Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!

  1. Chapter
  2. Pháp Tuyển - Thiền Tịnh Song Tu - Hiển Mật

Đây là một phần của sách 'Book:Pháp Tuyển - Hiển Mật'

THIỀN TỊNH SONG TU


Thiền tịnh song tu là một pháp môn hỗn hợp dành cho những người thích học thiền định, nhưng lại không chắc sẽ đắc Đạo ngay trong đời này. Không chắc sẽ đắc Đạo ngay trong đời này, lại sợ bị thoái chuyển ở đời sau, nên ngoài việc thiền định, họ còn niệm Phật, cầu cho kiếp tới sẽ được sinh về Cực Lạc, để tiếp tục việc học còn đang dang dở.

ĐỊNH NGHIÃ
1. Tu thiền, hiểu theo nghiã rộng, là tu thiền định. Tu thiền định là tập trung tư tưởng để hoặc chỉ tịnh đặng giữ tâm yên lặng, hoặc quán tưởng đặng khởi các tác dụng, hoặc tham thiền đặng thâm nhập chân tính.
2. Tu tịnh hay tu Tịnh Độ là niệm Phật A Di Đà để xin kiếp tới, sẽ được sinh về Cực Lạc, học Đạo.
3. Thiền tịnh song tu không phải là đứng dạng chân trên hai chiếc thuyền: một Thiền, một Tịnh, như nhiều người lầm tưởng! Thiền tịnh song tu là tập thiền định ở Ta Bà này, rồi đem công đức hồi hướng xin về Cực Lạc du học. Như người vừa đi Hương Cảng, vừa về Việt Nam. Những người này không đứng dạng chân trên hai con tầu: một đi Hương Cảng, một về Việt Nam, mà chỉ dùng một con tầu để đi Hương Cảng. Đến Hương Cảng rồi, mới lại lấy tầu để về Việt Nam. Cũng vậy, người song tu thiền tịnh, hàng ngày siêng năng thiền định, dùng công đức ấy hồi hướng xin về Cực Lạc. Tới Cực Lạc rồi, sẽ tiếp tục công phu cho đến khi đắc Đạo!

LÝ DO CHỌN SONG TU THIỀN TỊNH
Tại sao chúng ta lại chọn song tu thiền tịnh? Vì chuyên tu thiền định rất khó. Ít có người đắc Đạo ngay trong đời này. Nếu không đắc Đạo ngay trong đời này, thì sẽ phải tiếp tục tu học ở đời sau. Nhưng tới đời sau, đã chắc gì chúng ta có đủ thuận duyên để tu thiền? Bởi đường đời đầy cạm bẫy mà nghiệp báo lại khó lường, nên phần lớn những người chuyên tu thiền định đều gặp rắc rối vì ơn, oán của đời trước, hoặc lầm lẫn của đời này.
Để tránh những rủi ro có thể xẩy ra, làm ngăn trở việc thăng tiến của chúng ta, chúng ta nên chọn song tu thiền tịnh, để xin kiếp tới sẽ được sinh về Cực Lạc tiếp tục học Đạo. Một khi về được Cực Lạc, thì sẽ không sợ thoái chuyển nữa! Tại sao? Vì Cực Lạc là một Phật Học Viện rất lớn, tại đó có thầy hay, bạn tốt cùng tất cả những phương tiện cần thiết cho việc tu hành.
Còn nếu không về Cực Lạc, thì kiếp tới sẽ phải trở lại luân hồi. May ra là được làm người hay làm trời. Nhưng dù có được làm người hay làm trời thì cũng vẫn phải đương đầu với trăm ngàn thử thách khó khăn của cuộc sống!
Để cụ thể hoá ý này, tôi xin kể một chuyện có thực, do chính tác giả là Ngộ Đạt Thiền sư thuật lại, trong phần Duyên Khởi của cuốn Từ Bi Tam Muội Thuỷ Sám, như sau:
"Dưới triều vua Đường Ý Tôn, ở bên Tầu, có một vị Quốc sư tên là Trí Huyền, hiệu là Ngộ Đạt.
Lúc chưa hiển đạt, ông thường liên lạc với một nhà sư, trong một ngôi chùa ở Kinh Sư. Nhà sư này mắc bệnh cùi, ai cũng gớm ghiếc lánh xa, chỉ có ông hay gần gũi hỏi han, không hề nhàm chán.
Nhân khi chia tay, nhà sư vì cảm kích phong thái của ông, nên mới dặn rằng:
Mai này, nếu gặp nạn chi thì cứ đến núi Cửu Lũng, ở Bình Châu, thuộc Tây Thục tìm tôi, ngay nơi có hai cây tùng lớn!
Sau đó ít lâu, ông được phong làm Quốc sư và dọn đến ở chùa An Quốc. Bấy giờ, Đạo hạnh của ông vang dậy khắp nơi. Vì vậy, vua Ý Tôn mới thân hành đến tận nơi, nghe ông thuyết Pháp, rồi ban cho ông một cái Pháp toạ, bằng gỗ trầm hương rất quí.
Từ đấy, trên đầu gối của ông mọc một mụn ghẻ, có hình mặt người đau nhức khôn xiết. Ơng cho mời các danh y về chữa trị, nhưng ai nấy đều bó tay!
Một hôm, chợt nhớ đến lời dặn của nhà sư cùi, ông vội vàng lên đường tìm kiếm. Tới núi Cửu Lũng, vào lúc chập choạng tối, trong cảnh âm u, mây bay, khói toả, ông chợt thấy hai cây tùng sừng sững, liền rảo bước đến gần. Quả nhiên, nơi ấy có lầu vàng, điện ngọc, lộng lẫy, nguy nga, hào quang chói lọi. Trước cửa, có nhà sư mà ông quen biết, đang đứng chờ và mời ông vào nhà.
Đêm ấy, ông kể cho nhà sư nghe nỗi khổ của mình và được nhà sư an ủi:
- Không hề gì! Dưới chân núi có một cái suối, có thể trị dứt căn bệnh của ông. Cứ yên tâm ngủ cho khoẻ, ngày mai sẽ tính!
Tờ mờ sáng hôm sau, một chú tiểu đồng đến phòng tìm ông và dẫn ông ra suối. Ơng vừa bụm nước, định rửa thì mụn ghẻ ấy bỗng kêu lên:
- Đừng rửa vội! Ơng học nhiều hiểu rộng, vậy đã từng đọc chuyện Viên Áng giết Tiều Thố trong bộ Tây Hán chưa?
- Tôi có đọc!
- Ơng có đọc chuyện đó, lẽ nào không biết, Tiều Thố bị giết ở chợ phiá Đông rất là oan ức? Tiều Thố ấy chính là tôi, còn Viên Áng ấy chính là ông. Cho nên, tôi mới theo ông để báo thù. Song đã mười đời, ông làm cao tăng, giữ tròn giới luật, khiến tôi không thể ra tay. Ai dè đời này, được vua yêu chuộng, tặng cho bảo tọa làm ông khởi lòng tham danh, thích lợi. Do đó, tôi mới có cơ hội trả mối hận năm xưa. Cũng may, ông được tôn giả Ca Nặc Ca giúp đỡ, dùng nước tam muội rửa sạch oán này. Từ nay, nợ nần đã dứt, tôi sẽ không theo phá ông nữa!
Nghe mụn ghẻ nói vậy, ông hoảng sợ, vội vàng bụm nước rửa nó. Tức thời, ông cảm thấy đau nhức dữ dộ, đến độ ngất đi. Lúc tỉnh dậy, thì bệnh đã khỏi.
Ơng liền trở lại đường cũ, định về cám ơn tôn giả Ca Nặc Ca, nhưng ngôi bảo điện đêm qua đã biến mất, không còn dấu vết."
Bây giờ, hẳn quí vị đã thấy: mười đời làm cao tăng, giữ tròn giới luật, chỉ có một chút lỡ lầm cũng đủ cho kẻ thù lợi dụng để báo oán, làm trở ngại đường tu.
Trong "Niệm Phật Thập Yếu", Hòa thượng Thích Thiền Tâm cũng kể chuyện sư Giám Không, như sau: Ÿ bên Tầu, về đời nhà Đường, nơi chùa Hương Sơn, đất Lạc Dương, có sư Thích Giám Không. Sư họ Tề, sinh ở Ngô Quận.
Thuở nhỏ, ông nghèo khổ, tuy siêng năng học hành, nhưng chẳng nhớ được bao nhiêu! Lớn lên thích làm thi văn, song chỉ là loại tầm thường. Ơng thường đi lại vùng Ngô, Sở yết kiến các quan Hầu, Bá, nhưng không được trọng dụng. Khi có tiền, thì đau yếu. Hết tiền, bệnh mới khỏi!
Đầu niên hiệu Nguyên Hòa, ông dạo chơi xứ Tiền Đường, gặp lúc mất mùa. Lương thực khan hiếm. Định đến chùa Thiên Trúc để xin ăn. Nhưng vừa tới phiá Tây của Cô Sơn Tự, thì đói quá, không đì được nữa! Nên phải ngồi lại bên bờ suối, rơi lệ, ngâm vài câu bi phẫn. Chợt có vị Phạn tăng, theo giòng suối tới, nhìn ông, mỉm cười và hỏi: "Pháp sư đã nếm đủ hương vị lữ du (voyageur) chưa?"
Ơng đáp: "Hương vị lữ du, có thể gọi là đã nếm đủ, nhưng tôi tên là Quân Phòng, chưa từng làm Pháp sư!"
Phạn tăng nói: "Ơng không nhớ lúc giảng kinh Pháp Hoa ở chùa Đông Đức sao?"
Đáp: "Từ khi sinh ra đến nay, tôi chỉ quanh quẩn ở vùng Ngô, Sở, chưa từng bước tới kinh đô. Đâu lại có chuyện giảng kinh tại Lạc Trung như thế!"
Phạn tăng nói: "Chắc ông bị lửa đói thiêu đốt, nên quên hết việc quá khứ rồi!" Nói xong, liền lần trong đẫy lấy ra một quả táo lớn bằng nắm tay, trao cho ông và bảo: "Quả táo này sản xuất ở nước của ta, bậc thượng trí ăn vào sẽ biết rõ quá khứ, vị lai; còn người hạ căn thì sẽ nhớ được kiếp trước."
Ơng tiếp lấy qủa táo ăn xong, vốc nườc suối uống. Chợt cảm thấy mệt, liền tựa đầu vào tảng đá gần đó mà ngủ. Giây phút tỉnh dậy, nhớ tiền thân làm Pháp sư giảng kinh cùng bốn bạn đồng tu, rõ rệt như việc ngày hôm qua. Rơi lệ, hỏi Phạn tăng rằng: "Hòa Thương Chấn bây giờ ở đâu? "
Đáp: "Công tu tập chưa tới mức, nên chuyển sinh làm tăng ở đất Tây Thục!"
Lại hỏi: "Thượng nhân Trần và Pháp sư Ngô bây giờ ra sao?"
Đáp: "Thượng nhân Trần chưa trả xong túc duyên, nên đã hoàn tục, còn Pháp sư Ngô, bởi có lần, đứng trước tượng đá chùa Hương Sơn, nguyện giỡn rằng, kiếp này không chứng Đạo, đời sau nguyện làm quí thần, nên đã sinh làm Đại tướng thống lãnh quỉ thần." Trong năm người cùng tu khi xưa, chỉ có ta được giải thoát. Ba vị kia thì như thế, còn ngươi thì bị đói khổ nơi đây!
Quân Phòng nghe xong, khóc và nói: "Kiếp trước, mỗi ngày, tôi chỉ ăn một bữa, thân chỉ đắp một y, việc trần tục đã dứt trừ, cớ sao lại kém phúc, để đến nỗi phải ra người đói khổ?"
Phạn tăng đáp: "Khi xưa, ông ngồi trên Pháp tọa, hay nói chuyện vu vơ, khiến thính chúng sinh lòng nghi hoặc, lại nữa, giới hạnh còn khiếm khuyết, nên mới bị báo ứng như ngày nay!"
Xem như vậy, người tu thiền, muốn được tự tại, thì phải đạt đến mức, nghiệp sạch, tình không. Nếu chẳng được như vậy, thì khó tránh bị đọa lạc! Đây chính là lý do, khiến thiền sư Diên Thọ phải lên tiếng cảnh tỉnh chúng ta, bằng những vần thơ sau:
Có Thiền, không Tịnh độ,
Mười tu, chín lạc đường!
Khi ấm cảnh hiện ra,
Liền theo nó mà đi.
Không Thiền, có Tịnh độ,
Mười tu, mười vãng sinh.
Gần Phật A Di Đà,
Lo gì không khai ngộ?
Có Thiền, lại có Tịnh,
Như mãnh hổ thêm sừng.
Kiếp này được làm thầy.
Đời sau làm Phật, Tổ!
Không Thiền cũng không Tịnh,
Giường sắt, cột đồng chờ.
Muôn kiếp và ngàn đời,
Vẫn không nơi nương tựa!
Nói: "Khi ấm cảnh hiện ra, liền theo nó mà đi" là trường hợp của những người chưa sạch nghiệp, chưa cạn tình, nên khi lâm chung, thần lià khỏi xác, nhìn thấy ấm cảnh, liền động lòng ưa thích, rồi theo đó mà trở lại luân hồi, như chuyện của ông tăng, sau đây:
Một hôm, đang ngồi trong thiền đường, Nam Tuyền bỗng la lớn, khiến cho thiền chúng giật mình, ngơ ngác. Tiếp theo, thầy kêu thị giả xuống nhà dưỡng bệnh, gọi ông tăng đương nằm co cắp ở đó, lên và bảo: "Ơng hãy kể lại những gì ông vừa thấy!"
Ơng tăng nói: "Con mệt quá, nên thiếp đi và mơ thấy mình đang đứng trước một lầu son lộng lẫy. Con định bước vào! Bỗng nghe thấy một tiếng hét lớn, nên giật mình tỉnh dậy và thấy mình còn nằm trên giường!"
Nam Tuyền nói: "Nếu ta không hét lên, thì ông đã bị đầu thai làm kỹ nữ rồi!"
Qua thí dụ trên, nếu không thể đạt đến mức nghiệp sạch, tình không, thì chúng ta nên qui hướng Tịnh Độ, để khi mãn kiếp sống này, sẽ được sinh về Cực Lạc, tiếp tục tu học một cách an toàn và chắc chắn.

PHƯƠNG PHÁP SONG TU THIỀN TỊNH
Có ba cách song tu thiền tịnh: một là thiền định trước rồi niệm Phật sau, hai là Niệm Phật trước rồi thiền định sau, ba là niệm Phật và thiền định cùng lúc.
1. Thiền định trước rồi niệm Phật sau: Đây là cách dụng công của những người bắt đầu khóa lễ bằng cách tọa thiền, thông qua các tiết mục: điều thân, điều tức, điều tâm, nhập thiền, trụ thiền, xả thiền. Rồi mới niệm Phật và hồi hướng công đức để xin kiếp tới sẽ được sinh về Cực Lạc tiếp tục tu học.
2. Niệm Phật trước rồi thiền định sau : Đây là cách dụng công của những người bắt đầu khóa lễ bằng cách niệm Phật để xin: Sống thời yên vui thiền định, chết được sinh về Cực Lạc tiếp tục học Đạo. Sau đó, mới tọa thiền như tất cả các thiền sinh khác.
3. Niệm Phật và thiền định cùng lúc: Đây là một phương pháp rất độc đáo, trong đó hai môn niệm Phật và thiền định tưởng như khác biệt được kết hợp lại một cách hoà hài, không mâu thuẫn cũng không gượng ép. Có nhiều cách để niệm Phật và thiền định cùng lúc, nhưng phổ thông nhất là: Nhiếp tâm niệm Phật, Điều tức niệm Phật, Quán tượng niệm Phật, Tham cứu niệm Phật và Phản văn niệm Phật.
a. Nhiếp tâm niệm Phật: Vừa niệm Phật vừa ngưng nghĩ vẩn vơ. Người tu pháp này phải luôn nhớ đến Phật. Mỗi khi thấy một tư tưởng khác lạ khởi lên là phải chặn đứng nó ngay, không cho tiếp tục. Luyện tập lâu ngày, tâm của người ấy sẽ rời bỏ sáu trần, tự nhiên cảm ứng với nguyện lực của Phật A Di Đà, thấy cảnh Tây Phương hiện ra rực rỡ. Pháp này bao gồm hai môn là niệm Phật hiệu và thiền chỉ tịnh.
b. Điều tức niệm Phật: Vừa niệm Phật vừa điều hòa hơi thở. Thở ra niệm NAM. Hít vào không niệm. Thở ra niệm MƠ. Hít vào không niệm. Thở ra niệm A. Hít vào không niệm. Thở ra niệm DI. Hít vào không niệm. Thở ra niệm ĐÀ. Hít vào không niệm. Thở ra niệm PHẬT. Hít vào không niệm. Pháp này bao gồm hai môn là niệm Phật hiệu và thiền hơi thở.
c. Quán tượng niệm Phật: Vừa niệm Phật vừa quan sát hình tượng của Ngài mãi cho đến lúc nhắm mắt mà vẫn thấy tượng ấy hiện ra rõ ràng như thực, gọi là quán được thân Phật. Pháp này bao gồm hai môn là niệm Phật hiệu và thiền đề mục.
d. Tham cứu niệm Phật: Vừa niệm Phật vừa theo dõi xem ai đang niệm Phật. Cứ thế mà tập mãi cho đến lúc nhận ra tâm và tâm thể, gọi là giác ngộ. Pháp này bao gồm hai môn là niệm Phật hiệu và thiền công án.
e. Phản văn niệm Phật: Miệng niệm Phật, tai lắng nghe, kiểm soát từng câu, từng chữ, rõ ràng, rành mạch. Dần dần quên hết thân, tâm và cảnh vật, chỉ còn tiếng niệm Phật hiệu liên tục không dứt, gọi là thành tựu nhất tâm. Pháp này bao gồm hai môn là niệm Phật hiệu và thiền minh sát, được rất nhiều người ưa thích và tặng cho nó cái biệt danh là Tịnh Độ thiền.

KẾT LUẬN
Nếu không đắc Đạo ngay trong đời này thì sẽ phải tiếp tục tu học ở đời tới. Có ba cách lý tưởng để chuyển thân từ đời này qua đời tới: Một là tái sinh làm người, hai là hoá sinh làm trời, ba là vãng sinh Cực Lạc.
Cho dù làm người hay làm trời thì cũng đều gặp thử thách và dễ sa ngã. Trái lại, làm thánh ở Cực Lạc thì đầy đủ thuận duyên và không sợ lùi sụt trong việc tu hành. Đây chính là lý do khiến người thích tu thiền nên song tu thiền tịnh.
Song tu thiền tịnh là một trong ba phương pháp tu tập thịnh hành nhất của Phật tử Việt nam hiện nay. Thế nào là ba? Một là chuyên tu Tịnh Độ, hai là chuyên tu thiền định, ba là song tu thiền tịnh.
Để cho dễ hiểu, tôi xin lấy một thí dụ: Có một người Việt Nam muốn học tiếng Anh. Thông thường, ông ta có ba cách chính:
1. Không học Anh văn ở Việt Nam, mà chỉ lo xin đi Anh du học.
2. Tìm một giáo sư người Việt để học Anh văn ở Việt Nam.
3. Học Anh văn ở Việt Nam với một giáo sư người Việt, rồi dùng thành tích đạt được để xin đi Anh tu nghiệp.
Như người không học Anh văn ở Việt Nam mà chỉ lo xin đi du học bên Anh, người chuyên tu Tịnh Độ hàng ngày chăm chỉ niệm Phật để xin kiếp tới sẽ được sinh về Cực Lạc học Đạo.
Như người chỉ học Anh văn ở Việt Nam với một giáo sư người Việt, người chuyên tu thiền định hàng ngày siêng năng chỉ tịnh, quán tưởng hoặc tham thiền với hy vọng sẽ đắc Đạo ngay tại Ta Bà.
Như người học Anh văn ở Việt Nam với một giáo sư người Việt để chuẩn bị qua Anh tu nghiệp, người song tu thiền tịnh hàng ngày siêng năng thiền định, nhưng đồng thời cũng lại niệm Phật, nguyện cho kiếp tới sẽ được sinh về Cực Lạc để tiếp tục việc học còn đang dang dở.

Montréal, ngày 18-04-2005
Bổ túc thêm ngày 23-12-2009

Tài liệu này đã được đọc 332 lần.

    • là người cập nhật hóa tài liệu này vào ngày

Current Discussion: Main discussion

  1. No comments have been posted for this discussion.