Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!

" Cười Với Nắng Một Ngày Sao Chóng Thế..."

Hoa Hạ đăng bài. Lần xem: 327

<table width="600" cellspacing="0" cellpadding="0" style="border:1px solid #000000">
<tr>
<td style="padding: 15px" background="http://209.85.48.11/3171/37/upload/p1510692.jpg">
<font face="Tahoma,Times New Roman,Arial" size="2" color="#000">


















Bài này tặng Hoaha


TUỆ SĨ
Và một vai thâm tình sót đọng


Bài viết của Thầy Quảng Đức.


Phù sinh một kiếp chưa tròn
Chiêm bao hạc trắng hãi hùng thiên cơ.
( Tuệ Sĩ)

Bái Đường Tu viện Pháp Vương, Tiết Lập Xuân một buổi sáng ngày nọ, một vị Thiền Sinh đang trong chánh niệm, bỗng nghe Vân Đàm Viện Chủ hỏi:
- Đức ?
Liền thưa:
- Bạch Thầy. Vị kia là Đức nhưng Đức Quảng. Đức Nhật Nguyệt Tả Hửu là Minh Đức. Mai Tạ Minh Đức là con.

Thật ra Mai Tạ Minh Đức là tên gọi thâm tình. Là “Bổn Lai Diện Mục”tự ngày cha sinh mẹ đẻ. Tạ Minh Đức mới là tên trên văn tự tại xứ người, lâu ngày trở thành tên thường gọi. Cũng không phải đợị Viện Chủ hỏi, các đồng môn mới biết đến. Tạ Minh Đức trước ngày đến Tu Viện Pháp Vương, danh người đã nỗi như cồn. Xưa nay người vẫn xuất hiện thường xuyên trong hầu hết các sinh hoạt Cộng Đồng Việt Nam Hãi Ngoại. Người là con chiên ngoan đạo của Chúa và Người cũng có đủ các đức tính của một người Phật Tử. . . . . . . .

Rồi vào một chiều thứ Bảy tiết Lập Đông, cũng tại Tu viện Pháp Vương, các môn đồ có dịp tề tựu. Hôm nay sao không thấy vui như mọi ngày. Moị người đều thấy lòng mình nặng trĩu bâng khuâng. Hình như có cái gì vô hình đang vương vấn, níu kéo, tiếc nuối chi đây. Thời gian nặng nề trôi qua. Hôm nay không phải lần đầu nghe Kinh, nghe Pháp, mà phải đã cả trăm lần. Bỗng nhiên mọi người chợt” Ngộ “khi vừa được nghe Ngài Viện Chủ phán vỏn vẹn hai chử : Vô Thường.

Và, cũng ngay đêm hôm ấy trên băng tầng Đài Truyền Hình Việt Nam Hãi Ngoại. Mai Tạ Minh Đức lại xuất hiện. Đức vẫn còn đúng đó, vẫn còn mãi cất cao giọng hát như ngày nào cho Quê hương Việt Nam. Đặc biệt lần này thì chính Võ Thành Nhân – bạn thâm tình thời khố rách áo ôm - ráp thêm hình ảnh của Mai Tạ Minh Đức nằm trong quan tài phủ đầy hoa. Nhân khóc cũng đã nhiều và chắc anh lại còn khóc nhiều hơn nữa, khi chỉ một mình trong phòng tối, nhìn thật sâu để cắt để ráp những hình ảnh níu kéo cuối cùng của Mai Tạ Minh Đức. Không cần phải chú thích, không cần phải thêm lời. Tâm Phật Tạng dù lòng buồn da diết mà cũng phải thốt: Vô Ngôn ! Vô ngôn ! . . .

Vô Ngôn, Vô Thường trở thành từ ngữ quá quen thuộc, chót lưỡi đầu môi, đối đãi hàng ngày. Phải đối diện với hiện thực mới cảm nhận được cái nghĩa thậm thâm, thượng thừa, bất khả tư nghì.

Nhìn nắng đọng sân chùa, khách có biết mấy lần dâu bể ?
Lắng chuông ngân đầu cỏ, người không hay một thoáng vô vi ?
(Tuệ sĩ)


. . . . . . Thơ không là ẩn ngữ. Trong cuộc giao tình vừa khởi sự, cuộc thơ cũng phơi bày lồ lộ những nét thanh kỳ tú lệ; cũng lãng đãng như màn trăng trong những giọt sương lóng lánh; cũng tươi như nụ hồng vừa chớm nở, cũng trong ngọc trắng ngà như băng tuyết; và cũng trơ vơ như chiếc sao Hôm. . . . . . Những cái đó không là ẩn ước hay ẩn mật; mà chính là những tâm tình thổ lộ phợi trần, hoặc bằng lân la nay khóm trúc mai chồi lan; hoặc đột ngột như gió đục mây Tần. Tâm tình được thổ lộ, thì cuộc giao tình thắm thiết mở ra. . . (Tô Đông Pha, những phương trời viễn mộng, Tuệ Sĩ).

Linh đài một điểm trăng soi, nghìn dặm hoa vàng non nước cũ
Thiền viện lưng đồi bóng ngã, lơ thơ phượng đỏ bóng thầy đâu ?

Vừa hay tin Ôn Trừng San mất, Từ A30 Tuệ Sĩ gởi hai câu thơ về cúng dường. Hai câu thơ trở thành hai câu đối được khắc sâu vào tháp thờ Oân tại lưng đồi Hải Đức. Thử hỏi mấy ai có đủ linh căn để không cần ẩn ngữ mà tất cả tâm tình có thể phơi bày thổ lộ ? Và cũng nhờ vào những tâm tình được phơi bày hiễn lộ, mới phát hiện được tầm cở Đại Sư như Tuệ Sĩ mà vẫn còn những nỗi buồn mang mác vấn vương, huống gì hàng đệ tử sơ tâm ?
Thầy vẫn thường dạy không nên vay mượn. Vay mượn là điều bất khả. Thầy lại thường bảo tu hành thì làm gì còn của nào là của riêng ? Chép lại hai câu nầy, quả thật đệ tử hoàn toàn không dụng ý, không dụng lời, không dụng hình mà cũng không dụng tượng. Đệ tử chỉ muốn vay mượn đúng cái tâm trạng bâng khuâng man mác của Thầy khi vừa nghe tin Oân mất để” tâm tình được phơi bày thổ lộ “với Mai Tạ Minh Đức, người bạn mới đó mà” trong chốc lát , trong một cái búng tay , đã trở thành không không trong vĩnh cửu” . . . . . . . . . . . ..

Không biết cho đến bao giờ , đệ tử mới học được một ít chữ nghĩa và cái phong tiên cốt đạo của thầy , để mỗi khi muốn thổ lộ tâm tình thì khỏi phải đi vay đi mượn ?

Sương mai lịm khói trà
Gió lạnh vuốt tờ hoa
Nhè nhẹ tay nâng bút
Nghe lòng rộn âm ba

Nhạc hay thơ ? Hay thơ là nhạc ? Tuyệt bút của Đại Sư Tuệ Sĩ hay là phong thái hiễn lộ của Tuễ Sĩ Thiền sư siêu trần thoát tục ? Nên để cho câu trả lời lấp, lơ, lờ, lững vì đã một lần , chú tiểu Tuệ Sĩ từng làm cho hàng giáo phẫm cao cấp nhất của Giáo Hội PGVNTN phải sờ sững ngẫn ngơ . Đã bốn chục năm rồi, tại hiên Chùa Giáo Hội Khánh Hòa, lúc ấy, tuổi đời của Chú chưa tròn mười tám.

Thập phương điều ngự, phi khứ phi lai,
hùng hùng Sủ tử tần thân đạp xuất sơn hà tịnh thúy
Tam thế truyền đăng, bất sanh bất diệt,
củ củ Tượng vương hồi cố bất khai nhật nguyệt tranh quang.

Hiện Thế Giáo Chủ, Phật Thích Ca Từ Bi thì Thập Phương điều ngự. Thân, Ứng và Báo; quá khứ , hiện tại, vị lai là Tam thế truyền đăng. Bên Trí thì Sư tử tần thân Manjucri Văn Thù Bồ Tát đạp xuất sơn hà tịnh thúy. Bên Dũng Samantabhadra Phổ Hiền Bồ Tát cỡi Tượng vương hồi cố bất khai nhật nguyệt tranh quang thì không phải đạt tới tuyệt đỉnh, thượng thừa lẫm liệt của trời thơ là gì ?

Sư tử tần thân ! Sao không là Kỳ Lân mà Sư Tử ? Văn Thù Sư Lợi cởi Sư Tử hay Kỳ Lân ? Đọc cho thật kỷ những chú thích riêng của Dịch giã tập Thiên Luận của Suzuki mới thấy bộ óc siêu nhân uyên bác vời vợi, cao ngất trời của Tuệ Sĩ. Kỳ lân là sản phẫm tưởng tượng của người Trung Hoa sau này, chứ Aán Độ thì làm gì có kỳ lân ?

Ba mươi năm sau. . . .

Từ trại tù Xuân Phước, Tuệ Sĩ gởi về hai câu đối cúng Ôn Linh Mụ

Biễn châu mê vụ, cử trạo kích kình đào, thinh đoạn cữu thiên
Trường xướng vô sanh vô ngã;
Kiễu mộc tằng nham, phất vân khuy hạo nguyệt, ảnh phù không dã
Thùy tri tức vọng tức chân.

Trong thời biễn mê, Pháp mạt, vẫn kiên cường khấy động chín từng trời, để trường xướng vô sanh vô ngã thì không lẽ không là ngài Linh Mụ? Cô động hết chữ nghĩa đất trời để kết thành được thơ sao lại không là Tuệ Sĩ thượng thừa uyên bác ? Thành phố Huế thêm một lần kinh tâm động phách là phải.

Còn nghe được tiếng ve sầu
Còn yêu đóm lữa đêm thâu bập bùng
Quê người trên đĩnh Trường Sơn
Cho ta gởi một mối hờn thiên thu.
(Tuệ Sĩ)

Phải chăng đó là thái độ bất khuất của kẻ sĩ ? Hay là phong thái lẫm liệt, cao ngạo của nhà thơ ? Đã biết trên đỉnh Trường Sơn thì chỉ có mấy con Hồ ly, khỉ gió tai bèo, đười ươi, nữa người nữa ngợm ; nhưng vì quá còn yêu quê hương, Thầy đành phải chịu mười mấy năm dài tù đày khổ ải. Tuệ Sĩ, tác phẫm và cuộc đời hầu như tất cả đều bị bao phũ bởi viễn mộng đọa đày của cuộc Lữ. Sơn thượng hữu hỏa. Lữ, Quân tử dĩ minh thận dụng hình nhị bất lưu ngục. Sơn thượng hữu hỏa ? Hỏa đâu không thấy mà chỉ thấy toàn bọn Hồ ly tai bèo, đười ươi khỉ gió. Bất lưu ngục hay Ngục bất lưu ? Không rõ. Cũng lại chỉ thấy bọn khỉ gió, đười ươi tai bèo, Hồ ly lưu đày Thầy từ ngục này đến ngục khác, từ Nam ra chí Bắc. Mười bốn năm dài đăng đẵng gầy mòn thân xác. Nhưng may, đôi mắt của Thầy vẫn còn sáng như sao trời và tâm hồn thì chưa một lần chao đão.

Và Thầy vẫn đợi:

Tôi vẫn đợi những đêm xanh khắc khoải
Màu xanh xao trong tiếng khóc ven rừng
Trong bóng tối hận thù tha thiết mãi
Một vì sao bên khóe miệng rưng rưng
Tôi vẫn đợi những đêm đen lặng gió
Màu đen huyền ánh mắt tự ngàn xưa
Nhìn hun hút cho daì thêm lịch sử
Dài con sông tràn máu lệ quê cha
Tôi vẫn đợi suốt đời quên sóng vỗ
Quên những người xuôi ngược Thái Bình Dương
Người ở lại giữa lòng tay bạo chúa
Cọng lau gầy trĩu nặng ánh tà dương
Rồi trước mặt ngục tù thân bé bõng
Ngón tay nào gõ nhịp xuống tường rêu
Rồi nhắm mắt ta đi về cõi mộng
Như sương mai như ánh chớp mây chiều.
( Tôi vẫn đợi, Tuệ Sĩ )

Cho dù phải chịu gian nan cùng cực và bị đày ải triền miên, Thơ của Người vẫn mang sắc thái cao ngạo của Nhà Thơ, cái Dũng của Kẻ sĩ và cao thâm uyên bác của một Bác học Thiền sư chí khí ngất trời:

Một buổi sáng nghe chim buồn đổi giọng
Người thấy ta xô dạt bóng thiên thần.
( Tuệ Sĩ )

Lẽ ra hai câu thơ trên có thể dùng để kết thúc bài này. Nhưng vì tất cả đều là vay mượn cho nên cần phải trả lại cho đầy đủ trọn vẹn; để hai câu đối của Thầy Tuệ Sĩ vừa mới khắc trên cổng Tam Quan chùa Diên Thọ khỏi mất hai cái vế đầu:

Vượt Trường Sơn nghìn dặm Bắc Nam
Nhìn nắng đọng sân chùa
Khách có biết mấy lần dâu bể?
Ngắm Sông Bạc một màu chung thủy
Lắng chuông ngân đầu cỏ
Người không hay một thoáng vô vi ?

Quảng Đức.


<marquee width="100%" behavior="scroll" scrollamount="5" direction="left"<span style="font-size=large; color=purple; font-family= Tahoma">Cười với nắng một ngày sao chóng thế, nay mùa Xuân, mai mùa Hạ buồn chăng? </span></marquee>



</font></td></tr></table>
  • Hoa Hạ
  • Hoa Hạ
You need to be logged in to comment