Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!

  1. Chapter
  2. Tổng Thức Vận - Nhân Loại Sử Quan - Lý Đại Nguyên

Đây là một phần của sách 'Book:Tổng Thức Vận - Lý Đại Nguyên'

NHÂN LOẠI SỬ QUAN


THỜI LỆ THUỘC NHIÊN CẢNH gồm:
Giai đoạn Cá nhân. Giai đoạn Mậu Chủ. Giai đoạn Thị tộc.

THỜI HỢP ĐOÀN PHẤN ĐẤU gồm:
Giai đoạn Bộ lạc. Giai đoạn Quốc Gia.

THỜI TỔ CHỨC ĐIỀU HỢP gồm:
Giai đoạn Thế giới. Giai đoạn Hoàn vũ.





NHÂN LOẠI SỬ QUAN

DÒNG VẬN ĐỘNG LỊCH SỬ NHÂN LOẠI CHUYỂN HÓA


Có người là có lịch sử Con Người. Dù con người sinh hoạt mặc thức hay ý thức đều có tác dụng tạo hợp lịch sử, vẫn được không gian và thời gian trung thực ghi nhận. Vì CON NGƯỜI LÀ NGUYÊN NHÂN LỊCH SỬ CỦA NHÂN LOẠI. Nhưng trên văn kiện, con người chưa đủ khả năng biên chép đầy đủ, hay nếu có thì thường nhuốm đậm chủ quan, ấy là chưa nói tới việc bôi đen tô thắm. Huống hồ ở buổi ban sơ loài người còn sống trong trạng thái mông muội, hỗn mang, hoàn toàn tùy thuộc bản năng và nhiên cảnh, nên muốn hiểu khái quát sử tính, dĩ nhiên chẳng tránh khỏi tư ý thiên lệch, song dù sao đó cũng vẫn là con đường duy nhất để rõi soi lịch sử, sử gia thường chia lịch trình diễn hóa của nhân loại làm hai thời kỳ: thời khuyết sử và thời quyết sử.

Thời KHUYẾT SỬ dài chừng Bốn ngàn thế kỷ. Con người sinh hoạt chậm chạp, tối tăm, bưng kín, không để lại cho hậu thế một chứng liệu cụ thể nào, ngoài những bộ xương hóa đá, những vật dụng thô sơ lác đác tìm thấy trong lòng các lớp đất.

Để có quan niệm đứng đắn về sự sinh triển của con người bí sử, chỉ có thể dùng phương thức suy diễn xuyên qua lối sinh hoạt của trẻ thơ và cuộc sống của các dân tộc hiện nay còn bán khai, rồi minh chứng bằng những di tích tìm thấy nhờ khoa khảo cổ học.

Thời QUYẾT SỬ hay ký sử, có chừng năm mươi thế kỷ nay, nghĩa là từ lúc con người bỏ được phần nào vật tính để tạo lấy nhân tính: Tương đối có ý thức về sự sinh hoạt của mình, nên sáng tạo được những nét tượng hình để ghi trên thân cây phiến đá những nhận thức của mình về sự vật, về cuộc sống. Những nét vụng dại ấy, qua bao thế hệ đổi sáng đã biến thành những dạng tự hiện nay mà nhân loại còn đang dùng.

Nhờ có chữ, người trước mới truyền được cho người sau những kiến thức cần để hoán cải cuộc sống con người, ngày thêm mới. Nên càng về sau loài người càng thêm tinh diễn.

Tới đây, lịch sử lên tiếng: cuộc diễn hóa của nhân loại, nhanh, chậm, yên, loạn, đều do nơi nhận thức con người chuẩn định. Nhận thức có nghĩa là ý thức được mối tương giao với người, ý thức được sự tương quan với cảnh, ý thức được những hệ lụy nhân quả của việc.

Nói về ý thức, nếu làm một bản đối chiếu giữa sự diễn hóa của một người hiện đại, với sự diễn hóa của loài người sẽ thấy khá nhiều nét chính tương hợp.

1- Loài người ở buổi ban sơ, sống mặc thức nương theo bản năng cảm tính mặc thức và bị khách thể chi phối, chẳng khác chi trẻ sơ sinh hiện nay.

2- Chịu ngoại thể chi phối nhiều, nên khi ý thức người chớm nở thì liền bị đóng khung trong ý thức lệ thuộc, tâm lý trẻ thơ và lớp dân bán khai đều đã chứng minh điều nầy.

3/- Với tuổi trưởng thành của con người thời nay, ý thức lệ thuộc lui dần, nhường chổ cho ý thức tự chủ: Giai đoạn này đa số nhân loại đã phát lộ nhận thức nhân chủ và đang cùng phấn đấu để thực hiện quyền năng đó của mình.

Bằng vào chuẩn tỷ trên, rút ra nhận xét: mọi dân tộc, tiến bộ hay lạc hậu, đều mặc nhiên diễn hóa qua những chế độ giống nhau; còn nhanh chậm thường do hoàn cảnh: phong thổ, địa dư, chủng loại và ảnh hưởng ngoại nhập, cũng như khả năng thâu thái của con người từng dân tộc, từng khu vực.

Vậy muốn có một sử quan đúng hướng thì phải dùng tới cái thước nhận thức của con người qua từng thời đại, qua từng thời kỳ để đo lịch sử. Như thế mới thấu triệt nổi trào lưu diễn hóa của nhân loại.

A.THỜI MẶC THỨC NHÂN NHIÊN: LỆ THUỘC NHIÊN CẢNH

Lúc mới xuất hiện, con người hoàn toàn lệ thuộc nhiên cảnh, sống một cuộc sống bản năng động vật. Nhưng nhờ có tiềm ẩn tinh thức ưu đẳng, có cảm tính, linh thức, có khả năng sáng tạo, có đặc tính tự do, nên nhân tính, nhân tình, nhân cách dần dần phát khởi. Qua ba giai đoạn: Cá nhân, Mẫu chủ và Thị tộc, con người thoát dần ra khỏi vật cảnh, hợp đoàn với nhau mỗi ngày thêm đông đảo, quy củ rộng lớn hơn.

I.-GIAI ĐOẠN CÁ NHÂN.

Thủy tổ bởi đâu mà có ? Có như thế nào ? Sinh hoạt ra sao ? Đó là những câu hỏi xưa nay loài người đã đặt ra và đã tốn biết bao tâm trí, vật lực suy cứu, mà vấn đề vẫn chưa đủ sáng tỏ.

Gần đây, khoa địa chất và sinh vật học ra đời đã giúp cho các nhà khảo cứu tìm thấy những bộ xương hóa đá, nửa người nửa thú vùi dưới lớp đất sau 200 thước của thạch kỳ thứ tư, cách đây chừng 500 thiên kỷ, việc này đã đảo lộn nhận thức của phái hệ Duy Thần về thuyết Thượng Đế sáng tạo con người, căn cứ vào đó các triết nhân chia làm ba phái:

1- Định chủng thuyết. Cho là thượng đế sáng tạo ra sự vật. Theo Linné (1707-1778) thì mọi sinh chủng đều được cấu tạo ngay trong cùng một lúc: Không có chủng loại nào mới lạ cả. Tưởng tượng xa thêm, Civier [1769 - 1831] cho là các sinh chủng mới lạ đều do ở nơi khác kéo tới. Còn d'Orbigny (1802-1859) thì sau khi suy luận quá mệt mỏi đã lên tiếng: sinh chủng mới lạ, cũng do Thượng Đế lần lần sáng tạo qua các thời đại liên tiếp.

2- Biến chủng thuyết. Dựa vào các khoa địa chất và cổ sinh vật học, rồi cho là các bộ xương hóa đá giống nhau, đã được tuần tự tìm thấy trong những lớp đất, đã không hề trải qua một cơn biến động đột ngột nào. Do đó, Lamarck (1744-1829) mới cho là các chủng loại đều chung một gốc, nhưng sở dĩ biến thái đi là vì chúng đã dùng hay không dùng đến những cơ phận trong thân thể chúng: Được dùng đến thì còn, không được dùng đến thì mất, nên hình thái sinh vật dần dần khác nhau qua các thời đại, mà hóa thành các sinh chủng mới. Tế nhị hơn, Darwin đưa ra thuyết tiến hóa ngẫu nhiên: do điều kiện khí hậu và di truyền, sinh vật đào thải lẫn nhau bởi sự tranh sống; sinh vật nào còn lại thì có thêm được những đặc tính mới, mỗi ngày một phức tạp, rồi cứ thế có thể biến thành tân sinh chủng.

3- Tiến hóa thuyết. Do Von Hatmann đề xướng, cho cuộc tiến hóa vạn vật cứ diễn biến tuần tự ôn hòa theo hướng tâm linh ở những sinh vật có ý chí mà vô thức. Gần đây lại có thêm hai giả thuyết nữa : a) theo Bergson thì tiến hóa là đà sống; b) theo Cuénot, Pierrc Teihard de Chardin thì tiến hóa là do Thượng Đế điều khiển.

Vậy định chủng thuyết, biến hóa thuyết, tiến hóa thuyết v.v... đâu là có lý ? Đâu là đúng ?

Sau khi tóm lược các thuyết trên, thấy rằng: mỗi thuyết chỉ đúng với thực tế ở một vài khía cạnh. Cho nên muốn đạt gần tới chân lý, thiết tưởng cần phải vận dụng đến thống quan, tinh thức, tổng hợp, và khả năng dung hóa, họa chăng mới làm sáng được vấn đề.

Đồng ý với định chủng thuyết về chỗ các sinh vật khởi thủy đã có nhiều điểm khác nhau; nhưng vì sao lại khác nhau ? Đó mới là điểm cần tìm hiểu.

Đồng ý với định chủng thuyết về chỗ thể xác các sinh chủng hễ có phần nào luôn luôn được dùng đến thì sẽ nẫy nở, và sinh chủng chịu ảnh hưởng vật lý cũng như di truyền, nhưng vấn đề sinh chủng biến từ giống nọ sang giống kia, mà cả hai giống vẫn song song tồn tại, tiến triển, như người với vượn, thì vẫn cần phải xét lại.

Giả thuyết bảo loài vượn là thủy tổ loài người, trong khi vượn còn đang ăn quả trên rừng, mà người thì đã tìm cách chinh phục vũ trụ, thật đáng cho ta phải hoài nghi, phủ nhận rồi. Dù khoa học xưa vẫn cố chưng ra mọi bằng chứng để biện minh cho thuyết đó, song người ta vẫn có quyền khước từ những khẳng định trên: đích ra khoa học cụ thể không bao giờ có đủ khả năng giải thích trọn vẹn nguyên ủy của mọi vấn đề, cho nên vẫn còn nhiền người, vì tiến bộ cũng như vì bảo thủ, nhất định không chịu nhìn nhận, huống hồ thuyết ấy vẫn chưa hề được khoa học hiện đại quyết nhận.

Đồng ý với tiến hóa thuyết về sự tiệm tiến ôn hòa theo đường tâm lý ở những sinh chủng có ý chí mà vô ý thức, song điều kiện môi trường có ảnh hưởng tới sự tiến triển tâm lý, sinh lý ngay cả vật lý nữa hay không là vấn đề cần được bàn tới.

Như thế cả ba thuyết trên đã cho ta có khái niệm là: Các sinh chủng không hề do một ý thức nào sáng tạo ra, mà là do một nhiên luật vũ trụ hình thành; các sinh chủng không cùng một thủy tổ, nhưng do điều kiện vật lý khác nhau, mà lúc hình thành chúng đã khác nhau. Khi chúng đã tạo ra được những đặc tố, đặc tính và nguồn năng lực tự thân, tức là đã tạo được những gene -DNA- cá biệt cho riêng mình thì bắt đầu tiến trình truyền giống, nhân giống cho dòng họ mình mãi mãi.

Nếu nhận điều kiện môi trường vật lý có ảnh hưởng tới cuộc sống của sinh chúng thì sẽ hội tưởng được cách hình thành, sinh hoạt và nguồn dinh dưỡng của thủy tổ loài người.

Vẫn lấy đối tượng suy luận là đem một người thời nay, làm chuẩn tỷ, thì thủy tổ loài người lúc hình thành cũng theo quy luật của con cháu mình hiện giờ, nghĩa là tiến từ sự bổ sung nhiều yếu tố tinh thần vật chất cấu thành bào thai rồi cứ thế tiến mãi lên, chỉ có khác là không do hai người nam nữ, mà do nhiên luật vũ trụ cấu hợp, hình thành, diễn hóa mãi. Nói tới nhiên luật vũ trụ, không những chỉ riêng ở trái đất này mà bất cứ ở hành tinh nào, hễ gặp điều kiện môi trường vật lý thích ứng với sự sinh thành của “Người” thì “Loài Người” cũng có thể xuất hiện được.

Điều kiện môi trường vật lý gồm nhiều năng tố: nhiệt độ, quang năng, khí hậu thời tiết... tác dụng trên nhiên chất khiến cho các nguyên tử cứ Bổ Sung, rồi Phân Hóa, để Điều Hợp lại thành tế bào, hình thái căn bản của sinh vật (nguyên tử là thể hiện của Động+Tử+Năng, không phải đơn phương vật chất theo quan niệm duy vật một chiều). Điều kiện môi trường vật lý cũng giúp cho cảm thức, tính tình, tinh thần của các sinh vật phát triển.

Ở trên trái đất này, sinh chủng nào khi hình thành gặp điều kiện môi trường vật lý ôn hòa thuần khiết nhất, thì sẽ hấp thụ được nhiều tinh hoa vũ trụ đễ có được nguồn tinh thức cao sáng tinh tế nhất. Rồi tinh thức dần dần sáng suốt thêm, khiến cho sinh vật đó tiến lên giữ ngôi bá chủ sinh chủng. Phải nhận thức ngay rằng: Hiện nay chỉ có con người mới đạt tới trình độ sinh loại đó thôi.

Bằng vào điều kiện vật lý ở trái đất khá rộng này, dĩ nhiên loài người phải có nhiều gốc, nhiều giống xuất hiện cùng thời, hoặc khác thời với nhau tùy các địa vực... Đây cũng là lời giải đáp về điểm tại sao, có giống người sớm tiến, có giống người còn chậm tiến. Chậm tiến vì truyền thống, và do tinh thức chưa phát triển tới độ cao. Thêm vào đó, phong thổ, cảnh sống không thuận tiện cho tinh thức khai quang, nên ít có khả năng sáng tạo tế nhị.

Vậy điều kiện vật lý đã xung khích cho các sinh chủng nẩy mầm, phát triển và tự dưỡng bằng những chất liệu phù hợp với từng sinh loại, và những chất liệu này cũng do điều kiện vật lý cấu tạo nữa. Con người cũng theo thể thức ấy mà hình thành, sinh hoạt. Đến khi chân cứng tay mạnh, con người tự do nhặt hái những thực phẩm, mà nhiên luật đã dành cho mình. Rồi tới thời kỳ sinh lý sung mãn, con người cảm thấy sinh lực “tuy dồi dào mà vẫn thiếu thốn” nên cùng đồng loại khác phái giao cảm, giao phối để thay thế thiên nhiên mà giao thân tạo giống, trường tồn cho nòi giống mimh. Nhiền luật ở đây là ĐẠO theo quan niệm của các nhà Đạo Học Đông Phương, là Thượng Đế do sự nhân cách hóa của quan niệm Tây Phương. là Tất Yếu Khách Quan theo quan niệm của phái Duy Vật. Ở đây chúng ta gọi là SIÊU LÝ TUYỆT ĐỐI, toán học gọi là số X.

Mọi sinh hoạt của con người lúc đó, đều nương theo bản năng do nhiên luật điều động, chưa có ý thức, nên mỗi con người là một thế giới riêng biệt khép kín dầy đặc. Chỉ tiếp xúc với thế giới bên ngoài khi bản năng sai khiến. Tạm gọi giai đoạn lịch sử này là giai đoạn cá nhân. Nhưng khi đã có Sự Sống thì phải có Sức Sống, sự sống sức sống đã tào ra Hướng Sống của Con Ngưới. Sở dĩ tới nay loài người trở thành chủ nhân hành tinh này, đó là nhờ Hướng Sống Hợp Quần để xây dựng thành Gia Đình, Tổ Quốc và Thế Giới Người luôn luôn phát triển thăng hóa.

II.-GIAI ĐOẠN MẪU CHỦ.

Cảnh sống thần tiên, hoa lá xanh tươi, quả cây ngon ngọt, suối mát, khí lành, muôn loài hiền hòa, nguồn dinh dưỡng trù mật đối với nhu cầu con người lúc ấy... Tất cả đã khiến cho nhân loại tăng thêm số lượng và bảo tồn được giống nòi. Tuy vậy những phần tử suy yếu cũng bị nhiên luật đào thải đi rất nhiều.

Rồi cứ thế, các thế hệ nối tiếp nhau qua đi, tinh thức con người mỗi ngày một sáng, phong phú thêm mãi để truyền lại cho thế hệ sau. Nhờ đó cảm tính mặc thức nơi con người dần dần có được đôi chút ý thức. Mà ý thức tiên khởi về đồng loại là khái niệm về người mẹ. Và nơi người Mẹ, có một thứ cảm tính lân mẫn thiết tha đặc biệt cũng chỉ dành riêng cho Con, như một chức năng sinh hóa và bảo vệ sự sống, mà năng lực Siêu Lý Tuyệt Đối của nhiên luật đã đặt nơi tự tính của Mẹ.

Hình ảnh người mẹ in sâu vào tâm thể đứa con lúc ban đầu, ngay khi vừa thành hình trong lòng mẹ, đứa con đã sống nhờ khí huyết của người mẹ, tim hòa nhịp với tim mẹ, lo sợ, hân hoan theo sự lo sợ, hân hoan của người mẹ. Mở mắt thấy ánh sáng là thấy hình ảnh của mẹ, lớn lên trên tay mẹ, sống với đôi bầu sửa, và nhờ vào sự chăm sóc, dậy dỗ, nuôi nấng của mẹ. Cảnh sống càng khó khăn, mối liên hệ mẹ con càng sâu, càng bền. Đồng thời nhờ tinh thức di truyền: Nhân tính thêm lớn mạnh, nhân tình thêm đậm đà, nhân cách thêm khuôn nếp, nên mẹ con quyến luyến nhau đến mãn đời.

Người mẹ được coi như thần thánh ban nguồn vui, ban mọi sự phù trì. Con người tôn thờ, phụng dưỡng người mẹ, đó là giai đoạn mở đầu cho chế độ MẪU CHỦ. Chính sự SỢ HÃI và cũng là Hướng Sống, mà các bà Mẹ đã sống quây quần bên nhau, khiến các Con và những ngưới Nam cũng quy tụ quanh họ.

III.-GIAI ĐOẠN THỊ TỘC.

Ý thức về đồng loại mỗi ngày thêm rõ. Những giây phút êm ái giữa nam nữ đã tạo cho con người nguồn khoái cảm khi gần gủi, nguồn nhớ nhung luyến tiếc khi lìa xa nhau, tạo thành Cảm tính tư hữu. Từ cảm tính tư hửu Con người đã thăng hóa thành tình cảm nam nữ, dần dần gắn bó thành ĐÔI LỨA hẳn hoi.

Cảnh sống càng mở rộng càng khó khăn, thú dữ càng sanh sôi nẩy nở nhiều thì trong việc mưu sống, con người càng phải đoàn tụ bền chặt hơn. Lúc đó, loài người tận dụng sức mạnh để bảo vệ nhau, và để tranh sống, hòng nối dõi giống nòi. Người nữ phải gắn bó với người nam, nhất là trong thời kỳ thai nghén. Tính người đã khá trưởng thành, tình người đã khá rõ rệt, nên người nam nhận sự bảo vệ vợ con là một điều cần thiết. Cuộc sống đi dần vào ý thức người.

Tuy sức mạnh, để bảo vệ con người là đàn ông, nhưng sự tôn trọng của con người vẫn đặt nơi đàn bà. Hơn nửa, nam phái thường đi săn, câu xa, mà phái nữ thì luôn ở nhà trông coi con, nên đối với thị tộc, phụ nữ mặc nhiên nắm quyền chủ chốt. Đây là Chế độ Mẫu hệ vợ cưới chồng, con cái theo họ mẹ. Gọi chung là Giai đoạn lịch sử Thị tộc. Hiện nay còn một số dân tộc bán khai vẫn giữ chế độ này.

Cảnh sống càng khó khăn chừng nào, thì nam quyền càng lớn mạnh chừng ấy, lấn dần nữ quyền, mở đầu cho Chế độ Phụ hệ hay chế độ phụ chủ. Do đó, dân tộc nào càng ở vào những vùng phải giao tranh nhiều bao nhiêu thì càng sớm tiến sang chế độ phụ chủ bấy nhiêu.

Khí giới tự vệ duy nhất của người thời đó là cặp giò nhanh, đôi tay mạnh, chiếc hàm răng cứng bén. Mỗi khi gặp phải giống vật hung dữ, thì con người liền tận dụng những võ khí đó để chống đở. Cuộc giao tranh giữa người và thú bắt buộc hai bên phải cào cấu cắn xé nhau, máu địch thắm qua răng vào miệng xuống dạ dầy làm cho vị giác con người lần lần quen đi với mùi vị thịt tươi. Rồi khi nào thức ăn khan hiếm chẳng hạn, thì con người liền dùng thịt thú tươi thay thế .


B. THỜI Ý THỨC NHÂN LOẠI: HỢP ĐOÀN PHẤN ĐẤU.

IV.-GIAI ĐOẠN BỘ LẠC.

NHÂN QUẦN: XÃ HỘI BỘ LẠC . Thị tộc lớn thêm, nhân số tăng thêm tới đâu thì nhân tình mở rộng, ý thức đồng loại và tầm sinh hoạt bành trướng tới đó. Nhờ vậy các thị tộc dần dần gặp nhau ngày một thêm nhiều. Họ bớt chém giết hận thù nhau, vì thấy giống nhau như người cùng một thị tộc. Khi gặp thiên tai hay thú dữ, thì các thị tộc ở sát nhau liền quần tụ lại để cùng chiến đấu.

Việc kiếm sống bằng nhặt hái chuyển dần sang cảnh săn câu: Muốn bắt được mồi lớn, cho đủ số đông dùng thì trai tráng các thị tộc tất phải họp nhau thành đoàn để cùng đi săn câu. Thời kỳ quần đảng bắt đầu: mồi săn được, các thị tộc chia đều cho nhau. Thú dữ ngày một gia tăng, thú mồi ngày một khan hiếm dần, đoàn người săn câu phải đi thêm sâu, thêm xa vào sông, rừng tìm kiếm, thị tộc cũng bồng bế kéo nhau theo đi: loài người bước hẳn vào cảnh sống bộ lạc tập thể lang thang di động, và biết tìm những thú vật hiền lành để nuôi, mờ đầu cho cuộc sống du mục.

CHÍNH TRỊ. CHẾ ĐỘ LỆ THUỘC, con người bắt buộc phải sống thành tập thể chặt chẽ, lập tức xã hội phải được tổ chức khắt khe: Luật lệ và thủ lãnh xuất hiện.

Theo luật rừng hoang: Người mạnh bạo mặc nhiên cầm đầu đoàn thể, nhất là đoàn săn câu. Khi xã hội chuyển sang tổ chức bộ lạc, thì người cầm đầu tất cả các Thị Tộc trong Bộ Lạc phải là người Nam, phải thừa dũng mãnh, mới được làm tù trưởng. Dân trong bộ lạc coi tù trưởng như vị thần. Óc dị đoan của con người thời đó, cho tất cả những gì hùng vĩ huyền ảo đều là thần thánh, nên sức mạnh bạo của tù trưởng cũng phải là sức dũng mãnh của thần linh. Tù trưởng được coi như là một nhân thần và được thờ như thần, cho đến khi tù trưởng yếu hèn, tức thần linh rời bỏ con người phi phàm đó, thì bộ lạc liền phải chọn người mạnh bạo khác thay thế.

Rồi về sau, con người mỗi ngày trong cảnh tranh sống, càng thấy cần thêm những kinh nghiệm mánh lới, nếu không hơn thì cũng phải ngang với đảm lược, nên tù trưởng phải được chọn trong lớp người vừa cao niên vừa dũng mãnh và nhiều khi suốt đời được tôn kính để cầm đầu bộ lạc. Từ đó địa vị tù trưởng phải căn cứ thêm vào sự đào luyện, tập truyền, nhất là gia truyền, nên chế độ thủ lãnh biến thành chế độ cha truyền con nối: đẳng cấp thống trị bắt đầu nảy mầm.

Bên cạnh quyền hành của tù trưởng còn phát hiện một thứ quyền lực thiêng liêng khác nữa là giáo quyền, do lớp pháp sư, phù thủy nắm giữ. Phù thủy nói lên tiếng nói của thần linh, chữa bệnh cho dân và đại diện cho Thần, cầu khẩn thần linh phù trì cho dân, để cuối cùng thay mặt dân chúng cúng tế thần linh. Do đó uy quyền của tù trưởng luôn luôn bị pháp sư chia bớt và hạn chế: sự phân quyền bắt đầu. Từ tinh thức đến thực tế cuộc đời, con người hoàn toàn bị đóng khung chặt cứng trong chế độ lệ thuộc trực tiếp.

KINH TẾ. CẢNH SỐNG PHI SẢN, nguồn sống của bộ lạc là hoa, trái, thịt, cá. Cách sống là nhặt, hái, săn, câu. Khí cụ là tay, gậy, đồ đập, đá mài.

Lúc đó, loài người sống hoàn toàn PHI SẢN, chưa đủ điều kiện sản xuất và tích lũy; thức ăn đều do nhiên cảnh cung cấp: săn, câu được nhiều mồi, thì bộ lạc quần tụ lại để ăn uống, reo hò, nhẩy múa. Tuy sống chung chạ và phi sản, nhưng đôi lứa, dòng họ vẫn được bảo tồn.

Đôi khi gặp cơn núi phun lửa, hoặc cháy rừng, vì thú mồi chết nhiều, nên con người mới làm quen với ăn thịt nướng, rồi dần dần “học” được cách nấu nướng thịt cá. Từ lúc ấy, con người thoát khỏi cảnh sống cầm thú hạ đẳng, vươn lên cảnh sống của động vật cao đẳng. Và cũng từ đấy, lửa mới mang lại cho con người một nguồn vui thích có pha lẫn sự tôn kính. Vui thích vì lửa cung cấp cho mình miếng ăn ngon thơm, nguồn ánh sáng ấm áp, cuộc đời tươi đẹp.

Đã vậy, lửa lại còn là một khí giới hữu hiệu, bảo vệ cho mình chống lại muỗi độc, thú dữ. Do đó con người giữ gìn ngọn lữa rất kỹ lưỡng. Lỡ chẳng may mà lửa tắt đi, thì con người phải tìm cách đập đá hoặc cọ vỏ cây cho ra lửa, và đấy là phát minh quan trọng nhất của loài người, vì từ lúc ấy con người mới tiến sâu vào được cuộc sống suy tư, sáng tạo.

Rồi những khi đêm tối, trời lạnh hay những lúc băng rừng lội suối, gặp phải gai góc, đá nhọn thì con người phải dùng vỏ cây hay lá bền để quấn lấy thân mình, nhất là đối với chỗ hiểm huyệt hoặc non da. Tinh khôn thêm lên con người biết dùng da thú làm quần áo mặc cho thêm kín, thêm ấm, thêm bền.

Còn các đoàn săn câu phải đi xa khỏi hang động, mỗi khi gặp tiết tuyết sa, mưa đổ, nắng đốt, gió lùa, nước cuốn, phải ẩn núp dưới tàn cây, hốc đá, rồi sau bao cơn nguy hiểm, mới tìm ra được cách đốn cây, chặt lá, cắm lều, chẻ nứa, làm chòi để sau cùng rời bỏ hang động chật hẹp, lạnh lẽo, bấp bênh, mà cất nhà sàn, vừa tránh được thú dử, vừa thoát cảnh ngập lụt.

Con người trong giai đoạn này hoàn toàn sống phi sản, ngay đến những bộ lạc sớm sống cuộc đời hoàn toàn du mục, thì cũng chỉ mới biết tích lũy nhiên sản, vì chưa biết sản xuất. Còn tài sản thì đều do tù trưởng nắm giữ cả. Đây là cảnh sống KINH TẾ PHI SẢN, chẳng có thứ Cộng Sản Nguyên thủy nào hết.

VĂN HÓA: Ý THỨC ĐA THẦN. Sống trong cảnh núi rừng trùng điệp thâm u, đầy thanh âm huyền ảo, đầy cạm bẫy sát nhân, đầy thú dữ lộng hành, đầy hiện tượng khiếp đảm, tất cả đã luôn luôn đè nặng lên nhận thức mình, nên con người phát sinh ra quan niệm ĐA THẦN: tin rằng tất cả các vật hùng vĩ, các hiện tượng kỳ ảo, như bão động, lửa phun, cây to, núi lớn, thú dữ, sóng gầm,..nhất nhất đều là thần linh, đều là nơi ngự trị của các đấng vô hình đầy oai quyền cả.

Đời sống tập thể càng qui tụ thêm đông, số thần linh lại càng thêm gia tăng: vì mỗi thị tộc thường vẫn có một “vật tổ” được đoàn thể tôn thờ; tới thời bộ lạc, mỗi bộ lạc lại nhận một vật tổ uy danh hơn. Đối với vật tổ, loài người có hai thái độ: Một là kính, hai là sợ, nhưng phần nhiều là tôn kính, vì thói thường là họ thờ phụng những thần vật hằng cung cấp ích lợi cho họ.

Càng thêm quần tụ, thanh âm, tiếng nói, do đó càng thêm giầu: con người học hỏi lẫn nhau những lối phát âm dị biệt để biểu lộ tâm tình, ý muốn cho thêm đậm đà. Học tiếng suối reo, gió thổi, học tiếng chim muông, cầm thú... mỗi khi muốn nhắc nhở tới ngoại cảnh. Những thanh âm, ngày một phong phú này, góp dần lại thành ngôn từ, trước đơn, sau kép, rồi ghép lại thành đoạn, thành khúc, thành bản, thành bài để tấu lên hòa vào nhịp múa, biến thành điệu ca, bắt chước âm thanh tạo ra thứ hình ảnh động.

Càng thêm quần tụ, càng thêm kinh nghiệm, dần dà biết dùng đến nét khắc đơn giản trên thân cây vách đá, đánh dấu chỗ nguy hiểm hay tạc hình thú dữ, mồi ngon để người sau nhận biết. Hoặc tạc hình vật tổ để phụng thờ, hoặc ghi thời khắc mặt trời, mặt trăng lúc mọc, khi lặn. Có nơi biết thắt nút dây để đánh dấu ngày tháng, sự việc. Lối ký nhận tượng hình, thịnh hành nhất đối với các bộ lạc sớm sống cuộc đời thiên cư, vì đi tới đâu, gặp vật gì, biết sự chi mới lạ, đều phải ghi lại trên mảnh cây hoặc vẽ lại trên mảnh da mang theo, hay đánh dấu lên vách đá dọc đường, hòng “rút kinh nghiệm” về sau. mở đầu cho sự khắc chữ.

Rồi mỗi khi muốn diễn tả lại cuộc hành trình của bộ lạc, hay truyền lại kinh nghiệm đã thu lượm được, thì chỉ việc chép lại những hình nét mình đã ghi nhận trước đó, nếu là quá cần. Còn không thì bao nhiêu kinh nghiệm kia biến thành giai thoại truyền khẩu, nghĩa là tạo ra một thứ văn tự ghép cả bộ điệu tượng hình vào với âm thanh, hài thanh để sau cùng, khi tư tưởng đã tế nhị hơn thì lại dựa vào những hình ảnh và âm thanh kia để thêm vào những nét biểu hiệu ý tứ của mình hội ý. Cho tới gần đây thứ văn tự rườm rà gợi ý dạng tự này, đã được thay thế bằng thứ chữ đơn giản, gọn ghẽ hơn, song đó chỉ là văn tự của những dân tộc hiếu động, gốc gác ở Châu Âu, vẫn còn nhiều nơi, phần lớn ở Châu Á, dân chúng chủ tĩnh hơn, thường cố giữ lấy thứ văn tự phiền toái cũ, chữ Tầu, chữ Ấn chẳng hạn.

Những bộ lạc đầu tiên có chữ trong lịch sử loài người, hiện nay mới biết được là các bộ lạc xưa kia ở vùng lưu vực Lưỡng Hà, bộ lạc Ai Cập, bộ lạc Hán và bộ lạc Aryan Ấn.

* Lưỡng Hà, nay thuộc miền Ba tư, Iran, Iraq có lối chữ hình que. Di tích để lại trên mặt đất chứng tỏ nền văn minh này có trước tây lịch chừng 20 thế kỷ. Còn phần bị chôn vùi dưới lòng đất: lớp thứ nhất, chừng 40 thế kỷ, lớp thứ nhì, từ 50 đến 70 thế kỷ trước Tây lịch, đây là nền văn minh, có thể liệt vào loại cổ nhất, đã bị các nạn động dất, hồng thủy, phù sa vùi lấp từ quá lâu, nên ít có ảnh hưởng tới con người hiện đại.

* Ai Cập là một bộ lạc thiên cư, nên tới nay cũng chưa rõ chữ viết đã được hệ thộng hóa từ thuở nào và bởi tay ai. Còn đối với Trung Hoa, thì từ đời Phục Hy -4480 - 4365 trước Tây lịch- chỉ mới vạch ra thứ chữ “có tám quẻ để thông đức lớn với thần linh, để giải tính tình của muôn loài” . Như vậy mà ở Ai Cập, chỉ sau đời Phục Hy có mấy trăm năm, mà người ở đây đã đặt ra nổi thư khế, giá thú, luật hình, luật hộ,... để tổ chức xã hội, tuyển dụng nhân tài thống trị, điều khiển dân chúng bị trị thì sự đó không những chỉ chứng tỏ Ai Cập xưa đã có một nền văn minh khá cao, mà còn chứng tỏ rằng: chữ Ai Cập phải có trước đó khá lâu rồi, nên mới tạo ra được một nền tảng văn hóa vững vàng đến thế.

* Bộ lạc Aryan tràn vào lưu vực sông Ấn, sông Hằng, khoảng vào 20 thế kỷ trước tây lịch, dần dần chiếm hết bình nguyên Ấn lục, mở ra nền văn minh Vệ đà. Những tài liệu khai quật dược ở Harappa và Mohenjodaro chứng tỏ dân Ấn đã biết dùng hai lối chữ Phạn và Paly, theo dạng tự tượng hình ngoằn ngoèo, cách đây chừng năm nghìn năm rồi.





V. GIAI ĐOẠN QUỐC GIA.


NHÂN QUẦN: XÃ HỘI QUỐC GIA . Bộ lạc đã quá đông đảo, dân cư không thể chen chúc ở trong hang động, trên triền núi hay bờ sông ngòi chật chội nữa. Đã vậy cuộc săn câu ngày một khan mồi, có khi đoàn trai tráng phải đi xa hàng mấy ngày đường mới tìm ra thịt, cá tươi. Bởi thế bộ lạc phải bồng bế nhau, bầu đoàn thê tử, kéo theo chân các lớp người săn câu. Tới đâu dựng lều, nhóm lửa tạm trú đợi mồi. Rồi thú mồi quanh đó cũng vơi dần, bô lạc lại nhổ lều lên đường thiên cư. Những bộ lạc chuyên sống bằng săn bắn, thì lang thang trong rừng núi. Còn bộ lạc chuyên sống bằng bắt cá thì men theo sông ngòi lần ra đồng bằng, rồi xuống ven biển. Cũng có bộ lạc, văn minh hơn biết chăn nuôi, thì dẫn đoàn thú tới các miền cao nguyên sẵn đồng cỏ xanh tốt.

Trong những cuộc thiên cư nhiều khi là vô định này, các bộ lạc khó tránh được sự xâm phạm lãnh địa sinh hoạt của nhau, nên thường xảy ra lắm cuộc xung đột trước nhỏ sau to: chiến tranh giữa người và người mở màn từ đó.

Thiên cư càng mở rộng, chiến tranh càng dữ dội lan tràn khắp các bộ lạc cũng sống trong một địa vực đã được thiên nhiên giới định, bởi núi cao biển lớn sông dài hoặc sa mạc: Đây là trường hợp những quốc gia có biên cương tự nhiên.

Nhân loại bước vào cảnh sống Quốc gia qua hai giai đoạn :

Giai đoạn thứ nhất: Sau khi các bộ lạc chém giết lẫn nhau, nhân dân bị tàn phá khổ ải liên miên, trước tiên chớm nở một hiện tượng rõ rệt là lòng thương giữa con người với con người ở trong thời loạn. Và niềm chán nản đối với chiến tranh, lòng mong mỏi thái bình. Dựa vào tâm lý đó mà một tù trưởng lỗi lạc đã dùng bạo lực của bộ lạc mình, hay dùng áp lực của đa số dân chúng hiếu hòa của bộ lạc khác mà “thu tất cả về một mối”, nghĩa là thống nhất các bộ lạc lại, hợp thành một Quốc gia. Đó là giai đoạn thành lập các quốc gia hoàn toàn định cư ở miền đồng bằng.

Giai đoạn thứ nhì: Đời sống thái bình dần dần làm hèn yếu các quốc gia định cư đi, khi gặp lúc một bộ lạc du mục nào, hoặc vì hùng cường, hoặc vì quá đông, không chịu sống eo hẹp nơi rừng núi nữa, thì lập tức kéo nhau tràn ra bình nguyên để bình trị và đồng thời đồng hóa với các quốc gia đồng bằng kia, họp thành một nước lớn: xây dựng đời sống kinh tế trồng tỉa, mở chợ trao đổi thức ăn cùng với tư tưởng, giữa họ và các miền rừng núi; tổ chức quân đội để tự vệ và nếu cần thì mở mang bờ cỏi. Hình thái xã hội lúc đó đã nhuốm màu quốc gia thực thụ.

Xã hội đã có quy củ, tức là lịch sử đã do ý thức con người bồi đắp ngày một thêm phức tạp, thêm ngăn nắp, thêm dị biệt, tùy theo nhân tình, nhân tính, nhân cảnh từng địa vực, lớn nhỏ khác nhau do thiên nhiên quyết định:

* Thời này, ở AI-CẬP, nhằm từ đời vua MENES, khoảng thế kỷ 32 trước Tây lịch, cho đến thế kỷ 13 trước Tây lịch thì đạt tới mức huy hoàng cực thịnh nhất thế giới bây giờ. Rồi dần dần suy tàn, vì vua thì hoang dâm, dân thì lười biếng, khiến nền văn minh sáng chói của nhân loại cổ xưa ấy, chịu cảnh điêu linh băng hoại, tắt lịm luôn khoảng hai ba nghìn năm mới phục sinh nổi khoảng nửa cuối thế kỷ 20 sau Tây lịch này.

* Ở Trung hoa thì chớm phát vào đời Hoàng đế, thế kỷ 27 trước Tây lịch, kéo dài và nằm lỳ trong một quốc gia chậm tiến, cho mãi tới cuộc cách mạng Tân Hợi 1911 sau Tây lịch và cuộc nông dân khởi nghĩa toàn diện, tự xưng cách mạng vô sản năm 1949 sau Tây lịch mới thực là trải qua một cơn đảo lộn về chính trị, mặc dầu về mọi mặt chính trị, mặt kinh tế, xã hội và văn hóa vẫn cứ giữ nguyên cựu trạng.

* Ở VIỆT NAM, lập quốc tại vùng Ngũ lĩnh Động đình hồ vào thời Kinh Dương Vương - Long Nữ rồi truyền lại cho Lạc Long Quân và Âu Cơ, trên 20 thế kỷ trước tây lịch, theo khuyết sử. Còn theo truyền sử thì vào thời Hùng vương 14 thế kỷ trước Tây lịch, định cư lần thứ hai tại châu thổ sông Hồng. Và bút sử thì vào thời Dân tộc tự chủ NGÔ QUYỀN, thế kỷ 9 sau Tây lịch, tuy phải luôn luôn chống lại ngoại xâm, nhưng nhờ truyền thống bất khuất và dẻo dai, nên mới tồn tại đến ngày nay.

* Ở LA MÃ, dân tộc Latin xây thành LA MÃ, thế kỷ 8 trước Tây lịch. Vào thời ROMULUS đầu tây lịch, biến thành đế quốc khổng lồ, rồi vào năm 476 sau Tây lịch, thuộc đời ROMULUS-ANGUSTULE thì tiêu tan.

* Ở PHÁP,lập quốc vào đời CLOVIS 1, Thế kỷ 5 sau Tây lịch, rồi qua bao lần xóa đổi biên cương, mãi tới 843 sau Tây lịch mới định xong ranh giới.

Ở Hoa kỳ, Christopher - Columbus tìm ra châu Mỹ vào năm 1492,và Hoa kỳ lập quốc ngày 04 tháng 7 năm 1776, thành hình chế độ TỰ DO DÂN CHỦ CỘNG HÒA đầu tiên trên thế giới. Một quốc gia đa chủng tộc, đa văn hóa, kinh tế thị trường tự do, chính trị dân chủ trọng pháp, đang đi lên vững mạnh trong thời đại mới.


CHÍNH TRỊ. CHẾ ĐỘ PHONG KIẾN. Thống nhất được các bộ lạc rồi thì quyền hành điều khiển người dân tập trung trong tay người uy mãnh nhất của bộ lạc chiến thắng gọi là vua. Nhà vua không những nắm thế quyền quốc gia, mà còn thu luôn cả giáo quyền vào tay mình nữa. Vua tự xưng là con trời, thay trời hành đạo trị dân. Chỉ có vua mới được tế trời. Dòng họ nhà vua là dòng họ nhà trời. Chỉ có con vua mới được làm vua. Ban đầu dù không trực tiếp trị dân, vì ảnh hưởng của tộc trưởng, tù trưởng còn mạnh, nên vua hoặc cắt đất ban tước cho các tù trưởng, tộc trưởng, hoặc phong hầu kiến địa cho công thần danh tướng, thay mình chăn dắt muôn dân.

Chư hầu theo lệ lập ấm để cai trị dân, nhưng phải triều cống vua. Vua nắm giữ giềng mối quốc gia; chư hầu nào vi phạm an ninh, ước lệ thì vua phát binh nhà trời hạch tội. Quân thiên tử mà không đủ sức, thì vua xuống chiếu trưng binh chư hầu để dẹp loạn.

Bộ lạc mất dần tính cách tập trung: Vua hoàn toàn thi hành chính sách phong hầu kiến địa cho công thần, tôn tộc để áp dụng đúng chính sách muôn thủa “chia để trị": chia người, chia đất, chia quyền lợi. Hoặc có chư hầu nào lộng hành lấn quyền thiên tử, nổi lên lấn áp lẫn nhau, hoặc lấn át thiên tử, làm cho quốc gia phân tán, dân chúng điêu linh, thì bao giờ cũng có một vương hầu mạnh thế nhất, hay một tù trưởng dũng mãnh, hoặc từ trong đánh ra, hoặc từ ngoài đánh vào để dẹp loạn chiến quốc, nghĩa là thống nhất uy lực, hủy bỏ chế độ tản quyền, rồi tự mình tuyển dụng quan chức trao phó cho công trách quốc gia: nhà vua trực tiếp điều khiển quốc dân qua lớp viên chức do mình bổ nhiệm; nắm quyền tối thượng về mọi mặt lập pháp, hành pháp, tư pháp và kiểm soát (đô sát xưa, báo chí nay), đến cả tài sản quốc gia cũng đều thuộc về một tay nhà vua xử dụng, “ý vua là ý trời”, không ai có quyền phản đối; “lệnh vua là lệnh trời”, buộc mọi người phải tòng phục. Tài sản,sinh mạng của dân cũng thuộc toàn quyền xử lý của vua. Đây là chế độ QUÂN CHỦ TẬP QUYỀN.

Chế độ Quân chủ tập quyền này bắt đầu phát triển.Ở Trung-Hoa về đời vua Tần Thủy Hoàng thế kỷ thứ 3 trước Tây lịch, ở La-mã đời Octave thế kỷ đầu tây lịch, ở PHÁP đời Charlemagne, thế kỷ thứ 8, sau Tây lịch; ở Việt Nam đời vua Đinh Tiên Hoàng, thế kỷ thứ 10 sau Tây lịch.

Nền quân chủ ở mấy nơi kể trên, vì đã có quá nhiều biến cố, hoặc truyền thống tản quyền còn nặng, hay gặp phải chiến tranh nội bộ xâu xé, nên thay đổi hình thái quân chủ, thành các chế độ lãnh chúa, vương địa, bán quân chủ, bán phong kiến - Trung Hoa, Ấn Độ -. Riêng VIỆT-NAM vẫn giữ vững tính chất quân chủ tập quyền cho mãi tới cuộc Tổng khởi nghĩa năm 1945.

KINH TẾ. CẢNH SỐNG HỮU SẢN. Quốc gia quân chủ tập quyền và lần lần thống nhất nổi được luật lệ dân sinh, nên nhân số dễ bề tăng gia gấp bội. Do đó, thú mồi săn câu không đủ nuôi miệng người mỗi ngày một thêm đông, thành thử phải tính chuyện chọn súc vật hiền lành để chăn nuôi biến thành gia súc, phòng khi khan hiếm thực phẩm. Từ đấy con người bước sang cảnh sống tích lũy và tạo ra phương tiện sản xuất, mở đầu cho nền KINH TẾ HỮU SẢN.

Bầy thú được nuôi dưỡng, ngày một sinh sôi nẩy nở. Dân chúng theo liên hệ gia tộc, chia phần đều thú vật với nhau, rồi đuổi chúng lang thang khắp chốn để sống nhờ vào da, thịt, lông của chúng. Đấy là cảnh sống du mục.

Rong ruổi qua đồi, qua núi hoang vu, hễ thung lũng nào phì nhiêu ấm áp, đồng nội nào xanh tươi màu mở thì cắm trại cho mục súc bồi dưỡng, còn con người thì kiếm cách định cư lập nghiệp, dựng nên các thôn ổ. Nhờ óc suy tư sâu rộng, nhờ tài sáng kiến dồi dào, nhân chiêm nghiệm thấy bầy thú vì ăn hoa cỏ thơm tho mà béo tốt, nên con người liền nghĩ ngay tới việc chọn lựa hoa cỏ dùng làm thực phẩm, thuốc men.

Lúc bước hẳn sang cảnh sống NÔNG NƯƠNG HỮU SẢN thực thụ, thì loài người mới định danh, định chất, định vị chính đáng cho khái niệm QUỐC GIA. Nghề nông phát triển, cảnh sống phong phú, mọi việc trao đổi đồ vật thêm tấp nập, liên tiếp, định kỳ: các thị trấn được thiết lập; thị trấn lớn nhất được coi là kinh đô; mới đầu là “kẻ chợ” buôn bán đồ ăn, thứ mặc, sau dần biến thành nơi giải quyết mọi việc cả về bốn mặt: kinh tế, chính trị, quân sự, xã hội, đi từ đơn giản đến phức tạp.

Con người quen dần với cảnh sống mới, rồi nhờ vào chỗ tiếp xúc, trao đổi thường xuyên, mà dân đồng nội tải ngũ cốc ra chợ bán, kẻ chợ lại đưa lên miền đồi núi, đổi lấy da thú, lâm sản, dụng cụ, người miền núi cũng đem đồ dùng xuống miền xuôi, đổi lấy thực phẩm. Do đó tạo ra một số thương nhân chuyên nghiệp: nghề BUÔN BÁN phát triển mạnh.

Còn CÔNG NGHIỆP, tuy đã có từ lúc con người biết dùng mảnh đá vỡ, biết đẽo và mài ra đồ đạc bằng đá, nhưng dụng cụ làm ra như vậy, phần lớn đều để săn câu, để đánh nhau, chứ không phải để gia tăng sản xuất. Cho tới khi nông nghiệp phát đạt thì công nghiệp mới thực sự thành một ngành chuyên môn, sản xuất ra dụng cụ dùng vào việc trồng tỉa chung, vì trước đó thì ai nấy thường tự làm ra dụng cụ để cho mình dùng thôi.

Mới đầu là tiết trời, sau dần đến vì luân lý mà con người thấy cần phải có quần áo che thân. Da thú, lá cây tuy là nhiên liệu song vừa bất tiện vừa khó kiếm, nên con người mới nghĩ cách đan cỏ làm đồ mặc, rồi dần dần làm ra những sợi cây, sợi cỏ mỗi ngày một nhỏ, một bền, để cuối cùng biết lấy bông xe sợi thành chỉ đem dệt vải. Rồi từ đan dệt thô sơ tiến lên làm đẹp, làm bền. Tức là vì mỹ thuật.

Hai ngành công thương, đối với các quốc gia yên ổn, chỉ là ngành sản xuất phụ, còn ngành chính vẫn là nông nghiệp. Nông phu khai thác đất đai tới đâu, thì phe thống trị thu địa tô tới đó: nông dân biến thành công cụ sản xuất phục vụ cho đẳng cấp quý tộc, mà thượng đỉnh là vua chúa.

Với các quốc gia lâm vòng chinh chiến, thì ngành nông gặp khó khăn, nhưng công nghiệp thì rất mực phồn thịnh, nhờ điểm thường xuyên chế tạo vũ khí. Trong một nước có nền công nghiệp mạnh, thì bao giờ ngành thương mại cũng song song phát triển, để điều hòa các ngành sản xuất và giữa những khu vực sản xuất, tiêu thụ với nhau. Do đó, nguồn lợi lớn về kinh tế phải tập trung vào tay nhà buôn: loài người bước dần vào cảnh sống TƯ SẢN.

Khi có các ngành Nông, Công, Thương thành hình thì vấn đề giao hoán cũng được cần tới. Đầu tiên là đổi sản vật lấy sản vật, đổi hàng hóa lấy sản vật, hoặc hàng hóa từ vùng này tới vùng khác. Do tính cánh nặng nề của sự giao hoán thô sơ đó, thực tế đòi phải có một thứ quý vật gì đó được mọi người cùng chấp nhận, dùng làm vật trung gian hoán chuyển. Thế là Vàng Bạc hai thứ quý kim này được dùng làm vật trung gian hoán chuyển. Tiến thêm một bước nữa là Nhà Vua đúc tiền vàng, bạc, sau rồi dùng tới kim loại khác như đồng, kẽm để đúc tiền, nhưng vẫn lấy vàng làm bản vị. Nghĩa là người sử dụng bất cứ lúc nào cũng có thể dùng tiền để đổi ra vàng. Chót hết là Nhà nước phát hành tiền giấy, nhưng vẫn dùng vàng để làm bản vị.

Vào thời kỹ nghệ phát triển, thế giới bước sang một giai đoạn mới. Đồng tiền của các nước phát triển dùng vào việc giao hoán với nhau. Nên chính mức thịnh vượng của nền kinh tế mỗi nước tự định giá Tiền Tệ của mình với các nước khác. Tiền tệ của nước nào tạo được NIỀM TIN là không bị sụp đổ bất ngờ, đương nhiên đươc mua vào nhiều để làm vốn dự trữ cho các nước, các ngân hàng và tư nhân. Tiền tệ đối với việc giao hoán lớn hiện nay trở thành những “con số” trong các ngân hàng. Công việc trung gian giao hoán “con số” tài chánh giữa các nước, các công ty làm ăn buôn bán đều trao phó cho Ngân hàng.

Ngân hàng vừa là nơi ký thác tiền tệ của mọi người, vừa làm nhiệm vụ trung chuyển giao hoán trong công việc làm ăn, lại còn là nơi đem vốn của người ký gởi ra đầu tư, cho vay sinh lời cho thân chủ...Càng ngày vai trò ngân hàng càng trở nên quan trọng đối với nền kinh tế Quốc Dân và nhất là trong thời đại Kinh Tế Toàn Cầu Hóa. Mà điều sinh tử của Ngân Hàng là đặt vào “CHỮ TÍN”. Thật là lãnh vực kinh tế hết sức thực tế, nặng phần vật chất cuối cùng cũng vẫn do giá trị tinh thần là Niềm Tin của Con người quyết định.

VĂN HÓA: Ý THỨC ĐỘC THẦN . Con người rời bỏ rừng rú xuống sống ở giữa cánh đồng ruộng mênh mông, dưới vòm trời cao thẳm, quan niệm thần linh cũng bị thay đổi: Họ cho là trên cõi cao xanh, nơi ban ngày thì mặt trời chiếu sáng, ban đêm thì trăng sao, nơi phát ra gió bão, sấm sét kinh hoàng, những tia chớp giết người kia, phải là chổ ngự trị của các đấng thần linh, to, nhỏ, lành, ác, khác nhau vô kể. Qua cảm thức linh ứng, rồi qua mọi nghi thức của triều đình ở nơi dương thế, con người hoạt tượng ra cả một thiên cảnh huy hoàng, và nhân cách hóa nguồn lực siêu nhiên của vũ trụ thành vị chúa tể cực quyền, là Thượng Đế cao sang, linh nghiệm vô vàn. Mọi vị thần linh khác đều đặt dưới quyền thống ngự của ngài. Chính cũng do quan niệm này mà nơi dương thế, nhà Vua vừa nắm nổi thế quyền cai trị, lại vừa thu luôn được giáo quyền thiêng liêng nữa.

Ở ít nhiều quốc gia, tuy con người mới mở đầu chỉ thờ kính những VỊ THẦN, tượng trưng cho các nguồn sống chính hoặc nghề nghiệp của họ, hay thờ tổ tông thôi, song đích ngay những vị thần này cũng dần dần nhiễm lấy tính chất “THƯỢNG ĐẾ” cả. Cũng có quốc gia chỉ thờ có hai vị thần THIỆN, ÁC, giữ phần thưởng phạt loài người, cùng với một thần bản mệnh khác nữa.

Ý chí con người vốn mạnh, ham muốn con người vốn nhiều, tưởng tượng con người vốn rộng, nên lòng người luôn luôn vươn tới trường cửu. Mà đời sống ngắn ngủi của loài người thì thỏa đáp sao nổi ước vọng đó, cho nên người ta mới nẩy sinh ra quan niệm HỒN THIÊNG bất tử. Nhiều Tôn giáo cổ dựa vào khái niệm Linh Hồn thường hằng mà thành hình. Ảnh hưởng đạo giáo ngày một rộng lớn, thấm vào nếp sống, tràn qua chính trường, bằng những sự hy sinh đẫm máu của tín đồ, đem dùng vào việc giành lại giáo quyền đang ở trong tay Vua Chúa: phe TĂNG LỮ khởi phát.

Xã hội có tổ chức quy củ, tức là có luật lệ chi phối những mối tương quan giữa Người với Người, những mối tương quan giữa Người với Trời, đặt trên nền tảng ý niệm Thiện,Ác: nền LUÂN LÝ ra đời mỗi ngày thêm bền chặt. Các nhà đạo đức học xuất hiện, nêu lên mọi vấn đề cho lớp triết nhân, suy tư, tìm hiểu. Nhờ đó, các triết phái nẩy ra rất nhiều, mỗi phái quan niệm và giải thích vũ trụ một khác. Thường thì các triết nhân hay chiêm nghiệm tinh tú tuần hoàn để hoạt tượng ra cảnh vật vận chuyển, cảnh sinh thành của thế giới, nên khoa thiên văn và toán học được phát triển thường xuyên.

Cốt tính đam mê giúp cho con người phát tiết những rung cảm, những khích động của mình qua điệu múa, lời ca nét vẽ, hình khối, rồi được lọc luyện bởi óc suy tư và khiếu thẩm mỹ, biến thành những vũ khúc, biểu hiện tình tiết có hệ thống, điểm thêm lời ca thành nhạc khúc tiết tấu, do nhạc cụ hòa âm. Ca và vũ thường quyện vào nhau họp thành nghệ thuật diễn xuất: tuồng kịch... Đến những nét vẽ đơn sơ, những hình khối mộc mạc, dần dần cũng tinh luyện thành hai khoa hội họa và điêu khắc. Hai khoa này càng tinh tiến càng giúp cho khoa kiến trúc thêm hoa mỹ, phức tạp. Về phần quy mô lớn nhỏ, mẫu mực đều tùy theo địa vực và bối cảnh lịch sử nhân văn.

Để cất được một căn nhà, trồng được một thửa ruộng, đắp được một con đê, rèn được một lưỡi dao,... con người thường phải đặt ra những câu hỏi: Làm thế nào ? Làm ra sao ? Làm bằng cách gì ?... Do đó phát sinh ra tinh thức thực nghiệm.

Chỉ có các dân tộc từ ngàn xưa đã định ra được ranh giới, thì mới tạo ra nổi một cá tính riêng biệt, nhờ ở chỗ thường trực pha máu, hòa tiếng, góp chữ, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau, và nhất là cùng chung sức tranh đấu giữ gìn bờ cõi, cùng nhau “cam, khổ giữ đồng” nên mới tạo ra nổi cơ sở tinh thần cho một dân tộc thống nhất: một ngôn ngữ và một nếp sống chung. Làm thành Truyền thống Dân tộc.

Còn những nước nào thành lập về sau thì thường chịu ảnh hưởng văn hóa chung của từng địa vực, trong đó mình sống, hay do một đế quốc mạnh truyền qua, nhờ vào sự giao thương một cách hòa bình hoặc bạo động. Mỗi lần đế quốc mở mang quyền lực ở các quốc gia nhỏ yếu, thì văn minh của họ theo gót quân lực đến xâm lược tâm trí dân chúng nhược tiểu, rồi khi trở về chính quốc họ cũng mang theo những nét mới lạ của nền văn hóa thuộc quốc để làm giầu chính quốc. Do đó, dân tộc nào không có văn hóa vững vàng thì tất trước sau gì cũng bị cường quốc ngoại lai đồng hóa.

Ngược lại, dân tộc nào có văn hóa cao mạnh, hay là có truyền thống tổng hợp để dung hóa nổi tư trào ngoại lai tràn tới, thì dù có bị chiến bại, xâm lăng về ba mặt chính trị, kinh tế, xã hội, tất cũng tự mình dung hóa nổi ảnh hưởng ngoại nhân, mà bước lên đài văn thịnh,nước mạnh, dân giàu của nhân loại mở rộng.


C. THỜI NHẬN THỨC NHÂN VĂN: TỔ CHỨC ĐIỀU HỢP


Truyền thống đấu tranh tự tồn đã bắt rễ sâu vào tinh thức con người kể từ bao ngàn năm nay rồi, đến ngày nay, gặp thời kỳ bắt buộc phải chuyển tiếp đời sống xã hội, từ trạng thái quốc gia sang trạng thái quốc tế, thì loài người mới thấy là mình đang vấp vào những bức tường của dân tộc, của chủng tộc và của văn hóa rất mực kiên cố: nỗ lực của quá khứ biến thành trở lực cho tương lai, nhất là cho hiện tại. Do đó, trong khi phải tiến tới thế cộng đồng chung, thì các quốc gia lại cứ tìm cách xâm chiếm lẫn nhau để “bảo vệ cho sự tồn vong của tổ quốc mình”. Những cuộc chém giết đó mỗi ngày một thêm tàn ác; những học thuyết ra đời hòng tìm lối giải phóng con người, cũng chẳng tránh khỏi tính chất quá khích, bế tắc của thời đại, nên đã không thể vãn hồi an bình, mà lại chỉ đốt thêm to ngọn lửa chiến tranh ý thức toàn diện.

Song chiến tranh càng găng, viễn tượng tận diệt càng gần, thì ý chí hòa bình và tình nhân loại lại càng được thể hiện rõ ràng trong tâm trí mỗi người: bản năng tự vệ giằng co với lực kéo của thú tính. Các cường quốc cầm đầu mấy phái hệ tư tưởng chính yếu, đều cương quyết tranh nhau đề cao danh nghĩa “Đem hòa bình no ấm cho nhân loại ”, bằng sự tích cực giúp đở các nhược quốc nằm trong khối ảnh hưởng của mình. Đây là giai đoạn đầu của khái niệm thời tổ chức điều hợp. Thế giới chuyển sang thế này phần lớn là do quyền lợi tự thân của mỗi quốc gia thúc đẩy, chứ chưa hẳn là họ có ý thức rõ rệt. Tuy vậy sự kiện ấy cũng thể hiện được phần nào ý chí diễn tiến của con người, buộc lịch sử phải hướng tới thế “các tổ chức xã hội nhỏ yếu hỗ tương nhau để tổng hợp thành xã hội lớn mạnh, có đầy đủ mấy yếu tố TÌNH, CẢNH, và LÝ vẹn toàn hơn xưa”, hòng mở lối cho giai đoạn con người ĐIỀU HỢP THẾ GIỚI, khai mở vũ trụ.



VI. GIAI ĐOẠN THẾ GIỚI.

NHÂN QUẦN: XÃ HỘI TOÀN CẦU. Cuộc sống Quốc gia đã thành nếp, đời sống con người thêm quy củ. Kỹ thuật phát triển, thương nghiệp thịnh vượng, những bức màn thiêm hiểm ngăn cách các quốc gia lần lần vén mở. Công cuộc khám phá địa cầu, tiến hành từ thế kỷ 12, chấm dứt vào thế kỷ 18, khi người Anh tìm ra Úc Châu.

Phát minh mỗi ngày một tinh tiến, cơ giới mỗi ngày một tối tân, trái đất bao la thu gọn trên trang giấy: mọi khía cạnh mặt đất ghi lại khá rõ ràng, kể cả lịch sử, nếp sống, ngôn ngữ của các dân tộc. Hiện, con người đang gạn lọc lấy tinh hoa các trào văn hóa kim cổ để dựng lên một nền Văn Hóa Nhân Chủ Nhân Văn toàn triển thăng hóa cung ứng cho xã hội nhân loại nay và mai.

Mỗi lúc nhân loại thấy gần nhau thêm cả về tinh thần lẫn thực tế cuộc đời; cùng cảm thông nỗi thống khổ của nhau trong hai cuộc thế chiến vừa qua, cùng thấm thía về các cuộc chạy đua: chính trị, quân sự, kinh tế, khoa học. Tuy thế cuộc chưa làm cho con người tỉnh ngộ hẳn, để dứt khoát hạ bức màn sân khấu chiến tranh thảm sát nhau xuống, nhưng cũng kịp cho con người giác ngộ được thân phận, được nghĩa sống và được tình người trong muôn một. Rồi đây, chỉ khi nào tình người được đề cao tuyệt đích, nhân quyền được coi như lẽ sống quan yếu nhất, thì khi đó mới hòng chấm dứt nổi chiến tranh. Vì mặc dầu màu da vàng, trắng, xám, đỏ, đen có khác nhau, và ngôn ngữ, giai cấp có khác nhau mấy đi nữa, thì loài người về ba mặt cốt yếu, là tinh thức, tình cảm, thể chất bao giờ và ở đâu, cũng vẫn đồng nhất. Sở dĩ có sự chém giết, sở dĩ có những chế độ đế quốc, thực dân, độc tài, chuyên chế, chính là do nơi loài người chưa thông cảm với nhau về tình người, chưa tôn trọng nhân quyền đó mà thôi.

CHIẾM THU THUỘC ĐỊA. Vì chưa thông cảm tình người, nên khi tìm ra được đất đai mới lạ, khi tìm ra được những dân tộc bán khai, ở nơi đó có nhiều người dại, kỹ thuật thô sơ, thì các nhà thám hiểm vội coi ngay đó là một cơ hội để thâu lợi. Lớp con buôn thi nhau đóng tàu bè cho thật lớn, đi được thật xa, hầu khám phá thêm đất mới. Đầu tiên họ dùng hàng hóa để đổi lấy thổ sản; giúp cho thương mại cực phát; kỹ nghệ chính quốc họ thêm thịnh vượng. Sau họ ùa nhau kéo tới lập nghiệp ở các nước còn kém mở mang, để khai thác tài nguyên, truyền bá tư tưởng, cải hóa đời sống người dân bản xứ đi đôi chút. Nhờ vậy họ được dung nạp.

Song lòng tham của con người vốn còn mạnh, đồng thời các cường quốc thương mại nhòm ngó lẫn nhau, nên họ mới dùng võ lực tranh nhau đàn áp người dân bản xứ, thi nhau đặt ách thống trị lên đầu các dân tộc nhỏ yếu. Lần lần người dân thuộc địa biến thành công cụ khai thác thổ sản của mình, để cung cấp cho kỷ nghệ của người: quốc gia kém mở mang, hóa thành thị trường cho các cường quốc, thực dân xử dụng.

ĐỆ NHẤT THẾ CHIẾN. Các cường quốc hậu kỷ nghệ bị các cường quốc tiền kỹ nghệ chèn ép, không thể có thị trường tiêu thụ sản phẩm, nên cố tìm cách đòi chia lại thị trường. Các nước sớm kỹ nghệ thực dân, quyết tiêu diệt các nước chậm kỹ nghệ, nên họ mới viện ra đủ cớ để lôi cuốn nhau vào một cuộc vận động đẫm máu: Đại chiến xảy ra ở trời Âu, quê hương của các nước thực dân, từ 1914 đến 1918.

ĐỆ NHỊ THẾ CHIẾN. Cuộc chiến tranh này là âm hưởng của cuộc đệ nhất thế chiến, kéo dài từ 1939 đến 1945, được lồng dưới danh nghĩa: “Tự ái chủng tộc”, và diễn biến dưới một hình thức đại quy mô, chia các nước tham chiến ra làm hai: phe tài phiệt ANH, PHÁP, MỸ...và phe phát xít quân phiệt ĐỨC, Ý, NHẬT. Chiến cuộc lan từ Tây qua Đông, với võ khí viễn kích và chấm dứt bằng hai trái bom nguyên tử của Mỹ ném xuống NHẬT.

Do cuộc chiến này, thực dân đã phải nhả ra cho phát xít quân phiệt một số thuộc địa, và nhờ cuộc đổi chủ đó, mà phong trào cách mạng của nhược tiểu có dịp bành trướng, rồi giật lại chủ quyền, khi phe phát xít quân phiệt thất trận.

ĐỆ TAM THẾ CHIẾN. Cuộc chiến này đã diễn ra trên đủ mọi mặt: quân sự, chính trị, kỹ thuật, xã hội và tư tưởng, mặc dầu bom nguyên tử và khinh khí, mà người ta hăm dọa hay lo sợ, chưa và không bao giờ nổ ra thực sự, song loài người luôn sống trong hồi hộp, nhất là người dân nhược tiểu vốn là thí điểm của cuộc chiến tân kỳ này thì thật là quá đau khổ hết chổ nói: người ta mong mỏi được nhận bom nguyên tử, khinh khí, hơn là chịu đựng mãi tình trạng “chiến tranh lạnh” căng thẳng tâm thần.

Thế chiến thứ hai chấm dứt. Các bại quốc và các thuộc quốc của họ đều bị ĐỒNG MINH chiến thắng chia nhau chiếm đóng. Nội bộ phe Đồng minh gồm 3 khuynh hướng: Thực dân, Tài phiệt, và Cộng Sản .

Thực dân vẫn nuôi chủ trương đặt lại nền đô hộ ở các dân tộc nhược tiểu cũ. Nhưng cuộc chiến đã thức tỉnh con người nhược tiểu: phong trào cách mạng giải phóng dân tộc giành lại độc lập bùng lên mãnh liệt, không sức nào cản nổi nữa. Với võ khí thô sơ, nhưng với một tinh thức tự cường bất khuất, người dân mất nước đã lấn át nổi cả mọi thứ cơ giới tối tân của Thực dân.

Nhưng các quốc gia bị trị vốn là lợi địa hoạt động của cán bộ Cộng Sản quốc tế, là tay sai của thứ Đế quốc mới: Đế quốc Đỏ. Bọn họ trà trộn vào hàng ngũ giải phóng dân tộc, đoạt lấy phần tinh hoa cách mạng buổi ban đầu, khi dân chúng còn bỡ ngỡ chưa nhận ra thực tướng Quốc, Cộng, khi chỉ mới biết có hăng say với những khẩu hiệu tranh đấu “Diệt Ngoại xâm”, “Giành Tự chủ” của bất cứ khuynh hướng nào đề ra. Do đó lúc Thực dân quay lại mưu đồ tái lập thống trị thì người người đều dồn hết khả năng ra chống đối, quên hẳn mất kẻ thù “vô tổ quốc” ở sau lưng mình, luôn luôn khai thác mọi cơ hội để xích hóa nhược tiểu, theo lệnh của quan thầy mới: Liên xô.

Về phía Thực dân, cuộc đệ nhị thế chiến đã kéo đổ cả thành trì đế quốc, mà họ đã dầy công xây dựng, bằng mồ hôi và nước mắt của dân chúng trong bao thế kỷ. Do đó người dân chính quốc lâm vào cảnh cùng quẫn, chính phủ Tư bản của họ phải nhờ vào sự viện trợ của cường quốc tài phiệt bậc nhất là HOA KỲ, trừ có nước ANH sớm giác ngộ đã trả lại ĐỘC LẬP kịp thời cho ẤN ĐỘ. Còn bao nhiêu nước thực dân khác thì càng nhiều tham vọng tái lập thuộc địa, lại càng chui sâu vào túi tiền của tài phiệt. Bởi thế, tài phiệt mỗi lúc một biến thành trọng tài, đứng ra làm chủ tình hình chính trị, kinh tế, quân sự của cả chính quốc hạng nhì lẫn cả thị trường nhược tiểu: từ thế khởi động, Thực dân lùi dần xuống thế thụ động.

Về phía Nhược Tiểu Quốc thì cảnh loạn lạc càng kéo dài, cán bộ Cộng Sản càng có thời giờ, và càng thêm điều kiện gây cơ sở, củng cố hàng ngũ để thế chân Thực Dân Cũ, nhuộm đỏ người dân nhược tiểu, rồi trực tiếp hay gián tiếp nắm vững lãnh quyền quốc gia.

Quốc Tế Cộng Sản, một chủ thuyết mới, thoạt nghe thì rất hợp với tư trào cách mạng dân chủ lật ách thống trị bất công, giải phóng con người, giải phóng lao động, Đã vậy, lại được cán bộ Cộng Sản nhược tiểu mê hoặc, khoác thêm cho tấm áo Giải Phóng Dân Tộc, nên thu hút được nhiều tín đồ sinh tử. Rồi, sau thế chiến II, nhân nắm được cơ hội “ngàn năm một thuở”, dần dần Cộng Sản đem chủ nghĩa ra thực hiện ngay ở các nước nhược tiểu, với khẩu hiệu “Hy sinh tất cả cho Lý tưởng”. Mặc nhiên họ biến thành lớp người bạo hành, do đế quốc Cộng Sản Nga điều khiển: Không một chỉ thị nào mà họ không thi hành, hay thực ra họ không dám từ chối không thi hành triệt để.

Vì hoàn cảnh nhược tiểu đang lâm bước ngửa nghiêng: Dân tình xáo loạn, dân trí thấp kém bấp bênh, lại mới chập chững trên đường dân chủ công lý, nên Cộng Sản bành trướng tựa vết dầu loang. Gia dĩ, vốn chủ trương nuôi dưỡng phong trào Cộng Sản nhược quốc làm tay sai, đồng thời xây vững thế đứng cho mình, nên Liên Xô đã ngấm ngầm thỏa hiệp được với Hoa Kỳ để chia lại thị trường thế giới nhỏ yếu, đang nằm bập bềnh trong tay Thực Dân cũ.

Suốt hai cuộc thế chiến, ở giai đoạn gay cấn lúc đầu, bao giờ Hoa Kỳ cũng đứng Trung Lập để dễ bề giao thương, cung cấp võ khí cho cả mọi phe đối địch, mãi đến lúc tàn canh, nắm chắc phần thắng rồi, mới tham chiến, dĩ nhiên là nắm hoàn toàn lợi thế. Do đó, mọi cơ sở kỹ thuật, nhất là về kinh tế, Hoa Kỳ nghiễm nhiên trở thành dẫn đầu thế giới, rồi trở thành lực lượng tài phiệt khổng lồ, chi phối hầu khắp mọi sinh hoạt quốc tế. Nhất là hồi cuối thế chiến thứ nhì trở đi đã được Thực Dân chèo kéo, Phát Xít cầu cạnh được cả Quốc Tế Cộng Sản ve vãn, lực lượng quân sự và kinh tế của Hoa Kỳ ồ ạt lan tràn từ Đại Tây Dương qua lục địa, sang Thái Bình Dương, đưa Hoa Kỳ lên vai đàn anh dẫn đạo cuộc chiến tranh toàn vũ.

Sau thế chiến II, Hoa Kỳ tận dụng sở trường kỹ thuật quân sự kinh tế, ráo riết tấn công trên hai mặt trận: Mặt trận quân sự, Hoa kỳ sản xuất hàng loạt võ khí hạch tâm và các thứ cơ giới nguyên tử, hỏa tiễn đễ khống chế cả Thực Dân lẫn Cộng Sản lúc này đang biến dần sang thế Thực Dân Mới. Mặt trận kinh tế, Hoa kỳ tung tiền và hàng hóa ra khắp nơi để cải tiến đời sống người dân nhược tiểu hậu chiến, và các nước bại trận, nhằm đoạt lấy thị trường của Thực Dân, ngăn sức bành trướng của Cộng Sản. Đưa đồng Dollars lên vị trí thống soái tài chánh thế giới. Riêng mặt trận chính trị thì Hoa Kỳ còn tỏ ra, hoặc cố ý tỏ ra, bị Thực Dân đẩy cây, Cộng Sản lừa gạt.

Đích ra, tuy Chiến lược Toàn cầu đã định, nhưng giới lãnh đạo Mỹ chưa đủ kinh nghiệm quốc tế, chưa thực sự rũ bỏ nổi tham vọng tư bản bảo thủ lỗi thời, nên Hoa Kỳ vẫn còn sa lầy trong thế thuận động. Đối với hai phe Thực Dân cũ, mới luôn luôn phải đem những người bạn đồng minh bé nhỏ của mình ra làm vật hy sinh, làm lá bài thí trong các cuộc mặc cả mặc lẻ giữa các thế lực Quốc tế với nhau. Bởi vậy, sau mấy vụ thỏa thuận chia đôi Đức Quốc, Đại Hàn, Việt Nam với Cộng Sản, chia ba cái được gọi là “Liên hiệp" Ai Lao với Thực Dân cũ, mới, thì các nhược tiểu, dù ở trong hay ở ngoài khối Cộng, đều bực bội với Hoa kỳ. Nhưng quan trọng hơn là họ đều bừng tỉnh thấy rõ mưu mô sâu độc của Thực Dân Đỏ, hiện đang thông lưng hay phỗng tay trên Thực Dân Cũ để đặt lại ách thống trị của Đế Quốc Cộng Sản trên đầu Nhược Quốc, dưới hình thức và nhãn hiệu “Ý Thức Hệ” nọ kia. Nhằm tạo chiến tranh, được gọi là lý tưởng, diễn tiến, giữa hai phe Tài Phiệt và Cộng Sản, và giữa Cộng Sản và Nhược Tiểu, cũng như giữa Tài Phiệt và Nhược Tiểu.

Bởi vậy đã không thể theo được tư bản Tài Phiệt, lại không thể theo được Cộng Sản độc tài, nên các nước tương đối còn chút ít tự chủ, thẩy đều hướng về phía Ấn Độ ,mà đằng sau là Anh Quốc,có thể đứng lên làm hậu thuẫn cho nước nhược tiểu để cùng đề xướng đường lối trung lập, mở ra một chân trời mới cho các dân tộc nhỏ yếu, coi đó là nguồn an ủi cho toàn dân nhược tiểu đang lâm vào ngõ bí giữa Tư Bản và Vô Sản. Phong trào trung lập phi liên kết, hy vọng sẽ trở thành “đệ tam lực lượng quốc tế ”.

Nhưng, hy vọng đó đã thành vô vọng, vì khi nhận thấy sức trung lập dồn dập quá mạnh, MỸ, NGA, đã tỏ thái độ, bằng cách công khai bắt tay nhau ở trên khắp các mặt trận. Trung lập bị mất đất đứng, vì chỉ có thể có được thế “trung lập” khi nào có hai lực đối lập với nhau. Một khi mà hai thế đối lập đã hòa nhau, thì nếu “Trung Lập” không để biến thành thế “thế đối lập mới”, tất phải lùi bước, chịu chi phối coi như là một thứ thuộc quốc mới, hay chư hầu hạng vai vế. Trên danh nghĩa, Trung Lập vẫn có, nhưng trên thực chất, Trung Lập chỉ còn là thế cờ hoãn xung, một trái độn. Cũng như cái thế giữa MỸ và NGA, trên danh nghĩa tuy là đối thủ với nhau, nhưng trong thực tế thì hai đế quốc đó vẫn lựa chiều “thủ thế hòa với nhau”, để bảo vệ quyền lợi và thế cách của mình. “HÒA” ở đây không có nghĩa là hòa vĩnh viễn, mà là “thế hòa chiến thuật”, thế hòa của hai cường quốc đàn anh, cần phải kìm chân không cho các cường quốc hạng nhì dùng thế “Trung Lập” để cầm đầu các nhược quốc.

Hai nước lớn chủ hòa là chủ hòa trong khi chưa an bài xong một thế yên phận cho thực dân cũ, một khi đã yên, lúc bấy giờ hai đại cường quốc sẽ lại quật nhau bằng thứ chiến tranh kinh tài đặc biệt, được hỗ trợ bằng khắp mặt kỹ thuật lẫn ngoại giao. Đó là mục đích tối hậu việc áp dụng chiến tranh lạnh vậy.

Tài phiệt có sức mạnh kim ngân, nên luôn luôn tung tiền và hàng ra khắp thế giới, nhất là buộc khối Cộng phải tốn tiền chạy đua vũ trang, thi đua tham dự chiến tranh cấp vùng để bị kiệt quệ kinh tế. Khi Cộng Sản đã vỡ về mặt kinh tế là tiềm lực chiến tranh bị diệt. Hầu như tất cả thế lực Tài Phiệt trên toàn thế giới đều dồn vốn đầu tư vào chiến lược toàn cầu của Mỹ, nên Mỹ nghiễm nhiên nắm được vận mạng kinh tế, và đương nhiên lấn át Cộng Sản rất dễ dàng về mọi mặt chính trị, quân sự, kinh tế, tài chánh, xã hội, văn hóa.

Cộng Sản là đế quốc tư tưởng, nên mưu mô bòn rút tiền của tư bản tài phiệt đem viện trợ cho mình, để kỹ nghệ hóa hoàn toàn khối Đỏ, đồng thời rải cán bộ vào nội địa nhược tiểu thuộc vùng ảnh hưởng tư bản tài phiệt để phá hoại và lũng đoạn lòng dân. Đợi đến lúc Cộng Sản thắng nổi Tư Bản về mặt kỹ thuật kinh tế, thì lúc đó đế quốc Đỏ sẽ cho cán bộ hoặc ngụy trang hoặc lộ liễu cướp chính quyền ở các nhược tiểu quốc, đoạt lấy cả ba miền ÂU, Á, PHI cựu lục địa.

Để ngăn sức hoạt động ngầm của Cộng Sản ở nhược tiểu quốc, Tư Bản cần lo nâng cao mức sống, dân chủ hóa, và kỹ nghệ hóa hợp lý, hợp tình, hợp cảnh cho nhược tiểu quốc; đồng thời thành lập các khối “Liên Hiệp Quốc Gia” từng vùng, để tạo thế tương đương với khối người Cộng Sản. Đây là cơ hội cho các nước nhỏ yếu vươn lên, theo đà Nhận thức NHÂN CHỦ TỰ DO trong Công lý DÂN CHỦ ĐIỀU HỢP.

Chế độ tư bản thủ cựu đã lỗi thời, chế độ Cộng Sản bị vượt bỏ. Liên Xô đã công khai phản bội chủ nghĩa, đi với tư bản để bảo vệ quyền lợi của đế quốc Nga, làm cho hàng ngũ Cộng Sản quốc tế nghi ngờ, hoang mang. Giữa lúc đó, ảnh hưởng Tư bản lại len vào nội địa chư hầu Nga, nên khối cộng khó tránh khỏi những cuộc chuyển đổi do dân chúng đòi tự do, độc lập dấy lên, tất nhiên cũng có bàn tay ngoại quốc điều động. Bởi vậy đây là nhịp tốt cho các cuộc thay đổi lớn, do lớp người trí thức trung sản điều động, thành công trên địa hạt của từng quốc gia, để rồi cùng các nước Nhân Chủ Điều Hợp khác cùng xây dựng một Thế Giới Điều Hợp trong Tự Do Công Lý.

CHÍNH TRỊ. CHẾ ĐỘ DÂN CHỦ. Suốt thời phong kiến quân chủ, các hôn quân bạo chúa sớm muộn đều bị mất ngai vàng. Trong các vụ tranh chấp ngôi trời, ai mạnh và được lòng người sẽ thắng.

Sau nhiều lần thay đổi dòng họ thống trị, người dân nhận ra rằng: Họ nhà Vua không phải họ nhà Trời, người nào anh minh, tài đức đi đúng với nguyện vọng người dân thì sẽ được lãnh đạo quốc gia dân tộc. Ông vua đối với đại chúng chỉ còn giá trị của một vị thủ lãnh, đại diện cho một quốc gia, điều khiển bộ máy Nhà Nước mà thôi: Ý thức Dân Chủ phát sinh từ đó, rồi được các nhà trí thức phát huy, và phổ biến. Ý thức dân chủ dần dần thể hiện qua quan niệm và sáng tạo văn nghệ, qua các cuộc cải cách tôn giáo, tức là thay đổi nhận thức về thẩm mỹ, về vũ trụ, về con người và về cuộc sống nói chung. Sau khi qua mọi cuộc vận động, ý thức đó được hệ thống hóa, rồi đúc kết thành phong trào tranh thủ quyền tự do.

Để kiềm chế quyền hành nhà vua, ở nước Anh thế kỷ 13, quyền bính của các đại biểu nhân dân được tổ chức, nhưng mãi tới thế kỷ 17 nền dân chủ Anh Quốc mới vững vàng. Sau những cuộc cải cách dân chủ của Anh, và cuộc cách mạng dân quyền ở Mỹ 1776, năm 1789 người dân Pháp vùng lên lật đổ chế độ vua chúa chuyên chính.Cách mạng Tư Sản Dân Quyền 1848 Âu Châu. Tiếp đó đến 1911 ở Trung Hoa, 1917 ở Nga Xô, 1918 ở Đức,... dưới sự lãnh đạo của người Trí thức Trung sản, người dân thế giới thay phiên nhau dấy lên thực hiện chủ quyền của mình cho mình: sự kiện này quyết nhận trào lưu tư tưởng của con người tiến tới xây dựng chế độ Dân Chủ, không sức gì cản nổi nửa.

Những nét chính của chế độ Dân Chủ là: Mọi người bình đẳng về nhân phẩm, bình quyền về nhân vị, bình lợi về nhân sinh. Không phân biệt nam nữ, tôn giáo, khuynh hướng, giai cấp, tất cả đều được tự do chọn lựa và quyết định cuộc sống của mình, toàn quyền phát triển sáng kiến, khả năng, tư tưởng, quyền tự do ứng cử, bầu cử vào chính quyền. Quyền hành tập trung trong tay nhà vua xưa kia, nay chia làm bốn ngành liên lập:

1- Chính quyền Lập Pháp do nhân dân cử đại biểu đảm nhận.

2- Trị quyền Hành Pháp do giới chính khách tham dự.

3- Pháp quyền Tư Pháp do giới luật gia cáng đáng.

4- Văn quyền Kiểm Pháp do giới truyền thông gánh vác.

Tuy vậy quan niệm dân chủ vì còn ấu trĩ, nên mới chỉ thu hẹp trong phạm vi từng QUỐC GIA. Bởi đó, các nước dân chủ tiền phong mới sa chân vào con đường đế quốc thực dân, lấy của cải nước người mang về nuôi sống dân mình, xây lâu đài của Quốc Gia mình trên xương máu người dân bị trị. Ác quả này, trải qua hai cuộc thế chiến tàn khốc, vẫn đang tiếp diễn dưới hình thức: trả giá, đổi chác, sang tay cho nhau món “hàng” nhược quốc giữa các con buôn quốc tế.

Thực ra khi nói tới dân chủ chính thức là cần phải có ngay một quan niệm rộng rãi vẹn toàn: không phân biệt màu da, tiếng nói, ranh giới giữa loài người với nhau, nghĩa là phải tôn trọng Nhân quyền của bất cứ người lương dân nào, ở bất cứ nơi đâu. Có thế họa may mới đem lại Công Lý, Hòa Bình thực sự lại cho toàn dân thế giới, đem lại hạnh phúc cho cuộc đời con người, và có thế mới hợp với đà diễn hóa của trào lưu lịch sữ. Mà muốn vậy thì cần phải có một cơ quan liên minh điều hợp nhiệm vụ và quyền lợi của các Quốc gia trong sinh hoạt Quốc tế. Hội Quốc Liên trước kia, Hội Liên Hiệp Quốc ngày nay phải chăng đã manh nha cho một chế độ Nhân Chủ Tự Do Điều Hợp của Thế Giới tương lai, nhằm mục tiêu điều hợp nhiệm quyền giữa các quốc gia dân tộc trên hoàn cầu. Đành rằng Liên Hiệp Quốc chưa hẳn có thực quyền, các tổ chức quốc tế khác vẫn còn đặt quyền lợi của các nước mạnh là chính, nên chưa keo sơn gắn bó nổi loài người với nhau, song đó cũng đã là một bằng chứng xác nhận ý chí con người đang vươn lên xây dựng một chế độ mới.

KINH TẾ: CẢNH SỐNG TƯ SẢN. Con người có chủ thế tự do, có cốt tính đam mê, có nhiệt tình yêu ghét, nên khi cảnh sống bước vào thời kỳ tích lũy thì tinh thức về tư hữu của con người liền phát động. Nhờ đó con người mới tận dụng được khả năng sáng tạo và sản xuất của mình. Vậy tư hữu tính là bản chất tự tại của con người, khi loài người còn nhân tính, óc tư hữu là tâm trạng, là hoài vọng cố hữu của con người khi sinh động. Bởi thế, lúc cuộc sống hữu sản mở đầu là con người thuận theo ngay hoàn cảnh sinh sống, rồi chia theo liên hệ tình cảm để tách rời nhau ra thành những đơn vị tư sản, trước lớn sau nhỏ mãi đi dần dần cho tới mức quá khích là cá nhân chủ nghĩa cực đoan.

Diễn biến của cảnh sống tư sản: thoạt tiên các đoàn người định cư cùng nhau hợp tác khẩn hoang vì chung đụng đông đúc quá hóa bất tiện, nên mới chia nhau ra theo dòng họ. Khi canh tác đã thành nếp thì đời sống dòng họ cũng cứ lớn dần, loãng dần, loài người lại tiếp tục chia nhỏ đơn vị tư sản, ở các nước kỹ nghệ, đời sống tư sản đã bước sang nấc cuối cùng là tổ chức thành đôi lứa và có khi chỉ còn có cá nhân độc thân tư sản.

Nói chung, thì theo đà cuộc biến diễn về cảnh sống kia, lớp quý tộc thống trị chiếm đoạt dần dần công lao khai thác của toàn dân: nông dân mặc nhiên biến thành công cụ sản xuất chung cho giai cấp địa chủ hưởng lợi. Cũng có một vài địa khu, nhờ chế độ “bình dân quân cấp”, tức “chiếu dân đinh chia ruộng đất”, tiến bộ hơn, nên đại đa số người dân đều thuộc vào mức trung sản, còn địa chủ và nông nô chỉ đứng hàng thiểu số - như ở Tầu và ở Việt xưa kia, vào những thời thịnh trị của mấy triều Đường, Tống, và Lý, Trần, Lê- . Còn những nơi khác thì cho mãi tới cao trào cách mạng dân quyền bộc phát, nông dân mới được thụ hưởng cuộc sống tư sản. Nhưng cũng lại chính vào dịp này, lớp con buôn thị dân nắm ngay lấy thời cơ để chiếm đoạt quyền kinh tế, xã hội, cơ giới, rồi lấn sang đất chính trị, lập nên chế độ tư sản cực quyền: kỹ nghệ bành trướng, nông phu rời bỏ luống cày vất vả kéo nhau ra đô thị, ký thác thân phận vào xưởng máy, trao phó vận mạng cho chủ nhân để đổi lấy một đời sống tưởng là dân chủ, tự do nhưng kỳ thực đã biến mình thành lớp công nô bị bóc lột thặng dư lao động đến cùng cực lúc mới đầu.

Tư bản, chế độ ra đời do quan niệm cá nhân tự do quá khích, cạnh tranh của Cách Mạng Tư Sản Dân Quyền đọa lạc gây ra. Lớp con buôn sau khi bành trướng thế lực, len lỏi vào chính trường, rồi liền mở mang thương trường, xí nghiệp, tập trung vốn liếng gồm thâu cả về người, về của, về máy, về hàng. Đến thời cực phát, vào đầu thế kỷ 20, Tư bản liền chia vốn buôn vào vốn sản xuất để nắm trọn các cơ sỡ kỹ nghệ, thâu sạch quyền giao thương và quyền kinh doanh vào tay, rồi nghiểm nhiên tiến lên giữ quyền thống ngự chính trị.

Song lúc này đã đến tuyệt đỉnh, tất cũng phải là lúc thoái trào: Vì tham vọng giành giật thị trường lẫn nhau, nên giai cấp tư bản phải một mặt chiều đãi chính ngay những con người sản xuất hàng hóa và võ khí, là lớp chuyên viên và thợ thuyền, một mặt trông cậy vào lớp người chiếm giữ và quản lý thị trường, là lớp trí thức và binh sỉ, cả bốn lớp người trên đều được liệt vào hàng “vô sản” nghĩa là không có phương tiện sản xuất, không có vốn liếng, không có “tư bản”. Bị hãm vào cảnh này, nếu tư bản không muốn có cách mạng nổ ra trong quốc nội, do Cộng Sản cầm đầu thì tất nhiên phải nâng đỡ trí thức và công nhân, cũng như cải thiện mức sống toàn dân trong nước, đễ mọi người dân chính quốc thấy việc khai thác thị thường ỡ thuộc quốc là nhiệm vụ chung của “con dân với Tổ Quốc”.

Do đó, vốn liếng của tư bản kỹ nghệ dần dần đổi thành tư bản đế quốc. Các nhà tư bản phải đóng góp rất nhiều để quốc gia bảo vệ thị trường. Nhất lại cần phải đối đầu với sự lấn bước của Cộng Sản quốc tế, nên đế quốc tư bản lại còn phải tính chuyện viện trợ cho các nhược quốc, để dân chúng đau khổ ở đây có đủ sức ngăn chặn mối họa thực dân Đỏ, luôn thể cũng để giải quyết vấn đề thặng dư sản xuất của tư bản kỹ nghệ. Bởi thế, hầu như tư bản đang tan hòa vào nhà nước vậy. Gia dĩ, song song với tham vọng thống ngự hoàn vũ và viện trợ nhược quốc, ý thức nhân chủ của chính ngay trong tầng lớp tư bản cũng phát huy mạnh, nên giai cấp tài phiệt đã bắt đầu tự giác về vai trò và sức mạnh của mình. Cho nên, trước sự đòi hỏi của người dân cần lao trí tuệ và chân tay, về pháp lý tổ chức trong các xã hội quốc gia tư bản cũng mỗi ngày một thêm quy củ: việc áp dụng các sắc thuế lũy tiến nhằm tiết chế tư bản, hỗ trợ lao động, đang được tận thi ở ít nhiều nước kỹ nghệ tiền tiến. Khỏi phải tiên đoán viển vông, ngay lúc này đây cũng đã có thể quả quyết xác nhận: tư bản đang bị đồng hóa trước sức hút của ý thức Nhân Chủ Điều Hợp rồi.

Cộng Sản chủ nghĩa. Trong buổi chập chững của chế độ tư bản, từ thương mại chuyển sang sản xuất, đời sống kinh tế đã gây cho xã hội loài người một không khí ngột ngạt, thủ công và tiểu công bị bóp nghẹt. Xã hội chỉ còn lại có chủ và thợ. Quan niệm đẳng cấp của thời thịnh nông được triệt để thực thi vào đời sống kinh tế, thúc đẩy hai giai cấp trên miệt mài bóc lột, phá phách nhau tận lượng ở đô thị. Và vì mãi lực của kỹ nghệ cùng tỏa rộng mãi, nên nhu cầu đổi mới của nông dân phụ lực thêm, càng là đà đẩy cho dân cày thành nạn nhân gián tiếp của nếp sống tư bản kỹ nghệ.

Giữa bầu trời thê thảm ấy, các nhà “ưu thời mẫn thế”, được gọi là chính khách hay tư tưởng gia theo Xã Hội Chủ Nghĩa nổi lên xướng thuyết hòng “cứu nhân độ thế”. Như các Ông:

Saint Simon 1760-1825, đề ra khẩu hiệu: “hủy bỏ chính trị, thay thế chính quyền bằng chế độ hành chính, quản trị sự vật thay cho cai trị con người”.

Louis Blanc, 1813-1882, nhận ra cảnh suy đồi của Cách Mạng Tư Sản, nên chủ trương: “Quyền có công ăn việc làm ngang quyền bầu cử” để tránh cảnh công nhân bị sa thải, bị thất nghiệp, nghĩa là chống tư bản bóc lột lao động.

Proudhon, 1808-1865, quá chán ngán với chế độ tư bản, vội đề ra mấy giải pháp quá khích “làm theo khả năng, hưởng theo nhu cầu”, và cho “quyền sở hữu là quyền đánh cắp”.

Mãi đến Marx và Enghels, khoảng 1847-1895, mới đúc kết tinh thức xã hội chủ nghĩa của người đi trước, đem nối thuyết duy vật của Democrite thuở xưa qua Feuerbach thuở nay, vào với phương thức của Aristote xưa, qua luật biện chứng nay của Hegel, để dựng nên Ý Thức Hệ Vô Sản hết sức tinh vi, khiến cho toàn thể nhân loại đương thời phải hoang mang hoặc hy vọng mà sợ sệt, trước lập luận gang thép, quyết đoán của hai ông, cho đến ngay phe địch thủ cũng phải choáng váng rồi ngờ vực lập trường của mình.

HƯNG VONG CỦA CHỦ NGHĨA Cộng Sản. Đứng trên lập luận “mâu thuẫn kinh tế và giai cấp đấu tranh”, chủ nghĩa Marx đã hướng lịch sử tiến tới chế độ Cộng Sản, theo một chu kỳ hình “xoáy trôn ốc răng cưa": Cộng Sản nguyên thủy, nô lệ, phong kiến, tư bản rồi kết thúc là Cộng Sản văn minh, với những giai đoạn thăng trầm ngắn ngủi. nhưng nhất thiết phải đi đúng “vòng định mệnh của cuộc tiến hóa biện chứng” này:

1- Cộng Sản nguyên thủy: Xã hội nguyên thủy của loài người là tập thể trong đó con người sống không giai cấp; ăn chung, ở chung, làm chung rất mục thảnh thơi. Đến khi sinh sản và sản xuất ra nhiều thì vì miếng ăn mà giành giật nhau, gây thành óc tư hữu, làm hỗn loạn xã hội, dẫn đến trạng thái “khỏe làm chủ, yếu làm tớ”.

2- Nô lệ: Trong cảnh hỗn độn, lớn hiếp bé đó, ai có sức khỏe vượt chúng sẽ nghiễm nhiên lên làm chủ xã hội, bắt mọi người phải thần phục mình. Kẻ ấy được gọi là tù trưởng cầm đầu bộ lạc,dân chúng phải tuyệt đối thần phục.

3- Phong kiến: Tù tưởng hướng dẫn bộ lạc đi kiếm sống. Gặp bộ lạc khác giống là chém giết. Bộ lạc nào mạnh nhất sẽ chiến thắng rồi sát nhập dần dần các Bộ lạc khác lại thành một Quốc Gia đặt dưới quyền thống trị của Vua, Chúa.

4- Tư bản: Vua chúa xua quân của mình đi lấn chiếm quốc gia khác, để mở mang đế quốc, thu vét chiến lợi phẩm về bồi đắp uy thế của mình. Nhưng đó chỉ là nguồn lợi nhỏ nhất thời, còn nguồn lợi chính, là thị trường ở thuộc quốc, thì lại lọt cả về tay lớp con buôn. Thế cho nên mỗi lần, vì bảo vệ uy thế, mà phải mở mang đế quốc, thì phải trải qua cảnh công quỹ hao mòn, binh sĩ tổn thương, nhân dân đói khổ, nên phe phong kiến phải vay nợ bọn thương gia: từ đó, lái buôn làm chủ kinh tế quốc gia, càng thúc đẩy lớp Vua chúa tranh đoạt thị trường quốc tế.

Thấy phe tư bản quá mạnh lấn át cả quyền Vua chúa, phe Phong Kiến liền tìm cách hạn chế quyền uy tư bản đi, bằng mọi phương sách cấm đoán tự do sinh hoạt của cá nhân “Tư Sản”. Để chống đối lại, phe tư sản nại cớ chuyên quyền, nhất là về mặt kinh tế, của Vua Quan, rồi lôi kéo lớp thị dân cùng nhau nổi lên lật đổ chế độ Phong Kiến để thiết lập chế độ tư bản gọi là Chính Thể Tư Sản Dân Quyền, dân đây là lớp dân có của ở thành thị.

5- Cộng Sản Văn minh: Lật đổ được chế độ phong kiến rồi, Tư bản nghiễm nhiên thành chủ nhân ông xã hội. Thị trường quốc tế được tích cực khai thác. Do đó, để cung cấp cho nhiều thị trường, để cạnh tranh với hàng hóa các nước tư bản khác, việc sản xuất của mỗi cường quốc kỹ nghệ ngày càng phải thêm tăng cường. Thành thử mọi ngành tiểu công, thủ công bị nghẹt thở, xã hội chỉ còn lại hai giai cấp chính là tư bản và vô sản. Tư bản luôn dùng mọi thủ đoạn dã man để bóc lột sức lao động của vô sản. Rồi tới lúc cơ khí bộc phát, sức máy hoàn toàn thay sức người thì công nhân thất nghiệp mỗi lúc một nhiều thêm, đói khổ ngày một trút lên đầu vô sản. Lúc ấy là lúc vô sản tự giác về quyền lợi giai cấp, nên vùng lên cướp chính quyền, mở ra chế độ Cộng Sản đại đồng giải phóng cho lao động thế giới.

Trên đây là lý luận của phe Cộng Sản, lúc mới vào vòng tranh đấu. Nhưng sự thật, trên bước diễn trình, từ lý thuyết đến hành động, chủ nghĩa Marx đã bày ra vô vàn điểm trái ngược, phi lý, bất công, còn quá cả chủ nghĩa tư bản trước đây nữa. Trước tiên là điểm gốc gác giai cấp của các vị lãnh đạo Cách Mạng Vô Sản: Vì toàn thể các vị đều thuộc giai cấp trí thức trung lưu (trung sản hay tiểu tư sản); thứ đến điểm cơ sở thực hiện chủ nghĩa Marx thì ở Nga cũng như ở Việt, ở Tầu, ở Cuba, ở Đồng Âu,... tất cả đều là xã hội nông nghiệp bán kỹ nghệ hay mới phôi thai kỹ nghệ hóa, tuyệt đại đa số dân chúng đều là nông dân thủ công, thực tình chưa đủ “điều kiện khách chủ quan” để “xây dựng xã hội chũ nghĩa”, như lời Marx-Engels phán truyền.

Bởi thế, sau khi Cách Mạng thành công, Cộng Sản nắm được chính quyền rồi, thì các “đồng chí lãnh tụ thuộc thành phần trung lưu kia” mặc nhiên leo lên ghế thống trị của phong kiến, tư bản, địa chủ cũ, để ngang nhiên biến thành “giai cấp mới”, nghĩa là thành quan liêu, nho lại, thư lại chủ nhân kiểu mới, lại còn dã man, tàn bạo, gian ngoan hơn cả tư bản phong kiến thực dân xưa kia. Thực vậy, đứng trên lập trường cách mạng thuần túy mà xét, thì khi một tư trào chính trị của một chủ nghĩa, còn hoạt động bí mật, thì còn giữ được nguyên vẹn chủ trương của mình, đến khi biến thành phong trào bán công khai thì đã phải “uốn mình một phần nào trước thực tế, xã hội loài người”, rồi tới lúc chiếm đoạt được chính quyền, tức là ra công khai, thì muốn thực hiện toàn triệt đường lối của mình, bài học lịch sử cổ kim đông tây đã chứng nhận là: không tài nào tránh nổi chính sách độc đoán, chuyên quyền trong công việc “áp đảo thực tế xã hội cũ”.

Nghĩa là tước đoạt sự tự do của con người, cái mà thiên hạ và chính các nhà cách mạng vẫn thường nêu lên để lôi cuốn dân chúng vào cuộc chống đối, khuynh đảo chế độ cũ. Mà làm như vậy thì, trước mắt người dân, hôm qua còn đứng trong hàng ngũ, hôm nay đã tách lìa hàng ngũ với “Cách Mạng”: vì họ đã biến thành lớp người bị trị. Trước mắt họ, cách mạng đã hóa thành phản cách mạng. Huống hồ, ngay trên mặt lý luận, Cộng Sản cũng vì muốn lôi kéo thành phần vô sản đông đảo, nên luôn luôn rêu rao nhãn hiệu “vô sản chuyên chính”, nên cách mạng do Cộng Sản điều động bắt buộc phải tiến tới gút cùng tột của chế độ độc tài chuyên đoán, mà lại vụ vào quyền lợi của một giai cấp nhất thiết không thể còn là giai cấp vô sản lao động, cả trí thức lẫn chân tay, cả thợ thuyền lẫn dân cày, sự thể quái đản này bắt nguồn từ lý do sau đây:

Đối với quốc tế, vì cần phải chống lại các nước tư bản kỹ nghệ, ở đó Cộng Sản chưa gây nổi đội quân thứ năm làm ung thối nội bộ, nên phải hao tốn tâm lực cũng cố chính quyền quân lực của mình để tạo thế ngoại giao chính ngay với khối Tư bản thực dân. Còn về mặt kinh tế tài chính thì lại nguy ngập hơn: từ Lénin, qua Stalin, Kroutchev, đến Hồ Chí Minh, Gromulka, Castro và nhất là Mao Trạch Đông, hết thảy đều thấy rõ “kinh tế nông nghiệp tự thân nó không làm cơ sở gây dựng xã hội chủ nghĩa được”, nên ngoài thì dối gạt nhân dân thế giới và trong nước, là chống Tư bản, nhưng kỳ thực là từ tiền tệ, đến kỹ thuật võ khí và nhất là thực phẩm, đều trông mong ở sự “cho vay, cho mượn hay viện trợ ngầm” của khối tư bản tự do. Dần dần tình trạng “dấu đầu lòi đuôi” này làm Cộng Sản mất tín nhiệm đối với giới lao động ở các cường quốc, nên không còn trông mong gì vào sức liên minh của giai cấp vô sản rải rác trên khắp thế giới, không còn nhờ vả gì được vào thiểu số vô sản lẻ tẻ ở các nước bán kỹ nghệ, và nguy ngập hơn hết là không thể tin cậy vào chính bản thân giai cấp bần cố nông ở chính ngay nội bộ khối cộng nữa, vì giới này cảm thấy rõ rệt và trông thấy hiển nhiên sự thất bại về chính sách kinh tế tự túc của chính thể Cộng Sản. Nổi bật lên là các vụ đói kém ở khắp các nước tự xưng là xã hội chủ nghĩa.

Bởi mấy nguyên nhân hệ trọng trên, đã trái ngược hẳn với lời dạy của các bậc sáng thuyết Cộng Sản, chính quyền Cộng Sản chỉ còn biết nhằm vào nguồn lực xưa rầy các lý thuyết gia Mác-xít hằng thóa mạ, đó là sức của toàn dân trong nước. Cộng Sản đành ôm lấy quốc dân. Mà nói tới quốc dân là nói tới đại đa số con người, ở bất cứ xã hội nào, dù là xã hội kỹ nghệ, hay nông nghiệp, đại đa số con người thuộc thành phần mới đây, bị Cộng Sản lên án là “lưng chừng, lừng khừng” thành phần trung sản, vẫn thường được gọi là trung lưu. Do đó, Cộng Sản đã tích cực kiến thiết quốc gia của mình, từ Nga qua Tầu qua Việt, sang Cuba, Ba Lan, Tiệp Khắc toàn có bằng khối óc và bàn tay trung lưu, nên có thể nói được rằng : Đế quốc Cộng Sản Quốc Tế bây giờ là một đế quốc trung sản, giả danh là vô sản, mà cầm đầu là chính thể Xô Viết, tức là chế độ ủy ban do tiểu tư sản dẫn đạo. Ở nước Nga đế quốc này, ngoài mặt giả danh chống đối với đế quốc tư bản, nhưng kỳ thực thì, ngay từ cuối thế chiến II đã ngấm ngầm làm tay sai cho tư bản để hòng chia thị trường nhược tiểu với bậc đàn anh rồi.

Xem vậy, trện thực tế, suốt hai chục năm đó, phe thống trị Nga đã xây dựng “Quốc Gia” Nga, bằng lòng yêu nước. Mà khi đã căn cứ vào tinh thần “Ái Quốc”, thì tất nhiên tinh thức dân tộc Nga phải được sống lại, giai cấp trung sản Nga phải được duy trì, đề cao, ưu đãi, tuy mới đầu chỉ bằng lời tuyên truyền, song đến khi những tấm màn sắt dần dần hạ xuống, để cho những tấm gương xa hoa, đàng điếm của lãnh tụ, cũng như của thanh niên nam nữ Cộng Sản được phơi bày, đã chứng tỏ rõ rệt điểm biến thể trọng đại của chủ nghĩa và chế độ gọi là Mác-xít kia. Và đó cũng là lẽ biện chứng của đà tiến hóa bắt buộc, của lịch sử loài người, vì đích ra, ở bất cứ quốc gia nào, hiện giờ tầng lớp trung sản cũng là chủ lực, mà giai tầng này vốn rất nặng óc tư hữu, do ở chổ họ rất giàu kinh nghiệm, giàu vốn liếng về mọi mặt sinh hoạt xã hội, trên cả hai khía cạnh tinh thần và vật chất; gia dĩ sau một thời kỳ bị tư bản lẫn vô sản chèn lấn, khoảng giửa hai thế chiến , giai tầng trung lưu, đã sớm thức giác về vai trò lịch sử của mình: Họ cương quyết chiến đấu trong hòa bình để lấy tài sức ra đòi lại quyền thống trị ở cả hai phe tư bản và Cộng Sản, riêng ở thế giới Cộng Sản thì sau cuộc thí nghiệm năm 1917 ở Nga. Sau các vụ thử thách nửa vời ở Việt, ở Đông Âu, ở Tầu, ở Cuba, các chiến lược gia cũng như các chiến thuật gia Cộng Sản đã phải tỉnh mộng, mà quyết nhận sự kiện đau đớn này là: Lịch sử diễn biến của bao nhiêu cuộc thực nghiệm xã hội chủ nghĩa kiểu Marx-Enghels thẩy đều gặp phải thất bại não nề:

1- Chủ nghĩa Cộng Sản thuần túy sau sáu năm thi hành ở Nga, đã đưa kinh tế nước này đến cảnh suy sụp toàn diện, nên Lenin vội phải thay chủ trương “Kinh Tế Tập Sản” bằng chính sách “Tân Kinh Tế”. Nhưng kỳ thực đã trở lại “cựu kinh tế tư bản”, nghĩa là trở lại việc tiêu tiền, cho tự do buôn bán, thiết lập bang giao với cường quốc tư bản, tức là “dựng xác tư bản cho phục sinh lại”, hay nói khác đi là thiết lập trở lại tất cả những gì mà chủ nghĩa Marx nhằm phá hủy.

2- Đến thời Stalin, thì chính quyền lại còn phải đề ra hai khẩu hiệu bảo vệ, gia đình tiểu tư sản là “bảo vệ phụ nữ sinh sản và gia đình đông con”, thi hành đúng khoa trương Cộng Sản: “các tận sở năng, các hưởng sở nhu”, nhưng chỉ cốt lấy lòng thành phần trung lưu thôi. Cả hai chủ trương trên chứng tỏ rằng: tinh thức gia đình và tư hữu tài sản của nhân dân Nga dưới triều Stalin đã lên rất mạnh, nên để bảo vệ ưu quyền phát triển kinh tế hòng tránh cách mạng nội bộ, chính phủ đã phải phục hồi “hai mối tội gốc của tư sản chủ nghĩa ” ở ngay trên đất Nga, mặc dầu chỉ mới đặt ra trên giấy tờ. Song ý thức quyết định chế độ, một khi ý chí con người Nga đã hướng về mục đích “sản xuất cho quyền tư hữu” rồi, thì trước sau gì họ cũng phải đạt tới kết quả.

Kết quả đã tới khi chính sách Kroutchev được công bố. Dù tạo ra cuộc va chạm về phương pháp thực hiện chủ nghĩa Cộng Sản với Trung Cộng. Nhưng chính Trung Cộng, sau hội nghị toàn quốc, khoảng hai tháng 4-5/1962, đã chịu thừa nhận “chiến thuật trở về của tư sản Nga” rồi. Vì nếu chỉ hứa suông thì giai tầng trung lưu không tham gia xây dựng, thì chế độ Nga suy sụp, như chế độ Trung Cộng đã suy sụp, (trong cuộc thử thách vĩ đại từ 1951 đến 1961), mà làm theo lời hứa như ở Nga, thì thực tình Cộng Sản đã đầu hàng Trung sản.

Đây cũng là theo truyền thống cách mạng xã hội của loài người, cũng như cách mạng 1789, đã dẫn thành phần trung sản đương thời (lúc đó là mấy phe trung quý tộc, trung tăng lữ và trung tư sản), lên nắm chính quyền ở khắp thế giới hồi đó, cách mạng 1917 cũng phải dẫn đến thành phần trung sản hiện thời, ở khắp tân cựu lục địa, lên giữ chính quyền, hoặc bằng phương pháp bạo động theo Cộng Sản, hoặc bằng phương sách ôn hòa theo tự do, để cả hai nối tiếp và đẩy đà cho chế độ, Nhân chủ xã hội tự do, điều hợp quyền lợi giai cấp kiểu mới:

3- Thống trị tính vẫn còn đầy nặng trong đầu óc các lãnh tụ “tiểu tư sản”, hiếu chiến của Nga, đế quốc tính vẫn còn đông đặc trong tâm trí chưa giác ngộ kịp của nhân dân Nga, nên với mục tiêu biến nước Nga thành “thành trì vô sản quốc tế”, vô tình hay hữu ý họ đã làm nước Nga trở thành đế quốc Đỏ, cố sức tranh giành chư hầu với đế quốc cũ, như vậy đương nhiên tinh thức Quốc gia, nền tảng gia đình và tinh thần tư hữu, ba chuẩn đích, năm công phá của chủ nghĩa Marx (phi tổ quốc, phi gia đình, và phi tư hữu), rồi sao cũng phải hồi sinh để quật ngược lại, biến chủ nghĩa Marx làm phương tiện cho nước Nga dùng để làm bước lên hàng đế quốc thực dân kiểu mới.

Kết quả thu lượm được đã phản lại hoàn toàn chủ nghĩa, ở mấy điểm căn bản này:

* Lý thuyết chủ trương “Giải phóng lao động vô sản”, thì đến thực hành đã hoàn toàn nô lệ hóa mãn kiếp cả hai thành phần thợ thuyền và dân cày, để làm lợi riêng cho thành phần trí thức chuyên viên nghiễm nhiên đoạt quyền thống trị.

* Lý thuyết chủ trương “Giải phóng nhược tiểu dân tộc”, thì đến thực hành đã hoàn toàn thực dân hóa toàn diện các nước nhỏ, dù ở trong nội bộ chính quốc hay ở ngoài biên khu Cộng Sản.

* Lý thuyết chủ trương “Giải phóng tinh thần con người khỏi ách tha hóa”, cho con người khỏi tạo ra thần tượng, tạo ra tôn giáo để quay lại đầu độc con người thì đến thực hành đã hoàn toàn biến ngay chính chủ nghĩa Marx thành giáo điều lại còn dị đoan mê muội quá cả mọi thứ tín ngưỡng để “làm thuốc phiện ru ngũ nhân dân.”

* Lý thuyết chủ trương “Giải phóng con người khỏi ách tư hữu tài sản” thì đến thực hành đã hoàn toàn biến ngay chính chủ nghĩa, chính đảng Cộng Sản, chính chính quyền “Vô sản”, thành tư hữu tài sản, lại còn độc quyền hơn cả mọi thứ của riêng của tư bản chủ nghĩa nữa.

* Lý thuyết chủ trương “kinh tế, hạ tầng cơ sở, quyết định tất cả” thì đến thực hành lại chính là “Tư tưởng, thượng tầng kiến thiết đã quyết định tất cả”, biến chủ nghĩa Marx được gọi là duy vật thành một chủ nghĩa hoàn toàn duy tâm như chưa từng thấy.

* Lý thuyết chủ trương “kỹ thuật cơ giới của nền kinh tế kỹ nghệ ở các xã hội Cộng Sản sẽ biến guồng máy chính quyền thành guồng máy xí nghiệp, trong đó con người quản trị các vật thể, là máy móc”, thì đến thực hành lại hóa ra ngược hẳn đi: “Xã hội Cộng Sản là Xã hội trong đó máy móc quản trị con người, nên guồng máy chính quyền lọt hẳn vào tay một bọn chuyên viên vì dốt chính trị thành thử chịu hoàn toàn lệ thuộc vào guồng máy của đảng, chính trị lúc nào cũng bị một số chính khách điều khiển khắt khe.”

* Rút lại, thấy rõ ràng: Marx chỉ mới có công tiêu cực là tố cáo mọi sự lệch lạc của giai cấp tư bản, mọi sự băng hoại của xã hội tư bản, mọi sự đọa lạc của tư tưởng tư bản quá khích thôi, nên ông chỉ mới nhìn rõ có những giai đoạn phá hủy của lịch sử, còn những khía cạnh xây dựng của tư bản, cũng như của lịch sử loài người nói rộng, thì chưa đá động, hay không muốn, không kịp, hoặc chưa thấy để mà đề cập tới, thành thử phe phái môn đồ của ông không nắm nổi nguyên tắc kiến thiết xã hội. Do đó Marx chỉ nhằm mục tiêu khai thác mâu thuẫn giai cấp, nên Cộng Sản chỉ thắng lợi nổi trên phần đả phá, nhất là ở các nước kém mở mang, kỹ nghệ có nhiều xáo trộn bất công, chứ ở các nơi tương đối lành mạnh thì chủ nghĩa Marx không có đất đứng.

Chứng cớ quá rõ rệt là bản thân cuộc cách mạng 1917 đã không tài nào nổ ra tại các nước kỹ nghệ cao, có nhiều đảng viên Cộng Sản như Pháp, Anh, Đức, mà lại phải “miễn cưỡng” bùng ra ở Nga, một nước phong kiến nông nghiệp bán kỹ nghệ tương đối, rất ít đảng viên Cộng Sản thuần túy, khiến cho sau khi có chính quyền trong tay, chủ nghĩa hóa ra tự mâu thuẫn rồi đổ vở tan tành.

Lý thuyết Cộng Sản đi vào ngõ cụt, vì biện chứng lịch sử của Cộng Sản đã quái hóa ngay từ lúc phôi thai: biện chứng đó chia diễn trình nhân loại thành bốn giai đoạn, hết bốn giai đoạn thì phải trả lại chu kỳ đầu, với sắc thái văn minh hơn. Như vậy, sau giai đoạn “Cộng Sản văn minh” theo họ, tất lịch sử sẽ lại qua cầu mâu thuẫn nội tại để chuyển sang giai đoạn “nô lệ văn minh”.

Nhưng đã có bản tính yêu chuộng tự do thì loài người không tài nào chấp nhận nổi chế độ nô lệ, dù là “nô lệ văn minh”. Có lẽ chính ngay con người miễn cưỡng theo chủ nghĩa Cộng Sản mới đây cũng vì “muốn giải phóng cho mình khỏi ách nô lệ tư bản, mà tranh đấu phá hủy chế độ “người bóc lột người”. Cho nên đem áp dụng ngay lý luận của Cộng Sản, cũng có thể tin chắc là loài người sẽ rút giai đoạn nô lệ văn minh lại thật ngắn, nghĩa là đánh đổ Cộng Sản từ lúc nó mới manh nha. Vì thực chất của chế độ Cộng Sản chỉ là chế độ Nô Lệ không hơn không kém.

Thực vậy, nếu toàn thể nhân loại không sớm giác ngộ, mà để cho mình bị nhuộm đỏ, thì quả tình một lần nữa lịch sử đã lộn về thời nô lệ hồng hoang hơn cả thời nô lệ dã man xưa kia: cuộc sống máy móc, bùn nhơ, mất tự do, mất chủ quyền của nhân dân dưới chế độ Cộng Sản, đã nói lên ý nghĩa của giai đoạn nô lệ văn minh tối khoa học, tối tinh vi, gọt đẻo, uốn nắn tôi luộc, ti tiện hóa tính thần con người đi đến cùng độ, để đem những “khí cụ sống” này, phục vụ cho một lớp chủ nô và cai nô, là bọn lãnh tụ và đảng viên Cộng Sản chính cống.

NGUYÊN NHÂN SAI LẦM CỦA CHỦ THUYẾT MÁC XÍT. Sai lạc trên bắt nguồn từ chổ chủ nghĩa Marx đã bị tình cảm của vị sáng thuyết lôi cuốn vào vòng mờ ám: cảnh cùng cực đói khổ của thợ thuyền vô sản Âu Châu về thế kỷ trước, bởi sự bóc lột thô bạo vì ngu muội của tư bản đã khiến cho Marx chỉ nhằm quan sát lịch sử qua các khía cạnh kinh tế thôi. Nên ông mới cưỡng chế quá trình diễn hóa của loài người bắt đi vào con đường một chiều do vị “anh hùng sốt ruột” đó vạch sẳn, bằng một bàn tay thiên lệch, qua một lăng kính cong vênh. Chứ thực ra thì động lực diễn hóa, tranh đấu cũng như xây dựng của lịch sử, từ ngày con người thành con người có suy tư trong khi hành động, bao giờ cũng do nhận thức quyết định.

Đây có nghĩa là trong những giai đoạn “thai nghén” của con người đều được cân nhắc, chuốt lọc qua ý thức, những giai đoạn, mà minh động chứ không phải là manh động, là vọng động. Manh động là khi con người “làm theo bản năng”, vọng động là “làm theo tình cảm”, bản năng của lớp đại chúng vô ý thức, tình cảm của lớp thi nhân vô quan niệm. Lịch sử bị hãm hiếp nên đã trả lời rành rọt:

Một, là Marx khi sáng thuyết đã là một thi nhân vô quan niệm.

Hai, là đám đông theo đuôi đảng Cộng Sản bolshevik tháng mười 1917 đã là một mớ đại chúng vô ý thức.

Ba, là hai hạng người, thi nhân vô trách nhiệm và đại chúng vô ý thức đã gây ra một trò xuẩn động, làm tai hại cho người dân lành, ở Nga cũng như ở toàn thế giới, thật là vô tả.

Bởi vậy, đã có nhiều người đổ tất cả tội lỗi lên đầu Stalin, rồi cho vụ “thay vị, đổi ngôi” năm 1917 kia là “Cách Mạng bị bôi hề”, “cách mạng bị phản thùng”, nhưng thực ra phải lên án ngay từ Lenin, là tay đầu nậu đã vì tham vọng quá lớn, nên học đòi Asoka, Constantine, Lưu Bang, ngày trước đã biết lợi dụng Đạo Phật ở Ấn, Đạo cơ Đốc ở Lamã, Đạo Khổng ở Tàu, để đem áp dụng một cách vô lối chủ thuyết Marx vào phong trào Nông Dân khởi nghĩa ở Nga. Do đó mới đẻ ra một chế độ “nữa dơi, nữa chuột, đầu Ngô mình Sở”, hoàn toàn phản lại thầy, khiến cho chính Lenin cũng phải chết trong sai lầm, và khiến cho Stalin mới có cớ sau này biến “cách mạng” ra “vong mạng”, vong mạng mình và vong mạng hàng trăm triệu con người vô ý thức bị chết uổng với những vụ thử thách ” âm binh vật chết phù thủy”.

Để kết luận mục này, cần nhắc lại một lần nữa rằng: “Động lực diễn hóa, khi tranh đấu cũng như khi xây dựng của lịch sử là do nhận thức con người quyết định”. Như vậy, những thời cách mạng là những giai đoạn lịch sử trong đó có ý thức người, có bàn tay người tham gia “một cách ý thức” vào các cuộc biến đổi đó, hoặc để bôi đen hay tô thắm lịch sử.

Lịch sử ý thức, vậy thì lịch sử ý thức là lịch sử diễn hóa theo ba mặt nhân sinh, trên trục nhân văn, như sau:

1- Xã hội tình: NHÂN QUẦN. Lịch sử diễn hóa, qua các giai đoạn: Cá nhân, Mẫu chủ, Thị tộc, Quần tộc - Bộ lạc , Dân tộc - Quốc gia và Nhân loại - Thế giới, đều được đặt trên căn bản tình người: vì tình cảm, loài người đã hỗ tương nhau, đã chống đối nhau, đã điều hợp với nhau để tìm lối sống an bình, hay ly loạn.

2- Xã hội lý: CHÍNH TRỊ. Lịch sử chính trị đi từ thế Tự nhiên, qua Phong kiến, Dân chủ, tới Nhân chủ điều hợp. Đã vì tình cảm con người phải hòa hay chiến với nhau, nhưng một khi đã phải cùng nhau chung sống rồi, thì tất cũng phải đặt ra luật lệ để an bài cuộc chung. Có luật lệ tất phải có một người hay một cơ quan đủ lực, điều hành luật lệ: tất cả nhân sự, quyền hành, luật lệ, phương sách, phương tiện, điều hành và nghệ thuật ứng phó, được gọi chung là chính trị. Vậy chính trị là do lý trí, ý chí chung sống của con người mà thành. Mà có chính trị, là con người lại có thêm một nguyên nhân mới để tranh giành nhau. Nên bao giờ con người giác ngộ về chính trị, và bao giờ chính trị thực thi đúng với trách vụ của nó, là LẤY CON NGƯỜI LÀM CỨU CÁNH, thì lúc đó mới tránh nổi cho nhân loại những giằng xé giữa thống trị và bị trị.

3- Xã hội cảnh: KINH TẾ. Kinh tế theo cảnh sống con người mà diễn hóa dưới những hình thức: tự nhiên, phi sản, hữu sản, tư sản, để rồi phải tiến tới liên sản điều hợp, toàn cầu hóa. Ngoài việc giết chóc nhau vì tình cảm, vì chính trị, con người còn giết nhau về miếng ăn, áo mặc. Mà đây lại là nguyên nhân trọng yếu của chiến tranh. Muốn chấm dứt chiến tranh, trước hết phải lo tới vấn đề đó: vấn đề huyết mạch của đời sống con người. Mà đứng trước xã hội, nhất lại là xã hội văn minh, thì không một cá nhân, không một dân tộc nào, dám tự hào là mình hoàn toàn tự lập về kinh tế được. Bởi vậy càng cần tới luật lệ để bảo vệ quyền sống, điều hòa quyền sống, điều hòa quyền lợi và phân phối quyền hành, riêng về mặt sinh hoạt vật chất của loài người.

Như đã nói, có luật lệ là phải có người điều khiển, có chính trị. Bởi thế, ba phần nhân quần, chính trị, kinh tế cứ gắn liền với nhau từng giây, từng phút. Có vậy mới điều hòa được nguồn sống, tổng hợp được khả năng con người, hướng vào việc phục vụ nhân sinh, tạo cho xã hội một nếp sống êm ấm hạnh phúc, do đó, đặc chất của kinh tế là điều hợp, nên thành phần trụ chốt của kinh tế không thể trao phó cho tầng lớp quá khích, mà phải trao phó cho tầng lớp trí tuệ trung dung.

Ngoài ba mặt TÌNH, LÝ, CẢNH của xã hội, còn một trục diễn hóa của TINH THỨC con người, cần phải nhấn mạnh nữa, đó là mặt sống VĂN HÓA. Văn hóa là thước đo văn minh của nhân loại. Văn hóa là phản ảnh trung thực về TÌNH, LÝ, CẢNH của xã hội, rồi lại chiếu sáng trở lại cuộc sống để vạch lối cho Nhân quần, Chính trị, Kinh tế, trên con đường phục vụ con người. Nhờ văn hóa mà nhân tính, nhân tình, nhân cách mỗi ngày thêm tươi đẹp, trong sáng,thánh thiện hơn lên không ngừng. Nhờ văn hóa loài người mới khỏi mò mẫm, lần bước trong u mê tăm tối. Tóm lại văn hóa là nòng cốt của xã hội con người, là chủ đạo cho cuộc sống, đưa nhân loại tiến lên văn minh tuệ linh thăng hóa.

Như vậy, mọi sử quan một chiều, đều tách rời sự thật CON NGƯỜI. Chính bởi thế mà chủ nghĩa Marx đang bị nghẽn lối: “Cách mạng vô sản” phá ngang để đâm sang hàng ngũ tư bản, khoác áo Đế quốc Thực dân. Từ lý thuyết “kinh tế quyết định tất cả”, sang thực hành lại biến ra “chính trị quyết định tất cả”. Có tư hữu, có gia đình, có tổ quốc. Từ lý thuyết “hủy bỏ tôn giáo” sang thực hành, chủ nghĩa Marx đã thành một tôn giáo, bên cạnh và trên những tôn giáo, mà người theo không được quyền hiểu, chỉ được bổn phận là nhắm mắt tuân theo thôi.

Nên Cộng Sản đích thật chỉ là một hiện tượng lịch sử tự hủy những phần dư thừa không cần thiết của xã hội loài người, khi chuyển hóa từ nhận thức quốc gia tiến sang quốc tế, từ cảnh sống tư sản quá khích sang tư sản điều hợp. Cộng Sản nắm giữ nhiệm vụ đào thải chế độ tư bản cực quyền thiên lệch, thức động rồi đãi lọc bằng cách chà đạp giai tầng trung sản xưa rầy vì ỷ lại, mà chưa ý thức nổi mình là thành phần chủ lực xã hội, nên hết “bám vào phong kiến, bám vào tư bản, bám vào Đế quốc rồi lại bám vào vô sản”, để “dối trên lừa dưới” luôn luôn thủ vai trò “quân sư quạt mo, trọng tài nước bọt, chính trị viên suông”... Thế nên khi Tư bản hoặc tự ý chịu cảm hóa, hoặc bắt buộc bị tha hóa rồi, thì trận tuyến Cộng Sản không còn lý do tồn tại nữa, để nhường chổ cho tư sản, kiến thiết xã hội, điều hợp cuộc sống chung.

Sự trạng Cộng Sản ở Nga cũng như ở Việt, ở Tầu, sau khi leo lên ghế thống trị, đã tận lực nuôi nấng tinh thức trung sản cho nhân dân mấy nước đó, đủ chứng tỏ rằng: Chế độ Cộng Sản đang bị trung sản giác ngộ dung hóa để tiến tới một chế độ mới: Chế Độ Nhân Chủ Tự Do Điều Hợp là chế độ mà ở các cường quốc kỹ nghệ cao đã thực hiện trước cả cuộc chuyển hướng của khối tự xưng là Cộng Sản đang tiến tới xã hội chủ nghĩa.

VĂN HÓA: Nhận thức NHÂN CHỦ NHÂN VĂN. Các quốc gia gặp nhau, thêm nhiều thì sự chém giết cũng càng có nhiều cơ hội xẩy ra. Vì khác nhau về màu da, về tính tình, về văn hóa, nên đã khác nhau về dân tộc mà lại phải va chạm với nhau về quyền lợi thì rất dễ trở thành cừu địch của nhau. Song dần dần văn hóa cũng được trao đổi, mặc dầu là qua các vụ xô xát: con người học hỏi, trao đổi kiến thức, kinh nghiệm bằng vào các cuộc thử lửa, thử dao, thử sức kia. Do đó, tạo nổi những cuộc tổng hợp văn hóa, dù là miễn cưỡng.

* Ở Á châu thì từ khoảng thế kỷ 3 trước Tây lịch tới thế kỷ 11 sau tây lịch, nghĩa là từ đời Thục đến đời Lý, sau khi tiếp nhận được hai luồng tư tưởng Lão, Khổng của Trung Hoa, và luồng tư tưởng Phật Giáo của Ấn Độ, Việt Nam là hoàn tất nổi một cuộc tổng hợp văn hóa “Tam giáo đồng nguyên” đầu tiên của nền Đạo học Nông nghiệp Phương Đông, để sáng chói lên, vào Thế Kỷ 11 - 15 qua nền văn minh Lý Trần.

* Ở Âu châu, cuộc Tổng hợp văn hóa cũng miên diễn, từ hậu bán thời thượng cổ qua trung cổ, rồi thực sự rực rỡ vào thế kỷ 16 sau Tây Lịch, để đúc kết nên nền văn minh cơ giới cận đại: văn minh Âu Lục hiện nay là dư ảnh của văn minh Hy Lạp, sau khi truyền vào đất Ý dược tổng hợp thành văn minh Hy La, rồi do đế quốc La Mã tung ra khắp Châu Âu đương thời. Tiếp đến nền văn minh dân tộc Do Thái, dưới danh nghĩa Kitô Giáo, cũng qua ải La Mã rồi lan khắp Âu châu.

Kitô Giáo thích hợp với cảnh sống và nhận thức con người Âu Châu thời bây giờ, nên đã hoàn toàn chiếm lãnh tư tưởng, nghệ thuật, nếp sống người Âu, để cuối cùng lấn đất chính trị, tiến sang nắm quyền chỉ huy hành chính, kinh tế, tức là xâm nhập dần dần Thế Quyền, do đó xao lãng Thần Quyền. Để cứu vãn tinh thần Thiên Chúa Giáo thuần túy, thế kỷ 15 Plethon, đã dùng lý luận của Platon tổng hợp với tín lý Thiên Chúa giáo, biến Florence thành trung tâm văn nghệ Âu Châu, mở ra một kỷ nguyên mới lạ.

Tinh thức tổng hợp về triết học, về tôn giáo được Erasme, 1467-1436 người Hòa Lan, triển khai rất mạnh, làm nòng cốt cho phong trào Phục Hưng Văn Nghệ.

Tinh thức duy lý của Platon, nhờ phong trào này, một lần nữa, bừng lên soi đường cho sự suy tưởng của con người tiến tới lãnh vực Khoa Học.

Francis Bacon, 1561 - 1626, sáng lập khoa triết học thực nghiệm, là ngành được Descartes, 1596 1650, người Pháp, dùng tinh thức duy lý phát huy thành nền tảng cho sự suy luận biện chứng khoa học phân hợp, gồm mấy yếu tố sau :

1. Sự thực, trước khi quyết nhận là sự thật, phải chứng minh được là sự thực đã
2. Muốn chứng minh được, trước hết phải phân tích để giải quyết từng khía cạnh một
3. Sau khi nghiên cứu tỉ mỉ từng phần, phải thu thập lại, rồi xét theo từng loại để thấy được toàn diện
4. Cuối cùng phải kiểm điểm lại cho đầy đủ để khỏi bỏ sót.

Biện chứng thuyết Descarte chứa đựng tinh thức tổng hợp giữa duy lý và duy nghiệm.

Hai nhà bác học Bacon và Descartes đã có công lớn với nền kỹ thuật cơ khí Âu Châu và cả nhân loại tiến bộ ngày nay. Con người bắt đầu biết dùng biện chứng duy lý, thực nghiệm để tiến sâu vào các môn khoa học, như thiên văn, toán pháp, vạn vật, hóa học, y học, thám hiểm thế giới, rồi đến các môn nguyên tử học, không gian học gần đây.

Nơi tổng hợp văn hóa Châu Âu thế kỷ 17 là đất Pháp để rồi kết tinh thành các cuộc cách mạng chính trị, kinh tế, kỹ thuật của thế kỷ 18, 19. Còn nơi tổng hợp văn hóa nhân loại thế kỷ 20 là đất Việt Nam, xét về mọi mặt:

Về nhân chủng, dân Việt là dòng họ cuối cùng của Bách Việt còn sót lại, không bị giống Hán đồng hóa: dòng chính là Lạc Việt cư ngụ miền trung du Bắc Việt, mặt Bắc dung hợp với các giống Âu Việt và Nam Việt, mặt Tây với giống Sơn Tinh (Đông Ấn), mặt Nam với giống Thủy Tinh (Nam Dương) họp thành dân tộc Việt Nam hiện giờ.

Về địa lý, nước Việt là một trong những giao điểm quốc tế: Bắc giáp Trung Hoa, Tây gần Ấn Độ, Nam tiếp Nam Dương, Đông nhìn Thái Bình Dương là cửa ngỏ của mọi cuộc giao lưu cổ kim đông tây.

Về văn hóa, đây là nơi qui tụ của mọi luồng tư tưởng chính.

1. Từ thế kỷ 1 Tây Lịch, người Việt tiếp nhận hai luồng tư tưởng Lão, Khổng của Trung hoa,hết sức trái ngược,đối kháng nhau, nhưng khi sang đến nước Việt thì đã được người Việt hòa hóa với luồng tư tưởng Phật từ Ấn độ, rồi sau ngàn năm DUNG HÓA tới thế kỷ 11, thành nền Đạo học “Tam giáo đồng nguyên” tức cùng nhận đặc chất “Nhân chủ, coi vạn vật đồng nhất thể”, sau cùng tới thế kỷ 16, 17 Việt hóa dân Hời để nhận thêm ảnh hưởng của Hỏa Giáo, Hồi Giáo nữa.

2. Từ thế kỷ 17, giao thương với Âu Châu, người Việt chính thức thu thái tư tưởng Kitô Giáo, rồi Tân Giáo cùng các trào lưu học thuật, văn nghệ duy lý duy tâm, duy nghiệm vào thế kỷ 19, 20 để dung hợp thành Cao Đài Giáo, tuy mới phôi thai còn nhiều phức tạp và nặng mê tín hơn nhận thức, nhưng cũng là ý niệm nói lên ý chí khả năng dung hóa của người Việt.

3. Từ 1945, duy vật công khai bành trướng tại Việt Nam, các giáo phái liền đứng lên hợp thành trận tuyến “Liên Tôn chống cộng”, tuy lúc thăng lúc giáng nhưng cũng công khai qua nổi mọi chướng ngại để trên thực tế, cũng như trên nhận thức, tạo cho người Việt một cơ hội tốt đẹp về cuộc tổng hợp “Tứ Giáo": PHẬT, LÃO, KHỔNG, KI TÔ.

4. Các trào lưu thực dụng của Mỹ, hiện sinh của quốc tế cũng tràn vào Việt Nam, để cùng chia ảnh hưỡng với các tôn giáo và Cộng Sản, nhưng tất nhiên, như lịch sử đã dậy, người Việt vì ý chí tồn tại, vì nhiệm vụ đối với đồng loại, dù sao cũng đang nỗ lực tận dụng khả năng dung hóa để thành tựu một cuộc tổng hợp văn hóa như chưa từng thấy.

Về chính trị, phải nói ngay rằng: Người Việt thực đã truyền đời truyền kiếp chịu gánh vác tất cả mọi chế độ, với sự quái hóa cùng cực của mọi chế độ, mà nhân loại đã sản ra và cùng gánh chịu. Cũng lệ thuộc phong kiến, như các nước miền Địa Trung Hải xưa kia bị đế quốc La Mã, đế quốc Hồi chế ngự, cũng chịu lệ thuộc thực dân Pháp như bất cứ dân tộc nhược tiểu Á Phi nào; cũng bị quân phiệt Nhật tàn phá như mọi nước Á hay Âu, đã chịu vết xe tăng Phát xít nghiền xé, cũng bị chung một chế độ cai trị hà khắc độc tài, như các nước chư hầu Cộng Sản, cũng chịu cảnh cay chua của Tài Phiệt đế quốc kim ngân “chết đuối người trên cạn mà chơi”, như toàn thể các dân tộc nhược tiểu xấu xố khác. Bởi vậy qua những kinh nghiệm bản thân, đẫm máu, người Việt đã sớm nhận rõ thân phận, dân tộc mình, nhận ra thế đứng của mình trên đấu trường quốc tế, nhận ra chế độ nào thích hợp với đòi hỏi của Toàn dân đau thương hiện đại để điều hợp nổi quyền lợi giữa cá nhân với xã hội, giữa giai cấp với giai cấp, giữa quốc gia với quốc gia, giữa quốc gia và quốc tế .

Như thế là về mọi mặt lịch sử đã chứng nhận cụ thể rằng: trên nhận thức cũng như trên thực tế, người Việt, nước Việt đã đủ điều kiện và khả năng hiến dâng cho nhân loại ngày nay và mai sau một TỔNG THỨC VẬN TOÀN DIỆN, trọn tình cảnh lý. Nhằm cung ứng cho con người một nền NHẬN THỨC NHÂN CHỦ NHÂN VĂN,để đưa vào thực tế một chế độ CHÍNH TRỊ DÂN CHỦ TRỌNG PHÁP, một nền KINH TẾ THỊ TRƯỜNG TỰ DO,một cuộc sống HÒA BÌNH ĐIỀU HỢP TOÀN TRIỂN, trong chiều hướng TOÀN CẦU HÓA.

Để phát triển phổ cập và có hiệu quả cho luồng ĐẠO HỌC TỔNG HỢP TOÀN TRIỂN CỦA NHÂN LOẠI, thì Hoa Kỳ mới là một trung tâm lý tưởng nhất của Thế Giới. Nước Hoa Kỳ đa chủng tộc, đa văn hóa, đúng là một Thế Giới thu nhỏ, mà có khả năng vĩ đại về các mặt kinh tế, khoa học, an ninh, và chính trị vốn có nền móng vững chãi của sự TỰ DO TRỌNG PHÁP. Đồng thời người Mỹ thực dụng có khả năng tự động ĐIỀU HỢP nền kinh tế phát triển muôn mặt rầm rộ của mình, để dẫn đầu cho công cuộc toàn cầu hóa tương lai, được đặt trên nguyên lý NHÂN CHỦ TỰ DO ĐIỀU HỢP.

VII. GIAI ĐOẠN VŨ TRỤ

TIÊN LIỆU: Bằng vào kết quả của sự suy nghiệm, bằng vào năng lực tạo tác của mình, con người đã làm cho biên cương kỹ thuật ngày một sâu rộng mãi ra. Kể từ năm 1957, từng loạt vệ tinh nhân tạo, từng đoàn hỏa tiển thám sát không gian đã khai sinh kỷ nguyên Phi hành gia vượt khỏi khí quyển, lọt vào khoảng thái không bao la, vạch ra con đường Liên hành tinh, với kỹ thuật điện tử điện toán siêu tốc, siêu năng, với lòng nhẫn nại, tận tụy với lòng can đảm không ngừng của mình, với đà đi tới của mọi môn khoa học, chắc chắn một ngày rất gần trong tương lai huy hoàng hứa hẹn, con người sẽ gặp nổi đồng loại mình ở nhiều tinh cầu khác.

Mà đã là đồng loại tất phải tương tự về hình dáng, về khả năng rung cảm, suy nghiệm, hành xử để thông tin, thông cảm, thông huyết với nhau, và ngược lại tất nhiên về trình độ văn hóa: nhận thức, cách sống, cảnh sống, nếp sống... cũng có phần so le, chênh lệch khác biệt nhau. Cho nên để tránh xung đột,với con người ở trái đất này, ngay từ giờ đã thấy có người đòi hỏi, hay tìm tòi áp dụng những nguyên tắc mới, là Điều Hợp Quyền Lợi, Liên Minh Công Lý và Dung Hóa Tư Tưởng, để mở lối cho một xã hội của Con Người Hoàn Vũ, trong đó Nhân Quần là Đồng Loại, Chính Trị theo thể chế Đồng Minh, Kinh Tế đặt trên tiêu chuẩn Đồng Lợi, Văn Hóa tiến tới ĐỒNG NHẤT THỂ mà ĐA DẠNG, nhằm dẫn con người đạt nổi cảnh giải thoát cho nhau khỏi mọi ách lao lung về cả thể xác lẫn tâm hồn.

VIỄN KIẾN TỔNG HỢP

Phật Thích Ca, chúa Jesus cũng như các giáo tổ khác, đều nuôi chung một ý hướng là đưa nhân loại tới một xã hội điều hợp, lấy từ ái làm tiêu chuẩn, lấy tình người làm nòng cốt cho cuộc sống. Nhưng vì nhận thức đồng loại đương thời còn thấp kém, con người trên toàn thế giới chưa có phương tiện gặp nhau dễ dàng, tức chưa phải thời tổng hợp, nên đạo lý của các ngài chỉ phát triển mạnh được về mặt tâm linh mà thôi. Đôi khi ý nghĩa cao đẹp lại còn bị xuyên tạc là đằng khác nữa. Hay cũng có trường hợp, chính các ngài cũng không dám nói hết sự thật, mà các ngài đã giác chứng được với đệ tử, vì có nói ra các đệ tử cũng không hiểu nổi. Mà đã không hiểu thấu thì, khi hành xử, tất không thể tránh nổi mê động.

Bởi vậy về mặt thực tế xã hội, mãi tới thế kỷ 19,20 Karl Marx mới tạo thành hệ thống chặt chẽ để LUẬN THỜI thế giới TỔNG HỢP. Tuy nhiên với nhận thức chủ quan duy ý chí,quá khích quyết liệt mà ngụy biện của ông, đã tạo ra cho Nhân loại những khổ đau, phải nói rằng vô tiền khoáng hậu. Nghĩa là không ai dám nghĩ “sẽ còn có cảnh tương tự xẩy ra cho loài người thêm một lần nũa.” Nhưng mặt khác chủ nghĩa của Marx cũng có chỗ đứng, chỗ dụng của nó đối với lịch sử Thế giới. Đó là việc buộc loài người phải nâng tất cả các mặt sinh hoạt Xã hội, Chính trị, Quân sự, Kinh tế, Văn hóa...lên tầm mức Quốc tế.

Marx đã lấy một thức thuyết Duy Vật đảo ngược hẳn lại với các hệ phái Tâm Linh của tôn giáo xưa rầy, rồi coi đó là nền tảng xây dựng xã hội, cho nên đương nhiên hệ thống Marx bị dồn vào thế quá khích, đặt tất cả mọi hệ phái cổ kim Đông Tây thành đối thủ, thành thử cuối cùng không còn đủ khả năng để dung hóa nổi các triết phái khác, vào một cuộc vận động Tổng Hợp các nguồn nhận thức toàn diện nữa. Như vậy, chủ nghĩa Marx đã tỏ ra không hợp tình, hơp lý, hợp cảnh với đời sống của thế giới muôn mặt, của con người muôn hình, của tâm linh muôn vẻ, lúc nào cũng sẵn sàng ý hướng đứng ở mức phải chăng, tương đối, trung dung, và vui lòng đặt mình dưới quy luật “tình lý tương tham”,và “đồng cảnh tương lân”.

Đàng này chủ nghĩa Marx đã tạo ra nơi con người cả một tâm trạng mất hết tin tưởng, toàn triệt hoài nghi, oán hận đồng loại, như thế mà chính con người của “giai cấp cụ thể”, thì vẫn ray rứt, dằn vặt, khắc khoải thường xuyên về thân phận mình giữa cuộc đời thác loạn, lạc hướng, trong đó “người là lang sói với người”, nghĩa là thức thuyết Marx, đáng lẽ phải tạo ra, một nguồn hào hứng cho nhân loại, thì đã tạo ra hẳn một “ngõ hẻm tối tăm, để giai cấp vô sản lùa nhân loại vào một lò sát sinh khổng lồ”. Khiến cho từ con người ảo tưởng Cộng Sản đã tiến thẳng tới con người Hiện sinh: chán mình, chán người, chán tất cả. Con người “ăn vạ ăn vòi xã hội”, con người hoàn toàn giả tạo, con người hoàn toàn lệch lạc, trái hẳn với bộ mặt thực của con người bình thường ,lành mạnh.

Thực ra, xưa cũng như nay, như mai, con người cụ thể là con người xã hội, hễ đã có ý thức về đời sống của mình thì đều vẫn chán chường với thân phận : “thể xác thì có hạn mà tâm thần thì cứ đòi vô hạn” nhưng càng chán chường, càng thức giác được “sự thật tương đối của đời mình” thì lại càng muốn vươn lên thoát khỏi cảnh bưng bít mịt mùng để tìm lối thoát, không riêng cho mình mà cho cả vạn thế hệ sau nữa, càng chán chường càng hăng hái vượt qua cả chán chường, chán cả chán, để “TỰ THẮNG và TOÀN THẮNG”. Mà con đường thoát hiểm kia, muốn tìm ra, thì lịch sử cổ kim cho biết: ngoài sức mạnh và nguồn sáng của một cuộc vận động Tổng Hợp mọi nhận thức để DUNG HÓA thành TỔNG THỨC TOÀN DIỆN,nhằm sống cho đầy đủ trong cuộc sống NHÂN CHỦ NHÂN VĂN thì chưa có đường nào hữu hiệu hơn.

LUẬN Ý TỔNG HỢP.

Cách mạng Dân quyền bị bội phản, nước Pháp chơi vơi, giữa chế độ chuyên quyền, tiếp diễn tham vọng đế quốc của La Mã xưa, của Y Pha Nho, Bồ Đào Nha, Hòa Lan, Anh Cát Lợi nay đã đổ xô Âu Châu vào biển máu. Những cuộc chém giết này đối với bọn thống trị chỉ là phương tiện trục lợi, nhưng ác hại vô cùng là, đối với chính ngay lớp người dân bị trị ở chính quốc, những trận tàn sát rùng rợn ấy lại được mang nhãn hiệu Quốc Gia Dân Tộc đấu tranh cho Tổ Quốc. Vì sau cuộc đại cách mạng 1789, tinh thần Quốc Gia được rừng rực cháy ngút trời Âu.

Chiến tranh càng khốc liệt, người dân càng kiệt quệ; để cứu vãn tình thế, một cuộc Cách mạng Tư Sản Dân Quyền bùng nổ, vào năm 1848. Cũng bắt đầu từ Pháp rồi lan ra khắp Âu Luc. Cuộc cách mạng ấy đi từ giới lao động trí tuệ và chân tay, để rồi cũng như mọi cuộc đảo lộn chính trị xưa rầy, bị phe trung lưu thao túng xong, nộp cho phe tư bản “ăn sẳn”. Do đó tình thế Âu Châu chẳng hề được sáng sủa thêm chút nào, người dân vẫn cứ lầm than. Hơn nữa vì trí thức vốn bị ngược đãi, lại càng thêm phần túng quẫn. Trước cảnh ấy, các học thuyết xã hội chủ nghĩa xuất hiện và được tổng hợp lại bằng chủ thuyết Marx. K. Marx cũng cùng một quan niệm với các nhà xã hội học lỗi lạc đương thời, là phải làm sao ” Tranh đấu cho quyền sống của thợ thuyền ”, nhưng ông còn nhìn xa hơn, vượt khỏi phạm vi quốc gia và Âu Châu để tiến tới quy mô toàn Thế Giới.

Theo ông dù có đạt được xã hội chủ nghĩa, mà cứ còn giữ cương vị quốc gia chủng tộc nhỏ hẹp, thì chiến tranh vẫn không bao giờ chấm dứt, vì khu vực hoạt động của Tư bản chủ nghĩa đã vượt tới mức độ quốc tế, đã biến thành Đế quốc chủ nghĩa cực quyền, thế giới đã trọn vẹn biến thành thị trường của thực dân. Do đó, Marx chủ trương một cuộc cách mạng toàn diện, căn cứ vào thành phần vô sản, là thành phần có tầm mức quốc tế như tư bản, thành phần không còn nặng óc Quốc Gia, Tư Hữu, không còn vương vấn tinh thần Tôn Giáo, Gia Đình: có thế mới mong dựng nổi một xã hội ĐẠI ĐỒNG hoàn vũ. Theo Marx, óc tư hữu sinh ra lòng tham nhũng. Gia đình chia rẽ con người thành thân sơ, theo tình cảm riêng tư. Quốc gia là lực lượng gây chiến của tư bản. Tôn giáo là “thuốc phiện ru ngủ nhân dân” gây chướng ngại cho đà tiến hóa. Cần phải hủy bỏ hết các mối thành kiến “lạc hậu” kia, thì loài người mới sống no, ấm và hòa bình, tự do chung được.

Mà quả thực Marx dù là triết gia ảo tưởng, một chiều cực đoan, độc đoán chủ quan duy ý chí, nhưng ở nơi ông đã có óc viễn kiến, nhìn trước thấy thời tổng hợp của nhân loại, với nền tảng kinh tế xây dựng trên kỹ thuật điện khí cơ giới, ông cho là: loài người có đủ điều kiện xây dựng một xã hội theo xã hội chủ nghĩa. Nhưng tiếc rằng: Ông chưa thâu tóm, tức chưa thống quan được đầy đủ thành tố của lịch sử, ông chỉ mới nhận ra tính cách quan thiết của kinh tế, chưa thấy tính cách cốt yếu của nhận thức và tình người: nên không hề thấu rõ các khía cạnh “phức tạp của con người, đa phương của cuộc đời, tương đối của xã hội”. Gia dĩ, Marx cũng như toàn thể trí thức Tây phương, hồi đầu thế kỷ trước, vì quá chán nản cảnh tự do quái hóa “vô chính phủ” nên dồn trọng tâm xây dựng xã hội loài người vào thành tố kinh tế, còn bao nhiêu mặt khác, như nhân quần, chính trị, văn hóa, thì cho là phụ kiện, do kinh tế chi phối và quyết định.

Cũng như hầu hết các nhà xã hội Âu Châu hồi ấy, Marx vì mất tin tưởng qua hai cuộc cách mạng tư sản và dân quyền bị đọa lạc, nên đều cùng đặt vấn đề Công Lý Xã Hội trên cả vấn đề Tự Do Cá Nhân, tức là củng cố chế độ trước đã, rồi sau mới trả tự do cho con người. Lénin thì vội bằng ngay vào lý luận thiên lệch, một chiều trên đây để quyết đoán cuộc cách mạng và chính thể độc tài vô sản ở Nga.

Xem kỹ ra, lúc mới ở phần lý thuyết, thì có vẻ hợp lý lắm, song đến khi phải va chạm với thực tế thì sự thực đã trả lời tàn nhẩn bằng máu đào đổ ra, một cách vô cùng oan uổng và vô ích. Là vì khi con người tiến bộ, mà bị mất tự do, bị cưỡng chế làm việc thì, dù cho là, vì muốn củng cố chế độ đi nữa, tất nhiên cũng không thể còn hứng thú phục vụ lý tưởng. Đã thiếu hứng khởi, mà lại còn bị nhà cầm quyền chèn ép, thúc đẩy thì tất dân phải căm oán kẻ cầm đầu, và chán ghét luôn cả chế độ được xem như lý tưởng ấy. Con người đã chán chính thể thì sớm hay muộn chính thể cũng không còn lý do tồn tại nữa.

Bởi vậy Cộng Sản càng bức chế nhân dân “tiến lên xã hội chủ nghĩa” bao nhiêu, thì chủ nghĩa càng xa lạc mục tiêu, chế độ lại càng chóng xụp đổ bấy nhiêu. Hơn nữa chủ nghĩa Marx lại còn phủ nhận quyền Tư Hữu, phá bỏ nền tảng Gia Đình, đánh đổ quan niệm Quốc Gia, truất phế uy quyền Tôn Giáo, nghĩa là khước từ tính người và tình người. Mà tình yêu thương của con người mới chính là căn bản của hòa bình, là yếu tố bảo vệ, xây dựng và duy trì xã hội. Còn tính ham có là kích thích tố thúc đẩy người ta thi đua làm ăn. Chính hai điểm thiếu sót cơ bản trên, đã khiến cho chủ nghĩa Marx không tài nào thành công được, và dẫn chủ trương Cộng Sản vào con đường máu lửa.

Gia dĩ, về động lực đấu tranh, Marx không nhằm vào thế Quốc Gia Dân Tộc, lấy làm chủ lực thực hiện đường lối, như các nhà thống trị xưa rầy, mà lại thay vào đó bằng uy quyền tối thượng của Giai Cấp Vô Sản thành thị, tức thợ thuyền, trên toàn thế giới, vì Marx đã chủ quan cho vô sản là thành phần thiệt thòi đau khổ nhất, đâu đâu họ cũng nuôi chung một nguyện vọng giải thoát “khỏi mấy tầng áp bức của phong kiến, tư bản, trí thức”, đâu đâu họ cũng không có phương tiện sản xuất, không có thể hưởng quyền tư hữu, đâu đâu họ cũng sống tập trung và được chi phối bằng óc khoa học, bằng tinh thần hợp lý: chỉ có họ mới là “giai cấp đi tới”, đang và phải nhận nhiệm vụ lịch sử, là thực hiện “lý tưởng Cộng Sản” thôi.

Điểm nhận định “thần tình” cuối cùng trên đây, cũng như bao nhiêu nhận định khoa học khác của Marx, đều có vẻ hợp lý, nên mới lôi cuốn cực mạnh được tất cả những tâm hồn ngây thơ vì thất vọng. Song trên thực tế xã hội, thì mâu thuẫn lại nổi lên khốc liệt như chưa từng thấy trong lịch sử cổ kim. Khi đã cột lịch sử vào cơ sở “đấu tranh giai cấp” rồi, thì dĩ nhiên chẳng thể tránh nổi cảnh loài người nói rộng, sẽ chia nhau thành hai phe “tư bản và vô sản tử thù”, mà hơn nữa, ngay trong hàng ngũ vô sản cũng lại chia ra “vô sản thành thị tiến bộ giác ngộ và vô sản nông thôn lạc hậu và phản động”, rồi chính trong những từng lớp “vô sản thành thị” cũng lại chia ra “vô sản trí thức chuyên viên thống trị và vô sản chân tay chậm tiến bị trị”, và cứ thế, cứ thế... Xã hội phân tán như chưa bao giờ có, để mà “đấu tố lẫn nhau cho đến lúc chỉ còn một thiểu số, mặc sức mà nhòm ngó, theo dõi, để cuối cùng giết chóc nhau cho kỳ tiệt chủng”.

Quả vậy, sau khi có chính quyền ở Nga cũng như ở Đông Âu, ở Tầu, ở Việt đâu đâu đảng Cộng Sản cũng biến thành một thứ công ty tư bản, cực quyền. Giai tầng tư bản địa chủ cũ bị tụt xuống hàng ngũ “vô-sản” tôi mọi, nếu chưa “được thủ tiêu” (vì sống dưới chế độ Cộng Sản thực là khổ hơn chết). Và kinh khủng hơn chết là vì chế độ Cộng Sản đã biến toàn dân thành một bầy “thợ thuyền, nông dân kiểu mới”, một lớp công nô và nông nô mãn kiếp.

Mỉa mai hơn cả và cũng đau lòng hơn cả, là điểm cuối cùng này, thử bình tĩnh mà xét xem: trên thế giới, giai cấp vô sản thật sự có được bao nhiêu phần trăm, nhất là đối với các nước nông nghiệp, ở đó, từ cổ chí kim, vô sản chưa hề được quy thành giai cấp, hơn nữa lại sống rất lẻ tẻ, và suốt đời vẫn “liên hệ chặt chẽ” với nông dân nơi thôn ổ. Mà chính vì Marx ý thức rõ rệt được nhược điểm ấy, chính Marx biết rằng: nếu theo phương sách dân chủ, thì thiểu số vô sản không thể lấy lá thăm, để hòa bình đoạt chính quyền “một cách hợp pháp kiểu tư sản” được, nên ông mới đòi “Độc tài chuyên chính vô sản”; và chính ông cũng thừa biết là không trông gì vào mức độ giác ngộ của vô sản toàn thế giới, để nổi lên bạo động cướp chính quyền, nên ông liền hô hào lôi kéo những thành phần khác, mà về mặt lý thuyết ông vẫn thường lên án là “không có vai trò lịch sử”, đó là những phần tử tuy ở ngoài giai cấp vô sản, nhưng vì “giác ngộ quyền lợi vô sản”, nên được ông cho đứng chung hàng ngũ “liên minh của vô sản”, nghĩa là thuộc hàng ngũ cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Đích ông và lớp môn đệ của ông đã căn cứ vào chính thuật ấy, rồi trao quyền hành lãnh đạo mặt trận Cộng Sản lại cho lớp người trí thức tiểu tư sản, được coi là giác ngộ quyền lợi vô sản. Và, từ đây, phong trào cách mạng vô sản bước vào một bước quanh cực kỳ áo não cho chủ nghĩa Marx, và tai họa cho toàn thể nhân loại. Là vì, trong đám trung lưu ấy, biết bao nhiêu phần tử, hoặc vì không tưởng, hoặc vì tham vọng, nên mới đầu thì vì lạc ngũ, sau dần vì níu lấy địa vị, mà nhất thiết, bề trong thì vẫn “đặc sệt tiểu tư sản lưu manh” nhưng bề ngoài thì hung hăng che mắt thiên hạ, đánh lừa vô sản bằng cách cực lực chối bỏ, mạt sát tiền thân của mình, thẳng tay tiêu trừ trí thức trung sản, những phần tử nào còn trong sạch, còn chân thành luôn luôn vì cả quyền lợi sống còn của bản thân, của giai cấp vô sản ngây thơ và toàn dân thống khổ, nên luôn luôn tố cáo sự xảo trá và “tài” tiếm vị của bọn gian hùng ấy. Còn bọn đó thì, suốt từ 1927 đến nay, từ Nga xô qua Tầu, Việt,... đã nghiễm nhiên dùng đủ thủ đoạn để phỉnh phờ vô sản, lấy lực lượng cuồng tín đó làm lá chắn, để một mặt che đậy tội lỗi của chúng, một mặt tàn hại những phần tử nào, còn dám tố cáo hay phản đối lại chúng.

Tóm lại, Marx chỉ mới luận đúng Thời Tổng Hợp, chứ chưa tạo đúng thuyết tổng hợp, và chưa quyết đúng Thế Tổng Hợp cho thế kỷ 20. Bởi thế, đến lúc gặp tay chiến lược gia đại tài, là Lenin, biết “định nổi thời” thì vì cưỡng ép áp dụng lý thuyết non yểu kia, thành thử thiếu hẳn chất liệu, tức là thiếu động lực nhân sự, để xây dựng một xã hội tổng hợp. Do đó chủ nghĩa Cộng Sản mới chịu quái hóa thành một thứ chế độ TƯ BẢN ĐẾ QUỐC ĐỊA CHỦ PHONG KIẾN PHÁT XÍT, độc đoán, chuyên quyền tới độ tột cùng của ý nghĩa người bóc lột người, người hành hạ người.

ĐỊNH THỜI TỔNG HỢP

Thế kỷ 19, tình thế Châu Âu ngày thêm phức tạp: Phe tư bản, hãnh tiến vì ấu trĩ, ngày thêm đào sâu hố chia rẽ, oán thù giữa chủ và thợ. Chủ nghĩa thực dân ngày thêm cuồng khát, một mặt đào sâu căm hờn chính quốc và thuộc quốc, một mặt lùa công nhân chính quốc vào việc mở mang thị trường thế giới, làm chia rẽ “mặt trận đoàn kết của vô sản quốc tế” thành hai lớp, vô sản chính quốc tòng đảng với tư bản quốc tế để bóc lột vô sản thuộc quốc. Tất cả mọi thủ đoạn của “đế quốc chủ nghĩa”, sang thế kỹ 20, đã lồng trong chiêu bài “vị tổ quốc” để ép lao động của từng chính quốc “xây dựng quốc gia mình thành cường quốc”. Do đó các đảng xã hội hậu thân của đảng xã hội dân chủ, theo chủ trương của Marx trước đó, vội đề cao khẩu hiệu “người theo xã hội chủ nghĩa cũng phải cầm súng bảo vệ tổ quốc khi quốc gia bị xâm lăng": trên tinh thần thuần túy, chủ nghĩa xã hội đã bị phản bội, và như thế, là giai cấp vô sản của nước nọ đánh giết lại giai cấp vô sản của nước kia, để “phục vụ cho tư bản đế quốc”.

Thấy rõ điểm bất túc của phong trào cách mạng vô sản toàn diện, một số môn đồ trung thành với lý tưởng Marx-Enghen, như Lenin, Trotsky vội quyết định cướp chính quyền ở Nga, một quốc gia phong kiến, vừa mới đặt chân vào ngưỡng cửa của nền kinh tế kỹ nghệ, đa số dân chúng còn sống bằng nông nghiệp, như vậy có nghĩa là “đánh vào nút yếu nhất của vòng đai tư bản phong kiến”. Thế là, năm 1905, Trotsky chỉ huy một cuộc khởi nghĩa ở Saint Petersbourg, còn gọi là Petergrad, nhưng thất bại, mỗi lãnh tụ cao chạy một nơi: Lenin, Trotsky, ra ngoại quốc, Stalin lén lút trong nước, làm kinh tài và củng cố hàng ngũ nội bộ đảng Cộng Sản. Từ đấy, Cộng Sản Nga chia làm hai phe: Một phe chủ trương cách mạng bạo động. Một phe do Lenin lãnh đạo, chủ trương tranh đấu hợp pháp qua nghị trường. Đằng khác Lenin đổi tên đảng đang là xã hội dân chủ sang thành Cộng Sản, với đường lối mới: trong nước, tranh đấu bí mật hoặc bán công khai để thực hiện chủ nghĩa Cộng Sản quốc tế. Lực lượng bí mật được quyền điều khiển lực lượng công khai.

Năm 1914, thế chiến I bùng nổ ở Âu Châu, rồi ảnh hưởng tới thuộc địa của thực dân trên hầu khắp thế giới. Đến 1917, tình thế quốc tế đi vào giai đoạn quyết liệt nhất, giữa thế tương xung cường nhược quốc. Nước Nga bứt khỏi chiến trường vì một cuộc cách mạng tư sản, do Kerensky cầm đầu. Nhưng tư sản Nga đã kiệt lực, trung sản Nga không tưởng và bất mãn, vô sản Nga phẫn uất và vô ý thức. Tình trạng đó dẫn đến cảnh vô tổ chức, không kế sách, thiếu chủ trương dứt khoát của chính phủ Kerensky. Khi có chính quyền trong tay rồi, phe tư sản và trung sản không còn biết xoay sở ra sao, nay quá tả, mai quá hữu, ngày kia phiêu lưu, thành mới dọn cỗ sẵn cho Cộng Sản. Tháng 5-1917, đảng Cộng Sản nắm được ưu thế ở Nga.

Trong Cộng đảng, thực tình chưa nhất trí, một thiểu số,sau được gọi là Menshevik,thì chủ trương làm cách mạng kiểu Tư sản Dân quyền, như ở Tây Âu. Còn phe đa số Bolshevik trong đó cả Trotsky phản đối kịch liệt, rồi nêu ra chủ trương,sau này làm giềng mối cho Cách mạng Vô sản Thế giới. Bolshevik, cho rằng: “Lịch sử Cách mạng Nhân loại là lịch sử của một cuộc cách mạng có tính cách thường trực”.Nghĩa là nếu thế giới có một phần Nhân loại nào đã làm Cách mạng Tư sản Dân quyền rồi, thì nơi khác sau đó không cần phải ôn lại bài học kinh nghiệm trước nữa, mà phải làm một thứ cách mạng tiến bộ hơn. Như vậy, trường hợp của nước Nga năm 1917, không thể nhắc lại cách mạng Tư sản Dân quyền của Pháp 1789, 1848, của Trung Hoa 1911, mà phải làm hơn thế, tức là Cách mạng Vô sản Chuyên chính. Trước lập luận gang thép mới mẻ đó, Lenin tuy lưỡng lự, nhưng cuối cùng cũng phải chiều theo đa số đang sôi sục hưởng ứng giải pháp quá khích đó. Khi biết được là Cộng Sản chủ trương cương quyết bạo động, Kenrensky lúc ấy mới vội vàng hạ lệnh khủng bố gắt gao. Mới đầu đảng Cộng Sản rối loạn hoang mang, song tới lúc Lenin, sau khi lánh tạm sang Phần Lan trở về nước, tung ra ba khẩu hiệu: “Ruộng đất cho dân cày; nhà máy cho thợ thuyền; doanh trại cho binh sĩ”, thì đã đánh trúng tâm lý khát vọng của đại chúng lúc đó, nên Cộng Sản nắm trọn được niềm tin của các thành phần chủ lực, và Lenin đã thành công trong cuộc đảo chánh chớp nhoáng vào tháng Mười 1917.

Lenin lên cầm quyền, liền triệt để thực thi lý thuyết Mác: hủy bỏ tiền tệ, tập sản kinh tế, tự do luyến ái, cùng vô số những phương thức đã được nhào nặn qua bao nhiêu bộ óc giầu tưởng tượng, vì “quá thương giai cấp cần lao”. Chẳng hạn như việc giải trí thì chỉ cần cấp cho một tấm thẻ lao động, do công trường hay công sở phát cho, ấy thế là được hoàn toàn tự do du hí. Nhưng sau một thời gian hỉ hả rất hăng và cũng rất ngắn thì chính quyền “giải phóng” vội thấy ngay là “chưa thể áp dụng nổi chủ nghĩa xã hội ở một nước nghèo nàn, và nhất là ở một nơi vô kỷ luật.” Vì hậu quả đã quá ư rõ rệt: nhân số hao hụt vì các vụ thanh trừng đối lập; người già và trẻ thơ chết chóc rất nhiều, vì thiếu bàn tay mẹ hiền, con thảo, cũng như thiếu sự che chở của gia đình. Kinh tế kiệt quệ, nạn đói rét hoành hành. Guồng máy nhà nước hầu như tê liệt, vì nhân dân thiếu tinh thức trách nhiệm, ai nấy đua nhau hưởng thụ, lãng phí tham ô và phát sinh quan niệm “chính phủ bắt buộc phải nuôi dân”. Hôn thú hóa thành trò đùa sớm hợp, trưa tan.

Trong tình trạng khốn cùng ấy, Lenin chỉ còn biết trông chờ vào một cuộc cách mạng vô sản toàn diện và toàn thế giới sẽ đúng như lời tiên tri của Marx, phải nổ ra ở Châu Âu đại kỹ nghệ, bắt đầu từ Đức quốc. Song càng mong càng mất. Vì cảnh sống của vô sản Tây phương đã khắc hẳn với sự tiên đoán của Marx, về chủ quan, vô sản đã theo chủ trương của phe xã hội chủ nghĩa ôn hòa, đứng lên tranh đấu hợp pháp với tư bản, để cải thiện thực sự đời sống của mình; về khách quan, chính ngay phe tư bản cũng vì muốn theo đuổi hữu hiệu chính sách thực dân của chúng, nên bắt buộc hay tự động nâng cao mức sống của vô sản, để tránh nội loạn, có thế mới yên tâm thống trị, bóc lột nhược quốc.

Bởi lỡ bước rồi nên Lenin đành, ngoài mặt thi rêu ra rao “lùi một tiến hai”, nhưng trong thâm tâm, về năm 1923, phải thực tình “đổi kinh tế tập sản” thành “chánh sách kinh tế mới”, nghĩa là trở lại đồng tiền cũ, nội thương tự do cũ, giao thương tư bản cũ nốt, rút lại là “lộn về hệ thống tư bản đế quốc”. Lập tức, phe Trotsky chủ trương “tân đối lập” vì cho rằng: chính sách Lenin sẽ bị phe phái “đâu cơ chính trị” dựa vào để “bóp méo cách mạng” biến nước Nga thành “tân đế quốc”.

Mà quả vậy, Nga Xô thực thụ đã là một đế quốc, đảng Cộng Sản từ Tây qua Đông đâu đâu cũng là một thứ công ty tư bản cực quyền và minh danh, đảng viên cao cấp đều là những địa chủ lãnh chúa khổng lồ, lảnh tụ đảng là những Bạo chúa hôn quân sống trên nhung lụa, trên xương máu dân, trọn đời họ không lúc nào là lúc họ không dùng mọi cách để củng cố địa vị chí tôn của mình.

Lenin đã phản bội lý tưởng Cộng Sản chăng? Không, đó chỉ là lầm lỗi bất khả khắng của một chiến lược gia, vì đích thị sai lạc đã bắt nguồn ngay từ lý thuyết của nhà sáng đạo, là K Marx. Sai lạc vì nhận thức Duy vật một chiều không phù hợp với nền Văn Hóa Tổng Hợp của thế kỹ 20 nữa. Sai lạc vì chế độ Cộng Sản, lấy kinh tế làm lẽ tất yếu của đà tiền lịch sử, rồi quyết định sự tồn vong của con người, của xã hội loài người, đã đi ngược lại với thực trạng thế sự hiện hữu, là “chính trị vẫn còn quyết định tất cả": tư tưởng vẫn còn hướng dẫn hành động.

Sai lạc vì giai cấp vô sản ngày nay, cũng như giai cấp thứ dân hồi cuối thế kỹ 18, đâu có phải là chủ lực cách mạng quốc tế, một khi giai cấp đó về lượng vẫn là thiểu số, về phẩm vẫn còn thiếu ý thức: dễ mua chuộc, có căm thù, nhưng ít phán đoán, ít nghĩ tới danh dự (tuy là hão huyền) của kẻ sĩ Đông phương và của Hiệp sĩ Tây phương, nên khi no vui tất mất hết lập trường giai cấp, mà theo đuôi ngay bọn tiểu tư sản mị dân và phản dân.

Ấy chỉ bởi Marx đã vì quá xúc động tình cảm xã hội, nên mới đem cống hiếm những yếu tố sai lạc kia, khi Lenin đem áp dụng vào đời sống thực tế, trách sao chẳng gặp mọi khó khăn không thể tránh và cũng không thể vượt nổi, rồi cuối cùng bị lâm vào cảnh “phản lại thầy”. Thế cho nên, Marx khi hai tay buông suôi, tuy bị người đời phỉ nhổ, bị đồng chí ngờ vực chủ trương của mình, đích thâm tâm ông vẫn chan chứa hy vọng, tin chắc lý thuyết của mình sẽ giải phóng được cho nhân loại đau thương. Thế mà tới Lenin, người thực hiện chủ nghĩa Marx “một cách thành công trên danh nghĩa”, giữa lúc nắm trọn quyền trên một lãnh thổ rộng bằng phần tư lục địa, thì chính trong giây phút hấp hối, lại thấy rõ là lý tưởng của mình đã hoàn toàn sụp đổ. Nếu ông không chết vì đồng chí phản động đầu độc ngấm ngầm, thì ông đã chết vì “giấc mộng đại đồng không thành”. Mặc dầu ông cố vớt vát để tự an ủi bằng mối hy vọng mong manh đặt vào đồng chí trung kiên bậc nhất, là Trotsky, rồi đây họa may cứu vãn nổi phần nào lý tưởng.

Nhưng dù sao mặc lòng, bình tĩnh mà xét về mọi mặt diễn biến của lịch sử loài người, kể từ ngày cách mạng tháng mười khởi phát, cũng thấy rõ là công việc của Lenin đã có tác dụng tiêu cực rất lớn đối thế Tổng Hợp Chung của nhân loại thế kỷ 20. Có thể nói không ngoa: Lenin là tay tiên phong định nổi thời kỳ tổng hợp mới. Vì lý tưởng Cộng Sản, dù đã bị quái hóa đi nữa, thì trong khi chế ngự vùng Bắc bán cầu, cũng đã thức tỉnh nổi con người, của khắp các giai cấp, các dân tộc nhận rõ ra thân phận, ra thế đứng của mình, ở hiện tại cũng như ở tương lai:

* Chính ngay phe tự nhận là vô sản ở khắp thế giới cũng thức giác là mình cần tỉnh táo trau giồi văn hóa để tự lực mưu sinh vượt khỏi số phận vô sản nghèo khổ của mình, khỏi bị trí thức lưu manh phỉnh gạt, lừa mình vào cảnh ”mãn kiếp lao công nô lệ”.

* Còn phe trung lưu thì thấy rõ mình cần phải tự giáo dục để giữ lấy vai trò “xây thế tổng hợp về mọi mặt cho xã hội”, khỏi theo đuôi lớp đồng ngũ “trung sản đầu cơ, dối trên, lừa dưới”, nếu không muốn biến mình thành giai cấp mới thư lại trung gian ỷ lại thì tự thủ tiêu mình.

* Rồi đến phe Tư Bản thì lòng tham cũng dần dần vơi đi, vì bản năng tự tồn, tự vệ thúc đẩy họ đang nâng đở vô sản, do sự cảm hóa của hai thành phần lành mạnh trong phe vô sản và trung sản

Cuối cùng đến đời sống chung của toàn thể nhân loại, thì không thể chối cải được mấy điểm tiến bộ nổi bật này là: Các Dân Tộc không còn quá nặng thành kiến quá khích hẹp hòi về ưu quyền chủng tộc nữa, nên mọi vấn đề chính trị đều được giải quyết trên bình diện quốc tế, tương đối bình đẳng tự do hơn trước nhiều, tuy nước mạnh vẩn còn đôi khi lấn nước yếu “Một cách cố giữ thể diện”, song không đến nỗi chuyên đoán như xưa. Nhất là vấn đề Kinh Tế, Xã Hội, Khoa Học, thì lại càng nâng lên mức độ giải quyết Toàn Cầu Hóa, và kết quả khá tốt đẹp. Thành kiến về tôn giáo cũng giảm bớt phần gay go, và không còn là một câu chuyện bất khả xâm phạm nữa. Nhân loại đã tiến tới thái độ DUNG HÓA nhau để mở ra một THỜI TỔNG HỢP MỚI của chu kỳ KỸ NGHỆ ĐIỆN TỬ .

QUYẾT THẾ TỔNG HỢP

1942 Đức quốc chiếm trọn Âu Lục. Các nước được gọi là dân chủ, phải nhờ tới sức đông đặc của MỸ, một quốc gia tư bản trẻ trung giàu mạnh bậc nhất thế giới, để giải phóng Âu Châu. Đồng thời chính khách Anh Quốc cũng tiên đoán ngay rằng: mời MỸ vào cựu lục địa là tôn Mỹ lên ngôi đế quốc hạng nhất, nếu không có lực lượng kiềm chế, tất Mỹ sẽ vượt tới địa vị thống ngự hoàn vũ. Nhưng các chiến lược gia của Mỹ cũng đã hiểu rõ được vị thế của họ, và thực trạng thế giới. Diệt song Phát Xít Đức, Nhật thì các nước cựu Thực Dân sẽ lại tái chiếm thuộc đia. Nếu không có thế lực nào đứng ra tiêu diệt Thực Dân, thì Mỹ phải rơi vào thế chống lại Đồng Minh Âu Châu của mình để tranh đoạt thị trường thế giới. Chính ở điểm này Mỹ đã vạch ra một chiến lược Toàn Cầu hết sức tinh vi: CÙNG ĐỒNG MINH ĐIỆT PHÁT XÍT. DÙNG Cộng Sản CHỐNG THỰC DÂN. DÙNG Cộng Sản DIỆT Cộng Sản, đã khiến cho cả thế giới dở khóc, dở cười không biết đường nào mà mò. BẠN ĐẤY MÀ THÙ CŨNG ĐẤY. ĐÔNG MINH ĐẤY MÀ KẺ DỊCH CŨNG ĐẤY. BẠI ĐẤY MÀ THẮNG CŨNG ĐẤY.

Năm 1943-44 thì quả có thấy: nếu quân lực Tây Minh chia làm hai cánh, một Địa Trung Hải tiến qua Nam Âu lên Bá Linh, tất buộc Đức phải dồn quân về phía đó, thế rồi một mũi dùi thứ hai chờ sẵn tại Anh quốc, đợi khi quân Đức kiệt quệ ở phía đông nam, sẽ thúc vào miền Tây Bắc, chụp lấy sào huyệt Bá Linh, tất bao nhiêu tài liệu nguyên tử sẽ lọt trọn trong tay Mỹ, rồi hiển nhiên Châu Âu cũng tan tành thêm và địa vị Mỹ cũng vững vàng thêm. Đằng này, tất cả chủ lực Tây Minh đều tập trung ở Anh để ” bắt buộc” phải tiến vào đất Pháp, mở lối qua phòng tuyến kiên cố nhất của Đức tạo ra cuộc phiêu lưu nguy hiểm nhất cho Hải Quân Hoa Kỳ, gây nên tai họa lớn nhất cho cơ đồ thực dân Pháp. Đây cũng phải kể như là may mắn nhất cho Đồng Minh, vì hồi ấy quân Đức sao lãng nhất thời việc phòng bị, và các tay chỉ huy quân đội Đức đang mưu vụ hạ bệ Hitler, nên nghi kỵ lẫn nhau sâu sắc. Bởi vậy khi quân Đức thảm bại ở măt Tây, thì Nga đã “dư thời giờ và điều kiện”, ở mặt Đông, chiếm xong Lỗ, Hung và nhẩy trước vào Bá Linh, chộp lấy các nhà bác học nguyên tử, thâu tóm toàn bộ tài liệu nguyên tử, để sau đó Nga mở rộng nổi Đế quốc về phía Tây, vừa nắm nổi khí giới sắc bén trong tay, đủ giử nổi địa vị đối thủ với Mỹ. Lập nổi thế đương cự với Thực Dân ở các thuộc địa.

Còn về phần Nga thì, để gở cái thế đụng đầu thẳng với Mỹ, trong lúc mình đang cần củng cố chính quyền, đảng Cộng Sản cũng cố địa vị quốc gia, quốc tế, và chính ngay người Nga cũng đang cần có thời giờ tái thiết đất nước, Stalin đã ngấm ngầm thỏa hiệp với Mỹ và cùng Mỹ mưu đoạt lại các thuộc địa cũ của thực dân. Điều này được chứng tỏ qua việc tổng thống Mỹ, Truman đã khước từ cuộc hội kiến tay đôi với thủ tướng Anh, Churchill, mà lại nhận lời gặp lãnh tụ Nga, Stalin trước khi tay ba này cùng phó hội ở Potsdam. Tuy dự định đó không thành, vì bị Anh phản đối, song sự kiện đó đã hé cho Churchill thấy rõ thâm ý của Nga, Mỹ. Thực ra, quyền lợi của Mỹ chẳng đặt ở Đông Bắc bán cầu, tức khu ảnh hưỡng của Nga, mà lại đặt ở các thuộc địa cũ của thực dân, nên Mỹ phải hòa với Nga và mượn tay Quốc Tế Cộng Sản để hất cẳng Thực Dân ở khắp nơi trên Thế giới là lẽ cố nhiên rồi.

Đến phía thực dân thì, Pháp vì quá tham lam lạc hậu, và do ở hoàn cảnh cường quốc hạng nhì, hang ba, nên đành phải nằm vào thế bị động, làm công cho Nga Mỹ ở chiến trường Đông Dương. Anh Quốc thì thì một đàng nêu cao tiêu đề chống cộng, cũng như vạch rõ thâm ý của Cộng Sản, để thức tỉnh các lãnh tụ nhược tiểu, một mặt trao trả độc lập cho Ấn, Hồi, vào năm 1946 , để số dân khổng lồ của khối này, sau đó cắm mốc cho các quốc gia Á Phi, quy tụ lại dưới danh nghĩa trung lập đối với hai khối Mỹ, Nga. Mà được như vậy là công của Gandhi, người chủ trương tranh đấu ôn hòa bất bạo động chống lại đế quốc Anh trước đấy. Nếu không nhờ chính sách “phi thực dân kiểu hòa bình” đó, thì cuộc xung đột Anh, Ấn khó tránh nổi, và nước Anh sớm muộn rồi cũng đến sa lầy vào con đường đánh mướn cho Mỹ, Nga. Mà đến thế thì địa vị của Anh đâu có còn giữ nổi uy thế trên thương trường và chính trường quốc tế nữa.

Bởi vậy, bên ngoài nhìn vào thế đứng của Nga, Mỹ thì phải nhận là họ tử thù với nhau, cả từ tư tưởng cho đến chế độ; nên mỗi khi hai nước tung ra một thứ khí giới lạ thì nhân loại lại sốt vó lo âu, ngại cho số phận địa cầu rồi sẽ tan tành mất. Nhưng nếu bằng vào hiện tượng chính trị mà truy cứu thì thấy rõ: Hể Mỹ tiến thì Nga lùi, hễ Nga găng thì Mỹ nhượng, ít khi hai bên cương quyết ở phút chót. Như thế đủ hiểu rằng : họ đã ăn ý với nhau, hay mặc nhiên phải hành động như thế vì quyền lợi và vì sự sống còn của hai bên. Nghĩa là họ đã thành hai đế quốc tương xứng, khi biết chưa tiêu diệt nổi nhau, hay tiêu diệt nhau chỉ tổ làm lợi cho cường quốc hạng nhì hoặc cho nhược tiểu, thì đương nhiên họ phải tạm hòa để chia nhau vai trò bá chủ.

Do đó , mặc dầu về chiến thuật đôi khi cũng có những điểm xích mích hay ngộ nhận giữa hai phe, song hễ tiến lên chiến lược thì họ lại hiểu ngay. Chẳng hạn như, khi thấy Mỹ thúc Tưởng Giới Thạch một mặt rút lui khỏi Hoa Lục. Mục đích để trút hết gánh nặng áp lực của Trung Cộng, cho Nga chịu lấy một mình, đồng thời cũng quăng lên vai Mao Trạch Đông một mớ 500 triệu dân đói rách, lên cổ Trung Cộng cái gông Nga Xô đang cũng cố địa vị lãnh đạo Cộng Sản quốc tế của mình. Nga Cộng đẩy Trung Cộng vào vòng chiến ở Đại Hàn, mục đích cũng là để một mặt cầm chân Mỹ ở Á Châu, một mặt làm tiêu hao lực lượng đang nẩy nở của Tầu đỏ đi. Nghĩa là Mỹ, Nga có mòi mâu thuẩn trên chiến thuật sử dụng Hoa Lục . Nhưng đến khi thấy tướng MacArthur, vì không hiểu chiến lược ”đánh chơi” của hai đại cường quốc, nên định xua quân lên Mãn Châu, thì một mặt chính quyền Mỹ viện đủ cớ: Nhân dân Mỹ không còn ham chiến nữa; kéo dài chiến tranh Cao Ly sẽ chỉ để căm thù với nhược tiểu dân tộc ...vv...để thay đổi chính sách đưa đảng Cộng Hòa lên cầm quyền chính, một mặt Nga cũng ép Trung Cộng ký hưu chiến ở Bàn Môn Điếm, thực sự xác nhận việc qua phân Triều Tiên . Và thêm một lần nữa chính khách thế giới, nhất là chính khách Anh phải nhìn tỏ mối tình duyên Mỹ Nga bị gián đoạn ở Potsdam năm xưa, lại được ”tục huyền” một cách khá đẹp đẽ, êm ấm là đàng khác.

Trong tình thế này, ở Ấn, Nerhu đồng ý với Anh để tung ra đường hướng trung lập, mở lối thoát cho Thế giới “có thể không theo tư bản, không theo Cộng Sản, mà vẫn sống được”. Ba nước hưỡng ứng đầu tiên là Miến Điện, Nam Dương, rồi đến Nam Tư vốn là nơi khởi xướng chủ trương trung lập ở phía Cộng Sản .Nerhu đã QUYẾT THẾ TỔNG HỢP, vì trên mặt quốc tế bấy giờ chỉ còn một đường lối “không tư bản, không Cộng Sản”, theo danh nghĩa hiện hữu, mới dung hợp nổi tư bản Cộng Sản về chính trị, mới điều hợp nổi giai cấp xã hội, mới hòa hợp nổi quyền lợi các quốc gia trong thế giới, rồi mới dung hòa cuộc sống con người trong VẬN HỘI TỔNG HỢP mới được.

Đường hướng trung lập được khai sinh đúng lúc: nhân dân thế giới đang quá lo sợ một cuộc chiến tranh nguyên tử, mọi người đều thiếu chổ tựa, về cả tinh thần lẫn thực tế. Hoa lục lọt vào tay Mao Trach Đông , một kẻ có chí lớn: tuy cùng là Cộng Sản, nhưng họ Mao nuôi mộng vượt Nga. Mà muốn vượt Nga tất phải có thế; thế đó không thể trông mong vào Mỹ, vì Mỹ khác lý tưởng. Đã không sống nổi với Nga, không đi nổi với Mỹ thì nước Tầu, nếu chẳng muốn thành nơi thử bom nguyên tử, tất phải liên kết với Ấn trong hàng ngũ trung lập. Việc đi theo trung lập của Trung Hoa Cộng Sản quả là vấn đề cần giải quyết . Trung cộng đã có mặt trong hầu khắp các cuộc Hội Nghị Á Phi, và đã ký kết “sống chung hòa bình Ấn , Hoa”cùng nhiều nước trung lập khác .

Giữa lúc Trung lập Á Châu đi đến thế khá vững, thì bên Trung Đông , dân Ai Cập giành được chủ quyền xong thì Nasser tuyên bố trung lập. Kế tới De Gaulle nắm quyền chính ở Pháp rồi cũng tỏ thái độ muốn lãnh đạo khối trung lập, vì De Gaulle nhắm thấy mình có nhiều hy vọng hướng dẫn Âu Châu trong thế mới này.

Suốt từ Á qua Âu, trung lập hầu như đã chiếm trọn niềm tin của nhân dân thế giới. Nếu Trung Cộng thực sự đi vào thế Trung Lập thì lá bài Trung Lập sẽ thu hút hết các quốc gia khác, ngoài Nga Xô, Hoa Kỳ, rồi biến thành Đệ Tam Lực Lượng Quốc Tế, tiến lên thế Liên Lập Quốc Tế giữa các Khối Thịnh Vượng Chung.

Song, vì quyền lợi đế quốc còn mạnh nên Nga Xô lập tức phá Mao Trạch Đông, và vận động công khai bắt tay với Mỹ, nhằm đè bẹp thế trung lập còn trứng nước. Biết rõ rằng: Nếu tiến thêm nữa thì nước cờ trung lập sẽ dẫn tới cái thế: Một là nội bộ từng Quốc Gia Trung Lập tất sẽ nội loạn, do bàn tay Cộng Sản quấy phá, để bắc cầu cho Mỹ nhẩy vào, hai là lá bài Trung Lập bị Mỹ, Nga lẫn Anh, Pháp lợi dụng làm chiêu bài thu hút đồng minh và sẽ biến thành chư hầu chung của Mỹ, Nga lẫn Anh, Pháp, nên các nước trung lập tuy có vội vàng mở cuộc thanh trừng nội bộ, triệt tiêu cán bộ nằm vùng Cộng Sản, nhưng cũng không cứu vãn kịp . Trung lập buộc phải lùi, như ở Đông Âu và Trung Đông, hoặc đã chịu đồng hóa với Mỹ, Nga, vì thực sự đế quốc đã dàn hòa với nhau: thế giới chỉ còn lại các phe như xưa: Một là đế quốc tài phiệt, gồm phe tư bản và phe Cộng Sản; hai là nhược quốc, trong đó có cả mặt Thực Dân cũ lẫn thuộc địa cũ .

Do đó, dù sao thì Nhược Quốc cũng vẫn cứ ở thế yếu, nên lá bài Trung Lập, về nguyên tắc thì thật hữu lý, sang thực hành thì thấy rõ là ảo tưởng, nên phải chờ cơ hội thuận tiện để biến thành thế Liên Lập, họa chăng mới đưa thế giới ra khỏi ngõ bí .

TẠO CƠ TỔNG HỢP.

Cộng Sản chiếm được Hoa Lục, Nga Xô tuy có thêm thế ăn nói với quốc tế, nhưng cũng rất lo ngại vì dân Trung Hoa vôn là lớp người lúc nào cũng vẫn thừa tinh thần đế quốc thực dân, nặng tinh thức dân tộc, trung thành với tư tưởng Khổng Mạnh, và sẵn một khối dân khổng lồ, gia tăng một cách khủng khiếp, tuy cùng cực phức tạp, thiếu tổ chức, song với kế sách lãnh đạo sắt máu kiểu Cộng Sản, thì họ Mao thống nhất Hoa Lục ngày nào, tất ngay ngày nấy Nga Xô sẽ biến thành nạn nhân do sự bành trướng truyền kiếp của dân Hán. Vì bao nhiêu năng lực kỹ nghệ của Nga đều đặt ở Tây Bá Lợi Á, mà quá khứ cũng như tương lai đều đảm bảo là Trung Hoa phải nhắm vào đó để tiến lên địa vị đàn anh lục địa; còn với miền Đông Nam Á, sống bằng nông nghiệp thấp kém, nên chỉ là điểm phụ trong tham vọng phát triển của Trung Hoa thôi, gia dĩ khí hậu lại rất bất tiện cho cơ thể người dân Tầu.

Nga lo ngại những từ lâu, nên suốt cuộc Tổng Khởi Nghĩa của Mao, từ 1927 đến 1949, Stalin không hề cấp cho Trung cộng một viên đạn, mà trái lại vẫn giúp Tưởng chèn Mao, rồi sau năm 1945 còn có ý định đưa mấy lãnh tụ thân Nga như Lý Lập Tam, Lưu Thiếu Kỳ, Cao Cương ....Cướp đoạt nhiều khu vực ảnh hưởng, để chia bớt lực lượng của Mao. Nhất là Nga vẫn tin rằng Mỹ phải để Tưởng lại giữ miền Hoa Nam. nhưng mưu lược bất thành, vì Tưởng rời bỏ Hoa Lục đột ngột, ngoài sức tưởng tượng và phòng bị của các nhà chiến lược, chiến thuật, còn đang sống trong cảnh giới chiến tranh du kích, trong chiến lược “thuần túy phòng vệ” của một nền văn minh chưa vươn tới kỷ nguyên hoàn vủ. Do đó, cả Nga lẫn Tầu đều bị hãm vào cái thế trai cò giằng co nhau, để làm lợi cho ngư ông Hoa Kỳ vậy.

Tuy thế, Mỹ cũng chẳng giữ nổi lợi thế lâu dài gì, vì sau khi Stalin qua đời, khắp mặt lãnh tụ của điện Cẩm Linh không ai đáng là đối thủ của Mao, cả về lý thuyết lẫn tinh thần, cùng uy thế cách mạng trong quốc tế Cộng Sản. Bởi vậy, nếu Nga không sớm chia cắt nổi Hoa Lục, không sớm hạ bệ nổi họ Mao, thì ghế lãnh đạo Cộng Sản toàn thế giới của Nga sẽ rất nghiêng ngửa. Đó là lý do Nga níu Mỹ vào chiến tranh Đông Dương, đồng thời vận động kịch liệt khuynh đảo ghế chủ tịch chính phủ Trung Cộng của Mao, để đem đồng chí Lưu thiếu Kỳ của mình đặt lên ngai vàng đất Hán. Còn chính ngay Mỹ thì khi phải rời bỏ Hoa lục, tức là đánh mất cả một thị trường lớn nhất thế giới, lúc nào tài phiệt Hoa Kỳ cũng chờ ngày tái chiếm cái mớ 600 triệu người tiêu thụ kia. Thấy chỉ có độc dăm, bảy năm, mà đến năm 1958 nạn thất nghiệp ở Mỹ đã lên tới con số quá cao, khiến chính giới Hoa Kỳ phải mở một mặt trận ở Trung Đông để ép Nga Xô, cùng các nước thực dân cũ bắt tay vào việc giải quyết vấn đề Hoa Lục.

Một lần nửa Mỹ, Nga lại nắm tay nhau, có các cường quốc hạng nhì phụ giúp, để mà thi nhau ngấm ngầm hay công khai mở một mặt trận bao vây Hoa Lục, từ Ấn qua Đông Nam Á sang tận Bắc Á là Nhật Bản. Vì để cả Hoa Lục cho Nga thì Nga kham không nổi về mặt tiếp viện, mà cướp cả thị trường ấy về phần mình thì Mỹ làm không xuôi, với cả Nga lẫn Thực Dân Cũ, nên tất cả hai bên cố gắng ”chia mồi với nhau”, dĩ nhiên là có các cường quốc hạng nhì giây máu ăn phần. Với mưu đồ rồi đây số phận Hoa lục cũng sẽ được đặt vào một trong hai giải pháp như sau: Một là để nước Tàu làm thị trường chung cho cả hai khối Mỹ, Nga. Hai là đem chia đôi, nửa Công sản, nửa Tự do, còn “phần giửa tuy vô hình nhưng hữu danh” sẽ làm đất dành trao cho đại diện thực dân củ sử dụng lá bài ” trọng tài hay trung lập cũng thế ” để thu xếp mọi việc xích mích giữa hai ông chủ chợ .

Nhưng rút lại, giải pháp thứ nhất rồi cũng vẫn lợi cho Mỹ hơn Nga, vì khi hai lực lượng kinh tế mà gặp nhau trên một mãnh đất, thì nhất định Mỹ sẽ đè bẹp Nga . Rồi từ kinh tế, Mỹ sẽ đủ sức hút chính quyền Trung Hoa, dù là chính quyền Cộng Sản ngả về phía Mỹ. Giải pháp thứ nhì có lợi cho Nga hơn. Vì thấy Nga muốn tiêu mòn lực lượng Mỹ bằng một cuộc chiến tranh Hoa Mỹ: Một là để buông bức màn sắt xuống phân nửa Hoa Lục, hiện vẫn bọc chặt lấy chính địa của Nga. Hai là làm cho Trung Cộng hoàn toàn phải lệ thuộc Nga. Ba là khiến cho dân Tàu cũng như nhân dân nhược tiểu oán thù Mỹ thêm, để cán bộ Cộng Sản dễ hoạt động ngầm trong khu vực thuộc Mỹ, rồi chờ cơ hội lật đổ MyÕ ở khắp các nơi khác .

Còn giải pháp riêng của Mỹ xưa rầy là giải quyết “ăn cả”. Như vậy Mỹ sẽ quyết liệt với Nga. Mà quyết liệt với Nga thì chiến tranh nguyên tử tất là rất gần rồi. Nên một đằng Mỹ vừa xoa dịu Nga, bằng mọi cuộc hội đàm, bằng nhiều nhượng bộ nho nhỏ, để một mặt ngầm thỏa hiệp với Trung Cộng. Tất nhiên các lãnh tụ Tầu đỏ, dù ghét Mỹ tới mấy, cũng phải nhận rằng: Ngoài Mỹ ra, không còn một nước nào có thể giải quyết nổi nạn đói kém thường trực của mình .

Chỉ có điều là Tầu thì chưa dám qua mặt Nga, và Mỹ cũng chưa dám dứt khoát đó thôi. Bằng chứng lồ lộ là cuộc đàm thoại giữa Johnson, đại diện Mỹ và Vương Bỉnh Nam, đại diện Trung Cộng đã chập chờn kéo dài luôn nhiều năm ở Varsovie rồi, và lý do khiến lãnh tụ Nga, Kroutchev phá hội nghị tối cao Nga, Mỹ tại Paris trước đây, điểm trọng tâm của câu chuyện Paris vẫn chỉ là vấn đề Trung Cộng, mà Nga đã mặc nhiên đại diện; ấy thế, Mỹ lại cứ nói chuyện ngầm với Tàu thì Kroutchev còn đại diện cho ai nữa, mà chẳng phá tan hội nghị. Tình hình căng thẳng ở Liên Hiệp Quốc, ở Congo, ở Ai Lao phần lớn cũng đều hệ lụy tới sự kiện trên đây cả .

Bởi thế, dù bằng giải pháp ôn hòa hay chiến tranh hoặc “ăn cả” đi nữa thì việc đầu tiên Mỹ phải làm, vẫn là việc bao vây Trung cộng. Mà muốn vậy thì phương sách duy nhất là thành lập các Liên Hiệp Quốc Gia Á Châu Tự Do: Đông Nam Á, Trung Đông, Đông Bắc Á.vv... để cùng với Ấn Độ tạo thế quân bình nhân số với Trung Cộng, rồi sau cùng thâu nhận Trung Cộng vào Liên Hiệp Quốc, tức lá giải pháp ôn hòa, rất lợi cho Mỹ, rất hại cho Nga. Còn nếu phải dùng tới giải pháp chiến tranh để chiếm Hoa Lục thì sẽ do lực lượng mấy khối trên kia tiến binh khởi hấn, như thế mới tránh cho Mỹ khỏi sa lầy, như ở Triều Tiên trước năm 1950. Do đó, Mỹ không những viện trợ võ khí quân nhu, mà lại còn phải mở mang kinh tế, cải thiện xã hội, nâng cao dân chủ cho các khối kia nữa. Vì nếu không thì rồi Mỹ hóa ra dọn cổ sẳn cho Cộng Sản mất thôi.

Một khi các Liên Khối các Quốc Gia đã thành lập, mặt tầng chính trị quốc tế bớt chênh lệch, mức sống của dân nhược quốc nâng cao, ý thức tranh đua mọi mặt được trưởng thành, các miền tự do sẽ xiết tay nhau làm hậu thuẩn lẫn nhau giành giật cho các nước chư hầu Cộng Sản ra khỏi ảnh hưỡng của đế quốc đỏ. Công cuộc này sẽ mở đầu bằng một cơn chuyển mình hay xáo trộn vĩ đại ở Hoa Lục, hoặc *một cuộc nổi lửa mở Vận Hội Mới, xẩy ra ở Đông Nam Á, rồi từ đó sẽ lan ra khắp thế giới. Chấm dứt tất cả mọi hình thức Đế Quốc. Các vùng kinh tế các khu vực thịnh vượng ra đời, tạo thành thế hỗ tương điều hợp toàn cầu hóa.

Cơ hội này có thể rồi đây phá bị phá vỡ nhất thời. Hoặc bị thay đổ về hình thức, hay tên gọi. Nhưng dù sao khi mà đai đa số nhân loại đã giác ngộ, ý chí con người đã đang vươn tới xã hội tổng hợp, thì trước hay sau cũng đạt tới mục đích. Hơn nữa nếu xét về thế thì còn đế quốc tất còn xung đột quyền lợi đế quốc, mà còn xung đột đế quốc thì nhược quốc vẫn còn đủ cơ hội vươn lên, miễn sao nhược quốc biết linh động vận dụng thời cơ, để tiến từ bị động sang chủ động làm cho Dân giầu Nước mạnh, thay đổi thân phận nhược tiểu của mình đi là được. Tuy vậy, cũng không có nghĩa là xóa tuột quyền lợi của cường quốc, mà trái lại, phải Điều Hợp Quyền Lợi Cường Nhược Quốc, sao cho hợp Tình Lý Cảnh, mới mong tiến tới Xã hội Tổng Hợp nổi. Vậy vấn đề cần được kịp thời đặt ra là LẬP THUYẾT TỔNG HỢP.

Ghi chú: Hôm nay ngày 15 tháng 10 năm 1999, trước đây 37 năm 1962 khi viết tới đoạn… cuộc nổi lửa mở Vận Hội Mới .., thì khi đó chế độ đệ nhất Cộng Hòa Miền Nam, chưa đổ, Mỹ chưa đem binh đội vào Miền Nam, để Mỹ hóa cuộc chiến, Dân tộc Việt Nam chưa đích thân gánh chịu một kiểu chiến tranh quái dị không tiền khoáng hậu”không được thua, chẳng được thắng” do Mỹ trực tiếp lãnh đạo. Để thực hiện chiến lược toàn cầu của Mỹ là: Cùng Đồng Minh diệt Phát xít song. Dùng Cộng Sản diệt Thực dân rồi. Dùng Cộng Sản diệt Cộng Sản tan, mà công đoạn chót của Chiến lược đó Việt Nam phải lãnh trọn. Mỹ không tìm chiến thắng tại chiến trường Việt Nam, mà tìm thế cách đẩy Cộng Sản vào thế phải diệt nhau. Mỹ dùng chiến tranh Việt nam để bắt tay với Trung c=Cộng. Dùng sự bỏ chạy khỏi Việt Nam để Liên xô chống với Trung cộng. Đẩy Liên xô vào thế thấy Mỹ lùi mà tung tiền, tung quân vào nhiều mặt trận, cuối cùng vì kiệt lực về Kinh tế, nên Liên Xô tan vỡ, Thế Giới Cộng Sản sụp đổ, cả Trung Cộng lẫn Việt Cộng đều khoác tấm áo Cộng Sản tả tơi, cắm dầu chạy bộ trên đường Tư Bản Chủ Nghĩa lạc hậu. Mỹ trở thành Siêu Cường duy nhất vô địch thủ. Quả thật Chiến tranh Việt Nam là một cuộc nổi lửa làm thay đổi toàn cuộc thế giới. Chiến tranh lạnh chấm dứt. Thế giới vào thời đại Đối Tác thay Đối Đầu. Mở ra tiến trình Toàn Cầu Hóa cho cả Nhân Loại.

Tài liệu này đã được đọc 412 lần.

    • là người cập nhật hóa tài liệu này vào ngày

Current Discussion: Main discussion

  1. No comments have been posted for this discussion.