Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!

Kiên trì và bền bỉ

Tuệ Chương đăng bài. Lần xem: 281

Nhận xét chung:

Sau khi chiếm miền Nam tháng Tư/ 1975, gom hết số sĩ quan quân đội Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) cũng như các cán bộ hành chánh cao cấp, các thành phần an ninh tình báo, v.v... Cộng Sản thấy yên tâm. Những người có khả năng chỉ huy và chiến đấu bằng vũ lực, nay đã “vào tròng một cách dễ dàng” bằng những thông cáo học tập mươi, mười lăm ngày. Bấy giờ chính quyền Cộng Sản tính sổ tới “những tên biệt kích văn nghệ”, có nghĩa là những người chống Cộng không phải bằng bạo lực, bằng vũ khí, mà chính là những người, như Hồ Chí Minh đã từng nói đến “Nay ở trong thơ nên có thép”, là những người chống Cộng bằng “bút thép”, những người chống Cộng dai dẵng, kiên trì, từ sự kiện cụ Huỳnh Thúc Kháng gọi là “đảng tranh”, sau khi Việt Minh cướp chính quyền năm 1945 cho tới ngày miền Nam sụp đổ.

Việc “đảng tranh” đó, đẩy những người cầm bút về phía đối kháng với Cộng Sản, sự chống đối càng ngàu càng quyết liệt dai dẳng, tạo nên một thời kỳ mới trong văn học Việt Nam, mà người ta từng gọi là “Thời kỳ Văn học Chống Cọng”, từ những tác giả tiên phong như Nhị Lang (cuốn Tương Tàn), như Khái Hưng (trên báo “Việt Nam” ). Văn học chống Cộng phát triển mạnh nhứt là thời gian sau hiệp định Genève về Đông Dương. Cả triệu người di cư vào Nam, mang theo họ một hành trang văn học mới, có ranh giới giữa Quốc Gia và Cộng Sản, giữa Độc Tài và Dân chủ.

Nền văn học nầy phát triển trong suốt hai nền Cộng Hòa của miền Nam VN, và khởi sắc hơn nữa, di sâu vào triết học, văn học sau khi văn học miền Nam cởi bỏ môt số ràng buộc cực đoan do tình hình tôn giáo lúc bấy giờ.

Nói chung, trong suốt quá trình văn học chữ Nôm và chữ quốc ngữ, chưa bao giờ văn học Việt Nam phát triển và khởi sắc đến như vậy. Càng so sánh với văn học miền Bắc duới chế độc tài Cộng Sản, rõ ràng văn học miền Nam tự do hơn, sinh động hơn, sau sắc và đa dạng hơn, bao gồm hết nhiều phương diện gần như đối chọi nhau: Bên cạnh những nhà văn chống Cộng là một số ít nhà văn và triết gia thiên Cộng, bên cạnh những người có khuynh hướng chạy theo những trào lưu mới của Tây phuơng, là những nhà văn có khuynh hướng trở về với bản sắc dân tộc, bên cạnh các khuynh hướng tích cực thì có những tác phẩm tiêu cực, v.v...

Dĩ nhiên, trong trào lưu chống độc tài đảng trị Cộng Sản, không ít nhà văn có lập trường chống Cộng vững chắc, cương quyết. Những nhà văn thuộc khuynh hướng nầy, xuất hiện trong nhiều lãnh vực sinh hoạt văn nghệ của miền Nam Việt Nam, có nghĩa là có những nhà văn trong Quân Đội, trong chính quyền, trong các phong trào chính trị ở miền Nam, trong các hiệp hội, các cơ quan báo chí, văn học văn nghệ tư. Cũng qua đó, bên cạnh những cơ sở sản xuất sách báo của Quân đội, chính quyền gồm những người làm việc cho các cơ quan nầy, còn có các phong trào chính trị có cơ quan báo chí xuất bản riêng của họ, phần nhiều là các cơ quan thông tin, báo chí tư nhân - cũng có thể có những cơ quan được sự tài trợ của chín quyền, - hay của phòng Thông tin Hoa Kỳ -, thì phần động là các cơ sở xuất bản và báo chí tự do và tự túc.

Các văn nghệ sĩ, nói chung, một số đông nhà văn nhà thơ, một số ít người “viết theo đơn đặt hàng, đếm số trang tính tiền nhuận bút” thì hầu hết, hơn tám, chín mươi phần trăm văn nghệ sĩ viết theo cảm hứng, theo sự xúc động, theo kinh nghiệm và theo cảm nhận về những đau khổ, vui mừng, thương ghét do cuộc sống đem lại.

Những tác phẩm được coi là “thuần túy” nhất, theo ý nghĩa vừa nói trên, từ những tác phẩm đầu tiên, trước khi có phong trào di cư năm 1954, là những tiểu thuyết như “Tương Tàn” của Nhị Lang, “Truyện Năm Người Thanh Niên” của Phạm Thái, “Cô Mài” của Úy Trân, v.v... Sau khi vào ở miền Nam, một số đông định cư ở Sài Gòn thì “Văn học chống Cộng” nở rộ như hoa xuân. Bài nầy không phải là một bài nghiên cứu văn học miền Nam nên không đi sâu vào từng tác giả, tác phẩm, từng cơ sở tư nhân hay có chính quyền hỗ trợ.

Trong số văn nghệ sĩ đông đảo của miền Nam trước 1975, không ít là sĩ quan quân đội, ngoài một số ít người bị bắt, hầu như tất cả đều “trình diện học tập cải tạo” theo lệnh của Ủy Ban Quân Quản Thành Phố Sài Gòn cũ. Còn lại một số ít hơn, không tham gia quân đội, chính quyền Cộng Sản, trong vài tháng đầu sau 30 tháng Tư, chưa “đụng chạm” tới.

Sau khi đã giam giữ hầu hết những người phục vụ trong quân đội và chính quyền, bấy giờ, yên tâm hơn, chính quyền Cộng Sản bắt đầu “gom bi” thành phần văn nghệ sĩ hoạt động tự do, không phải là nhân viên cao cấp trong chính quyền. Họ gọi thành phần nầy là “những tên biệt kích văn nghệ.”

Biết rằng họ là những có ít nhiều uy tín trong dân chúng, là những nhà văn, nhà thơ, nhà viết kịch, kịch sĩ, tài tử ciné, được nhiều người yêu mến, ngưỡng mộ, một mặt, họ “lăng xê” trở lại một vài văn nghệ sĩ thiên Cộng, Việt cộng nằm vùng ở miền Nam Việt Nam, mặt khác, chính quyền Cộng Sản phát động trên báo chí, trên đài phát thanh truyền hình, hạch tội các “tên biệt kích văn nghệ” như đã nói ở trên. Dĩ nhiên những người bị “hạch tội chống Cộng” là những người đã bị bắt, vừa bị bắt, hay sắp sửa bắt. Số 4 Phan Đăng Lưu là nơi “hội ngộ” của họ. Gần như hầu hết gặp nhau ở đây để “thành thật khai báo với cách mạng” trước khi chuyển qua khám Chí Hòa rồi “đi lao động sản xuất”. Tôi may mắn gặp Uyên Thao, Nguyễn Thụy Long ở Trại Đá (A) Z-30 A Xuân lộc, Đồng Nai.

Những “nhà văn chống Cộng” đã di tản trước khi Cộng Sản chiếm Sài Gòn, tên của họ cũng không thoát khỏi trên “bảng phong thần.”

Bấy giờ tờ “Tin Sáng” của ông Ngô Công Đức đã tự ý đóng cửa. Cũng may mắn, tôi đã đọc trên tờ báo ấy, gần hết những bài viết của Cộng Sản kết án nặng nề “những tên biệt kích văn nghệ” nói trên (sau đó những bài viết nầy được in thành sách, mang cùng tên).

Càng thấy Dziệt cộng cay cú khi phê phán về họ, chúng tôi, là những người “tù cải tạo”, từng là độc giả của các nhà văn chống Cộng nói trên lại càng thấy thích thú. Con ong nọc càng độc, chích càng đau. Chúng tôi trao nhau đọc những bài viết ấy. Để tránh bọn công an lưu ý, chúng tôi gọi lóng những bài viết ấy là “ong chích”, do kinh nghiệm bị ong chích khi đi phá rừng.

Tôi thích thú nhứt là bài viết về nhà văn Võ Phiến. Thấy chúng cay cú khi viết về Võ Phién, anh em tù chúng tôi nói đùa: “Võ Phiến bây giờ ở Mỹ, “làm gì được nhau?!”

Vài chuyện về Võ Phiến:

Tôi không viết về tiểu sử của ông. Tôi nhắc lại, có thể coi như là kỷ niệm về một vài lần tôi gặp ông:

Trong khi Sài Gòn nở rộ lên với một nền văn học mới, như tôi đã gọi là “văn học chống Cộng” thì Huế cũng đứng lên góp tiếng nói của mình. Năm 1956, 57 ở có ba tờ báo cùng khuynh hướng: Tờ Lửa Thiêng của Đệ Nhi Quân Khu, chủ bút là ông Nguyễn Đình Hòe, thường “hoa hòe” trên túi áo tấm bảng nhỏ: “Phóng viên chiến trường”, mặc dầu bấy giờ đang lúc hòa bình, đánh chác gì đâu?! Tờ báo nầy là “cơ quan ngôn luận” của quân đội miền Trung. Thứ hai là tờ Ý Dân của Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia miền Trung, chủ tịch phong trào là ông Hồ Giống. Tổng thư ký báo Ý Dân là nhà văn Phan Du (em sử gia Phan Khoang, bấy giờ ông Phan Khoang còn làm việc ở Nha Thông Tin Trung Việt - thỉnh thoảng tôi cũng có bài đăng ở tờ báo nầy và cũng được ông Phan Du trả cho chút ít tiền nhuận bút đủ để thay cái vỏ hay sợi “sên” xe đạp). Ông Phan Du ít khi đăng truyện ngắn của ông ở báo “Ý Dân” nhưng lại gởi đăng trên báo “Mùa Lúa Mới”. “Mùa Lúa Mới” là tờ báo văn nghệ, của Nha Thông tin Trung Việt. Chủ nhiệm là ông Võ Thu Tịnh, giám đốc. Tổng thư ký là ông Đỗ Tấn Xuân (nhà thơ Đỗ Tấn), những cộng tác viên tôi gặp ở đây là ông Kỳ Quang (Lê Mạnh Kỳ), Quang Đạo (Hoàng Hữu Pha), Tường Phong (giáo sư dạy ở Quảng Điền - Sịa), Vũ Hân (giáo sư trường Bồ Đề Huế), Lưu Kỳ Linh (em nhà thơ Lưu Trọng Lư), Nguyễn Quốc Dân (trưởng ty Thông tin Đà Nẵng), Trần Thanh Nguyên (Trưởng ty Thông Tin Thừa Thiên - Huế), nhạc sĩ Dương Minh Ninh (tác giả bản Rừng Chiều), Nguyễn Đình Hòe, và người có truyện ngắn đăng thường xuyên nhất là các ông Phan Du, ông Võ Phiến, trưởng ty Thông tin Bình Định. Nam 1957, 58, tôi không nhớ chắc, ông Võ Phiến từ Qui Nhơn về Huế thi vào ngạch Biên Tập viên (ngạch của ngành Thông tin). Khi ra Huế, ông Võ Phiến ở lại nhà ông Đỗ Tấn, số 3 đường Đinh Công Tráng, thành nội Huế. Do vợ chồng ông Đỗ Tấn tổ chức họp mặt thân hữu, tôi cũng được đến dự, mặc dù lúc ấy tôi là “mầm non văn nghệ” của Huế, các ông nhà văn nhà thơ khác đã được văn giới Saigon chú ý tới, nhất là ông Võ Phiến.

Các truyện ngắn của ông Võ Phiến được ông gom lại in thành sách. Đầu tiên là cuốn “Người Tù” được xuất bản.

Cuốn sách in bằng máy in cũ của Ty Thông tin Bình Định (hình như là máy in của Dziệt Cộng tâp kết chôn dấu được tìm lại, chữ chì đã mòn nên chữ không rõ, rất khó đọc.

Sau đó ông Võ Thu Tịnh cũng như ông Võ Phiến đều vào Sài Gòn. Giới cầm bút ở Huế “bàn tán” rằng hai ông nầy gốc là Việt Nam Quốc Dân Đảng, từng bị Dziệt Cộng bỏ tù về tôi “chống Việt Minh” thì ở lại Huế thế nào được với “đám Cần Lao” của “cậu”.

Sau khi vào Sài Gòn, mặc dầu là người miền Trung, chưa “hội nhập” được văn giới Sài Gòn bấy giờ phần đông là người Bắc, thuộc các nhóm Tự Do, Sáng Tạo, v.v... ông Võ Phiến được nhiều độc giả hoan nghênh sau nhiều truyện ngắn của ông đang trên Bách Khoa, sau đó trên báo Tự Do (số Tết) ...

So với nhiều nhà văn chống Cộng thời bấy giờ, văn giới Sài Gòn ít người có thể so sánh với Võ Phiến được. Ông đúng là người thiên tài, có những nhận xét sâu sắc và chi li về tâm lý nhân vật của ông mà bấy giờ người ta gọi cái văn tài ấy là “chẻ sợi tóc làm tư”. Bên cạnh đó, ông có lối viết hóm hỉnh, đem lại cho độc giả những nụ cười, cái vui thâm trầm khi đọc văn ông. Người ta khó quên được hình ảnh cái ghế nhỏ bay vào mặt người chồng khi người chồng thấy vợ cầm cái ghế lên mà chưa kịp hiểu ý nghĩa hành động của vợ trong truyện ngắn “Mụ Đế quốc”. Té ra vì Cộng Sản hô hào nam nữ bình quyền, tuyên truyền, vận động người phụ nữ đứng lên đòi quyền bình đẳng. Theo cách hiểu nào đó, thì bình đẳng có nghĩa là người vợ có thể đánh lại người chồng sau hàng trăm năm người đàn bà Việt Nam phải sống trong cảnh “chồng chúa vợ tôi.”

Vào dịp tết Canh Tý năm 1960, tôi đi cùng cô em gái của một người bạn thân vào nhà sách Tinh Hoa ở Huế và mua tặng cô cuốn truyện “Đêm Xuân Trăng Sáng” của Võ Phiến vừa mới xuất bản. Hầu hết các truyện ngắn của ông in trong tập sách nầy tôi đã đọc hết, ngoại trừ truyện ngắn “Thác Đổ Sau Nhà.”

Thế rồi tôi cũng... quên luôn cái truyện ngắn đó.

Năm 1980, khi ở tù tại trại Xuân Lộc Đồng Nai, đọc loạt bài Dziệt Cộng lên án “Bọn Biệt Kích Văn Nghệ”, tôi thích thú khi thấy ông cán bộ văn hóa Cộng Sản lên án nặng nề ông Võ Phiến. Tôi đưa bài báo ấy cho các bạn “đồng tù” cùng đọc chơi. Một hôm chủ nhựt, khỏi đi “lao động là vinh quang” anh em tù chúng tôi ngồi uống cà phê lại bàn với nhau về bài báo ấy. Chúng tôi cười và nói với nhau: May mà ông Võ Phién đã kịp di tản hồi 30 tháng Tư, nếu không bây giờ còn ở lại với Dziệt Cộng, có cắt da xẻo thịt ông Võ Phiến ra chúng cũng chưa vừa lòng.

Về cách viết chống Cộng, ông Võ Phiến khác với các nhà văn hồi ấy ở Sài Gòn. Ông không dùng những danh từ “dao to búa lớn”, cũng không có thái độ thù hằn hung dữ, mặc dù thời gian Dziệt Cộng bỏ tù ông cũng không ngắn. Khi được nhà văn Nguyễn Ngu Í phỏng vấn sau cái chết của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 năm 1969, câu trả lời của ông Võ Phiến có hai ý chính:

- Thứ nhứt, nếu năm 1945, sau khi Việt Minh cướp chính quyền, họ chịu hợp lực với các đảng phái Quốc gia chống Pháp giành độc lập và xây dựng đất nước, thì nước ta đã giàu mạnh không thua kém gì Nhựt Bản. Chính vì Cộng Sản muốn độc quyền, độc tài nên nước ta mới bị chia cắt và chiến tranh triền miền như bây giờ.

- Sau khi được Cộng Sản cho ra khỏi tù, ông thù Cộng Sản lắm, không hẵn chỉ là thù mà ông còn gọi là thâm thù.

Người ta cho rằng, chỉ những ai từng sống dưới chế độ Cộng Sản, từng bị Cộng Sản đày đọa mới có những nhận xét sâu sắc như thế.

Sau khi đi tù về, dù có muốn tìm truyện ngắn “Thác đổ sau nhà” của ông mà đọc thì cũng chẳng có cách chi tìm được.

Qua Mỹ ít lâu, nhất là từ sau khi, như người ta bảo tôi “Cứ tìm trên internet, cái gì cũng có” nên tôi nghe theo, và tìm được truyện ngắn “Thác Đổ Sau Nhà” (TĐSN) của ông và dĩ nhiên là... đọc nhiều lần. Càng đọc càng thích thú, và nhận ra rằng, truyện ngắn TĐSN của ông nó không tầm thường như ông cán bộ văn nghệ Cộng Sản hiểu.

Ông ta, người Cộng Sản, hay phần đông họ đều như thế, có những cái nhìn lệch lạc, định kiến, - như con ngựa mang dàm - nên không thấy được, không nghe được những cái gì người khác nói, người khác viết, như bài nhận xét về truyện ngắn nói trên của ông Võ Phiến là một.

Ông cán bộ đánh giá ông Võ Phiến như một người “thiếu văn hóa”, đem chuyện tình dục mà đưa vào văn chương, thấp kém khi nhận xét về người đàn bà trong truyện. Ấy là việc khi ăn nằm với chồng, một đảng viên Cộng Sản thì người đàn bà thương chồng nhưng không thấy khoái lạc như khi ăn nằm với ông cán bộ phe Quốc gia. Vì sao? Vì người Cộng Sản thì bao giờ cũng trăn trở, suy nghĩ mà quên đi cái khoái lạc khi giao hợp với vợ. Còn “ông Quốc gia” thì chẳng suy nghĩ gì nhiều, chẳng có gì phải thắc mắc, trăn trở, bao giờ cũng thoải mái, vui cười nên khi giao hợp, làm cho người đàn bà khoái lạc hơn. Từ sự so sánh đó, ông cán bộ văn hóa Cộng Sản lên án ông Võ Phiến một cách nặng nề, gay gắt, khiến ai đọc bài viết ấy, cũng thấy “may” cho ông Võ Phiến đã kịp thời di tản hồi ấy, còn nếu không thì ông Võ Phiến, “nói xấu” cán bộ như thế, sẽ ở tù cho tới “mục trại”, ở tù không có ngày về, và sự đày đọa (bây giờ) có lẽ kinh khủng hơn thời gian ở tù trước kia của ông.

Người đọc xác nhận tính cách chống cộng một cách kín đáo mà thâm trầm, bền bỉ trong tất cả các truyện ngắn của Võ Phiến, và việc ấy lại càng sâu sắc, tinh tế hơn trong truyện ngắn TĐSN của ông. Hầu như trong tất cả những truyện ngắn của ông, dù có nói đến việc trai gái, việc ăn nằm giữa đàn ông, đàn bà, thì ông Võ Phiến nhắm vào việc mô tả cái tâm trạng của các nhân vật trong truyện, chứ không phải thiên về nhục cảm như trong một số tác phẩm của Vũ Trọng Phụng như “Số Đỏ”, “Cơm Thầy Cơm Cô” hay “Làm Đĩ”.

Điều ông Võ Phiến viết, là tâm lý của nhân vật, mà ông Võ Phiến lại nhận xét, viết một cách chi li, tình tiết, kiểu như “sợi tóc chẻ làm tư”. Điều ấy, như trong TĐSN, làm cho Dziệt cộng cay cú là phải lắm.

Độc giả bình thường đọc truyện của ông, không thấy cái dục tính như ông cán bộ Cộng Sản nói, chưa hẵn là đôi khi người ta lại còn thấy buồn cười bởi cái dí dỏm của ông. Chẳng qua, ngưòi Cộng Sản bao giờ cũng định kiến nặng nề.

Truyện ngắn TĐSN của ông, qua Hạnh, người đàn bà là nhân vât chính trong truyện, ông Võ Phiến mô tả ra những hạng người của thời đại ấy, là thời gian trước và sau hiệp định Genève 1954, ở một vùng từng bị Cộng Sản cai trị khá lâu, suốt 9 năm (1945-54), mãi đến sau khi “Quốc Gia” tiếp thu Nam Ngãi Bình Phú.

Những hạng người đó là những ai? Họ như thế nào?

Đó là hoạt cảnh của một gia đình gồm người Hạnh là vai chính của câu chuyện, có quan hệ tình cảm và tình dục với ba người đàn ông. Người thứ nhứt là Thọ, chồng trước của bà ta. Người chồng sau là Kha, bạn của Thọ, sau khi Thọ tập kết ra Bắc. Thứ ba là một người đàn ông, quận Toàn, chỉ gặp một lần trong một hoàn cảnh đặc biệt.

Ông Võ Phiến nhập vai người đàn bà để nhận xét về ba người đàn ông nói trên:

a) Hạnh biết rõ Thọ, người chồng thứ nhứt vì một điều rất dễ hiểu: Thọ là chồng bà ta. Ngoài ra, Thọ còn là thầy giáo của Hạnh.

Có thể hiểu một cách khái quát về Thọ như sau:

Thọ, gốc gác là một người thuộc giai cấp tiểu tư sản (hay trung nông?), có học vấn - học vấn thời gian trước 1945 - bố là môt nhà Nho khá đặc biệt, tuy nhát gan nhưng bao giờ cũng sống đúng theo lời dạy của Khổng tử. Ví dụ:
...
“Gia đình của Thọ là một gia đình nhà nho, Thọ lại là đảng viên Cộng Sản. Từ ngày về nhà chồng tôi (người đàn bà – tg) càng tự cảm thấy bé bỏng, không đáng kể, giữa cái sinh hoạt tinh thần luôn luôn thao thức trong gia đình ấy. Cha chồng tôi nghiêm khắc, đường hoàng, khiến bọn con cháu chúng tôi ở trong nhà ít khi dám gần người. Tuy vậy dần dà tôi lại biết rằng tính người hay sợ hãi: tất cả những người Âu từ tên lính lê-dương đến tên tây đoan đều làm cho người khiếp sợ, tất cả những tai họa rắc rối xảy đến cho gia đình đều khiến người bối rối lo hãi, người sợ những con ngựa có chứng và không dám đến gần những con bò hung dữ... Nhiều khi sự hoảng hốt của người trước một đe dọa quá tầm thường làm cho đàn bà trong nhà phải nấp sau cửa bụm miệng cười rúc rích. Khi chiếc phi cơ oanh tạc đầu tiên đến bay quanh vùng chúng tôi thì cả nhà đang ngồi ăn cơm vùng bỏ chạy tán loạn. Mọi người đã nằm nấp ngoài vườn xong mà mãi không thấy cha chồng tôi đâu cả, anh Thọ đánh liều trở vào nhà. Vào đến nơi, thấy người đã mặc xong áo dài và đội khăn đóng chỉnh tề, ngồi ngay ngắn trước bàn, hai tay đặt lên mặt bàn, run lẩy bẩy, hai mắt nhắm tít. Anh Thọ gọi, người mở mắt ra nói:

- Người quân tử dù đến chết cũng khăn áo chỉnh tề.

Rồi người lại nhắm mắt ngồi chờ chết, hai bàn tay run trên mép bàn. Lần ấy chiếc phi cơ không bắn một viên đạn nào và không thả trái bom nào. Từ đó người mới chạy trốn bom.”

Bà ngoại Thọ là địa chủ, bị Cộng Sản đấu tố. Khi bà ngoại qua đời, Thọ không về dự đám tang của ngoại. Theo đúng chính sách của đảng, Thọ không muốn “dây dưa” với thành phần bóc lột mà Cộng Sản đã lên án. Thọ muốn anh ta là một người “Cộng Sản chân chính” (1 NK Điềm).

Thọ đang tự đấu tranh với chính mình để trở thành một “người Cộng sản lý tưởng”, theo đúng chủ nghĩa Cộng Sản.” Việc đó làm cho Thọ gặp nhiều khó khăn trong đời sống tinh thần. Thọ lấy một người vợ không thuộc gia cấp vô sản. Bà ấy có đi học và như đã nói, từng là học trò của Thọ. Do đó, sự cách biệt về tuổi tác giữa hai người khá xa. Điều ấy làm cho Thọ nghĩ rằng Thọ thuộc thế hệ già hơn. Có vợ trẻ, Thọ ghen. Đó là tâm lý thường tình. Nhưng với một người Cộng Sản lý tưởng, ghen còn là cục bộ, ích kỷ, chủ nghĩa tư hữu (vợ là của riêng). Còn muốn tư hữu thì không thể là người Cộng sản chân chính cho nên:

“Thọ ghen, nhưng anh lại cố gắng chối từ sự ghen tuông đó. Anh tự bảo mình không có quyền dung thứ một tình cảm ích kỷ. Anh khuyến khích tôi mạnh dạn tham gia công tác, tiếp xúc với cán bộ. Sự ghen tuông không những Thọ giấu tôi mà kỳ thực anh còn cố tâm trấn áp nơi anh, cố tiêu diệt đi. Tôi biết Thọ đau khổ, nhưng tôi chỉ có thể làm một chứng nhân, một kẻ bàng quan không can thiệp được.

Những cố gắng chân thành và thiện chí của Thọ để trở thành một “đảng viên lý tưởng” chỉ đem lại cho Thọ sự đau đớn, dày vò, bứt rứt:

“Tôi sống bên cạnh Thọ, đêm đêm nằm sát bên Thọ, tôi yêu Thọ, tôi theo dõi và thấy rõ những cố gắng đau đớn, những dày vò, bứt rứt bên trong của người đảng viên đầy thiện chí và chân thành cố hết sức để tự thắng mình ấy.”

Thọ cố gắng một cách âm thầm, “như một ngọn đèn chong” trong cõi “yên lặng thâm u”, tuân thủ khuôn phép, kỷ luật, v.v... triệt tiêu cá nhân trong chủ nghĩa tập thể:

“Còn ánh mắt của chồng tôi như chiếc đèn con chong suốt đêm, âm thầm cháy mãi, trong chỗ yên lặng thâm u. Chồng tôi kiên trì và trung thực, chịu làm một phần tử ngoan ngoãn sống trong kỷ luật tinh thần của đoàn thể, khuôn ép tư tưởng và tình cảm theo lý thuyết, anh nhất định sống đúng vai trò một tế bào trong kỷ luật sinh hoạt của cơ thể xã hội.

Tất cả những cố gắng của Thọ không đạt được gì như Thọ muốn. Nó đối nghịch với bản tính tự nhiên của con người. Nó chỉ là những lý thuyết, những ảo tưởng mà con người không thể thực hiện được. Người ta không thể triệt tiêu cá nhân. Chỉ được một điều: Người thấy thương chồng hơn trước những đấu tranh, dằn vặt, đau khổ của chồng.

“ Duy có điều cái tế bào đặc biệt này tuy vẫn ở trong vị trí kỷ luật của nó mà cứ long lanh những suy tưởng bí ẩn. Trời ơi! đôi mắt long lanh thao thức ấy, nét mặt mệt mỏi nhọc nhằn ấy, vóc người gầy yếu ấy! tôi thương hại cho tình trạng của chồng tôi vô cùng!

Vợ của Thọ, cũng như Kha, bạn của Thọ nhận xét về con người “Cộng Sản lý tưởng”:

“Họ cố gắng biến thành những con người hoàn toàn khác chúng ta. Họ luôn luôn hướng về tương lai. Nhai một miếng thịt, gặt một bó lúa, đánh vảy một con cá..., ở mỗi việc họ đều đánh hơi thấy một ý nghĩa, một báo hiệu tốt đẹp về tương lai. Họ bương bả chạy tới, không quan tâm gì đến những cái mà họ đang giày xéo dưới bàn chân hấp tấp, họ không kịp ngó đến người xung quanh...

Đọc xong truyện ngắn nầy, tôi vẫn còn vái suy nghĩ nhưng chưa có dịp trình bày với ông Võ Phiến. Tôi đến Mỹ trễ, mà ông thì cũng đã già:

Một người Cộng Sản lý tưởng phải thuần nhứt nhều yếu tố: Trước hết là thành phần giai cấp, phải là thành phần vô sản, nói nôm na, nếu ở thôn quê thì phải lá tá điền, hoặc không có nghề nghiệp nhứt định chắc chắn. Võ văn Kiệt, Đỗ Mười là thí dụ. Người Cộng sản lý tưởng là người không có quan hệ chút nào với chế độ quân chủ (họ thường gọi là phong kiến phản động), với chế độ thực dân (Thọ đi học dưới thời Pháp thuộc), không quan hệ tới “đế quốc” đặc biệt là “đế quốc Mỹ”. Thọ suy nghĩ như thế nào về cá nhân Thọ, gia đình Thọ, nhà trường Thọ được đào tạo để hy vọng trở thành môt người “Cộng Sản lý tưởng”.

Đấy là nói theo lý thuyết, theo sách vở đầy ảo tưởng. Ngày nay, ở nước ta cũng như nhiều nước Cộng Sản trên thế giới, người ta thấy không thể nào có con người “Cộng Sản lý tưởng”, chỉ có những người “Cộng Sản thực dụng”. Đã thực dụng mà lại thiếu văn hóa. Đó là 3 triệu đảng viên ở Việt Nam hiện nay.

b)- Người thứ hai là Kha, bạn học với Thọ khi hai người còn nhỏ. Sau khi Thọ tập kết ra Bắc, Kha là chồng kế của người đàn bà.

Kha là người như thế nào?

Kha là bạn của Thọ, họ sống với nhau dưới thời kỳ Việt Minh giành được chính quyền. Kha đi theo một con đường khác với Thọ.

Kha cho rằng con người sống tự nhiên trong xã hội loài người mà vẫn phục vụ xã hội một cách hữu hiệu, không cần phải tự biến mình thành một con người khác. Ông Võ Phiến viết về Kha:

Kha cũng vẫn còn giữ được bản tính hồn nhiên, sống những tình cảm quen thuộc. Anh không phải luôn luôn đăm chiêu thắc mắc, tự biến mình thành một con người khác như Thọ. Người ta làm được mọi chuyện quái gở, nhưng tốt nhất nên buồn vui thương ghét như lối cũ xưa nay, vẫn giận cái gì xưa nay người đời thường giận, cảm phục cái gì xưa nay thường được cảm phục. Làm ra con người mới là một chuyện khó khăn và kỳ cục.

Kha chống lại người Cộng Sản:

Con người tự bày ra những tình cảm mới cho mình và đặt tên huyên thiên cho nó thì thực là ngông nghênh.
Kha nhận xét về sự đồng nhứt và khác biệt giữa con người bình thường và con người Cộng Sản như sau:

Về sự tương đồng:

Thí dụ... Ta lấy một cái thí dụ: Gặp một người đói khổ nào đó, đối diện một người nghèo nào đó cụ thể, một ông A bà B nghèo, cậu với tôi không chắc ai động lòng thương hơn ai. Bình sinh hai đứa không hay nhường cơm xẻ áo cho kẻ nghèo khổ nào. Cậu với tôi như nhau, coi như ngang nhau thôi.

Về sự khác biệt:

Nhưng lòng thù hận, thù kẻ giàu, thì lúc này cậu vượt tôi... vượt... không thể nói. Tại sao vậy? Trước không có thế, đột nhiên cậu đổi khác hẳn. Cậu không nghĩ là lúc này đang cần đến sự thù hận, chính sách thấy cần sử dụng đến sự thù hận, thì tình cảm ấy được gây ra. Không phải vậy sao? Đó không phải là tình cảm hồn nhiên. Cái đó là được tạo ra, kích thích, là tình cảm ngụy tạo...

Về phương cách cai trị xã hội, đất nước, Kha chủ trương công bình, không cần xúi giục sự chém giết như Cộng Sản:

Ở ta, cách mạng đã thành công, đã nắm quyền trong tay. Tha hồ dựng lên chế độ tốt. Trong khung cảnh xã hội tốt, trong khuôn khổ chính sách tiến bộ, ai nấy sinh sống đúng đường lối, đúng lẽ công bình thôi. Nhà nước cần gì dạy bảo thúc giục người này căm thù người kia nữa, cần gì phải xúi ai giết ai nữa? Làm kinh hoàng cả nước... Làm cho...

c)- Con người dưới chế độ thực dân:

Ông Võ Phiến viết không ít về quận Toàn, nhân vật thứ ba. Quận Toàn sinh ra, lớn lên và đã đi làm việc khi chế độ thực dân đang còn cai trị ở nước ta. Ông ta là một công chức cũ, một ông phán, ông thông, và một thời, có thể khi vùng Nam Ngãi Bình Phú mới tiếp thu, ông làm quận trưởng, nên người ta gọi ông là “quận” (quận trưởng) Toàn. Ông ta làm công chức môt cách tự nhiên, một nghề sinh nhai, như một nghề nghiệp nào đó, tuy không chuyên môn, và chẳng suy nghĩ xa xôi gì về đất nước, về dân tộc. Khi còn là công chức thời Pháp thuộc, biến cố ngày 9 tháng 3, Nhựt đảo chánh Pháp là một sự kiện lớn trong lịch sử dân tộc: Giang sơn đổi chủ sau gần 100 năm thuộc Pháp, ông ta đang đi săn ở trên núi, không biết gì cả. Đến khi ông về tới nhà, biết rồi thì ông vẫn dửng dưng như không có chuyện gì. Tây lo phần, Nhựt lo phần Nhựt, còn ông lo chuyện vui chơi của ông, lại xách súng đi săn. Giang sơn đất nước nầy của ông mà ông coi như là của ai vậy, coi như không dính dáng gì tới ông ta cả.

Quận Toàn sống theo ý thích của mình: Đi săn, rất thành tạo, khôn ngoan và tài giỏi trong cái công việc ông ta thích đó. Quận Toàn sống như một bản năng: đói ăn, khát uống, và làm tình với một người đàn bà nào đó, một cách tự nhiên. Xong rồi thì ông ta vui vẻ, thỏa mãn, không còn lại một chút tình cảm thương nhớ, lưu luyến, thắc mắc, suy nghĩ gì trong lòng ông cả.

Trong câu chuyện, một đem quận Toàn đi săn, chút nữa thì bắn lầm người đàn bà trong truyện khi bà lên núi giữ đàn bò của gia đình, khi người chăn bò bị bệnh phải về.

Trong cái đêm tình cờ đó, Quận Toàn đã ân ái với người đàn bà. SAu đó, quận Toàn đã quên béng người đàn bà đã cho ông những cảm giác khoái lạc, nhưng người đàn thì không thể quên ông, không phải những khoái lạc do quận Toàn đem lại. Cô ta lo ngại, sợ hãi việc ấy lộ ra, người khác biệt.

Hạnh nhớ lại:

Vả lại quận Toàn không có chủ tâm. Việc ông ta gặp tôi chẳng qua là một sự ngẫu nhiên hoàn toàn. Người khác ở vào hoàn cảnh đó vị tất đã hành động khác ông ta. Nhưng cái gì làm cho tôi đau nhói trong lòng, vừa xót xa, vừa khinh bỉ, cái gì xô gấp tôi tới quyết định chọn lựa anh Kha, ấy là thái độ hành động của ông ta.

Quận Toàn thật ích kỷ. Sau khi thỏa mãn, ông ta chỉ nghĩ đến những dư “vị” của cái khoái cảm đó và hình như bực mình vì sự có mặt của Hạnh, người đã cho ông những khoái cảm đó:

Tôi nhớ lại hồi khuya, lúc ông ta vừa buông tôi ra, nằm ngửa bên cạnh tôi, ông ta cũng im lặng, nhích tránh ra xa tôi, nét mặt ông ta trân lại, sắt lại, trầm ngâm. Không phải ông ta theo đuổi một tư tưởng gì, mà chính là ông cần yên tĩnh để lắng xuống nghe cảm giác khoái lạc thấm lần thấm lần vào cơ thể. Trông như một con trăn nuốt rất chậm, rất cẩn thận, vừa nuốt vừa đề phòng con mồi, như một người hít xong khói thuốc phiện nằm lơ mơ tê mê. Lúc đó sự hiện diện của tôi, những cử động của tôi bên cạnh chỉ làm cho ông ta khó chịu.

Cách sống của quận Toàn làm cho Hạnh cảm thấy có một sự xa cách giữa Hạnh và quận Toàn, và hối hận về những gì Hạnh đã làm:

Ông ta lắc đầu, cười hề hề. Tôi cảm thấy một cách biệt vô cùng tận giữa ông ta và tôi. Tôi vừa ngồi dậy, ngửa đầu ra sau gỡ mái tóc rối, vừa liếc trông theo những cử chỉ của ông ta, trong lòng lấy làm hối hận hết sức về những lạc thú mà tôi đã cho ông ta hưởng và đã cùng hưởng với ông ta trong đêm qua. Giữa tôi với con người đó không thể có một lý do gì đưa đến sự chung đụng thân mật như thế được.

Dĩ nhiên, tác phong ích kỷ, lạnh lùng và tàn nhẫn của quận Toàn làm cho Hạnh cảm thấy tủi nhục.

Khi ông ta dứt tiếng cười hề hề thì cử chỉ của ông ta lại khiến tôi nghĩ đến những người vừa ăn xong một bữa thật ngon lành thỏa thuê rồi ngồi nhìn lơ đãng, dềnh dàng, xỉa răng rất lâu, những người không có việc gì quan trọng hơn, để hết tinh thần lắng theo dõi các khoái cảm thấm chầm chậm vào thật sâu. Họ có thì giờ để nghe tiêu hóa các khoái cảm. Sự im lặng của ông ta cũng làm cho ông ta cách biệt tôi, và có một ý nghĩa tàn nhẫn làm tôi tủi nhục.

Thật ra, không phải Hạnh không có phản ứng, nhưng phản ứng đó rất yếu ớt trước sự khéo léo và rành rẻ trong việc ăn nằm với đàn bà của quận Toàn:

Tôi nhớ lại thái độ hành động của ông ta trong đêm vừa rồi, tự nhiên căm tức. Khi tôi khép hai đùi lại, dùng dằng, ông ta không hấp tấp vội vàng. Ông đặt một bàn tay lên bắp đùi trần của tôi làm tôi rùng mình; ông ngừng lại một chút, rồi vỗ nhè nhẹ vào phía trong bắp vế, nói nho nhỏ: “Em! Em!” Giọng ông ta nửa như than phiền trách móc, nửa như dỗ dành nài nỉ. Ông ta lại đặt yên bàn tay, ngừng lại, và chờ đợi. Tôi dạo ấy mới hăm hai hăm ba tuổi... Vắng đàn ông lâu ngày... Đêm khuya vắng vẻ... Chậc!

Kết quả về sự khôn ngoan và khéo léo đó của quân Toàn chỉ làm cho Hạnh vừa xấu hổ vừa tức giận. Người đàn bà, nói chung, nhiều khi bị khuất phục trước một người đàn ông, không phải vì sức mạnh mà chính vì sự khéo léo và dịu dàng đó:

Ông ta bình tĩnh và hành động chắc chắn. Ông ta đã hiểu tôi một cách giản dị quá, thực tế quá. Và hiểu đúng tâm lý đến nỗi ngẫm nghĩ lại tôi không khỏi vừa xấu hổ, vừa tức giận.

d)- Về người đàn bà, tên Hạnh

Hạnh rất yêu chồng, ngay khi người chồng chưa tập kết ra Bắc, còn sống chung với vợ và sau đó, khi người chồng đã ra đi rồi, Hạnh vẫn vậy. Trong khi người chồng của Hạnh thao thức, trằn trọc, Hạnh nằm yên, im lặng bên chồng vì tôn trọng những suy tư, trăn trở của chồng.

Điều ám ảnh Hạnh nhứt, từ khi về nhà chồng là tiếng thác đổ sau nhà:

Từ lúc tôi về nhà chồng đến nay, lúc tôi nghĩ đến chuyện phải rời đi, những đêm vắng vẻ thao thức nghĩ ngợi tôi lại để ý đến thác nước ồ ồ bên nhà. Suốt năm sáu năm trời tiếng thác ồ ồ đó luôn luôn đuổi theo tôi, lúc nào cũng sẵn sàng hiện đến như một nhân chứng vào những giờ bối rối khó khăn nhất. Tiếng ồ ồ dồn dồn liên tiếp lại đuổi theo tôi như một sự thôi thúc xôn xao vô cớ.

Tiếng thác đổ không như tiến chuông nhà chùa hay tiếng chuông nhà thờ. Tiếng chuông vang lên, một chặp, một hồi, trong bao nhiêu phút, bao nhiêu giờ rồi im hẵn. Tiếng dế mèn kêu trong đêm cũng làm cho người ta dễ gợi nhớ. Nhưng tiếng dế mèn thì nhỏ hơn, rền rĩ hơn, chậm chậm mà buồn, không có gì hối thúc, nhắc nhở, gọi dậy, biểu đi... Và tiếng dế cũng chỉ vang lên trong đêm, bên cạnh sự vắng lặng. Khi trời bắt đầu sáng, cuộc sống một ngày mới bắt đầu trở lại với nhiều âm thanh sống động thì tiếng dế cũng dứt.

Tiếng thác đổ sau nhà thì khác. Nó vang lên suốt ngày đêm, không chút nào ngừng nghỉ, “thiếng thác ồ ồ như đuổi theo tôi”. Tiếng thác ấy như “một nhân chứng vào những giờ bối rối khó khăn nhứt”, “đuổi theo tôi như một sự thôi thúc xôn xao vô cớ”.

Âm thanh đi vào lòng người qua cái thính giác của người. Nó đi sâu vào tâm hồn con người ta. Vào tới đó, nó không biến mất. Tiếng thác ồ ồ đi vào lòng Hạnh, rồi dừng lại ở đó, làm một nhân chứng, một sự thôi thúc, đánh thức người ta dậy. Rồi nó có cùng đi với người ta?

Đọc đoạn nầy tôi nhớ tới Văn Cao. Văn Cao ở quê, con nhà nghèo nên phải lên ở nhờ với ông anh, nuôi cho ăn học. Ông anh Văn Cao làm gác gian, hay lao công gì đấy tại nhà máy điện Hải Phòng, ăn ngủ tại chỗ. Ông anh kê một tấm ván, một đầu gác vào một chỗ nào đó của cái máy điện, làm chỗ cho Văn Cao ngủ. Ông Hoàng Văn Chì, trong cuốn “Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc” viết rằng chính cái âm thanh của cái mấy điện chạy ù ù suốt ngày đêm đã ảnh hưởng đến thiên tài âm nhạc của Văn Cao. Máy điện hồi Tây thuộc, chạy bằng máy hơi nước nên ồn ào lắm. Tôi không nghĩ ông Hoàng Văn Chì nói đùa hay nói mỉa Văn Cao mà đó chính là sự thực đấy.

Dĩ nhiên, tiếng thác chảy ồ ồ sau nhà của Hạnh không “dữ dội” như tiếng máy điện nơi Văn Cao ở. Có thể tiếng động đều đều làm cho người ta ngủ ngon, dù nó là tiếng thác đổ hay tiếng máy điện, nhưng trong đêm khuya, bỗng có một lúc nào đó thức dậy, cái âm thanh đều đều ấy, vài khi cũng làm cho người ta khó ngủ lại. Từ cái khó ngủ ấy, người ta nhớ lại nhiều điều, nhứt là với một người đàn bà còn trẻ như Hạnh, chồng đi xa. Cái tâm trạng ấy, chúng ta đã học, đã đọc, đã biết trong “Chinh Phụ Ngâm”.

Có thể Hạnh thấy tuyệt vọng khi xa chồng đã mấy năm. Trước khi tập kết, “người ta” nói hay lắm, tin tưởng lắm, lạc quan lắm. Chỉ hai năm, hai bên ký “hiệp thương thống nhứt”, vợ chồng, cha con, anh em, gia đình lại sum họp. Hai năm mà, chỉ hai năm thôi, nó sẽ qua như một giấc mơ. Người ta phải biết hy sinh, phải hy sinh. Người xưa đi đánh giặc thì sao? Ông Địch Nhân Kiệt đi đánh Hung nô tới 70 tuổi mới về. Rồi cũng về, đâu có phải “kỷ kiến hữu nhân hồi.”

Sau hai năm, người ta mới biết việc thống nhứt là không có. Hai bên, miền Bắc và miền Nam, bên nào cũng chuẩn bị cả rồi. Việc chia cắt sẽ kéo dài mười năm, hai mươi năm hay lâu hơn nữa, và tốn hao không ít xương máu để “thống nhất” đất nước.

Bấy giờ những người có chồng đi tập kết như Hạnh mới thấy ngày về của chồng xa lắc, xa lơ, mới chợt thấy mình là người cô phụ, mới tiếc “Dương liễu giang đầu dương liễu xuân” (1), mới thông cảm nhiều hơn cho người đàn bà trong Chinh Phụ Ngâm.

Trong viễn tượng đó, “Tiếng thác đổ ồ ồ liên miên sau nhà như thôi thúc xô đẩy tới một quyết định. Tôi tự thấy mình đang bị đưa dồn tới một hoàn cảnh mới. Tôi bồn chồn, nôn nao.”

Ông Võ Phiến mô tả “thực” hơn về cuộc sống của con người thời đại ngày nay. “Đêm nay lại vẫn tiếng thác đổ ồ ồ. Và ngoài trời lại vẫn ánh trăng sáng mông lung gọi dậy những rạo rực khó tả.”

Tôi nghiệp cho Hạnh. Nỗi “đau khổ” của người đàn bà, không chỉ là vì sống bên cạnh một người chồng luôn luôn muốn tự từ chối cái bản thể của mình, muốn triệt tiêu cái bản thể đó, mà còn nhiều điều dị biệt khác nữa, không thích hợp với Hạnh. Tuy vậy, Hạnh vẫn cố âm thâm chịu đựng, với những thao thức, trăn trở, ngoài sự “xung khắc” giữa Hạnh với người chồng mà còn cả với gia đình chồng, giữa sự giằng co của những dòng tư tưởng khác biệt trong gia đình chồng, tạo ra những “căng thẳng trong vô số gia đình, trong khắp xã hội.”

Những đau khổ ấy, bắt nguồn từ cuộc cách mạng vô sản mà ra ở nước ta hồi năm 1945 và kéo dài cho tới tận bây giờ, không chỉ ở trong nước mà còn lan ra ở hải ngoại nầy vậy!

Từ ngày về nằm ở gian buồng này, đêm đêm tôi nằm bên cạnh một cố gắng thường xuyên thao thức, tôi nghe tiếng cựa mình ở nhà ngoài tiếng trăn trở ở buồng trong, tôi nép mình lặng lẽ sống bên cạnh những quằn quại đau đớn mà âm thầm của một gia đình giữa sự giằng co của hai dòng tư tưởng. Cho tới bây giờ sự chuyển mình lớn lao của một thời đại vẫn còn gây ra bầu không khí căng thẳng trong vô số gia đình, trong khắp xã hội

Phần kết:

Hôm về nam Cali, tôi gặp lại mấy anh em bạn “đồng tù cải tạo”. Nói chuyện “kỷ niệm đông tây” một hồi, chúng tôi lại nhắc đến bài báo của ông nhà văn Cộng Sản phê phán nặng nề ông Võ Phiến mà chúng tôi đã chuyền cho nhau đọc hồi đó, khi còn trong tù. Tôi nói với mấy anh em rằng hồi còn trẻ, khoảng 20 tuổi, tôi may mắn gặp ông Võ Phiến vài lần. Vậy mà nay đã hơn nửa thế kỷ rồi đấy. Khi vượt biên, tôi bị kẹt thanh lọc ở tại tỵ nạn, qua yêu cầu của con gái tôi, ông Võ Phiến có viết một lá thư xác nhận tôi là người có hoạt động văn nghệ chống Cộng. Nay tôi vẫn còn nhớ ơn. Ông không thể viết chính thức, như là người có thẩm quyền của tờ báo, việc ấy phải là của người làm chủ bút, như ông Võ Thu Tịnh (người trước) hay giáo sư Lê Hữu Mục (người sau), còn ông Võ Phiến, theo thư ông nói, cũng chỉ là một cộng tác viên với tờ tuần báo Mùa Lúa Mới như ông Phan Du, Quang Đạo hay... tôi. Lá thư xác nhận của ông Võ Phiến cùng với thư của giáo sư Lê Hữu Mục làm cho tôi vui, dễ dàng cho việc thanh lọc của tôi hơn. Nhưng điều làm cho tôi vui hơn nữa là khi soạn hồ sơ cho tôi, người thông dịch viên của Cao Ủy Tị Nạn, cô Mai, hỏi tôi về lá thư của ông Võ Phiến. Cô ta nói với tôi cô là một độc giả của nhà văn nầy và rất ngưỡng mộ ông.

Tiếc rằng tôi đã về Cali mấy lần mà chưa lần nào đến thăm hai ông bà Võ Phiến. Dĩ nhiên, tôi không quên ông ta bao giờ, nhưng sự gặp gỡ trở lại sau hơn nửa thế kỷ làm cho tôi rất ngại ngùng.

Và chúng tôi lại nói chuyện về cuốn “Đêm Xuân Trăng Sáng” và “Thác Đổ Sau Nhà”

Về người cán bộ văn hóa viết về ông Võ Phiến trong bài báo như đã trình bày ở trên, thì một là ông không có trình độ nhận xét và phê bình văn học gì cả, hai là ông ta không đọc hết các tác phẩm của ông Võ Phiến, ba là ông ta mang sẵn định kiến vế giới văn nghệ sĩ miền Nam, nên viết bậy và viết sai về Võ Phiến khá nhiều. Thứ nhứt, ông ta nhầm lẫn giữa quận Toàn và một ông xã trưởng nào đó, như trong bài viết, cho là người đã ăn nằm với Hạnh. Thật ra, thời kỳ đó, chức vụ và học vấn, thông thường trình độ giữa hai viên chức nầy cách nhau khá xa, ngoại trừ các trường hợp “đặc cách”. Thứ hai, ông Võ Phiến không đã kích “một con người có lý tưởng”, nói chung. Cái phẩm giá giữa một người sống có lý tưởng và một người sống không có lý tưởng là khá xa. Võ Phiến không phê phán việc Thọ sống có lý tưởng, mà ông phê phán về cái lý tưởng của người Cộng Sản mà Thọ đã theo. “Họ cố gắng biến thành những con người hoàn toàn khác chúng ta. Họ luôn luôn hướng về tương lai. Nhai một miếng thịt, gặt một bó lúa, đánh vảy một con cá..., ở mỗi việc họ đều đánh hơi thấy một ý nghĩa, một báo hiệu tốt đẹp về tương lai. Họ bương bả chạy tới, không quan tâm gì đến những cái mà họ đang giày xéo dưới bàn chân hấp tấp, họ không kịp ngó đến người xung quanh...

Hơn thế nữa, người Cộng Sản sống bằng thù hận, tạo ra thù hận trong xã hội, tạo ra đấu tranh giai cấp, thù ghét và chém giết lẫn nhau, v .v... Đó là những điều mọi người đều biết và đều lên án cả. Nhưng người Cộng Sản thì cố làm như không biết vì họ mê muội, vì ăn “cháo lú”. Cái ảo tưởng của họ đã xô đẩy dân tộc vào một cuộc tranh giành vô bổ mà không xây dựng được gì cho đất nước cả. Người cán bộ văn hóa khi viết về Võ Phiến, ông ta không biết cá điều đó, u muội nên không biết hay cố tình không biết?

Điều đáng buồn, giới báo chí, văn học Sài Gòn thời kỳ ấy thường sinh hoạt nặng tính cục bộ, nhóm Tự Do, nhóm Sáng Tạo, nhóm Khởi Hành, v.v... và nhiều khi còn nặng cả tính địa phương và lập trường chính trị. Thiên tả, thiên Cộng thì có nhóm Nhân Loại (2), nhóm Trình Bày... Một người từ miền Trung vào Saigon, - mà phần đông sinh hoạt báo chí, văn học ở đó là do người Bắc “thống lĩnh” - hình như, tôi nói hình như, lúc ban đầu, ông Võ Phiến không thể gia nhập vào nhóm nào được cả. Cũng có thể ông ta muốn đứng riêng? Cho đến khi người ta không thể phủ nhận văn tài của ông, thì sinh hoạt báo chí văn học của ông có phần dễ dàng hơn. Các tác phẩm đầu tiên của ông in ở Saigon, tôi được đọc là trên Bách Khoa, tờ báo của ông Huỳnh Văn Lang, đảng viên Cần Lao cao cấp, nhưng tác phẩm của ông Võ Phiến lại không có “mùi” Cần Lao chút nào cả. May thật!

Do không thuộc hẵn vào một nhóm nào, ngay từ lúc đầu, khi có bài đăng trên Mùa Lúa Mới, ông Võ Phiến viết truyện chống cộng một cách âm thầm, bền bỉ. Có thể khi từ miền Trung vào Saigon, ông đã rời xa vài người cùng chí hướng, như nhà thơ Đỗ Tấn. Điều nầy, có lần Đỗ Tấn nói với tôi như vậy, khi Đỗ Tấn ra dạy ở trường Bồ Đề, Quảng Trị, niên khóa 1958-59.

Khi còn sống với nhau trong trại tù cải tạo, Trần Phú Trắc, Phạm Quang Chiểu, Trần Hữu Bảo, Phạm Ngọc Hiền... không ai nghĩ rằng tôi là người viết văn. Có một thời tôi “đi theo” mấy ông nhà văn, nhà thơ hồi ấy đã được nhiều người biết như Võ Phiến, Phan Du, Đỗ Tấn, Quang Đạo, Kỳ Quang và giáo sư chủ báo Lê Hữu Mục,... để tôi được đăng bài của mình trên báo Mùa Lúa Mới, Rạng Đông. Đến khi các tờ báo nầy dẹp tiệm, tôi lại mon men đăng bài trên tờ Gió Mới ở Sài Gòn.

Một tối, thời gian sau khi đã đi dạy được ít năm, ngồi uống “càphê Lạc Sơn” với các bạn đồng nghiệp, tôi định từ giã họ để về viết bài đăng báo. Biết vậy, một người bạn rất thân nói: “Đang vui mà về chi! Ngồi chơi đã. Mi mà cũng háo danh.” Tôi giật mình. Viết văn, làm thơ là háo danh? Cùng tuổi với tôi, có ông thi sĩ Tường Phong, dạy ở trường Trung Học Quảng Phước, mới ra một tập thơ, hay nhỏ tuổi hơn tôi, có ông thi sĩ Kiêm Thêm vừa xuất bản tập thơ “Kiêm Thêm trước cửa trường Đồng Khánh” bị các bạn tôi nói đùa “Chắc là nó đứng đó để lượm guốc của mấy con nhỏ Đồng Khánh đánh rớt.”

Vậy là tôi bỏ viết. Tôi không muốn bị bạn bè gọi tôi là kẻ háo danh. Với lại, so với các ông Võ Phiến, ông Phan Du, v.v... không những tôi là “mầm non văn nghệ” mà tôi thấy tôi còn kém cõi quá! Nghỉ viết đi mười năm, - tôi tự nói với tôi như vậy -, học cho xong, đọc sách thật nhiều, và tìm kiếm thêm kinh nghiệm sống, như kinh nghiệm của các ông Võ Phiến, Đỗ Tấn từng sống gần 10 năm dưới chế độ Cộng Sản tại Bình Định. Họ kinh nghiệm “đầy mình”. Tôi có kinh nghiệm chi đâu!

Vậy là tôi bỏ viết, không phải 10 năm, mà tới 20 năm sau tôi cũng chưa cầm bút trở lại.

Ở tù cải tạo, cũng như nhiều bạn tù, có những điều mắt thấy tai nghe mà không viết thì không được: Dược sĩ Hoan bị bắn chét bên cạnh cái conex giam ông ta vì ông cứ la mãi câu “Đã đảo Hồ Chí Minh”, hay việc Ngô Nghĩa bị xử bắn ở phi trường Trảng Lớn, cái chết đói của ông Âu Văn Minh (chồng trước của bà Bích Vân, chị bà Bích Ngọc thẩm mỹ viện), cái chết của cụ Niệm, “một Bắc kỳ già chịu chơi” như chúng tôi thường gọi cụ, v.v... đã diễn ra trước mắt tôi. Chung quanh chúng ta có rất nhiều điều để viết, phải viết. Tại sao tôi lại không viết để nguôi ngoai môt chút lòng tôi thương nhớ họ, để cho người ta “biết Cộng Sản là cái gì” chứ. Vậy là tôi cặm cụi viết, từ chuyện cũ ở Huế, (Viết về Huế 1 và 2), chuyện tôi đánh giặc ở quê hương Nguyễn Tấn Dũng (Hương Tràm Trà Tiên), chuyện tù cải tạo (Vết Nám), chuyện thảm cảnh ở trại tị nạn (Bèo Giạt).

Trần Phú Trắc nói với tôi và các bạn tù cũ: “Tui thích cái cách viết của anh Hải, văn phong nhẹ nhàng, đôi khi dí dỏm, hóm hỉnh mà thâm trầm. Bây giờ người ta ít viết chống cộng như mười năm trước, nhưng anh Hải thì vẫn cứ âm thầm, kiên trì, bền bỉ... với công việc ấy”

Có anh em bảo tôi có cái âm thầm như ông Võ Phiến như khi ông mới về vùng Quốc Gia. Tôi thích thú và kính trọng cái âm thầm và bền bỉ ấy của ông Võ Phiến. Tuy nhiên, tôi vẫn không nhận tôi là nhà văn. Nhà văn, được như ông Võ Phiến là khó lắm. Dù vậy, tôi có con đường đi của tôi. Tôi viết những gì tôi thấy, nghe, biết khi sống dưới chế độ Dziệt Cộng, bằng những xúc cảm chân thật trong lòng tôi.

Trắc cười và nói: “Âm thầm như anh, tụi Dziệt Cộng nắm được đầu anh, cho anh “mập mình”, chúng nó cũng chưa vừa lòng.”

Tôi cải: “Tui có nói cái chi hung dữ đâu?”

- “Vâng! không hung dữ”, một người bạn tù cải tạo nói. “Anh thấy cái “Vết Nám” ở cái chỗ ấy của vợ rồi anh kêu Dziệt Cộng ra mà “tố khổ”, viết như thế là thâm lắm. Anh trả “nợ” sao cho vừa với cái thâm của anh?!

Thành ra, buổi gặp mặt hôm đó ở Cali vui thật!

Hoàng Long Hải (Tuệ Chương)


(1) HOÀI THƯỢNG BIỆT CỐ NHÂN
Dương Tử giang đầu, dương liễu xuân
Dương hoa sầu sát độ giang nhân
Sổ thanh phong địch ly đình vãn
Quân hướng Tiêu Tương, ngã hướng Tần

Trịnh Cốc

TỪ BIỆT BẠN CŨ NƠI BẾN HOÀI

I. Dương Tử bên bờ, dương liễu xuân
Hoa dương súc động khách sang sông
Sáo chiều chợt vẳng ly đình quán
Kẻ hướng Tiêu Tương, kẻ hướng Tần

II. Ngày xuân, dương liễu xanh xanh
Bóng in Dương Tử đầu ghềnh sông sâu
Qua sông, người đã u sầu
Hoa dương còn muốn giết bầu tâm can
Ly đình dưới bóng chiều tàn
Thoảng nghe tiếng địch mơ màng đâu đây…
Đường Tần lầm lũi bóng gầy
Tiêu Tương lủi thủi, vơi đầy biệt ly.


(2) Nhân Loại là tờ báo của nhóm Thiên tả xuất hiện vài năm ở Saigon (57, 58), sau đó không thấy nữa. Trang Thế Hy, Lê Vĩnh Hòa là các cây bút của nhóm nầy. Ông Lê Vĩnh Hòa tên thật là Đoàn Thế Hối, em ông Đoàn Thế Nhơn, tức Võ Phiến. Ông Đoàn Thế Hối vô bưng và bị bắn chết tại Giồng Riềng (quận Kiên Bình) vào khoảng đầu thập niên 60, tôi không biết chắc. Nhân vật Hải, trong TĐSN có vài nét về hoạt động giống như ông Hối vậy.

Ghi Chú: Vài người bạn tôi cũng như tôi cố tìm những tập truyện ngắn như “Chữ Tình”, “Người Tù”, “Đêm Xuân Trăng Sáng”, v.v... của ông Võ Phiến để đọc nhưng tìm không ra. Trên mạng lưới nhện cũng không có. Quý vị nào biết ở đâu có, xin chỉ giùm.
You need to be logged in to comment