Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!

  1. Chapter
  2. Pháp Tuyển - Tha Lực - Hiển Mật

Đây là một phần của sách 'Book:Pháp Tuyển - Hiển Mật'

THA LỰC


Đề tài này đã được trình bầy vào một ngày cuối tuần, cách đây không lâu. Nhưng sau buổi nói chuyện đó, một chị bạn đã gọi điện thoại cho tôi than phiền là bị tẩu hoả nhập ma.
Tôi hỏi: "Tại sao bị tầu hỏa nhập ma?"
Chị trả lời: "Khi đi dự các khoá thiền, dù Nguyên thuỷ hay Đại thừa, các thầy cũng đều dậy không cần tha lực, không cần cầu an cho người bệnh, cũng không cần cầu siêu cho người chết. Nhưng lúc đến các chùa của Tịnh Độ hay Mật Tông, các thầy lại khuyên phải nương tha lực, phải lo cầu an cho người bệnh và phải nhờ cầu siêu cho người chết! Nên tôi không biết thầy nào đúng, thầy nào sai? Tại sao cùng theo đạo Phật mà các thầy lại nói năng bất nhất như vậy?"
Nghe bạn tôi than, tôi mới chợt nhớ là trong lần nói chuyện trước, tôi đã quên không giải thích tại sao phải dùng tha lực. Đó chính là lý do khiến tôi phải nói lại đề tài này.
Thắc mắc thầy nào đúng, thầy nào sai là một lầm lẫn. Tại sao? Vì thầy nào cũng đúng cả. Nếu có sai thì chỉ có chúng ta sai mà thôi!
Các thầy tu Thiền dậy không cần tha lực, không cần cầu an, cũng không cần cầu siêu, vì các thầy nghĩ rằng đệ tử của các Thầy, ai nấy đều có thể tự mình khai mở trí tuệ, giải trừ nghiệp chướng và thoát ly ác đạo. Nếu có thể tự mình khai mở trí tuệ thì không cần tha lực. Nếu có thể tự mình giải trừ nghiệp chướng thì không cần cầu an. Nếu có thể tự mình thoát ly ác đạo thì không cầu cầu siêu.
Ngược lại, các thầy tu Tịnh hay tu Mật khuyên phải nương tha lực, phải lo cầu an và phải nhờ cầu siêu. Vì các thầy sợ đệ tử của các thầy không thể tự mình khai mở trí tuệ, giải trừ nghiệp chứơng và thoát ly ác đạo. Nếu không thể tự mình khai mở trí tuệ thì phải nương tha lực. Nếu không thể tự mình giải trừ nghiệp chướng thì phải lo cầu an. Nếu không thể tự mình, thoát ly ác đạo thì phải nhờ cầu siêu!
Tóm lại, nói: "Không cần tha lực, không cần cầu an cũng không cần cầu siêu." vốn là Phật pháp. Nhưng nói: "Phải nương tha lực, phải lo cầu an và phải nhờ cầu siêu" cũng là Phật pháp. Hai pháp ấy không hề mâu thuẫn. Nhưng nếu gượng ép để nói là có mâu thuẫn, thì sự mâu thuẫn ấy lại ở ngay nơi chúng ta.
Thực vậy, nếu chúng ta có đủ tài và đức để tự lực thì đi theo phe mạnh, không cần tha lực, không cần cầu an cũng không cần cầu siêu! Còn như không đủ tài và đức để tự lực thì phải theo phe yếu, phải nương tha lực, phải lo cầu an và phải nhờ cầu siêu!
Theo phe này hay theo phe khác là việc của chúng ta. Lại nữa, việc lựa chọn đó đúng hay sai đều tại chúng ta, không liên quan gì đến các thầy.
Nếu tất cả mọi người có mặt tại hiện trường đều theo phe mạnh, thì tôi thành thực xin lỗi vì đã chọn lầm đề tài. Nhưng nếu có một người trong quí vị theo phe yếu, thì tôi xin vì người đó mà nói, thế nào là tha lực.
Tha lực là sức của người khác, là sự giúp đỡ của chư Phật, Bồ tát, Trời hay Thần nói riêng và của chúng sinh nói chung.
Có người bảo: "Không có Phật, Bồ tát, Trời và Thần." Nói như thế thì:
1. Một là đương sự đã chứng được tướng không của các pháp, nhưng lại quên mất tướng có của chúng, nên xa lià Trung Đạo. Thực vậy, trú nơi tướng không của các pháp, rồi nói không có Phật, Bồ tát, Trời và Thần, thì có khác gì người chỉ cái ti vi đã tắt mà nói là không có hình! Không có hình vì đã tắt máy rồi, còn nếu bật lên thì thiếu gì hình?
2. Hai là đương sự chưa chứng đựơc tướng không của các pháp, nhưng bắt chước người khác mà nói. Đây là một ác nghiệp rất tai hại. Tại sao? Vì như người không phải là vua mà dỡn cợt nói năng như vua tất sẽ rước họa vào thân, hoặc như chuyện ông tăng kia, dại dột tuyên bố người đại tu không rơi vào nhân quả, nên bị đọa vào loài hồ ly và phải đợi đến 500 đời sau, mới được thiền sư Bách Trượng giải cứu cho.
3. Ba là đương sự không đọc kinh Phật, nên không biết rằng nếu lìa tướng không của các pháp thì sẽ có đủ mười cảnh giới của chư Phật, Bồ tát, Duyên giác, Thinh văn, Trời, Người, Thần, Súc vật, Ngạ quỉ và Địa ngục.
Lại có người giảng: "Tuy có Phật, Bồ tát, Trời và Thần nhưng chẳng ai giúp được chúng ta!" Giảng như vậy thì hơi quá đáng. Muốn biết câu này đúng hay sai, chúng ta phải xác định thế nào là giúp. Nếu chúng ta hiểu giúp là thay thế chúng ta để làm một việc gì, thì quả thực có những việc mà chúng ta phải tự làm lấy chứ không ai có thể làm thay chúng ta được. Thí du: Đức Phật không thể tu thay cho chúng ta. Thầy, cô không thể học thay cho chúng ta. Người thân không thể ăn thay cho chúng ta.
Nhưng nếu chúng ta hiểu giúp là tiếp tay với chúng ta để cùng làm một việc gì, thì bất luận là ai cũng có thể giúp chúng ta, miễn là họ có khả năng. Thực vậy, đức Phật có thể cùng tu với chúng ta. Thầy, cô có thể cùng học với chúng ta. Người thân có thể cùng ăn với chúng ta. Nếu đức Phật chịu cùng tu với chúng ta, thì chúng ta tu rất dễ. Nếu thầy, cô chịu cùng học với chúng ta, thì chúng ta học rất nhanh. Nếu người thân chịu cùng ăn với chúng ta thì chúng ta ăn rất ngon.
Tuy nói bất luận là ai cũng có thể giúp chúng ta làm việc này hay làm việc khác, nhưng vẫn có những chúng sinh khó mà nhờ được, thí dụ như Duyên giác, Thinh văn, Ngạ quỉ và Địa ngục. Tại sao? Vì Duyên giác và Thinh văn mải lo giải thoát một mình, nên không muốn dây dưa với người đời. Trong khi Ngạ quỉ và Địa ngục thì quá khổ, họ lo thân họ chưa xong, đâu còn thì giờ và tâm địa để nghĩ đến chúng ta?
Rút cục chỉ có chư Phật, Bồ tát, Trời, Người, Thần và Súc vật là những nơi mà chúng ta có thể trông cậy được.
Điều khác biệt là sự giúp đỡ của Trời, Người, Thần và Súc vật thường dựa trên quan niệm đổi chác. Còn sự giúp đỡ của chư Phật và Bồ tát thì luôn luôn phát xuất từ lòng từ bi.
Cho nên khi nhận sự giúp đỡ của Trời, Người, Thần và Súc vật thì chúng ta thường phải có bổn phận với họ. Bổn phận ấy đôi khi lại nặng nề và khó khăn hơn cái ơn mà họ ban cho chúng ta. Do đó, chúng ta cần phải cân nhắc cẩn thận trước khi quyết định.
Trái lại, sự giúp đỡ của chư Phật và Bồ tát thì hoàn toàn vô điều kiện. Miễn là chúng ta cần đến và thỉnh cầu là được. Tại sao? Vì các Ngài, ai nấy đều có nguyện giúp đỡ chúng sinh.
Tuy chư Phật và Bồ tát sẵn sàng giúp đỡ chúng ta, nhưng các Ngài có giúp được chúng ta không, thì còn tuỳ ở phúc đức và nghiệp chướng hiện có của từng người!
Do đó, người nhiều phúc đức, hễ cầu là được, linh ứng tức thời, như chuyện con gái của bà Duyệt Đế Lợi cầu đức Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai trong Kinh Địa Tạng.
Ngược lại, người mà nặng nghiệp thì Bồ tát có hiện ra, nhưng lại không thấy. Bồ tát có ban ơn, nhưng không hưởng được!
Bồ tát có hiện ra, nhưng lại không thấy, là chuyện thầy Vô Trước cầu diện kiến đức Di Lạc, được thầy Sogyal Rinpoche kể lại rành rẽ trong cuốn Tạng Thư Sống Chết. Bồ tát có ban ơn, nhưng không hưởng được là chuyện bà Thanh Đề, mẹ của ngài Mục Kiền Liên, trong Kinh Vu Lan.
Nói một cách khác rõ ràng hơn, nếu chúng ta cầu Phật, Phật sẽ hiện ra. Nếu chúng ta xin Phật, Phật sẽ ban ơn. Phật có hiện ra, nhưng chúng ta có thể không nhìn thấy. Phật có ban ơn, nhưng chúng ta có thể không hưởng được. Nhìn thấy hay không nhìn thấy, hưởng được hay không hưởng được đều tuỳ vào phúc đức và nghiệp chướng của chúng ta!
Nghe như vậy, có người bảo: "Nếu tất cả đều phụ thuộc vào phúc đức và nghiệp chướng của chúng ta, thì ráng lo giải nghiệp và tăng phúc, cần chi phải cầu Phật hay Bồ tát?" Đúng vậy, điều căn bản là phải giải nghiệp và tăng phúc, nhưng cách giải nghiệp và tăng phúc đơn giản nhất lại là niệm danh hiệu của Phật hay của Bồ tát. Trong lúc niệm danh hiệu của một đức Phật, chúng ta tạo ra một niệm tưởng Phật có tác dụng chuyển hóa tư tưởng bên trong và một niệm tướng Phật có khả năng thay đổi cảnh vật bên ngoài.
Niệm tưởng Phật là ý nghĩ về Đức Phật mà chúng ta cầu cứu. Ý nghĩ này sẽ xua đuổi những ác tưởng đang làm khổ chúng ta, để giúp cho thân tâm được an lạc.
Niệm tướng Phật là hình bóng của Đức Phật mà chúng ta đang nhớ đến. Hình bóng này thường mờ mờ, ảo ảo, nhưng nếu chịu khó công phu thì sẽ có ngày nó hiện ra rõ ràng như thực, để hướng dẫn chúng ta thực hiện mọi ước mơ.
Lại có người hỏi: "Nếu ai cầu Phật, Phật cũng giúp hết, thì Phật ở đâu mà ra nhiều quá vậy?" Thực ra, Phật có ba thân là Pháp thân, Báo thân và Hoá thân. Tuy chỉ có một Pháp thân chung cho tất cả Phật và một Báo thân riêng cho mỗi vị Phật, nhưng lại có rất nhiều Hóa thân. Nhiều đến độ không ai đếm được. Tại sao? Vì Hóa thân Phật do nhân duyên sinh ra. Hễ đủ nhân duyên là có Hóa thân Phật. Cũng như chỉ có một mặt trăng ở trên trời, nhưng bất cứ chỗ nào có nước mà không khuất lấp cũng đều có trăng. Trăm ngàn người gánh nước dưới trăng đều thấy trăng hiện ra trong thùng nước của mình. Lại nữa, trăng trong thùng nước của mỗi người đều giống nhau và đều có khả năng phản chiếu ánh sáng như mặt trăng thực. Cũng vậy, có người niệm Phật, Phật sẽ hiện ra. Đức Phật hiện ra ở trong tâm của người niệm Phật gọi là Hóa thân Phật hay Hóa Phật. Những Hóa Phật này không phải Phật thực, nhưng lại có khả năng giải nghiệp và tăng phúc y như Phật thực.
Do đó, chúng ta cần phải siêng năng niệm Phật. Đến khi nghiệp cạn, phúc đầy thì muốn gì chẳng được?
Vừa niệm Phật vừa lắng tai nghe tiếng niệm của mình sẽ tạo được rất nhiều công đức. Công đức này có tác dụng giúp chúng ta giải nghiệp và tăng phúc. Vì có tác dụng giải nghiệp và tăng phúc, nên ngay khi chúng ta quyết tâm niệm Phật thì dòng nghiệp quả sẽ bị giao động. Do đó, người hiền lương sẽ thấy những thay đổi tốt. Trái lại, kẻ gian ác sẽ thấy tai họa dồn dập và những ý nghĩ xấu xa đua nhau khởi lên ở trong đầu không cách nào kìm hãm được.
Cuộc chiến giữa thiện và ác, giữa công và tội có đôi lúc rất khốc liệt khiến cho nhiều người hoảng sợ không dám tiếp tục công phu. Tại sao? Vì họ tưởng rằng vừa niệm Phật vừa nghĩ bậy sẽ không có công mà chỉ có tội!
Suy luận như vậy là sai! Chúng ta phải tâm niệm rằng nghĩ bậy trong trường hợp đặc biệt này không phải là tội mà là bệnh. Chúng ta đang mắc bệnh nghĩ bậy và thuốc trị cái bệnh nghĩ bậy này chính là danh hiệu của Đức Phật hay của Bồ tát mà mình đang niệm. Tâm niệm như vậy thì chúng ta không những không sợ mà còn hăng hái niệm Phật hơn, giống như người có bệnh chịu khó uống thuốc để sớm bình phục.
Rồi cùng với thời gian, cuộc chiến giữa thiện và ác, giữa công và tội nói trên sẽ chấm dứt. Tâm tư của chúng ta sẽ được bình lặng, sáng suốt, bén nhậy và tự tại. Bấy giờ chúng ta sẽ hiểu rõ ích lợi của việc niệm Phật vậy.
Tóm lại, nếu cầu những việc hợp với phúc và nghiệp của mình thì chắc chắn sẽ được toại ý. Nghe như vậy, tất có người thắc mắc rằng nếu là việc hợp với phúc và nghiệp của mình thì tại sao lại phải cầu? Lý do là có nhiều việc phải cầu mới được! Thí dụ: Ÿ Gia Nã Đại, ai trên 65 tuổi cũng đều có tiền già. Nhưng muốn hưởng phụ cấp người già thì phải làm đơn!
Nếu cầu những việc trái với phúc và nghiệp của mình thì phải thành thực và kiên nhẫn. Thành thực là chỉ cầu những gì mình thiết tha mong đợi và mình tin rằng sẽ được. Kiên nhẫn là chịu khó niệm Phật cho đến khi giải xong nghiệp và tăng đủ phúc. Giải xong nghiệp là trừ hết các nghiệp ngăn cản chúng ta đạt được những gì mình cầu. Tăng đủ phúc là tạo được cái phúc cho phép chúng ta thụ hưởng những gì mình cầu.
Còn như muốn chư Phật dùng thần lực trợ giúp, trước khi giải xong nghiệp và tăng đủ phúc, thì phải là việc khẩn cấp, không làm khác được. Thực vậy, đức Phật luôn luôn khuyên chúng ta phải tự thắp đuốc lên mà đi, nhưng khi ông A Nan bị dâm nữ Ma Đăng Già bắt với ý định ép ông làm tình, thì Ngài liền phóng hào quang, sai bồ tát Văn Thù đem chú Lăng Nghiêm đến cứu. Tại sao? Vì Đức Phật biết là ông A Nan chưa đủ sức để tự cứu mình và cũng không có thời giờ để giải nghiệp và tăng phúc như Ngài thường dậy bảo.

Montréal, ngày 12-07-2002
Bổ túc thêm ngày 10-03-2007

Tài liệu này đã được đọc 412 lần.

    • là người cập nhật hóa tài liệu này vào ngày

Current Discussion: Main discussion

  1. No comments have been posted for this discussion.