Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!

Xứ Cherise Quê Tôi - 20 *Nhà Thơ Ngô Phủ

Hoa Hạ đăng bài. Lần xem: 181

Người Xưa Đâu ? !


<iframe width="420" height="315" src="http://www.youtube.com/embed/1AbsYHGtzY8?rel=0" frameborder="0" allowfullscreen></iframe>

Nợ nước liều thân trang quốc sắc,
Tình nhà gạc lệ bậc thiên tư.




Sau nhiều năm phiêu bạt giang hồ, năm 2008, nhà thơ Ngô Phủ “ghé cố hương”; Ngô tiên sinh có lời rằng:



PHIÊU lãng cả đời gót viễn phương

BẠT ngàn sinh tử chốn sa trường

GIANG san không trọn hùng tâm gánh

HỒ hải nửa vời báu kiếm buông

VỀ lại mái nhà hoài vọng mãi

VIẾNG qua thôn xóm ước mơ luôn

GÒ đôi chữ gởi ai cùng xứ

CÔNG lực đây còn : Ghé Cố Hương


…từ đó, diễn đàn Gò Công được thêm những vần thơ sử ký với bút lực hào hùng, bi tráng. Sau ít lâu “viếng” Gò Công, Ngô tiên sinh lại cất bước giang hồ.

Nhiều người ở đây nhớ kiểu diễn giải của ông, nhớ cách trích dẫn có ngọn có nguồn, nhớ cái duyên của nhà thơ Ngô Phủ lắm nhưng nào biết ông đang phiêu dạt phương nào. Mong thi hữu xa gần thọ duyên hạnh ngộ nhà thơ Ngô Phủ hãy cố nài ông lại “ghé cố hương”. Ngô tiên sinh ! Giờ này ông ở đâu !? Dục Mỹ hay Lam Sơn !?..sau đây là một vài bài thơ lịch sử, tác giả Ngô Phủ:



LỜI PHI-LỘ



"Năm 2879 BC" (*) Lập quốc Việt-Nam sử sách ghi.

Trừ giặc ÂN, TẦN, phường thất đức,

Đuổi quân HÁN, TẤN, hạng vô nghì.

TỐNG, NGUYÊN lấn cõi, ôm đầu máu,

MINH, MÃN xăm biên, lủi mặt chì.

Vịnh đại anh hùng gìn, dựng nước,

Gởi cho hậu duệ, mượn vần thi.



TDT, MAY-13-08

Ngô Phủ

...................................................

(*) Xin đọc : "Năm Hai Tám Bảy Chín B.C" và "BC" xin đọc theo Anh ngữ. "BC" là chữ viết tắt của "Before Christ". Có nghĩa, VN lập quốc vào năm 2879 trước khi Chúa Jesus Crist chào đới, cho đến này là 2008 năm. Vậy : Tuổi của nước VN = 2879 + 2008 = 4887 năm.



DANH NHÂN VÀ HOẠI TỬ



DANH NHÂN VÀ HOẠI TỬ là một Đoản Tập gồm có hơn 80 bái thơ "Vịnh" (Sẻ tuần tự "Post" lên) :

- Phần I : Các DANH NHÂN

- Phần II : Các HOẠI TỬ

- Phần III : Phụ Lục

Các thi phẩm KHÔNG ĐỀ NGÀY đươc sáng tác trong thời gian từ "MAR-03-03" đến "MAR-16-03". Các bài khác đều có ghi nhận ngày.



01)- HỌ HỒNG BÀNG



Đế Minh cháu cố đức Thần-Nông,

Tằng tổ muôn năm giống Lạc-Hồng.

Ngài ngoạn du nam sanh Đế Tục (1)

Tục xây dựng nghiệp đẻ Vua Long (2)

Long truyền trưởng tử Văn-Lang Quốc.

Quốc nối tiền nhân Thánh-Tổ Hùng.

Mười Tám đời vương an thế nước,

Việt-Nam con cháu giống Tiên-Rồng.



Ngô Phủ

***********

(1) Đế Lộc-Tục.

(2) Vua Lạc-Long-Quân.



02)- ĐỨC PHÙ-ĐỔNG THIÊN-VƯƠNG



Hùng-Vương Thứ Sáu trước nguy nan,

Bắc tặc xông tràn lũ giặc Ân.

Sắc-Chiếu cầu hiền ra tái thế,

Võ-Ninh có trẻ quyết an bang.

Ngựa roi đúc sắt, đồ binh khí,

Đồng tử hiện thân, bậc thánh thần.

Đuổi địch xong rồi lên núi Sóc,

Thiên-Vương Phù-Đổng đức ngàn năm.



Ngô Phủ



03)- SƠN-TINH VÀ THỦY-TINH



Hùng-Vương Mười Tám cõi bờ yên.

Công chúa ngọc ngà đẹp tựa tiên.

Sơn-Thủy hai tinh xin cưới vợ,

Mỵ-Nương một ả khó xe duyên.

Thủy sau, tức vẫy dòng Đông-Hải.

Sơn trước, lui về núi Tản-Viên.

Nước lũ lan tràn trò trả hận,

Hằng năm lụt lội khổ muôn miền.



Ngô Phủ



04)- TRỌNG-THỦY MỊ-NƯƠNG



Triệu-Đà căm hận An-Dương-Vương,

Dặn lại cho con kế dị thường.

Trọng-Thủy manh tâm nhè vợ gạt.

Mị-Nương nhẹ dạ phải chồng lường.

Thành cao khó cản chân quân địch,

Nỏ giả khôn ngăn gót đối phương.

Nội tuyến ngờ đâu con gái quý,

Chém rơi đầu trẻ lệ già tuôn.



Ngô Phủ



05)- NHỊ TRƯNG-VƯƠNG



Ngàn năm đô hộ giặc thằng Tàu,

Chất ngất hờn nuôi vút vút cao.

Khởi nghĩa, Nhị Trưng vung bạt kiếm,

Sa cơ, Tô Định chạy ôm đầu.

Mê-Linh dựng nghiệp lưu danh rạng,

Mã-Viện trả thù rửa hận sâu.

Sông Hát trầm mình cơn thất thế,

Năm châu lịch sử có ai đâu?



Ngô Phủ



06)- BÀ TRIỆU-ẨU



Bà TRIỆU-THỊ-CHINH chí bạt ngàn.

Căm thù đô hộ cẩu Ngô bang.

Theo anh Quốc-Đạt xông pha trận,

Đánh huyện Cửu-Chân vũ lộng thần.

Lục-Dận điếng hồn, quân mất vía,

Nhụy-Kiều vung kiếm, địch kinh tâm (*)

Bồ-Điền tuẫn tiết danh lưu sử,

Dân Việt muôn đời khắc tạc ân.



Ngô Phủ
.....................................................................................

(*) Người đương thời gọi bà là "Nhụy-Kiều Tướng Quân".





07)- DẠ-TRẠCH-VƯƠNG



Nam-Đế Lý-Bôn mãi bại binh,

TRIỆU-QUIANG-PHỤC thế vững tình hình.

Tối rình trừ giặc, gây nguy khổn,

Ngày nấp dưỡng quân, giữ chống kình.

Dạ-Trạch tràn ra, Lương tướng nhục,

Long-Biên tiến tới, Việt vương vinh.

Ngờ đâu Phật-Tử (*) lòng man trá,

Đánh đuổi nhạc gia tức hủy mình.



Ngô Phủ

............................................................................................................................................

(*) Lý-Phật-Tử là người trong họ của Lý-Nam-Đế, cũng là rể của Việt vương Triệu-Quang-Phục.



08)- MAI-HẮC-ĐẾ



Oán quân đô hộ, lũ Đường bang.

Khó cản khí hùng MAI-THÚC-LOAN.

Hắc-Đế (1) một mình thề giết giặc,

Chân-Lâm (2) hai nước quyết tương thân.

Dương-Tư-Húc xuống, đem binh đánh (3)

Quang-Sở-Khách vào, bủa tướng ngăn (3)

Yếu thế, thương thay người vị quốc,

Bôn đào nuôi hận mãi ngàn năm.



Ngô Phủ
..........................................................................................

(1) Vì ông Mai-Thúc-Loan có da mặt đen nên tục gọi là Hắc-Đế.

(2) Nước Chân-Lập và Lâm-Ấp.

(3) Các kiện tướng của nhà Đường bên Tàu.



09)- BỐ-CÁI ĐẠI-VƯƠNG



PHÙNG-HƯNG muôn thuở đại vương gia.

Khởi nghĩa Sơn-Tây, trí dũng thừa.

Cao-Chính-Bình nghe, vong tánh mạng (1)

Phủ Đô-Hộ chiếm, cứu quê nhà.

Không may Bố-Cái non dương số (2)

Khổ nỗi Phùng-An kém chí cha.

Đầu phục Triệu-Xương, Đường soái tướng,

Để cho lũ giặc giẵm sơn hà.



Ngô Phủ

....................................................................................................

(1) Tên Cao-Chính-Bình nghe tin, phát bệnh mà chết, khỏi cần đánh.

(2) Bố là Cha. Cái là Mẹ. Dân coi ông như Cha Mẹ. Nên lúc lập đền thờ đã tôn ngài là Bố-Cái Đại-Vương.



10)- ÔNG NGÔ-QUYỀN



Giận-Kiều-Công-Tiện, (1) gả gia nhân,

Giết mất nhạc gia (2) quả loạn thần.

Lại rước cường bang sang giúp sức,

Còn mời ác tặc đến an dân.

Bạch-Đằng đóng cọc chờ thi kế,

Hoằng-Tháo lầm mưu phải táng thân (3)

Danh tiếng NGÔ-QUYỀN rền bốn bể,

Khởi đầu tự chủ một giang san.



Ngô Phủ

............................................................

(1) Có sách gọi là Kiều-Công-Tiễn (KCT).

(2) KCT giết ông Dương-Diên-Nghệ là nhạc gia của ông Ngô-Quyền

(3) Hoằng-Tháo, thái tử của Nam Hán Đế Lưu-Cung, không hay tin KCT đã bị ông Ngô Quyền giết rồi, vẫn xua quân tiến lên sông Bạch-Đằng, nên phải chết oan.



11)- Ông ĐINH-BỘ-LĨNH



Đinh-Bộ-Lĩnh, ngài Vạn-Thắng-Vương,

Hoa-Lư khởi nghĩa sức phi thường.

Cờ lau bố trận phô thanh thế,

Trâu nghé dàn quân lập kỷ cương.

Đỗ-Cảnh-Thạc đầu, rền tiếng dội,

Phạm-Phòng-Át phục, lộng danh dương.

Tròn năm bình định mười hai sứ,

Dựng nghiệp nhà Đinh một quốc cường.

Ngô Phủ





12)- NGÀI LÝ-THƯỜNG-KIỆT



"Nam Quốc sơn hà Nam Đế cư,

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư" (*)

Nam bình Chiêm tặc, bồi ranh giới,

Bắc phạt tống man, đoạt cõi bờ.

Trừ Chế-Ma-Na, vua Mán rợ,

Chém Trương-Thủ-Tiết, tướng Tàu ô.

Thượng Quân THƯỜNG-KIỆT danh muôn thuở,

Con cháu Rồng-Tiên kính phụng thờ.



Ngô Phủ

...................................................................
(*) Trích thơ của ông Lý-Thường-Kiệt.



13)- NGÀI TÔN-ĐẢN



Trang sử hùng uy đất nước nhà,

Lừng danh Tôn-Đản bậc tài ba

Điều quân Bắc tiến, xô muôn lũy,

Khiển tướng Tây chinh, vượt vạn hà.

Ung- Huyện thành công gươm diệt quỷ,

Từ-Dam thất thủ lửa thiêu ma.

Tống trào khiếp vía cầu hưu chiến,

Hậu duệ còn ai nối chí xưa?

Ngô Phủ





14)- ĐỨC TRẦN-NHÂN-TÔNG



Nhà TRẦN công cán đức NHÂN-TÔNG,

Bắc tặc giặc Nguyên ỷ cẩu đông.

Mấy lượt xua quân sang khuấy phá,

Bao lần bại thế phải đào vong.

Mưu cao khiển tướng ngăn bầy Hán,

Chí dũng nung binh đuổi lũ Mông.

Quốc thái dân an bờ cõi mở,

Vững bền gấm vóc một non sông.

Ngô Phủ



15)- ĐỨC TRẦN-HƯNG-ĐẠO



Tưởng chiếm nước Nam được dễ dàng,

Giặc Nguyên ồ ạt kéo quân sang.

Thoát-Hoan dốt nát, mưu thô thiển,

Hưng-Đạo tài ba, kế vững vàng.

Tây-Kết đuổi thù Chương-Dương-Độ,

Vân-Đồn diệt địch, Bạch-Đằng-Giang.

Hai phen sinh tử gìn cương thổ,

Vạn kỷ lưu danh tạc sử vàng.

Ngô Phủ



16)- ÔNG TRẦN-BÌNH-TRỌNG



Ông TRẦN-BÌNH-TRỌNG trấn Bình-Than,

Quyết diệt quân Nguyên, lũ bạo tàn.

Đà-Mạc sa cơ cam bị bắt,

Thoát-Hoan thiết kế dụ qui hàng.

"Thà là làm quỷ nơi Nam quốc,

Hơn được làm vua xứ Bắc man" (*)

Dũng khí anh hùng cao chất ngất,

Đầu rơi tình nước vẫn cưu mang.



Ngô Phủ

_____________________________________________________________

(*) Tượng ý của ông Trần-Bình-Trọng trước lúc lìa đời.



17)- ÔNG PHẠM-NGŨ-LÃO



PHẠM-NGŨ-LÃO gia, bậc đại tài.

Văn thông, võ luyện há thua ai.

Ngồi đan, xót nước càng lo nghĩ,

Bị vớt, sây đùi cũng chẳng hay.

Chém thác Trương-Quân, thù bạt vía,

Xông tràn Vạn-Kiếp, địch hồn bay.

Bao năm hạng mã dầy công cán,

"Quản-Thánh Dực-Quân" đáng tước ngài.



Ngô Phủ







18)- ÔNG TRẦN-QUỐC-TOẢN



Hội nghị Bình-Than công tác phân,

Chỉ TRẦN-QUỐC-TOẢN chẳng ai cần.

Cầm cam bóp nát buồn se thắt,

Thấy giặc tràn lan hận uất dâng.

Tụ họp người nhà, mua vũ khí,

Xông pha trận mạc, báo hoàng ân.

Tài không đợi tuổi trăng tròn khuyết,

Dũng chí muôn đời bất nhị nhân.



Ngô Phủ



19)- HUYỀN-TRÂN CÔNG-CHÚA



Chiêm-Việt can qua nối nối thù,

Nhân-Tông gả nữ cốt an cư.

Hai châu Ô-Lý dâng hôn lễ,

Một gái HUYỀN-TRÂN mở cõi bờ.

Nợ nước liều thân trang quốc sắc,

Tình nhà gạc lệ bậc thiên tư.

Tròn năm thằng mán leo cành quế,

Muôn thuở dân ta xót liễu bồ.



Ngô Phủ



20)- TRẬN HÀM-TỬ-QUAN



Hổ tướng Toa-Đô, Ô-Mã-Nhi,

Nghệ-An công mãi chẳng được gì.

Chạy lên Hàm-Tử, toan bề thối,

Gặp phải Triệu-Trung (1) ngỡ nước nguy.

Quốc-Toản thừa cơ xông trận tuyến,

Chiêu-Vương (2) sẳn dịp phá thành trì

Thêm binh Nguyễn-Khoái hăng say máu,

Đánh gục quân thù, nhục thảm thê.



Ngô Phủ



_____________________________________________________________

(1) Triệu-Trung, tướng nhà Tống, sang đầu An-Nam Quốc, cùng binh lính mặc chiến phục màu đen của nhà Tống, làm cho quân Nguyên ngỡ quân Tống đã đánh thắng quân nhà bên Tàu, rồi sang giúp An-Nam quốc, khiến chúng sanh hốt hoảng.

(2) Tướng Soái Chiêu-Văn-Vương Trần-Nhật-Duật.



21)- TRẬN CHƯƠNG-DƯƠNG-ĐỘ



Thuyền rời Thanh-Hóa đến Chương-Dương,

Đánh úp địch quân tạo bất thường.

Phạm-Ngũ-Lão gia chưa dưỡng sức,

Trần-Quang-Khải soái đã rong cương.

Lên bờ Quốc-Toản xông tuôn lũy,

Bại thế Thoát-Hoan chạy cướp đường.

Tái chiếm Thăng-Long rần rộ tiệc,

Hồi loan phấn khởi dạ quân vương.



Ngô Phủ





22)- TRẬN TÂY-KẾT



Ngăn chận Thoát-Hoan tiếp viện binh,

Bao vây Tây-Kết vững quân tình.

Vương gia NhậtĐuật (*) rồi xông trận,

Cẩu tướng Toa-Đô phải bỏ mình.

Ô-Mã-Nhi liếu, ôm mủng trốn,

Trần-Quang-Khải rượt, khiến thù kinh.

Quân Nguyên ba vạn xin hàng phục,

Sử sách lưu truyền phút đại vinh.



Ngô Phủ

________________________________________________________

(*) Chiêu-Văn-Vương Trần-Nhật Duật.



23)-TRẬN VÂN-ĐỒN



Nhân-Huệ vương gia Trần-KhánhĐư,

Bị thua Ô tướng (*) luống ưu tư.

Hoàng gia thúc giục về gia tội,

Đại tướng nài xin được trả thú.

Cửa Lục-ThủyĐương dàn cả phục,

Lương Trương-Văn-Hổ bị toàn thụ

Đái công chuộc tội lừng tên tuổi,

Một trận VÂN-ĐỒN địch ngất ngư.

Ngô Phủ

..........................................................

(*) Tướng của quân Nguyên : Ô-Mã-Nhi

Nguồn : Diễn Đàn Gò Công
Xin chân thành cám ơn Giáo Sư Hoàng Ngọc Hùng đã đăng bài .
Hoa Hạ

<iframe width="420" height="315" src="http://www.youtube.com/embed/1Nq3mMe9mOo?rel=0" frameborder="0" allowfullscreen></iframe>
You need to be logged in to comment