Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!

Đọc sách: Nhìn Suốt Cuộc Chiến!

Phan Nhật Nam đăng bài. Lần xem: 180

Đọc cuốn sách... Nhìn suốt cuộc chiến!
(Trần Đông Phong, Việt Nam Cộng Hòa 10 Ngày Cuối Cùng, NXB Nam Việt, CA – USA 2006)

Dẫn nhập:

Năm 2005 vừa qua, sách “Khi Đồng Minh Tháo Chạy” (1) của tác giả Nguyễn Tiến Hưng đã đạt tới số bán kỷ lục trong một thời gian dài (kéo dài suốt hơn nửa năm 2005) do đã được phát hành đúng thời điểm 30 năm mất miền Nam (30 tháng Tư, 1975-2005), và được đánh giá là đáp ứng thích đáng đối với câu hỏi (từ Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại nói riêng, của người Việt nói chung) luôn cần được trả lời, giải thích: Tại sao Miền Nam đã sụp đỗ nhanh chóng đến như vậy? Riêng với chúng tôi, tập thể những người lính, công nhân, viên chức Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa (1955-1975) và gia đình là những đối tượng chịu tác động trực tiếp, trước nhất của giai đoạn kể trên trong suốt thời gian dài kể từ đầu thập niên 1960 (khi chính quyền, quân đội Mỹ bắt đầu tham dự trực tiếp vào tình thế Miền Nam), mà hội chứng khắc nghiệt đến nay vẫn còn di hại, tác động. Khi Đồng Minh Tháo Chạy (cùng với The Palace Files của chung tác giả) quả thật chưa là trả lời đầy đủ cho câu hỏi đơn giản nhưng khắc nghiệt kể trên – Trong lãnh vực quân sự - Những diễn tiến chiến trận kéo dài từ ngày 10 tháng Ba (ngày vỡ trận Ban Mê Thuộc) đến ngày 30 tháng Tư, 1975 bao trùm những sự kiện về người, việc không hợp lý.

Thế nên, Việt Nam Cộng Hòa 10 Ngày Cuối Cùng của Trần Đông Phong nay (2007) cũng phải được đọc với tính cách, thái độ tìm hiểu cẩn trọng tương tự - Bởi Lịch Sử luôn cần được giải thích chính xác và trung trực – Do đã là một hoàn tất không thể sửa đổi, điều chỉnh mà Nỗi Đau 1975 không là của riêng ai. Hơn thế nữa, Trần Đông Phong đã viết nên cuốn sách với Tấm Lòng Người Lính QLVNCH như lời đề tặng chân thành của ông nơi trang đầu, dẫu ông chỉ là người hoạt động nơi những “mặt trận im lặng”, ở hậu trường chính trị miền Nam.

Dù nhan đề chỉ giới hạn trong “Mười Ngày Cuối Cùng”, nhưng cuốn sách chứa đựng nhiều dữ kiện, nguồn tài liệu, những mưu định, ẩn số chính trị, ngoại giao, quân sự chồng chéo, tác động hỗ tương – Điều nầy là nguyên do gây nên hậu quả kia. Hoặc chính nó là hệ quả của những nguyên nhân sẵn có từ trước, và tiếp tục tác động theo một chu kỳ mới với đối tượng mới - Có khả năng giải thích đủ và đúng cuộc chiến Việt Nam mà đến bây giờ vẫn là một vấn nạn chưa thể có trả lời chung nhất đối với tất cả các phe lâm chiến. Nhưng bởi yêu cầu của bài viết (với mục tiêu là “những vấn đề quân sự”); từ quan điểm của một quân nhân, chúng tôi buộc phải giới hạn nội dung trình bày chỉ căn cứ trên những sự kiện, biến cố quân sự có liên quan trực tiếp đến vận mệnh của Miền Nam, cả Việt Nam qua chọn lựa cẩn trọng bắt buộc người lính phải áp dụng như trong buổi hành quân – Huống gì đây là cuộc hành quân chung kết của “10 Ngày Cuối Cùng”

Người Lính Phan Nhật Nam
CA, tháng 4, 2007

I. Trước lần sụp đỗ.

Trần Đông Phong đưa chúng ta đi xa hơn biến cố Tháng Tư 1975, đến tận nguồn khởi đầu bi kịch Miền Nam, với những vận động chính trị ở những nơi ngoài lãnh thổ VNCH nhưng gây nên những hệ quả quân sự tại Việt Nam... Bắt đầu từ Hoa Thịnh Đốn vào mùa thu năm 1974, từ Mạc Tư Khoa vào cuối năm 1974, tại Hà Nội và tại Sài Gòn cũng vào tháng 12 cùng năm. Và cuối cùng, xa hơn nữa là từ Bắc Kinh vào năm 1971. Những sự kiện thoạt đầu kể như chẳng có dính dáng gì đến Việt Nam mà chỉ có liên hệ đến người Nga gốc Do Thái, nhưng thật sự liên quan trực tiếp với sinh mệnh của toàn dân tộc Việt chứ không riêng đối với Miền Nam.

1- Mỹ/Liên Xô

Trước tiên là sự việc xẩy ra giữa những chính khách. Trong thời gian giữ chức Phụ Tá An Ninh Quốc Gia cho Tổng Thống Nixon, Tiến Sĩ Henry Kissinger đã mở nhiều cuộc thương thuyết nhằm giảm bớt căng thẳng (detente) trong bang giao Mỹ-Liên Xô và cũng nhằm lấy cảm tình với Liên Xô để nhờ đó, đại cường Cộng Sản này có thể gây áp lực với Hà Nội nhằm tiến đến việc ký kết hiệp ước mang lại hoà bình (cho người Mỹ) tại Việt Nam. Với mục tiêu nầy, Kissinger đã hứa hẹn với các nhà lãnh đạo Nga Xô rằng Hoa Kỳ sẽ cho Liên Xô được hưởng quy chế Tối Huệ Quốc (Most Favored Nation) và nếu được hưởng quy chế này, Liên Xô có thể mở rộng giao thương với Hoa Kỳ và Tây phương, một mục tiêu mà Nga Xô đang cấp bách tìm cách thực hiện để cứu vãn nền “kinh tế xã hội chủ nghĩa”đang trên đà kiệt quệ. Để đáp lại thiện chí của Mỹ, lãnh tụ Liên Xô Brezhnev đã áp lực với Hà Nội ngưng việc đòi hỏi phải loại bỏ Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu như là một trong những điều kiện tiên quyết để ký kết Hiệp Định Ba Lê.

Sau khi lên làm ngoại trưởng, ông Kissinger đã thực hiện lời hưá hẹn với Nga Xô hồi năm 1972, đã vận động với Quốc Hội Mỹ cho Liên Xô được hưởng quy chế “Tối Huệ Quốc” và dự luật này đã được Hạ Viện thông qua. Nhưng khi bản dự luật này được đưa lên Thượng Viện vào mùa Thu năm 1974 thì Thượng Nghị Sĩ Henry Jackson thuộc Đảng Dân Chủ Tiểu Bang Washington, một nghị sĩ thuộc phe “diều hâu” tức là phe (được quan niệm) ủng hộ VNCH, nhưng ông này không ưa Tiến Sĩ Henry Kissinger, lại là một trong những nghị sĩ đang hy vọng ra ứng cử tổng thống vào năm 1976. Vì muốn chiếm được cảm tình của cử tri cũng như là khối tài phiệt gốc Do Thái, Henry Jackson đã kèm vào dự luật này một Tu Chánh Án (Amendment) liên kết việc thông qua dự luật với điều kiện Liên Xô phải có một chính sách cởi mở hơn trong việc cho phép công dân Liên Xô gốc Do Thái được di dân sang Tây phương và cứu xét vấn đề này một cách dễ dãi hơn. Dự luật này về sau được gọi là “Tu Chính Án Vanix-Jackson”.

Dù rằng cho đến ngày 3 tháng 1 năm 1975 bản dự luật này đã được Tổng Thống Gerald Ford ban hành, nhưng về phiá Liên Xô thì họ biểu lộ cho thấy họ không thể chấp nhận được việc các nghị sĩ Hoa Kỳ đã can thiệp vào việc nội chính của Liên Bang Xô Viết, do đó giới lãnh đạo Liên Xô đã nổi giận và tìm cách trả đũa bằng cách “phá ”ù Hoa Kỳ tại Việt Nam.
Tuy không nói rõ sẽ trả đũa như thế nào, nhưng một tuầøn sau đó thì Đại Sứ Liên Xô tại Washington đã bị triệu hồi về nước để “tham khảo” ý kiến, đồng thời Đại Tướng Viktor Kulikov cũng bất thần được Điện Cẩm Linh phái sang Bắc Việt (2)

Tướng Viktor Kulikov đến Hà Nội vào tháng 12 năm 1974, trên danh nghĩa với tư cách đại diện Hồng Quân Xô Viết tham dự lễ Kỷ Niệm 30 Năm Ngày Thành Lập Quân Đội Nhân Dân Việt Nam, tuy nhiên sau đó đã tham dự phiên họp Khoáng Đại Kỳ thứ 23 của Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng Lao Động Việt Nam. Tướng Kulikov nói với các lãnh đạo đảng Cộng sản và quân đội Bắc Việt rằng: “Quốc Hội Hoa Kỳ sẽ không chấp thuận cấp thêm viện trợ kinh tế cũng như là quân sự cho miền Nam Việt Nam nữa, như vậy thì đây là lúc thuận lợi nhất để mở các cuộc tấn công đại quy mô tại miền Nam, và Liên Xô cam kết sẽ ủng hộ kế hoạch tấn công này bằng cách tích cực gia tăng viện trợ quân sự cho Bắc Việt.”

Sau khi Kulikov trở về Mạc Tư Khoa, Liên Xô đã thực hiện lời hứa của Kulikov và viện trợ quân sự cho Bắc Việt đã gia tăng gấp bốn lần trong những tháng Giêng, Hai và Ba năm 1975. Không những chỉ gia tăng viện trợ vũ khí đạn dược, Liên Xô còn cung cấp những tin tức tình báo bằng vệ tinh cho quân đội cộng sản tại miền Nam. Ngày 16 tháng 4 năm 1975, Liên Xô phóng vệ tinh từ căn cứ Plessetsk với phương giác (góc độ) 65 độ và 8 ngày sau đó lại phóng thêm một vệ tinh thứ hai với phương giác 81 độ và cả hai vệ tinh này đã quan sát được mọi hoạt động trên toàn cõi Việt Nam. Đây là loại vệ tinh mới nhất cuả Liên Xô có đủ khả năng chụp được những bức không ảnh với hình ảnh những xe cộ và chiến xa rất rõ ràng. Từ Mạc Tư Khoa, những bức không ảnh này được chuyển sang Hà Nội trong vòng vài tiếng đồng hồ sau đó và Hà Nội lại chuyển vào Nam cho Tướng Văn Tiến Dũng, nhờ đó Cộng sản Bắc Việt biết rõ họ đang phải đối đầu với quân số và đơn vị ở cấp nào trên chiến trường tại miền Nam Việt Nam. (3)

Hiện diện của Tướng Viktor Kulikov không tránh được sự quan sát của các cơ quan tình báo của Hoa Kỳ tại Việt Nam, và ông Wolfgang Lehmann, Xử lý Thường Vụ Đại sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn đã đánh một công điện “mật” về Hoa Thịnh Đốn tường trình về vụ việc này. Tuy nhiên tại Hoa Thịnh Đốn vào thời điểm (quyết định) đến vận mạng miền Nam, không có ai chú ý đến bức điện văn này của viên Xử Lý Thường Vụ Đại Sứ Hoa Kỳ gửi đi từ Sài Gòn. (4)

2- Bộ Chính Trị Hà Nội/ Trung Ương Cục Miền Nam

Vào khoảng cuối năm 1974, Bộ Tổng Tư Lệnh Quân Đội Nhân Dân Bắc Việt đã soạn thảo một kế hoạch quân sự cho năm 1975, theo kế hoạch này thì các lực lượng cộng sản sẽ gia tăng đánh phá tại các chiến trường B2 (Miền Đông Nam Bộ); B3 (Tây Nguyên); và B4 (Trị-Thiên) để chiếm các tiền đồn, các quận lỵ hẻo lánh, cô lập các lực lượng của VNCH, rồi sang năm 1976, khi tại Hoa Kỳ đang diễn ra bầu cử tổng thống vào tháng 11 thì Cộng sản Bắc Việt sẽ mở các cuộc tổng tấn công để chiếm trọn Miền Nam. Kế hoạch này đã được các cấp lãnh đạo của Đảng Lao Động Việt Nam như Lê Duẫn, Lê Đức Thọ, Phạm Văn Đồng và Quân Ủy Trung Ương chấp thuận trên nguyên tắc. Tuy nhiên, giới lãnh đạo đảng muốn đưa dự án kế hoạch này ra thảo luận trước phiên họp khoáng đại lần Thứ 23 của Ban Chấp Hành Trung Ương vào ngày 18 tháng 12 năm 1974 để đại hội phê chuẩn.

Trung Tướng Trần Văn Trà cho biết vài điểm chính về kế hoạch này như sau: “Năm 1975 phải hoàn thành mọi công tác chuẩn bị thật tốt để đảm bảo đánh lớn, tổng công kích tổng khởi nghĩa thắng lợi trong năm 1976.. Tất cả xoay quanh nhận định đánh giá tình hình trong nước, ngoài nước. Ta đánh mạnh, ngụy sẽ ứng phó thế nào? Mỹ sẽ hành động ra sao? Có giám can thiệp trở lại không hay có những âm mưu thủ đoạn nào khác? Năm 1975 nên thế nào? Và rồi năm 1976? Hai năm trong chiến tranh ác liệt có phải đâu là ngắn, nhưng hai năm cuối cùng của trên 30 năm khổ cực thì sao thấy nó nhanh quá, sắp đến nơi rồi.." (5)

Như vậy thì “vào cuối năm 1974”, Bộ Chính Trị Đảng Lao Động đã chấp thuận kế hoạch quân sự tại miền Nam cho năm 1975 là “chỉ tấn công những mục tiêu nhỏ” để chiếm đất dành dân, làm tiêu hao quân lực Việt Nam Cộng Hòa với 10% vũ khí dự trữ, và sang đến cuối năm 1976, sẽ tổng tấn công chiếm miền Nam. Kế hoạch nầy là bước thực hiện của “Mệnh Lệnh Đánh Trả ngày 15 tháng 10, 1973”- Mệnh lệnh nầy quy định, tổng quát hóa phương thức hành động để hoàn tất những mục tiêu đề ra từ Nghị Quyết 12R (biến danh của Nghị Quyết 21 Trung Ương Đảng): “Giành dân, lấn đất. Giành thắng lợi từng phần.. Đánh lấy miếng, không đánh lấy tiếng..” Mệnh lệnh gọi là “đánh trả (phía VNCH)” nhưng thực chất là quyết định “đánh chiếm Miền Nam bằng vũ lực” sau khi “Hiệp Định Paris ký ngày 27 tháng 1, 1973 Tái Lập Hòa Bình Tại Việt Nam” đã chứng tỏ “không có tính cách thực tế, khả thi” dẫu Lê Đức Thọ và Kissinger ký thêm một Nghị Định Thư ấn định các biện pháp thi hành (13/7/1973) (6).

Vì lý do nêu trên, kể từ sau khi Hiệp Định Ba Lê được ký kết vào ngày 27 tháng 1 năm 1973, tuy Hà Nội có chủ trương vi phạm hiệp định rất nhiều lần, nhưng trong hai năm 1973 và 1974 không có một trận đánh quan trọng nào xảy ra tại miền Nam ngoài những trận đụng độ trong chiến dịch chiếm đất dành dân giữa hai bên. Chỉ có trận chiến quan trọng nhất là trận Thường Đức ở Quảng Nam với mục tiêu là Đồi 1062, nơi mà hai Lữ đoàn 1 và 2 Nhảy Dù đã chiến đấu chống lại các Trung Đoàn 29, 31, 24 và 66 thuộc các sư đoàn 2, 324B và 304 của Cộng Sản Bắc Việt. Trong trận này, về phía bộ đội cộng sản có 2,000 người chết, 5,000 người bị thương, và về phía VNCH thì có 500 chiến sĩ nhảy dù bị tử thương và 2,000 người bị thương. (7)

Căn cứ từ thực tế chiến trường, tình hình chính trị VNCH, những người cầm đầu Cộng Sản thuộc Trung Ương Cục Miền Nam lại có nhận định theo một chiều hướng khác với kế hoạch Bộ Tổng Quân Ủy Miền Bắc như vừa kể bên trên. Tháng 11 năm 1974, nhân lần ra Hà Nội để các cấp lãnh đạo quân sự Bắc Việt thông báo kế hoạch quân sự tại miền Nam trong năm 1975 và 1976, hai đại diện của Trung Ương Cục là Phạm Hùng, Bí Thư Trung Ương Cục (Người thứ tư trong Bộ Chính Trị Đảng Lao Động), và Trung Tướng Trần Văn Trà, Tư Lệnh B2, tức là tư lệnh các lực lượng võ trang của Chính Phủ Lâm Thời Cọng Hòa Miền Nam Việt Nam đã đưa ra đề nghị tấn công và chiếm đóng tỉnh Phước Long nhắm vào hai mục đích:

- Về quân sự, khi tấn công, chiếm được Phước Long thì phía Cộng Sản sẽ chiếm được năm tiền đồn quan trọng, sẽ thiết lập được con đường chiến lược (nằm dọc mạn Đông dãy Trường Sơn): Đường 613 chạy song song với “Đường mòn Hồ Chí Minh” vốn nằm hoàn toàn trong đất Lào thuộc Tây Trường Sơn) giúp việc chuyển vận chiến xa, cơ giới, trọng pháo, xe chở nhiên liệu, và binh sĩ từ vùng phi quân sự (đã lấn chiếm được từ Tổng Công Kích 1972) di chuyển thẳng xuống miền Đông Nam Bộ tức là lãnh thổ thuộc VùngIII Chiến Thuật của VNCH một cách dễ dàng thuận lợi hơn. Cuộc tấn công này sẽ cầm chân các đơn vị tổng trừ bị của VNCH, và do đó sẽ không còn đủ quân để tiếp viện cho những chiến trường khác.

- Về phương diện chính trị, nếu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu để mất tỉnh Phước Long thì ông sẽ bị mất uy tín rất nhiều tại Miền Nam vì đã không bảo vệ được lập trường cứng rắn “4 Không” của ông. Và quan trọng hơn cả là “để xem Hoa Kỳ sẽ phản ứng như thế nào” khi Cộng Sản lần đầu tiên chiếm được một tỉnh tại miền Nam Việt Nam, nhất là sau khi Tổng thống Richard Nixon phải từ chức vì vụ Watergate và Tổng Thống Gerald Ford lên thay thế.

Thoạt đầu, đề nghị của Phạm Hùng và Trần Văn Trà đã không được các cấp lãnh đạo trong quân đội miền Bắc ủng hộ, và một trong những người chống đối mạnh nhất là Thượng Tướng Văn Tiến Dũng, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội Nhân Dân Bắc Việt. Chính Lê Đức Thọ, nhân vật số hai trong Bộ Chính Trị cũng chống lại đề nghị này; Lê Đức Thọ đã nói với Phạm Hùng và Trần Văn Trà một cách rất khôn khéo rằng: “Các tài nguyên nhân sự, vũ khí và trang bị cần phải được bảo tồn để dành cho cuộc tổng tấn công tối hậu (được dự liệu vào năm 1976) vì Liên Xô vẫn còn tiếp tục kiểm soát và hạn chế mọi sự vận chuyển về chiến cụ cho Hà Nội. Tình hình ở ngoại quốc rất là phức tạp, do đó chúng ta phải giới hạn các hoạt động quân sự trong năm 1975.” (8)

Hùng và Trà thấy rõ kế hoạch quân sự đánh chiếm Phước Long của họ khó lòng thực hiện, nên phải lấy thêm sự trợ lực của Phạm Văn Đăng (Năm Quốc Đăng), ủy viên thường vụ của TƯC, trong phiên họp ngày 3 tháng 12 để thuyết phục Bộ Tổng Tham Mưu và Tổng Quân Ủy Miền Bắc cho họ được thi hành kế hoạch ban đầu: Đánh Phước Long. Cuối cùng, quyết định chỉ được chấp thuận với lời răn đe từ Lê Duẩn: Phải chắc thắng mới (cho) đánh! (9) – Điều nầy có nghĩa: Chỉ được đánh Phước Long với những đơn vị của Quân Khu 7 (lực lượïng vũ trang của MTGP) – Bảo đảm an toàn cho các đơn vị thuộc quyền điều động trực tiếp của quân ủy Miền Bắc. Nhưng theo Đại Tướng Cao Văn Viên: Đầu tháng 10 năm 1974, qua tin tức thâu thập từ tình báo, phản gián, hồi chánh viên, và tù binh, Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH đã biết được kế hoạch cộng sản (thuộc TƯC/MN) chuẩn bị đánh chiếm Phước Long. Tin tức này đã được chuyển đến Quân Đoàn III và Tiểu Khu Phước Long…. Thế nên, cuộc tấn công Phước Long không phải là một sự bất ngờ ngoài sự ước đoán của chúng ta.”(10) Nhận định nầy không đúng so với thực tế (đã xẩy ra) qua cuộc họp tại Dinh Độc Lập (9, 10/12/74) và việc gởi Trung Đoàn 48/SĐ18BB đến tăng viện mặt trận Tây Ninh – Đơn vị nầy chỉ được trả lại cho SĐ18 (Thiếu Tướng Lê Minh Đảo) sau khi mặt trận Long Khánh bùng nổ (9/4/75).

Lực lượng phòng thủ toàn tỉnh Phước Long gồm có năm tiểu đoàn Địa Phương Quân khoảng 4,000 người, 48 trung đội Nghiã Quân khoảng 1,000 người và bốn pháo đội (đại đội) Pháo Binh. Như vậy thì trong khu vực tỉnh này, chỉ có những lực lượng Điạ Phương Quân và Nghiã Quân đảm trách việc phòng thủ, không có một đơn vị tác chiến nào cuả Chủ Lực Quân – Sự kiện cho thấy nhận định của Đại Tướng Viên (về tình hình quân sự của Vùng III nói riêng) không đúng với thực tế tình hình địch - Cho đến khi một số tiền đồn bị thất thủ thì Quân Đoàn III mới tăng viện cho Phước Long một tiểu đoàn thuộc Sư Đoàn 5 Bộ Binh cùng với hai pháo đội và ba đại đội trinh sát. Đối lại, phía cộng sản xử dụng Quân Đoàn 4 do Tướng Hoàng Cầm tư lệnh và Đại Tá Bùi Cát Vũ giữ chức chính ủy gồm có ba Sư Đoàn 3, 7 và 9 (trừ bị), cùng với hai trung đoàn cao-xạ phòng không, và nhiều đơn vị pháo binh, xe tăng tấn công vào năm mục tiêu trong tỉnh Phước Long.

Tính đến ngày 26 tháng 12 năm 1974, trừ vị trí Quận Châu Thành (Phước Bình) và Thị Xã Phước Long, toàn thể tỉnh này đã hoàn toàn rơi vào sự kiểm soát của phía cộng sản. Sau khi Đôn Luân thất thủ, một phiên họp khẩn cấp đã được triệu tập tại Dinh Độc Lập dưới sự chủ tọa của Tổng Thống Thiệu và sự hiện diện của Phó Tổng Thống Trần Văn Hương, Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm, cùng đầy đủ tướng lãnh các quân binh chủng. Mục đích của phiên họp này là thảo luận để đi đến quyết định là Sài Gòn có nên tăng viện cho Phước Long hay không và nếu tăng viện thì tăng viện như thế nào về vũ khí, về nhân sự.

Trung Tướng Dư Quốc Đống, Tư Lệnh Quân Đoàn III trình bày về tình hình Phước Long và đề nghị xin một sư đoàn bộ binh hay Sư Đoàn Nhảy Dù lên tăng viện cho Phước Long; Tướng Cao Văn Viên cho biết: Bộ Tổng Tham Mưu không còn đủ quân trừ bị, hai sư đoàn tổng trừ bị là Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến đang trấn đóng ở Vùng I và tình hình chiến sự ở đây không cho phép rút bất cứ đơn vị nào để tăng viện cho Phước Long. Tại Vùng III, hai sư đoàn cơ hữu là Sư Đoàn 18 và 25 cũng không thể đưa lên tăng viện cho Phước Long vì còn phải được dùng để án ngữ khu vực Tây Ninh ngăn chận hai Sư Đoàn 5 và 9 Cộng Sản tiến về Sài Gòn. Phước Long không quan trọng bằng Tây Ninh, Pleiku hay là Huế. Buổi họp đi đến quyết định là chỉ xử dụng Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù để tăng viện cho Phước Long như đã dùng đơn vị này để tiếp viện cho An Lộc hồi năm 1972. (11)

Với tỷ lệ quân số, hỏa lực áp đảo, đến nửa đêm hôm 6 tháng 1 năm 1975, sau khi các vũ khí hạng nặng và trang bị truyền tin bị pháo binh và chiến xa của cộng sản phá huỷ hoàn toàn, quân cộng sản tấn công ào ạt, một số mấy trăm chiến sĩ thuộc các binh chủng Biệt Động Quân, Biệt Kích Dù, Điạ Phương Quân và Nghiã quân thuộc Tỉnh Phước Long đã phân tán ra những khu rừng rậm quanh tỉnh lỵ Phước Bình. Trong tổng số 5,400 chiến sĩ bảo vệ cho toàn Tỉnh Phước Long, chỉ có khoảng 850 người trong đó có 121 quân nhân Biệt Cách Nhảy Dù đã thoát được và trở về trình diện Quân Đoàn III. Tỉnh Trưởng Phước Long, Quận Trưởng Phước Bình, một số tiểu đoàn trưởng cùng khoảng trên 3,000 quân nhân thuộc các đơn vị của quân lực Việt Nam Cộng Hòa đã ghi nhận mất tích và tử vong.(12)

Tin tiến chiếm thành công Phước Long ra đến Hà Nội vào lúc phiên họp khoáng đại lần thứ 23 TƯĐ làm yên lòng toàn thể ủy viên trung ương với hai sự kiện: 1/Mỹ không can thiệp vào VN. 2/QLVNCH không còn khả năng và quân số trừ bị tiếp cứu những vùng bị lấn chiếm. Tuy nhiên, vào phiên họp sau đó (ngày 8 tháng 1, 1975) của Ủy Ban Trung Ương, Lê Duẩn vẫn lập lại lời cảnh giác: “Dù rằng chắc chắn Mỹ sẽ không tái can thiệp, nhưng nếu quân đội miền Bắc không tiến chiếm mau chóng thì Mỹ sẽ can thiệp ở một mức độ nào đó để cứu nguy chế độ Sài Gòn khỏi phải sụp đổ toàn diện.” Mức độ can thiệp như thế nào và bao giờ vẫn là điều không thểâ khẳng định được.

Trên đường trở về Nam, Phạm Hùng và Trần Văn Trà dẫu đã được hài lòng là thành công trong việc thuyết phục Bộ Chính Trị cho phép đánh (và đánh thắng) trận chiếm Phước Long, nhưng đồng thời họ hiểu ra rằng: Chiến trường sắp tới (Trận Ban Mê Thuột nơi Tây Nguyên) – Chiến Dịch 275 đã hoàn toàn thuộc về Bộ Tổng quân Ủy Miền Bắc - Cụ thể trong tay Văn Tiến Dũng.(13)

Trong thời gian Cộng Sản tấn công Phước Long, Tiến Sĩ Kissinger đang làm Ngoại Trưởng Hoa Kỳ và lúc đó có một hạm đội Hoa Kỳ đang hoạt động trong vùng biển Á Châu, trong đó có hàng không mẫu hạm nguyên tử Enterprise đang hoạt động trong vùng Thái Bình Dương tiến vào vùng hải phận gần bờ biển Việt Nam, nhưng thay vì ở lại chung quanh vùng biển này như là một hình thức để ủng hộ một cách tượng trưng cho Việt Nam Cộng Hoà thì hạm đội này lại được lệnh đi thẳng sang….. Phi Châu. (14)

3- Sài Gòn/Hoa Thịnh Đốn/Viện trợ..

Thực ra thì chẳng cần phải cậy tới cơ quan tình báo KGB mới biết được chiều hướng chính trị đang trên đà giải kết của Mỹ - Bỏ rơi Việt Nam Cộng Hòa. Trong bộ sách nhiều tập “The Vietnam Experience” cuốn “The Fall of the South,” các tác giả bộ sách này đã nói rằng: “Các cấp lãnh đạo cộng sản chỉ cần đọc báo chí Tây phương cũng đủ biết rõ về sự suy giảm trong vấn đề viện trợ cho Miền Nam Việt Nam, cả về số tiền viện trợ cũng như là thăm dò dư luận. Ngày 22 tháng 5 năm 1974, Hạ Viện Mỹ biểu quyết không được tăng số tiền viện trợ quân sự cho Việt Nam Cộng Hòa trong tài khoá 1974-1975 quá mức 1,126 triệu mỹ kim dù rằng Ủûy Ban Quân Vụ Hạ Viện đã đề nghị 1,400 triệu. Sau đó, đến ngày 22 và 23 tháng 9 năm 1974, cả Hạ Viện và Thượng Viện Hoa Kỳ lại biểu quyết cắt bớt thêm nữa và chỉ cấp cho VNCH có 700 triệu mỹ kim mà thôi (tính luôn cả kinh phí dành cho việc chuyên chở từ Hoa Kỳ sang Việt Nam).

Đại Tướng Cao Văn Viên đã dành hầu hết Chương 4 cuốn “The Final Collapse” (1983, US) để trình bày rất rõ về “Sự Giảm Thiểu Quân Viện của Hoa Kỳ” và những hậu quả vô cùng trầm trọng đối với các hoạt động của QLVNCH trong năm 1974 và những tháng đầu năm 1975: “..Với ngân khoản viện trợ là 700 triệu, trừ đi ngân khoản trả lương cho quân nhân Hoa Kỳ thuộc văn phòng DAO thì chỉ còn có 654 triệu mỹ kim, tức là chỉ còn có 51% nhu cầu cần thiết Về phiá đạn dược, số đạn dược tồn kho chỉ còn có khoảng 30 ngày, có nghiã là nếu không được tăng viện thì cho đến hết tháng 3 năm 1975, Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà sẽ không còn một viên đạn. Đến giữa tháng 4 năm 1975, chúng ta đã xài hết quân dụng, vũ khí tồn kho vào việc tái trang bị cho các đơn vị di tản từ hai Vùng I và II. Đến giờ phút muộn màng đó, dù chúng ta có nhận được 300 triệu mỹ kim viện trợ quân sự bổ túc đi nưã thì tình hình cũng đã quá trễ”

Nhưng cuối cùng, tất cả vấn đề chiến lược chính trị, chiến thuật quân sự; tăng, giảm viện trợ (quyết định chuyện sống, chết đối với một quốc gia từng được gọi là đồng minh) thật ra đôi khi bắt nguồn từ những nguyên do xét ra cũng chẳng lấy chi làm “cao cả”.. Ấy là, vào năm 1968, Hội Nghị Paris dự trù khai mạc vào ngày 6 tháng 11, sau ngày bầu cử tổng thống Mỹ một ngày (5 tháng 11). Lá bài chủ của hai đảng để quyết định cho chiếc ghế của người sẽ ngồi vào Tòa Bạch Ốc là sáng kiến (đề nghị) và kế hoạch “Chấm dứt cuộc chiến Việt Nam”.
Để yểm trợ cho ứng viên thuộc Đảng Dân Chủ, Hubert Humphrey phó tổng thống đương nhiệm, Tổng Thống Johnson tung ra đòn quyết định “Ngưng oanh tạc Bắc Việt” vào ngày 1 tháng 11, và chỉ thị Đại Sứ Mỹ ở Sài Gòn, Bunker hối thúc phía Việt Nam Cộng Hòa có mặt tại Paris đúng như thời biểu ấn định, tối thiểu cũng đưa ra một thông cáo chung về việc Hoa kỳ ngưng oanh tạc và hòa đàm, nếu như còn những dị biệt giữa hai chính phủ (15). Nhưng tại Sài Gòn, Tổng Thống Thiệu lại đi nước cờ khác. Trong cuộc họp của lưỡng viện quốc hội nhân ngày “Quốc Khánh 1 Tháng 11”, có sự hiện diện trang trọng chính thức của Đại Sứ Bunker, ông Thiệu đã tuyên bố trong một bài diễn văn quyết định: “Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa rất tiếc là không thể tham dự những cuộc hòa đàm sơ bộ hiện nay tại Paris”. Bài diễn văn, lời tuyên bố được cả quốc hội đứng dậy đồng loạt vỗ tay thật lâu. Nhưng phía Mỹ thì “Đại Sứ Bunker lúc ấy cố làm ra vẻ bình tĩnh mà không đượïc. Ông toát cả mồ hôi..”; hoặc nhận định của Tổng Thống Johnson sau nầy viết lại trong hồi ký “The Vantage Point” là: “Ngày 1 tháng 11, sau khi cho hay sẽ tham dự Hòa Đàm Paris, [các] nhà lãnh đạo Việt Nam Cộâng Hòa lại quyết định không tham dự. Tôi tin chắc rằng sự việc đó đã làm cho ông Humphrey thất cử”(16)

Cũng theo ý của Nguyễn Tiến Hưng trong KĐMTC, sở dĩ ông Thiệu đã đi một nước cờ phiêu lưu, mạnh mẽ như kia dẫu đã tính đến chuyện có thể bị ám sát hay lật đổ, nếu như chính quyền Mỹ biết rằng ông sẽ tuyên bố lời chối từ không tham dự hội nghị vào thời điểm quyết định trước, sau ngày 1 tháng 11 (Ngày 30 tháng 10 của Hoa Thịnh Đốn). Bởi vì ông Thiệu đã nhận được thông điệp: “Chớ tham gia hòa đàm Paris, cố trì hoãn càng lâu càng tốt để đợi ông Nixon lên làm tổng thống, mọi chuyện sẽ tốt đẹp hơn”. Hiện thực hơn cho mưu định nầy, Đại Sứ Bùi Diễm qua sự giới thiệu của bà Anna Chennault (phu nhân Tướng Chennault, Tư Lệnh Phi Đoàn Phi Hổ trong Đệ Nhị Thế Chiến ở Trung Hoa) đã gặp mặt Nixon và nghe lời hứa hẹn: “Sẽ coi vấn đề Việt Nam là ưu tiên số 1, và bảo đảm sẽ dành cho Việt Nam một sự đối xử thuận lợi hơn phe Dân Chủ”(17). Trong hồi ký “Trong Gọng Kìm Lịch Sử - In the Jaws of History”, ông Bùi Diễm phủ nhận về nhận định, và diễn tiến của sự việc theo nội dung kể trên (18)

Một nhân chứng khác là Hoàng Đức Nhã, lúc bấy giờ là Bí Thư kiêm Tham Vụ Báo Chí tại Phủ Tổng Thống trong bài báo sau nầy (1/2003) đăng trên tờ Ngày Nay Houston (Texas) và Người Việt ở Cali, cũng đã lên tiếng phủ nhận vụ việc bà Anna Chennault đã thuyết phục được TT Thiệu từ chối tham dự hòa đàm Paris để giúp cho ứng cử viên Richard Nixon. Như vậy qua bài báo, Hoàng Đức Nhã đã phủ nhận lời của cựu Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ kể ra trong Buddha’s Child, lẫn xác nhận (sau nầy) của cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Trong phần phụ chú của cuốn The Palace File, hai tác giả Nguyễn Tiến Hưng và Jerrold Schecter nói rằng: “Trong những cuộc phỏng vấn của chúng tôi với ông Nguyễn Văn Thiệu, chúng tôi có hỏi ông rằng: “Ông có cảm thấy rằng ông Nixon đã mắc ông một món nợ vì ông đã ủng hộ ông Nixon trong cuộc bầu cử năm 1968 hay không?” Ông Thiệu đã trả lời rằng: “Dĩ nhiên, dĩ nhiên.”(19)

Một sử gia khác, Frank E. Vandiver thuộc Học Viện Mosher Institute for International Policy Studies của trường Đại Học Texas A&M University lại viết về sự việc kể trên như sau: “Ông Nixon vỗ tay vào túi áo và nói rằng ông ta có một “kế hoạch bí mật để chấm dứt cuộc chiến tranh Việt Nam”. Bí mật đấy là: “Có hai nhân vật hành động với tư cách bán chính thức qua tổ chức vận động bầu cử của ông Richard Nixon và đã làm rối loạn và gần như làm hỏng cuộc hoà đàm tại Paris: Đó là ông Bùi Diễm, Đại Sứ Việt Nam Cộng Hoà tại Washington và bà Anna Soong Chennault, em gái của bà Tưởng Giới thạch, quả phụ của Tướng Claire Chennault; bà cũng là Chủ Tịch của Hội Phụ Nữ Cộng Hoà Ủng Hộ Richard Nixon ” (20)

Nhưng nói gì thì nói (có hay không việc giúp Nixon đắc cử), cựu tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu sau 1975 đã được chính phủ Mỹ (BẤT KỂ CỘNG HÒA HAY DÂN CHỦ) nhắn bảo qua cách Nguyễn Cao Kỳ kể ra trong hồi ký của ông ta: “Chẳng bao lâu sau ngày tôi (NCK) khởi đầu cuộc đời tỵ nạn, bà Anna Chennault đã mời tôi đến dùng cơm tối tại nhà bà trên lầu thượng của cư xá Watergate tại Washington, chỉ có bà và tôi mà thôi. Bà Chennault vưà mới từ Đài Loan trở về và nói với tôi: “Tôi đi Đài Loan để nói với ông Thiệu rằng: Ông ta không thể đến (tỵ nạn) tại Hoa Kỳ”. Tổng Thống Gerald Ford đã nhờ tôi nói với ông Thiệu: “Tại vì sự “mang tiếng” (reputation) của ông (gây nên) cho nên ông sẽ không được đón mừng (welcome) ở Mỹ.” Tác giả Frank Snepp còn thêm phần cay đắng: ”Hồi tháng 4 năm 1975, Ngoại trưởng Henry Kissinger có nhắn với cựu Tổng Thống Thiệu hiện ở Đài Loan: “Ông đừng có trông đợi chiếu khán được vào định cư tại Hoa Kỳ (nơi mà con gái của ông đang theo học đại học) ít ra là cho tới sau cuộc bầu cử tổng thống tại Mỹ vào tháng 11 năm 1976.”(21)

Cuối cùng, khối quyền lực (góp phần quyết định chiến tranh Việt Nam) ở một nơi không xa với chiến địa Miền Nam mà hồ sơ giải mật sau nầy cho biết: Tất cả nỗ lực hướng tới Bắc Kinh (của Mỹ) không phải đợi đến ngày Tổng Thống Nixon chính thức viếng thăm Trung Quốc (1972), mà đã móc nối, thiết lập từ những năm 1968-1969, và đặc biệt từ 1970, Kissinger đã nhiều lần cam đoan cùng Châu Ân Lai: Hoa Kỳ sẽ đơn phương rút quân ở Miền Nam. Đơn phương rút quân khỏi Miền Nam; tránh không dội bom xuống biên giới Bắc Việt-Trung Hoa trên một vùng an toàn 30 dặm – Tất cả để chứng minh một yếu tố chung nhất: Liên hệ Trung Quốc-Mỹ là hòn đá tảng của chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ tại Á Châu (22) – Điều nầy nay được Trần Đông Phong nhắc lại (dẫu muộn nhưng vô cùng cần thiết): Ngày 13 tháng 7, 1971, Thủ Tướng Trung Quốc Chu Ân Lai bí mật qua Hà Nội thông báo việc Kissinger đi Bắc Kinh: “Vấn đề Đông Dương là quan trọng nhất trong cuộc gặp gỡ giữa chúng tôi và Kissinger”. Trong lần trao đổi với những người cầm quyền ở Hà Nội, Chu Ân Lai nói rõ thêm: “Hoa Kỳ không đòi quân đội Miền Bắc rút khỏi Miền Nam, nhưng chỉ đòi (quân đội Miền Bắc) rút khỏi Lào và Campuchia!!” Ông Chu còn khẳng định (qua lời Kissinger): “Mỹ sẽ rút quân (khỏi Miền Nam) trong 12 tháng!!” (23)

Chúng ta có thể chấm dứt tất cả những “tấn kịch (tàn nhẫn) chính trị” nơi đây để trở lại chiến trường miền Nam qua hiện thực những cảnh tượng thảm khốc vô tận với máu xương Người Việt.


II- Số phận một quốc gia được rút lại trong mươi ngày!
1. Dinh Độc Lập/CIA/ Tình Báo Cộng Sản.
Sau một lượt trình bày tổng quát coi như tạm đủ (về những yếu tố chính trị-quân sự ) kể trên, chúng ta trở lại những sự kiện liên quan đến tình hình chiến trận Miền Nam với một người gọi là Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu nơi Dinh Độc Lập.. “Văn Phòng CIA Mỹ Sài Gòn tin rằng trong số những người thân cận của Tổng Thống Thiệu, có một gián điệp cao cấp của Hà Nội. Người đó là ai? Trung Tướng Đặng Văn Quang? Phó Thủ Tướng Nguyễn Văn Hảo? Hay là một người nào khác?”(24) Nhưng không chỉ riêng Oliver Todd là nhà báo ngoại quốc duy nhất nói đến “gián điệp cao cấp của cộng sản bên cạnh Tổng Thống Thiệu”, còn có những người khác nữa: Frank Snepp, vốn là một chuyên gia cao cấp về phân tích tình báo chiến lược (Intelligence Strategy Analyst) của Văn Phòng CIA Sài Gòn, cũng có nhận định như sau (tuy không có đề cập đến tên của Tướng Quang và Phó Thủ Tướng Hảo như Oliver Todd): “Một điệp viên trong bộ tham mưu thân cận của Tổng Thiệu đã gửi một bản báo cáo tối mật về những kế hoạch và ước đoán của chính phủ Sài Gòn cho Bắc Việt. Theo báo cáo của tên gián điệp này thì vào hai ngày 9 và 10 tháng 12 năm 1974 (*), có một phiên họp cao cấp (bàn về tình hình quân sự)ï tại Sài Gòn (Dinh Độc Lập) nhằm vào việc thẩm định những dự tính của Hà Nội trong năm tới. Trong phiên họp này, các tướng lãnh cùng đồng ý (Luôn đồng ý. Những ngày sau, TTThiệu quyết định đến cả việc điều động cấp đơn vị tiểu đoàn - Pnn) với quan điểm của Tổng Thống Thiệu là: “Trong những tháng sắp tới (thuộc thời hạn 1974-75), cộng sản sẽ “chiến đấu trên một bình diện đại quy mô hơn, tuy nhiên sẽ “không tổng tấn công” như hồi năm Mậu Thân 1968, hoặc 1972.” Tên điệp viên nói (rõ) rằng: “Tổng Thống Thiệu đã kết luận: Các lực lượng Bắc Việt sẽ không có đủ khả năng để tấn công chiếm giữ và bảo vệ các thành phố lớn, ông cũng đã tiên đoán rằng cộng sản sẽ nhắm mũi tấn công vào Tỉnh Tây Ninh thuộc Vùng III Chiến Thuật, và cộng sản sẽ tấn công mạnh cho đến hết mùa khô vào tháng 6 (năm 1975) rồi sẽ ngưng các cuộc tấn công để dưỡng quân, tái tổ chức và trang bị.” Điệp viên nằm vùng này cũng báo cáo thêm: “Căn cứ trên những ước tính (Hoàn toàn sai lạc–Pnn) này, Tổng Thống Thiệu đã quyết định: “Sẽ không tăng viện cho Vùng II và (chỉ) sẽ tập trung các lực lượng trừ bị trong vùng phiá Nam mà thôi.”(25)

Đến đây thì chúng ta đã thấy ra và hiểu rõ (“Tại Sao” và “những Tại Sao”) đã xẩy ra với hai trận chiến quyết định số phận Miền Nam: Trận Phước Long ngày 13 tháng 12, 1974 (*), và trận Ban Mê Thuộc ngày 10 tháng ba, 1975. Và những diễn tiến tai hoạ kế tiếp: Bỏ Cao Nguyên/ Vùng II; Bỏ Huế, Đà Nẵng../Vùng I. Chúng ta cũng có thể kết luận: Trong số những người đã đóng góp công trạng cho sự chiến thắng của Bắc Việt, tên gián điệp nằm vùng (*) LƯU Ý: Trận Phước Long (13/12/1974) chỉ khởi sự sau khi có kết luận chắc chắc của báo cáo (từ gián điệp nằm vùng tại Dinh Độc Lập) về phiên họp 9 và 10/12/1974.
này (của một trong bộ tham mưu của ông Thiệu) phải là người có công lao lớn nhất. Và Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu phải là người độc nhất chịu trách nhiệm - Do những quyết định đơn phương chung quyết hoàn toàn sai lệch chỉ riêng về mặt quân sự của chính bản thân ông. Cho đến nay, tên tuổi của tên gián điệp này vẫn còn bí mật, chỉ Hà Nội mới biết rõ. Tuy nhiên vào thời gian người nầy cung cấp tài liệu giá trị vô giá vừa kể cho Bắc Việt (cuối năm 1974) thì văn phòng CIA Sài Gòn cũng đã có một bản danh sách gồm “bốn người trong bộ tham mưu thân tín của ông Thiệu” bị tình nghi là có thể làm gián điệp nội tuyến cho Bắc Việt (!?) Nhưng dù có đủ bằng chứng, CIA vẫn không có thể làm gì được đối với họ vì cả bốn người cũng là “những người tâm phúc thân cận với Tổng Thống Thiệu”(25Bis) Trong tổng số “Tứ Nhân Bang” kia lại gồm hai nhân viên cao cấp phụ trách về phản tình báo của cơ quan An Ninh QLVNCH – Và kẹt thay, họ cũng là cộng sự viên lâu đời của CIA - Nếu CIA làm tới (tương tự như đối với Trần Ngọc Hiền, Vũ Ngọc Nhạ, Huỳnh Văn Trọng) thì sẽ làm cho bản thân siêu cơ quan tài giỏi (người, việc gì cũng biết) bị mất mặt - Do đó CIA đành phải in lặng làm ngơ (!) Hơn nữa, xét về quy luật tình báo, khi một điệp viên bị lộ thì giá trị (những nguồn tin họ cung cấp, và bản thân sự khả tín của họ) tất nhiên bị đào thải.

Thật sự, đã từ lâu sau vụ ném bom năm 1962, trong những năm xây cất, sửa chữa Dinh Độc Lập, người Mỹ đã đặt máy vi-âm để nghe tất cả những gì xảy ra nơi đây. Từ đó suy ra, chắc chắn phía cộng sản cũng đã cho cán bộ tình báo trà trộn giả làm công nhân xây cất chỉnh trang, và lén đặt máy nghe lén như người Mỹ đã làm. Tóm lại: Mỹ đã nhận đủ những tin mật phát đi từ Dinh Độc Lập, và phía cộng sản cũng cập nhật không thiếu – Chỉ riêng ông Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu vì “không nghe” được từ cộng sản (lẫn của Mỹ) nên đã có câu nói bất hủ: ”Đừng nghe những gì cộng sản nói..”, và lời tố cáo đối với một “Đồng minh vô nhân đạo (sic!)” mà mãi đến giờ cuối cùng trong buổi từ chức ngày 21 tháng Tư, 1975 mới thấy và nói ra.

2. Chiếm Miền Nam – Biện pháp quân sự “hợp lý, tối ưu”ù của Hà Nội
Được bảo đảm với báo cáo tình báo mật (không thể sai trật) phát xuất từ Dinh Độc Lập; thái độ của Hoa Kỳ không phản ứng sau trận lấn chiếm Tỉnh Phước Long; tăng viện tối đa do Liên Xô; thêm “cam kết” từ Kissinger với Chu Ân Lai (đã được thi hành, thực hiện toàn diện trước, sau Hiệp Định Paris 27/1/74). Cộng Sản Bắc Việt quyết định thi hành kế hoạch thứ hai - Chiến Dịch 275 - Tấn công, chiếm đóng khu vực chiến trường B3 (Cao Nguyên VNCH), chiến trường B4 (vùng phiá Nam Sông Thạch Hãn/Bắc Đèo Hải Vân thuộc hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên). Ngày 5/2/1975, Thượng Tướng Văn Tiến Dũng, Ủy Viên Bộ Chính Trị, Tổng Tham Mưu Trưởng Bộ Tổng Tư Lệnh Quân Đội Nhân Dân vào Nam trên một chiến máy bay Antonov 24 để đích thân chỉ huy chiến dịch. Nhưng hằng ngày, vẫn có chiếc xe chở một người (giống y hệt ông ta “đương nhiên”) đưa “Tướng Văn Tiến Dũng” đến văn phòng; buổi chiều đánh ra sân đánh bóng chuyến cùng binh sĩ thuộc hạ! Màn kịch “thật” đến nỗi tại phiên họp Ban Liên Hợp Quân Sự /TƯ, khi nghe phía VNCH tố cáo về vụ việc lực lượng quân sự cộng sản miền Bắc lấn chiếm Ban Mê Thuộc (sau ngày 10/3/75), viên phó đoàn cộng sản Võ Đông Giang đã có lời phản đối: “Về cái gọi là vụ lấn chiếm Ban Mê Thuộc của Quân Đội Nhân Dân/Nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là một vu cáo có hệ thống, vi phạm “tinh thần hòa hợp hòa giải dân tộc” mà Hiệp Định Pa-ri đã đề cao”. (26)
Và tại Hà Nội, tại buổi họp hai ngày sau khi Phước Long (8/1/1975) thất thủ, Phạm Văn Đồng đã tuyên bố với các ủy viên Bộ Chính Trị/Đảng Lao Động: “Bây giờ thì dù bằng cách nào, người Mỹ cũng không còn có thể gởi quân đội sang tham chiến tại Việt Nam được nưã. Họ có thể yểm trợ bằng không quân hay hải quân, tuy nhiên hai quân chủng này cũng không thể đem lại sự chiến thắng cũng như cứu vãn thất bại. Nói chơi cho vui nhưng mà cũng đúng sự thật là dù có cho ăn kẹo, người Mỹ cũng không dám trở lại Việt Nam.” (27)

Mặt trận Vùng II: Mất Ban Mê Thuộc; rút bỏ Cao Nguyên
Ngày 10 tháng 3, 1975, Tướng Văn Tiến Dũng xử dụng bốn sư đoàn bộ binh (F10, 316, 320, và 968 (từ Lào rút về) và Sư Đoàn 314 tổng trừ bị của quân đội Miền Bắc, được yểm trợ bởi một lực lượng pháo binh gồm bốn trung đoàn pháo (lớn hơn cấp số một sư đoàn/ba trung đoàn), hai trung đoàn chiến xa nặng T54 tiến chiếm Ban Mê Thuộc, mở đầu trận chiến Tây Nguyên. Nếu cộng thêm với những đơn vị pháo binh và hậu cần khác thì lực lượng của cộng sản Bắc Việt trong cuộc tấn công Tây Nguyên lên tới khoảng 7 sư đoàn tức là 28 trung đoàn. Đối lại, về quân số, thì Việt Nam Cộng Hoà chỉ có khoảng 2 trung đoàn – Tỷ lệ 2/28. Cộng sản mở màn cuộc tấn công với 6000 viên đạn bắn đi trong đợt thứ nhất (10/3), và tổng cộng trên 11, 000 đạn đại bác trong vòng những ngày thuộc tuần lễ đầu tiên (10 - 17/3) - Cũng Ngày 17 Tháng Ba - Lệnh rút bỏ Cao Nguyên thực hiện chiến lược gọi là “Đầu Bé Đít To” được thi hành qua một “khẩu lệnh” của Tổng Thống VNCH, kiêm Tổng Tư Lệnh QLVNCH, Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu trong cuộc họp đúng 117 phút tại Cam Ranh (ngày 14/3): “.. Tôi ra lệnh cho anh (Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Tư Lệnh Quân Đoàn II) mang chủ lực quân, chiến xa, đại bác, máy bay về phòng thủ duyên hải và tổ chức hành quân tái chiếm Ban Mê Thuộc. Lệnh này từ cấp tỉnh trưởng kiêm tiểu khu trưởng trở xuống không được biết - Có nghĩa là các lực lượng Địa Phương Quân vẫn ở lại chiến đấu. Các cơ sở hành chánh ba tỉnh Pleiku, Kontum, Phú Bổn vẫn tiếp tục làm việc cùng với tỉnh trưởng, quận trưởng như thường lệ!!... Ngừng một lát, Tướng Thiệu kéo một hơi thuốc thật dài. Mặt ông tự nhiên đanh lại, nhìn vào các Tướng Khiêm, Viên rồi dõng dạc nói: “Quyết định mang tất cả chủ lực quân, chiến xa, pháo binh, máy bay của Quân Đoàn II khỏi Pleiku, Kontum, tôi đã thảo luận với các tướng lãnh. Đây là một quyết định chung của Hội Đồng Tướng Lãnh, như quyết định hôm qua cho Tướng Trưởng ngoài Quân Đoàn I.” (28)

Cuộc “lui quân về đồng bằng để phối trí lực lượng” lừa phía cộng sản chỉ được một ngày. Đến ngày 18 tháng 3, khi đoàn quân, dân đến Hậu Bổn, Tỉnh Phú Bổn, thì bị cộng sản bắt đầu truy kích, pháo kích và tấn công vào đoàn người và đoàn xe đang bị kẹt. Ngày 22 tháng 3, cây cầu Sông Ba được ráp xong nhưng vì xe và người tràn lên cầu quá đông khiến cho cầu sập. Phải mất thêm một thời gian nưã để sưả cầu, và cho đến ngày 27 tháng 3 thì đoàn người này mới về đến Tuy Hoà vào khoảng 9 giờ đêm.
Tướng Cao Văn Viên sau nầy trong cuốn The Final Collapse có kết luận: “.. Nhìn từ quan điểm quân sự, cuộc triệt thoái hoàn toàn thất bại, hầu như tất cả các đơn vị rút về từ Kontum-Pleiku đều bị thiệt hại. Theo Đại Tá Lê Khắc Lý, Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn II, chỉ có 5000 quân trong số 20, 000 quân nhân trong các đơn vị yểm trợ, tiếp vận về được Tuy Hoà. Chỉ có 900 người trong số năm Liên Đoàn Biệt Động Quân về trình diện ở Nha Trang…. Tổng số 200,000 dân chúng hai tỉnh Pleiku và Kontum di tản, chỉ có khoảng 60,000 người về được Tuy Hoà và Nha Trang. Cuộc triệt thoái Cao nguyên là một thất bại chiến lược về phương diện quân sự: 75% lực lượng của Quân Đoàn II gồm Sư Đoàn 23, Biệt Động Quân, Thiết Kỵ, Pháo binh, Truyền Tin và Công binh bị tiêu diệt chỉ trong vòng có 10 ngày.. Kế hoạch tái chiếm Ban Mê Thuột cũng thất bại vì quân đoàn không còn quân. Cộng sản chiếm được Kontum và Pleiku mà không tốn một viên đạn. (29) Và Tướng Viên lại quy trách nhiệm nầy hoàn toàn thuộc về Tư Lệnh Phạm Văn Phú (?)

Mặt trận Vùng I: Rút bỏ Huế, Đà Nẵng..
Trước, sau ngày ký Hiệp Định Paris 27/1/1973, tại mặt trận vùng giới tuyến nam sông Bến Hải (Vùng I Chiến Thuật/VNCH hay là Mặt Trận B2 do Bộ Tổng Quân Ủy, Bộ Tổng Tham Mưu Miền Bắc trực tiếp điều động, chỉ huy), phía cộng sản có các đơn vị: Ba sư đoàn bộ binh 341, 325C, 324B (vùng Bắc Đèo Hải Vân - Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế); Nam Hải Vân có SĐ304 và SĐ2 “Sao Vàng” hoạt động trong lãnh thổ Quảng Nam - Quảng Tín - Quảng Ngãi của VNCH; 9 turng đoàn độc lập tương đương với ba sư đoàn bộ binh; các trung đoàn chuyên đánh đặc công.. Tất cả được phối hợp yểm trợ bởi ba trung đoàn chiến xa, đại pháo, phòng không đủ loại (kể cả đại pháo tầm xa 130 ly từ bên kia sông Bến Hai). Đối lại phía QLVNCH gồm có: Ba sư đoàn bộ binh cơ hữu: 1,2,3; Hai sư đoàn nhảy dù & TQLC tổng trừ bị; Bốn liên đoàn Biệt Động Quân; Ba thiết đoàn kỵ binh thống thuộc ba sư đoàn bộ binh kể trên; Một lữ đoàn kỵ binh có một Thiết Đoàn Chiến Xa M48. Ngoài các tiểu đoàn pháo 105 cơ hữu của các sư đoàn bộ binh, ND, TQLC; còn có các tiểu đoàn pháo 155, và 175 ly thuộc quyền xử dụng của BTL Quân Đoàn I (Đà Nẵng) yểm trợ tổng quát. Qua năm 1975, Vùng I không còn ở tình thế “quân bình và tương đối vững của 1972-1973”, và có thể do “rút kinh nghiệm của vụ việc “bỏ Tây Nguyên” với một loạt “lệnh và phản lệnh” bắt đầu từ ngày 11 tháng Ba (nhắc lại: 10/3 là ngày N của chiến dịch 275 của phía cộng sản) đến ngày 17/3 với kết quả thảm hại như đã trình bày, việc “phối trí lực lượng” theo quyết định của ông Thiệu đối với Vùng I có vẻ hợp lý vì kéo dài được tới “Mười (10) Ngày” chứ không phải chỉ “Năm (5) Ngày” như lần bỏ Tây Nguyên!!

Song song, cùng lần (trước “thành tích thảm hại do tái phối trí lực lượng” ở Tây Nguyên một ngày), Ngày 13 Tháng Ba, tại phiên họp tại Dinh Độc Lập gồm TThThiệu, TTgKhiêm, ĐTgViên, Cố Vấn Quang, hai tư lệnh TTgTrưởng và TTgToàn, ông Thiệu lần đầu tiên chính thức tuyên bố: “Với khả năng và lực lượng ta đang có, chắc chắc chúng ta không thể bảo vệ bảo vệ được tất cả lãnh thổ muốn bảo vệ. Như vậy chúng ta nên “tái phối trí lực lượng” và bảo vệ những cùng đông dân, trù phú, vì những vùng đất đó mới thực sự quan trọng”. (Khi Đồng Minh Tháo Chạy của NTHưng, và The Final Collapse của CVViên (Bản dịch Nguyễn Kỳ Phong, Những Ngày Cuối Cùng của VNCH) ghi là Ngày 11 Tháng 3)- Sở dĩ có cuộc họp và lời tuyên bố (tai họa) như trên vì ngày 10 tháng Ba khi lực lượng cộng sản tấn công BMT cũng là ngày Chủ Tịch Thượng Viện Trần Văn Lắm từ Mỹ trở về với tin sét đánh: Không những không có 300 quân viện triệu tăng cường (để đủ số 1 tỷ như đề nghị) mà cũng không có 700 triệu đang đệ trình quốc hội Mỹ chuẩn dự chi. Tóm lại, ông Thiệu chỉ còn trước mắt con đường mà Tướng Murray (Tùy Viên Quốc Phòng Cơ Quan DAO) và ban tham mưu đã đệ trình cho ông trước năm tài khoá 1975 với kết luận: Ông hãy coi như mất tiền viện trợ cũng như mất đất vậy!! Cách đánh giá nầy cũng là nền tảng của phân tích đồng hợp soạn của Cố vấn chính trị Đặng Văn Quang và chuyên viên người Úc Ted Sarong để đi tới kết luận chung: “Với tiềm năng (qua viện trợ Mỹ bị cắt giảm) quân sự còn lại, VNCH KHÔNG THỂ GIỮ ĐƯỢC TẤT CẢ CÁC LÃNH THỔ.(30)

Nhưng dù là ngày 11 hay ngày 13 (Nghĩa là cũng phải sau ngày 10 tháng Ba như vừa), Tướng Trưởng cũng nhận được một “Mật Lệnh Chết Người”: “Chuẩn bị rút khỏi Vùng I (càng sớm càng hay) với sự kiện mở đầu “hoàn trả Sư Đoàn Nhảy Dù về lại Bộ Tổng Tham Mưu trong vòng ba tuần lễ”. Chỉ từ sự việc rút sư đoàn Dù khỏi Vùng I chúng ta đã thấy có đến bốn nhận định khác biệt:
1/ Để có lực lượng trừ bị cho hành quân giải toả Ban Mê Thuộc (theo lệnh của Bộ Tổng Tham Mưu ngày 12/3 - Cũng là ý của ĐTViên trong NNCCCVNCH)
2/Để có lực lượng phòng thủ Sài Gòn (sau khi cộng sản tổng tấn công BMT, và những vị trí Miền Đông Nam Bộ, Phước Long, Bình Long (An Lộc). Phân tích của The VN Experience/The Fall of the South.
3/Để có đủ lực lượng bảo vệ những vùng dân cư (Chiến lược “Đầu Bé Đít To” của NVThiệu được tuyên bố chính thức trong buổi họp 11 (hay13) tháng 3)
4/Cố ý xé lẻ Sư Đoàn Nhảy Dù (hay lực lượng tổng trừ bị quốc gia nói chung) để đề phòng đảo chánh (Hồi ký “Thiệu Xé Lẻ SĐND Như Thế Nào – Tướng Lê Quang Lưỡng, Tư Lệnh cuối cùng của Dù)
Tướng Trưởng khẩn thiết trình bày: Dẫu Vùng I có nghiêm trọng thế nào đi nữa, dân, quân vẫn đủ khả năng và tinh thần chiến đấu như đã một lần chứng tỏ qua lần giữ vững Huế (1968) và tái chiếm Cổ Thành Quảng Trị (9/1972). Ông chỉ xin giữ lại một lữ đoàn nhảy dù (LĐI Dù) để làm thành phần trừ bị và bố trí quân theo một kế hoạch mới với những vị trí, lực lượng được phối trí như sau (Từ 13 đến ngày 20 tháng 3/1975):
- Bắc Đèo Hải Vân (Huế là trọng điểm): Lữ Đoàn 147 TQLC + Liên đoàn 14 BĐQ bảo vệ phòng tuyến Mỹ Chánh-Sông Bồ (Bắc Huế); SĐIBB bảo vệ phòng Tuyến Tây Nam; Lữ Đoàn 369 TQLC trấn giữ Phú Lộc, Nam Thừa Thiên (Bắc Bắc Đèo Hải Vân
- Nam Hải Vân (Căn cứ Chu Lai làm trọng điểm) gồm lực lượng Sư Đoàn 2, và 3 BB; SĐ/TQLC (-) thay thế các Lữ Đoàn 2, và 3 Dù (rút về miền Nam theo lệnh của TTThiệu) giữ mặt Tây-Nam quận Đại Lộc, Thường Đức vùng cận sơn thuộc tỉnh Quảng Nam.
Tóm lại từ lượng giá của Tướng Murray, phân tích hợp soạn bởi Đặng Văn Quang và Ted Sarong đến quyết định bỏ đất, bỏ dân cuả ông Thiệu đã không phải là một điều bí mật.. Dinh Độc Lập, Toà Đại Sứ Mỹ, Văn Phòng CIA, Đài Phát Thanh BBC, báo chí Mỹ.. Nghĩa là tất cả mọi người ai cũng biết – Thế nên phía cộng sản, bộ chính trịtrung ương đảng tại Hà Nội là phải là đơn vị BIẾT RÕ NHẤT KẾ HOẠCH DI TẢN CỦA ÔNG THIỆU – Cuộc di tản khỏi Tây Nguyên kể từ ngày 17/3 đang xẩy ra là một xác chứng cuối cùng – Hà Nội dồn toàn lực công khai dứt điểm Miền Nam chứ không đợi đến 1976 (Năm bầu cử tổng thống ở Mỹ như dự định ban đầu). Cuối cùng Ông Thiệu gọi Tướng Trưởng về Sài Gòn ngày 19 tháng Ba để có quyết định Ngày 20 tháng Ba.
Nếu cuộc họp tại Cam Ranh ngày 14/3 đưa đến quyết định rút Tây Nguyên ngày 17/3 chỉ lừa được Văn Tiến Dũng, Kim Tuấn (Sư Trưởng SĐ320) một ngày; thì cuộc họp ngày 19/3 tại Dinh Độc Lập (có Phó Tổng Thống Hương tham dự) chỉ lừa được một người: Trung Tướng Trưởng. Bởi Tướng Trưởng không nghe ông Thiệu “nhắc gì đến việc di tản Huế, Đà Nẵng” mà chỉ nhắc nhở ông “giữ bất cứ phần đất nào còn có thể được với lực lượng đang có (bao gồm sư đoàn TQLC)”. Trở ra lại Đà Nẵng, Tướng Trưởng tự tin và tin tưởng sức chiến đấu của quân dân dưới quyền hiện thực khẩu lệnh từ ông tổng thống được phát thanh lúc 1giờ 30 ngày 20/3: “Phải Giữ Huế Bằng Mọi Giá”. Ông bay ra Huế và Quảng Trị quan sát tình hình mặt trận, gặp Tướng Lâm Quang Thi, Tư lệnh tiền phương quân đoàn để xác định khẩu lệnh quyết tâm kia (từ ông tổng thống). Trở về lại Đà Nẵng lúc buổi chiều, tướng Trưởng nghe tin chí tử: Chỉ giữ lại Đà Nẵng thôi, hoàn trả ngay Lữ Đoàn I Nhảy Dù về Sài Gòn. Lập kế hoạch di tản lực lượng bắc Đèo Hải Vân (Sư Đoàn I Bộ Binh, Lữ Đoàn147TQLC; Liên Đoàn 14 BĐQ; Tiểu Khu Thừa Thiên..) bằng đường thủy với hai điểm bốc quân tại Cửa Thuận An, sau đổi thành Cửa Tư Hiền (Bắc và Nam của Phá Tam Giang).
Chưa kể gia đình binh sĩ của những đơn vị địa phương, chỉ riêng dân chúng Thừa Thiên-Huế đã là 600.000 con người tràn vào Đà Nẵng; toàn bộ cứ điểm Nam Hải Vân, căn cứ Chu Lai nơi tập trung các đơn vị SĐ2, 3 Bộ Binh, Tiểu Khu Quảng Ngãi; dân chúng của hai tỉnh Quảng Tín, Quảng Ngãi tất cả nằm trong túi lửa của đại pháo cộng sản.. Cuộc lui binh ngày 25, 26 tại cửa Thuận An, sau đó tại cửa Tư Hiền hiện thực nên cảnh địa ngục có thật. Phía Chu Lai (SĐ2 và gia đình) di chuyển ra Cù Lao Ré cường đôä bi thảm chỉ nhẹ hơn đôi phần. Thêm 200,000 người sống sót của vùng đất phía Nam đổ vào Đà Nẵng nâng tổng số cư dân trong thành phố lên mức hai triệâu con người trong một vùng đất chỉ rộng bằng từ Garden Grove đến Santa Ana.
Ngày 25 tháng Ba, sáu giờ, Tướng Ngô Quang Trưởng nhận được lệnh cuối cùng phải bỏ Huế, cố đô triều đình Nhà Nguyễn. Thủy Quân Lục Chiến, Liên Đoàn 14 Biệt Động và Sư Đoàn I đồng tập trung tại cửa biển Thuận An, đông-nam Huế. Đề đốc Chung Tấn Cang gởi một số vận tải hạm ra cửa Thuận An để đón đoàn quân cùng đám dân chạy loạn. Nhưng muốn đến bờ biển, lên tàu lớn, đoàn người di tản phải qua phà Thuận An.. Thế nên, tại đây lại một lần tái lập cảnh tượng nơi Sông Ba, Tuy Hòa mười ngày trước. Thật sự chỉ đúng một tuần. Điều đau đớn này xẩy ra như một việc tất nhiên. Bắt đầu là vô tổ chức, tiếp tới hỗn loạn và sau cùng là.. bạo loạn. Công binh không thể bắc phà qua sông, tàu lớn không vào sát bờ, người di tản trong cơn khiếp đảm bởi cái chết dâng đầy, tràn ngập, vùng vẫy tuyệt vọng từng giây phút ngắn tranh sống. Tiền sát viên pháo binh cộng sản điều chỉnh mục tiêu không phí một quả đạn. Đoàn người trần trụi trên giòng sông dưới đạn pháo. Cảnh bi thảm không phải chỉ bày ra nơi cù lao cửa Thuận An, tiếp đến Cửa Tư Hiền (Nam Phá Tam Giang). Một trăm cây số đường từ Huế vào Đà Nẵng dầy đặc xe và người. Hỏi người lính nào còn chiến đấu được với tình cảnh con trên lưng, vợ đang cơn nguy khốn? Khi đoàn xe di tản bị tắt nghẽn trong vũng lửa, người bỏ hết của cải, hành lý, bế con trên tay, đầu gục xuống, lần từng bước đường về nam..

Cơn hấp hối của Đà Nẵng không kéo dài. Ngày 27 tháng Ba, pháo binh cộng sản bắt đầu bắn thăm dò vào Đà Nẵng từ những vùng lân cận vừa lấn chiếm. Hỏa lực pháo binh cộng sản tập trung vào Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn I và căn cứ Hải Quân Tiên Sa, bến tàu chân cầu Trịnh Minh Thế, các địa điểm thực hiện kế hoạch di tản. Nhưng thực tế không còn kế hoạch nào nữa, bởi các địa điểm, căn cứ kia đã là những vị trí hỏa tập. Đặc công cộng sản trà trộn vào đám đông điều chỉnh từng quả đạn nỗ chính xác giữa những thân người chen chúc. Ngoài khơi Đà Nẵng, một hạm đội chực sẵn gồm tàu Việt Nam Cộng Hòa, Đại Hàn, Đài Loan, Úc, Anh, Phi Luật Tân.. Qua ngày 28, bãi biển đã thành một nghĩa địa bồng bềnh xê dịch. Người sống sót rẽ người chết đi ra phía chân mây mờ đục khói. Khói sóng, khói đạn pháo binh, chụp thêm khói hỏa tiễn. Nhiều trường hợp, xác chết biến thành cái phao để người “chưa chết” bám víu vẫy vùng, cố sống. Cố gắng sống thêm vài phút ngắn.

Trên những chiếc xà-lan (Theo kế hoạch chỉ thực hiện việc di tản người từ bến cảng đến tàu lớn đậu ngoài hải phận), cảnh ghê tởm, cùng khốn xẩy ra dưới ánh nắng chói chang, biển trời bát ngát. Tàu Pioneer Contender ghé Cam Ranh, căn cứ ngoại vi lớn nhất của Mỹ ở Đông- Nam Á (Trước 1973) , người cha bế đứa con bước xuống bãi cát trắng. Cát nóng sôi lúc nhúc những đầu người cuống quýt. Không âm động lớn, không ầm ĩ ồn ào, chỉ tiếng khẽ rít nhỏ rầm rì giữa những cánh môi khô nẻ, sũi trắng bọt xám.. Nóng quá!Khát quá! Chiếc tàu họ vừa rời khỏi đã là một nghĩa địa di động, nhưng khốn khổ hơn những lò thiêu người Do Thái ở Auschwitz, Birkenau, bởi hơi nóng của vỏ, sàn tàu dưới mặt trời không đủ lượng nhiệt để đốt cháy tiêu da thịt người. Trên sàn, dưới hầm lềnh kềnh những thây chết chưa đúng nghĩa: Những người ngộp thở vì bị đè, ép, dẫm lên. Tất nhiên, người già và trẻ em chiếm phần lớn. (31)

Mặt trận Vùng III với “Chiếc Đầu..” bị vỡ
Sau một loạt suy sụp quân sự như vừa trình bày nêu trên hẳn giới lãnh đạo Hà Nội biết rằng “thời cơ” đã đến - Ngày 19 tháng 3, Sư Đoàn 341,ø đơn vị tổng trừ bị cuối cùng của Miền Bắc vượt sông Thạch Hãn hợp lực với hai sư đoàn 324 và 325 (có mặt từ 1972) tấn công chiếm tỉnh Quảng Trị trong vùng điạ đầu giới tuyến. (Không biết điệp viên nằm vùng trong Dinh Độc Lập có gởi thêm báo cáo nào khác không, nhưng rõ ràng thời điểm trùng hợp với ngày Trướng Ngô QuangTrưởng về Sài Gòn cuối cùng để nhận lệnh “Rút bỏ Huế, Đà Nẵng..”?!) Ngày 20 tháng 3, quân cộng sản chiếm An Lộc (cách Sàigòn 100 cây số đường thẳng hướng chính Bắc); Sau lần mất Huế ngày 26; Quảng Tín ngày 24; Quảng Ngãi ngày 25; và Đà Nẵng ngày 29 tháng 3.. Qua thángTư , đến lượt Quy Nhơn, Nha Trang mất trong hai ngày 1, 2 Tháng 4; tiếp Đà Lạt ngày 4; và Phan Rang ngày 16; Phan Thiết ngày 19 tháng 4.. Quân cộng sản tiến vào những thành phố không bóng người – Quân và dân di tản nhanh hơn bộ đội cộng sản tiến quân.

Ngày 7 tháng 4 năm 1975, Văn Tiến Dũng triệu tập một phiên họp cuả toàn thể Ban Chấp Hành Trung Ương cuả Trung Ương Cục Miền Nam Việt Nam tại Lộc Ninh thì một người khách thình lình xuất hiện, đó là Anh Sáu tức là Lê Đức Thọ, Ủy viên Bộ Chính trị, “Huy chương Nobel Hoà Bình năm 1974” và cũng là nhân vật Số Hai cuả chế độ Cộng sản Hà Nội. Đây là lần thứ tư Lê Đức Thọ vào Miền Nam với tư các là đại diện cho Bộ Chính Trị, trước đó “Anh Sáu Thọ” đã vào chỉ đạo cho Trung Ương Cục vào những năm 1967, 1971 và 1972. Lê Đức Thọ mang những huấn thị cuối cùng cuả Bộ Chính Trị về việc thiết lập một “Bộ tư lệnh đặc biệt chỉ huy cả Trung Ương Cục Miền Nam” để phối hợp các cuộc hành quân tấn công Sài Gòn. Huấn thị cuả Đảng Cộng sản cử Tướng Văn Tiến Dũng làm Tư Lệnh, Phạm Hùng làm Chính Ủy, hai tướng Trần Văn Trà và Lê Đức Anh làm Tư Lệnh Phó. Dĩ nhiên là Lê Đức Thọ có nhiệm vụ chỉ huy toàn thể bộ tư lệnh đặc biệt này, đó là “Bộ Tư Lệnh Chiến Dịch 275.” Lê Đức Thọ cũng chuyển đến cho các thành viên trong bộ tư lệnh chiến dịch một văn thư cuả Chủ Tịch Nhà Nước Tôn Đức Thắng: “Các đồng chí phải chiến thắng. Nếu không thì đừng có trở về.”(32)

Long Khánh nằm trên ngã ba đường Quốc Lộ 20 (đi Đà Lạt) và Quốc Lộ I, lối ra Trung, đường đi Hàm Tân, Phan Thiết. Nơi mặt trận nầy, Thiếu Tướng Lê Minh Đảo và những người lính Sư Đoàn 18 đang giữa trùng vây của lửa. Tiếng gọi là một sư đoàn, nhưng Tướng Đảo chưa hề tập trung đủ lực lượng cơ hữu để điều động trong một cuộc hành quân quy mô cấp sư đoàn. Đầu tháng Ba 1975, Trung Đoàn 48 lại tăng phái cho Sư Đoàn 25 trách nhiệm mặt trận Tây Ninh, vùng Tây Sài Gòn cũng chung Vùng III Chiến Thuật với Sư Đoàn 18. Thế nên khi trận chiến bắt đầu 9 tháng 4, 1975 ông chỉ có một lực lượng sư đoàn (-) gồm những đơn vị:
- Chiến đoàn 43 do Đại Tá Lê Xuân Hiếu chỉ huy gồm trung đoàn 43 (trừ Tiểu Đoàn 2/43 đóng giữ các cao điểm quan trọng) gồm Tiểu Đoàn 2/52 (cơ hữu của Trung Đoàn 52); Tiểu đoàn 82 Biệt Động Quân Biên Phòng của Thiếu Tá Vương Mộng Long. Lực lượng Chiến Đoàn 43 có nhiệm vụ phòng thủ nội vi Xuân Lộc hợp cùng các đơn vị của Tiểu Khu Long Khánh do Đại Tá Phúc làm chỉ huy trưởng.
- Chiến Đoàn 52 của Đại Tá Ngô Kỳ Dũng gồm Trung Đoàn 52 (trừ Tiểu Đoàn 2/52 tăng phái như kể trên) và các đơn vị trinh sát, thiết giáp, pháo binh thống thuộc hành quân. Đơn vị nầy trấn giữ dọc Quốc Lộ 20 (Bắc-Tây Bắc Long Khánh) từ Kiệm Tân (cứ điểm chận đường từ Đà Lạt xuống) đến Ngã Ba Dầu Giây (giao điểm của hai Quốc Lộ I và 20), nút chận về Biên Hòa, nơi đặt bản doanh của Quân Đoàn III, Sư Đoàn 3 Không Quân, thị xã cách Sài Gòn 30 cây số về hướng Bắc.
- Trước khi trận chiến bùng nỗ lớn, Thiếu Tướng Đảo khẩn thiết yêu cầu viên tư lệnh quân đoàn, Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn hoàn trả lại Trung Đoàn 48; khi nhận được trung đoàn nầy về, Tướng Đảo xử dụng đơn vị để trấn giữ mặt đông thị xã - đoạn đường từ Xuân Lộc đến thị trấn Giá Rai, mặt bắc của Ngã Ba Ông Đồn đường đi vào Quận Tánh Linh, Tỉnh Bình Tuy.
Với quân số như kể trên, Sư Đoàn 18 Bộ Binh quả thật đã gánh một nhiệm vụ quá khổ dẫu trong thời bình yên chứ chưa nói về tình thế khẩn cấp của tháng 4, 1975. Trước 1972, vùng nầy được tăng cường một lữ đoàn thuộc lực lượng Hoàng Gia Úc-Tân Tây Lan, Lữ Đoàn 11 Chiến Xa do Đại Tá Patton chỉ huy (con của Danh Tướng Patton của lực lượng thiết kỵ Hoa Kỳ trong Đệ Nhị Thế Chiến) cùng những đơn vị bộ binh, nhảy dù Mỹ; chưa kể đến Sư Đoàn Mãng Xà Vương Thái Lan tăng phái, trách nhiệm vùng Long Thành, dọc Quốc Lộ 15, đường đi VũngTàu.
Thiếu Tướng Lê Minh Đảo không có gì ngoài những người lính gian khổ dưới quyền, những viên sĩ quan cấp úy trung đội trưởng, với quân số còn lại đúng "mười hai-người" chờ đợi để chết trước lần một biển người , chiến xa, đại pháo dập tới. Nếu có một người (chỉ một người thôi) để ông có thể trao lòng tin cậy là một vị tướng nổi danh liêm khiết - Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu, Tư Lệnh Phó Quân Đoàn III- Nhưng oan nghiệt và uất hận thay, trong giờ phút sôi lửa kia, vị tướng trung chính ấy đã chết vì một viên đạn bức tử tại văn phòng do "sẩy tay, lạc đạn khi chùi súng?!"(33)

Đối mặt binh đội của Tướng Đảo là Quân Đoàn IV BắcViệt do Trung Tướng Hoàng Cầm chỉ huy. Một quân đoàn vừa thành hình trong ngày 20 tháng 7, 1974 theo sách lược chung của cộng sản Hà Nội - Toàn phần vất bỏ Hiệp Định Paris, quyết thanh toán Miền Nam bằng vũ lực với trận mở màn thử xem phản ứng của chính quyền, quân đội Mỹ: Tấn Công Thị Xã Phước Long thuộc tỉnh Phước Bình (Đông - Bắc Sài Gòn, tháng 12, 1974) trên đã trình bày. Tướng Hoàng cầm có dưới tay ba sư đoàn: 6, 7 và 341, chưa kể lực lượng địa phương, yểm trợ thuộc Quân Khu 7 cộng sản. Tương quan lực lượng coi như 4 đánh 1. Nhưng cũng không hẳn thế, Hoàng Cầm còn được cả một bộ chính trị đảng cộng sản Hà Nội trực tiếp chỉ đạo, yểm trợ và tăng cường với Văn Tiến Dũng, tổng tham trưởng quân đội Miền Bắc, Phạm Hùng, bí thư Trung ương cục Miền Nam, Lê Đức Thọ ủy viên Bộ chính trị, Bí thư chiến dịch.. Tất cả đang có mặt tại Lộc Ninh, nơi chỉ cách chiến trường Xuân Lộc hơn 100 cây-số đường chim bay. Trước những nhân vật kể trên, Trần Văn Trà, Tư Lệnh Khu 7 báo cáo về tình hình quân sự. Phạm Hùng hỏi về tiếp liệu đạn dược; viên cán bộ phụ trách hậu cần trả lời: "Báo cáo đồng chí, ta có đủ đạn để bắn (bọn ngụy) sợ đến ba đời.."(34) Đấy không không phải là lời nói đùa, vì sau nầy khi thắng lợi nghiên về phía quân cộng hòa, bộ tư lệnh mặt trận (cộng sản) đã cho thay thế Tướng Hoàng Cầm bằng Trần Văn Trà, vốn là người chỉ huy chiến trường miền Đông từ chiến tranh 1945-1954; và tăng cường thêm Sư Đoàn 325, đơn vị tổng trừ bị quân đội miền Bắc, lực lượng nổ lực chính đánh chiếm Nha Trang, Phan Rang đầu tháng 4, và Trung Đoàn 95B biệt lập từ vùng châu thổ sông Cửu Long kéo lên tăng cường- nâng tỷ số tác chiến (ban đầu) lên thành 5 đánh 1.

5 giờ 40 sáng ngày 9 tháng 4, 1975- "Giờ H của Ngày N", chiến dịch đánh chiếm Xuân Lộc bắt đầu với một trận mưa pháo 2000 quả đạn từ nhiều vị trí cùng đổ xuống trung tâm thị xã Xuân Lộc lập lại cảnh tàn sát của một ngày năm 1972, cũng buổi tháng 4 tại An Lộc. Chính xác một giờ sau, 6 giờ 40, tám xe tăng được lính Trung Đoàn 165, đơn vị tiền phong của Sư Đoàn 7 tùng thiết xông vào trung tâm thị xã Xuân Lộc, nơi đặt bộ chỉ huy Sư Đoàn 18. Lính cộng sản ngỡ rằng sau đợt pháo hung hãn, và đội hình ào ạt, bề thế của những chiếc T54, thế nào cũng sẽ tràn ngập mục tiêu dễ dàng như đã xẩy ra ở những mặt trận "không cần giao tranh" ở Vùng I và II của tháng 3 vừa qua. Họ cũng được học tập, "Sư Đoàn 18 chỉ là một đơn vị bộ binh tầm thường, nếu không nói là yếu kém" Nhưng hoàn toàn không phải là như thế, những xe tăng nầy mắc kẹt giữa bãi mìn của một hệ thống tám lớp kẻm gai và mìn bẫy mà Thiếu Tướng Đảo đã sẵn bố trí; không những chỉ thế, những phi cơ A37 và F5 từ phi trường Biên Hòa được gọi đến chỉ sau ít phút cất cánh và trên đồng trống, giữa những khu rừng cao su đều đặn, đội hình của toán quân tùng thiết và chiến xa cộng sản trở nên thành mục tiêu lộ liễu, trần trụi. Mặt đông của thị xã, dọc Quốc Lộ I, Trung Đoàn 209 (cũng của SĐ7CS) số phận cũng không mấy khả quan - Bởi họ gặp một đơn vị đang cơn uất hận - Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân của Thiếu Tá Vương Mộng Long. Sau nầy Hoàng Cầm ghi lại trận đánh trong Hồi Ký “Lịch Sử Quân Đội Nhân Dân”.. "Những đợt xung phong đánh vào sở chỉ huy của Sư Đoàn 18 và hậu cứ Trung Đoàn 52 ngụy đều không thành công. Chiến sĩ ta giành giựt với điïch từng đoạn giao thông hào, qua mỗi căn nhà, căn phố. Điều đáng ngạc nhiên là cuộc tấn công đã bị chận lại không phải chỉ do pháo binh và không quân yểm trợ, hệ thống phòng thủ vững chắc và sức chiến đấu ngoan cố của Trung Đoàn 43 ngụy, nhưng điều đáng nói là Đảo đã tổ chức cho từng người lính thuộc sư đoàn mỗi một vị trí chiến đấu”

Mặt trận phía bắc của Sư Đoàn 341 tương đối khả quan hơn, một phần địa thế không thích hợp cho việc bố phòng của Chiến Đoàn 52 do Trung Tá Ngô Kỳ Dũng chỉ huy. Viên tư lệnh sư đoàn cộng sản Trần Văn Trấn đi theo với Trung Đoàn 266, đích thân chỉ huy cuộc tiến công. Bộ đội cộng sản tùng thiết thoạït tiên mở được đường qua lớp kẻm gài, mìn bẫy thứ nhất tiến gần đến vùng "Hố Heo Rừng", nơi Quốc Lộ I chạy một đường quanh gắt trước khi đổ vô thị xã. Nhưng quả như ước tính của Tướng Đảo, đại đội trinh sát của Đại Úy Đa giăng một hàng lưới lửa bằng đại liên 50 chống chiến xa, hiệp cùng máy bay AC119 Hỏa Long tự tầng trời đan kín thêm bằng đại liên Minigun bốn nòng chống biển người vô cùng hữu hiệu. õ. Đại Đội Trinh Sát của Đại Úy Lê Phú Đa lập lại thành tích "1 chống 16 - Một đại đội chận đứng mũi tiến công một trung đoàn"

Tổng kết ngày chiến trận đầu tiên, chỉ riêng Sư Đoàn 341 đã bi thiệt hại khoảng 600 chết và bị thương cùng một số tù binh ba-mươi người bị bắt giữ. Đám thanh thiếu niên nông thôn Miền Bắc ngồi ngơ ngẫn giữa nhà cửa, gạch ngói tan vỡ do đạn pháo họ vừa thực hiện, hiểu mường tượng ra một phần ý nghĩa của công tác "giải phóng" sau lần giao tranh với quân lực Miền Nam. Buổi chiều, Thiếu Tướng Đảo khi đi thanh sát mặt trận bên trong thị xã không quên ra lệnh cho Phòng Quân Tiếp Vụ sư đoàn trích một số khẩu phần lương khô để nuôi ăn đám tù binh còn rất mới. Buổi chiều tối ngày 9 tháng 4 không hẳn là thời gian nghỉ ngơi, phía cộng sản lại dụng tâm gây căng thẳng bằng cách pháo vào khu vực thị xã thêm một loạt liên tục, cũng khoảng 2000 ngàn quả đạn trên khắp các vị trí, không loại trừ khu vực dân chúng, nhà thương, chùa, nhà thờ.. Đêm 9 rạng 10, ngày 11 tháng Tư, 1975 ở Xuân Lộc cuộc pháo kích cũng mang chung một tính chất với cường độ ác liệt hơn- do để yểm trợ cho bộ binh tiến chiếm bởi Bộ tư lệnh Quân Đoàn 4 cộng sản vẫn không tin quân phòng thủ Xuân Lộc đứng vững sau hai cuộc tấn công. 5giờ 30 sáng ngày 11, đợt tấn công thứ hai bắt đầu. Sư Đoàn 341 tiến chiếm từ hướng Tây-Bắc dọc Quốc Lộ 20; Sư Đoàn 7 từ mặt Bắc đâm thẳng vào thị xã; Sư Đoàn 6 từ hướng Đông, chân núi Chứa Chan nơi đặt bộ tư lệnh chiến dịch của Quân Đoàn 4. tất cả ba mũi dùi đồng hẹn ở điểm đến: Trung tâm thị xã, Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 18. Kết quả cũng tương tự như ngày 9, quân cộng hòa giữ chắc vị trí, có khác chăng thêm một số chiến xa bị bắn hạ trên tuyến phòng ngự và một số tù binh bị bắt. Những ngày chẳng mấy vinh quang nầy được Hoàng Cầm viết lại trong Lịch Sử Quân Đội Nhân Dân:" Trong ba ngày đầu tiên của chiến dịch, Sư Đoàn 7 bị tổn thất 300 chiến sĩ; Sư 341 thiệt hại 1,200.. Cụ thể tất cả pháo 85 và 57 ly đồng bị phá hũy "(35). Cùng lúc Văn Tiến Dũng cũng phải thú nhận trong Đại Thắng Mùa Xuân: "Từ ngày đầu mặt trận Xuân Lộc đã diễn ra vô cùng gay go, ác liệt. Những sư đoàn của ta.. tổ chức nhiều đợt tấn công vào thị xã, đánh đi đánh lại để chiếm từng vị trí, và phải đẩy lui nhiều cuộc phản công của địch." Cùng ngày Không Quân VNCH cũng góp thêm vào chiến thắng qua hủy diệt hơn 100 xe quân sự tăng viện cho mặt trận.

Ở Sài Gòn, không khí lạc quan nùng lên, Tổng Thống Thiệu thúc dục Tướng Toàn cố gắng giữ vững Xuân lộc để có thế đão ngược tình thế.. Để "B52 có thể trở lại"! Tướng Toàn xử dụng Lữ Đoàn 3 Thiết Kỵ do Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi từ Trãng Bom cố mở đường tiếp cận với cánh quân ở Xuân Lộc, lực lượng thiết kỵ không thành công trong việc phá chốt ở Ấp Hưng Lộc. Không thành công trong việc dùng lực lượng chiến xa để giải toả áp lực của cộng sản tại Xuân Lộc, Tướng Toàn xử dụng một thành phần hữu hiệu hơn- Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù gồm bốn tiểu đoàn 1, 2, 8 và 9 được Tiểu Đoàn 3 Pháo Binh Dù trực tiếp yểm trợ- Cuộc hành quân không vận lớn nhất của trận chiến thực hiện trong hai ngày 11, 12 đưa đơn vị tổng trừ bị cuối cùng của Miền Nam vào trận. (36) Sự xuất hiện của lực lượng nhảy dù tại trận địa đặt nên vấn đề nghiêm trọng đối với tập thể lãnh đạo bộ tư lệnh chiến dịch. Chiều ngày 11 tháng Tư, Văn Tiến Dũng, Lê Đức Thọ, Trần Văn Trà duyệt soát lại kế hoạch tấn công theo chiều hướng mới. Dũng có ý kiến: "Nếu địch tăng cường lực lượng phòng thủ Xuân Lộc thì ta không cần phải tập trung lực lượng để tấn công chúng nữa.. Chúng ta nên xử dụng sức mạnh của mình để đánh những lực lượng ngoại vi (hàm ý chỉ lữ đoàn Dù) trước khi chúng đặt chân xuống đất.. cũng nên dùng pháo tầm xa phá hũy căn cứ Biên Hòa để máy bay chúng không thể cất cánh" Nội dung buổi hội cũng bàn thảo lại chiến thuật tấn công chính diện mà đã không đem lại kết quả từ bốn ngày qua. Hẳn Trà và giới chức lãnh đạo trung ương cục không quên lần tấn công thất bại An Lộc của Mùa Hè 1972, cũng trên địa bàn Quân Khu III nầy với lực lượng Quân Khu 7 Cộng Sản.

Theo quan điểm của Văn Tiến Dũng, Tướng Hoàng Cầm, Tư Lệnh Sư Đoàn 7 ra lệnh cho các Trung Đoàn 165, 266 tiếp tục giữ vững vị trí đang trách nhiệm để sau đó từ từ rút đi, riêng Trung Đoàn 209 trở hướng tấn công vào lực lượng nhảy dù vừa nhảy xuống trận địa. Trong khi chuyển hướng tấn công bằng cách đi vòng Xuân Lộc để (thực sự) tiến thẳng về Sài Gòn. Trần Văn Trà thay thế Hoàng Cầm để trực tiếp thực thực hiện kế hoạch. Ngày 13, Trà họp ban tham mưu của Quân Đoàn 4 để thông báo về việc thay đổi kế hoạch với luận cứ chính xác: "Địch tăng cường phòng thủ Xuân Lộc sẽ gây nhiều bất lợi cho ta nếu cứ tiếp tục tấn công thị xã.. Thế nên, nếu chúng ta tiến chiếm Dầu Giây (nam Xuân Lộc, trên Quốc Lộ I, lối về Biên Hòa) thì Xuân Lộc không còn nằm trong tuyến phòng thủ của chúng nữa. đồng thời ta xử dụng pháo tầm xa 130 ly pháo sân bay Biên Hòa thì địch sẽ bị hạn chế khả năng dùng phi cơ xuất kích yểm trợ." Trong chiều hướng của kế hoạch nầy, lực lượng cộng sản dần rút đi nới rộng vòng đai phòng thủ của thị xã. Tướng Đảo lập tức ra lệnh cho các đơn vị chiếm lại những vị trí bị phía cộng sản chiếm giữ, tiếp nhận thực phẩm, quân trang, đạn dược và tải thương. Hai trái bom CBU 55 "Daisy Cutter" nặng 15.000 cân Anh rơi xuống từ lòng chiếc C130 phá toang một vùng rộng lớn trong phòng tuyến của quân cộng sản dọc Quốc Lộ 20 tăng cường thêm sự quyết tâm giữ vững Long Khánh của phía quân cộng hòa, nhưng cũng chính là màn khói giúp cho lần rút đi của bộ đội cộng sản với 235 xác đếm được trên trận địa thêm phần hợp lý - Không một ai trong Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III ở Biên Hòa, nơi Phòng Hành Quân Tổng Tham Mưu Sàigòn có ý niệm: Phía cộng sản sẽ siết chặt Biên Hòa-Sài Gòn với hai gọng kềm (hướng Bắc và Đông) bằng cách cắt Quốc Lộ I ở Dầu Giây và Quốc Lộ 15 ở Long Thành qua thay đổi quan niệm chiến thuật theo tình hình thực tế (của thất bại) Long Khánh - Và họ biến thất bại nầy thành một kế nghi binh. Kế sách nầy càng thêm hữu hiệu khi mặt trận được tăng cường thêm hai đơn vị mới, Sư Đoàn 325, tổng trừ bị quân đội Miền Bắc, đơn vị chủ lực trong trận tấn công Nha Trang, Phan Rang ngày đầu tháng 4; và Trung Đoàn 95B biệt lập từ đồng bằng Sông Cửu Long điều động lên.

Tòa Đại Sứ Mỹ phấn khởi trước chiến thắng Long Khánh cố nài Quốc Hội Mỹ chuẩn chi $722 triệu quân viện khẩn cấp cho Việt Nam, nhưng đến phiên họp ngày 17 tháng 4, Ủy Ban Quân Sự Thượng Viện bác bỏ thẳng thừng, như câu nói bất cậïn nhân tình của hai Thượng Nghị Sĩ Jacob Javits và Edmund Muskie trong show truyền hình đại chúng "Face the Nations".."Cho tiền để lo việc di tản thì bao nhiêu cũng được chứ một xu cho ngân sách quân sự cho Thiệu cũng không có" (37). Hai con người nầy ngày 15 tháng Ba vừa qua cũng đã "cứu giúp" toàn bộ Dân Tộc Campuchia với giá tiền đúng $82.5 triệu đô-la Mỹ

Chiến trận lắng xuống, các đơn vị cộng sản dần rút đi, chỉ còn pháo kích cầm chừng vào các vị trí phòng thủ. Ngày 20 tháng 4, Tướng Toàn và Đại Tá Thọ, Trưởng Phòng Hành Quân Quân Đoàn III đích thân đến giao cho Tướng Đảo một lệnh mơ hồ như vô cùng kích động: Rời bỏ Xuân Lộc về bảo vệ mặt trận Sài Gòn - Hóa ra quân cộng sản đã hoàn tất kế sách bỏ trống Xuân Lộc từ một tuần trước. Thiếu Tướng Đảo phản đối, nhưng viên tướng tư lệnh khẳng định: Đó là lịnh của Ông Thiệu! Lại "Tổng Thống Thiệu", đầu mối của mọi điều hư hại và dỡ dang. Thiếu Tướng Lê Minh Đảo chỉ có đúng nửa ngày để hoàn tất một kế hoạch rút quân – Rút lui với lực lượng một sư đoàn cùng các đơn vị tăng phái và yểm trợ, chưa kể thành phần diện địa của Tiểu Khu Long Khánh.
Hành quân rút lui là hình thái hành quân khó nhất - Bởi đã mang sẵn mầm thất bại- Những danh tướng quân sử thế giới mấy ai thực hiện được kể cả Hốt Tất Liệt, Napoléon, Rommel.. Nhưng như một phép mầu - một mầu nhiệm của trí tuệ và dũng lược, cộng thêm lòng yêu thương chiến sĩ, đơn vị thật tình. Thiếu Tướng Lê Minh Đảo cuối cùng cũng hoàn tất cuộc rút binh về Bà Rịa, bảo toàn đơn vị và vũ khí, thậm chí đến hai khẩu pháo 175 ly hạng nặng cũng giao lại cho quân đoàn. Cũng một phần, lực lượng giữ phần tập hậu là Lữ Đoàn 1 Nhẩy Dù do Trung Tá Nguyễn Văn Đỉnh chỉ huy. Trung Tá Đỉnh là Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 6 Dù - Đơn vị đã giải tỏa An Lộc trong trận đánh ngày 8 tháng 6, 1972 mà đơn vị cộng sản đóng chốt ở Xa Cam, nam An Lộc chỉ còn đúng một người - Tù binh tên Nguyễn Văn Tiền.
Cũng có một điều cần ghi thêm là Chuẩn Tướng Lê Quang Lưỡng, Tư Lệnh Sư Đoàn dù đã bất chấp lệnh của tổng tham mưu, vất bỏ mưu đồ "xé lẻ" đơn vị bách thắng nầy của ông Thiệu (do lo sợ một cuộc đảo chánh - mà thật sự là một mối sợ đối với những tay hoạt đầu chính trị nơi Miền Nam từ 1960 cho đến bấy giờ) nên đã gởi một đơn vị nhảy dù khác - Tiểu Đoàn 7 Nhẩy Dù do Trung Tá Nguyễn Lô, Lô "lọ rượu" đơn độc đưa quân đi ngược Tỉnh Lộ 2 (từ Bà Rịa (Phước Tuy) lên Long Khánh) đón đoàn quân di tản. Nguyễn Lô dẫn quân đi như ánh chớp, và Tiểu Đoàn 7 Dù là đơn vị cuối cùng chận giặc nơi Cầu Xa Lộ, cửa ngỏ chính của Sài Gòn ở hướng Bắc.

III Hậu Từ:
Vào thời điểm cuối cùng của Miền Nam, tại Sài Gòn, từ những ngày đầu tháng 4, 1975 Cựu Bộ Trưởng Thông Tin Chiêu Hồi Hoàng Đức Nhã nay giữ chức vụ cố vấn riêng của Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu đã có mặt tại Singapore theo lời mời của Thủ Tướng Lý Quang Diệu. Thủ Tướng Lý vào thẳng vấn đề: "Đừng để mất thì giờ vô ích, tôi mời ông tới đây bởi kết thúc (ở Việt Nam) sắp xẩy đến. Rockefeller vừa hỏi ý kiến tôi cũng như những vị lãnh đạo Á Châu khác, liệu chúng ta có cách gì để đưa ông Thiệu ra đi hay không."(38) Thủ Tướng Lý không nói thêm điều gì khác - Việc "ai" sẽ thay thế ông Thiệu là vấn đề của Sài Gòn với những người như Đại Tướng Minh, Khiêm, hoặc Cựu Phó Tổng Thống Kỳ.. Ông chỉ thúc dục cố vấn Nhã: "Hãy khẩn báo cho ông anh của ông như thế mà thôi. Riêng ông nên ở lại đây. Đừng về lại Sài Gòn, tôi sẽ lo liệu cho gia đình ông ra khỏi nước. Người Mỹ cũng đã xếp đặt sẵn một nơi cho ông Thiệu lưu trú.."(38Bis). Nhã thông báo liền cho Tổng Thống Thiệu nguồn tin chẳng mấy phấn khởi nầy; một phần ông cố vấn cũng đã hiểu ra thực tế: "Giới quân nhân, những tư lệnh chiến trường đã không còn tin tưởng nơi ông tổng thống vốn xuất thân từ quân đội nầy nữa." Lời thông báo của Phó Tổng Thống Rockefeller không là ý kiến riêng của người lãnh đạo ở Tòa Bạch Ốc nhưng là phản ảnh thực tế về quyết định của giới lãnh đạo Mỹ đối với tình thế chính trị chung cho toàn vùng Đông- Nam Á. Ngày 12 tháng 4 Nam Vang thất thủ, người lãnh đạo Sirik Matak cùng tất cả bộ trưởng của chính phủ Long Boret (chỉ trừ một người) là những nạn nhân đầu tiên của cách hành hình man rợ hơn cả thời trung cổ do đám đao phủ Kmer Đỏ hành quyết. Họ không chết do bất ngờ, vì không lường được tính ác ghê rợn của lực lượng cộng sản Khmer mà hơn ai hết, vị cố vấn chính trị của tổng thống Campuchia đã có lá thư tuyệt mệnh gởi đến Đaị Sứ Dean John của Hoa Kỳ với lời lẽ khẳng quyết bi tráng như sau: "Kính gởi Ngài Đại Sứ và các Bạn... Tôi chân thành cảm ơn lá thư ngài chuyển tới với đề nghị giúp tôi phương tiện đi đến vùng tự do.. Nhưng hỡi ơi, tôi không thể bỏ đi một cách hèn hạ như thế được... Xin ngài cứ ra đi, và tôi cầu chúc ngài cùng đất nước Hoa Kỳ có được nhiều điều hạnh phúc dưới cõi trời nầy. Nếu tôi có phải chết thì cũng chết trên đất nước mà tôi vô cùng yêu quý dẫu cho đấy là điều bất hạnh, nhưng chúng ta ai chẳng sinh ra và một lần mất đi. Tôi chỉ phạm một lỗi lầm là đã tin vào ngài và tin vào những người Bạn Mỹ."(39) Lời báo động của người thân cận Hoàng Đức Nhã cùng tình thế bi thảm của Campuchia, lẫn thực tế tuyệt vọng của miền Nam khi phòng tuyến Phan Rang (mà cũng không bao giờ đã là một tuyến phòng thủ vững chắc được bởi đấy là một vùng đất có thể tiếp cận đến bởi bất cứ hướng tiến quân nào, kể cả hình thái bao vây, chia cắt) bị tan vỡ buộc Tổng Thống Thiệu phải hiểu ra rằng: Những lá thư bảo đảm của Tổng Thống Nixon với những lời trịnh trọng.."Tự do và độc lập của Việt Nam Cộng Hòa luôn là mục tiêu tối thượng của chính sách đối ngoại của nước Mỹ. Tôi hằng dốc sức thực hiện mục ấy suốt cuộc đời chính trị của bản thân.."(40) đã không còn mảy may có giá trị, vì người viết như giòng chữ (cho là thực tâm kia) đã đi ra khỏi Tòa Bạch Ốc với tình cảnh của kẻ "phạm tội" sau vụ Watergate. Người thay thế ông, tổng thống không do dân cữ, Henry Ford lại bị trói buộc toàn diện bởi Nghị Quyết Xử Dụng Vũ Lực Chiến Tranh đã được quốc hội phê chuẩn từ tháng 11, 1973, cho dù Tổng Thống Nixon đã dùng quyền phủ quyết bác bỏ. Nghị quyết nầy thật sự là phần hiện thực hiến định của đạo luật cắt bỏ quỹ "Hoạt động tác chiến" vốn được dùng để yểm trợ cho chiến cuộc Đông Dương - Tất cả điều khoản, đạo luật nầy đã được lưỡng viện Quốc Hội Mỹ phê chuẩn thi hành sau khi ký Hiệp Định Paris (27 tháng 1, 1973) và Thông Cáo Chung của Kissinger cùng Lê Đức Thọ, ngày 13 tháng 7 cùng năm để "thúc đẩy các bên ký kết thi hành hiệp định "Tái Lập Hòa Bình tại Việt Nam (sic)."

Người gọi là Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa nhất quyết không để thân phận mình kết thúc tan thương oan khốc như tình cảnh của Cố Tổng thống Ngô Đình Diệm, cũng không muốn "hiển thánh vị quốc vong thân" trước nòng súng của binh đội cộng sản. Nhưng cốt yếu đối với người "bạn Mỹ", người bạn mà vị chính khách Campuchia Sirik Matak bên nước láng giềng kia đã phẫn uất kêu lên lời tán thán – Ông Nguyễn Văn Thiệu phải ra tay trước- Vất bỏ gánh nặng mà ông cho là "vô lý" với luận cứ: "Người Mỹ đòi hỏi chúng ta làm một việc bất khả thể. Tôi đã từng nói với họ: Các ông đòi chúng tôi làm một việc mà các ông không làm nỗi với nửa triệu quân hùng mạnh, với những viên chỉ huy tài giỏi, và tiêu hơn 300 tỷ (Mỹ-kim) trong hơn sáu năm... Rồi bây giờ tương tự như các ông chỉ cho tôi 3 đồng, bắt tôi mua vé máy bay hạng nhất, thuê phòng khách sạn 30 đồng một ngày, ăn bốn, năm miếng bíp-tếch, uống bảy, tám ly rượu vang mỗi ngày. Đấy là một chuyện hết sứ vô lý.."(41) Sau khi so sánh cuộc chiến đấu của một dân tộc với cách thức đi ăn tiệc với giá biểu "kỳ cục" kể trên, ông cao giọng tố cáo người bạn quý không e dè: "..các ông để mặc chiến sĩ chúng tôi chết dưới mưa đạn pháo. Đấy là một hành động bất nhân của một đồng minh nhân." Ông chát chúa lập lại: "Từ chối giúp một đồng minh và bỏ mặc họ là một hành vi bất nhân." (42) Những giới chức cao cấp của Tòa Đại Sứ Mỹ ở đường Thống Nhất (đối diện với Dinh Độc Lập, nơi ông tổng thống đang nói cho buổi truyền hình trực tiếp) theo dõi đủ nội dung của bài nói chuyện với những lời lẽ nặng nề như trên - Bài nói chuyện của một người đang cơn nóng giận chứ không phải ngôn ngữ ngoại giao của một vị nguyên thủ quốc gia, một chính khách lãnh đạo. Tuy nhiên, người Mỹ luôn là một người "bạn tốt". Họ đã chuẩn bị cho ông một nơi an toàn và cách ra đi kín đáo (cũng không thể kín đáo hơn), thích hợp với "danh dự của một vị nguyên thủ" vì dù gì ông cũng đã giúp họ cởi bỏ gánh nặng chiến tranh qua lần rút quân có vẻ "coi được" ra khỏi Việt Nam theo điều khoản Hiệp Định Paris sáu-mươi ngày sau 27 tháng 1, 1973. Thế nên, đồng minh không hề tháo chạy như cách nói của Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hưng.

Ngày 21/4/75, ông Nguyễn Văn Thiệu ra đi sau một màn bàn giao chức vụ tổng thống đến Phó Tổng Thống Trần Văn Hương với bài diễn văn đầy kịch tính như vừa kể trên. Số phận của một quốc gia gọi là Việt Nam Cộng Hòa còn lại “Mười Ngày” – Không phải “Mười Ngày Rung Chuyển Thế Giới” của John Reed viết về Cách Mạng 1917 của Nga – Nhưng mười ngày để chờ đợi cái chết ắt đến cùng lần thật chết quê hương – Cái chết chậm, chắc chắn ngấm vào từng phần thân thể, xuyên suốt trong lòng như một thư ùchất độc cực mạnh như lời từ chối bi tráng của Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Trần Văn Hương “Kẻ Sĩ Cuối Cùng của Miền Nam”- Khi Đại Sứ Mỹ ngỏ lời đưa cụ ra khỏi nước, buổi chiều ngày 29 tháng 4 khi Sài Gòn đang vỡ bùng giữa tiếng nổ của đại pháo và động cơ những đoàn trực thăng di tản, máy bay võ trang yểm trợ bảo vệ.. “Thưa Ngài Đại Sứ, tôi biết tình trạng hiện nay rất là nguy hiểm.. Nay ông đại sứ đến mời tôi ly hương, tôi rất cám ơn ông đại sứ. Nhưng tôi đã suy nghĩ kỹ và quyết định dứt khoát ở lại nước tôi. Tôi cũng dư biết rằng cộng sản vào được Sàigòn, bao nhiêu đau khổ nhục nhã sẽ trút xuống đầu dân chúng Miền Nam. Tôi là người lãnh đạo đứng hàng đầu của họ, tôi tình nguyện chia xẻ với họ một phần nào niềm đau đớn tủi nhục, nỗi thống khổ của người dân mất nước.” (43) Nhưng không chỉ một mình Con Người Cao Thượng Trần Văn Hương, cũng không phải là người lính nơi trận địa tàn cuộc nơi Cầu Xa Lộ, ở Ngã Tư Bảy Hiền mà là hằng loạt tướng lãnh giữ chức tư lệnh đại đơn vị, hoặc sĩ quan cấp tá cao cấp... Người không chỉ chết một mình, mà với toàn gia đình cùng một lần quyết tử - Chị Nguyễn Thị Thàng, vợ một nghĩa quân chết với chồng và đàn con nơi chiếc đồn cô quạnh ở vùng IV; Thiếu Tá Đặng Sĩ Vĩnh, bào huynh của gia đình niên trưởng Hà Thượng Nhân (Trung Tá Phạm Xuân Ninh, Chủ Nhiệm Báo Tiền Tuyến) chết cùng với cả nhà gồm ba thế hệ: ông, cha, cháu; những người lính Thủy Quân Lục Chiến của Nguyễn Xuân Phúc, Đỗ Hữu Tùng đồng tự sát nơi Bãi Mỹ Khê, Đà Nẵng cuối tháng 3, 1975; Trung đội Nhảy Dù của Huỳnh Văn Thái cùng nỗ chung một lần lựu đạn; những sinh viên sĩ quan hai khóa cuối cùng Trường Võ Bị Quốc Gia vào trận địa với mũ đại lễ mang từ Đà Lạt xuống còn đeo trên ba lô; những em nhỏ tuổi 12, 14 của Trường Thiếu Sinh Quân Vũng Tàu.. Tất cả cùng chung lần hiến tế khi Tổ Quốc Lâm Tử sáng 30 tháng Tư, 1975.. Ánh chớp thanh quang của anh hồn bao người trung liệt kia hẳn đã rung mờ nhật, nguyệt hiện thực lần Núi Sông cùng khóc với Con Người. Và Người cùng một lần sống mãi với Quê Hương.

Thượng đế ban cho con người Sự Sống nhưng Người quyết định lần chết cho chính bản thân. Người trao gởi lại sau cái chết xác thân một trị giá vinh diệu. Người Việt Nam đã hiện thực điều cao cả kia một cách tự nhiên trong suốt đêm đen bất hạnh dài theo thế kỷ, giữa vũng lửa chiến tranh, sau lần sụp vỡ 30 /4 trên đại dương, sâu rừng già ba nước Đông Dương trên đường vượt biên xuyên suốt hai thập niên 70-80.. Mà cũng là toàn dân tộc đang gánh chịu một cách khắc kỷ- Xem như một sự cùng đành. Chúng tôi không nói điều tán tụng với chữ nghĩa phù phiếm, không nội dung. Chúng tôi xác tín với giá máu của mỗi người anh em đã, đang hằng hằng lâu dài gánh chịu tại hôm nay, khi đọc cuốn sách VIỆT NAM CỘNG HÒA 10 NGÀY CUỐI CÙNG với Cơn Hấp Hối kéo dài 31 năm chưa có dấu hiệu chấm dứt. Và lời cuối cùng – Cám ơn Người Viết Sách Trần Đông Phong đã cho chúng ta biết một lần tương đối đầy đủ: Hóa ra làm Người Việt Nam là phải chịu những đau thương uất hận như thế.


Ghi chú:
(1)Nguyễn Tiến Hưng, KĐMTC, Hứa Chấn Minh, CA, USA 2005
(2)Trần Đông Phong, VNCH 10 Ngày Cuối Cùng, NamViệt, CA, USA 2006 trg27
(3)TĐP, sđd trg 31
(4)TĐP, sđd trg32-33
(5)TĐP, sđd trg22-25
(6)PhanNhậtNam, Tù Binh & Hòa Bình, Hiện Đại, Sàigòn, VN 1974 trg222
(7)TĐP, sđd trg18-19
(8)TĐP, sđd trg26
(9) TĐP, sđd trg80
(10) CaoVănViên, The Final Collapse (1983); Nguyễn Kỳ Phong Những Ngày Cuối Cùng của VNCH Vietnam Bibliography, VA, USA 2003, trg 99-100
(11) CVV sđd trg106-109
(12) Clark Dougan, David Fulghum, The Vietnam Experience, The Fall of South Vietnam, Boston Publishing Co, USA, 1985, p20
(13) C.D&D.F, op. cit., p20-21
(14) TĐP, sđd trg87
(15) NTH, sđd trg41
(16) NTH, sđd trg46-47
(17) NTH, sđd trg36-37
(18) Bùi Diễm, Gọng Kìm Lịch Sử, Phạm Quang Khai, Paris, FR 2000 trg384- 393
(19) NTH sđd trg483
(20) Frank E. Vandier, The Shadow of Vietnam, Lyndon Johnson War, Texas A&M University Press, USA 1977, p337-338
(21) TĐP sđd trg 65-67
(22) Henry Kissinger, Years of Upheaval, Little Brown & Co, Boston, US 1982, p679
(23) TĐP sđd trg 158-159
(24) Olivier Todd, Cruel Avril, La Chute de Saigon, Robert Laffont, Paris, FR1981, p51
(25&25Bis) TĐP sđd trg72-73
(26) PhanNhậtNam NCCĐKL, Tú Quỳnh, CA, USA1995, trg20
(27) O.T., op. cit., p88; TĐP sđd trg93
(28) Phạm Huấn Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên, San José, USA 1987, trg 84-89
(29) CVV sđd trg114/TĐPsđd 119-122
(30) NTH sđd trg 234-235
(31) Tổng hợp từ: C.D&D.F, op. cit.; HàMaiViệt Thép&Máu (TX, USA2005); NTH&JS The Palace Files, Harper&Row, NY, USA1989; NTH KĐMTC; PNN NCCĐKL; CaoXuânHuy TBGS (Văn Học, CA, USA2004)
(32) TĐP sđd 164-169
(33) NguyễnVănTín Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu, CA, USA 2005
(34) PNN NCTCGQH CA, USA2003 Trg 223
(35) George J. Veith & Merle L. Pribbenow Fighting is an Art: The ARVN Defense of Xuan Loc, April 9-21, 1975; Draft, PA, USA 2001 (p13-16)
(36) Phạm Huấn NUHTCMN, San José, USA 1988 trg168-177
(37) O.T., op.cit., p305
(38&38Bis) O.T., op.cit., p277
(39) O.T., op.cit., p274
(40) NTH&J.S., op. cit., p393
(41) NTH&J.S., op. cit., p331-332
(42) O.T., op.cit., p314
(43) TĐP trg 353
You need to be logged in to comment