Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!

  1. Chapter
  2. Pháp Tuyển - Trợ Niệm Vãng Sinh - Hiển Mật

Đây là một phần của sách 'Book:Pháp Tuyển - Hiển Mật'

TRỢ NIỆM VÃNG SINH


Trợ niệm vãng sinh là pháp trợ niệm đặc biệt của Tịnh tông, bao gồm những nghi thức nhằm giúp đỡ, nhắc nhở, khuyến khích hay thúc dục một người ốm nặng, hấp hối hay mới chết niệm Phật A Di Đà, cầu sinh Cực Lạc.
Nghi thức này rất quan trọng đối với những người tu môn Tịnh Độ. Tại sao? Vì các tín hữu tu môn Tịnh Độ đều tin rằng có cõi Cực Lạc của Phật A Di Đà ở phương Tây và tất cả chúng ta, dầu có tội hay không tội, cũng đều có thể được sinh về đó, nếu chúng ta luôn nhớ đến Phật và mong Ngài tới đón về nước của Ngài vào lúc lâm chung. Tiếc rằng chúng ta vốn có thói quen chạy theo ngọai cảnh và vọng tưởng, rồi quên mất Phật, nên mới cần có người giúp đỡ, nhắc nhở, khuyến khích hay thúc dục.
Lại nữa, nhớ đến Phật và mong Ngài tới đón thuộc về tình cảm, có thể huân tập. Do đó, nếu không sẵn có cái tình cảm quí báu này, thì phải kiên nhẫn tập niệm danh hiệu Phật và phát nguyện vãng sinh. Văn phát nguyện rất nhiều, chúng ta nên chọn một bài thật vừa ý mà đọc. Rồi, nhờ niệm danh hiệu Phật, chúng ta sẽ nhớ đến Phật. Nhờ phát nguyện vãng sinh, chúng ta sẽ mong được Phật đón, vào lúc lâm chung!
Nếu công phu tu tập được thuần thục, chúng ta sẽ biết trước ngày chết. Ngược lại, nếu chưa biết ngày giờ chết, mà đã lâm trọng bệnh, hay lên cơn hấp hối thì phải chuyên tâm niệm Phật hoặc nhờ người trợ niệm cho đến khi thấy được đức Phật, bồ tát hay hoa sen hiện đến tiếp đón.
Còn nếu chưa thấy điềm lành ấy, mà đã tắt thở, thì phải cố tự niệm hay nhờ người trợ niệm cho được 10 câu Phật hiệu trong quá trình thần thức (thần hồn) bỏ thể xác vào Trung giới.
Rủi thần thức đã vào Trung giới, với thân trung ấm rồi, thì phải gấp rút nương theo tiếng trợ niệm của bà con hay bạn bè mà xướng tên Phật cầu sinh Cực Lạc, càng sớm càng tốt, đặc biệt là trong hai tuần đầu. Tại sao? Vì đây là thời gian mà chư Phật và thánh chúng hiện thân tiếp độ vong linh của những người mới chết. Nhưng phải là những linh có duyên mới có thể nhận ra các Ngài và được các Ngài cứu độ.
Nói một cách khác, người niệm Phật cầu sinh Cực Lạc là người chuẩn bị để thi thành Thánh, hay rõ ràng hơn, là thành bồ tát bất thoái ở trên Cực Lạc. Thi thành Thánh có ba kỳ: Kỳ một kết thúc trước khi chúng ta tắt thở. Kỳ hai bắt đầu từ lúc tắt thở và kết thúc trước khi thần thức của chúng ta bỏ thể xác, vào Trung giới, thành vong linh. Kỳ ba diễn ra khi chúng ta đã thành vong linh và đặc biệt là trong giai đoạn trung ấm Pháp tính kéo dài 2 tuần.
Đậu kỳ một gồm những người biết trước ngày chết, hoặc những người thấy được điềm lành trước khi họ tắt thở. Sao gọi là thấy được đìềm lành? Thấy được điềm lành là thấy đức Phật, bồ tát hay hoa sen hiện đến tiếp đón.
Đậu kỳ hai gồm những người niệm được 10 câu Phật hiệu trong giai đoạn trung ấm lâm chung, kéo dài từ sau lúc họ tắt thở đến trước khi thần thức của họ bỏ thể xác, vào Trung giới, thành vong linh.
Đậu kỳ ba gồm những vong linh được tiếp độ sau ngày họ vào Trung giới, như vong linh Chung Nguyệt Chấn, được ghi lại ở cuốn ĐƯỜNG MÂY TRONG CÕI MỘNG của Đại sư Hám Sơn, hồi thứ 12, dưới tựa đề Viên Tịch.
Theo sách này, một hôm sau khi đại chúng đã thọ cơm chiều xong và đang sửa soạn vào ngồi thiền, thì có một nhân viên của sở thuế tới tìm Đại sư Hám Sơn và nói:
Bạch Hòa thượng! Con tên là Chung Nguyệt Chấn. Lúc còn sống con ăn chay trường và tu môn Niệm Phật . Con đã chết 5 tuần rồi. Lẽ ra con được vãng sinh Cực Lạc, nhưng vì nặng nghiệp, nên cứ loay hoay mãi ở cõi này. Mong Hòa thượng từ bi cứu giúp con!
Nghe như vậy, Đại sư Hám Sơn liền bảo đại chúng rời Thiền đường, lên Chính điện, đồng thanh niệm danh hiệu Phật A Di Đà. Sau thời niệm Phật, mà sách không nói rõ là bao lâu, Đại sư chuyển ý, giảng pháp MÔNG SƠN THÍ THỰC CHO LOÀI NGẠ QUỈ. Khi nói đến câu "Nên quán tất cả pháp đều do tâm tạo", Đại sư quất cây quạt, đang cần trong tay và quát:
Hãy mau vãng sinh!
Vong linh Ơng Chấn, lúc đó đang nhập vào nhân viên sở thuế, liền lập lại:
Hãy mau vãng sinh!
Đại sư quát ba tiếng, vong linh ông Chấn lập lại đủ ba lần...
Rồi, trước khi vãng sinh, vong linh cúi lạy Đại sư và xá đại chúng tạ ơn đã trợ niệm cho ông. Đồng thời, ông cũng không quên gửi lời cám ơn nhân viện sở thuế, đã bị ông mượn xác.
Vậy, mục đích tu học của tín đồ Tịnh Độ là phải đậu thành Thánh ở một trong ba kỳ thi đó.
Những người biết trước ngày chết, có thể chuẩn bị niệm Phật và chờ Ngài đến đón một cách chính xác. Do đó, không cần trợ niệm. Tuy nhiên, nếu được trợ niệm thì vẫn tốt hơn.
Những người không biết ngày chết, thường quen chạy theo ngoại cảnh hoặc suy nghĩ viễn vông mà quên mất Phật. Do đó, chúng ta cần phải sốt sắng giúp đỡ, nhắc nhở, khuyến khích hoặc thúc dục họ niệm Phật A Di Đà, cầu sinh Cực Lạc.
Giúp đỡ, nhắc nhở, khuyến khích hoặc thúc dục một người ốm nặng, hấp hối hay mới chết niệm Phật A Di Đà cầu sinh Cực Lạc, gọi là trợ niệm vãng sinh. Việc làm này hết sức quan trọng, vì nó có thể giúp người thân của chúng ta chuyển phàm thành Thánh. Cho nên, cần phải chuẩn bị rất kỹ lưỡng về cả hai phương diện tâm lý và nhân sự.
Về phương diện tâm lý, chúng ta phải giảng giải cho người thân của chúng ta rằng, họ nên niệm Phật cầu sinh Cực Lạc. Đặc biệt là lúc thần lià khỏi xác, nếu họ có thể niệm được mười câu "Nam mô A Di Đà Phật", thì chắc chắn sẽ được sinh về xứ Phật.
Về phương diện nhân sự, chúng ta nên mời bà con, bạn bè và nhất là các bậc thiện tri thức đến trợ niệm. Thiện tri thức là gì? Thiện là tốt lành. Tri là nghe tên, hiểu tính. Thức là biết mặt, thấy hình. Thiện tri thức trong trường hợp này là những tín hữu tin nhận pháp môn Tịnh Độ, quen biết người sắp chết hay mới chết, lại có lòng tốt chịu đến tận nơi nhắc nhở, khuyến khích và thúc dục người ấy cùng với mình niệm Phật cầu sinh Cực Lạc, trong những tuần lễ trước và sau khi đương sự tắt thở.
Chuẩn bị tâm lý và nhân sự xong, chúng ta phải học kỹ thuật trợ niệm. Kỹ thuật này gồm hai phần chính: Một là nhắc nhở người sắp chết hay mới chết phải lo niệm Phật. Hai là phải niệm danh hiệu Phật A Di Đà để họ bắt chứơc làm theo.
Nếu người cần trợ niệm chưa tắt thở, chúng ta nên nhắc nhở, như sau: "Này đạo hữu (Pháp danh)! Người đang bị bệnh, nhưng chớ lo! Hãy chuyên tâm niệm danh hiệu Phật A Di Đà. Nếu số người chưa tận, thì sẽ sớm được bình phục. Còn như đã đến lúc phải ra đi, thì sẽ được Phật đón về Cực Lạc!"
Tiếp theo, phải luân phiên niệm sáu chữ "Nam mô A Di Đà Phật" hay bốn chữ "A Di Đà Phật" và cố giữ cho tiếng niệm liên tục, không dứt, trong suốt thời gian cần được trợ niệm.
Nếu người cần trợ niệm đã tắt thở, chúng ta nên nhắc nhở, như sau: "Này đạo hữu (Pháp danh)! Người đã chết thật rồi! Không nên nhớ, nghĩ vẩn vơ nữa! Hãy cùng chúng tôi niệm Phật, chờ Ngài tới đón." Tiếp theo, cũng niệm sáu chữ "Nam mô A Di Đà Phật", hay bốn chữ "A Di Đà Phật" như trên.
Với những người chết ở Việt Nam, chúng ta có thể trợ niệm trước khi chết và khi họ tắt thở, chúng ta có thể giữ xác họ ở nhà, hoặc đưa vào Vãng Sinh Đường để tiếp tục trợ niệm. Nhưng ở các nước Âu Mỹ, phần lớn thân nhân của chúng ta đều chết tại bệnh viện, hai người một phòng, nên việc trợ niệm trước khi chết rất là khó khăn. Rồi khi họ tắt thở, thì thường không có bà con bên cạnh. Tiếp đến, thân hình của họ bị đẩy vào nhà xác để chờ tẩm liệm.
Nếu rủi bị chết vào ngày thứ sáu, thì chúng ta thường đợi đến cuối tuần sau, mới đưa ra nhà quàn để quí thầy, bà con cùng bạn bè trợ niệm và viếng thăm lần cuối, trước khi chôn hoặc thiêu. Nói như vậy, có nghiã là trong 8 ngày đầu, kể từ khi người thân của chúng ta tắt thở, chúng ta không thể trợ niệm cho họ. Mặc dầu đấy là lúc tốt nhất để nhắc họ niệm Phật cầu sinh Cực Lạc!
Để tránh trở ngại này, chúng ta nên điều đình với nhà thương, xin họ cho chúng ta giữ lại xác chết 8 giờ ở một phòng riêng, để trợ niệm và nhớ gài máy niệm Phật vào ngực người chết, trước khi chuyển vào nhà xác.
Lại nhớ, phải đợi 3 ngày rưỡi hay 4 ngày sau, mới có thể chôn hay thiêu xác ấy.
Tóm lại, với người tu Tịnh Độ, thời gian quan trọng để trợ niệm là vài tuần trước và sau khi người thân của chúng ta tắt thở.
Tuy nói, vài tuần trước và sau khi ngừơi thân của chúng ta tắt thở, nhưng vì quá bận với cuộc sống, nên chúng ta thường chỉ trợ niệm trong giai đoạn lâm chung, kéo dài từ lúc người thân của chúng ta tắt thở đến khi thần thức của người ấy bỏ thể xác, vào Trung giới, thành vong linh.
Theo những người có kinh nghiệm xuất thần, việc thần thức rời bỏ thể xác được khởi sự vào lúc chúng ta rơi vào bóng tối cận tử và có cảm giác như đang bay rất nhanh trong một hang tối với tiếng gió rít bên tai. Khi tiếng gió ngưng bặt và bóng tối tan đi, thì thần thức, giống như một con rắn vừa lột xác, có thể quan sát cái thân mà nó đã bỏ lại, để ra đi...
Từ lúc rơi vào bóng tối cận tử và nghe tiếng gió rít bên tai cho đến khi thần thức ra khỏi thể xác, người chết rất tỉnh táo và tự do để nghe chúng ta góp ý. Do đó, thời gian này rất tốt để trợ niệm và thường nằm trong khoảng 8 giờ, kể từ khi người thân của chúng tắt thở. Tuy nói trung bình là 8 giờ, nhưng nó cũng có thể kéo dài đến 3 ngày rưỡi hay 4 ngày.
Do đó, người Tây Tạng thường trợ niệm trong 3 ngày rưỡi hay 4 ngày. Còn chúng ta nên cố trợ niệm, ít nhất, là 8 giờ. Rồi chờ 3 ngày rưỡi hay 4 ngày sau, mới đưa xác chết ra nhà quàn để quí Thầy, bà con và bạn bè tới trợ niệm và cử hành tang lễ.
Tới khi an táng xong xuôi, chúng ta liền rước vong linh lên chùa để cầu siêu trong 7 tuần liền. Mỗi tuần một lần.

Nói như vậy, có nghĩa là ngoài việc thiêu hoặc chôn xác của người chết, chúng ta còn phải trợ niệm và cầu siêu cho họ. Nhưng trợ niệm và cầu siêu khác nhau như thế nào?
Trợ niệm và cầu siêu rất khác nhau. Thực vậy, trong khi trợ niệm, chúng ta thường chỉ làm có hai việc: một là nhắc người sắp chết, đang chết hay mới chết phải lo niệm Phật cầu sinh Cực Lạc và hai là niệm Phật hiệu để hối họ niệm theo. Trái lại, trong lúc cầu siêu, chúng ta có thể hoặc dùng tên mình, hoặc thay vong linh bố thí, cúng dường, sám hối, tụng kinh, niệm Phật hay trì chú. Rồi đem phúc đức tạo được, hồi hướng cầu cho vong linh vãng sinh Cực Lạc, hoá sinh lên trời hay tái sinh làm người.
Montréal, ngày 13-03-2005
Bổ túc ngày 15-11-2010


CHÚ THÍCH

An táng tử thi: Theo Tử Thư Tây Tạng, khi người thân của chúng ta tắt thở, chúng ta nên để xác họ ở yên một chỗ từ 3 ngày rưỡi đến 4 ngày, thêm 2 hay 3 ngày làm tang lễ, cộng chung thành 5 ngày rưỡi hay 7 ngày.
Chết: Khoảng thời gian kéo dài từ lúc một người tắt thở cho đến khi đương sự theo nghiệp để tái sinh vào một trong sáu đường là trời, người, thần, súc vật, ngạ quỉ và địa ngục. Hiểu theo nghĩa này, chết thường có ba giai đọan là lâm chung, pháp tính và tái sinh:
1. Lâm chung kéo dài từ lúc người thân của chúng ta ngưng thở, cho đến khi thần thức của người ấy bỏ lại thể xác, vào Trung giới, hóa thành vong linh hay hương linh. Theo người Trung Hoa, giai đọan này thường nằm trong khoảng 8 giờ. Nhưng người Tây Tạng lại nói, nó có thể kéo dài tới 3 ngày rưỡi hay 4 ngày.
2. Pháp tính kéo dài 2 tuần kể từ khi thần thức của người chết vào Trung giới với thân trung ấm. Đây là lúc mà chư Phật và thánh chúng hiện đến tiếp dẫn. Nhưng chỉ những linh nào có duyên, mới nhận ra các Ngài và được các Ngài cứu độ.
3. Tái sinh bắt đầu từ tuần lễ thứ ba, khi chư Phật và Thánh chúng đều đã biến đi. Giai đoạn này có thể dài hoặc ngắn, tuỳ theo tâm trạng và hạnh nghiệp của mỗi vong linh. Có những linh không qua giai đọan này, vì họ đã vãng sinh hoặc tái sinh trước đó. Có những linh chỉ ghé qua vài giờ. Nhưng cũng có những linh phải lưu lại tới 49 ngày hay lâu hơn 49 ngày. (Xem "Ấn Quang Đại sư Gia Ngôn Lục," phần Luận về thân trung ấm.)
Chết lâm sàng: Khi mũi hết thở, tim ngưng đập.
Chết thực sự: Khi thần thức rời bỏ thể xác để vào trung giới, tức là nơi tạm trú của những vong linh chờ đi tái sinh.
Đại Hắc (Maha Kala): Hóa thân của Trời Tự Tại, cũng gọi là thần Huỷ Diệt (Siva).
Hung thần: Thần phẫn nộ, gồm có:
a. Thần Minh Vương (Héruka)
b. Mẫu Tự Tại (Isvara)
Pháp tính: Giai đọan pháp tính, hay nói cho đủ chữ là "giai đọan trung ấm pháp tính" kéo dài 14 ngày:
1. Từ ngày thứ 1 đến ngày thứ 5, có năm phương Phật là Đại Nhật, A Súc, Bảo Sinh, Di Đà và Bất Không lần lượt xuất hiện, phóng quang chiếu soi vong linh.
2. Trong ngày thứ 6, cả năm vị Phật nói trên đều đồng thời thị hiện phóng quang chiếu soi vong linh.
3. Trong ngày thứ 7, có 42 thiện thần (thần ôn hòa), từ trái tim và yết hầu của vong linh xuất ra, phóng quang chiếu soi thân nó. Theo Tử Thư Tây Tạng, những vị thần này đều là hóa thân của trời Đại Hắc (Mahakala).
4. Từ ngày thứ 8 đến ngày thứ 14, có 58 hung thần (thần phẫn nộ), chia thành 7 nhóm, từ trong đầu của vong linh, tuần tự xuất ra, phóng quang chiếu soi thân nó. Theo Tử Thư Tây Tạng, những vị thần này đều là hoá thân của vua Diêm Vương (Yamaraja).
Cũng theo Tử Thư Tây Tạng, trong lúc chư Phật và thánh chúng phóng quang chiếu soi, nếu vong linh có thể hợp nhất với trí quang của chư Phật hay sắc thân của thánh chúng, thì liền thoát vòng sinh tử!
Trên đây là đạo pháp của Mật tông, còn theo những người thanh tu tịnh nghiệp, thì: "Chư Phật và thánh chúng phóng quang không phải chỉ để chiếu soi, mà là để tiếp dẫn thần thức của người niệm Phật."
Thiện thần: Thần ôn hòa, gồm có:
a. Thần Trì Minh (Vidyadhara)
b. Mẫu Không Hành (Dakini)
Trợ niệm trong giai đoạn cận tử: Việc trợ niệm trong giai đọan cận tử rất quan trọng. Cho dù chúng ta không đạt được mục đích theo đuổi là giúp ngừơi sắp chết thoát ly sinh tử, thì người ấy cũng được hưởng vô vàn phúc lợi. Tại sao? Vì theo kinh Địa Tạng, như có người sắp chết, hàng thân quyến trong nhà, nhẫn đến một người, vì người sắp chết mà lớn tiếng niệm danh hiệu của một đức Phật, thời chỉ trừ năm tội nghịch, các nghiệp báo khác của người sắp chết thẩy đều tiêu sạch.
Trung giới: Nơi tạm trú của các vong linh, trong lúc chờ đi tái sinh.

Tài liệu này đã được đọc 379 lần.

    • là người cập nhật hóa tài liệu này vào ngày

Current Discussion: Main discussion

  1. No comments have been posted for this discussion.