Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!

  1. Chapter
  2. Pháp Tuyển - Thiền Tịnh Đối Chiếu - Hiển Mật

Đây là một phần của sách 'Book:Pháp Tuyển - Hiển Mật'

THIỀN TỊNH ĐỐI CHIẾU


Thiền thông thường là lặng lẽ suy nghĩ về một đề tài mà mình ưa thích hoặc thắc mắc. Đề tài thì vô số và cách nghĩ cũng vô cùng. Do đó, mới có nhiều loại thiền khác nhau như: Ngoại đạo thiền, Phàm phu thiền, Tiểu thừa thiền, Đại thừa thiền và Thượng thừa thiền.
Ngoại đạo thiền là phép thiền của những người tà kiến, không tin nhân quả, mà chỉ tham cầu phúc lợi thực tế, như cầu sống lâu, cầu khai huyệt, cầu thần thông v.v...và sẵn sàng làm đủ mọi việc ác để đạt được mục đích.
Phàm phu thiền là phép thiền của những người chính kiến, tin sâu nhân quả, tránh dữ, làm lành, nhưng không lo đoạn trừ phiền não mà chỉ thích về các cõi Trời để hưởng phúc.
Tiểu thừa thiền là phép thiền của những người siêng năng đoạn trừ phiền não để thoát ly tam giới. Tuy biết con người vốn do năm uẩn hợp thành, không có một thực thể cá biệt nào có thể gọi là ta, là tôi, nhưng vẫn muốn nhập Niết Bàn.
Đại thừa thiền là phép thiền của những người sớm biết cả ta (ngã) và cảnh (pháp) đều không, nên thường tu các môn như Pháp Hoa tam muội, Lăng Nghiêm tam muội, Kim Cương tam muội v.v... để tìm Chân tính.
Thượng thừa thiền là phép thiền của những người hết sức linh lợi chỉ cần nghe một câu nói hay thấy một động tác thích hợp là có thể nhận ra Chân tính ngay. Thượng thừa thiền không có phương pháp rõ rệt chỉ tùy theo cơ duyên mà giáo hóa.
Mặc dầu thiền có nhiều loại, nhưng khi nói tôi "thích thiền", chắc chắn chúng ta không nhắm vào Ngoại đạo thiền, Phàm phu thiền hay Tiểu thừa thiền. Tại sao? Vì chúng không thể giúp chúng ta thấy tính được. Chính vì thế, khi nhắc đến thiền đa số chúng ta đều muốn học Thượng thừa thiền.
Thượng thừa thiền dành cho những người linh lợi, nếu là bậc thượng căn linh lợi thì chỉ cần một câu nói hay một động tác thích hợp cũng đủ gíúp chúng ta nhận ra Chân tính. Bằng không được linh lợi như vậy, thì phải tập quán tâm để tạo cơ hội cho việc thấy tính. Kỹ thuật quán tâm nổi tiếng của thiền là tham công án.
Công án, nghiã đen là một văn bản đặt sẵn trên bàn để chờ cứu xét. Còn theo nghiã bóng nó là đề tài tham cứu của thiền sinh. Tuy công án là đề tài tham cứu của thiền sinh, nhưng không phải đề tài nào cũng là công án. Thực vậy, công án là một lời nói bí ẩn, mà ngay khi nghe xong, chúng ta liền thấy bàng hoàng xúc động, tựa như các thanh niên, thiếu nữ đang tuổi dậy thì bị trúng sét ái tình vậy! Với người tu thiền, công án là tiếng sét Tông Môn. Vì khi bị nó đánh trúng thì người ấy thực không còn lối thoát. Muốn nói, nhưng không biết nói gì. Muốn quên, nhưng lại quên không được. Ngày đêm sáu thời đều bị nó ám ảnh mãnh liệt. Đến nỗi đi, đứng, nằm, ngồi lúc nào cũng chỉ có một thắc mắc duy nhất là làm sao phá giải được công án?
Sự thắc mắc lạ lùng này được thiền gia gọi là nghi tình và đó cũng chính là sơ tâm của Thiền Tông. Sau khi phát được sơ tâm, hành giả phải cố giải nghi tình và gắng phá vô minh.
Vô minh là không sáng suốt, là mê muội đến độ không thấy được Chân tính. Vô minh có hai loại chính: Một là khi tư tưởng phát sinh thì cả tâm và cảnh đều hiện ra một lượt. Phàm phu không rõ nguyên do, lầm tưởng là có ngã (ta), có pháp (cảnh), nên mới tạo ra đủ thứ nghiệp hoặc lành, hoặc dữ rồi theo đó mà lưu chuyển trong vòng sinh tử. Đây là sự mê tướng của những người chấp có. Hai là khi tư tưởng đoạn diệt thì cả tâm và cảnh đều biến mất. Ngoại đạo không rõ nguyên do lầm tưởng là không ngã, không pháp, nên mới bác thuyết nhân quả, chê việc giữ giới, lôi kéo chúng sinh vào đường tội lỗi. Đó là sự muội tính của những kẻ chấp không.
Chẳng chấp có, chẳng chấp không, người tu thiền lặng lẽ nuôi lớn nghi tình mãi cho đến lúc nó phải bùng nổ và phá tan hai thứ vô minh nói trên, gọi là thiền hạnh. Thiền hạnh viên mãn, tất sẽ thấy tính và thành Phật. Đó là điều mà các đệ tử Thiền Tông thường mong mỏi!
Tham thiền là như vậy. Niệm Phật phải làm sao? Chắc chắn quí vị đều nhớ: Mục đích cuối cùng của Phật Gíáo là giải thoát. Do đó, trên lý thuyết tất cả các pháp đều đưa vào bờ Giác của Như Lai. Còn thực tế, quả Phật tuy đồng, nhưng lòng người lại khác. Cho nên mỗi pháp đều có những sắc thái riêng biệt không thể lầm lẫn được. Điều này rất dễ hiểu, chỉ cần quan sát đoàn du khách đang trên đường về, là chúng ta sẽ thấy: Có người thích quay thẳng về nhà sau những ngày dài xa vắng. Có kẻ muốn dừng chân tạm nghỉ ở một quán trọ bên đường trước khi chấm dứt chuyến đi vất vả của mình. Tuy cả hai đều có cùng một mục đích là trở về, nhưng lộ trình của họ lại không giống nhau. Sự khác biệt giữa Thiền và Tịnh cũng y như thế! Trong lúc các đệ tử Thiền Tông mong mỏi thấy tính và thành Phật ngay trong đời này, thì các tín đồ Tịnh Độ lại ao ước sinh về Cực Lạc trước, rồi mới tiếp tục tu học để thành Phật sau.
Theo kinh sách để lại, muốn vãng sinh Cực Lạc, trước hết chúng ta phải tin tưởng có cõi Cực Lạc và phải thường ao ước được sinh về đấy. Đó là sơ tâm của Tịnh Độ, gọi là tín nguyện.
Đủ tín nguyện rồi, mới gia công niệm Phật. Niệm Phật có bốn cách chính là :
1. Trì danh niệm Phật là nhớ đến Phật bằng cách nhắc đi, nhắc lại danh hiệu của Ngài. Pháp này được thầy Thích Thiền Tâm giảng dậy rõ ràng trong cuốn Niệm Phật Thập Yếu.
2. Quán tượng niệm Phật là nhớ đến Phật bằng cách quán sát hình tượng của Ngài.
3. Quán tưởng niệm Phật là nhớ đến Phật bằng cách tưởng tượng thấy Ngài ở trên Cực Lạc. Pháp này được đức Thích Ca giảng dậy rõ ràng trong Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật.
4. Thực tướng niệm Phật là nhớ đến Phật bằng cách chiêm ngưỡng thực tướng của Ngài.
Tuy có bốn cách chính để niệm Phật, nhưng phổ thông nhất là pháp trì danh.
Muốn học pháp trì danh, phải chịu khó niệm danh hiệu Phật A Di Đà mãi cho đến lúc đạt được nhất tâm. Nhất là một; Tâm là lòng. Nhất tâm là một lòng tưởng nhớ đến Phật ngoài ra không thiết gì nữa! Niệm Phật đến độ nhất tâm gọi là viên mãn tịnh hạnh. Nếu tín, nguyện và tịnh hạnh đều trọn vẹn thì nhất định khi chết sẽ được Phật A Di Đà hiện đến đón về Cực Lạc. Đây chính là điều mà các tín đồ Tịnh Độ hằng ao ước.
Tóm lại, người tham thiền phải khởi được nghi tình và phá tan vô minh thì mới thấy tính thành Phật được. Còn người niệm Phật phải đầy đủ tín, nguyện và thành tựu nhất tâm thì lúc chết mới được Phật A Di Đà đích thân đón về Cực Lạc. (Nếu chỉ có tín, nguyện và chưa được nhất tâm thì cũng vẫn được về Cực Lạc, nhưng người đến đón không phải là Phật). Nói một cách khác:


THIỀN TỊNH
SƠ TÂM Nghi tình: Thắc mắc quyết phá giải công án. Tín nguyện :Tin tưởng và khao khát được sinh về Cực Lạc.
LẬP HẠNH Tham công án cho đến khi thấu thoát nghi tình và phá tan vô minh. Niệm danh hiệu Phật A Di Đà cho đến lúc đạt được nhất tâm.
THÀNH QỦA Thấy tính thành Phật. Vãng sinh Cực Lạc.

1. Tịnh Độ lớn mạnh nhờ lòng tin tưởng và khao khát được về Cực Lạc của các tín đồ, gọi là tín nguyện. Còn Thiền Tông nổi tiếng vì sự thắc mắc quyết phá giải công án của các đệ tử, gọi là nghi tình.
2. Tịnh Độ dậy tín đồ niệm Phật hiệu để đạt nhất tâm, còn Thiền Tông khuyên đệ tử dùng công án mà phá vô minh.
3. Tịnh Độ lấy vãng sinh Cực Lạc làm chuẩn, còn Thiền Tông chọn thấy tính thành Phật làm đích.
Trên cả ba phương diện: Sơ tâm, lập hạnh và thành quả, Tịnh và Thiền đều khác biệt rõ rệt :
1. Về thành quả, Tịnh dễ hơn Thiền. Vì mục đích của Thiền là thành Phật ngay trong đời này. Còn của Tịnh là về Cực Lạc trước, rồi mới tiếp tục tu học để thành Phật sau.
2. Về lập hạnh, Tịnh dễ hơn Thiền. Vì Tịnh Độ dậy niệm Phật hiệu để đạt nhất tâm. Niệm Phật hiệu và đạt nhất tâm đều là những việc cụ thể, ai ai cũng hiểu được rõ ràng. Trong khi, Thiền Tông khuyên tham công án để phá vô minh. Tham công án và phá vô minh toàn là những việc trừu tượng mà ngay cả các thiền sư đắc Đạo cũng không thể giải thích và hướng dẫn cho chúng ta một cách minh bạch được.
3. Về sơ tâm, Tịnh dễ hơn Thiền. Vì tham thiền phải có nghi tình, mà người có nghi tình thì rất hiếm, không dễ gì gặp được! Trái lại, niệm Phật chỉ cần tín nguyện và người hay tin thường rất dễ tìm.
Nghe đến đây, chắc chắn quí vị đã có một ý niệm khá rõ rệt về : Thế nào là Thiền? Thế nào là Tịnh? Thế nào là sự khác biệt giữa Tịnh và Thiền? Tuy nhiên chúng ta phải luôn luôn nhớ rằng Thiền và Tịnh dẫu có khác, cũng chỉ khác về mức độ cao thấp, còn về thực chất nó vốn là một. Thậm chí, chúng ta có thể nói Tịnh là bước đầu của Thiền và Thiền là trạm cuối của Tịnh. Vì tất cả những người đắc pháp trì danh đều phải tiếp tục tham thiền cho đến khi thành Đạo, đúng như lời nguyện thứ mười một của đức Đạo sư A Di Đà trong lúc còn làm tỳ kheo, như sau:
"Giả sử con được thành Phật, nếu hàng Trời, người ở trong nước con chẳng trụ Chính định mãi cho tới lúc chứng được Niết Bàn, con nguyện không giữ lấy ngôi Chính Giác."
Xem như vậy, Thiền và Tịnh bề ngoài tuy khác nhưng bên trong lại đồng. Do đó, tu Thiền hay học Tịnh đều tùy ở cái tâm sơ phát của chúng ta, nghiã là : Đủ tín nguyện thì niệm Phật, sẵn nghi tình thì tham thiền. Có cả hai thì tùy duyên mà chọn. Nhược bằng không đủ tín nguyện cũng không sẵn nghi tình thì nên niệm Phật và đọc kinh A Di Đà.
Tại sao lại đọc kinh A Di Đà? Vì kinh này không những mở được đức tin mà còn tích cực thúc dục chúng ta phát nguyện vãng sinh! Lời văn thân mật thiết tha, tựa như cha mẹ khuyên con. Chỉ cần chăm chú đọc hoài thế nào cũng có ngày chúng ta sẽ nghe lời Phật, dứt bỏ tình đời se duyên Cực Lạc. Điều khó khăn là phải tìm được một bản dịch kinh A Di Đà vừa dễ hiểu, vừa lưu loát để hễ đọc lên là thấy thích liền. Có như thế thì việc tu hành mới được thuận lợi.
Viết tại Montréal, ngày 30-12-1990
Bổ túc thêm ngày 15-07-1994

CHÚ THÍCH

Muốn nghiên cứu về Thiền công án, nên đọc những cuốn sách sau :
a. THE PRACTICE OF ZEN của Chan Chen Chi do nhà xuất bản Harper & Row Publishers ở New York (Hoa Kỳ) phát hành vào năm 1959.
b. THIỀN ĐẠO TU TẬP của Chang Chen Chi, tức là Trương Trừng Cơ, được Như Hạnh dịch ra tiếng Việt và nhà xuất bản Kinh Thi ở Saigon phát hành vào năm 1972.
c. THE SECRETS OF CHINESE MEDITATION của Lu K’uan Yu, tức là Charles Luk, do nhà xuất bản Samuel Weiser Inc. ở York Beach (Hoa Kỳ) phát hành vào năm 1964.

Tài liệu này đã được đọc 305 lần.

    • là người cập nhật hóa tài liệu này vào ngày

Current Discussion: Main discussion

  1. No comments have been posted for this discussion.