làm.
Đặc tính của tám thức được giảng giải rõ ràng trong bài DUY THỨC HỌC ÁP DỤNG, Theo đó thì chỉ có những hành động do ý thức đề nghị, được ý căn chấp thuận và chuyển vào Tàng tâm để gây hạt giống mới gọi là nghiệp. Hạt giống của nghiệp gọi là nghiệp chủng. Nghiệp chủng âm thầm phát triển, thay đổi, chín mùi và chờ đợi ở trong Tàng tâm mãi cho đến khi có đủ cơ duyên, bấy giờ ý căn mới lấy chúng ra thức thứ sáu để khởi vọng tưởng và năm thức đầu để tạo hiện thực, gọi là lãnh quả.
Sau khi hiểu rõ quá trình tạo nghiệp và lãnh quả, chúng ta phải cẩn thận không để ý thức đề nghị bậy, không để ý căn quyết định lầm mà phạm thêm ác nghiệp mới và đồng thời cũng không tạo cơ hội thuận tiện để những hạt giống của vô lượng ác nghiệp cũ hiện đang chứa ở trong Tàng tâm có thể kết thành trái khổ.
CÁCH GIẢI NGHIỆP HAY DIỆT TỘI
Theo nghiã hẹp, giải nghiệp hay diệt tội là tìm cách làm cho những nghiệp ác chưa kết trái không kết trái được, hoặc làm cho những nghiệp ác đang kết trái phải ngưng kết trái. Theo nghiã rộng, giải nghiệp hay diệt tội là tìm cách huỷ diệt tất cả những chủng tử của ác nghiệp ở trong Tàng tâm.
Muốn giải nghiệp hay diệt tội phải hiểu lý Nhân Quả, phải tin rằng tất cả các pháp đều do nhân duyên sinh ra. Có quả tất có nhân, nhưng có nhân không chắc sẽ có quả! Tại sao? Vì ngoài nhân và quả ra còn có trợ duyên nữa.Thực thế, nếu đem một hạt mít để lên sàn xi măng, không nước, không phân thì mãi mãi nó vẫn chỉ là hạt mít. Cũng hạt mít ấy, đem gieo xuống đất, tưới bón đầy đủ, nó sẽ mọc cây và kết trái. Cây đã mọc, trái đã kết, nhưng rủi gặp hạn hán thì cây sẽ chết, trái sẽ khô và chúng ta sẽ không thâu hoạch được những gì mình đã gieo trồng.
Từ vô thuỷ, chúng ta đã tạo rất nhiều ác nghiệp. Những ác nghiệp ấy nếu gặp thuận duyên sẽ sinh quả khổ. Trót tạo ác nghiệp rồi, muốn tránh quả khổ thì phải mau mau tạo nghịch duyên ngăn các nghiệp ác ấy nẩy mầm, mọc cây và kết trái.
Có nhiều cách để ngăn ác nghiệp kết thành trái khổ và giải trừ những nỗi khổ hiện hành. Nhưng thông dụng nhất là sám hối, bố thí, niệm Phật và tụng chú.
Niệm Phật và tụng chú có tác dụng giải nghiệp và tăng phúc. Điều này tất cả chúng ta đã nghe qua và đều chấp nhận. Nhưng nói bố thí cũng có tác dụng giải nghiệp thì có người không tin. Vì vậy, tôi xin nhắc lại một thí dụ do thầy Kiến Nguyệt, học trò của Thiền sư Thích Thanh Từ kể, như sau:
Ÿ chùa Na lăng Đà, có một đại đức tên là Giới Hiền, thọ tới 120 tuổi. Lúc về già, thầy bị bệnh phong thấp đau nhức như có cả ngàn cây kim châm chích vào thân. Sau 20 năm chịu đựng, thầy sinh tâm buồn chán, muốn tự tử chết. Bỗng một đêm, thầy mơ thấy ba vị đại bồ tát là Quán Âm, Văn Thù và Di Lạc hiện ra và dậy rằng: Khi xưa ông là một Hoàng Đế, thường đem quân đi chinh phạt các nước láng giềng, giết hại không biết bao nhiêu mạng người. Vì vậy, ngày nay ông mới bị mắc cái bệnh này. Phải kiên nhẫn để trả nợ. Ba năm tới đây, sẽ có một vị tăng là Đường Huyền Trang, từ Trung Hoa sang thỉnh kinh, hãy đem tất cả sở học của ông truyền lại cho vị tăng ấy, dùng phúc đưc bố thí Pháp này để trả sạch nợ xưa!
Ba năm dai dẳng trôi qua, khi gặp Đường Huyền Trang, ông mừng đến chảy nước mắt, liền theo điềm mộng mà làm, quả nhiên hết bệnh.

Viết tại Montréal, ngày 23-06-1995
Bổ túc thêm ngày 07-12-2003