Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!

Nhìn Lại Mình: Đôi Lời Tâm Sự Về Lịch Sử, Văn Hóa Và Con Người Việt Nam - Chương 10 & Lời Kết

Lê Khôi đăng bài. Lần xem: 240

Chương 10 - Những Ðêm Trăn Trở



Tôi là người rất khó ngủ. Không có đêm nào tôi không trằn trọc, lăn qua bên phải, lộn qua bên trái, gấp cái gối cho nó cao hơn để rồi năm phút sau lại thấy nó cao quá, phải hạ thấp xuống. Ðổi mặt gối cho mát hơn, đặt đầu xuống chưa bao lâu, nó nóng, lại phải lật lại bên kia. Tôi đọc A, B, C tôi đếm 1, 2, 3 cũng không ngủ được. Tôi nằm nghiêng, tôi nằm ngửa, tôi gác tay lên trán, tôi duỗi thẳng tay, tôi co chân, tôi kéo chân, vẫn không thể nào ngủ được. Tôi đắp chăn, nóng quá. Tôi cởi chăn, lạnh quá. Tôi nhét cái đồ bịt tai vào tai, vẫn nghe được những tiếng u u do lỗ tai bị bít. Tôi tắt hết đèn, nhắm mắt vẫn cảm thấy ánh sáng lờ mờ trong mắt. Tôi đeo đồ bịt mắt đen thui, nhưng sợi dây thun vòng qua đầu làm tôi khó chịu. Tôi cố gắng để đầu óc trống rỗng, không nghĩ tới bất cứ chuyện gì hết, ráng tập trung ngủ thì xa xăm đâu đó trong đầu lại có tiếng nói, “Mình đang ráng để đầu trống rỗng. Mình đang ráng tập trung ngủ.” Thế là lại ngủ không được. Tôi hết cách đành phải chịu thua. Từ lúc leo lên giường cho tới lúc ngủ được phải mất trung bình hai tiếng đồng hồ. Trên đời này người khó ngủ nhất là tôi.

Tôi chịu thua sự mất ngủ lâu lắm rồi. Dần dần tôi khám phá ra rằng tôi không ngủ được vì trong đầu lúc nào cũng suy nghĩ đủ thứ chuyện. Lúc nào cũng có tiếng nói, tiếng bàn thảo lung tung. Tôi nghĩ tới mọi thứ linh tinh trên đời. Trong chương này tôi quyết định viết ra một số điều đã làm phiền tôi để các bạn cùng chia sẻ. Nhiều lắm, nhưng tôi chỉ viết ra đây một ít thôi. Nhờ các bạn chia sẻ phụ chứ không tôi thấy mệt quá.


Ðêm ... tháng ... năm ...

Mới đây đọc tin tức biết được một số học sinh Việt Nam đi thi Toán, Lý quốc tế được giải nhất, giải đặc biệt thấy cũng vui và cũng hãnh diện. Vậy mà hay, lâu nay người mình đạt được khá nhiều những giải thưởng quốc tế về những môn học đó. Cũng tốt. Ờ ... mà không biết có tốt không?

Ở Việt Nam mình biết có những lớp chuyên luyện cho học sinh các môn học Toán, Lý, Hoá để đi thi trên thế giới. Các học sinh này suốt ngày ngồi giải những bài toán khó khăn nhất, lắc léo nhất. Họ đi thi và đậu là điều đáng khen và hợp lý. Công sức bỏ ra bao lâu để đi thi và đạt được kết quả là việc đáng mừng. Nhưng không biết dạy và học những điều như vậy trong một đất nước như Việt Nam hiện giờ có thực tế không? Ðoạt giải rồi để làm gì?

Nghĩ cũng mắc cười. Hồi xưa đi học ở Việt Nam, những môn như Toán, Lý, Hoá rất được coi trọng, phải học giỏi những môn này mới được coi là ... học giỏi. Những bài toán, bài thi, bài kiểm tra cho những môn này lúc nào cũng nặng nề lý thuyết trừu tượng, chẳng có gì thực tế mà rất khó khăn lắc léo. Càng lắc léo càng hay. Cũng lạ, nhớ lại chuyện mấy đứa bạn mà mắc cười. Thời gian đó học sinh đứa nào cũng phải đi học thêm ở ngoài, ngoài giờ học trong trường. Mỗi lần có bài toán nào khó khăn, lắc léo, quanh co thì mấy đứa lại nói, “Bài toán này hay lắm.” Cứ lắc léo, quanh co là mọi người đều cho là bài toán “hay”. Thế mới lạ chứ.

Thật đáng buồn. Có khá nhiều học sinh Việt Nam và sau này nhiều du học sinh qua Mỹ khá “giỏi” Toán vì được học trước tại Việt Nam và bị áp lực học Toán tại Việt Nam. Vì vậy họ thấy Toán ở một trình độ nào đó quá dễ. Một số người trở nên khinh thường người Mỹ và những giống dân khác khi họ không “giỏi” Toán. Có người còn nói ra rằng “Mấy thằng Mỹ này ngu quá. Tụi Mỹ học dở lắm.” Người Mỹ có “ngu” không? Có “học dở” không? Mong rằng những học sinh này suy nghĩ lại, suy nghĩ thật kỹ xem ai là người thông minh, có khả năng; ai là người “ngu”, ai là người chỉ biết “học” cho “giỏi”, hoặc chỉ có khả năng “học” cho “giỏi”.

Ngay cả khái niệm của hai chữ “học” và “giỏi” cũng đã có sự khác biệt giữa hai dân tộc rồi. “Học” nghĩa là học và nghiên cứu để ứng dụng, phát triển, và phát minh chứ không phải chỉ có gạo bài, “memorize”, huấn luyện giải Toán, và giải Toán. “Giỏi” cần phải giỏi trong việc học và trong việc ứng dụng, phát triển, và phát minh thêm chứ không phải chỉ có giỏi giải Toán. Chúng ta cần suy nghĩ và tự hỏi xem chúng ta có nhà Toán học, Vật Lý học nào có khả năng thiết lập những chương trình Toán học phức tạp để khám phá và giải quyết những vấn đề bí mật của vũ trụ, của nguyên tử, v.v. không? Họ có nhiều lắm. Hơn nữa đối với rất nhiều ngành chuyên môn thì giỏi Toán chưa chắc đã là điều cần thiết nhất. Tại sao chúng ta ai cũng phải giỏi Toán như mức độ đòi hỏi của nền giáo dục và nền văn hoá Việt Nam?

Nói chung lại thì để hiểu rõ vấn đề hơn, chúng ta nên tự đặt những câu hỏi đại khái như sau: Nếu chúng ta “giỏi” thì tại sao chúng ta không “dạy” mà chúng ta lại phải “học” từ người khác trong mọi lãnh vực từ xưa đến nay? Nếu chúng ta “giỏi” thì tại sao chúng ta không “cho” mà chúng ta lại “xin” (viện trợ tài chánh, chuyển giao kỹ thuật chẳng hạn)? Nếu chúng ta “giỏi” thì tại sao chúng ta cần họ mà họ không cần chúng ta? Nếu chúng ta “giỏi” thì tại sao chúng ta không lãnh đạo thế giới mà lại bị họ lãnh đạo? Chúng ta có khả năng đầu óc; tuy nhiên, chúng ta cũng cần thường xuyên xét lại mình để không bị sống trong một “illusion” thông minh, giỏi giang quá … như chúng ta tưởng.

Ðang nói về chuyện thực tế. Không biết cách dậy học ở Việt Nam có thực tế không? Những bài toán cao siêu, lắc léo chẳng liên quan gì tới cuộc sống hàng ngày được nhồi nhét, ép buộc học sinh phải học và phải tiêu hóa. Những bài toán có nhiều tính chất lý thuyết đó để làm gì bây giờ? Khi làm những bài toán như vậy, nó cũng giúp tăng cao khả năng phân tích, khả năng tìm giải pháp, nhưng trong cuộc sống hàng ngày có cần phải học những bài toán quá khó đó không? Ðể sau này lên đại học học cũng được vậy, nếu cần thiết và nếu muốn đi sâu hơn. Không hiểu tại sao người ta bắt mình học sớm quá. Áp lực học những môn đó quá nhiều, nhức cả đầu. Thời gian và sức lực để đầu tư cho những môn khác và cho những hoạt động khác không còn nữa. Thời gian và trí óc để suy nghĩ về những việc khác có lợi cho sự phát triển cá nhân con người, cho xã hội bị những công thức toán học lấy mất. Thời gian để đi làm thêm, để thu thập kiến thức, kinh nghiệm làm việc thực tế ngoài xã hội không còn nữa. Thời gian giải trí cũng mất tiêu. Nghĩ lại thấy thật bực mình. Hồi đó học như một cái máy, máy giải toán. Không biết nó cống hiến vào sự phát triển trí thông minh của mình bao nhiêu? Không biết nó cống hiến vào sự phát triển tính thụ động, đờ đẫn, máy móc, không sáng tạo của mình bao nhiêu?

Thực ra đa số học sinh Việt Nam trong nước cũng như ngoài nước chỉ học giỏi theo tính cách đọc sách, học bài, làm bài, làm bài thi rồi được điểm cao mà thôi. Điều này chưa chắc cho thấy nhiều về sự thông minh. Ra ngoài đời rồi mới biết. Nền giáo dục Việt Nam cũng được tổ chức theo cách đó, và gia đình Việt Nam cũng khuyến khích học sinh học theo cách đó. Các học sinh Việt Nam có được điểm cao là do học như vậy. Các giáo sư nước ngoài, báo chí nước ngoài có ca ngợi học sinh sinh viên Việt Nam cũng là ca ngợi “học” … như vậy mà thôi. Điều này có lẽ không nên tự hào nhiều và ca ngợi nhiều. Cách học như vậy và tổ chức giáo dục như vậy chỉ đào tạo ra những con người … giỏi làm việc cho người khác mà thôi.

Quan trọng hơn và tốt hơn là nền giáo dục Việt Nam nên được tổ chức lại để học sinh không những … giỏi đọc sách, trả bài, và làm bài mà còn phải được giáo dục và giỏi về khả năng quản lý, khả năng lãnh đạo, khả năng sáng tạo, khả năng làm việc chung, khả năng lập chiến lược đường lối, v.v. Cả một xã hội Việt Nam cần thay đổi cách nhìn về thế nào là “giỏi”, “học giỏi”, và “thông minh”. Có như vậy thì người Việt Nam mới khai thác được và chứng minh được sự thông minh thực sự của mình. Có như vậy thì Việt Nam mới không suốt đời ở vị trí kém cỏi so với các quốc gia khác và người Việt Nam mới không phải suốt đời làm việc cho người khác.

Không biết bao nhiêu công sức, tiền của, thời gian bỏ ra huấn luyện những học sinh thi đạt giải quốc tế rồi để làm gì? Có lẽ những giải thưởng đó có một giá trị tinh thần cho học sinh và giá trị “status” cho đất nước. Những học sinh đó về lại nước có sử dụng những kiến thức của mình một cách thực dụng hay không? Chắc có nhiều người sẽ vào lại những trường đại học để tiếp tục dạy những môn học đó. Không biết những lý thuyết Toán, Lý đó người ta có đem ra áp dụng trong thực tế được không hay lại chỉ là những công thức, định lý, giải pháp trên giấy trắng, trên bảng đen? Chắc cũng có những người kiếm được cơ hội có việc làm tốt để mà áp dụng kiến thức của mình. Không biết tình hình kinh tế Việt Nam hiện giờ có tạo cơ hội cho những người này áp dụng kiến thức của họ không? Mong là công lao học tập của họ sẽ đưa đến những kết quả thực tiễn cho họ. Ờ, mà bây giờ ngành điện toán và viết chương trình điện toán đang phát triển mạnh ở Việt Nam. Chắc những người này sẽ có cơ hội áp dụng kiến thức của họ. Nếu giỏi Toán thì lãnh vực công nghiệp phát triển phù hợp nhất là điện tử rồi. Nhưng để áp dụng thực tế những kiến thức trong trường, chắc chắn chương trình giảng dậy cần phải thực tế hơn.

Nói tới kinh tế mới nhớ. Bây giờ ở Việt Nam, chính phủ và học sinh bắt đầu thấy được sự quan trọng của các ngành kinh tế, kinh doanh thương mại. Số lượng những người học các ngành này hình như rất nhiều, ai cũng muốn học những ngành này thì phải? Nhưng nhiều người học quá không biết ra trường có việc làm không? Không biết việc giảng dạy kinh tế, thương mại như thế nào? Chỉ mong công sức, tiền bạc đầu tư vào việc giảng dậy và học hỏi những ngành này sẽ không bị bỏ phí. Sau bao nhiêu năm học hỏi, mệt nhọc, hy vọng mà ra trường không có việc làm chắc sinh viên bị khủng hoảng tâm lý nhiều lắm, chắc bực tức lắm. Không biết họ có hối hận hay không? Không biết họ có thất vọng hay không? Hy vọng họ sẽ kiếm được việc. Nếu không kiếm được việc trong ngành thì những kiến thức kinh tế, kinh doanh lúc nào cũng cần thiết và cần dùng đến trong cuộc sống thực tế của họ. Vậy cũng tốt.

Hy vọng việc học kinh tế thương mại không phải là một phong trào để rồi ai cũng đổ sô vào học. Tốn tiền, tốn sức, tốn thời gian để đào tạo ra quá dư thừa sinh viên để rồi bị thất nghiệp. Nhưng mà chắc người ta cũng biết tự chọn cho mình ngành nào cần và ngành nào đem tới việc làm và bảo đảm cuộc sống cho họ chứ.


Ðêm ... tháng ... năm ...

Cuốn sách mới đọc xong có nhắc tới bốn chữ “Ðịa linh - Nhân kiệt” làm nhớ lại lâu lâu vẫn thường nghe mọi người nói đến những chữ này hoặc thỉnh thoảng đọc sách đọc báo cũng thấy được đề cập tới. Nghĩ lại sao thấy Việt Nam nhiều “Ðịa linh” và nhiều “Nhân kiệt” quá. Vậy tại sao đất nước vẫn chậm tiến?

“Ðịa linh - Nhân kiệt” trong văn hoá Việt Nam là điều được nói tới khá nhiều và được nhiều người quan tâm, để ý. “Ðịa linh - Nhân kiệt” mình nghĩ có nghĩa là những vùng đất “tốt” thì thường tạo nên những người tài giỏi hoặc người tài giỏi thì thường được sinh ra trong những vùng đất “tốt”. Chắc cũng đúng vì có những nơi số người thành công có lẽ nổi bật hơn những nơi khác. Môi trường sống có góp phần tạo nên tính cách con người rất nhiều, nhưng không biết khi nói như vậy mọi người có nghĩ nhiều về môi trường văn hoá, môi trường xã hội hay chỉ muốn nói tới môi trường tự nhiên? Không biết họ có nhấn mạnh đến vấn đề phong thuỷ địa lý không? Phong thuỷ địa lý thì thôi ... không biết để bàn tới.

Tự nhiên cũng ảnh hưởng tới sự phát triển của tâm tính, trí thông minh, phong cách làm việc. Di truyền cũng góp phần. Nhưng môi trường xã hội, văn hoá, giáo dục chắc chắn có tính chất quyết định tạo nên một con người. Một người được sinh ra ở một nơi, dọn tới nơi khác để sinh sống và được giáo dục trong môi trường mới thì sự phát triển về tư duy của người đó sẽ khác đi so với trường hợp họ ở lại nơi họ sinh ra. Nếu vậy những người thông minh, những “nhân kiệt” phải là những người có thể tạo nên một môi trường để cho mọi người cùng phát triển.

Nhưng mà môi trường tự nhiên, xã hội, hay sinh học cũng chẳng quan trọng. Người ở đâu, tới đâu sống và thành công ở mức độ nào cũng không quan trọng. Ðiều cần phải lo lắng ở đây là nếu một xã hội chưa phát triển cao thì có nhiều "địa linh", nhiều "nhân kiệt" quá có thể không tốt.

Nếu nhiều “Ðịa linh” và nhiều “Nhân kiệt” quá mà không “Nhân kiệt” nào phục hoặc đồng ý với “Nhân kiệt” nào và người nào cũng thấy “địa” của mình “linh” hơn “địa” của người khác thì sao? Ai cũng thấy mình “kiệt” hơn người khác thì sao? Nếu những người tự coi mình là “nhân kiệt” đó không coi trọng ý kiến của những người không thuộc vùng đất “địa linh” thì sao? Trong một xã hội mà con người bị ảnh hưởng quá nhiều bởi những điều nêu trên thì sự tranh giành, bất phục, bất hợp tác, bè phái, chèn ép, và trù dập có nhiều cơ hội nảy sinh. Cách làm việc mang nặng tâm lý “dictatorship” dễ hình thành. Tranh giành dễ xảy ra không những giữa những người tự nghĩ (hoặc tự hào) mình là “nhân kiệt” từ những vùng đất “địa linh” khác nhau mà còn giữa những người đó và những người không được coi là “nhân kiệt”, không từ một vùng đất “địa linh”. Trong quá trình tranh giành đó thì sự chèn ép, trù dập (những người khác mình), bè phái (với những người giống mình), và bất hợp tác, bất phục sẽ xảy ra. Niềm tin cá nhân vào khả năng của “nhân kiệt” từ vùng đất “địa linh” có thể là một lý do đưa tới tâm lý không biết lắng nghe và không chịu lắng nghe người khác. Kết quả là “dictatorship” (ở nhiều nức độ khác nhau).2

Niềm tin quá nhiều vào “Ðịa linh - Nhân kiệt” này sẽ nguy hiểm trong một xã hội có sự tổ chức quyền lực tập trung trong tay một nhóm người, và những “nhân kiệt” này được giữ những vai trò quan trọng. Không có cơ cấu bảo đảm sự làm việc công bằng cùng với những sự chống đối, ganh ghét, hoặc bất hợp tác giữa những người nắm quyền với nhau, hoặc giữa những người nắm chính quyền và người dân thì nguy cơ đưa đến những hậu quả tệ hại lại càng cao. Trong điều kiện làm việc xã hội còn sơ khai, chưa phát triển được những cơ cấu bảo đảm sự làm việc hài hòa và công bằng giữa người với người thì tác hại của vấn đề này sẽ được tăng lên theo số lượng của “địa linh” và số lượng “nhân kiệt”.

“Nhân kiệt” thực sự phải là người biết nghe ý kiến, biết làm việc với mọi người để đưa đất nước tiến lên chứ không phải là người có quyền cao chức trọng trong một xã hội nghèo nàn chậm tiến.

Xã hội phát triển là xã hội có nhiều người tài giỏi nhưng quan trọng hơn là xã hội trong đó mọi người làm việc được với nhau và quyền lợi cũng như ý kiến của đám đông được tôn trọng. Ðất nước có quá nhiều “địa linh” và quá nhiều “nhân kiệt” nhưng những người này không làm việc được với nhau và không làm việc được với người khác là một sự thất bại. Nước Ấn Ðộ là một ví dụ rõ ràng cho sự kém phát triển một phần vì mọi người không làm việc được với nhau mặc dầu đất nước đó có nhiều người tài giỏi. Tổ chức xã hội và cách làm việc của những con côn trùng như ong, kiến đã cho thấy được sự thành công của khả năng làm việc chung và cách tổ chức xã hội hiệu quả. Khả năng đó là một trong nhiều lý do khiến những con côn trùng này còn tồn tại tới ngày nay từ trước thời khủng long trong khi hàng ngàn loại thú vật khác đã bị tuyệt chủng.

(Khả năng làm việc chung với nhau rất quan trọng. Để Việt Nam trở thành một nước thành công thì chính quyền nên chú trọng vào việc giáo dục con người làm việc chung với nhau chứ không nên tập trung quá nhiều vào việc giáo dục học sinh “học giỏi” trong những môn học trong trường, lớp. Giáo dục ở đây là giáo dục một cách khoa học, sáng suốt chứ không phải tuyên truyền, hô hào một cách sáo rỗng, giả tạo, và không hữu hiệu. Học giỏi các môn học theo kiểu Việt Nam khó mà giúp toàn xã hội phát triển được. Hơn nữa, có thể nhiều học sinh học giỏi kiểu này sẽ muốn ra nước ngoài học, nghiên cứu, và làm việc, để rồi sẽ ở lại nước ngoài, và gây nên nạn chảy máu chất xám.)

Nước Việt Nam thật có “quá nhiều” người “tài giỏi”. Những quyển sách về danh nhân Việt Nam, quyển nào cũng dày cộm. Nhưng nều nhìn kỹ lại thì rất nhiều (rất nhiều) trong số những người này không có khả năng đáng kể hoặc cống hiến to lớn, mặc dầu thực sự họ có một chút công lao nào đó cho đất nước. Rất nhiều người không có khả năng, thực tài nhưng được đưa vào danh sách vì những lý do chính trị, vì có dòng dõi vua quan nào đó, hoặc vì nhưng những câu chuyện về họ có nhiều tính chất “romanticism”, v.v. Từ ngàn xưa và cho tới cả ngày nay, có nhiều người chỉ có những đóng góp tương đối thôi, hoặc trong chiến tranh tổ chức được một vài cuộc nổi dậy nho nhỏ trong vòng vài ngày, vài tuần, hoặc vài tháng cũng đã được gọi là danh nhân nước Việt. Có những nhân vật có một vài ý tưởng (nhưng những ý tưởng này cũng chỉ học lại từ người khác, từ quốc gia khác chứ không phải ý tưởng mới của tự bản thân) và vừa phát động được một vài phong trào nhỏ bé trước khi bị dập tắt ngay sau đó cũng đã được gọi là những danh nhân, những nhà cách mạng rồi.

Danh nhân phải là những người có cống hiến mang đúng ý nghĩa to lớn và cách mạng chứ không phải chỉ có ý tưởng (học lại), không phải chỉ có phát động phong trào, nhưng không đem lại kết quả. Những vị đó chỉ nên được xem là có công và có một khả năng nhất định (điều này tương đối và tùy khái niệm của mỗi cá nhân) mà thôi chứ không thể gọi là nhân tài hoặc nhà cách mạng được. Đồng ý rằng khả năng và công lao của họ cần được công nhận, ca ngợi, và biết ơn. Nhưng trong một xã hội có “thói quen” ca ngợi hơi “quá” thì sự khen ngợi đó dễ đưa tới sự tự hào quá đáng, không chính xác, và sự hiểu lầm khả năng của con người. Chúng ta có những nhân tài mang đúng ý nghĩa, nhưng cũng lại có quá nhiều nhân vật mà tài năng không xứng với sự ca ngợi. Trách nhiệm tìm hiểu rõ hơn về mức độ tài năng và cống hiến của những nhân vật này cũng tùy thuộc vào thế hệ trẻ rất nhiều.

Ý tưởng “Ðịa linh, Nhân kiệt” tự nó không phải là một ý tưởng xấu, và sự liên hệ giữa “địa linh” và “nhân kiệt” có thể đúng ở một mức độ nào đó. Xấu hay tốt là do con người sử dụng. Có lẽ điều cần phải làm hoặc cần chú ý ở đây là đưa ra một định nghĩa mới về “Ðịa linh” và “Nhân kiệt” để nhấn mạnh đến vai trò tương quan của “nhân kiệt” đối với mọi người trong xã hội hiện đại ví dụ như vai trò phục vụ, vai trò một nhân tố nhỏ trong xã hội bao gồm rất nhiều nhân tố khác, trách nhiệm lắng nghe và tiến hành. Điều cần chú ý là phải nhấn mạnh đến tác động của môi trường văn hoá và giáo dục đến sự phát triển của con người, chứ không phải phong thủy địa lý; phải nói tới những “side effects” của vấn đề “Ðịa linh, nhân kiệt” và tác hại của những “side effects” này (ví dụ như quá nhiều “địa linh” và quá nhiều “nhân kiệt” nhưng không ai phục ai hoặc không làm việc được với nhau). Ðồng thời cần phải thấy rằng đây là một vấn đề có nhiều tính chủ quan, và niềm tin quá nhiều vào vấn đề này sẽ có tác hại. Hơn nữa với sự suy nghĩ của con người hiện đại và sự vận hành của xã hội hiện đại thì ý tưởng “Ðịa linh” và “Nhân kiệt” truyền thống đã lỗi thời rồi và không nên ca ngợi nhiều.

Có hai cơ cấu (mechanism) có thể bảo đảm sự làm việc công bằng và hữu hiệu trong xã hội con người. Ðó là sự áp dụng của luật ý kiến đa số (majority vote) và “market forces” (áp lực thị trường(?)).

Ý kiến của số đông là ý kiến tốt nhất và có thể dùng để con người làm việc với nhau hữu hiệu nhất. Nhiều ý kiến hay quá, và ai cũng tự tin ý kiến mình đúng và bảo vệ ý kiến của mình thì phải làm sao? Dĩ nhiên đám đông sẽ quyết định. Ý kiến của đa số là ý kiến hữu hiệu nhất và công bằng nhất vì nó là của nhiều người, được sự đồng ý của đa số, và đem lại nhiều quyền lợi cho nhiều người nhất trong một tổ chức, một nhóm người, hoặc một đất nước. Không có ý kiến nào tốt hơn ý kiến của đa số được. Ý kiến đa số là ý kiến “tốt” nhất mặc dầu có thể không phải là ý kiến “hay” nhất. Tốt nhất tại vì nó tốt nhất cho nhiều người. Hơn nữa một người hay một nhóm người quyết định phương hướng cho mọi người là điều không công bằng, không hữu hiệu, không khoa học, và không thực tế. Một số nước dân chủ đã giải quyết vấn đề này bằng cách dùng “representative” do mọi người bầu ra và áp dụng “majority vote”. Ðiều này đã được họ áp dụng ở khắp nơi từ thể chế chính trị đến trong các công ty, tổ chức, và cả gia đình với sự thành công rất lớn.

“Mechanism” thứ hai là “market forces”. “Market forces” này áp dụng trong Kinh tế, Thương nghiệp và trong những lãnh vực khác như Chính trị, Văn hoá, Xã hội, và ngay cả tình yêu, v.v. “Market forces” ở đây được vận hành bởi sự tự do lựa chọn và tự do cạnh tranh. Ðó là hai yếu tố chính yếu của “market forces”. Tự do lựa chọn và tự do cạnh tranh trong khuôn khổ luật pháp. Theo luật tự nhiên con người sẽ lựa ra những gì tốt nhất và có lợi nhất cho mình và loại bỏ những thứ khác. Ðiều này áp dụng cho hàng hóa lẫn cho con người. Và hàng hóa cũng như con người phải cạnh tranh và cải tiến để được là thứ hàng hóa hoặc con người mà người khác sẽ chọn. Kết quả của sự tự do cạnh tranh và quá trình tự do lựa chọn là chỉ có những món hàng tốt nhất, những con người phù hợp nhất cho sự phát triển chung tồn tại mà thôi. Kết quả là xã hội, công ty, tổ chức, gia đình, … mọi thứ, sẽ được vận hành và chính sách sẽ được thiết lập bởi những con người tốt nhất, phù hợp nhất. Vì đây là sự chọn lựa của mọi người một cách tự do và công bằng nên kết quả của nó sẽ được mọi người chấp nhận và con người sẽ thoả mãn và hạnh phúc. Ðơn giản vậy thôi.

Một điểm rất quan trọng (rất quan trọng) là sự thông minh, sáng suốt, và trình độ dân trí, cũng như thông tin chính xác đóng một vai trò đặc biệt trong quá trình chọn lựa. Sự thông minh và trình độ dân trí càng cao cộng với sự chính xác và đầy đủ của thông tin sẽ càng đưa đến những chọn lựa tốt nhất.

Một ví dụ đơn giản nhưng rất rõ ràng nói lên tác dụng rất tốt của sự cạnh tranh này, đồng thời làm giảm thiểu tác hại của việc đánh giá con người dựa trên tính chất vùng miền/giọng nói, là lãnh vực nhân sự trong môi trường làm việc cạnh tranh công bằng với cơ cấu thị trường tự do. Ngoài việc chọn lọc những người tốt, có lợi cho sự phát triển chung của công ty; tự do lựa chọn, tự do cạnh tranh, “majority vote” chính là những cơ cấu giải quyết được vấn đề vùng miền. Quyết định tuyển chọn nhân viên trong một công ty sẽ được dựa trên khả năng, kiến thức, tiềm năng, mức độ đáng tin cậy, v.v. của nhân viên chứ không phải dựa trên giọng nói hoặc quê hương của người đó. Và trong quá trình làm việc, người chủ sáng suốt sẽ đánh giá năng lực của nhân viên dựa trên kết quả việc làm thực tế. Quyết định tăng lương cũng vậy. Quyết định bổ nhiệm vào vị trí cao cũng thế; người có năng lực, nhiều tiềm năng, và mức độ tin tưởng cao sẽ được giao cho vị trí cao và quan trọng; chứ giọng nói hoặc gốc gác quê hương sẽ không được quan tâm đến. Và dĩ nhiên trong môi trường làm việc cạnh tranh và kinh tế tự do như vậy mọi người sẽ phải cố gắng cạnh tranh hết sức để trở thành người có khả năng, để chứng minh lòng trung thực đáng được tin cậy, để trở thành người tốt, đàng hoàng, làm việc hiệu quả, v.v. để được chọn vào làm, được chọn tăng lương và được chọng thăng tiến. Đây là điều rất tốt và rất tự nhiên thôi.


Ðêm ... tháng ... năm ...

Hai chữ “Revolution” và “Evolution” bỗng dưng lại tới trong đầu. Xã hội phát triển bằng một trong hai cách, “Revolution” và “Evolution”.

“Revolution” là những thay đổi phải lớn và xảy ra trong thời gian ngắn, giống như cách mạng Pháp hay cách mạng công nghiệp vậy. Rõ ràng những thay đổi này thường có tác động mạnh mẽ tới nhiều mặt của xã hội. “Revolution” thường đánh đổ hoàn toàn những cái cũ đi để thay vào đó những cái mới. Con đường cũ bị dẹp bỏ và con đường mới được thiết lập. “Revolution” có thể về công nghiệp, hoặc chính trị, quân sự, v.v. Còn “Evolution”? Không biết chữ “Evolution” dịch sang tiếng Việt chính xác là gì? (Tiến hoá (?)) Nhưng đại khái “Evolution” nói lên sự cải tiến những gì đã có sẵn. “Evolution” nói tới sự đi lên tới một mức tốt hơn. “Evolution” cũng có nghĩa là sửa đổi một cách rộng lớn những cái gì có sẵn để tiến nhanh hơn. “Evolution” có tính cách nối tiếp liên tục từ cái cũ tới cái mới. “Evolution” diễn ra trên một con đường và liên tục qua thời gian. Trong khi “Evolution” tìm cách cải tiến và đi nhanh hơn trên con đường hiện tại thì “Revolution” lại tìm kiếm một con đường khác.

Ðiều tai hại của “Evolution” là có thể con đường đang đi không hẳn là con đường tốt nhất, và tìm cách làm tăng vận tốc không hẳn là dễ. Ðiều chỉnh vận tốc và “adjust” con đường đi cho tốt hơn có thể làm được nếu mở rộng tầm nhìn và chịu học hỏi từ môi trường xung quanh và từ kinh nghiệm đi trước. “Evolution” một cách sâu rộng cũng có thể đưa tới một con đường mới. Nhưng sự chuyển qua con đường mới này không bị đánh dấu bởi một cái “nhảy” như “Revolution” mà là “change lane” hoặc “merge” qua con đường mới mà thôi.

“Revolution” nghe thì to lớn nhưng cũng có tác hại. Tác hại của “Revolution” liên quan đến sự đào thải cái cũ. Sự đào thải này là sự tàn phá cái cũ để đưa cái mới lên. Ðiều đáng lo lắng là cái mới không ai biết được có tốt hơn cái cũ hay không. Nếu có tốt hơn thì tốt hơn nhiều không. Có đáng để làm một “Revolution” hay không? Một tác hại nữa là sau “Revolution” nhất là “Revolution” có sự tham gia của quân sự, vì bản tính của những cuộc “Revolution” này mà xã hội trước khi cất bước đi trên con đường mới thường phải thụt lui lại vài ba bước do tàn phá của chiến tranh. Ðiều này thấy rất rõ ở các nước có nhiều chiến tranh.

“Revolution” để hy vọng tìm được cái mới tốt hơn, nhưng “Revolution” cũng có thể lập nên một con đường không như mong đợi. Bên cạnh đó “Revolution” có thể dẫn tới những “Revolution” khác. Ðiều này xảy ra vì những người bị đào thải không đồng ý với những cái mới và tiếp tục chống đối cái mới. Sự đào thải cái cũ bằng “Revolution” và chống đối cái mới sau “Revolution” có thể sẽ xảy ra liên tục và không bao giờ chấm dứt như một cái vòng. Ðây là một tác hại khác của “Revolution”.

Một xã hội được đánh dấu bởi “Revolution” nhiều quá thì không thể phát triển được vì những tác hại nói trên của “Revolution”, sự thụt lùi của xã hội, sự đấu tranh không ngừng, và khả năng có thể có của một điều xấu hơn sau “Revolution”. Ðất nước có nhiều người thích làm “Revolution” quá thì ... nguy. Tuy nhiên “Revolution” thành công, đúng hướng có khả năng đem lại sự thay đổi cải tiến nhanh chóng và to lớn. Yếu tố “risk” trong “Revolution” rất lớn.


Ðêm ... tháng ... năm ...

Kinh tế Việt Nam lúc này có lẽ khá hơn trước. Hy vọng càng ngày sẽ càng tốt hơn. Kinh tế Á Ðông nói chung và Việt Nam nói riêng chậm phát triển hơn phương Tây một phần vì ảnh hưởng của đạo Khổng (Confucianism). Dĩ nhiên có nhiều lý do nhưng đạo Khổng chắc chắn đóng một vai trò quan trọng.

Ðạo Khổng bắt nguồn từ Trung Quốc đã không coi trọng giới thương gia. Trong xã hội Trung Quốc đứng đầu là những người đi học, những người làm quan, những người làm ... thơ, v.v. Những người làm kinh doanh, kinh tế đứng ở cuối cùng của hệ thống giai cấp xã hội. Ðạo Khổng nhấn mạnh đến việc rèn luyện con người để trở thành người “quân tử”, và vì những thương gia thường không được đi học, bị nghi ngờ là gian dối, vật chất, không “tinh khiết” thành ra họ không bao giờ được coi là quân tử, “righteous”, và được xếp ngang hàng với những người được học về thơ văn hay “đạo đức thánh hiền” cả.

Ðạo Khổng cũng nhấn mạnh đến việc tổ chức quyền lực xã hội tập trung từ trên xuống nên mọi người đều cố gắng đi học để đạt được vị trí trên cao, và dùng “tài”, “đức” của người quân tử để cai trị thiên hạ từ bên trên. Những người được gọi là có học này, không phải giới thương gia, mới là những người được tôn kính.

Nhưng tại sao người Trung Quốc lại có vẻ có khiếu về giao thương và khá thành công về kinh tế vậy? Ðiều này cũng chính là hậu quả của ảnh hưởng đạo Khổng. Sự coi trọng những người quân tử có học (nhưng không phải học về kinh tế, mà thực sự ngày xưa Trung Quốc cũng không có Kinh Tế học) khuyến khích nhiều người theo đuổi việc học. Nhưng không phải ai cũng có khả năng và có điều kiện để học. Vì vậy một khối lượng lớn dân chúng phải tham gia vào những việc khác. Giao thương chính là một trong những công việc khác này. Họ không còn lựa chọn nào khác thành ra họ phải đi buôn bán. Và họ đã tạo nên một đội ngũ thương gia khá lớn và thông thạo việc thương mại từ lâu (mặc dầu sự thông thạo này có nhiều tính chất “instinct” và thành công chỉ ở mức nhỏ mà thôi). Ðiều lý thú là có những người thành công về thương mại nhưng rồi cũng lại muốn cho con cái mình học và làm những việc không thuộc về kinh doanh thương mại. Ðó một phần cũng do ảnh hưởng không tốt của đạo Khổng.

Một điều tương tự như vậy đã xảy ra đối với người Do Thái. Ngày xưa những người có quyền hành, những người chủ, nắm giữ chức vụ là những người có quyền sở hữu đất đai. Người Do Thái suốt lịch sử của họ thường ở trong vị trí bị thống trị và bị làm nô lệ. Họ không phải là những người có quyền có đất để làm nông nghiệp. Vì vậy họ phải quay qua một nghề khác là buôn bán, và một trong những lãnh vực buôn bán tập trung nhất là nữ trang và đá quý. Chính vì vậy mà người Do Thái ngày nay đã trở nên tài giỏi trong việc buôn bán nói chung và buôn bán nữ trang và đá quý nói riêng.

Một ảnh hưởng không hay khác có thể bắt nguồn từ việc trọng quân tử (và cũng là đề tài thú vị để nghiên cứu về đạo Khổng) là: niềm tin vào sự hoàn hảo của người quân tử lý tưởng sẽ tạo nên đòi hỏi con người phải “perfect”. Một ví dụ là việc chúng ta nhìn vào cuộc sống riêng của người khác, đặc biệt là những “public figures”, và đòi hỏi rằng ngoài những công việc tốt cho xã hội, họ phải là những cá nhân tốt đẹp nữa. Điều đáng buồn là theo sau sự để ý này sẽ là phê phán và bài bác, chê bai. Sự phê phán này có chính xác, chân thật, vô tư hay không lại là một vấn đề khác. Những cá nhân chê bai người khác có hoàn hảo, tốt đẹp hay không lại là một chuyện khác. Có những người đã cống hiến rất lớn cho xã hội, nhưng vì sự moi móc mà danh tiếng, cuộc sống của họ bị ảnh hưởng không ít. Dường như chúng ta không phân biệt được và không có khả năng tách rời “public life” và “private life”.

Bất cứ xã hội nào cũng không có người hoàn hảo, mặc dầu ai ai cũng nên cố gắng làm một người tốt, nhưng xã hội Khổng Giáo hình như đã có những đòi hỏi không thể thực hiện được (và thường đòi hỏi người khác chứ không phải đòi hỏi chính bản thân mình). Những dân tộc khác cũng làm điều đó, nhưng mức độ và sự ảnh hưởng của vấn đề này trong xã hội Việt Nam lại quá lớn. Sự chen chân vào cuộc sống riêng tư của người khác như vậy và tác động của nó có ảnh hưởng rất lớn trong một xã hội có tính chất cộng đồng (communal), quan trọng “mặt mũi” (“face” culture), và xã hội Confucius như Việt Nam.

Một tác hại khác và là kết quả của những vấn đề trên là có những người có khả năng nhưng lại lo lắng khi ra đời làm những công việc xã hội. Họ không muốn những sự phiền toái. Họ e ngại cuộc sống cá nhân và gia đình bị ảnh hưởng. Vì vậy họ sẽ không tham gia làm việc xã hội. Kết quả là xã hội sẽ bị mất đi những cống hiến quý báu từ những người này.

Ảnh hưởng tốt xấu của đạo Khổng trong xã hội là một đề tài rộng. Tuy nhiên ảnh hưởng quá lớn của đạo Khổng trong xã hội Việt Nam chính là một lý do làm cản trở sự phát triển của đất nước. Không những đạo Khổng không thúc đẩy kinh tế thương mại phát triển mà còn có nhiều tác hại trong những lãnh vực xã hội, chính trị, giáo dục khác nữa ngoài những giá trị tích cực của triết lý này.

(Một vài điểm tốt của đạo Khổng là sự trung thành; hy sinh; giá trị gia đình, cấu trúc gia đình (và ở một góc cạnh nào đó cấu trúc xã hội) vững chắc; tôn trọng người lớn tuổi và thế hệ đi trước; dễ dàng trong việc áp đặt kỷ luật; v.v. Tuy nhiên đạo Khổng lại tạo điều kiện cho những vấn đề có hại sau đây phát triển: sự trung thành, hy sinh, tôn kính một cách mù quáng; khuyến khích sự áp đặt và chèn ép; cơ cấu thưởng phạt không công bằng; dễ tạo nên tâm lý “dictatorship”; khuôn khổ và cứng nhắc; không khuyến khích sự sáng tạo và phát triển khả năng trí tuệ; không cho phép ý kiến và tranh luận; không khuyến khích sự đa dạng và sự khác biệt; không khuyến khích sự thay đổi; mất niềm tin vào thế hệ trẻ; v.v.)

Ngày nay thì khác rồi. Kinh doanh thương mại là một trong những ngành quan trọng sống còn của một đất nước. Những nước đang phát triển như Việt Nam đã bắt đầu thấy được tầm quan trọng của kinh doanh thương mại. Kinh doanh thương mại còn có khả năng giúp con người trở nên giàu có, có quyền hành và địa vị. Kinh doanh thương mại đã được tôn trọng và đạt được vị trí đúng của chúng. Nhiều người đã học và làm kinh doanh. Ðây là một điều đáng mừng. Về Việt Nam thì thấy không khí làm ăn kinh doanh thương mại rất hăng say. Tinh thần “entrephreneurship” có ở nhiều người. Con người đã học hỏi được nhiều về phương cách làm ăn hữu hiệu của Tây phương và nhiều người đã thành công lớn. Mong là môi trường sẽ càng ngày càng thuận lợi hơn cho họ. Dân có giàu thì nước mới mạnh mà. Bao tử mà còn đói thì đố ai làm gì được.

Người Trung Quốc trước kia chỉ kinh doanh buôn bán theo thói quen và theo cái khiếu mà thôi chứ không phải làm việc một cách khoa học. Những thành công lớn sau này ở Trung Quốc, Ðài Loan, Hong Kong, hay Singapore có tác động chuyển đổi xã hội của họ đều nhờ vào những kiến thức kinh tế và kinh doanh học được từ phương Tây. Những kiến thức này bao gồm lý thuyết kinh tế, chiến lược kinh tế, chiến lược tài chánh, ngân sách, chiến lược ngoại thương, cách tổ chức công ty, cách quản lý, các định hướng, cách nghiên cứu thị trường, kỹ thuật quảng cáo, kỹ thuật tiếp cận thị trường, kỹ thuật tài chánh, tiêu chuẩn kế toán, v.v. Không có những kiến thức kinh tế và kinh doanh khoa học này, các nhà doanh nghiệp Á Ðông chưa chắc đã đạt được những thành công như hiện nay. Một vài tính chất của văn hoá đạo Khổng ví dụ như sự trung thành cũng giúp ích cho sự vận hành một công ty, nhưng đây chỉ là những chi tiết nhỏ mà thôi nếu nhìn vào một bức tranh kinh tế lớn.

Người Việt Nam muốn thành công trong kinh tế chắc chắn cần tập trung vào việc học hỏi và áp dụng những kiến thức kinh tế, kinh doanh khoa học và hữu hiệu của phương Tây. Sau đó hãy áp dụng những kiến thức đó cùng với cái khiếu làm ăn và tinh thần “entrphreneurship” để thành công. Nước Việt Nam muốn thành công thì người Việt Nam ngay từ bây giờ phải mau chóng từ bỏ những lối suy nghĩ cổ hũ, những “mentality” ngây thơ, những cái nhìn nhỏ hẹp, sai trật về giới thương gia; người Việt Nam hãy mau chóng không những chỉ ủng hộ, khuyến khích mà còn phải ca ngợi những người làm thương nghiệp, kinh doanh, và thấy được cống hiến, vị trí của giới doanh gia; và những người làm kinh doanh cũng phải tự chứng minh và khẳng định vai trò to lớn của mình trong xã hội, và đòi hỏi vị trí đúng của mình trong xã hội.

Hy vọng rằng sau này khi xã hội phát triển hơn thì Việt Nam sẽ có, và mọi người biết ca ngợi, những anh hùng kinh tế, anh hùng thương mại nữa. Anh hùng chiến đấu nhiều quá rồi. Thời này kinh tế, khoa học, và khối óc mới là vũ khí lợi hại.


Ðêm ... tháng ... năm ...

Hồi tối này mới coi một phim về chiến tranh. Nhìn thấy súng đạn, khói lửa, chết chóc lại nhớ tới chiến tranh Việt Nam. Nghe nói tới nhiều về cuộc chiến tranh này nhưng may mắn mình không bị ở trong đó. Nghe nói nhiều người chết lắm, cả hai phía, đều là người Việt. Không biết ảnh hưởng của chiến tranh lên tâm lý con người thì sao?

Chắc chiến tranh làm cho người ta can đảm lắm. Mà can đảm có lẽ người Việt có thừa. Từ xưa tới giờ cứ phải chiến tranh thành ra đặc tính tốt đó được tôi luyện trong người Việt Nam. Không những chỉ những người lính phải ra mặt trận mà ngay cả những người dân thường Việt Nam qua hàng ngàn năm lúc nào cũng phải đối diện với chết chóc, súng đạn, tang thương. Người lính lẫn người dân lúc nào cũng phải sống bên cạnh cái chết, chứng kiến cái chết, lúc nào cũng phải bảo vệ cái sống, bảo vệ mảnh đất hoặc lý tưởng. Rồi họ còn phải sống trong lo sợ hồi hộp. Họ phải đối diện với kẻ thù, với họng súng chĩa ngay trên trán họ. Họ phải chĩa súng vào người khác và bóp cò súng. Họ phải vật lộn với cuộc sống. Biết bao nhiêu là thứ. Chắc chắn người Việt phải có rất nhiều can đảm và phải cứng rắn lắm.

Nhưng không biết ngoài sự can đảm tốt đẹp, họ có liều lĩnh không? Nếu liều lĩnh thì không tốt rồi. Nhiều khi chiến tranh cũng tôi luyện nên sự liều lĩnh. Cứ phải giết người, cứ phải sống bên cạnh cái chết thì người ta cũng trở nên liều lĩnh được. Khi tuyệt vọng cũng trở nên liều lĩnh. Khi bất cần cuộc sống, không sợ cái chết nữa cũng trở nên liều lĩnh. Khi gia đình con cái bị chết hết thì người ta cũng có thể liều lĩnh. Khi đất nước bị chiếm đóng, người dân bị giết chóc, người ta cũng trở nên liều lĩnh. Trong chiến tranh có lẽ cũng cần sự liều lĩnh. Nhưng trong hoà bình thì không biết sao?

Trong thời gian hoà bình chắc không cần nhiều sự liều lĩnh. Nhưng nếu có máu liều lĩnh trong người thì sự liều lĩnh cũng xảy ra. Sự liều lĩnh có thể xảy ra qua việc lái xe ẩu tả, qua việc cướp giựt, giết người. Sự liều lĩnh cũng xảy ra trong việc dùng ma túy, trong quan hệ tình dục khi có AIDS. Sự liều lĩnh cũng xảy ra trong việc hút thuốc, uống rượu, đánh bài. Quá liều lĩnh để rồi không lo tới tính mạng của mình là một điều không sáng suốt. Quá liều lĩnh để rồi ảnh hưởng tới tính mạng và sự an toàn của người khác lại còn đáng trách hơn. Sự liều lĩnh cũng xảy ra trong việc thiết lập đường lối kinh doanh mặc dầu trong thương mại đôi khi cần phải liều lĩnh, nhưng sự liều lĩnh ở đây là sự liều lĩnh có tính toán, có suy nghĩ, nghiên cứu môi trường, thị trường, nghiên cứu đối thủ cạnh tranh, v.v. Sự liều lĩnh cũng có thể xảy ra trong việc buôn lậu, trong việc hối lộ, trong việc buôn bán ma tuý, trong việc biển thủ, v.v. Có lẽ sự liều lĩnh len lỏi vào nhiều lãnh vực lắm.

Mong là mọi người đừng hiểu lầm giữa liều lĩnh và sự can đảm hay gan dạ (cũng như hiểu lầm giữa cương quyết và bướng bỉnh).

Hối lộ, hối lộ… đây là một vấn đề lớn. Sức mạnh là yếu tố quan trọng trong việc nhận hối lộ. Ðạo đức suy đồi, kinh tế khó khăn, luật pháp yếu kém dễ đưa tới việc nhận và cho hối lộ. Người có cuộc sống không thoải mái lắm, lương tháng không nhiều nhận hối lộ là điều đáng chê trách. Nhưng đáng chê trách hơn nữa là những người đã giàu có rồi, đầy đủ rồi mà vẫn nhận hối lộ. Ðây là một điều lạ. Sự sống chết, đời sống kinh tế không bị đe doạ mà vẫn nhận hối lộ hoặc đòi hối lộ. Họ vẫn không chống cự nổi và vẫn đưa tay ra để nhận hoặc mở miệng ra để đòi. Ngoài những lý do như tham lam và đạo đức xuống thấp, sức mạnh có lẽ quan trọng trong trường hợp này. Họ biết nhận hối lộ là không tốt, họ biết họ không cần phải ăn hối lộ để cuộc sống được bảo đảm, nhưng họ vẫn không đủ sức mạnh để rút tay lại và nói “Không được.”

Sự yếu đuối có mặt mọi nơi mọi lúc trong xã hội. Có nhiều lý do để đưa tới những vấn đề sau đây, nhưng trong bất cứ trường hợp nào cũng vậy, có lẽ sức mạnh vẫn luôn luôn là một yếu tố quan trọng. Thiếu sức mạnh đã đã làm nhiều người không thể chống cự lại một việc làm rất nhỏ là xả rác. Thiếu sức mạnh đã làm cho nhiều cô gái trẻ không nói “Không” được khi những người bạn trai đòi hỏi sự quan hệ xác thịt. Thiếu sức mạnh đã làm cho những chàng trai trẻ nói “cởi mở, hiện đại” nhưng không chứng minh được chính mình. Thiếu sức mạnh đã làm cho người ta bỏ qua sự gian dối của chính họ. Thiếu sức mạnh có thể làm cho một số người “yêu” chỉ để lợi dụng. Thiếu sức mạnh đã làm con người nói dối một cách không cần thiết. Thiếu sức mạnh đã làm nhiều người không có khả năng chấp nhận sự thất bại của mình với người khác. Thiếu sức mạnh làm cho con người kiêu ngạo. Thiếu sức mạnh đưa tới sự ganh tỵ. Thiếu sức mạnh làm người ta hay chê bai. Thiếu sức mạnh làm nhiều người trở nên mê tín. Thiếu sức mạnh đã làm cho những ông chồng cất tay đánh vợ. Thiếu sức mạnh đã làm những người vợ đi đánh bài. Thiếu sức mạnh đã làm cho người bố nằm coi TV khi đứa con bốn tuổi đang muốn được nghe truyện cổ tích. Thiếu sức mạnh đã làm người mẹ la mắng đứa con trước mặt bạn bè của nó. Thiếu sức mạnh đã làm cho người ta không mở miệng ra được để nói “Tôi sai.” Thiếu sức mạnh đã làm con người không chấp nhận được cái hay và cái tốt của kẻ thù của mình. Thiếu sức mạnh đã làm người ta không chịu học hỏi từ kẻ thù. Thiếu sức mạnh đã làm người ta nói xấu người khác mặc dầu biết người khác là đúng, là tốt. Thiếu sức mạnh đã làm người ta hạ người khác xuống để đưa mình lên một cách không công bằng. Thiếu sức mạnh đã làm con người không trở thành “good winner” và không là “good loser”. Thiếu sức mạnh đã làm ....

Chiến tranh không biết có làm cho con người ta trở nên bướng bỉnh hơn và phòng thủ hơn (defensive)? Chắc là có. Sự yếu đuối, cộng với bướng bỉnh, và phòng thủ chắc còn làm cho con người khó cải tiến và sửa đổi hơn nữa.

Một nhân vật nào đó đã nói con người là những sinh vật rất yếu đuối. Có lẽ đúng thật. Con người yếu đuối lắm. Con người có thể dễ dàng “rơi” vào những hành động không tốt. Những xã hội bị ảnh hưởng nhiều bởi (hoặc nhấn mạnh nhiều đến) việc “đức trị” có lẽ đánh giá khả năng sức mạnh con người quá cao. Không một cá nhân nào hoàn hảo cả, từ những nhân vật cao cấp nhất cho đến những kẻ bần cùng nhất. Không ai có đủ sức mạnh, đủ đạo đức để mà kiểm soát tất cả mọi việc, mọi hành động được. Ðạo đức là những điều tốt và cần phải phổ biến, nhưng luật pháp cũng quan trọng và rất thực tế trong việc vận hành đất nước. Vì vậy xã hội pháp trị cần phải được xây dựng song song với việc xây dựng đạo đức con người. Ðịnh nghĩa của luật pháp đồng nhất, rõ ràng, và ai cũng hiểu, không như một số giá trị đạo đức chỉ tương đối mà thôi, chính xác với một số người nhưng không chính xác với những người khác. Ðồng thời pháp luật có cơ cấu trừng phạt rõ ràng, thực tế. Vì vậy luật pháp dễ thực thi và hữu hiệu nếu làm đúng. Xã hội cần phải có cả hai: đạo đức và luật pháp.

Pháp luật Việt Nam cũng nhấn mạnh nhiều tới “tình” và “lý.” Điều này nguy hiểm quá. “Lý” thì được. Còn “tình” thì sao đây? Ai xác định “tình”? Định nghĩa của “tình” là gì? Thế nào là “tình” hợp lý? Hợp lý với người này nhưng không hợp lý với người khác thì sao? Trong trường hợp nào thì áp dụng mức độ “tình” nào? Bao nhiêu “tình” thì vừa đủ? Làm sao xác định tỷ lệ “tình” và “lý” trong phán quyết? Tỷ lệ bao nhiêu là công bằng? Giới tính và tuổi tác của bên có tội và người bị hại sẽ tác động thế nào đến “tình”? Tính cách, tình cảm, trạng thái tâm sinh lý của ông thẩm phán ngày xử án sẽ ảnh hưởng đến quyết định “tình” của ông ta ra sao? Sự thiên vị tự nhiên của con người trong ông thẩm phán ảnh hưởng tới “tình” thế nào? Không khí toà án, áp lực của người dự án, áp lực báo chí ảnh hưởng tới “tình” bao nhiêu? Những giọt nước mắt hối hận không biết thực hay giả và những lời van xin, hứa hẹn không biết thực hay giả của kẻ có tội sẽ ảnh hưởng tới mức độ “tình” ra sao? Sự hiện diện của người mẹ già đang bệnh nặng hoặc những đứa con thơ của kẻ có tội trong toà án sẽ ảnh hưởng tới phán quyết “tình” ra sao? Sự hiện diện của người mẹ già đau khổ, của người vợ ngất xỉu, hoặc những đứa con nheo nhóc của bên bị nạn trong toà án sẽ ảnh hưởng tới phán quyết “tình” ra sao? Làm sao cân bằng “tình” cho bên có tội và “tình” cho bên bị hại? Hai ông thẩm phán khác nhau, xử lý cùng một vụ việc, thì những yếu tố ảnh hưởng tới “tình” sẽ tác động hai ông thế nào, sẽ có hai phán quyết hoàn toàn khác nhau không? Khác nhau ở mức độ nào thì chấp nhận được? Khi “tình” bị lạm dụng hoặc lợi dụng khi ra phán quyết (đặc biệt là khi đã được “lót tay”) thì làm sao phản đối cái “tình” đó (vì nó là “tình” mà)? Khi xử phạt những người trong chính quyền, những người có gốc gác, phe nhóm, quan hệ, thì “tình” sẽ có tác dụng gì và được sử dụng ra sao? Khi xử phạt người “công nhiều hơn tội”(?!?) thì làm sao xác định “tình”? Xác định “công” và “tội” thôi là cũng đã dính dáng đến “tình” rồi. Làm sao để xác định “công” nhiều hay “tội” nhiều? Tham gia kháng chiến và điều hành chính quyền sau kháng chiến là “công” nhiều, nhưng tham ô rút ruột dự án xây dựng cầu làm cầu sụp, bao nhiêu người chết (hay chỉ cần một người chết thôi) thì “công” nhiều hay “tội” nhiều? “Tình” và “lý” lúc nào cũng hiện diện trong con người và trong luật pháp, nhưng mức độ áp dụng và nhấn mạnh đến “tình” ở Việt Nam là một điều rất đáng lo.

Sao mà nãy giờ nghĩ tùm lum đủ thứ vậy? Chiến tranh, can đảm, liều lĩnh, bướng bỉnh, sức mạnh, yếu đuối, luật pháp. Con người có thể là những sinh vật yếu đuối nhưng con người lại có lý trí và cũng có khả năng phát triển sức mạnh rất lớn. Con người cũng có thể rất mạnh mẽ. Vậy cũng đỡ lo.


Ðêm ... tháng ... năm ...

Ðêm nay tôi cũng trằn trọc, nhưng không phải nghĩ tới một vấn đề nào mà là nghĩ ra một câu chuyện ngắn. Tôi đặt tên câu chuyện là “Bốn Người Bạn”. Bốn nhân vật trong truyện đại diện cho một số người tôi có gặp ngoài đời thật. Tôi viết lại, mời quý vị và các bạn đọc cho vui.

Xung quanh bàn tiệc có bốn người bạn ngồi nói chuyện với nhau. Nếu để ý nghe câu chuyện của họ thì sẽ biết rằng họ là những người bạn ngày xưa, giờ gặp lại sau một thời gian rất dài. Hai trong số bốn người đó là từ nước ngoài trở về.

Không biết ngày xưa họ như thế nào, nhưng bây giờ theo cách nói chuyện và ăn mặc của họ thì họ khác nhau nhiều lắm.

Người bạn thứ nhất nhìn thật tiều tụy. Anh ngồi lưng cong vòng lại như muốn thu cho thật nhỏ cái cơ thể ốm o và đã nhỏ sẵn của mình để mọi người đừng nhìn thấy anh. Nhưng có cố gắng cách mấy thì anh cũng không thể nào che dấu được làn da đen xạm và khô của mình. Làn da của sự nhọc nhằn và nghèo khó. Cặp mắt u tối của anh chứa đựng tất cả sự khổ cực, bất lực, tự ti, và mặc cảm. Tuy nhiên để bắt gặp ánh mắt đó không phải dễ vì anh rất ít khi ngẩng mặt lên nhìn mọi người. Ðó là người bạn thứ nhất. Anh đang sống ở Việt Nam và nghèo ... như từ trước đến nay và như rất nhiều người khác trên đất nước này.

Người thứ hai thì khác hẳn. Anh ta cười nói rộn ràng vui vẻ với mọi người. Anh quay bên phải, anh quay bên trái làm cho mái tóc chải ngược bóng láng vì dầu của anh cũng không thể nằm im được. Ðiều lý thú là toàn bộ cơ thể của anh chỉ có hai màu mà thôi: đen và vàng. Mái tóc đen bóng, áo sơ mi đen bằng tơ mềm, dây lưng đen, quần tây đen, và cả một đôi dầy cũng đen và bóng không thua gì mái tóc. Mỗi lần anh khua tay đùa giỡn với bạn bè thì sẽ thấy ánh lên màu vàng lấp lánh chiếu ra từ những cái nhẫn vàng rất to trên những ngón tay đầy đặn nhưng thô, trầy xước, và chai cứng vì làm việc nặng nhọc từ xưa và hiện nay. Ðặc biệt nhất là ở giữa cái nền đen của cơ thể anh hiện lên một khối vàng hình vuông to tướng, sáng chói anh đeo trước ngực.

Anh kể nhiều chuyện lắm về đất nước nơi anh đang sống. Chuyện xã hội hiện đại, giàu có bên Mỹ. Anh chê sự nghèo nàn, lạc hậu và dơ bẩn của Việt Nam. Anh kể chuyện anh đã về Việt Nam ăn chơi như thế nào. Trong câu chuyện ăn chơi sành điệu của mình, anh thường hay nói chêm vào một số từ ngữ mà những người bạn của anh không thể nào hiểu được vì nó không phải tiếng Việt, hơi giống giống tiếng Anh mà cũng không phải tiếng Anh. Anh hãnh diện và tự mãn. Ðó là người bạn thứ hai, một Việt kiều lao động bên Mỹ, lâu lâu về Việt Nam ... chơi.

Người thứ ba cũng có rất nhiều chuyện để kể. Nhưng những câu chuyện của anh đều xoay quanh anh và những gì của anh. Trong suốt câu chuyện, anh khéo léo nhét vào những điều anh muốn nói. Anh đã trở nên giàu có và thành công như thế nào. Anh đi xe gì, hay đi chơi ở đâu, ăn nhà hàng nào, và uống những loại rượu gì. Không ai hỏi nhưng anh cũng tuyên bố một cách rất “tự nhiên” và “cởi mở” là anh đã từng làm việc với công ty nước ngoài và đã đi du lich Thailand và Singapore. Giống như người bạn thứ hai, anh rất tự hào với kiến thức của mình về những nơi đi chơi có mấy “em” ... “hết xẩy”. Anh cũng khoe là với khả năng móc nối và “làm ăn” của anh thì chuyện gì cũng trót lọt. Nếu mọi người cần giúp đỡ thì chỉ việc “hú” anh một tiếng. Anh ngồi thẳng, mặt ngước cao tự tin. Nhưng có lẽ nhiều hơn lại là sự tự mãn và kiêu ngạo. Mỗi khi anh nhìn người bạn thứ tư thì ánh mắt anh như nói rằng, “Tao không thua bất cứ thằng Việt kiều nào.” Ðó là người thứ ba, một người khá thành công ở Việt Nam hiện nay.

Người thứ tư, người cuối cùng trong nhóm, cũng là một Việt kiều từ Mỹ. Mỗi khi người thứ ba nhìn anh thì anh cũng nhìn lại với một ánh mắt như để nói, “Khờ khạo mà không biết. Chưa ra khỏi miệng giếng mà đã gáy. Ngu.” Anh nhìn người thứ nhất với ánh mắt không có nhiều cảm xúc. Anh nhìn người thứ hai với sự khinh thường thấy rõ. Người thứ ba ... anh chỉ cười khẩy. Anh tự tin và thoải mái. Anh cũng nói khá nhiều chuyện, nhưng những lời nói của anh lại được đánh dấu bởi sự chê bai và khi dễ: Việt Nam dở quá. Hệ thống giáo dục lạc hậu. Thanh niên bí lối. Lãnh đạo mù quáng. Kỹ sư Việt Nam mà làm cái gì. Bác sĩ không có khả năng. Nền chính trị kiềm kẹp. Kinh tế què quặt. Văn học nghệ thuật nghèo nàn ... Vì “quen” sống trong văn hoá Mỹ nên anh không nói lương một năm của anh bao nhiêu. Tuy nhiên, lâu lâu anh lại đề cập tới tên công ty anh làm việc cũng như vị trí chức vụ của anh. Dĩ nhiên căn nhà có hồ bơi và loại xe hơi anh đang chạy cũng được mô tả một cách kỹ lưỡng. Cuối cùng anh nói, “Với khả năng của tao, tao phải làm việc bên Mỹ. Tao không thể nào sống ở đất nước này được.” Ðó là người bạn thứ tư, một “professional” đã được học và thấy một số điều bên Mỹ.

Xung quanh bàn tiệc có bốn người bạn ngồi nói chuyện với nhau sau một thời gian dài không gặp mặt. Có nhiều sự thay đổi. Cách ăn mặc, cử chỉ của họ đều khác. Cách nói chuyện cũng khác. Ngay cả màu sắc của da thịt họ cũng khác. Nhưng nếu ta dừng lại một chút và nhìn kỹ thì sẽ thấy rằng những người đó vẫn có một điểm chung. Ðiểm chung đó là trình độ suy nghĩ của họ - cùng với mức độ cao thấp và sâu cạn của sự suy nghĩ đó.

Xung quanh bàn tiệc có bốn người bạn ngồi nói chuyện với nhau sau một thời gian dài không gặp ...

Tôi kể một vài chuyện vậy thôi. Những vấn đề, đề tài trong xã hội hoặc trong mỗi con người không bao giờ nói cho hết được. Những điều này làm tôi khó ngủ. Kể cho các bạn nghe làm tôi thoải mái hơn được một chút. Có lẽ đêm nay sẽ ngủ yên được. Cám ơn các bạn đã lắng nghe. Các bạn có hay suy nghĩ về những vấn đề xã hội không?

*****​

Lời Kết


Cuộc sống tiếp tục trôi, con người tiếp tục sống, và xã hội tiếp tục thay đổi. Những gì xảy ra ngày hôm nay là kết quả của những điều đã xảy ra ngày xưa. Những gì xảy ra hôm nay cũng là những điều tạo nên hình dáng ngày mai. Lịch sử là những điều đã qua, nhưng lịch sử cũng chính là hôm nay vì hôm nay sẽ tạo nên lịch sử. Mọi sự việc, mọi suy nghĩ, mọi hành động nhỏ nhặt nhất của từng cá nhân con người chúng ta là những yếu tố quan trọng để xây dựng ngày mai. Những chính sách, đường lối của chính quyền ngày hôm nay là những yếu tố quyết định để xây dựng ngày mai. Tất cả “hình dáng” cá nhân chúng ta cũng như “màu sắc” của xã hội là được hình thành qua lịch sử, văn hoá, và qua hoạt động của từng con người. Con người và xã hội ngày nay là kết quả của lịch sử, của văn minh, văn hoá ngày xưa. Con người và xã hội ngày mai là kết quả của xã hội, con người ngày nay. Ðể có một con đường đúng cho hôm nay và cho ngày mai, chúng ta phải nhìn cho thật kỹ chúng ta ngày xưa và chúng ta hiện nay.

Việt Nam có một nền văn hoá lâu đời với cuộc sống tập trung nông nghiệp từ 10.000 năm trước. Ðây là điều đáng tự hào vì chúng ta thuộc vào một trong những nền văn minh lâu đời của nhân loại. Mặc dầu sự to lớn của nền văn minh này chưa được xác định rõ ràng, nhưng dầu gì đi nữa nó cũng tạo nên một căn bản phát triển cho người dân sống trên đất nước Việt Nam. Nền văn minh Ðông Sơn đã cho thấy được sự tiến bộ của con người sống trên đất nước này. Nó chứng tỏ nhiều về óc sáng tạo nghệ thuật, đời sống tinh thần phong phú của người dân. Những người dân sống trên mảnh đất Việt Nam nhiều ngàn năm này đã góp phần tạo nên con người Việt Nam ngày nay. Người dân này có nền văn hoá phong phú đẹp đẽ với truyền thuyết Con Rồng Cháu Tiên, một chuyện tình đẹp tuyệt vời, một truyền thuyết về nguồn gốc dân tộc đầy sáng tạo. Truyền thuyết này đã cho dân tộc Việt Nam hai chữ “Ðồng Bào”. Người Việt cũng có truyền thuyết về những vị vua Hùng đầu tiên dựng nên xứ sở của mình. Mặc dầu sự chính xác một cách chi tiết về những vị vua này chưa được xác định, nhưng chắc chắn một điều là những con người trên vùng đất này đã sống và tạo dựng nên một lãnh thổ có chủ quyền riêng với văn hoá và bản sắc dân tộc riêng của họ.

Mặc dầu sau đó dân tộc Việt Nam bị đô hộ bởi người Trung Hoa từ phương bắc nên văn hoá bản xứ bị pha loãng, nhưng gốc gác văn hoá, ngôn ngữ, phong tục, cái hồn của dân tộc không bao giờ bị mất đi. Tính dân tộc, sức sống văn hoá của người Việt cao đến độ chúng ta đã kiên cường chiến đấu chống sự đô hộ này hàng ngàn năm để cuối cùng dành được độc lập từ một đế quốc mạnh mẽ hơn gấp nhiều lần. Chúng ta đã thành công trong việc bảo vệ văn hoá và bảo vệ lãnh thổ. Bên cạnh đó ta cũng học được nhiều điều từ văn hoá Trung Quốc để rồi dựa trên đó mà xây dựng tổ chức xã hội riêng cho mình. Tuy nhiên theo thời gian, khi con người được nhìn ra thế giới rộng lớn hơn chúng ta mới biết rằng thế giới rộng lớn quá, nhiều nền văn minh to lớn vĩ đại quá. Thế giới không phải chỉ có Trung Quốc, và nền văn minh Trung Quốc không hẳn là đẹp đẽ nhất và đem đến những điều hiệu quả nhất.

Nhờ nhìn ra thế giới mà chúng ta biết rằng nền văn minh của chúng ta không phải cao siêu lắm. Văn minh Trung Ðông, Ai Cập, văn minh châu Âu, châu Mỹ có rất nhiều điều đáng khâm phục và học hỏi. Nếu so sánh với những nền văn minh này thì mặc dầu chúng ta có một nền văn minh lâu đời nhưng thực tế chúng ta chưa đạt được những thành công gì to lớn để sánh ngang với họ. Chúng ta lạc hậu và chưa có cống hiến gì nhiều cho nhân loại.

Chúng ta đã biết quá ít về thế giới nhưng lại quá tự hào về nền văn minh của mình. Cái nhìn nhỏ bé và sự hiểu lầm đó của chúng ta về chính mình và thế giới, theo tôi, là một lý do làm Việt Nam kém phát triển. Cái nhìn nhỏ bé và sai lầm trong việc định nghĩa sự thông minh và sự thành công cũng như cái nhìn hạn hẹp trong việc chọn lựa ngành học và chọn lựa việc làm của chúng ta lại là một nguyên nhân khác. Trong khi đó đạo Khổng là một lý do rất lớn và quan trọng từ lâu nay, và thể chế chính trị yếu kém là một lý do rất lớn trong nhiều giai đoạn lịch sử và giai đoạn hiện tại. Ngoài ra, chiến tranh và tác hại kinh khủng của chiến tranh trong nhiều năm tháng là một nguyên nhân chính yếu, rất lớn, rất quan trọng đã làm cho đất nước Việt Nam lạc hậu.

Chúng ta đã chứng tỏ được một số thành công. Ngày xưa chúng ta sử dụng những giá trị tốt đẹp của dân tộc để thành công trong chiến đấu và bảo vệ đất nước. Bây giờ người Việt lại tiếp tục dùng những tính chất tốt đẹp đó để đạt được những thành công mới trong các lãnh vực khoa học, nghệ thuật, xã hội trên thế giới. Những tính chất tốt đẹp có thể kể đến là ý chí quyết tâm khá, tinh thần ham học hỏi khá, khá cầu tiến, sự xiêng năng cần mẫn khá, trí thông minh khá, tinh thần đoàn kết dân tộc, v.v. Bên cạnh đó chúng ta cũng có những giới hạn, và những giới hạn này đã làm chậm đi sự phát triển của đất nước. Những giới hạn có thể kể ra là lòng mau tự mãn, hài lòng; tính kiêu ngạo, khoác lác; nhiều tự ty, tự ái, tự tôn, tự kiêu nhưng thiếu tự tin; lỳ lợm; láu cá; không đủ mạnh mẽ và can đảm để chấp nhận cái sai, xấu của mình; không “hiểu” được hoặc không muốn hiểu và thực hành khái niệm “công bằng” và “dân chủ”; liều lĩnh nhưng lại e ngại phiêu lưu, mạo hiểm; không uyển chuyển; hiểu lầm hoặc lừa dối chính mình; không có óc sáng tạo; chưa có óc khoa học; thông minh chưa nhiều và chưa thông minh lớn; chưa có óc nhìn xa và rộng để có thể bỏ đi những điều nhỏ bé, lặt vặt, không quan trọng; chưa có khả năng làm việc chung công bằng và hữu hiệu; chưa có khả năng tổ chức lớn; tinh thần kỷ luật rất thấp, v.v. Chúng ta có những giá trị tốt đẹp, nhưng lại có nhiều nhược điểm rất lớn như những tảng đá lớn, lẫn với những vấn đề nhỏ bé lặt vặt như những viên sạn nhỏ, làm cản trở sự phát triển chung và làm cho guồng máy làm việc của xã hội chưa đạt được hiệu quả cao nhất. Có thể có nhiều lý do giải thích cho những nhược điểm của mình, nhưng dù gì đi nữa nhược điểm vẫn là nhược điểm, và nhược điểm vẫn tồn tại và hiện diện trong xã hội chúng ta. Ðiều chúng ta cần phải làm là loại bỏ chúng đi.

Việt Nam đã bắt đầu mở cửa ra với thế giới, và người Việt bắt đầu liên lạc rộng rãi hơn với bên ngoài. Người Việt đã đạt được một số thành công, đặc biệt là ở hải ngoại, nhưng một điều chắc chắn là những thành công đó không lớn. Trong nước, chúng ta chưa có một nền tảng kinh tế, chính trị, xã hội, hay tâm lý vững chắc và hữu hiệu để xây dựng đất nước. Ngoài nước, chúng ta cũng chưa có được khả năng tâm lý cần thiết đó. Ngoài nước, chúng ta chỉ mới đạt được những thành công nhỏ bé trên một nền tảng đã được dựng sẵn. Chúng ta còn phải cố gắng nhiều để đạt được những thành quả cao hơn. Quan trọng nhất là chúng ta phải cố gắng học, làm việc, và thành công trong những lãnh vực có tính cách quyết định sự phát triển xã hội nhất. Những ngành này là: Luật, Khoa Học Chính Trị, Chính Sách Xã Hội, Kinh Tế, Thương Mại, Ngoại Giao, Ngoại Thương, Ngôn Ngữ, Communications, Âm Nhạc, Điện Ảnh, Giáo Dục và Chính Sách Giáo Dục, Triết Học, hoặc những ngành như Khảo Cổ, Nhân Chủng, Lịch Sử, v.v. Ðây chính là những ngành học để xây dựng, định hướng, phát triển, và cách mạng hoá xã hội. Ðây là những ngành tạo nên và quyết định nền tảng xã hội có đúng và có vững chắc hay không.

Trong những bài viết trong cuốn sách này, tôi đã đề cập tới nhiều vấn đề. Mỗi một chương là một hoặc vài vấn đề khác nhau. Có những vấn đề tương đối rộng, nhưng cũng có những vấn đề nhỏ nhặt. Có những điều khá tập trung nhưng cũng có những điều rộng quá. Bên cạnh đó cũng có những điều tôi không có đủ khả năng và kiến thức để phân tích sâu hơn. Nhưng tôi tin rằng mỗi một điều nói tới đều có một giá trị nào đó để chúng ta cùng suy nghĩ. Sau khi phân tích hoặc phê bình một việc, tôi cũng cố gắng đưa ra những giải pháp hoặc đề nghị để giải quyết vấn đề. Nhưng tôi cũng biết rằng ngoài những đề nghị rõ ràng, tôi cũng có những đề nghị quá rộng, hoặc có những đề tài quá lớn mà tôi không đưa ra giải pháp cụ thể được tại vì có quá nhiều lãnh vực liên quan với nhau.

Mặc dầu vậy, đề nghị chung nhất và có tính cách tổng quát của tôi cho mọi vấn đề, và tôi nghĩ là một đề nghị thực tế và có hiệu quả, là chúng ta phải nhìn lại mình. "Nhìn lại mình" ở đây là mỗi một cá nhân chúng ta tự nhìn lại chính mình. Nhìn để biết được mình suy nghĩ như thế nào và sự phát triển đầu óc của mình tới đâu. Nhìn để biết mức độ thông minh của mình. Nhìn để biết mình có nhiều sức mạnh hay rất yếu đuối. Nhìn để biết mình có thành công hay không và nhược điểm là gì. Nhìn để biết mình đang mong muốn điều gì, và đang làm gì để đạt được điều mong muốn. Nhìn để biết rằng chính “mình” cũng phải chịu trách nhiệm chứ không phải chỉ có “họ” hay “người khác”. Nhìn để biết vị trí của mình, khả năng của mình. Nhìn lại mình để điều chỉnh đòi hỏi của mình. Nhìn để biết ... tầm nhìn của mình. Nhìn để biết mình thực sự là ai. Nhìn để xét lại mình, để đánh giá chính mình.

Cũng tương tự như vậy, "nhìn lại mình" ở đây cũng là nhìn lại toàn bộ xã hội của chúng ta. Xã hội này bao gồm lịch sử phát triển của nó, trình độ văn minh của dân tộc, văn hoá phong tục của dân tộc, cái nhìn và tầm nhìn của con người. Nhìn để biết xã hội mình đạt được gì, phát triển tới mức độ nào. Nhìn để biết văn minh của mình ưu việt hay yếu kém. Nhìn để biết những yếu điểm của mình. Nhìn để biết những điểm mạnh của mình. Nhìn để biết giới hạn, vấn đề của mình. Nhìn để biết rằng “tất cả chúng ta” phải chịu trách nhiệm cho sự yếu kém. Nhìn để nhạy cảm hơn về sự tác động và ảnh hưởng lẫn nhau của những sự việc trong xã hội, để biết được xã hội tác động lên con người thế nào và con người tác động lên xã hội thế nào. Có nhìn rõ mình và xã hội mình thì chúng ta mới biết rằng một dân tộc sáng suốt và thực sự thông minh là dân tộc biết làm việc với nhau và làm việc một cách công bằng và hiệu quả chứ không phải một dân tộc có nhiều người có bằng cấp đại học, nhiều kỹ sư, bác sĩ, hoặc luật sư. Có nhìn rõ mình và xã hội mình thì chúng ta mới biết rằng để dân tộc chúng ta thành công thì chúng ta phải biết làm việc với nhau và làm việc một cách công bằng và hiệu quả chứ không phải chỉ là một dân tộc có nhiều người “thông minh,” “học giỏi,” hoặc nhiều “nhân tài,” “danh nhân.” Có biết rõ mình và xã hội mình thì chúng ta mới thiết lập được nền tảng xã hội đúng đắn, xây dựng được con đường đẹp, thực tế, và biết được vận tốc chúng ta nên đi trên con đường đó.

Tôi cũng nhấn mạnh cái "nhìn lại mình" này phải là một cái nhìn trung thực và can đảm. Có trung thực và can đảm thì chúng ta mới biết mình một cách chính xác.

Một đề nghị nữa là chúng ta phải nhìn ra thế giới. Cũng tương tự như trên, chúng ta nhìn ra thế giới để biết những đặc điểm của các đất nước, các dân tộc, và các nền văn minh khác nhau. Khi nhìn ra thế giới chúng ta phải mở mắt cho thật lớn, lắng nghe thật nhiều, và phân tích thật kỹ. Có nhìn ra thế giới chúng ta mới biết người. Có nhìn ra thế giới chúng ta mới biết chúng ta ưu việt, phát triển hay thực sự còn rất lạc hậu, chậm tiến. Nhờ biết mình và thế giới mà chúng ta mới nhận ra rằng chúng ta còn phải học hỏi nhiều.

Có nhìn lại mình, xã hội mình, và nhìn ra thế giới chúng ta mới nhận ra được những suy nghĩ lạc hậu, sai trật, những “mentality” nhiều tác hại, những thói quen xấu, những niềm tin không chính xác, cách làm việc không hiệu quả, v.v. của chúng ta để rồi từ đó mà tự thay đổi, sửa chữa, và cải thiện chính mình. Có nhìn lại mình và nhìn ra thế giới chúng ta mới biết mình còn rất dở, yếu kém về nhiều mặt; không văn minh, văn hiến như mình nghĩ; không thông minh như mình nghĩ; và không sống trong những “illusion”, ảo giác tai hại. Chỉ khi nhìn thấy được khả năng yếu kém của đất nước và của từng cá nhân thì chúng ta mới cố gắng thật nhiều hơn nữa, và nhận ra được tầm quan trọng của việc "cooperation", "collaboration", và "teamwork"; nhận ra sự quan trọng của vấn đề hợp tác; nhờ vậy mà chúng ta mới biết rằng chúng ta phải biết hợp tác với nhau và làm việc hết sức với nhau (trong môi trường cạnh tranh công bằng) nếu chúng ta mong muốn đạt được những kết quả to lớn và tốt đẹp cho đất nước.

Tôi tin tưởng rằng trong khi, và tốt nhất là trước khi, tiến hành những công việc cụ thể, chúng ta cần phải có những cái “nhìn lại” này. Có biết rõ mình và biết rõ người chúng ta sẽ có thêm tự tin, tự chủ, và bớt đi tự ái, tự ti, tự tôn, tự kiêu. Có biết rõ mình, biết rõ người, và chịu học hỏi thì khả năng làm việc thành công của chúng ta mới cao.

Ðể phát triển chúng ta cần phải có khả năng học hỏi nhiều lắm. Phải có can đảm học hỏi, và học hỏi một cách thông minh sáng suốt, có chọn lọc, và tự tin để rồi áp dụng thực tế. Chúng ta có những cái hay, nhưng thế giới còn rất nhiều thứ để chúng ta học. Dĩ nhiên khoa học kỹ thuật là điều chúng ta còn quá lạc hậu và cần phải học hỏi. Chúng ta còn phải học rất nhiều về kinh tế, thương mại, về tổ chức và thực hành chính trị, luật pháp, hành chánh. Chúng ta phải học nhiều về triết học và tổ chức giáo dục. Trong lãnh vực nghệ thuật hiện đại thế giới cũng có nhiều điều để chúng ta khâm phục và học hỏi. Thế giới cũng có những điều hay trong lãnh vực tổ chức xã hội và sự đối xử giữa con người với nhau. Chúng ta cần phải học những cái hay đó, và học một cách có chọn lọc, rồi kết hợp chúng với những điều tốt đẹp của riêng chúng ta để tạo nên những bản sắc riêng, phù hợp, và có khả năng áp dụng thực tế cho mình. Ðiều quan trọng là xác định cái gì là cái tốt của người và học như thế nào, hòa hợp những điều đó vào xã hội chúng ta như thế nào. Tính phù hợp của những cái mới lạ với nền văn hoá chúng ta ra sao và hòa hợp ở mức độ nào là những điều cần thời gian, suy nghĩ, và kinh nghiệm qua áp dụng thực tế để xác định.

Mọi thứ trong xã hội đều liên quan với nhau. Những hành động nhỏ nhặt nhất trong đời sống hàng ngày, những thói quen suy nghĩ đơn giản nhất của một con người đều tác động lên xã hội. Những gì xảy ra trong xã hội dù nhỏ nhặt cũng ảnh hưởng tới mỗi một con người và tất cả con người trong xã hội. Mọi thứ trong xã hội đều tác động lên nhau và ảnh hưởng lẫn nhau. Con người tác động lên xã hội và xã hội ảnh hưởng lại con người. Xã hội theo tôi là một tập hợp rất nhiều những cái vòng lớn nhỏ khác nhau, và những cái vòng này được nối liền với nhau, xen kẽ trong nhau rất tinh vi nhưng cũng rất dễ hiểu. Một cái chạm khẽ đâu đó trên một cái vòng sẽ đưa đến sự rung động cho tất cả mọi cái vòng. Vì sự liên hệ như vậy nên việc nhìn lại mình, xã hội mình để biết mình và biết xã hội của mình rõ hơn rất quan trọng. Khi biết rõ mình như vậy thì những việc làm, những hành động, những suy nghĩ, những cái chạm khẽ đó sẽ cẩn thận hơn. Cẩn thận hơn thì mức độ đúng đắn sẽ cao hơn.

Tôi mong rằng tất cả mọi người chúng ta luôn luôn cẩn thận trong việc làm của mình, trong suy nghĩ của mình. Những việc làm, cách giao tiếp, và sự suy nghĩ của chúng ta phải được phân tích và suy xét kỹ càng, và được gói ghém trong sự thông minh, sáng suốt, công bằng, hợp lý, và có tính thực tế.

Lịch sử và văn hoá tạo đã nên những gì chúng ta có ngày hôm nay. Những gì của ngày hôm nay sẽ định hình mọi việc của tương lai. Chúng ta là người thừa kế những gì đã được tạo nên ngày hôm qua, và làm chủ những gì của hôm nay. Chúng ta cũng là người làm chủ và nắm giữ số phận của ngày mai. Nếu muốn Việt Nam trở thành một nước thành công trong tương lai thì chúng ta, đặc biệt là thế hệ trẻ, phải là những người sáng suốt, tự tin, có trách nhiệm, mạnh mẽ, sáng tạo, kỷ luật, khiêm tốn, hợp tác, công bằng, biết nhìn xa trông rộng, và biết “think big” để có thể “win big”.

Cuộc đời một con người rất ngắn ngủi,
nhưng sự sống một dân tộc, một nền văn hoá là vô tận.
Chúng ta hãy cố gắng hết sức mình để làm những điều tốt nhất
cho dân tộc, cho đất nước trong cuộc đời ngắn ngủi đó của chúng ta.
You need to be logged in to comment