Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!

  1. Chapter
  2. Pháp Tuyển - Thiền Luận - Hiển Mật

Đây là một phần của sách 'Book:Pháp Tuyển - Hiển Mật'

THIỀN LUẬN


Thiền là đường ra Dục giới, là ngõ vào Niết Bàn. Do đó, nó hết sức quan trọng đối với những người đang cầu giải thoát.
Chỉ tiếc là Thiền có quá nhiều dạng khác biệt, nên khi bị hỏi Thiền là gì, thì mỗi người sẽ trả lời một cách, khiến cho kẻ sơ học hoang mang không biết ai đúng, ai sai nữa!
Riêng tôi may mắn được đọc bài pháp ngữ của thiền sư Hám Sơn. Pháp ngữ của Thầy viết bằng chữ Hán và đã được dịch ra cả tiếng Anh (1) lẫn tiếng Việt (2). Nay tôi xin mạn phép tóm tắt những điểm chính để chúng ta cùng học hỏi:

"Về vấn đề lớn này, Đạo, mọi người đều sẵn có từ đầu. Điều khó khăn là từ trước đến giờ, Diệu Giác vẫn bị dục vọng và vọng niệm che khuất, khiến chúng ta chưa bao giờ thấy được sự thực, mà chỉ luẩn quẩn giữa những bóng vọng tưởng về thân, tâm và thế giới, chính vì vậy mới trôi lặn mãi trong luân hồi.
Xưa chư Phật và Tổ hiện thân vào thế giới này, đã dậy rất nhiều pháp môn để đối trị tư tưởng. Nếu các tư tưởng vọng động bỗng nhiên ngừng lại, ta sẽ thấy rõ tâm mình trước sau vốn trong sạch, mênh mông, rực rỡ, viên mãn và không có đối tượng. Đó gọi là ngộ. Bấy giờ không có gì ở ngoài tâm, không có gì để dụng công và cũng không có gì để ngộ cả!
Nói chung, vào lúc này Phật Giáo đang ở thời kỳ mạt pháp. Có nhiều người tu Đạo, nhưng rất ít vị giác ngộ. Kẻ mò mẫm dụng công tuy khá đông, nhưng bậc thụ ích và chứng Đạo lại rất hiếm. Tại sao? Chỉ vì hành giả không biết phải tu tập như thế nào?
Bước đầu của việc tu thiền là phải quên hết tất cả những gì đã nghe, đã thấy và đã biết. Phải tập trung tư tưởng vào một ý niệm, phải vững tin rằng tâm (3) mình vốn trong sạch, viên mãn, yên tịnh, trống không và ở khắp mọi nơi. Từ khởi thuỷ, không có thân, tâm (4) hay thế giới, cũng không có dục vọng hay vọng niệm nào cả.
Được như vậy rồi, mới bắt đầu dụng công tìm cho ra cái chỗ mà tư tưởng sinh ra hoặc biến mất. Nhớ lấy chỗ đó và cố phá tan nó.
Những người quyết tâm tu Đạo, phải đặt trọn niềm tin vào lời Phật dậy:
Tam giới duy tâm,
Vạn pháp duy thức.
( Ba cõi chỉ là tâm,
Vạn pháp chỉ là thức.)
Tất cả Phật Giáo chỉ là triển khai của câu văn này. Vô minh hay giác ngộ, thiện hay ác, nhân hay quả cũng chỉ là tâm. Không có mảy may gì hiện hữu ngoài tâm.Thiền giả phải coi cả thế giới này là hư vọng, như bóng trong gương, như trăng dưới nước, vốn do nhân duyên hòa hợp sinh ra, đã không có thực, lại biến đổi hoài.
Bất cứ khi nào thấy có tư tưởng khởi lên là phải tìm cho ra căn nguyên của nó. Phải luôn luôn tự nhủ: "Ÿ trong ta không có cái gì như vậy! Ngươi từ đâu tới? Ta phải thấy bản mặt của ngươi!"
Những người mà trở ngại quá lớn, vì dục vọng quá mạnh hoặc vọng niệm quá nhiều, không biết quán tâm họ ra sao hoặc tham công án cách nào, phải tập đọc kinh, niệm Phật và đặc biệt là trì chú. Vì chú là biểu tượng tâm kim cương của chư Phật. Cầm chúng trong tay như những tầm sét, ta có thể đập tan mọi chướng ngại.
Có hai loại thiền giả: Những người ngộ trước rồi mới tu và những người tu trước rồi mới ngộ. Cũng có hai loại ngộ là giải ngộ và chứng ngộ.
Giải ngộ là biết tâm nhờ Giáo lý hoặc lời nói của Phật và Tổ. Nhưng tiếc thay, đa số thức giả vẫn quen toan tính và phân biệt, nên không được tự do khi phải chạm mặt với những xung đột của cuộc sống. Tâm và cảnh chống đối nhau, không tương dung, tương nhiếp thành ra cứ bị trở ngại mãi. Như vậy gọi là tựa ngộ.
Chứng ngộ là kết quả của sự tham công án một cách đều đặn. Những người này kiên nhẫn dụng công cho đến khi tư tưởng bỗng nhiên dứt sạch, thì liền thấy tâm mình. Đó là chân ngộ.
Tuy nhiên, chứng ngộ cũng có nhiều mức độ khác nhau. Nếu có người nhờ tham công án mà lọt vào hang ổ của tám thức. Rồi khéo léo chuyển thức thứ tám thành Đại Viên Kính Trí, thức thứ bẩy thành Bình Đẳng Tính Trí, thức thứ sáu thành Diệu Quán Sát Trí và năm thức đầu thành Thành Sở Tác Trí thì người ấy đáng là bậc thượng căn và sự thực hiện của hắn mới đúng là hoàn toàn. Kẻ hạ trí tu hạnh tuần thứ mới được chút ít Đạo quả đã vội cho là đủ, không cầu tiến nữa! Họ đâu có biết nếu không chuyển đươc tám thức, thì bất cứ những gì ta thấy hoặc làm cũng chỉ là ảo tưởng. Lầm coi những ảo tưởng ấy là thực, tức là nhận giặc làm con vậy!"

Đọc xong bài tóm tắt pháp ngữ của thầy Hám Sơn, chúng ta có thể kết luận: "Thiền chủ trương phải ngưng suy nghĩ để nhìn rõ tâm mình. Trong khi đếm hơi thở, đọc kinh sách, niệm Phật hiệu, tụng thần chú, quán thoại đầu và tham công án đều chỉ là những phương tiện mà thiền gia thường dùng trong giai đoạn tìm tâm. "
Tìm tâm rất khó, phải biết cách công phu và phải bắt đầu càng sớm càng tốt. Tại sao lại phải bắt đầu càng sớm càng tốt? Để cho dễ hiểu, tôi xin lấy chuyện thế gian làm thí dụ. Đa số chúng ta đều biết đi xe đạp. Được tập từ nhỏ thì rất dễ. Nếu đợi đến sáu, bẩy chục tuổi mới tập thì không những là khó mà còn có thể ngã chết nữa! Vốn sinh trưởng ở một miền quê hẻo lánh, mãi năm mười hai tuổi tản cư ra Hà Nội, tôi mới có dịp tập đi xe đạp. Hồi đó, ở gần nhà không có xe nhỏ, tôi phải thuê một cái xe lớn và một bác phu xe đi theo để giúp tôi giữ cân bằng. Mặc dầu có người giúp đỡ tận tình, nhưng tôi vẫn bị té nhiều lần, rồi mới thành công. Sau này, khi lập gia đình, có con cái, ngay khi chúng còn nhỏ, tôi đã mua cho chúng một cái xe ba bánh và lạ thay chỉ cần chỉ bảo sơ sơ mà cháu nào cháu nấy đều biết đi xe cả!
Trẻ con học dễ hơn người lớn, một mặt vì có phương tiện tốt là cái xe ba bánh, mặt khác nhờ tính ngây thơ, không phân biệt việc làm và giải trí. Thích thì đi, chán thì bỏ, chẳng nôn nao, chẳng miễn cưỡng, chỉ tuỳ tiện đạp tới, đạp lui mà trở thành thuần thục lúc nào không biết.
Cũng vậy, chúng ta phải an nhiên tự tại, bận thì thôi còn rảnh liền phát tâm niệm Phật, lắng tai nghe tiếng và nhắm mắt ngó chừng. Niệm chữ nào, nghe chữ nấy. Niệm ở đâu ngó ở đó. Cứ thế mà làm sẽ có ngày chúng ta trở thành thiền gia!
Nói như vậy, tất có người phản đối, viện lẽ niệm Phật không phải là Thiền. Thực ra, niệm Phật để tìm Phật không tìm tâm thì kêu là Tịnh, còn niệm Phật để tìm tâm không tìm Phật thì lại là Thiền!
Lại nữa, phát tâm niệm Phật là lấy tâm niệm Phật. Lấy tâm niệm Phật thì chỉ có một mình mình nghe, một mình mình biết, nên gọi là mật niệm. Lắng tai nghe tiếng niệm của mình, gọi là phản văn. Còn nhắm mắt nhìn tâm mình niệm Phật gọi là hồi quang. Hồi quang và phản văn là tuyệt học của Thiền tông. Phản văn và mật niệm là diệu pháp của Tịnh Độ. Ai muốn tu vừa Thiền vừa Tịnh thì phải học cả ba môn đó.
Điều quan trọng là không được hấp tấp cũng không được lười biếng. Vì hấp tấp thì tẩu hỏa nhập ma, còn lười biếng thì lỡ việc. Phải bắt chước con nít, học mà không học mới là thượng sách.

Montréal, ngày 12 02 1989

CHÚ THÍCH

1. Discourse of Master Han Shan: Xem The practice of Zen by Chang Chen Chi, Green wood Press Publishers. 1978.
2. Pháp ngữ của Hám Sơn Đai Sư: Xem Thiền Đạo Tu Tập, dịch giả Như Hạnh, Nhà in Kinh Thi, Saigon, 1972.
3. Tâm: Chân tâm, cũng gọi là tâm thể tức là bản thể của tám thức.
4. Tâm: Vọng tâm, tức là sáu thức đầu có khả năng phân biệt trần cảnh.

Tài liệu này đã được đọc 355 lần.

    • là người cập nhật hóa tài liệu này vào ngày

Current Discussion: Main discussion

  1. No comments have been posted for this discussion.