Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!

Đọc Ký Ức Huỳnh Văn Lang

Nguyễn Mạnh Trinh đăng bài. Lần xem: 431

Chiều Chủ Nhật 13 tháng 3, 2011 cụ Huỳnh Văn Lang đã tổ chức tại phòng hội của báo Người Việt, buổi ra mắt tác phẩm mới của cụ là tập 1 cuốn “Hồi Ưc” dầy 656 trang.

Buổi ra mắt do nhà báo Đỗ Tiến Đức dẫn chương trình với thành phần diễn giả gồm: Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm, Giáo Sư Nguyễn Xuân Vinh, cựu Nghị Sĩ VNCH Lê Châu Lộc và nhà biên khảo Đỗ Hải Minh. Đặc biệt là có phần nói chuyện của tác giả và trả lời những câu hỏi của cử tọa.

Những bài phát biểu của các diễn giả sẽ được lần lượt in trên Thời Luận. Xin mời quý vị đọc bài viết của nhà văn Nguyễn Mạnh Trinh thay cho bản tường thuật buổi ra mắt.

Nguyễn Mạnh Trinh

Có rất nhiều chân dung Huỳnh Văn Lang. Đa diện và bao trùm nhiều lãnh vực khác nhau. Chân dung là một chính trị gia có tầm vóc, là một doanh gia có nhiều đóng góp cho nền kinh tế quốc dân, là một nhà giáo dục và văn hóa với Hội Văn Hóa Bình Dân, là một nhà báo khi sáng lập và làm chủ nhiệm tạp chí Bách Khoa một tạp chí văn học có chiều dài hoạt động suốt hai chục năm văn học miền Nam. Tạp chí này cũng là một công trình văn học mà ở ngay những người phía bên kia chiến tuyến cũng không thể nào phủ nhận vai trò chính yếu của một thời kỳ văn chương có nhiều đóng góp nhất cho gia tài văn hóa dân tộc. Và ông cũng là một nhà văn với văn phong đặc thù miền Nam, viết trung thực những tâm tư của một người Việt dù tuổi đã cao nhưng vẫn còn nhiều ưu tư với đất nước dân tộc.

Chân dung nào cũng đều phản ánh từ một người dân Nam Bộ trung thực và nồng nhiệt, góp mặt trong bất cứ một lãnh vực nào cũng đều đem hết tâm huyết của mình. Những chân dung về văn hóa, về chính trị, về xã hội, về giáo dục, được biểu lộ rõ nét trong tác phẩm Ký Ức Huỳnh Văn Lang mà ông đã hoàn thành.

Tác giả Huỳnh văn Lang sinh năm 1922, xuất thân từ một gia đình đại điền chủ ở Trà Vinh. Năm 1954 khi đang du học tại Đại Học Chicago thì ông theo lời kêu gọi của Thủ Tướng Ngô Đình Diệm lúc đó trở về giúp nước. Ông giữ chức diám đốc Viện Hối Đoái từ năm 1955 đến 1962 và là giaó sư tại Đại Học Sư Phạm Sài Gòn. Ông cũng là sáng lập viên và điều hành Hội Văn hóa Bình Dân mở hệ thống trường học với mục đích nâng cao dân trí và phổ cập giáo dục đến quần chúng ít học. Đồng thời cũng là chủ nhiệm sáng lập tạp chí Bách Khoa, một tạp chí quy tụ hầu hết những nhà văn nhà thơ tiêu biểu của hai mươi năm văn học miền Nam.

Về doanh thương ông từng sáng lập Đông Phương Công Ty nhập cảng độc quyền xe gắn máy Honda, là chủ nhân Đại Á Ngân Hàng, Phượng Hoàng Bảo Hiểm Công Ty, Phương Phương Export xuất cảng gỗ. Về chân dung văn học, những tác phẩm của ông gồm: Hồi ký Cờ Bạc, Chuyện Đường Rừng, Nhân Chứng Một Chế Độ (3 tập), Những Sự Kiện Lịch Sử và CácCông Chúa Sứ Giả Trung Hoa Việt Nam (2 tập), Đã Hơn 30 Năm Rồi.

Ở tuổi gần chín chục, xem ra sức làm việc của ông cũng còn mạnh mẽ. Với tác phẩm mới này, ông đã tự mình tạo một quyển sách mẫu với những trang in của máy điện toán và cả bìa sách do chính cụ trình bày trước khi đem đến cho nhà in. Ông viết rất dễ dàng vì viết theo trí nhớ và tự thân là người trong cuộc và đóng vai người kể.

Suốt gần một thế kỷ, trải theo một thời gian rất dài, qua nhiều không gian khác nhau và những sự kiện vừa riêng của một cá nhân, đến nối dài ra một dòng họ rồi cả những chuyện chung của quốc gia, người kể phải có một trí nhớ siêu phàm để tạo thành một thiên ký sự vừa phản ánh được sự thực lại chuyên chở được những ý tình có thể gọi là của chung cả một thế hệ.

Cuốn “Ký Ức Huỳnh Văn Lang” gồm ba quyển, trải dài ra từ những không gian, thời gian khác nhau và chia thành ba thời kỳ mà tác giả đã đề cập đến trong bài mở đầu.

Quyển thứ nhất, thời kỳ Pháp thuộc từ khi tác giả bắt đầu hiểu biết, nghĩa là từ lúc 6 tuổi, cũng là lúc cha mẹ ông rước thầy dạy tại gia(1928) cho đến khi quốc gia Việt Nam được hoàn toàn độc lập mà tác giả ở cương vị một chứng nhân trực tiếp nhận định là năm 1955 có thể không phải là nhận định của các sử gia khác.

Quyển thứ hai, thời kỳ quốc gia Việt Nam độc lập từ 1955 đến tháng 4 năm 1975, gồm Đệ Nhất Cộng Hòa và Đệ Nhị Cộng Hòa. Dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa, tác giả là chứng nhân trực tiếp, nhưng sẽ cố gắng để tỏ ra khách quan và tôn trọng sự thực. Dưới thời Đệ Nhị Cộng Hòa, mà tác giả gọi là “chế độ của người lính cai trị” đối chiếu với “người lính đánh giặc”, tác giả chỉ là một nhân chứng kể những chuyện gián tiếp gần như là khách bàng quan hay như một doanh gia giữa chợ trời chính trị.

Quyển thứ ba, thời kỳ sống lưu vong, chạy giặc Cộng Sản từ ngày 27 tháng tư năm 1975 đến bây giờ. Đối tượng là đời sống của một người tị nạn với một gia đình 1 vợ 4 con. Tác phẩm chú trọng mô tả cuộc sống những người tị nạn trong một môi trường văn hóa và kinh tế của một xã hội còn nhiều xa lạ với người Việt Nam.
Đọc cuốn đầu tiên, tôi có cảm giác của người tìm được thật nhiều mới lạ về một đời sống của miền Nam Bộ mà tôi hiểu biết không nhiều. Từ những phong tục, từ những món ăn, mỗi mỗi chi tiết mở ra cho tôi một thế giới nhiều kỳ thú. Khác với đời sống ở miền Bắc và miền Trung, đời sống ở miền Nam dễ chịu hơn vì đất đai phì nhiêu và nhờ tài nguyên phong phú về lúa gạo, cá tôm. Và con người Nam Bộ cũng khác với người ở địa phương khác, dễ dãi thực thà hơn. Tác giả đã phác họa đời sống ấy với nhiều nét đặc thù và như dựng lại một cuộc sống đã lui vào dĩ vãng.

Tôi đã đọc sách của Vương Hồng Sển, của Sơn Nam, của Bình Nguyên Lộc,.. và bây giờ Huỳnh Văn Lang, một cách thích thú để thấy ở một vùng đất mà nhiều nền văn hóa pha trộn vào nhau, hài hòa, không đối nghịch để tạo một sắc thái văn hóa độc đáo.

Văn hóa của người Việt của những di dân Nam tiến khai phá đất hoang, đến văn hóa của người Hoa đi tị nạn và văn hóa của người Miên, tạo thành một nếp sống mà từ ăn đến mặc, từ học hành đến giải trí, từ ngôn ngữ đến văn học, mỗi một lãnh vực mở ra từ những khai phá xây dựng. Viết về văn hóa đi sâu vào chi tiết để tìm lại một thời văn hóa của Miệt Giồng và Miệt Vườn.

Văn hóa Miệt Giồng của người Kampuchea của thời Cao Miên Thủy Chân Lạp xa xưa. Còn văn hóa Miệt Vườn là của những người di dân Việt của thế kỷ thứ 18. Những đặc tính văn hóa ấy biểu hiện từ những đình chùa, từ đời sống phong tục, từ nếp sống nếp ăn nếp ở, của cách giải trí âm nhạc. Tất cả những tính chất ấy đã được nhìn ngắm, quan sát và kể lại trong tác phẩm này một cách linh động…

Nghĩ gì viết nấy, ông kể lại phong cách rất thực thà. Những chi tiết những dữ kiện có khi là những chi tiết nhỏ nhưng lại có nhiều chất sinh động của cuộc sống,. Trả lời câu hỏi rằng ông có mang một thông điệp nào gửi theo tác phẩm của mình không thì ông trả lời ông viết cho mình trước nên không hề có những điều mà ông gọi là “tham vọng”, những chủ đích to lớn kèm theo tác phẩm. Có thể với ông viết là để giải tỏa ẩn ức, những chèn ép đã từ lâu nhiều năm nhiều tháng chất chứa trong tâm tư. Cũng có thể viết như là một cách thế kỳ vọng để lại một cái gì thiết thực cho đời sau vì không còn cảm thấy một điều gì khác đáng giá để lại cho người sau, ngoài một chút lòng chân thực trên trang giấy trắng để dâng hiến cho bà con đồng bào, cho quê hương đất nước…
Tác giả cũng không muốn mình là người chép sử dù với vai trò của một nhân chứng. Từ cuộc đời ông, đã trải qua nhiều biến cố lịch sử và nhiều khi là một diễn viên trong những vai trò khởi động. Ông kể lại, chủ quan với sự hiểu biết của người trong cuộc nhưng cố gắng khách quan để cái nhìn và nhận định của mình công bằng hơn và có nhiều chất chính xác hơn. Ông cũng hiểu rằng đã có nhiều cuốn hồi ký của nhiều “yếu nhân” lịch sử viết với những tâm ý riêng tư, có thể là tự đề cao mình hoặc thay đổi sự thực hay xóa lấp những tội lỗi những khiếm khuyết cá nhân. Và đó là những điều mà ông tâm niệm phải tránh khi cầm bút. Phải trung thực và có những nhận định khách quan hợp lý.

Ở cuốn sách đầu tiên của bộ “Ký Ức Huỳnh Văn Lang”, một thời kỳ kéo dài đến năm 1955 bắt đầu thành lập nền Đệ Nhứt Cộng Hòa, trải dài theo cuộc đời ông được ghi chép lại với những dữ kiện lớn hoặc nhỏ. Những sự kiện lịch sử lớn từ thời kháng chiến chống Pháp, đến khi đi du học rồi về nước phò tá thủ tướng Ngô Đình Diệm, để qua cuộc đời cá nhân của ông có thể mường tượng ra một thời thế của đất nước.

Qua nhận định và ghi chép của ông về những lãnh vực chính trị , kinh tế, văn hóa, xã hội, chúng ta đã có những tư liệu khả tín để một phần nào hiểu rõ hơn lịch sử. Nếu quan niệm rằng lịch sử không phải chỉ ghi chép lại bởi những sử gia mà còn ghi dấu lại từ những chứng nhân và từ đó có những tư liệu xác thực. “Ký Ức Huỳnh Văn Lang” là một trong những tư liệu hiếm quý ấy.

Có người nói ông Huỳnh Văn Lang không phải là một nhà văn đúng nghĩa mà chỉ là một chủ báo Bách Khoa hay một chủ tịch hội Văn Hóa Bình Dân hoặc một tổng giám đốc Viện Hối Đoái thời Đệ Nhứt Cộng Hòa hay doanh gia chủ tịch Đại Á Ngân Hàng. Điều ấy chính ông cũng không nhận mình là nhà văn và viết hồi ký cũng chỉ là một cách thế để kể chuyện mình để tâm sự với chính mình.

Riêng tôi, thì cũng tùy nhận định riêng mỗi người khi hiểu thế nào là nhà văn và viết hồi ký có phải là một cách thế làm văn chương không? Tôi chợt nghĩ đến những bộ hồi ký về đệ nhất và đệ nhị thế chiến của thủ tướng Anh Winston Churchill được giải Nobel văn chương của Hàn Lâm Viện Thụy Điển năm 1953.

Lẽ dĩ nhiên, không thể nào có sự so sánh nhưng với nhiều người trong đó có tôi đọc hồi ký cũng có thú vị ngang với đọc những tiểu thuyết khác và như vậy sẽ không thắc mắc nhà văn đúng nghĩa ra sao…

Nhân vật của “ Ký Ức Huỳnh Văn Lang” phần đông đều là những người của “muôn năm cũ”, những người của một thời thế đã qua. Có người là thân thuộc trong dòng họ tác giả, của thời khẩn hoang lập ấp xa xưa hay những thời gian gần hơn thời Pháp thuộc hay gần hơn nữa là thời bắt đầu của chế độ Đệ Nhứt Cộng Hòa. Những nhân vật ấy vẽ lại xã hội của một thời miền Nam trên nhiều lãnh vực với những nét minh họa từ những chi tiết của dữ kiện được kể lại trung thực.

Viết về những khuôn mặt của chính trị Việt Nam, dù không cố ý phê phán nhưng ông cũng viết tất cả điều tốt xấu vì không muốn lừa đối chính mình trước khi lừa dối độc giả. Dĩ nhiên là có thể có sự chủ quan hoặc ảnh hưởng do những xúc động tâm lý của người trong cuộc nhưng khi đọc tôi không tìm thấy được những sự phê phán cố ý hoặc kể lại câu chuyện theo chủ ý cá nhân. Lịch sử có nhiều phía để nhìn ngắm và có nhiều bí mật ẩn dấu mà chính người trong cuộc cũng chưa thấu đáo. Tác giả Huỳnh Văn Lang cũng hiểu điều đó và khi có nhận định cũng thường không có thái độ quyết đoán và chỉ nêu lên dữ kiện để làm sáng tỏ hơn. Do đó, ông cho rằng mình chỉ là người kể chuyện hơn là người chép ghi lại lịch sử.

Viết về món nợ văn hóa bình dân tác giả “Ký Ức Huỳnh Văn Lang” kể:

“Cuối tháng Tám năm 1954, trong các sinh viên du học nước ngoài được Thủ Tướng Ngô Đình Diệm gọi về giúp nước có ba người rất tầm thường là Lê Thành Cường kỹ sư canh nông trường Pháp, Đỗ Trọng Chu sinh viên cao học bang giao quốc tế Đại Học Georgetown, Washington DC và Huỳnh Văn Lang, sinh viên cao học Econometrics Đại Học Chicago. Sau khi trình diện thủ tướng ngẫu nhiên Sở Nội Dịch Phủ Thủ Tướng gửi họ vào ở tạm trong nhà ngủ Kinh Hoa, Chợ Lớn để chờ ngày được bổ nhiệm vào một chức vụ lớn nhỏ nào đó tùy theo khả năng chuiyên môn của mỗi người.

Không dè chính trong 20 ngày chờ đợi đó vì cùng một nhân sinh quan như nhau họ đã gặp nhau ở một điểm: ý thức mình được xã hội đãi ngộ quá nhiều được đi ăn học xa, được tôi luyện thành người có kiến thức hiểu biết hơn người, tức là mang nợ lớn với đồng bào mình cần phải lo trả càng sớm càng tốt. Là người lương thiện mình không có quyền quịt nợ dù nhiều hay ít.

Ý thức mắc nợ và trả nợ đã thúc đẩy bộ ba nói trên phải tìm cho ra một phương pháp nào để được sòng phẳng với xã hội với đồng bào. Sau nhiều đêm suy tư, nhìn theo gương người xưa như một Nguyễn Trường Tộ, một Phạm Phú Thứ, một Phan Chu Trinh, một Trương Vĩnh Ký,.. để lại, sau nhiều ngày thảo luận sâu rộng họ đi đến kết luận là chỉ có trường học chữ dạy nghề cho những thành phần hiếu học mà không phương tiện như mình cũng có nghĩa là không được xã hội ưu đãi như chúng mình. Đó là phương thức linh nghiệm nhất để trả nợ mình mắc một cách sòng phẳng nhất cùng một lúc giải quyết được sự liên đới xã họi chiều ngang cũng như chiều dọc.

Trường Bách Khoa Bình Dân được cưu mang từ ý thức mắc nợ và phải trả nợ. Suy luận và quan niệm thì dễ nhưng từ đó đi đến chỗ thực hiện như dự tính còn là một con đường dài nhiều trở ngại, vì cả ba con người có tấm lòng nói trên chưa có một chút quyền hành cũng như chưa có một chút tiền tài trong tay. Tuy nhiên bộ ba chúng tôi, một người Phật Giáo, hai Công Giáo, một người Nam và hai người Bắc tâm tánh rất khác nhau nhưng lại bổ túc cho nhau luôn luôn phục thiện cởi mở và trung thành hợp tác với nhau..”.

Qua “Ký Ức Huỳnh Văn Lang” độc giả là tôi thấy được gì những chân dung của một thời đã qua, của một thế hệ dĩ vãng. Tôi thấy được những con người của khai sơn phá thạch, của tổ tiên Huỳnh Văn Lang để tạo thành những vùng dân cư phì nhiêu trù mật. Qua những con người ấy, tôi hiểu được cá tính của những con người đầy nghị lực, của những công việc khó khăn “phá sơn lâm đâm hà bá”.

Và tôi cũng thấy được những con người dù là chủ điền hay tá điền sống đùm bọc với nhau chia ngọt sẻ bùi với nhau trong đời sống, khác hẳn như chế độ Cộng Sản đã tuyên truyền về đấu tranh giai cấp có bóc lột thì phải có tranh đấu để tiêu diệt đi những nề nếp cổ truyền của dân tộc Việt Nam.

Và tôi cũng thấy được chân dung một bà mẹ Việt Nam, là thân sinh ra tác giả, tận tụy với sự nghiệp gia đình, nhân từ với những tá điền, giúp đỡ họ khi đau yếu. Và tôi cũng chia sẻ với tác giả khi ông viết: “Và trên hết người viết vô vàn thiết tha nhớ ơn người mẹ của mình, vì ngoài giáo dục đức dục cho con còn nhiều câu chuyện với bao nhiêu chi tiết tôi ghi lại ra đây đều do má tôi kể lại cho tôi nghe từ khi tôi 5, 6 tuổi (năm 1927-1928) cho đến khi bà ra đi là năm 1943 lúc tôi vừa đúng 21 tuổi. Tên má tôi là Lê Thị Trầm, người con gái từ họ đạo Công Giáo Bãi xạn, làng Đại Phước, đi lấy cha tôi từ năm 17 tuổi (1910) đúng 100 năm rồi! Xin kính dâng tập sách này cho má! Trăm lần con xin lạy tạ! Má ơi!”.
You need to be logged in to comment