Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!

NƯỚC NHÀ của muôn loài

Lê Tất Điều đăng bài. Lần xem: 459

Bà con cô bác đi tàu đi xe thủa ấy có thể chỉ thấy Ngâm Sĩ là nghệ sĩ cần giúp đỡ. Với tôi, ông là hiệp sĩ sẵn sàng cứu khốn phò nguy.

Hôm đó, tôi không có một đồng trả tiền xe buýt. Cho đến bây giờ, tôi vẫn tin rằng đã làm rơi đồng bạc quan trọng, quý giá ấy ở đâu đó, chứ không vì cẩu thả trong việc quản trị ngân sách, tiêu sạch túi mà không biết. Ngân sách đi xe ngựa có thể bị thâm thủng, vì đoạn Ngã ba ông Tạ đến Tô Hiến Thành ngắn, chỉ cần đi học sớm, lấy chân mình thay chân ngựa, là quỹ đen có thêm hai đồng, tha hồ tiêu hoang, tiêu bậy. Tôi thụt két đều đều. Nhưng ngân sách xe buýt thì bất khả xâm phạm. Tin như thế nên tôi cứ đứng trước mặt ông bán vé, moi móc túi trên túi dưới, rồi để cặp sách xuống sàn xe, lật từng cuốn sách.

Ông thâu tiền vài người xong, quay lại, vẫn thấy thằng lỏi loay hoay lục lọi thì bực mình, phán một câu gì đó, chắc hơi nặng. Vừa tức vừa xấu hổ, tôi ôm cặp lẳng lặng đi xuống. Lúc ấy, Ngâm Sĩ đã lên xe, sửa soạn hành nghề. Khi tôi tới cửa, bước xuống, thình lình ông hỏi, giọng hơi xẵng:

- Nhà mày ở đâu?

Tôi hiểu ý ông, liền mở máy tả oán và phóng đại cấp kỳ. Nói rằng ở Ngã Ba Ông Tạ cũng đủ xa rồi, nhưng chưa xa… thê thảm. Lại thiệt thòi. Từ chợ ông Tạ về nhà còn một quãng dài, không khai ra được thì uổng quá. Phải tìm một địa danh ác liệt hơn, không xa sự thật mấy, mà không bị lỗ.

- Nhà cháu ở… gần Ngã Tư Bảy Hiền.

Tuyệt chiêu! Chữ “gần” xóa béng tội ăn gian. Lại chắc chắn lời ít nhất một cây số.

Trả lời Ngâm Sĩ, nhưng tôi quay nhìn ông bán vé, chờ đợi. Nét mặt vẫn nhăn nhó, khó chịu, ông nhìn tôi, ánh mắt thoáng dịu xuống. Ông lầu bầu một câu gì đó, chắc là chửi thề, rồi tung ra một cái phẩy tay. Một cái phẩy tay tuyệt vời!

Mạnh và nhanh, cái phẩy tay có nghĩa dứt khoát, cương quyết, “luật là luật”: “Mày ở xa thì mặc xác mày. Đi xe buýt phải mua vé! Không tiền thì xuống đi bộ!”. Nhưng nhẹ và chậm hơn, nó biến thành lời gắt gỏng đầy bao dung. Ông phẩy tay như người ta phủi bụi, gạt đi, dẹp đi một nỗi bực mình. Nó không có nghĩa ông đã tha thứ tội lỗi cho tôi. Ông chỉ không thèm bận tâm, chú ý đến cái tội ấy nữa.

Tôi hiểu ngay. Nhưng vốn nhút nhát, chưa dám động thủ, vội liếc nhìn hiệp sĩ. Hiệp sĩ hất nhẹ đầu, ra dấu. Thế là thằng bé lại thót lên xe. Ông bán vé đi xuống, len lỏi qua sát người tôi, không thèm ngó. Và sau khi ra tay cứu nhân độ thế, hiệp sĩ lại cất giọng sang sảng: “Chốn ải Bắc mây sầu ảm đạm…” hết sức bi hùng.

Lớn lên, chọn văn chương ngôn ngữ Việt làm bạn đời, nhớ chuyện cũ, tôi càng phục Ngâm Sĩ, càng thấy cái chiêu thức ông tung ra để cứu tôi tuyệt đẹp và cực kỳ tế nhị, tinh vi. Ở vị thế ông, chuyện cứu không giản dị.

Bà tiên, ông bụt, sau khi thực hiện mấy thủ tục lỉnh kỉnh thử lòng cậu bé – biết chắc nó dám anh dũng nhịn một ly nước mía để tặng một đồng cho bà lão ăn mày dỏm (thực ra là Tiên Phật giả dạng để phục kích làm test), chẳng hạn – rồi thấy nó gặp cơn nguy khốn trong xe buýt, chỉ cần hiện ra, móc ví, phát cho một tì mua vé là xong. Chẳng cần tiên, phật, tất cả hành khách trên xe buýt đều có quyền móc ví, giúp nó tai qua nạn khỏi. Riêng Ngâm Sĩ thì không.

Giúp thằng bé cách ấy, ông chạm tự ái và danh dự người bán vé. Ông vô tình ồn ào khoe rằng: “Thằng hát dạo này có lòng nhân đạo hơn cha nội bán vé.” Vừa xúc phạm vừa bất công. Nhiệm vụ, công việc của ông kia không cho phép thấy hành khách nghèo khó thì mủi lòng tha Tào, biểu diễn được lòng từ bi hỉ xả, nhưng trái đạo đức nghề nghiệp. Ông cũng xúc phạm luôn cả hành khách. Bà con cô bác đi tàu đi xe bỏ tiền vào cái mũ phớt của ông là để giúp nghệ sĩ có cơm ăn áo mặc, còn gân tiếp tục sống và trình diễn, chứ không để cho ông vung tay làm việc phước thiện. Nhiều người trên xe cảm thấy mình keo kiệt, không hào phóng như Ngâm sĩ, cũng áy náy, mất vui.

Cách làm việc nghĩa an toàn, khiêm tốn nhất là hỏi một câu vu vơ, ném cái phao cho thằng nhỏ bám lấy, tự mưu sinh thoát hiểm, đồng thời kín đáo gửi đi những tín hiệu nhắc nhở lòng sót thương con trẻ nơi tha nhân.

Giọng hơi xẵng khi hỏi, như vừa hỏi vừa mắng, cũng tế nhị và khéo léo. Muốn giàn xếp một cuộc tranh chấp, trước hết phải tỏ ra tuyệt đối công bằng. Ông mắng thằng bé ngay, để ngầm đồng ý hoàn toàn với người bán vé, công nhận tội lỗi nó rành rành, to lắm, không thể bào chữa được. Rồi chỉ gợi ý rằng nếu dưới nắng Sài Gòn mà nó phải cuốc bộ rạc cẳng, thất thểu tiến về một phương trời vô định, xa tít mù tắp (như Ngã Tư Bảy Hiền)… thì hình phạt quá nặng nề.

Và lệnh ân xá đã được ban xuống. Hiệp sĩ hoàn toàn thành công.

Cái phẩy tay của ông bán vé cũng lý thú. Không có trường nào dậy, luật nào ghi rõ rằng phẩy mạnh là tử hình, phẩy nhẹ là ân xá - minh bạch như ngón cái chỉ thiên hay chỉ địa trong giác đấu trường La Mã. Vậy mà người “nghe” tức khắc hiểu đúng, trọn vẹn ý người “nói”. Ba người Việt xa lạ, lớn bé khác nhau vẫn chung một ngôn ngữ không lời.

Văn chương, ngôn ngữ Việt phong phú, tinh tế như thế, tấm lòng ông Ngâm sĩ như thế, hai chữ “nước nhà” của thi sĩ Á Nam ông trang trọng gói trong những âm thanh trầm bổng tuyệt vời tặng lại mình,tất nhiên phải ôm theo, gìn giữ suốt đời.

Tôi đi quanh nhìn ngắm lại “nước nhà”.

Đình làng đang được sửa chữa, đất cát ngổn ngang . Tôi vào đền. Sát cổng có bức tường chắn ngang, buộc khách thập phương chọn rẽ phải hoặc trái, không thể xồng xộc tiến thẳng vào chánh điện. Dưới chân tường vẫn đầy những mảnh gạch, vôi vụn tôi nhớ đã thấy từ ngày xưa. Cây si già ở góc đền vẫn còn, cành, lá, rễ si phủ kín một góc đền xưa kia đã bị cắt tỉa, gọn gàng lại như một cây si còn rất trẻ.

Chú Nghĩa đốt nhang cho tôi cắm vào bình hương cao nhất trên bệ thờ. Chỗ đó xây kín mít, tối om, xưa kia là một vùng huyền bí, thiêng liêng, vừa nhìn đã sợ. Hai tượng đá, một nam một nữ, đặt đối diện nhau trên bệ thờ ngoài cùng thì vẫn vui vui, mặt mũi ngộ nghĩnh dễ thương, linh động như mặt hai đứa trẻ.

Đứng sát bờ sông, không còn thấy “con đê dài ngây ngất”. Xóm Trại bị cây cối che khuất. Bãi cát vàng cho những buổi chiều “nắng chia nửa bãi” quanh ruộng thầu dầu cũng biến mất, chắc từ lâu. Dọc bờ sông bên Nga Mi bây giờ là một rặng tre dài, xanh tươi, mát mắt, đẹp hơn tất cả những bụi tre thời thơ ấu.

Thủa bé, thấy tre xanh đậm, có lẽ vì nhìn quá gần, lại thường chỉ nhìn gốc. Cũng nhớ thân tre tuy gọn gàng, thẳng tắp, nhưng phần gốc rễ hơi rườm rà, nặng nề.

Bây giờ, nhìn tre cách một con sông, thấy cây lá đều nhạt màu, do màu xanh trộn với nắng, nhẹ nhàng, thanh thoát như một rừng trúc. Cách đây mấy năm, một buổi trưa đi tàu dọc sông Lý ở Quế Lâm, đã thấy bạt ngàn những rặng tre xanh nhạt, hơi vàng như thế – dân địa phương gọi là tre Phượng Hoàng. Lúc đó, không nhớ là đã từng thấy tre nhiều và có màu sắc giống vậy ở quê ta, nên ngớ ngẩn, cứ tưởng đấy là “đặc sản” của Tàu!

Ngọn tre lả lướt dịu dàng, nhưng không ẻo lả như liễu. Gió lớn làm cành, lá liễu cuống quýt bối rối, chỉ làm tre chuyển mình một cách bình tĩnh, vững vàng, như võ sĩ tránh đòn địch thủ. Rặng tre dọc bờ sông che kín làng Mai Chợ, Nga Mi, tạo cảm tưởng sau nó vẫn là những mái nhà xưa trong ngôi làng Việt Nam muôn thủa. Thế chỗ cho bãi cát, ruộng thầu dầu bờ sông năm cũ, bức tường quê xanh tươi ấy cũng rất xứng đáng thay mặt các cố tri đã khuất bóng, đứng chào đón người về.

Nhưng dòng sông mênh mông có đủ bèo giạt, mây trôi, sóng gợn đã mất.

Nước cạn gần tới đáy nên lòng sông hóa thành ruộng rau muống. Thấy ông anh hơi rầu rĩ, chú em trấn an: “Mùa mưa nước sông lại đầy, có khi ngập tới gốc cây đa”. Cũng muốn tự an ủi là mình may mắn hơn cụ Tú Xương nhiều. Con sông của cụ đã thành ra ruộng đồng, chỗ làm nhà cửa chỗ trồng ngô khoai. Biển dâu toàn diện! Mình thì vẫn còn có thể tìm được hình bóng muôn năm cũ vào những ngày mưa.

Nhưng “nước nhà” nhỏ bé của tôi đang có nguy cơ không chỉ mất một dòng sông.Nó cách trung tâm Hà Nội không tới 20 dậm!

Trung Cộng đang đổ quân ra biển Đông để chiếm đảo, chiếm biển, đổ tiền vào Việt Nam để chiếm đất, mua quyền. Hậu duệ của những người Tầu thủa xưa bắt cụ Nguyễn phi Khanh đi biệt xứ khôn ngoan, thâm độc hơn tổ tiên nhiều. Họ đang nỗ lực tăng cường lực lượng con nuôi, đầy tớ trong những cơ quan quyền lực nhất nước, để khống chế hoặc ngấm ngầm tiêu diệt những Nguyễn Trãi, Lê Lợi… thời nay, (Ôi! Quê hương ta thời nào cũng có hạng người trong thơ cụ Á Nam: Mang “thân cẩu trệ”, “sống đê sống nhục”, “sống… chật non sông”). Một ngày không xa, trận bão nhân danh tiến bộ, phồn vinh, “đô thị hóa”, “kỹ nghệ hóa”, “theo kiểu mẫu Trung Quốc” v.v… sẽ ập tới, ào ào tàn phá, tạo cảnh biển dâu, gieo rắc tang thương cho cả vùng này.

Những cơ xưởng sản xuất, những nhà máy sẽ được xây cất sát bờ sông để tiện thanh toán nước thải, cặn bã. Chung cư, biệt thự của các đại gia sẽ mọc lên đầy hai bên bờ sông. Rặng tre xanh mướt nếu sống sót, sẽ bị cắt lung tung để chủ nhân các biệt thự không bị vướng mắt, có thể chiều chiều ngắm cảnh sông nước thoải mái từ hàng hiên sau nhà. Những ruộng rau đang có “giá trị kinh tế cao” sẽ một sớm một chiều thành “tấc đất tấc vàng”. Dân chúng vùng này không biết sẽ có bao nhiêu người phải gia nhập đoàn quân khiếu kiện, lang thang, vất vưởng như những bóng ma trong lòng thủ đô ngàn năm văn vật.

Cây đa, đình đền, miếu mạo phảng phất linh hồn tổ quốc, thấp thoáng anh linh tiền nhân, may ra tránh được bàn chân giày xéo của cơn bão nhỏ. Nhưng rồi cũng khó được yên thân với trận cuồng phong đang lặng lẽ tàn phá trái đất, “nước nhà” chung của muôn loài.

Hành tinh này đang nóng dần, sông biển và bầu trời bị ô nhiễm, khí hậu xáo trộn, thiên tai càng ngày càng dữ dội, xuất hiện đột ngột, bất thường. Khúc sông Nhuệ này có thể cạn khô, có thể thình lình nhận những cơn mưa lũ dai dẳng, dâng nước lên ngập cả xóm làng. Dòng sông trở thành cầu tiêu của các nhà máy, nước biến dần thành thuốc độc. Số phận nó sẽ như sông Hồng, sông Cửu, được định đoạt từ những đập nước lớn bé ở thượng nguồn phương Bắc. Khói bụi từ đô thị, theo bước chân xâm lăng của kỹ nghệ, công nghiệp, sẽ tràn ngập, trộn lẫn vào nguồn dưỡng khí khắp nơi. Những ngày bầu trời trong xanh hiếm dần, quanh năm sẽ đục ngầu mù mịt như bầu trời Bắc Kinh và nhiều thành phố lớn ở miền trung thổ Trung Hoa.

“Nước nhà” nhỏ của tôi, chung số phận với những nước nhà lớn của muôn người, muôn loài khắp hành tinh này, đang bị một nhóm nhỏ trong nhân loại, những con người cực kỳ giầu có ở Mỹ, hợp tác chặt chẽ với Bắc Kinh, đua nhau hủy hoại để kiếm lợi.

Để cứu “nước nhà” thủa ấy, ông Nguyễn Trãi cần một cuộc kháng chiến của toàn dân nước Việt. Để cứu “nước nhà” chung của thế giới bây giờ, cần một cuộc cách mạng của cả loài người.

Lê Tất Điều
10/2011
You need to be logged in to comment