Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!

  1. Chapter
  2. Sông Núi Người Thơm Nỗi Nhớ Nhà - Ngoại Tập - Du Tử Lê

Đây là một phần của sách 'Book:Sông Núi Người Thơm Nỗi Nhớ Nhà - Du Tử Lê'

Ngoại Tập

[​IMG]



ĐỖ QUÝ TOÀN TRƯỜNG HỢP DU TỬ LÊ,

MỘT HIỆN TƯỢNG HIẾM THẤY


(Bài nói chuyện trong Đêm Du Tử Lê, Đại học Montreal, Canada, Ngày 14 tháng 5, 1994)


[​IMG]


Với một bài thơ tẩm thường, chúng ta có thể sẵn sàng mang ra để bình luận hay giải thích. Nhưng nêu là một bài thơ hay, không cách gì chúng ta có thể bình luận được. Bởi vì, những bài thơ hay là những bài thơ vượt ra ngoài ngôn ngữ thông thường. Nếu chúng ta dùng ngôn ngữ thông thứờng đe nói, tức thị chúng ta đã làm hỏng bài thơ đó. Cũng tương tự như khi chúng ta coi một bức tranh: hoặc ta thấy nó đẹp, hoặc không. Ta không thể nhờ một người nào đó, chỉ hộ ta nó đẹp ở chỗ nào!
Tôi đã thấy có vị coi tranh hỏi, tranh này vẽ cái gì vậy? Và người hướng dẫn trả lời rằng, cliỗ này là người đàn bà. Đầy là mái tóc. Dưới ĩà cái mũi. Dưới nữa là cái miệng... Tôi nghĩ, người họa sĩ thấy người khác bình luận tranh của mình như vậy, chắc chắn sẽ không vui chút nào cả. Thi sĩ cũng vậy. Hôm nay, có mặt Du Tử Lê ở đây, tốt nhất là tôi không bình luận gì vể thơ của Du Tử Lê. Vậy tôi chỉ xin nói vể kinh nghiệm của tôi.
Trước đây độ mươi, hai mươi năm, tôi không thích thơ Du Tử Lê lắm. Cho đến những năm 75, 76, một bài thơ của Du Tử Lê, bài Khi tôi chết hãy đưa tôi ra biển, bài đó được nhiếu người thích; và, chính tôi cũng đã mang ra trong một cuộc hội thảo tại Boston; để giảng cho một số văn sĩ, thi sĩ người Mỹ; hẩu cho họ dịch sang tiếng Anh; xem họ có thích hay không.
Đó là một bài thơ rất tiêu biêu cho tâm trạng người Việt tỵ nạn từ Viẹt Nam sang Hoa Kỳ; và, nói rằng, bao giờ tôi chết thì hãy đưa tôi ra biển, để sóng đẩy tôi qua Thái Bình Dượng, trô vế nước Việt Nam.
Đấy lấ một bài thơ mà tôi rất cảm động. Ý thơ rất đẹp. Lập trường tốt nữa. Nhưng nêu hỏi bài thơ đó tuyệt diệú hay không, thì tôi thanh thật nói rằng, nó cũng không có gì là tuyệt diệu lắm. Đó là một bài thơ bình thường. Ai cũng có thể làm được. Cái đó không khó...
Trong năm ba năm gẩn đây, chúng ta mới thấy trong thơ Du Tử Lê có nhiểu cái lạ.
Du Tử Lê là người đã thoát được thời kỳ đẩu của mình, để bước sang một thứ ngôn ngữ mới. Đó là một hiện tượng khá hiếm thấy. Bởi vì, theo kinh nghiệm, thường thường, các thi sĩ càng già càng cùn đi, càng thui đi. Môt thí sĩ ờ tuổi 15,16 bắt đẩu làm thơ, ai cung có thể làm được cả. Đến tuổi 40 mà làm thơ, thường khó hay lắm.
Lý do, ò tuổi đó, mình chỉ làm thơ bằng cách chép lại những bài thơ cũ của mình, mà mình khônq biết. Tôi xin nói lại: tôi thấy rất nhiéu thi sĩ ở tuổi 40, 50, những thi sĩ nối tiếng, viết một bài thơ ra, lúc mình doc, mình phải tự hỏi: Quái! Cái bài này hình như ông ấy đã viết từ xưa rồi. Nghĩa là ông ấy cũng viết về một để tài mới. ồng ấy còn đề cả ngày tháng làm bài thơ đó nữa. Thế nhứng khi đoc, mình vấn thấy rõ ông thi sĩ kìa, đã viết lại thơ của ông. Nó cũng giống như người họa sĩ, nhạc sĩ vẽ lại bức tranh, viết lại bản nhạc của họ vậy.
Nhưng Du Tử Lê là một hiện tượng đặc biệt. Ngoài 40 tuổi, đến tuổi 50, Du Tử Lê vẫn luôn khám phá và lạm mối thơ của anh. Tôi xin thưa lại rằng, trước kia, tôi không thích thơ Du Tử Lê lắm. Nếu hỏi tôi thơ ấy thế nào, thì tôi xin trả lời, tôi thấy nó cũng hay hay, đại khái cũng như thơ của... tôi vậy Không khá lắm.
Lúc gẩn đây, tôi đọc những bài thơ đăng rải rác, hay trong những tập thơ nhừ: Em hiếu vì đâu chim gọi nhau; hay Chấm dứt luân hổi em bước ra; hay ở chỗ nhãn gian không thể hiểu,... tôi khám phá ra rằng: Du Tử Lê đã tự làm một thay đổi trọng ngôn ngữ của anh, Tôi xin nói lại, đó là một hiện tượng rất hiếm thấy trong thơ. Chúng ta đang sống giữa mùa xuân. Chúng ta thấy hoa nở. Chúng ta thấy nắng lên. Chung ta nghe chim hót. Vậy mà, tại sao ông thi sĩ lại hỏi: Em hiểu vì đãu chim gọi nhau Tôi xin hỏi quý vị ở đây, có quý vị nào hiểu vì đâu chim gọi nhau không? Phẩn tôi, tôi đã hỏi mấy người trong Hội Ngắm Chim, tiếng Anh gọi là Bird- Watching, thì họ trả lời rằng muốn hiếu vì đâu chim gọi nhau, thì cứ giở cuốn Bách khoa Tự điển, trang mấy đó..., sách sẽ cho biết con chim mái cất tiếng gọi tình nhân. Nó nói: Anh ơi, em này. Và, con chim đực khi cất tiếng hót thì nói rằng: Cái cây này, cái chỗ này là của tôi, đừng ai bén mảng tới...Thế nhưng là con người, nghe chim hót, chúng ta thấy khác. Ông thi sĩ Tô Thùy Yên, cũng là một thi sĩ rất lớn của chúng ta, cách đây độ 30 năm, có viết một câu là: cây im nghe chim kể chuyện tình duyên. Ông thi sĩ ấy muôn nổi rằng, khi chim hót là lũc chúng đang kể chuyện tình với nhau. Nó kể chuyện Kim Trọng-Thũy Kiều hay Roméo-Juliette gì đó, của loài chim. Nhưng Du Tử Lê lại viết: Em hiểu vì đâu chim gọi nhau.
Nếu quý vị dịch câu thơ ấy sang tiêng Anh hay Pháp, thì quý vị sẽ dịch như thế nao? Tối chắc là guý vị sẽ dịch mỗi người một cách khác nhau. Có người sẽ dịch câu đó ờ thế xác định, tức là: Phải rồi! Em biết rồi. Em hiểu VI sao chim gọi nhau rồi! Có ngứời sẽ dịch câu đó như một câu hỏi, là: Em ơi! Em hiểu vì sao chim gọi nhau không? Nhưng mà, thực sự, khi thi sĩ viết:Em hiểu vì đâu chim gọi nhau, thì thi sĩ định nói cái gì? Chúng ta có thể phần tích, giải thích câu thơ kia theo suy nghĩ của chúng ta... Và thường thì sai hê't. Bởi vì câu người thi sĩ định nói chỉ là em hiểu vì đâu chim gọi nhau, mà thôi. Chúng ta đọc câu đó, chúng ta nghe câu đó, và, chúng ta để câu thơ đó thấm vào tâm hổn mình. Nó gợi lên những xao xuyến hay những xúc động, bổi hổi, hoang mang... vì đó là thơ.
Thơ không phải là một lời giảng giải giống như khi ta dịch một cầu sang tiếng Anh hay tiếng Pháp.
Thơ là cả một câu thơ như vậy. Nó dội vào tâm hổn chúng ta, và nó mang lại xúc động mới mẻ. Muốn làm được như vậy, người thi sĩ phải luôn luôn làm mới ngôn ngữ của mình.
Tôi nghĩ bất cứ ai cũng có thể làm thơ lục bát, rất dễ. Chẳng hạn như. Con chim, con thỏ, con gà/Con trâu, con lợn, ba ba, thuồng luồng; thí dụ như vậy. Và, ai cũng có thể làm được hết. Những thi sĩ viết loại thơ như vậy, chúng ta có vô khối. Thê' nhưng, làm thế nào để cũng tiếng nói Việt Nam đó, lời lẽ đó, mà làm cho nó luôn luôn mới mẻ, thì đó là thi sĩ có khả năng.
Xét trên tiêu chuẩn này, gẩn đây, tôi thấy, Du Tử Lê đã trở nên một thi sĩ rất lớn. Một người thi sĩ kỳ tài. Có nghĩa là những người không có khả năng như vậy, dù cố gắng lắm, cũng không thể đạt đến như vậy được. Cùng lắm, họ chỉ có thể viết được những bài thơ như bài thơ xưa kia của Du Tử Lê mà tôi đã nhắc tới (bài Khi tôi chết hãy đưa tôi ra biển,) một bài thơ rất cảm động; tuy nhiên ai cũng có thể làm được.
Còn thơ Du Tử Lê gẩn đây, phải nói là lạ. Phải nói là mới. Phải nói là những người khác không thế làm được. Nếu có khổ công dùi mài, thì cũng chỉ có thể giông giống; mà, không có cái thần độc đáo.
Thần khí độc đáo đó, chỉ có ở những người sống chết với thơ, như Du Tử Lê, mới có thể có được mà thôi.
Chiều nay, khi ngổi nói chuyện với tôi, Du Từ Lê có hỏi tôi, tại sao phẩn lớn thi sĩ của chúng ta, của thế giới, đến một tuổi nào đó, họ bị cùn đi? Họ không thể viết được nữa?
Chúng ta chưa có một cuộc nghiên cứu khoa học nào để trả lời câu hỏi đó. Nhưng theo tôi đoán, thì càng lớn tuổi, người ta càng sống theo quy uớc nhiểu quá. Chúng ta phải chịu đủ thứ áp lực của xã hội, luân lý, môi trường quanh ta. Chúng ta càng ngày càng sống theo những quy ước chung. Nói năng một cách long trọng. Ai cũng nghe được! Đâm ra chúng ta bỏ mất khả năng sáng tạo ngôn ngữ của chúng ta. Tôi rất lấy làm mừng là Du Tử Lê, ở tuổi đó, mà vẫn biết giữ lấy cho mình cái tự do, buông thả mình để bước vào thế giới ngôn ngữ hết sức là sáng tạo.
Đó là điều tôi chắc quý vị đọc thơ Du Tử Lê, quý vị sẽ tìm thấy.

ĐỖ QUÝ TOÀN
(Hợp Lưu, số 18, tháng 8&9,1994)


[​IMG]



PHÁI VIÊN VOA, SEATTLE,

NÓI CHUYỆN VỚI NHÀ THƠ DU TỬ LÊ



[​IMG]


LTS: Du Tử Lê là một trong những nhà thơ được nhắc nhở nhiều nhờ vào những nỗ lực, và sức sáng tác mạnh mẽ. Nhà thơ Du Tử Lê trở lại Seattle để chuẩn bị cho cuộc nói chuyện của ông, đề tài: “Vai trò của những dấu chấm, phẩy trong nỗ lực đổi mới văn chương," vào đẩu tháng Ba tới đây.
Buổi nói chuyện này do hệ thống Thư Viện Công Cộng Seattle đài thọ chi phí. Cũng nhân dịp này, nhà thơ Du Tử Lê sẽ ra mẩt tác phẩm thứ 32 của ông, nhan đề: Sông Núi Người Thơm Nỗi Nhớ Nhà / Your Scented Garden, My Nostalgia, song ngữ Anh, Việt.
Thủy chung với thi ca, Nhà thơ Du Tử Lê đã có một phẩn thưởng lớn. 00 không phải la những giá trị lỡn lao vế tiền bạc ma la sự kiện người đọc nống nhiệt đón nhận thơ ông; cũng như ông có cơ hội^đến với những người yẫu thơ từ nhiều thấnh phố, ở nhiều chân trời, góc biển. Đặc phái viên Đài VOA vùng Tầy Bắc mở cuộc phỏng vấn Nhà thơ Du Tử Lê, chung quanh nội dung bài nói chuyện, cũng như nội dung thi phẩm mới.
Mời quý thính giả theo dõi cuộc phỏng vấn.



TNHK: Trong năm 1995 vừa qua, Nhà thơ Du Tử Lê được kể là một trong những người sinh hoạt văn học nghệ thuật tại nhiều thành phố, nhiểu tiểu bang Hoa kỳ. Xin anh cho biết vể buổi nói chuyện sắp tới, tại Seattle, do Hệ thống Thư Viện Trung Ương Seattle, đài thọ.

Du Tử Lê: tôi có nhận lời với Hệ Thống Thư Viện Seattle về môt bài nói chuyện và nhần đó, giới thiệu tác phẩm mới nhất của tôi. Thi phẩm Sông Núi Người Thơm Noi Nhớ Nhà / Your Scented, My Nostalgia, song ngữ. Phẩn tiếng Anh, do các dịch giả Nguyễn Ngọc Bích, Phạm Trọng Lệ và Jade King Le đảm nhận. Buổi nói chuyện theo dự trù là đẩu tháng 3,1996.

TNHK: Anh có nghĩ rằng tập thơ mới này của anh ghi dấu những biến chuyển trong nghệ thiệt sáng tác của anh?

DTL: Với tôi, cuốn sách này quả thật quan trọng nhất, trong mấy mươi năm cầm bút của tôi.

TNHK: Tập thơ có khoảng bao nhiêu bài và sáng tác trong những giai đoạn nào?

DTL: Tôi nghĩ nó tập trung khoảng trên dưới 60 bài, viết trong vòng 3 nỉm qua. Một số viết ở Hoa Thịnh Đốn, 1992, khi tôi ò nơi này. Mọt số viết ở Montreal, khoảng giữa năm 1994. Và phẩn còn lại, ở nhiều nơi khác nhau, như ở Houston, Dallas, Austin, và Nam Cali.

TNHK: Trong một cuộc nói chuyện mới đây tại Hoa Kỳ, ông có cho biết, vời tập thơ mới, ông muốn mời độc giả cùng sáng tác khi đọc thơ Du Tử Lẽ?

DTL: Đúng vậy. Khoảng năm năm nay, tôi đã khai thác dầu gạch chéo /slash có trong các dấu của máy Computer như là một ký hiệu, một cái dấu thêm, trong số những dấu mà chúng ta đã có tự bao đời... Như các dấu chấm, hai chấm, chấm than, phẩy, chấm phẩy, vân vân... Để rõ hơn, có lẽ xin phép anh cho tôi giải thích một chút, tại sao, thế nào về cái dấu chéo/slash ấy. Anh cũng biết, khi chúng ta nói (hay viết,) bao giờ tiếng thứ nhì cũng xô đẩy tiếng thứ nhất; tiếng thứ ba xô đẩy tiếng thứ nhì..., cứ thế mà một xâu chuỗi tiếng đi tới phía trước, rồi rơi xuống. Nó cũng tựa như dòng nuớc chẩy về chổ trũng. Tính Hoán Vị (Conversion,) Tính Di Động Hai Chiều (Mobilizatíon in the two directions) không có trong một câu nói, một câu thơ hay câu văn. Càng không thể vắt ngược nhóm chữ ở cuối câu lên đầu câu, như con rắn có thể vắt ngược cái đuôi của nó, lên đầu nó. Nhân sự phổ thông của máy Computer, máy này có dấu chéo / slash; tôi đã dùng dấu slash đó, như một ký hiệu, báo thị cho người đọc biết rằng những chữ ở sau hay ở giữa hai dầu chéo / slash, người đọc có thể hoán đổi vị trí của chúng và, nó cũng mang tính xô đẩy hai chiều thuận nghịch nữa. tôi xin trưng dẫn một câu thơ mà tôi đã dùng trong lúc trả lời cuộc phỏng vấn của Nhà thơ Nguyễn Mạnh Trinh, (bài trả lời này in trong cuốn Nhà Văn Nói Chuyện Với Chúng Ta, do anh Trinh thực hiện.) Câu thơ đó là:

a- Rừng/tôi/sâu/thở nốt chân trời (cách 1, nguyên bản)

Khi tôi dùng gách chéo / slash trước những chữ TÔI, SÂU, THỞ, nó báo thị cho người đọc biết rằng họ có thể di chùyển (hoán vị) 1 chữ hay một nhóm chữ. Áp dụng sự hoán vị ấy vào thí dụ vừa kể, chúng ta sẽ có 3 cấu thơ khác hơn câu thơ đẩu tiên. Đó là:

b- Tôi rừng sâu thở nốt chân trời (cách 2)
c- Sâu rừng tôi thở nốt chân trời (cách 3)
d- Thở nốt chân trời rừng tôi sâu (cách 4)


Với ký hiệu hay dấu gạch chéo /slash, độc giả sẽ thực sự trở thành Tác Giả Thứ Hai. Họ có thế có một câu thơ khác, theo ý của họ. Người đọc không bị đóng khung vào một mô tả, một trật tự mạch thơ, văn cố định nữa. Trước đây, thơ văn của chúng ta, tựa ngôi nhà tiển chế, người đọc chỉ có quyền nhận lấy hay chôì bỏ nó mà thôi.

TNHK: Còn vể những nỗ lưc đổi mới lục bát của ông? Chúng tôi muôn nói tới những dấu chấm, phẩy...

DTL: Tôi tận dụng những dấu phẩy và dấu chấm để ngắt lại nhịp đi của lục bát. Thí nghiệm này, tôi đã bắt đầu từ năm 1966, trên tờ báo Văn, ở Sàigòn, thời ông Trần Phong Giao lo bài vở. Thơ lục bát căn bản là nhịp chẳn. Nhịp 2/2/2 (câu sáu) và 2/2/2/2 (câu tám; đôi khi cũng có nhịp 3/3 (câu sáu) và 4/4(câu tám) nhưng ít thôi. Căn bản nó văn là sự nhịp nhàng, chẩy êm. Tôi chia lại nhịp chẵn, tức cho nó nhịp lẻ, hay nhịp chỏi, nếu dung danh từ của âm nhạc. Tôi thí dụ một câu thơ của tôi trong bài lục bát nhan đề Bài Cuối 66, như sau:

phố cao, gió nổi, bóng mờ
đêm lu, trời nặng, tôi gù lưng, đi.


nhịp của 2 cầu nay là 2/2/2 (câu sáu) và 2/2/3/1 (câu tám.) (*)
Nếu không tận dụng các dấu như chấm, phẩy, người đọc sẽ không thể ngắt lại nhịp lục bát, tôi có thử nghiệm một vài đổi mới khác nữa cho thể thơ dân tộc này. Tôi muốn nói, tôi đã tự biến mình thành vật thí nghiệm. Có thể tôi thất bại. Nhưng hy vọng người khác sẽ có những nỗ lực cách tân hoàn chỉnh hơn.

TNHK: Phải chăng đó là một phần nội dung bài nói chuyện mà ông dự định ở Seattle này, trong tháng 3 tới đấy?

DTL: Đúng vậy,

TNHK: Với tư cách là một Nhà thơ, ông có nghĩ tập thơ mới của ông sẽ mang một nội dung lớn hoặc một sứ mệnh nào chăng?

DTL: Thâm tâm của tôi, lòng nhớ quê hương, nói cách khác là những thao thức vể tổ quốc của mình, hình như nó ở trong máu của tôi vậy, Hôm qua, cũng tại Seattle này, một độc giả hay tin tôi có mặt, tới thăm, cũng hỏi tôi về nỗi khắc khoải dành cho một tổ quốc ở quá xa chúng ta. Tôi trả lời đúng. Trong thơ tôi, luôn có niềm khắc khoải ấy. Chả riêng gì tôi đâu. Mà, bất cứ ai trong chúng ta. Khác chăng ta nói nó ra hay không nói ra mà thôi. Người độc giả này bảo trong thơ tôi có một tình yêu đất nuớc cao độ. Tới khủng hoảng. Tôi trả lời rằng, khủng hoảng thì không, cao độ thì có. Bởi nó tiềm phục trong máu tôi. Anh biết rõ nhân vật này hơn tôi. Anh nhớ người đàn ông bị xỉu trong buổi các anh tổ chức ra mắt cuốn thơ Nhìn Nhau Chợt Thấy Ra Sông Núi /Homeland Mirrored Your Eyes hổi năm ngoái, ỏ đây không?

TNHK: Như vậy, nội dung của tập thơ mới này, là tình hoài hương, nỗi nhớ nhà sau 20 năm xa xứ?

DTL: Tôi tin người đọc sẽ cảm được nỗi nhớ nhà tình hoài hương mà tôi tạm dịch, không hết nghĩa được từ chữ Nostalgie. Nó ở cùng khắp các bài thơ của tôi. Lúc đẩu tôi định đặt tên cho cuốn sách của tôi là Tình Yêu/ Trang Ruột/Và Bìa Sách. Tôi muốn nói bìa sách là quê hương bao bọc chúng ta bằng một tình yêu bất tận của đất nước. Chúng ta chính là những trang ruột của cuốn sách ấy. Sau tôi đổi vì e nó cầu kỳ, khó hiểu quá, nên đổi thành nhan đề khác.

TNHK: Trước khi chấm dứt cuộc nói chuyện, ông có muốn gửi gì cho thính giả VOA ở quê nhà?

DTL: Nếu được phép, tôi xin gửi về quê nhà bài thơ của tôi, soạn thành ca khúc bởi nhạc sĩ Anh Bằng, một tình khúc khá phổ thông, ngay tại quê nhà, đó là bài Khúc Thụy Du. Xin quý thính giả lắng nghe phần bên ngoài của chữ nghĩa và âm điệu. Nó không chỉ là nỗi lòng của riêng tôi mà, của những người Việt xa quê hương, nếu có thể nói được như vậy, gửi tới những ruột thịt ở quê nhà.

Ký Giả Tây Bắc, thuộc Đài VOA thực hiện từ Seattle.

TNHK: Mời quý thính giả thưỏng thức nhạc phẩm Khúc Thụy Du, thơ Du Tử Lê, nhạc Anh Bằng.
{Tuần báo Người Việt Tây Bắc, số đề ngày 17-2-1996.)

Tài liệu này đã được đọc 517 lần.

    • là người cập nhật hóa tài liệu này vào ngày

Current Discussion: Main discussion

  1. No comments have been posted for this discussion.