Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!
Color
Background color
Background image
Border Color
Font Type
Font Size
  1. Xin Hãy Cứu lấy Tổ Quốc


    Lịch sử của dân Việt là một chuỗi những biến cố vừa hùng tráng, oai phong, vừa phẫn nộ và đau đớn chập chùng. Những giai đoạn hùng cứ biển Ðông xen lẫn với những thời gian chịu áp bức của ngoại nhân. Nhưng nổi bật lên trên tất cả và kéo dài hơn 4000 năm là cuộc đối kháng với Bắc Phương, cho đến ngày nay, vẫn chưa ngừng nghỉ. Tùy theo tinh thần và khả năng của giới lãnh đạo mà có lúc dân tộc ta hiên ngang đánh đuổi được quân xâm lược tràn từ phía Bắc xuống, làm kinh động cả thế giới, hay đành chấp nhận tủi nhục làm nô lệ, dù tạm thời, cho các lực luợng Thanh, Minh, Nguyên, hay Mông Cổ. Ðiều kinh sợ nhất là trong khi đất nước ta không thiếu những danh tướng lừng lẫy được toàn thể thế giới ngưỡng mộ từ Hai Bà Trưng, Bà Triệu, đến các đời Ðinh, Lê, Lý, Trần, Lê, với Trần Hưng Ðạo, Lý Thường Kiệt, Phạm Ngũ Lão, theo sau là Quang Trung Ðại Ðế, rồi các vị Vua anh hùng như Hàm Nghi, Duy Tân, cũng có những kẻ hèn hạ, rước voi về dầy mồ tổ tiên, bán nước cho giặc. Những Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống, và cả họ Mạc cũng tỏ ra khiếp nhược, dâng nước cho Tầu. Và, một nhân vật, tuy có tài quản lý, nhưng cũng là một kẻ, cuối cùng, cũng hiện nguyên hình là làm hại đất nước: Hồ quý Ly. Từ cuối thế kỷ 14 sang đầu thế kỷ 15, Nguyễn Trãi đã viết bài hịch hùng tráng “Bình Ngô Ðại Cáo”, vạch tội họ HỒ: “Nhân họ HỒ chính sự phiền hà. Ðể trong nước lòng dân oán hận. Quân cuồng Minh thừa cơ gây loạn. Bọn gian tà còn bán nước cầu vinh. Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn. Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ...”

    Ðau đớn thay, hơn năm trăm năm sau, một người tự xưng họ HỒ lại tái diễn trò bán nước, buôn dân, cống nộp giang sơn ta cho kẻ thù truyền kiếp Bắc Phương. Cũng dưới sự cai trị của họ HỒ, dân đen cũng bị tiếp tục “nướng trên ngọn lửa hung tàn”, con đỏ cũng bị “vùi xuống dưới hầm tai vạ”. Ðau đớn hơn nữa là mặc dù ngày nay, dưới ánh sáng của văn minh đầu thế kỷ 21, khi việc thông tin đã lan tràn trên khắp mọi miền thế giới, khi trình độ hiểu biết của dân ta gấp trăm lần các thế kỷ cu,õ nước ta vẫn tiếp tục bị bán đứng một cách ngang nhiên, trơ trẽn, khốn khổ khốn nạn, bởi những tay lãnh đạo, là con cháu của họ HỒ. Nếu không có biện pháp gì ngăn chặn, thì chỉ trong một thập niên nữa, Việt Nam sẽ trở thành một đất nước nô lệ dưới sự quản lý của Trung Cộng. Nhiều sự việc liên tiếp, công khai, đã chứng minh nhóm lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam đang tiếp tục BÁN NƯỚC, để đổi lấy sự vinh thân phì gia của họ, mặc kệ cho danh dự Tổ Tiên bị chà đạp nhục nhã; mặc kệ vong linh của hàng trăm triệu dân Việt, qua bốn ngàn năm, đã hy sinh bảo vệ từng tấc đất giang sơn; mặc kệ cho những thế hệ sau hứng chịu hậu quả cay nghiệt của đời làm tôi mọi cho Tầu Cộng. Sau việc dâng Hoàng Sa, Trường Sa, và dải đất cực Bắc cho Tầu Cộng, bây giờ Nguyễn Tấn Dũng và đồng bọn đang tiến hành một chương trình bán luôn miền Nam cho giặc, qua kế hoạch khai thác mỏ Bauxít tại Ðắc Nông.

    Tất cả mọi chiến lược gia từ xưa đến nay đều biết rằng miền Cao Nguyên Trung Phần là điểm chiến lược nhìn bao quát toàn bộ ba xứ Ðông Dương: Việt, Miên, Lào. Người Pháp cũng từng đồng ý: “Ai chiếm được Cao Nguyên Trung Phần là chiếm được toàn bộ bán đảo Ðông Dương”. Vậy mà bây giờ, Nguyễn Tấn Dũng, Nông Ðức Mạnh, và Ðảng Cộng Sản đang âm mưu bán đứt miền này cho Trung Cộng, dưới nhãn hiệu “khai thác mỏ Bauxít”.

    Thử nhìn về các vấn đề liên quan đến việc khai thác mỏ Bauxít tại Ðắc Nông:

    1- Về tính chất kinh tế và khoa học

    Bauxít là loại quặng, nằm ngay trên mặt đất, hay ở một độ nông, có mầu đỏ nâu (brown mud), lẫn trong đất và đất sét, được sử dụng từ rất lâu trước khi được chế biến thành Aluminum (nhôm). Ở Guana, từ nhiều thế kỷ trước, người ta dùng loại đất này để làm nhà. Sau khi biết được đặc tính “nhôm” trong bauxít, thì nhiều nước trên thế giới đã khai thác bauxít, và đem lại lợi nhuận khổng lồ cho giới đầu tư, vì nhôm hầu như hiện diện trong khắp mọi đồ dùng, vật dụng, từ thìa, nĩa đến máy xe hơi hay vỏ máy bay. Tùy theo đất đai, trung bình cứ 4 tấn quặng, lấy ra được 2 tấn “alumina”, từ 2 tấn “alumina”, người ta lấy ra được 1 tấn nhôm ròng. Theo ước tính của các “chuyên viên” khoa học của Ðảng Cộng Sản, thì bauxit có nhiều tại miền Bắc, và Cao Nguyên Trung Phần. Riêng tại Ðắc Nông, trữ lượng nhôm có từ 1 đến 2 triệu tấn. Trên thế giới, nơi nhiều Bauxit nhất là Guinê, với hơn 8 triệu tấn, Úc hơn 7 triệu tấn, Hoa Kỳ chỉ có chừng 40,000 tấn. Nhu cầu về nhôm rất cao, tuy nhiên vì tác hại môi trường của nó, nhiều nước đã giảm sự khai thác bauxít và chỉ khai thác bauxít ở những miền sa mạc hoang vắng. Gần đây, chính Trung Cộng đã đóng cửa trên 150 địa điểm khai thác bauxít vì bị các nhà khoa học và dân chúng phản đối kịch liệt. Ðể tiếp tục khai thác lợi nhuận này, Trung Cộng tỏa đi khắp nơi trên thế giới để tìm nhôm. Một trong những nơi mà Trung Cộng đang tiến hành khai thác là Việt Nam.

    2- Về lợi ích kinh tế

    Một khi đã ký nhượng đất cho Trung Cộng sử dụng, lợi nhuận dĩ nhiên là về phía Trung Cộng. Nhà cầm quyền Cộng Sản có thể chỉ được chia phần trăm và tiền thuế. Mà cho dù được chia lãi và tiền thuế, người dân Việt Nam cũng chẳng được hưởng lợi lộc gì. Dưới chế độ được liệt kê vào những nước tham nhũng nhất thế giới, tiền chia này nhất định vào túi lãnh đạo đến 9/10, và chỉ vào quỹ quốc gia một chút xíu. Nếu chia đầu người, chắc không đến chục đô la một năm. Kinh nghiệm Tết năm vừa qua, quỹ xóa đói giảm nghèo của Liên Hiệp Quốc chui gần hết vào túi cán bộ (tại sao lại có quỹ xóa đói giảm nghèo khi mà Việt Nam có những sân golf, khách sạn 5 sao, nơi giải trí, ăn chơi vào bậc nhất thế giới? Những lãnh đạo Cộng Sản, từ giai cấp công nông năm 1975, nay ai cũng có tài sản khổng lồ. Nếu công khai tài sản, chắc có nhiều lãnh đạo được kê tên vào danh sách những kẻ giầu nhất thế giới của Forbes. )
  2. Tập vận động để chữa bệnh đau nhức



    1. Tập vận động để chữa bệnh đau nhức

    Một tờ báo Mỹ có kể một câu chuyện về một người đi ăn trộm, đang mò mẫm trong bóng tối bỗng đụng chạm làm rơi một món đồ gì đó, khiến ông chủ nhà thức giấc. Anh ăn trộm hoảng quá, đứng chết trân tại chỗ, chờ chủ nhà kêu 911. Nhưng bất ngờ, ông chủ nhà chỉ rên rẩm và nói:

    -Ăn trộm hả? Muốn lấy gì thì lấy đi. Nhưng, trước khi đi, đưa giùm tôi lọ thuốc phong thấp ở trên bàn đó và một ly nước nữa. Tôi đang đau quá, không dậy nổi.

    Anh trộm chưng hửng một lúc, nhưng rồi cũng đưa lọ thuốc và nước cho chủ nhà xong, rồi chậm rãi nói:

    -Ông bị đau nhức đầu gối phải không? Tôi cũng bị. Nhưng uống thuốc này không hết đâu. Tôi dùng thuốc khác.

    Chủ nhà vừa rên vừa hỏi:

    -Thuốc gì vậy? Viết tên thuốc được không?

    Anh trộm viết tên thuốc rồi vừa đưa cho ông chủ vừa nói:

    -Tôi dùng thuốc này mới hết. Nhưng vì trước đây, đau quá, mất ngủ ban đêm quen rồi, nên bây giờ, hết bệnh, không biết làm gì cho hết đêm, đành đi ăn trộm .... Ông tha cho tôi. Tôi đi về nhé!

    Nói xong, anh trộm ra mở cửa, đi về. Ông chủ nhà gọi với theo:

    -Cám ơn nghe. Đêm nào mất ngủ, cứ tới đây, nói chuyện chơi.

    Bài báo nói lên được một thực trạng về bệnh tật mà bao người Mỹ đang mắc phải: Bệnh đau nhức các khớp xương, hay còn gọi là Phong Thấp, mà tiếng Mỹ gọi là Arthritis. Có hai loại đau nhức: Osteoarthristis, tạm gọi là loại Một (cho các vị cao niên dễ nhớ) và Rheumatoid Arthritis mà ta tạm gọi là loại Hai.

    Loại Một gây ra những đau nhức ở cổ, vai, bàn tay, ngón tay, đầu gối, xương chậu... Nguyên nhân thường là do tuổi tác (phụ nữ trên 45 tuổi có thể mắc bệnh này), thoái hóa xương, di truyền, bệnh mập phì, hay do những động tác không ngay ngắn được lập đi lập lại lâu ngày như ngồi ghế cong lưng, ngồi lái xe mà thắt lưng bị bẻ cong, nghiêng đầu sang một bên, tay đánh máy suốt ngày không thư dãn, đứng một vị thế cong trong nhiều giờ, nhiều ngày.... Trên nước Mỹ có tới 21 triệu người bị đau loại Một.

    Loại Hai cũng đau ở các đốt xương, có thể sưng lên, làm biến dạng xương, khó đi đứng, cử động. Loại này có trên 2 triệu nguời mắc bệnh. Nguyên nhân có thể do hệ thống miễn nhiễm không làm việc tốt, bị di truyền, hay vì thời tiết thay đổi đột ngột. Nói chung cả hai loại đều gây đau nhức, nhiều người cảm thấy "khốn khổ, khốn nạn" khi bị các cơn đau hành hạ. Hoặc đi một lúc thì cảm thấy nhức chân, rồi đi lệch lạc. Hoặc ngủ không nổi vì khớp xương đầu gối buốt quá. Hoặc ngồi lâu thì tê hai bả vai...

    Thường thì có Ba (3) cách điều trị các bệnh đau nhức : Thuốc uống (Medication), giải phẫu (Surgery) và Không dùng thuốc (Non-medication). Hai phương pháp đầu tiên, dĩ nhiên, là phải qua bác sĩ. Phương pháp thứ Ba: Không dùng thuốc lại gồm ba cách: châm cứu, vật lý trị liệu, và Tập Luyện (Exercise). Trong ba cách này, Tập Luyện (Exercise) dễ hơn cả và tác dụng lâu bền hơn cả. Châm cứu có tác dụng tức khắc, nhưng cũng hết tác dụng nhanh lắm. Vật Lý trị liệu cũng thế. Khi được Mát xa, thì thấy rất "đã", nhưng chỉ một ngày sau là lại đau như cũ. Vậy chỉ còn các TẬP LUYỆN lấy một mình, không tốn tiền, không phải giải phẫu, cũng không phiền ai, nhưng chỉ cần Ý CHÍ tự thắng mà thôi.

    Người viết bài này, chỉ còn một ít chỗ khớp xương nào còn nguyên vẹn mà chưa lần ...gẫy. Tuổi trẻ, đi tập đủ loại võ nghệ: Nhu Đạo, Thái Cực Đạo, Hapkido, Hiệp Khí Đạo, Thiếu Lâm.. không môn nào mà không mang cho thân thể một lần trật xương, gẫy vỡ. Đấu vật thì cắm đầu xuống đất, lọi cổ tưởng chết. Rồi chống tay xuống đất, vỡ xương cổ tay, lọi cùi chỏ.. Nhẩy qua chướng ngại vật: Gẫy vai (2 lần). Đá người thì bị lọi ngón chân. Vật người thì bị gẫy thắt lưng... Bó bột liên miên, hết tay lại chân. Vào nhà thương chích thuốc rồi qua Thầy Cự Thất bó gà, qua Thầy Tầu điểm huyệt, có lần nhờ thầy Cao Miên thổi bùa cho lành vai... Tất cả những lần gẫy vỡ ấy, tuổi thanh niên sung sức chẳng coi nhằm nhò gì, giờ này, mới thấy thấm thía: Đau nhức khắp người. Muốn hết đau nhức mà không muốn uống thuốc, không chích Cortisone, không đi bác sĩ chỉnh xương, thì phải tập luyện hoài hoài, ngưng tập là .. đau! Cho nên, viết bài này để chia xẻ những ai đau đớn vì bệnh phong thấp, nhức xương, mong mọi nguời cùng khỏe.

    Nguyên lý: Hệ thống thần kinh của con người chạy cùng khắp thân thể, chỗ nào cũng có, từ đầu cho tới ngón tay, ngón chân. Tuy nhiên, theo hình vẽ về hệ thần kinh được treo tại các phòng mạch Tây, Đông Y, ta thấy chùm dây thần kinh đi từ sau ót tỏa ra cánh tay, xuống lưng, qua xương sống, tới hông, đùi, rồi chân (trông như một bó dây điện) là chùm quan trọng nhất. Nếu bị "kẹt" đâu đó, thì đau. "Kẹt" trên cổ có thể gây đau ra cánh tay, bàn tay. "Kẹt" thấp xuống dưới thì đau bắp thịt lưng, đau thắt lưng, "kẹt" ở chỗ thắt lưng lại gây đau ở đùi, chân... Cho nên, khi bị đau quá vì xương thoái hóa hay vì đụng xe, mà phải giải phẫu, bác sĩ sẽ cân nhắc rất kỹ. Mổ ở thắt lưng, nếu "xui"chạm giây thần kinh, có thể bị liệt chân mà thôi, nếu mổ ở cổ mà bị "xui", có thể liệt cả người! Vì thế, chỉ những trường hợp đau cổ chịu hết nổi, bắt buộc phải giải phẫu thì phải ký giấy chấp nhận 50/50, một là khỏi, hai làđời xe lăn. Hên thì cũng có thể phải ghép một cây sắt vào trong cổ. Đôi khi phải mổ lại.. Chỉ còn cách Tập Luyện, cho thư giãn thần kinh chỗ gây đau, cho mạnh bắp thịt chỗ đau, cho khớp xương được chuyển động dịu dàng trở lại, kích thích chất nhờn đầu khớp xương phục hoạt, điều chỉnh lại những chỗ lệch lạc xương cốt, thì sẽ... bớt đau (không phải HẾT đau, vì hễ ngưng tập một thời gian, có thể đau lại).

    A - CHỮA ĐAU CỔ, ĐAU VAI, ĐAU TAY

    1-Xoay cổ trái phải: Nhìn thẳng trước mặt, xoay cổ từ trái sang phải chầm chậm, mắt vẫn nhìn ra đằng trước, từ từ hít vào. Từ từ trả cổ trở lại phía trước, rồi xoay sang bên phải, mắt vẫn nhìn ra đằng trước, thở ra. Nhớ xoay cho hết cỡ, tới khi không xoay được nữa thì thôi. Làm 10 lần.

    2-Gập cổ: Ngửa cổ lên chầm chậm cho tới hết cỡ, từ từ hít vào. Chầm chậm gập cổ xuống ngực, hết cỡ, thở ra. Làm 10 lần.

    3-Bẻ cổ: Mắt nhìn thẳng đằng trước, bẻ cổ nghiêng xuống đầu vai trái, hít vào. Từ từ thở ra, bẻ cổ qua đầu vai bên kia. (Khác với xoay cổ trái phải: ở đây, khi bẻ đầu xuống vai thì đầu vai có hơi nhô lên cho chạm với đầu, còn xoay cổ trái phải thì chỉ quay đầu vào khoảng trống sau vai mà thôi). Làm 10 lần.

    4-Xoay cổ vòng tròn: Dùng điểm tựa là cổ, xoay vòng đầu chung quanh cổ, từ phải sang trái 10 lần rồi từ trái qua mặt 10 lần.

    B - CHỮA ĐAU CÁNH TAY, BÀN TAY

    1-Xoay vai: Hai tay buông thỏng, dùng đầu vai làm điểm tựa, xoay vai theo một vòng tròn chạy chung quanh đầu vai ( không phải nhô lên, hụp xuống) từ sau ra trước, rồi từ trước ra sau. 10 lần. Trong khi xoay vai, vẫn hít thở đều đặn.

    2-Lắc bàn tay: Giơ cánh tay ra trước mặt, cùi chỏ ép hai bên thân mình, giữ nguyên cổ tay và cánh tay, hai bàn tay để trước mặt, lòng bàn tay hướng vào phía ngực. Lắc từ trên xuống dưới (như giũ giũ bàn tay) thật mạnh 10 lần. Đổi hướng, cho mu bàn tay lên trên, lòng bàn tay hướng về mặt đất, giũ mạnh bàn tay từ trên xuống dưới. 10 lần. Đổi hướng, hai lòng bàn tay quay vào nhau, giũ mạnh bàn tay từ trái qua phải, từ phải qua trái. Những người thư ký đánh máy, làm "neo", thợ may.... phải tập bàn tay thường xuyên, nếu không, có thể bị mổ cổ tay vì khớp xương cổ tay bị cứng khô lại.

    3-Vẽ vòng trên đất: Đứng rộng chân ra, một tay vịn vào mặt bàn, nguời nghiêng xuống cho song song với mặt đất, cánh tay buông thỏng, tưởng tượng như đang cầm một cái que, vẽ một vòng tròn tưởng tượng thật to trên mặt đất . Vẽ nhanh 10 lần rồi đổi tay. Hít thở đều hòa.

    C - CHỮA ĐAU THẮT LƯNG, ĐÙI, CHÂN

    1-Xoay thắt lưng theo vòng tròn: Hai tay chống hông, ngón tay để ra sau lưng, ngón cái phía trước, các ngón tay ấn mạnh vào thắt lưng, dùng thắt lưng làm điểm tựa, xoay vòng bụng ra trước rồi vòng qua bên phải (bên trái) ra sau, rồi vòng tới trước. Làm liên tục không ngừng, khi ra tới trước, thì bụng phải ưỡn ra hết cỡ. Khi ra sau thì thắt lưng cong lại cũng hết cỡ. Hít thở chầm chậm theo vòng.

    2-Gập lưng: Cũng như gập cổ, ngửa lưng ra, hít vào, gập thắt lưng xuống, thở ra. Khi ngửa lên, ngửa hết cỡ, khi gập xuống, cũng gập hết cỡ.

    3-Xoay hông: Hai tay buông thõng bên sườn, vặn người qua bên trái thì hai cánh tay cũng "văng" theo bên trái, nghĩa là không dùng sức tay, chỉ để cho hai cánh tay "văng" theo mà thôi. Xong, vặn người qua bên phải. Hai cánh tay lại "văng" theo bên phải. Nhớ khi xoay sang bên nào thì xoay gót chân bên đó, và bàn chân bên đó nhấc lên, nghĩa là xoay trên gót chân mà thôi. Mục đích làm cho vòng xoay rộng thêm, nếu giữ nguyên bàn chân trên mặt đất, vòng xoay sẽ ngắn lại. Hít thở chầm chậm.

    D - CHỮA ĐAU ĐẦU GỐI

    1-Xoay gối trái phải: Đứng vừa phải, hai bàn tay đặt trên đầu gối, thấp người xuống, xoay đầu gối theo một vòng tròn về phía phải (theo vòng kim đồng hồ) 10 lần rồi đổi hướng quay theo bên trái.

    2-Xoay gối trong ngoài: Đứng rộng chân ra, hai tay đặt trên đầu gối, thấp người xuống, xoay đầu gối từ ngoài vào trong rồi từ trong ra ngoài.

    Các thế đầu gối này, mới đầu thì chỉ thấp người xuống một chút, sau đó, mỗi ngày càng thấp người xuống hơn, công lực sẽ mạnh hơn. Chỉ cần làm 10 phút, là đã thở mạnh, toát mồ hôi rồi. Người nhức đầu gối ban đêm phải tập trước khi lên giường ngủ.

    Lưu ý:

    -Những thế tập này chỉ được áp dụng với người chưa giải phẫu xương lần nào. Nếu đã giải phẫu cổ thì không được tập cố. Nếu giải phẫu lưng rồi mà muốn tập lưng, phải hỏi bác sĩ, xem phim X-ray có trở ngại gì không..

    -Phối hợp vừa châm cứu, vừa mát xa, vừa tập luyện thì rất tốt.

    -Trường hợp đau kinh niên vì xương rồi, có thể uống thêm Glucosamine có bán tại các tiệm thuốc Tây để kích thích chất nhờn đầu xương và xương.

    -Mua một cái máy mát-xa nhỏ cầm tay để chà xát chung quanh chỗ bắp thịt đau sẽ hiệu nghiệm nhanh hơn.

    Vài hàng trao đổi những kinh nghiệm trong suốt mấy chục năm qua, nếu có chi sai sót, mong cao nhân chỉ điểm thêm. Chúc quý vị sống lâu, sống khỏe mạnh, và hạnh phúc.
  3. "Yoga" hay "Thiền Công" có lợi cho sức khoẻ như thế nào?

    Chu Tất Tiến


    "Yoga" hay "Thiền Công" phát xuất từ Ấn Độ khoảng 6 đến 7 ngàn năm trước, tiếng nguyên thuỷ theo Sanskrit là"yuj" có nghĩa là kết hợp giữa linh hồn cá nhân (atma) và tinh tuý vũ trụ (paramatma). Khởi thủy, Thiền Công được lập ra với mục đích đi tìm sự Khai Ngộ (Enlightenment), sau đó đã chuyển hóa thành nhiều môn phái Yoga khác. Mỗi môn phái lại có những tư tuởng chỉ đạo khác nhau như Karma Yoga chú trọng vào sự Từ Bỏ Bản Ngã, Bhakti Yoga chú tâm về sự Dâng Hiến, Jnana Yoga, Raja Yoga chỉ quan tâm về Kiến Thức... Những thế, thức tập luyện cũng khác nhau, có thể bất động, hay động, mỗi thế, thức lại biến hoá thành nhiều kiểu dáng, khó có thể đếm đuợc hết mọi loại kiểu, thức. Sau khi được truyền qua các quốc gia khác, nhất là Tây Âu, Thiền Công tập trung nhiều về Chữa Bệnh, Điều Hòa Tâm Linh, tìm ra sự An Vui cho cá nhân một khi tâm thân hợp nhất, khỏe mạnh, và hạnh phúc.

    Như vậy, Thiền Công hay Yoga hoàn toàn khác với Thiền hay Zen đặt trọng tâm vào sự suy tuởng có tính chất tôn giáo, nguyên thuỷ khai sinh từ Ấn Độ với tên gọi từ tiếng Sanskrit: "dhyàna", triển khai tại Trung Hoa khoảng thế kỷ thứ 6 duới thời Tổ Sư Bồ Đề Lạt Ma (Bodhiharma) cũng đồng thời là Tổ Sư cuả môn phái Thiếu Lâm. Vào thế kỷ thứ 9, Thiền được truyền bá sang Đại Hàn và được gọi là Seon. Thế kỷ thứ 12, Thiền được phát triển ở Nhật bởi Tổ Sư Myòna Eisai sau khi Ngài đến Trung Hoa rồi về nuớc, lập ra hệ phái Linji, còn gọi là Rinzai. Ở Việt Nam, vào khoảng cuối thế kỷ 16, Thiền Sư Tì Ni Đa Lưu Chi (Vinitaruci) nguời Ấn Độ đến Việt Nam phổ biến về Thiền, và dưới thời Ngài Thiền Sư Vạn Hạnh, Thiền đuợc phát huy mạnh mẽ nhất cho đến ngày nay. Trên thế giới, hiện tại, những hình thức về Thiền rất đa dạng. Ngoài Tu Thiền (Thiền Tông), những nguời thực tập Thiền còn thể hiện Thiền trên hội hoạ (Tranh Thiền), thi ca (Thơ Thiền), cắm hoa (Thiền Hoa), trang trí (vuờn Thiền), hay kiến trúc theo Thiền... Những vuờn cỏ với sỏi trắng đuợc vun theo những đuờng nét đơn sơ nhưng đầy ý nghĩa cuả Nhật nổi tiếng khắp thế giới và được hàng triệu nguời từ Đông sang Tây rất hâm mộ.

    Vì sự đa dạng về Thiền như thế, nguời viết đã phiên dịch tiếng Yoga thành Thiền Công (Thiền = Tập trung tư tưởng, Công = sự vận dụng sức lực tinh thần hay vật chất), để tránh sự ngộ nhận với Tu Thiền. Và cũng vì mục đích là để tìm sự An Vui, Hạnh Phúc qua Sức khỏe, không mang tính chất tín nguỡng, người viết đã đơn giản hóa việc tập Thiền Công qua 4 thế: Ngồi, Nằm, Quỳ, Đứng. Mỗi thế lại có 4 thức. Tên gọi của những thức này do người viết mạo muội đặt bằng tiếng Việt cho dễ nhớ, và để không bị ngộ nhận với bất cứ thế thức nào khác. Việc tập Thiền Công nên được thực hiện trong phòng vắng, không ồn ào; nếu có thể tập ở ngoài vườn, nơi không khí mát mẻ thì tốt hơn. Mỗi ngày tập khoảng 1 tiếng đồng hồ, thì chỉ trong vòng 1 tháng, cơ thể và tinh thần sẽ đổi khác, tươi trẻ hơn, khỏe mạnh hơn, làm việc bền bỉ hơn, hạnh phúc hơn, và một số bệnh kinh niên có thể biến mất.

    A. NGỒI

    1-Toạ thiền: Ý Nghĩa = Con nguời là trung tâm điểm cuả vũ trụ. Không có Con Người, Vũ trụ chỉ là con số không. Ngồi xếp bằng tròn, không nhất thiết phải gác chân lên nhau, hai bàn tay để lên hai đầu gối, ngón trỏ và ngón cái cuả mỗi tay chạm nhau, lưng thật thẳng (Nếu ngồi cong lưng, sẽ bị đau lưng, vì xuơng sống sẽ bị cong, chạm vào dây thần kinh làm đau. Nếu không tự ngồi thẳng được, thì ngồi sát tuờng, cho lưng dưạ vào tuờng.) Nhắm mắt lại, tập trung tư tuởng, không nghĩ ngợi bất cứ điều gì, rồi hít vào thật chậm, khi hơi xuống tới bụng (đan điền) thì nén hơi lại và đếm 1,2,3 rồi từ từ thở ra. Trong khi hít vào và thở ra, phải tuởng tuợng đến luồng khí đi từ lỗ mũi vào trong ngực, xuống bụng, tuởng tuợng đến hơi thở đang nằm trong bụng, rồi tuởng tuợng đến hơi thở đang ra ngoài lỗ mũi. Những ngày đầu tiên, chưa quen, có thể cảm thấy hơi thốn lưng, nhưng dần sẽ quen và không thấy thốn lưng nữa. Hít thở từ 10 đến 20 lần.

    Thế này trị bệnh tim, mạch, ổn định thần kinh, thăng bằng trí nhớ, điều trị sau cơn "stroke" hay "heart attack", chống sự hồi hộp, lo lắng, mất ngủ. Có nguời chỉ hít thở như thế hơn 10 lần đã ngủ gục. Tập chừng một tháng, trí óc minh mẫn, sáng suốt hơn gấp bội.

    2- Bái Tổ: Ý Nghĩa = Xã hội có thứ tự trên dưới. Biết kính trên, nhường dưới, cuộc sống mới tươi đẹp. Cũng ngồi như trên, nhưng hai bàn tay chắp lại truớc ngực. Hít thở từ 10 lần trở lên. Tác dụng chữa bệnh giống như Tọa Thiền.

    3- Hoành Thiền: Ý Nghĩa = Con Nguời đuợc tạo ra bình đẳng. Nên tôn trọng lẫn nhau.

    Ngồi như trên, nhưng hai tay dang thẳng ngang ra hai bên. Hít thở tối đa 10 lần. Cùng một tác dụng như hai thế trên.

    4- Trung Thiền: Ý Nghĩa = Nhìn lại bản thân xem mình đã làm gì cho những người chung quanh vui vẻ chưa? Ngồi cúi đầu xuống, nhìn vào bụng mình. Hít thở như trên. Chữa các bệnh về tiêu hoá. Làm 10 lần. Khi xong, phải xoay cổ vài lần từ phải sang trái rồi từ trái sang phải, cho cổ không bị xơ cứng.

    B. QUỲ

    1- Hổ Phục: Ý Nghĩa = Con Nguời chỉ là cát bụi và thật nhỏ bé truớc thiên nhiên. Quỳ úp trán xuống đất, hai tay để thẳng, cùi chỏ để trên đất, xoải dài trên đầu. Hít thở chừng 10 lần. Giúp ổn định tim, mạch, thần kinh. Khi quá mệt sau một công việc nặng, tập thể thao quá độ, đánh võ... chỉ cần quỳ xuống và hít thở trong vài phút là khoẻ lại ngay.

    2- Tàng Long: Ý Nghĩa = Đôi khi chúng ta phải biết thu nhỏ mình lại, Quỳ áp một bên má xuống đất, nếu áp má bên trái xuống thì thọc tay trái qua duới nách cuả tay phải, nếu áp má bên phải xuống đất, thì thọc tay phải qua nách trái. Ép mình xuống thấp. Hít thở. Trị mất ngủ. Thay đổi tay từ trái sang phải, mỗi bên hít thở 10 lần.

    3- Độc Long: Ý Nghĩa = Vận dụng ý chí để huớng thiện. Quỳ theo thế Hổ Phục, nhưng giơ một chân thẳng lên trời. Hít thở. Trị bệnh thiếu máu, hay xây xẩm, hay nhức đầu.

    4- Thiềm Thừ: Ý Nghĩa = Tận dụng năng lực truớc, phó thác cho Thiên Mệnh sau. Qùy áp trán xuống đất, hai tay bỏ xuôi theo thân mình, hai bàn tay huớng về phiá bàn chân. Hít thở. Trị yếu tim, thần kinh.

    C. NẰM

    1-Bình Sơn: Ý Nghĩa = Chan hoà với mọi người sẽ được mọi người yêu thương..

    Nằm ngửa, không gối, hai tay xuôi theo thân mình. Từ từ rút gót chân về, nhấc thân mình lên, chỉ bám trên đất bằng gót chân và hai vai, giữ trọng lượng ở thắt lưng. Hít thở chừng 5 lần thôi, không cố gắng quá. Trị đau bắp thịt thắt lưng, yếu sinh lý, nguời có hơi thở quá ngắn và gấp rút. (Thế này không áp dụng đuợc với nguời mổ xuơng sống, thay thận, tật xuơng sống bẩm sinh...)

    2- Cung Tận: Ý Nghĩa = YÙ Chí của Con Người như cánh cung, càng căng càng mạnh. Nằm sấp, hai tay xuôi theo thân mình. Từ từ đầu và chân lên tạo thành hình cây cung, hít thở 3 lần rồi hạ đầu và chân xuống, nghỉ vài giây, lại cong lên, hít thở. Chưã đau thắt lưng, yếu sinh lý, lãnh cảm. (trừ người đang hoặc đã mổ xương sống.)

    3-Thiên Vị: Ý Nghĩa = Bỏ cái "Tôi" đi, thì tiến buớc nhanh nhẹn hơn. Nằm ngữa, không gối, hai tay xuôi theo mình, từ từ rút chân về gần mông, nhấc hẳn mông lên cao, mắt nhìn theo đùi, hít thở. Chữa yếu sinh lý, lãnh cảm, đau thắt lưng.

    4-Phân Thân: Ý Nghĩa = Mọi vật đều vô thuờng. Ta có thể là Ta, có thể không là Ta.

    Dành riêng trị bệnh mất ngủ. Nằm thẳng, không gối, hai tay xuôi theo mình. Nhắm mắt, hít thở chậm rãi chừng 10 lần, theo dõi hơi thở. Sau đó, tập trung tư tuởng, hít sâu tối đa, nén hơi, đếm 1,2,3, rồi thở ra chừng 10 lần nữa, bắt đầu "phân thân", tức là chia mình ra làm hai. Tuởng tuợng "mình" đang đứng bên cạnh giuờng, ngó lại "mình" đang nằm trên giuờng. Ngó từ chân lên đầu. Truớc hết, ngó ngón chân cái, bên trái, cố nhớ lại những kỷ niệm xẩy ra ở ngón chân này (chẩy máu, sứt móng...) từ hồi còn nhỏ... Hết ngón cái qua ngón bên cạnh, lần luợt ngó hết 5 ngón chân trái, qua bên chân phải, cũng đi từ ngón cái. Hết năm ngón chân, qua gót chân trái, gót chân phải, rồi lên mắt cá chân, lên cổ chân, lên ống quyển, đầu gối, lên đùi... Hết một chân, qua chân kia. Hết chân, lên bụng, lên cổ, qua vai, xuống cánh tay, cùi chỏ, bàn tay... lộn lên tay kia... rồi tới cổ...mặt... Thuờng thì lên tới cánh tay, đã ngủ say... Ngủ kiểu này giúp tăng cuờng sức mạnh, an thần, không cần ngủ 7, 8 tiếng mà vẫn khoẻ.

    D. ĐỨNG

    1- Bạch Hạc : Ý Nghĩa = Con nguời như chim Hồng, chim Hạc, luân chuyển không ngừng. Đứng thoải mái, hai tay chắp truớc ngực, từ từ giang tay ra hai bên, cúi nguời về truớc, rồi cong dần cho mặt gần như song song với mặt đất, trong khi một chân giơ lên ngang với mặt đất. Giữ sức nặng toàn thân trên một chân. Hít thở. Trị bệnh tim, mạch, cao mỡ, cao máu.

    2- Độc Kê : Ý Nghĩa = Tự chủ thắng sức mạnh. Đứng thoải mái, hai tay chắp truớc ngực, từ từ co chân trái lên, gác bàn chân trái vào sau bắp vế chân phải, hai tay từ từ giang ngang ra hai bên. Hít thở. Trị bệnh tim, mạch, cao mỡ, cao máu.

    3- Kim Quy : Ý Nghĩa = Hãy lắng nghe nhiều hơn là nói. Đứng áp sát vào tuờng, má trái áp vào tường, 10 đầu ngón chân cũng sát tuờng, tay trái thọc ngang, xuyên dưới nách phải, hít thở. Đổi ngược lại, áp má phải, thọc tay phải qua tay trái. Trị tim mạch.

    4- Hướng Thiên : Ý Nghĩa = Sống hướng thiện, huởng quả phúc. Đang đứng chân truớc chân sau, từ từ rùn chân truớc xuống, chân sau duỗi thẳng ra, cho thắt lưng thẳng, hai tay song song từ từ đưa về phía trước, hai bàn tay chụm lại, rồi đưa thẳng lên trời. Khi hai tay giơ lên, thì hít vào, nén hơi, rồi từ từ thở ra, xong thả nguời trở lại vị trí đầu. Tiếp tục nhịp nhàng như vậy 10 lần. Tăng cuờng sức mạnh toàn thân.

    Lưu ý: Để Thiền Công có thể chữa hết bệnh này mà không tạo ra bệnh khác, phải luôn luân chuyển các thế Động và Bất Động. Những nguời muốn ngồi Thiền thật lâu, phải tập từ nhỏ để cơ thể quen dần. Lớn tuổi, không nên để bất cứ bộ phận nào Bất Động lâu. Những nguời dùng máy điện toán, thợ may... có thể bị mổ cổ tay vì cổ tay luôn để Bất động. Có người phải mổ vai. Muốn tránh đau nhức, thỉnh thoảng phải lắc, xoay cổ tay chừng vài phút. Lắc trên xuống duới, lắc trái sang phải, lắc về phía trước rồi ra sau. Các vị cao niên, sau khi ngồi các thế Thiền chừng 20 phút, phải đứng dậy, vặn vẹo thân thể cho các khớp xương không bị cứng. Sau thế Hoành Thiền, phải xoay vai theo một vòng tròn truớc sau, mà trung tâm điểm của vòng tròn là đầu vai. Xoay từ sau ra truớc rồi nguợc lại từ truớc ra sau. Trong khi xoay, vặn như thế, phải tiếp tục hít sâu và thở dài. Truờng hợp hay bị bệnh đau vai, đau bàn tay, hay vai bị sái: đứng khom nguời xuống gần 90 độ, một tay vịn vào bàn, tay kia thả lỏng và vẽ một vòng tròn tưởng tượng trên mặt đất chừng 10 vòng, rồi trở lại tay kia. Làm chừng 20 lần sẽ hết đau vai.

    Trong phạm vi một bài viết ngắn ngủi, có thể còn thiếu sót, mong được cao nhân chỉ giáo thêm và cũng chân thành gửi tới mọi người lời chúc "sống vui, sống khỏe, sống hạnh phúc."
  4. Chuyện dài lấy vợ ở Việt Nam

    Chu Tất Tiến




    MỘT: EM TẬP LÁI XE.

    Ông Tuấn trông vẫn còn “ngon cơm” ở tuổi 71, dáng đi vẫn thẳng, tuy da dẻ có đồi mồi nhưng nhìn chung không đến nỗi “già chác” như mấy ông bạn già vẫn chơi “mạt chược” ở mấy Hội người già. Mấy năm nay, lòng ông tự nhiên như bổi hổi bồi hồi, ăn ngủ không ngon. Từ độ nhìn thấy ông bạn thân, kém ông vài tuổi, về Việt Nam cưới vợ ngon lành, ông thấy mình thiếu thiếu một cái gì đó. Nhiều đêm ông thao thức, cật vấn lương tâm và trao đổi tâm sự với chính mình đến sáng. Mình đã bao nhiêu năm góa vợ, chung thủy như thế là đủ. Nay con cái đã lớn cả, thằng nào thằng nấy cũng có gia đình riêng rồi, mai mốt chả còn đứa nào ở với mình, thì ai đấm lưng, ai mang cho mình bát canh, ai trao cho mình viên thuốc lúc mình mệt mỏi, đau yếu? Về tài chánh, thì trên dưới 6 năm dành dụm, cũng đuơc một số tiền, nếu mình về Việt Nam lấy vợ, thì chắc cũng được một nàng ngon lành, không đến nỗi tệ.

    Ông gọi thằng Tịch, đứa con trai cả, ly dị vợ, còn ở chung với ông.

    -Tịch à! Mai mua “dé”ù cho tao “dìa Diệt Nam” chừng một tháng, mầy ở nhà, nhớ tắt điện các phòng không có người, đừng để tốn điện, nghe mầy!

    Cậu con trai quay lại, nhích môi với bố:

    -Chắc ba lại “dìa” kiếm một cô đào nhí? Con biết ba hổng chịu nổi cảnh ông già góa “dợ” hoài!

    Ông Tuấn chặc lưỡi mà miệng múm mím cười:

    -Tầm bậy, mầy! Tao dìa thăm mấy chú, mấy bác. Lâu quá, hổng gặp, thấy nhớ.

    Tịch ngạo bố:

    -Nhớ chú bác cái khỉ gì! Ba vẫn chửi họ là đồ bất lương, chỉ lo móc tiền “Diệt kiều” thôi mà! Nhớ mấy con nhỏ bia ôm thì có!

    Ông Tuấn gắt um:

    -Mầy chỉ nói tào lao. Tao đạp cho mầy mấy cái đạp bây giờ!

    Rồi ông quày quả đi vào phòng, lo sửa soạn hành lý, lòng lâng lâng như con trẻ chờ quà.

    Ngày tháng qua đi, ông Tuấn đã trở lại Cali với cô vợ nhỏ hơn ông gần... 50 tuổi. Cô bồ nhí này mới 36 cái xuân xanh, có cặp mắt nhỏ xíu, mỗi khi cười thì chỉ còn nhìn thấy hai đường chỉ, cặp má phúng phính hồng duyên trông rất bắt mắt. Ông Tuấn vui như trẩy hội. Không ngờ mình già mà vẫn còn duyên. Người yêu nhỏ bé của ông, cứ gọi là “vợ nhí” đi, đã mê ông như mê từ kiếp trước. Mới gặp qua giới thiệu của người cháu họ, đã đon đã, tình tứ làm mình quýnh cả lên. Nàng ngọt ngào quá, đầm thắm quá! Ôi chao! Cuộc đời mình tưởng xuống lỗ cô đơn ai dè còn có người đầu gối tay ấp, mà ấp chắc nịch ấy chứ! Em điệu nghệ chăn gối mê tơi! Ông chặc lưỡi, kệ, chắc em cũng một đời ly dị, như mình thôi, thời buổi này kiếm đâu ra gái trinh, nhằm nhò gì ba cái lẻ tẻ. Mình cũng đã phải xài Viagra mà em không chê là được qúa rồi. Vậy mà thằng Kính, mới hơn sáu bó, về lấy con nhỏ trên 20, thua nó mới có 40 tuổi, cứ càu nhàu mãi:

    -Mẹ kiếp! Cả đời làm nhiều chuyện ngu, nhưng không cái ngu nào bằng cái ngu lấy vợ Việt Nam!

    Có lẽ tại nó vô phước! Gặp ngay con nhỏ quậy! Còn mình, hơn vợ cả nừa thế kỷ, vẫn ngon lành như thường.

    Oâng Tuấn cứ mãi mê với hạnh phúc cho đến khi một hôm em nũng nịu:

    -Anh! Cho em đi học lái xe đi chứ! Em cũng phải đi kiếm việc phụ với anh nữa chứ! Tiền già của anh đâu đủ cho chúng mình xài!

    Ông ấp úng:

    -Ừa! Để anh coi...

    Nghĩ tới phải chi 500 đô cho lớp học lái xe, ông tiêng tiếc. Chợt nhớ ra điều gì, ông gọi thằng Tịch:

    -Mầy đang rảnh, dậy cho dì mầy lái xe nghe!

    Tịch không hiểu sao từ hôm thấy ba đem dì nhỏ về, tự nhiên đâm ra bẳn gắt. Có lẽ tại dì còn kém tuổi hắn? Có lẽ dì cũng có đôi mắt lá dăm như con vợ hắn ngày trước? Hắn ậm ừ rồi cũng tính toán dậy “dì” học lái xe vào chiều thứ Bẩy và sáng Chủ Nhật.

    Mới đầu, thời gian học lái xe chỉ có thế, nhưng sau một tuần, Tịch tự nhiên tăng giờ lên. Hắn nói:

    -Dì lái dở quá! Học kiểu này thì đến Tết mọi mới lái được. Tui phải hy sinh thêm giờ..

    Ông Tuấn gật gật đầu. Cái thằng, cũng biết điều lắm. Tuy mồm miệng nó nói toàn là những câu khó chịu, nhưng rốt cục cũng làm nhiều chuyện tốt. Từ đó, dì được cháu kèm thêm tối thứ Sáu, rồi tối thứ Năm, thứ Tư và cả ngày Chủ Nhật...

    Một buổi chiều Chủ Nhật, đi làm vài ly với ông bạn già về nhà chờ mãi không thấy dì cháu nó về, ông sốt ruột đi ra đi vào. Đến khoảng 8,9 giờ tối mà vẫn chẳng có ma nào dẫn xác về, ông lo quá, định báo cảnh sát. Nhưng bất ngờ, linh tính ông báo hiệu điều chẳng lành. Sao không thấy áo quần em vất bừa trên giá như mọi ngày? Sao thằng Tịch không gọi về báo về trễ? Ông lật đật chạy vào mở tung tủ quần áo em ra... Trời đất! Chẳng còn cái nào! Chạy qua phòng con, thấy lù lù lá thư để trên bàn... ”Chúng con xin lỗi ba! Chúng con yêu nhau rồi! Ba ở lại vui mạnh! Con, Tịch!”

    Lá thư chầm chậm bay bay trên không rồi rơi xuống thảm một vài phút rồi tấm thân ông Tuấn mới rơi theo....

    HAI: EM LÀ HOA HẬU

    Bà Duyên buồn bực quá! Có mỗi thằng con trai mà không chịu lấy vợ cho bà bế cháu nội. Nó cứ ủng oẳng thế nào ấy! Giới thiệu con nào cũng chê. Ỷ làm lương cao mấy trăm ngàn một năm, nên cứ đòi lấy hoa hậu, chí ít cũng phải á hậu. Thôi thì đành chiều nó, cho về Việt Nam cưới vợ cho rồi. Thế là hai mẹ con lên đường về quê. Ôi chao, không ngờ Việt Nam nhiều “Hậu” quá! Nào hoa hậu quận, hậu tỉnh, hậu cả nước, hậu thành phố, rồi hậu xí nghiệp nữa. Cậu con trai của bà cứ hoa cả mắt lên. Em nào em nấy lại còn ngọt ngào như mía luộc ấy. Một điều “Dạ, thưa”, hai điều “vâng ạ!” làm hai mẹ con cứ rối rít không biết chọn hậu nào. Cuối cùng cũng lựa được một hậu thành phố, con nhà Công Giáo nữa.. Thế là nhất thiên hạ rồi! Đám cưới tưng bừng làm bà Duyên nở mặt nở mày với họ hàng. Áo gấm mặc ba bốn cái, con dâu bà thay áo, bà cũng đổi tông, con dâu đội vương miện, bà cũng mũ Hoàng Hậu. Chu choa! Bà con hai họ xầm xì “trai tài, gái sắc”. Có mấy ông Cha làm lễ nữa. Hạnh phúc phải ba, bốn đời!

    Thời gian qua. Bà Duyên đã bế được hai đứa cháu nội, mà bế một mình vì mẹ nó cứ đi về Sàigòn xoành xoạch. Bà lẩm bẩm:

    -Quái! Về làm gì mà về lắm thế! Mới thăm mẹ lại thăm bố!

    Cậu con trai bà thì cau có:

    -Em ơi! Sao em tiêu gì mà sang thế? Lần nào cũng cả chục ngàn!

    Cô con dâu chỉ “hứ” một cái rồi lẩm bẩm:

    -Người gì mà bần chí tử! Cho cha mẹ chứ cho ai! Từ đầu năm tới giờ mới có hai chục ngàn!

    Cậu con trai gầm lên:

    -Mới có hai chục ngàn! Bộ phải cả trăm ngàn một năm, cô mới cho là đủ chắc?

    Cô con dâu vùng vằng:

    -Không cho thì thôi! Mấy người tính sao thì tính! Tôi cứ về!

    Trời không chịu đất thì đất phải chịu trời! Cậu con trai phải nghiến răng đưa thêm chục ngàn nữa cho cô vợ yêu quý về thăm nhà. Trong khi cô đi, cậu lén chuyển trương mục chung sang trương mục cá nhân, và lén tìm cách bán bớt một căn nhà đi, định đưa tiền cho mẹ cất.

    Mới được chừng hai tuần, có điện thoại reo:

    -Anh ơi! Gửi gấp về cho em ba chục ngàn nữa cho em sửa mộ ông bà!

    -Cái gì! Mới đưa cho em mấy tháng trước hơn một chục sửa mộ rồi, lại sửa nữa hả? Bộ ông bà mới chết lần thứ hai hả?

    Giọng oanh vàng bỗng biến thành tiếng rít của diều hâu:

    -Á à! Dám nói hỗn láo thế à? Đồ chết bầm, chết đâm, chết thúi!

    -Ai chết thúi! Có ông bà cô chết thúi ấy!

    Cô hoa hậu ngoan đạo gầm lên:

    -Đồ khốn nạn! Chết cha mày đi! Tao mà sang Mỹ, tao cho mày vào tù!

    -Mày không cần sang! Tao bay về bây giờ!

    Thế là trên chuyến bay hoả tốc về Việt Nam hôm đó, có một anh chàng gầm gầm gừ gừ, mặt mũi đỏ phừng phừng, phóng xe taxi về đến nhà vợ là hùng hùng hổ hổ:

    -Mày đưa tiền cho thằng nào? Con nào?

    Rồi “đốp”, “chát”.. nháng lửa. Có tiếng kêu thét lên:

    “Nó đánh chết tôi rồi!”

    Như đã chờ sẵn đâu đó, vưà nghe tiếng đàn bà la lên, là hai anh công an nhẩy vào nhanh như chớp.

    -Anh Việt Kiều hành hung công dân hả? Anh có quyền hạn gì mà đánh nguời? Hả? Làm biên bản!

    -Ớ...Ớ... mấy ông... tôi đã đánh cái nào đâu? Mới.. chỉ ném mấy món ly này thôi mà!

    -Không nói lôi thôi! Đánh nguời là tội hình sự! Anh theo chúng tôi về phuờng.

    Anh chàng “chủ nhân” một “bi-di-nít” cỡ lớn ở Cali líu ríu theo mấy chiếc áo xanh vàng về phuờng trong khi nguời bị “hành hung” vội phóng chiếc Dream cáu cạnh bay vào phòng khám bệnh cuả bác sĩ X.

    Vài tuần sau, tại đất Mỹ, nguời chủ nhân trẻ tuổi ấy nhận đuợc thư tống đạt cuả cảnh sát về tội hành hung vợ có thương tích, có chứng nhận cuả bác sĩ, cuả công an, cuả nhân chứng.. Ra toà, dù có luật sư cãi líu lo, anh vẫn phải ngồi tù một năm, trong khi đó, cô vợ trẻ đào bới xới lộn căn nhà tìm tiền, móc cho đến đồng cuối cùng trong “rê đít cà”, cuỗm luôn căn nhà, kéo mấy đứa con đi... Nguời trẻ đào hoa muốn lấy vợ hoa hậu đã trở thành anh “hôm lét”, hốc hác, mất dóp, thẫn thờ, đau cái bụng, tức cái đầu, giận cái thân, trở thành bệnh nhân tâm thần...

    BA: NHÀ QUÊ, NHÀ TỈNH.

    Em Phuơng mới 18 tuổi, gốc Định Quán, làm nghề bán quán cơm cho khách du lịch. Dáng nguời cao và thanh, mắt đa tình, giọng nói tuy vẫn trọ trẹ của miền rừng núi, nhưng không kém phần hấp dẫn, nhất là với mấy cậu thanh niên mới về nuớc lần đầu tiên. Mỗi ngày, em chỉ đi ra đi vào niềm nở chào đón mấy anh chị, ông bà Việt kiều về thăm quê huơng, đưa “mơ nuy”, tính tiền, rồi tiện thể thì chỉ đuờng cho quý vị đi thăm thắng cảnh. Nhận chút tiền “típ” là em cám ơn rối rít.
    Cậu Ngải đã trên 30, chưa vợ, có việc làm ở một cơ xuởng in tại Hoa Thịnh Đốn. Tuy luơng bổng không cao, nhà lại ở “se”, nhưng cái mác Việt Kiều cũng đủ le lói các em đang thèm ông chồng ở nuớc ngoài.

    Gặp nhau không có ông Tơ, bà Nguyệt, chỉ có mấy đồng đô la xanh là hai bên đã như hẹn nhau từ kiếp trước.

    Ngải tửng tửng hỏi:

    -Em có chịu lấy anh không?

    Phương nhoẻn miệng cười mím chi:

    -Hổng chịu thì sao? Mà chịu thì sao?

    Chàng búng tay “chóc chóc”:

    -Chịu thì anh đưa em qua Mỹ. Không chịu thì em ở nhà lấy chồng... “nhà quê..”

    -Hứ! Làm như ở đây toàn nhà quê không hà! Cũng “tỉnh” lắm chứ bộ!

    -“Tỉnh” thì cũng không bằng anh! Chịu không?

    Cô gái liếc một nhát sắc như dao cạo Gilette:

    -Chị....u.....!

    Thế là đám cưới liền tay. Một vài mâm cỗ có gà có vịt có heo quay. Tuy ở nhà quê, miệt vườn, có chừng hai chục người đến nhưng cũng có ruợu tây. Tính ra chỉ khoảng trăm đô là cùng, nhưng Phương cũng đòi chú rể đưa chẵn một ngàn.

    Trước đó, em đòi người yêu đưa về Sài Gòn mua cho em chiếc xe gắn máy “cáo chỉ.” Em nói: “để chạy giao thiệp cưới!” Mãi mê trước vẻ đẹp con gái con nhà quê, mượt mà, tuổi bẻ gẫy sừng trâu rừng, da thịt căng hồng, tuy nước da hơi ngăm đen, nhưng trông dòn tan, Ngải nhắm mắt mua cho em đủ thứ, kể cả chiếc phôn trả tiền trước cả năm. Mấy ngàn đô dành dụm bỗng chốc mà bay. Chàng thanh niên phải vội trở lại Mỹ để cầy tiếp, trước khi bồng vợ sang.

    Về đến Mỹ, hàng đêm, chàng gọi điện thoại cho nàng, nghe em thỏ thẻ: “Anh ơi! Em cần mua cái áo nè! Cần mua cái ví nè...” Tuy sót ruột, nhưng Ngải cứ nghiến răng gửi từng trăm về. Đến khi hết, thì đành khất nợ... Giọng của em từ từ nhạt dần, bớt thỏ thẻ, rồi ngưng luôn. Gọi mãi không thấy em trả lời. Ngải đợi đến giữa đêm Việt Nam, gọi cho chắc ăn. Có lẽ em đang ngủ say..

    Giọng ngái ngủ đầu dây bên kia:

    -Ai...đó?

    Giọng bên này, hồi hộp:

    -Anh nè! Ngải nè! Em có khỏe không? Anh gọi hoài mà em không trả lời! Sốt ruột quá! Em đang làm gì đó?

    Giọng bên kia bắt đầu hết ngái:

    -Anh hả? Làm gì à? Em đang làm tình!

    -Cái gì? Em nói cái gì?

    Giọng bên kia cứng rắn, rõ ràng hơn:

    -Anh không nghe kịp à? Em đang làm tình! Làm tình với bồ của em! Nghe rõ chưa! Đồ nhà quê! Tưởng mình “tỉnh” lắm hả?

    Tiếng máy cúp đánh “cụp” cùng lúc với tiếng trái tim của Ngải cũng vừa thất một nhịp.

    BỐN: ANH SẼ ĐƯA EM VỀ

    Sang Mỹ được sáu tháng rồi mà Loan chưa thấy mặt trời. Nói cho đúng hơn, thì chưa nhìn thấy nước Mỹ ngoài căn nhà, cái vườn đầy rau húng quế, rau dấp cá, rau thơm, ngò gai. Đực, anh chồng đưa Loan sang Mỹ xong là nhốt riệt trong nhà, không cho đi đâu hết, kể cả đi chợ. Việc gì cũng có mẹ chồng lo. Bà mẹ chồng quằm quặm, đi ra đi vào, nói oang oang:

    -Cái thằng phải gió! Đã đi làm cực khổ, không biết kén vợ, lại rước cái của nợ, người thì bằng cái lỗ mũi, lại chẳng biết làm ăn gì, khổ quá đi mất!

    Nghe qua mà điếng người. Loan có muốn thế đâu. Tưởng lấy chồng Việt Kiều thì ấm cái thân, có chút tiền còm gửi về cho mẹ già, mai mốt biết đâu lại chẳng giầu sang như chị Lụa, chị Nga đó, năm nào cũng về quê, mang theo cả đống tiền. Nào ngờ, qua đây mới biết anh chồng là dân lười biếng, không chịu học hành chi cả, chỉ đi làm thợ phụ sửa xe gì đó, về đến nhà là lôi hũ ruợu ra uống, rồi chửi bậy tùm lum. Gọi điện thoại với bạn bè là một điều “đ.m” hai điều “đ.m”, nói chuyện tục tĩu.

    Điều đau khổ nhất là hắn là một tên hung bạo, dầy vò vợ kinh khiếp lên được. Mới đầu Loan sợ quá, không chịu, thì hắn dọa đuổi về Việt Nam “cho mà chết dấp ở bên đó”, Loan cứ phải nghiến răng mà chịu hành hạ.

    Được một hai tháng, Loan đã quen dần, nhưng không chịu nổi cảnh ngồi nhà, nấu cơm mà không được đi chợ, quét nhà, lau dọn như đầy tớ. Loan phải nỉ non với chồng:

    -Anh! Anh! Cho em đi học, đi làm gì đi chứ! Ở nhà, em chịu hết nổi rồi.

    Tên chồng hậm hực:

    -Chịu không được cũng phải được. Tui tống cô về nhà luôn.

    Loan ngỡ ngàng:

    -Anh nói gì lạ vậy? Em có đòi hỏi gì đâu mà anh đòi tống em về nhà? Em chỉ muốn đi học gì đó để đi làm phụ anh thôi mà!

    Vẫn gầm gừ như chó con, tên chồng trợn mắt:

    -Không được đi đâu hết! Cô cứ ở nhà!

    Nói xong, hắn bỏ vào bếp, lôi con khô mực ra, quát cô:

    -Ra đây, nướng con mực cho tui nhậu đi! Đứng đực ra đó à!

    Lủi thủi vào bếp, Loan thấy nước mắt cay xè chẩy dọc theo mũi.

    Tên chồng nhăn nhó:

    -Khóc lóc cái con mẹ gì! Không thích thì cút về nhà với mẹ!

    Vội lấy tay chùi mắt, Loan cúi đầu xuống bếp, nghe trái tim mình quặn thắt. Trời ơi! Biết thế này thì ở nhà cho rồi! Bỏ anh Quân mà đi để lấy giầu sang, ai dè gặp phường hung ác. Có lẽ Trời phạt vì phụ tình anh ấy...

    Loan thấy đời khốn khổ khốn nạn quá. Hóa ra số kiếp mình bị mua làm nô lệ tình dục cho Việt kiều, không khác gì mấy cô lấy chồng Đài Loan. Mà có cao giá gì đâu! Cô chỉ được có hơn 300 tiền Mỹ, đưa hết cho mẹ. Tiền đám cưới, hắn lo hết, không qua tay cô. Thêm một trăm tiền may quần áo cưới. Ngoài ra, chỉ có vài lời hứa nhăng cuội. Qua đây, suốt ngày bị nhốt trong cũi, chẳng có lấy một con chó để mà nói chuyện. Chỉ có lúc mẹ chồng ngủ ngày, Loan gọi cho bà bác ruột ở Rosemead, kể lể chút đau lòng. Bác cô chỉ biết khuyên cô nhẫn nhịn, chờ ngày tốt đẹp.

    Chờ mãi chưa thấy ngày ấy, bất ngờ, một hôm, hắn đưa cho cô mấy tấm vé máy bay:

    -Ngày mai, tui đưa cô lên phi trường. Về Việt Nam! Tôi chịu hết nổi cô rồi. Tối ngày khóc lóc. Mẹ tui chịu không nổi.

    Loan tá hỏa tam tinh, run rẩy:

    -Anh nói gì, em không hiểu!

    Tên chồng vất tấm vé máy bay lên bàn:

    -Có chi mà không hiểu! Về! Về bú mẹ!

    Vừa đi vào phòng, hắn vừa nói với theo:

    -Dọn đồ đi! Tui không có chờ đâu!

    Loan muốn té xuống sàn nhà, đầu óc quay cuồng. Thôi rồi một đời con gái, trao thân gửi phận nhằm tên tướng cướp. Nước mắt nước mũi choàm ngoàm, cô gạt bằng tay áo, rồi bỗng chợt, cô muốn chết đi cho rồi! Ý tưởng muốn tự tử dâng lên ào ạt. Cô đi vào bếp, tính lấy con dao đâm vào bụng, bất ngờ, khi vừa vào đến cửa bếp, cô nhìn thấy bức tranh gỗ khắc hình con gà mà bà cô cho, Loan khựng lại.

    Nhìn trước nhìn sau, thấy mẹ chồng và chồng rù rì ở trong phòng, cô lén nhấc máy điện thoại lên gọi bà bác.

    Chừng một tiếng sau, chờ cho tên chồng nhậu say, bà mẹ coi tuồng chưởng, cô lén ra ngoài, đi dọc theo hàng rào đến gần ngã tư, đứng chờ một lúc thì thấy chiếc xe bà bác do người anh họ chở trờ tới. Loan vội leo lên, và khi chiếc xe vọt đi khỏi mới oà lên lên khóc tức tưởi. Bà bác dỗ dành mãi mới nín. Về đến nhà thì mấy anh chị họ đang quây quần bàn tính. Việc đầu tiên là đi kiếm luật sư, kiện để lấy lại giấy tờ thông hành, và tìm cách ở lại, không thể để một tên vô lại hành hạ đã đời rồi tống về Việt Nam.

    Dự tính được thi hành liền. Buổi sáng, một ông anh họ đưa cô tới luật sư. Nghe xong sự tình, ông luật sư liền gọi cảnh sát nhờ áp tải cô về nhà lấy đồ.

    Đến cửa nhà chồng, Loan còn sợ rúm người lại, nhưng ông cảnh sát giúp cô vào lấy đồ. Lúc nhìn thấy cảnh sát và Loan, người mẹ chồng rít lên:

    -À, cái con trời đánh! Mày rồi biết tay bà!

    Nhưng cũng phải để cho cô vào lấy đồ đạc, giấy tờ xong là đóng sầm cửa lại.

    Loan phải đi khám bệnh. Đầu óc cô lảo đảo, hoang mang, sợ hãi, âu lo... Lại bất ngờ, trong khi chờ luật sư làm thủ tục cho cô ở lại, Loan nhận được trát tòa đòi cô trình diện vì “mẹ chồng cô kiện cô quấy nhiễu bằng cách dẫn cảnh sát vào nhà mà không có trát tòa!” Trời đất ơi! Đúng là con người vô lương! Loan đã hãi càng hãi thêm. Nhưng có sự khuyến khích và giúp đỡ của các anh chị họ, lo tìm luật sư ra tòa cãi giùm, cô bớt căng thẳng.

    Đến ngày ra Tòa, cô thắng kiện. Bà Tòa nhìn vào mặt bà mẹ chồng nói:

    -Cô này chưa hề bị luật cấm đến gần bà. Cô ta về nhà lấy đồ là chuyện hợp lý. Chỉ có bà mới là vô lý. Bà ráng chờ đến ngày tòa gọi bà ra vì tội dầy vò người khác thì mới hiểu rõ hơn.

    Loan thở ra, vui mừng nhưng vẫn còn một tương lai nhiều trắc trở trước mắt. Cô muốn nhắn những người con gái khác còn đang mong lấy chồng ngoại cần phải cẩn thận hơn, kẻo sa bẫy những tên háo sắc, côn đồ, hành hạ tình dục, lợi dụng gái quê để thỏa mãn thú tính. Cầu mong cho nước Việt Nam sớm có ngày không còn nghèo khổ để không có người mong đi làm vợ nước ngoài....

    NĂM: “XIN NHẬN HOA KỲ LÀM QUÊ HƯƠNG”

    Ngọc sang Mỹ không cần ai bảo lãnh mà cũng ở lại được. Dĩ nhiên, Ngọc đã tốn rất nhiều tiền chi chác, nhưng không phải chi cho người ở Mỹ làm giấy hôn thú giả, mà chi cho cơ sở nơi Ngọc làm việc để được đề cử đi tham dự hội nghị những nhân vật xuất sắc nhất trong công ty X tổ chức ngay tại Mỹ. Thật là một cơ hội bằng vàng, vì chỉ tốn có hơn ngàn đô la, cộng với lời nói ngọt ngào thốt ra từ cửa miệng một thân hình uyển chuyển, tên Ngọc đã nằm ngay đầu danh sách. Rồi đến giai đoạn làm Passport, Ngọc cũng khôn khéo làm cho tay công an nhận giấy tờ điên đảo với cặp mắt quyến rũ cùng những lời hứa hẹn nằm sau mấy tờ giấy trăm, nên mọi việc trót lọt, chẳng gặp trở ngại nào. Chỉ có mỗi việc phải giải quyết với ông chồng già và đứa con gái là vất vả. Phải bao công lao thuyết phục, ông ấy mới chịu cho đi. Ngọc phơi phới lên đường.

    Sang đến Mỹ, mới qua ngày thứ hai, Ngọc đã liên lạc được với bà chị họ, một người rất thân thiết từ khi còn nhỏ, ở ngay Cali. Mừng rỡ, bà chị phóng tới khách sạn và đưa Ngọc đi chơi một vòng. Hai chị em tâm sự ríu rít. Chuyện xưa, chuyện nay nở như bắp rang. Dần dần câu chuyện chuyển sang việc tương lai: Ở lại Mỹ luôn. Nhưng làm thế nào nhỉ? Bà chị là một người làm địa ốc thành công nên không thiếu ý kiến. Bà giúp ngay một ý kiến táo bạo nhưng rất thành công. Chỉ không đầy một tuần, một cứu tinh xuất hiện. Ông Hiệp, 65 tuổi, ly dị vợ, đang sống với tiền già, đọc được trên báo vài hàng cầu cứu đã tới ngay: “Thiếu phụ, 45 tuổi, ngoại hình dễ coi, ly dị, không vướng bận con cái, mới tới Mỹ, cần người bảo trợ gấp. Nguyện sẽ đền đáp xứng đáng. Xin gọi số....” Mới gặp ông Hiệp, Ngọc có phần thất vọng, vì dáng lụ khụ của ông, nhưng nghe giọng nói vẫn còn gân guốc, Ngọc chép miệng:

    -Thôi, kệ, miễn là ở lại được nước Mỹ!

    Thế là Ngọc dọt luôn, bỏ hội nghị, bỏ tất cả lại sau lưng về với ông Hiệp. Hai người đưa nhau ra luật sư, hỏi ý kiến, rồi làm thủ tục đủ thứ, hôn thú, linh tinh... Nhưng, ở đời, chẳng có chuyện chi mà trót lọt, xuông xẻ, vui vẻ hoài. Ông Hiệp, tuy tên là “hiệp”, nhưng lại chẳng nghĩa hiệp chút nào. Được cô vợ trẻ trung, nẩy lửa, dịu dàng, ông mê man cà cuống, đâm ghen tuông kinh hoàng. Sau khi đưa vợ đi làm tại một “shop” may, ông chỉ phát cho mỗi ngày 2 đồng ăn trưa, không thêm không bớt. Ngày ngày ông đưa đón vợ đi về, tới nhà là khóa cửa. Gọi là nhà, nhưng chỉ là một phòng “se” lại của người ta. Rồi nấu cơm, giặt dũ, ông không cho em liên lạc với ai hết, trừ bà chị họ, thì cho nói chuyện, còn bất cứ ai gọi điện thoại đến cũng phải qua ông. Ngọc như con chim nhốt trong lồng. Tâm tư của người thiếu phụ trẻ trung, hấp dẫn này vẫn vấn vương nhiều chuyện khác. Về ông chồng ở Việt Nam, cô đã phải làm giấy ly dị, gửi về, nhưng vẫn phải trợ cấp chút đỉnh cho con gái mới 16 tuổi. Tiền đâu mà gửi về khi mà ông Hiệp lãnh hết. Muốn có chút tiền, phải hỏi xin, rất khó khăn. Đứa con gái, có chút tiền của bà bác cho, vẫn thỉnh thoảng điện thoại cho bác nó, hỏi thăm về mẹ. Câu trả lời của Ngọc thường giống nhau:

    -Con ơi! Mẹ cũng khổ lắm, không sung sướng đâu. Mẹ còn phải “cầy” nhiều năm nữa.. Mẹ nhớ con lắm! Con hiểu cho mẹ nhé!

    Ngoài ra, sống với ông chồng già, lãnh trợ cấp tiền bệnh của chính phủ này, chả vui thú gì. Tiền không, tình cũng không, chỉ là cục nợ! Xem phim truyền hình thấy người ta yêu nhau mà mê... Mấy hôm nay, ông lại giở chứng, làm chuyện điên rồ, hại cả đời Ngọc. Đã tới ngày đi làm thẻ xanh, ông nhất định không đi, kiếu bệnh! Bà chị hớt hải chạy tới, nói mãi cũng không lay chuyển.

    Rồi, ngày hẹn qua đi. Thế là hết! Ngọc khóc lóc, giận dữ cũng chẳng ăn thua gì! Bà chị nói:

    -Nó muốn “chơi” mày đó! Nó không đưa mày đi làm thẻ xanh, là nó muốn mày trở thành di dân lậu, sẽ bị tống về nước! Hoặc nó làm mày phải lệ thuộc nó như con ở! Phải “xu” thằng già đó cho nó biết mặt!

    Ngọc ú ớ:

    -”Xu” cái gì bây giờ?

    -Thì “xu” nó “ờ biu” mình!

    -“Ờ biu” là cái gì?

    -Là ...là ... nó hành hạ mình đó! Nó hại mình đó! Nói đại nó hay hiếp dâm mình khi mình không thuận...

    -Trời đất! Ai lại thưa chồng hiếp dâm vợ!

    -Thật mà! Mày nói với nó, nếu nó không làm lại giấy tờ cho mày làm thẻ xanh, mày sẽ “xu” nó tội bạo hành với vợ, tội hiếp dâm vợ, tội “ờ biu” vợ... Đủ thứ tội!

    Chả còn cách nào khác, Ngọc đành theo kế của chị, bỏ nhà đi luôn hai ngày. Ông Hiệp cuống lên, gọi điện thoại liên miên. Bà chị thủng thẳng nói:

    -Nếu ông mà không lo luật sư, lo giấy tờ cho con em tôi có thẻ xanh, nó sẽ “xu” ông thì ông chết, mất hết tiền bệnh, mất mê đi keo...

    -Không...đừng làm thế! Chị nỡ nào mà cạn tào ráo máng như vậy? Tôi giúp cho cô ta ở lại Mỹ mà! Không có tôi, cô ta đã phải trở lại Việt Nam rồi!

    -Vậy thì làm giấy đi...

    Thế là ông Hiệp vội vàng lên INS hỏi lại việc làm thẻ xanh, mất thêm bao nhiêu thời gian và lệ phí nhờ luật sư can thiệp...

    Trong khi đó, Ngọc lại bất ngờ gặp một người bạn của người bạn cùng sở với mình, thấy tình cảnh Ngọc như vậy, thì nổi máu anh hùng, muốn nhào dô làm chuyện nghĩa hiệp. Anh Hậu cũng mới năm mươi mí, còn ngon lành, phong độ hơn ông già kia nhiều, lại cũng bị “bợ vỏ” nghĩa là “vợ bỏ”. Khi Ngọc về nhà chị, Hậu tíu tít đưa Ngọc tới lui, giúp đỡ ý kiến đủ thứ làm Ngọc thấy bâng khuâng...

    Hai người chuyện trò tương đắc lắm, lấy số phôn của nhau..

    Chuyện gì phải đến đã đến, sau khi thi hành thủ tục thẻ xanh, một ngày nắng ấm, Ngọc lặng lẽ xách vali đến nhà Hậu... Còn ông Hiệp, đứng dựa cửa thẫn thờ, đấm ngực trách mình nông cạn..

    SÁU: “DỌT LẸ!”

    Mai là cô gái nhan sắc có thừa, trông rất hấp dẫn, nhất là về phương diện ăn mặc thiếu vải. Tuy làm “thợ hớt tóc”, nhưng khi đi ra ngoài đường, mấy chàng thanh niên trầm trồ dữ dội, không ai nghĩ là em làm nghề “cầm đầu cầm cổ thiên hạ” mà tưởng là em làm gái bán bia ôm. Đai đa số đều huýt sáo, chọc ghẹo kiểu rẻ tiền, nhưng chỉ có Lành là trố mắt, thán phục kinh khủng. Tuy Lành là Việt kiều, nhưng là Việt kiều không đẹp mã, nên các cô cứ tửng tửng dạo qua nhà Lành mà không vào. Anh lại ăn nói không có duyên, nghĩ sao nói vậy người ơi, làm “át săm lơ” nên mặc cảm, không dám tấn công các cô, chỉ cười cười mím chi, vì răng của anh tám cái thì trồng răng giả mất năm, nên không dám cười mạnh miệng.

    Kiếm mãi không được cô nào ưng ý, anh đành về quê kiếm vợ. Mấy thằng bạn ghẹo anh là dân “sút càng gẫy gọng”, vì chỉ có những tên “sút càng gẫy gọng” mới không kiếm được vợ ở Mỹ. Thôi, kệ mẹ nó, miễn sao có một cô vợ ngon lành rinh sang đây cho tụi nó lé mắt.

    Gặp Mai trong tiệm hớt tóc, Lành mê mẩn liền. Mai thấy Lành “ngố kèn” thì làm tới. Em ghé thấp xuống mặt Lành, khoe luôn cả bộ trời cho lấp ló dưới cái áo hở cổ cố ý làm anh chàng líu cả lưỡi. Rồi em vừa hớt vừa cọ quẹt, khiến Lành chịu hết nổi, mỗi ngày phải đến ngồi chầu rìa, ngó em, đưa đầu cho em vò vần tơi bời hoa lá. Chừng một tháng, cá cắn câu xong, Lành vội vàng làm thủ tục để đưa em về Mỹ.

    Năm tháng trôi qua, Lành hết đứng lại ngồi trông mong ngày Mai sang. Ngày đó cũng tới khi Mai diện bồ đồ thiếu vải một cách ác liệt tiến đến chỗ Lành:

    -Anh có nhớ em hôn?

    Lành run rẩy:

    -Nhớ....nhớ!

    Hai tay Lành rung đến nỗi tìm chiếc chìa khóa xe không thấy trong túi quần.

    Mai bật cười:

    -Làm gì mà cuống lên thế? Bộ em đẹp lắm hả?

    Lành gật đầu, mặt đỏ bừng lên:

    -Đẹ...p! Em... đẹ.. p... lắm!

    Cặp vợ chồng mới cưới dìu nhau ra xe, đúng ra là Mai dìu Lành thì đúng hơn. Bắt đầu từ giây phút đó, Mai đã chính thức trở thành bà chủ của Lành. Từ việc đi học “neo” cả hai đứa, đến việc nấu cơm, dọn nhà, tất tất Lành nhắm mắt làm theo lời Mai. Đến trường học, nếu có chi lầm lỗi, Lành bị Mai mắng cho nát mặt mà không dám hở môi. Có lẽ tại Mai “xếch xi” quá xá, tay chân thì nhỏ, nhưng bộ ngực thì lớn cộm, ai cũng phải liếc mắt nhìn vào. Mai có vẻ hãnh diện về cái điều ấy lắm, nên bất kể Lành là một ông chồng đứng ngay cạnh đó, Mai nhận lời khen của mấy tên bậm trợn tỉnh bơ, và nếu có dịp thì tán ngay lại liền.

    Hầu như gặp bất kỳ anh đàn ông nào có máu dê, Mai liền chợp thời cơ đấu hót tưng bừng đến nỗi người nào cùng học “neo” với Mai và Lành đều biết là Mai chỉ chờ cơ hội là “dọt lẹ”...

    Chỉ riêng Lành không biết, hoặc biết nhưng cố gắng níu kéo, giữ vợ bằng cách ngoan ngoãn chiều vợ như chiều “bà cố nội” vậy. Chính Mai cười đểu với Lành như thế:

    -Anh chiều tui như dzậy có giống chiều bà cố nội anh không?

    Lành ấp úng:

    -Thì...đã sao...

    Sao chứ! Nhất định là có sao chứ! Vì không đầy một năm sau khi hai vợ chồng mãn khóa học “neo”, Mai đi làm và rồi người .. thiếu phụ đã “một đi không trở lại”. Mai đã “dọt lẹ” y như lời tiên đoán của mấy người cùng học chung trường ngày nào... Còn Lành làm “cô phu” đứng ngóng cửa chờ mãi không thấy em “hớt tóc ôm” ngày nào trở lại.

    BẨY: CON NHỆN

    Già Keng Rúp mới 65 tuổi nhưng không ai ở bên Mỹ này nghĩ rằng lão thọ hơn 70 nổi vì cái tướng bệnh hoạn, bụng to đít teo, da mặt nhăn nheo, mắt híp, đi đứng không vững vàng. Tuy đã cố làm ra vẻ trẻ trung bằng cách luôn mặc quần soọc, áo cộc tay, đi giầy thể thao, nhưng vẫn không giấu được việc kém sức khỏe vì hai cánh tay cũng như hai cẳng chân thò ra ngoài quần áo như mấy cái chân nhện. Lão làm chuyên viên tài chánh cho một cơ quan y tế ở quận Cam. Thuộc diện “bợ vỏ”, nghĩa là diện “vợ bỏ” như rất nhiều người ở đây (ngay cả mấy ông Hát Ô đã có quá khứ huy hoàng, ông chủ bà chủ mấy chục năm, cũng được ghi tên tơi bời hoa lá). Dĩ nhiên, vì là Mỹ trắng chính gốc, nên chuyện được ghi tên vào diện này lại có lẽ làm lão thích thú hơn là đàng khác. Nghe nói con gái Việt Nam khoái lấy chồng ngoại, lão mon men làm quen với những người có nhiều quan hệ ở đây để nhờ giới thiệu cho vài cô ở bển. Nhưng nhìn thấy hình tướng ấy, nhiều người không dám giới thiệu, hơn nữa, ở trên đời này, trong bốn cái ngu, thì cái ngu “làm mai” là ngu nhất.

    Cho nên lão phải tự đi về bển, đóng vai Tây Ba Lô, láng cháng thế nào lại vớ được Nhạn, một em mới 18 cái xuân xanh, lại cũng dĩ nhiên là con nhà nghèo. Em làm công cho một cửa hàng bán đồ kỷ niệm. Rúp đi lang thang, tiệm nào cũng bước vào. Thấy em cười mím chi, chào khách với giọng lô can “Gút mó ninh, Sơ!” là lão cười cầu tình liền:

    -Mó ninh! Biu ti!

    Em Nhạn đỏ mặt, quay qua hỏi con bạn thạo tiếng Mỹ:

    -Ê, Đào, ông ta nói cái gì bú tí vậy mày?

    Con bạn cười sặc sụa:

    -Không phải bú tí! Mà là biu ti, nghĩa là sắc đẹp! Cha già này khen mày đẹp đó!
    Nhạn khoái chí:

    -Cha già này biết điệu đó!

    Lão Rúp thấy hai cô gái cười nghiêng ngả, thì bậm gan hơn, tiến lại gần, bồi thêm một phát tán gái:

    -Du à ve ri biu ti phun! (Em đẹp quá!)

    Lần này thì Nhạn hiểu hơn, mặt hơi vênh lên:

    -Dét! Dét! Ai em biu ti phun! (Đúng! Đúng! Tôi đẹp đấy!)

    Thế là câu chuyện bắt đầu bằng mấy tiếng Mỹ lọc cọc, lạch cạch đó rồi tiếp theo là màn mời em đi chơi. Mới đầu Nhạn từ chối vì thấy ông này gần hết gân, nhưng lũ bạn cứ chọc ghẹo mãi, lại thêm bà má, bán xôi chè ở chợ, bị kích thích vì những mối nợ lớn khó trả, và nghe nói đến thiên đàng ở Mỹ có phép lạ biến người nghèo thành kẻ giầu trong thời gian ngắn, nên tửng tửng đốc xúi con gái mãi, khiến Nhạn cũng gật đầu.

    Má bảo Nhạn:

    -Đời mình nghèo quá, con à! Mỗi tháng hai má con mình kiếm hộc máu cũng chỉ được vài trăm ngàn, không nổi lấy trăm đô. Mà con coi, con Lili gì đó, lấy chồng Mỹ, đi làm móng tay cũng cả chục đô rồi. Con Loan đó, trước làm đĩ, vớ được thằng chồng Mỹ, giờ làm chủ chứa, tiếp toàn cán bộ cấp cao, mỗi tháng dô cả chục ngàn đô. Mình làm trâu ngựa hết kiếp cũng không mò nổi nửa tháng tiền của nó.

    Nhạn suy nghĩ mãi rồi cũng phải gật đầu, nhưng miễn cưỡng, vì thằng chả này coi bộ kẹo quá. Kỳ kèo mãi mà chả hứa chỉ đưa trước có một ngàn, rồi sẽ gửi tiền từ Mỹ về sau. Chả nói tiền lệ phí lấy vợ mắc lắm. Mới đầu, Nhạn bực mình, tức tối, cái trinh con gái gì mà rẻ quá! Có một ngàn đô thôi à! Nhưng má Nhạn thì nghĩ khác. Con coi đó, đi làm vợ Đài Loan cũng chỉ được vài trăm đô thôi, con được một ngàn là quý rồi. Mai mốt nó cưng, nó gửi về đều chi... Giờ thì nó đưa tiền làm đám cưới cũng mấy trăm đô rồi, ráng đi, con ráng chiều chuộng nó thì nó sẽ mết con, rồi muốn nạo nó bao nhiêu mà chả được. Nghe nói nó làm tài chánh gì đó, nhiều tiền lắm! Rồi má Nhạn còn ghé tai nói thầm. Con cứ làm vầy, làm vầy, nó sẽ mê con chết luôn... Nhạn đỏ cả mặt. Mà kỳ quá hà! Chuyện gì gớm ghiếc vậy! Bà má cười. Dậy đó! Đời mà con! Biết nghề thì khá! Không biết nghề thì nghèo! Bà cười hăng hắc...

    Đám cưới rồi cũng diễn ra. Vui vẻ, cười đùa ầm ĩ. Nhạn có áo mới, le lói, nghĩ lại rồi đời mình cũng lên hương, nên chiều chồng hết cỡ, dù ông già đòi hỏi quái đản... Giấy tờ bảo lãnh ở Việt Nam tạm xong sau mấy tháng làm thủ tục, lão Keng về Mỹ, hứa hoàn tất giấy tờ và đón vợ sang.

    Ngày tháng thoi đưa. Đã ba bốn tháng không thấy tin nhạn sang. Nhạn bắt đầu lo lắng, nhất là nhìn xuống bụng thấy hơi to to. Tiền bạc cũng chả thấy gửi về như đã hứa. Má sốt ruột, đi ra đi vào, dằn giỗi:

    -Chắc tại mày không biết chiều thằng chả!

    Nhạn tức muốn ói máu. Chiều như thế còn chiều cái quái gì nữa. Lão già như thú vật vậy. Nhạn muốn chắp cánh bay qua đối chất, nhưng thời gian cứ chậm rì rì. Rồi một ngày, thư cũng về. Nhìn địa chỉ Mỹ, hai mẹ con mừng quýnh. Mở ra, không biết đọc, nên đưa cho con bạn đọc giùm. Thư viết ngắn gọn:

    -Cô Nhạn, rất tiếc, tôi mắc kẹt nhiều việc quá, nhất là con vợ của tôi, nó không chịu cho tôi ly dị nếu không chia tài sản cho nó. Nên tôi không cưới cô được nữa, cô thông cảm cho nhé.

    Tạm biệt.

    Keng Rúp.

    Trời đất như quay cuồng. Cái bụng bỗng dưng đạp mạnh. Nhạn lảo đảo như bị trúng đạn, những viên đạn bọc đường bay từ bên Mỹ về đập vào trái tim của con gái Việt Nam, những con người nghèo suốt kiếp vẫn nghèo, chỉ mơ có một ngày không mang nợ.

    TÁM: HẠNH PHÚC THẬT!

    Anh Bẩy là một người chồng hiền lành, làm công chức ở thành phố Tustin. Một vợ hai con, một trai một gái, đứa nào cũng dễ thương. Hạnh phúc tưởng chan hòa mãi mãi nhưng bất ngờ một sáng chị Bẩy phải vào bệnh viện trong xe cứu thương. Ba tháng sau, chị qua đời vì chứng ung thư tử cung kịch phát. Cả năm trước, chị vẫn đau đau bụng dưới, lại ra máu, nhưng cứ ỷ y là kinh nguyệt không đều, nên lơ là qua đi, nhất là chị lại lo lắng quá cho chồng cho con, nên quên cả mình. Chị là người vợ lý tưởng của mọi ông chồng, hiền thục, ít đọc sách, chỉ thích nấu cơm cho ngon, không bạn bè, không theo mùi thời mới. Lấy chồng thì theo chồng, làm vợ bình thường như mọi người, hy sinh mọi thứ cho chồng, đến nỗi, khi biết mình không còn sống bao lâu nữa, chị gọi chồng đến bên giường:

    -Em biết anh không phải là người thờ vợ suốt đời, nên cho anh lấy vợ đó. Nhưng em chỉ yêu cầu anh phải lo cho con, không đuợc vì vợ mới mà quên con. Anh mà để vợ mới hành hạ con, là em về em bóp cổ anh đó!

    Anh Bẩy nhăn nhó:

    -Em nói gì kỳ vậy! Thôi, đừng nói bậy bạ nữa, nghỉ đi cho khỏe.

    Tuy nói vậy, nhưng lòng anh bâng khuâng, mơ màng. Chưa đầy trăm ngày, anh đã nhờ người mai mối. Với số tuổi 50, còn phong độ chán, anh muốn một cô vợ trẻ trẻ ở Việt Nam. Ở Mỹ này, nhìn số lương anh, ít cô tre trẻ muốn lấy lắm. Chỉ có những bà đã “sút càng gẫy gọng” rồi mà thôi. Ước muốn của anh thành tựu mau chóng. Một anh bạn ở Việt Nam giới thiệu cho anh một cô chưa hề lấy chồng, trên 40 tuổi, đang xuân, dĩ nhiên không đẹp lắm, vì với tuổi ấy ở quê nhà là “chống ề” rồi. Cô lại là em của một ông Luật sư, cũng con nhà gia giáo. Anh Bẩy nhìn hình thích quá, cười mím chi cọp hoài. Tuy cặp mắt hơi sắc, nhưng thân hình thì ngon quá. Chao ôi! Tuyệt diệu!

    Đám cưới tổ chức nhanh chóng, không rườm rà. Vé máy bay lấy cũng lẹ. Anh Bẩy đem vợ mới về nhà giới thiệu với các con:

    -Đây là dì Hạnh của các con.

    Hai đứa con gật đầu, cúi chào. Thằng con trai đón lấy vali của dì mang vào phòng ngủ của ba, không nói một lời. Đứa con gái lẳng lặng đi vào bếp nấu cơm. Bà dì Hạnh nhìn theo dáng hai đứa mãi, cũng không nói một lời. Còn Bẩy thì lăng xăng, lít xít bên người đẹp, chỉ trỏ, khoe nhà mới, từng căn phòng một. Đến khi đứng trong phòng hai người, dì Hạnh mới lên tiếng:

    -Anh bỏ cái hình kia đi được không?

    Bẩy nhìn theo tay chỏ về tấm hình của bà vợ cũ, gật gù:

    -Đúng! Anh bỏ đi ngay!

    Và cũng lăng xăng lít xít dọn dẹp theo ý của người yêu mới. Bà chủ mới thì đúng hơn, vì ngay từ ngày hôm sau, Bẩy phải kê dọn tới tấp, thay đổi từ tấm thảm chùi chân đến chỗ để đồ rửa bát chén. Nhưng anh vui, hạnh phúc ngập tràn. Chưa bao giờ anh hạnh phúc gối chăn như thế. Tuy chưa lấy chồng, nhưng hình như Hạnh đã học ở đâu những màn mùi mẫn quá làm anh mê man, như bay bổng lên trời. Anh thấy mình trúng số độc đắc. Tuy vất vả làm theo ý người yêu, nhưng lúc nào miệng anh vẫn mỉm cười.

    Cho đến lúc Hạnh bắt đầu giở giọng dì ghẻ con chồng, anh vẫn chưa nhận thấy điều gì khác lạ. Hạnh bắt con Nga không được xài nhiều xà bông quá khi rửa bát, Hạnh bảo thằng Thanh phải lau chùi cầu tiêu mỗi tuần, con Nga đi học về không được nghe nhạc, thằng Thanh không được chơi ghêm, không ....không ...và không... Hai đứa mới đầu cố nín vì thương bố, nhưng sau chịu hết nổi, chúng lớn tiếng cãi lại. Bẩy nghe thấy hết, nhìn thấy hết, nhưng anh lặng thinh. Hạnh phúc yêu đương quá lớn nên mắt anh mờ hết, tai anh điếc đặc. Ngay cả lúc hai đứa con thân yêu cùng bỏ đi, anh cũng chẳng thấy thay đổi gì. Rồi họ hàng, bạn bè xa lánh dần. Chê trách anh bất nhân, bất nghĩa cũng chả làm anh lung lay. Căn nhà do vợ cũ anh mua cho con, giờ này thành của tư của vợ mới, anh thấy cũng chả cần tìm hiểu. Mấy đứa con máu thịt của anh lâu lâu mới gọi điện thoại về, anh cũng không nhớ mấy. Hạnh phúc thật của tôi đây rồi, tìm đâu nữa! Kệ!

    Một thời gian dài. Thằng Thanh bây giờ đã lớn, có việc làm, có tiền, nhiều khi nhớ bố, người bố ngày xưa thân thiết thương con hết mực. Giận bố thì giận, nhưng thương vẫn thương. Một hôm, nhớ đến ngày sinh nhật thứ 53 của bố, Thanh muốn làm một món quà đặc biệt cho bố. Thanh gọi:

    -Bố! Con thấy nhà bố thiếu cái tủ lạnh mới. Cái tủ lạnh cũ đã già quá rồi, tốn điện, con sẽ mua cho bố cái tủ lạnh mới nhé! Còn tấm thảm nhà cũng xưa, con kêu thợ đến thay cho bố.

    Anh Bẩy vui mừng:

    -Ừ, bố cám ơn con nhé! Con cứ làm đi! Chắc dì Hạnh thích lắm!

    Không đúng! Chỉ chiều hôm sau, anh Bẩy gọi con trai:

    -Con ơi! Thôi đừng làm thế nữa! Dì Hạnh không bằng lòng. Dì bảo con phải hỏi ý kiến gì trước khi quyết định. Nhà của dì mà! Con hủy đơn đặt hàng đi!

    Thanh chết lặng người. Oâi còn đâu ông bố ngày nào!

    Còn Nga giận bố không để đâu hết, đã hai năm hơn, Nga không gọi bố một lần. Mãi cho đến khi dì Hiền bảo:

    -Thôi, con đừng giận bố nữa. Bố con phải bùa mê thuốc lú rồi. Giận mãi cũng vậy thôi. Con đến thăm bố đi. Dù sao cũng máu cũng thịt..

    Nga nghe lời dì mà chẩy nước mắt ra. Nga gọi bố:

    -Bố ơi! Con muốn lại thăm bố! Con có nấu món canh cà ri mà ngày xưa bố thích ăn đấy!

    Anh Bẩy gần như muốn nghẹn ngào:

    -Ừ, đến với Bố đi! Bố nhớ con lắm!

    Thế là Nga sửa soạn nồi canh cà ri định mang đi. Chợt tiếng điện thoại reo:

    -Nga hả con! Thôi.. con đừng đến nữa. Dì Hạnh bảo con phải hỏi ý kiến dì trước khi con đến...

    Nga bỏ rơi cái điện thoại xuống bàn. Lòng cô bé lặng đi. Có điều gì đã chết thật trong lòng rồi!

    Chu Tất Tiến.
  5. KIM SALEM

    Giang Hồ, Võ Hiệp, Kỳ Tình Tân Truyện


    Lời tác giả: Đây là một câu chuyện tưởng tượng dựa theo những biến cố có thật. Tác giả đã thay tên, đổi họ, và một số cá tính của những nhân vật trong truyện cho hợp với nội dung và mục đích của người viết. Tuy nhiên, nếu vẫn còn vài chi tiết trùng hợp với một cá nhân nào đó, xin quý vị rộng lòng miễn chấp cho.

    CHƯƠNG MỘT-

    KIM SALEM

    Saigòn 1963.

    Chiều từ từ xuống. Những giọt nắng đã bắt đầu xiên khoai, tà tà ngả dài ra về huớng Đông. Một vài con chim sẻ non ríu rít gọi nhau về tổ trên góc những mái nhà hay mấy cái ống khói lò sưởi bỏ hoang từ vài chục năm, không bao giờ thấy khói bốc ra. Tít trên cao, đàn én liệng qua liệng lại, có lúc nhào xuống như máy bay thả bom xong lại bốc mình lên như một ánh chớp. Thành phố đã có vài nhà lên đèn sớm. Tiếng xích lô máy gầm gừ. Tiếng xe tắc xi rù rù. Tiếng người gọi nhau í ới.

    Kim đứng tựa cửa sổ nhìn ra ngoài đường. Trên tay Kim là điếu thuốc Salem lúc nào cũng đỏ rực. Tụi bạn gọi Kim là Kim-Salem cũng vì lý do đó. Kim mê Salem một cách kỳ lạ, mặc dầu không bao giờ hút hết nửa điếu. Có lẽ mùi Salem thoang thoảng giống mùi con gái, cay cay nồng nồng. Có lẽ cái tên Salem gợi lên một miền đất hoang vắng, miền đất bí ẩn nào ở Ba Tư, ở truyện Nghìn lẻ một đêm mà Kim từng đọc ngấu nghiến hồi còn học trường Thiên Phước ở Tân Định. Hồi đó, sao mà...

    Kim ứa nước mắt mỗi khi nhớ lại thuở học trò với đồng phục, với chạy nhẩy chân sáo, với những câu chuyện tíu tít nở như bắp rang. Kim hồi đó còn là Kim Nhí. Mỗi buổi sáng, chỉ mong tới trường để gặp con Ngọc Gầy, Ngọc Mập, gặp con Trân Vịt, những con bạn thân lúc nào cũng có chuyện nói. Con Ngọc Gầy thì cao lòng nhòng, người ốm nhách mà lanh miệng như thỏ. Chuyện con trai, nó nói không bao giờ hết. Mỗi khi nó thao thao là cả lũ nhao nhao lại.

    -Này, mày biết không, cái thằng đẹp giai ở gần đầu ngõ tao đó, nó có đi học võ mày ạ. Hôm nọ, tao thấy nó mang quần áo võ gài lên “ba-ga”. Thằng đó mê tao lắm. Cứ thấy tao đi về là làm bộ ngồi học ngay bên cửa sổ.

    -Nó mà học võ gì cũng không lại mày. Mày mà nắm nhè nhẹ tay nó một cái là tay nó rụng rời ngay.

    -Tụi mày nói bậy, con Ngọc Gầy nó đâu thèm nắm tay, nó chỉ cần chu cái mỏ ra là thằng đó dúm người lại liền. Ha ha ha..

    Con Ngọc Mập thì hiền hơn, nhưng có cái miệng khêu gợi chết người. Nó cong cái miệng lên, nói đanh đảnh:

    -Tao là Đềsirê, nữ hoàng rắn, miệng tao có nọc độc. Ai hôn vào môi tao là biến thành đá.

    Còn con Trân Vịt, cái con có cái dáng đi kỳ lạ. Lúc nào cũng ẹo qua ẹo lại. Con này lẳng lơ thứ thiệt, giọng nói lại eo éo nhưng điệu mê hồn.

    -Tao ấy à, tao đẹp như công chúa thế này, phải có hoàng tử tới đón cơ. Mấy cái thằng ranh kia, đừng có hòng mà cua tao.

    -Ừ, mày là công chúa, mà là công chúa vịt, cái mông mày lúc nào cũng cong lên, chỉ thiếu cái đuôi nữa là giống hệt vịt Đô nan.

    -Cái con giời đánh thánh đâm này, mày lại dám rủa tao là công chúa vịt à? Tao thì mổ cho mày một cái xem mày có kêu cạp cạp lên không?

    -Mày mà mổ hụt, trúng con Kim Nhí một cái là nước mắt nó chẩy nguyên một ngày.

    -Ái chà, mày lại dám nói cô nương chẩy nước mắt hả? Con vịt bầu này, mày đẻ mấy lứa rồi mà ăn nói hỗn hào thế? Mày lại dám trêu bà hả, bà thì bà xé xác mày ra. Hi hi hi...

    Cứ thế mà những câu chuyện chẳng đầu cua tai nheo gì tiếp tục lia lịa. Chuyện dòn tan mà bắp rang cũng dòn tan. Hồi đó, mới có cái phát minh ra máy rang bắp, thơm lừng làm lũ con gái chết mệt. Đi học về, nhìn bắp nhẩy tanh tách trong cái tủ kính mà phát thèm rỏ rãi ra. Không mang được một gói vừa đi đường vùa nhai thì bực bực trong lòng.

    Trong đám bạn, có lẽ Kim được trời cho hưởng nhiều thứ nhất: vừa đẹp, vừa học giỏi, con nhà sang, nên nhất định có nhiều chàng theo nhất. Ngày nào đi học về, Kim cũng thấy có ít nhất hai, ba chàng lượn vòng vèo trước cửa nhà mình, ngôi nhà trông bề thế nhất ở đường Đặng Dung, Tân Định, khu toàn công chức cao cấp ở. Nhà Kim lại ngay đầu đường, nghĩa là ở ngay một góc đường, hai mặt đều có xe chạy qua, chạy lại, nên nhiều khi đứng ở trong bếp nhìn qua cửa sổ, Kim thường thấy có những khuôn mặt đăm chiêu ngước lên nhìn vào nhà một cách thành kính. Kim vừa tức cười vừa thương hại, bởi vì Kim biết chắc là không có chàng nào chiếm được trái tim mình, những kẻ tò tò đi theo Kim chỉ là những chàng học trò còn “thò lò mũi xanh, cầm bát nước .... chạy quanh nhà trường..” y như những câu diễu cợt mà bọn Kim hay dùng để chọc quê mấy chàng mặt búng ra sữa ấy. Kim lại hay mơ màng đến những dáng dấp to cao, anh hùng, đẹp trai, bàn tay mềm mại nhưng sẵn sàng “rút kiếm” ra bảo vệ người yêu, giống như trong phim hoạt họa “Người đẹp ngủ trong rừng” của Walt Disney mà Kim say mê coi đi coi lại hai, ba lần hết rạp Lê Lợi lại tới Kinh Đô, rồi Mô đẹc. Như vậy thì làm sao mấy chàng trói gà không chặt kia làm sao tiến tới được? Kim bật cười khi nghĩ đến lúc muốn chàng muốn đưa người yêu đi xem phim, lại phải năn nỉ mẹ cho tiền, hay là xin tiền mẹ để mua sách học, rồi đi mượn bạn cuốn sách tầm bậy nào, mang về khoe mẹ là đã mua rồi, để giấu tiền sách kia đi mà bao “đào”.

    Năm tháng trôi qua, Kim tà tà lớn lên, càng ngày càng quyến rũ hơn với những nét con gái đẹp “kinh hồn” theo lời Kiểm, người có họ hàng xa với Kim, có tiệm chụp hình ở đầu đường Yên Đổ. Anh chàng này bạo nhất đám, dầu gì thì cũng con nhà thương mại, có chiếc máy ảnh hấp dẫn lũ con gái đến phô trương những nét hấp dẫn, và lại là vai trên của Kim nữa nên ăn nói ngang tàng lắm. Kiểm thường nửa đùa nửa thật:

    -Kim là Nữ Hoàng Sa bát, anh là vua Salômông, chúng mình cai trị nửa vòng trái đất.

    Kim đỏ mặt, gắt khẽ:

    -Cái anh này...

    Nghe Kiểm nói, Kim hình dung ra ngay tấm bích chương to bằng hai người thật dựng trước một thân cây ngay cửa rạp Văn Hoa. Trong tấm bích chương, Yul Bryne đóng vai vua Salômông, đang ôm ngang eo ếch nữ hoàng Sa Bát khi người đẹp kiều diễm này chỉ mặc “cọc xê”, hở bụng, khoe vòng eo nhỏ xíu đối lại với phần trên nẩy nở tuyệt diệu. Bức tranh vẽ quá đẹp, quá giống như người thật làm tất cả mọi khách qua đường, dù đi bộ, đi xe đạp, hay xe gắn máy đều chậm lại để chiêm ngưỡng. Những anh chàng học sinh thì mê đi, quờ quạng đi tới đi lui, làm rơi cặp sách cũng không biết. Còn các cô thì thèm thuồng, mơ có ngày cũng lớn lên đầy hấp lực giết người như vậy. Dĩ nhiên, theo Kim, mình là người Việt nhỏ con, không thể nào so sánh với tài tử Mỹ, nhưng cũng có phần yểu điệu, mơ màng không kém. Nhất định Kim sẽ trở thành một thiếu phụ tài sắc vẹn toàn, hạnh phúc chứa chan, bên một chàng hoàng tử, giờ này đang tập cưỡi ngựa, bắn cung...

    Giấc mộng của Kim cũng theo với thời gian mà lớn dần. Trong lứa tuổi vô tư, chỉ ăn và học, Kim không biết rằng cuộc đời là một chuỗi dài những chiến đấu, đôi khi tuyệt vọng. Và càng đẹp, càng quyến rũ, lại càng gặp phải nhiều thảm cảnh đớn đau. Như Nguyễn Du đã viết trước từ cả trăm năm: “Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen..”

    Kim không hề chuẩn bị cho mình cả một tương lai u ám.

    CHƯƠNG HAI

    BA LẸM

    Ba Lẹm trừng mắt nhìn tên đàn em thập thò trước cửa:

    - Chi dậy, mậy? Nói chi nói đại đi, lấp ló hoài!

    Tên đàn em lúc đó mới bước hẳn vô trong căn phòng luộm thuộm đầy da giầy, kìm kéo, và những đôi giầy đóng dở. Nó gãi gãi đầu:

    -Dạ...đại ca. Có một mạng mới đang nhập dô khu của đại ca. Em thấy nó đang kiếm cái chi, nghi nghi là “cớm” đó, đại ca.

    Nhăn cái mặt có một vết thẹo bằng đồng tiền cắc, dấu vết lần bị lác nặng làm lở da rồi xức thuốc lác “Ông Tiên” quá mạnh tay, Ba Lẹm “hừ “ một tiếng nghe như trâu thở, rồi hất hàm:

    -Bộ không biết cách giải quyết hả? Cho thằng Út Lé theo dõi rồi báo cho tao hay. Đứa nào lạng quạng vào đây kiếm chút cháo, tao đập chết mẹ. Đi mau đi!

    Đực Thỏ Đế, tên đàn em “dạ” một tiếng nhỏ, rồi biến ra ngoài cửa. Nó sợ đứng lâu, đại ca Ba Lẹm nổi hứng đá cho một cước là thấy mụ nội.

    Đại ca Ba Lẹm nổi tiếng là có cú đá bằng ống quyển mạnh kinh hồn. Dù là chủ một tiệm giầy ở trong ngõ hẻm Phạm ngũ Lão, chuyên đóng giầy cho mấy công tử bột trong khu vực nhiều ngõ ngách này, Ba Lẹm lại luyện được đôi ống quyển cứng hơn thép. Phải nói là cứng hơn thép vì có lần nổi hứng biểu diễn, Ba Lẹm đang đứng cạnh chiếc cột sắt tại trạm xe buýt, bỗng giơ chân đá một cú trái bằng ống quyển vào chiếc cột nghe một tiếng “cành” làm chiếc cột hình chữ “L” gập xuống. Đàn em đang sững sờ nhìn chiếc cột xe buýt gẫy gập thì Ba Lẹm lại bất thình lình tung chân phải lên làm một cú thứ hai bật ngược chiếc cột trở lại. Điều làm đàn em kinh hoảng là ống quyển của mọi người đều rất nhậy cảm, chỉ hơi va đụng vô là đã đau điếng, đằng này, Ba Lẹm lại dùng cái chỗ nhậy cảm ấy làm vũ khí, thì phải nói là khó có người thứ hai trên thế gian. Bởi vậy ai nghe danh Ba Lẹm đều kinh hãi lánh xa, vì e ngại mà vô phúc trúng phải cái ống quyển ấy thì coi như đời tan nát.

    Thật ra Ba Lẹm lại không hung dữ, không nóng bậy, chỉ lâu lâu hù đàn em chút thôi. Hiếm khi dợt đàn em thật sự hay tung cú đá sấm sét ấy vào những đối thủ của mình, vì bạo lực, theo Ba Lẹm, chỉ áp dụng khi nào cùng đường, không còn chọn lựa nào khác. Ba Lẹm thường nói: “Cú đá của tao một khi đã bay ra thì không thể không dính máu.” Trường hợp biểu diễn đá cái cột sắt cho đàn em kính phục thì lại khác. Chiếc cột không đổ máu, nhưng có dính chút máu của Ba Lẹm vì chiếc quần vải “Óclông” không thể chịu nổi sự va chạm quá mạnh đã rách ngay, để lộ làn da của Ba Lẹm cũng vấy chút máu. Tuy được rèn luyện từ hồi nhỏ nhưng dù sao da cũng là da, đụng phải sắt, nên bắt buộc phải xước đi một chút, làm máu bắn ra, dính cả vào chiếc cột. Tuy vậy mặt Ba Lẹm vẫn ung dung, lại còn búng tay cái “chóc” cho tên đàn em đứng gần. Tên này vội vàng rút ra một điếu thuốc lá Capstan, đưa vào tay đại ca rồi móc túc ra lấy chiếc quẹt Zippo ra bật ngay. Ba Lẹm hít vài hơi thật dài rồi trao lại cho tên đàn em. Hai chân chỉ hơi rung rung. Tên đàn em vồ lấy điếu thuốc, hít lấy hít để.

    Tật của Ba Lẹm là như vậy đó, không thích hút nhiều nhưng lại luôn tay có điếu thuốc khi không cầm chiếc giầy hay chiếc đục. Nghề đóng giầy của Ba Lẹm thì thật khó có ai bằng, ngay cả “Giầy Gia” là hiệu giầy nổi tiếng ở Saigon những năm 62, 63 đó. Cho nên, dù cho tiệm giầy của Ba Lẹm ở trong một ngõ hẻm, nhưng rất nhiều công tử hay mò đến đặt hàng. Ngoài lý do giầy của Ba Lẹm đóng thật vừa khít, gọp ghẽ, hợp thời trang, mũi nhọn tới chỉ, cũng còn lý do khác đó là nhờ cậy vào Ba Lẹm mỗi khi có đụng chạm. Nếu đã được làm quen với Ba Lẹm rồi thì đố tên nào dám gây gổ, dù cho đó là đàn em Lâm Mặt Mụn, hay Hùng Rỗ. Chỉ cần nói là “tui là đàn em của đại ca Ba Lẹm” là đủ để cho mấy tên ba trợn kia lập tức rút lui ngay. Do đó, dù cho giầy luôn luôn được giao trễ hẹn, các công tử vẫn vui vẻ mà chờ.

    Ba Lẹm chỉ có mỗi thói xấu là hay hứa lèo về ngày giao hàng, ít khi nào đúng hẹn. Chuyện cũng dễ hiểu vì nhiều khi đang đóng giầy, lại có vụ đụng nho nhỏ nào đó, có em nào đó đến kiếm đại ca, có cảnh sát hỏi thăm về một vết thẹo mới trên mặt của cậu hai nào đó, có bà già Ba Tri nào thưa kiện về những khuôn mặt bí mật ẩn ẩn hiện hiện đầy nghi ngờ tại khu của bà.. vân vân và vân vân. Không thiếu lý do để đại ca trao hàng trễ, chưa kể những lần đại ca phải vô bót nằm hai ba ngày để lấy khẩu cung về một vụ đổ máu nào đó liên quan đến con một ông sĩ quan nào, công chức nào quanh vùng. Rồi đâu cũng vào đấy, Ba Lẹm chỉ “nằm ấp” cùng lắm là hai ngày vì không bao giờ có chứng cớ vững vàng là Ba Lẹm tham dự vào những chuyện ăn cắp ăn trộm vặt, hoặc dính líu đến thuốc phiện, ma túy. Ba Lẹm vốn là dân lao động chính tông mà, lại thêm được đàn em thương mến, hết mình bảo vệ, khi nào cần thì đua nhau nhận tội giùm. Cùng lắm là ở tù vài tháng, không giết chết người thì không bị án tử. Trong thời gian nằm ấp, đàn em được đại ca luôn tay tiếp viện, không thiếu thứ gì, nên dù có ở tù giùm đại ca cũng thấy khỏe re. Khi ra tù, là đuợc đại ca cưng chiều tới chỉ, tha hồ gái giếc, nhậu nhẹt

    Thực tế, không giống như những đại ca khác tham tiền, tham gái nên đánh nhau, dành giật tùm lum, rồi nhớp nhúa cả vụ hít, chích, nên dễ vô khám, Ba Lẹm thành đại ca một nhóm du đãng cũng chỉ vì ham võ nghệ mà thôi. Đánh lộn vài trận tưng bừng là đủ cho mấy tay thanh niên lạng quạng tung lên thành đại ca. Thêm khuôn mặt cô hồn, lầm lầm lì lì, nhất là vết sẹo lác nằm chình ình trên má, làm cho lũ lau nhau thấy nhợn, thi đua o bế, dần dần tạo thành một băng du đãng có tiếng tăm khắp vùng Cầu Ông Lãnh, ngay cả những khu từ cầu Kiệu đổ vào, từ Phan Thanh Giản đổ xuống, qua Huỳnh Khương Ninh, Đinh Tiên Hoàng, nhất là khu chợ Đa Kao, đâu đâu cũng nghe danh Ba Lẹm. Những tay trộm vặt, móc túi khách hàng, những chị em ta làm ăn quanh vùng đều một lòng thần phục. Móc được món gì hay, lạ, là mấy cậu nhóc dâng lên đại ca “thưởng lãm”, nhưng nếu bị bắt, thà bị đánh đòn tung người, cũng không thằng nhóc nào dám khai tên đại ca. Các chị em ta thì lúc nào cũng sẵn sàng ‘tình cho không, biếu không”. “La mua se pua riêng” là tên của một bản hát nổi tiếng hồi đó, chị em ta thuộc nằm lòng, gặp đại ca là hát liền dầu chẳng hiểu tiếng Tây tiếng u gì. Cho nên đại ca cứ tàn tàn vừa làm công nhân đóng giầy lương thiện vừa làm trùm một khu đông đúc, hưởng thụ đầy đủ mà không cảnh sát nào muốn bắt giữ thật sự. Ôi, chuyện nhỏ mà, có chi mà làm ồn lên. Như vậy mà oai danh Đại ca Ba Lẹm vững mãi cho đến ngày hôm nay, khi tên Đực Thỏ Đế lại chạy vào, hớt hải:

    -Đại ca! đại ca! Nó... nó... kiếm chiện rồi!

    Ba Lẹm thủng thỉnh đặt chiếc giầy đang khâu dở xuống đất, ngước lên “hừ” một tiếng:

    -Chuyện gì?

    Tên đàn em đưa tay vuốt ngực rồi nuốt nước miếng cái “ực”, rồi mới mở miệng:

    -Nó.. nó.. dợt thằng Út Lé nằm thẳng cẳng rồi!

    Hơi giật mình, Ba Lẹm trợn mắt nhìn đàn em:

    -Đ. m! Thằng nào chơi ngon dậy?

    Thấy mặt đại ca giận dữ, Đực Thỏ Đế hơi dợm bước lùi ra cửa:

    -Đại ca.. ra mà xem. Hồi nãy, em nói thằng Út Lé theo dõi, rồi hông biết làm sao mà thằng Út Lé gây với nó, thằng Út Lé túm lấy áo nó, nó mới vung tay lên, thằng Út Lé nằm đài luôn... em chạy dìa đây, báo cáo với đại ca...

    Nói xong, tên đàn em bước lùi hẳn ra ngoài, như sợ Ba Lẹm cho nó là nguyên nhân gây nên vụ Út Lé nằm đài. Ba Lẹm nghiến răng lại. Lần đầu tiên trong bao nhiêu năm, mới có một thằng dám xông vào khu vực Ba Lẹ dợt đàn em nằm thẳng cẳng. Tên này thiệt dám vuốt râu hùm. Đ. m! Chỉ cần một cú đá thôi, mày sẽ nằm đài ngay. Ba Lẹm thủng thỉnh đứng dậy vươn vai, múa quyền mấy đường cho dãn gân cốt, rồi cứ ở trần, mặc xà loỏn như vậy mà bước ra cửa:

    -Đâu? mày chỉ đường cho tao. Nó đứng chỗ nào?

    -Dạ, dạ, nó đứng ở khu nhà thằng Tám Búa, gần góc đường Phạm Ngũ Lão đó, đại ca.

    Không hỏi thêm một lời nào nữa, Ba Lẹm bước những bước dài về phía trước.



    CHƯƠNG BA

    TẤN TÂY VÀ TRỊNH XÙ

    Tấn đứng bối rối trước một tên thanh niên lé mắt, ăn mặc luộm thuộm rõ ra một tên du đãng tép riu, chiếc quần túm ống có nhiều vết dầu loang, áo bỏ ngoài nhầu nát. Anh chỉ muốn kiếm thằng bạn, không muốn gây sự với ai hết, nhưng thái độ của thằng này đúng là muốn gây chuyện:

    -Ê! Đ. m! Mầy ngon hả mậy?

    Tấn cố gắng bình tĩnh:

    -Tôi chẳng có ngon gì, chỉ muốn đi kiếm bạn.

    Út Lé, chính tên du đãng đó là Út Lé, hất hàm đưa hơi:

    -Mầy trả lời ngon dữ! Bộ dạng mày chắc cớm quá!

    Rồi sấn sổ tới, chỉ tay vào mặt Tấn:

    - Ê! Mầy làm chỉ điểm hả, mậy? Láng cháng dô đây tìm hiểu rồi dề báo cáo với Xếp hả, mậy?

    Thái độ du đãng hạng bét của Út Lé bắt đầu làm Tấn thấy nực. Anh ráng nói nhỏ nhẹ thêm lần nữa:

    -Này, bạn, tôi đã nói tôi đi kiếm một người bạn ở quanh đây. Tại sao bạn lại cứ muốn gây sự như thế chứ? Mà bạn là ai mà chặn đường người ta rồi đ. m. um xùm. Tôi nói cho bạn hay, tôi rất ghét ai chửi thề.

    Út Lé cười hăng hắc. Thấy bóng cứng cựa của Tấn, Út Lé đã hơi nhợn, nhưng nhìn quanh, thấy một lũ con nít đang đứng xem rần rộ, Út Lé hùng lên, muốn trổ tài:

    -Đ.M.! Tao muốn đ. m. ai là tao làm! Mày là cái thớ gì mà lên mặt dậy đời.

    Máu nóng đã bốc lên mặt, Tấn gằn giọng:

    -Tôi nói cho bạn hay, một lần nữa mà bạn chửi thề, là tôi không nể nang gì nữa.

    Lỡ cưởi lên lưng cọp thì cưỡi luôn, Út Lé vênh mặt với lũ con nít và hình như có một vài tên trong băng của Ba Lẹm vừa trờ tới nữa, nó bước tới sát mặt Tấn, chỉ tay vào ngực anh, kênh kênh:

    -Đ...

    Chưa kịp nói hết chữ “má”, Út Lé bỗng thấy mình bốc lên cao rồi té xuống đất cái “ầm”, đầu dập xuống đất nháng lửa, hoa cả mắt, chả còn biết trời cao đất rộng là gì nữa. Tấn đã dùng một đòn Nhu đạo “Uki Goshi”, tay trái chụp lấy tay phải Út Lé vừa dí tới, tay phải vòng ngay sau lưng Út Lé, kê hông vào và hất bổng tên du đãng nhóc tì lên, rồi quật xuống đất chỉ trong một chớp mắt. Vốn không muốn gây chuyện to lớn, nên Tấn mới dùng một phần công lực, vừa quật vừa đỡ cho đầu Út Lé không bị đập mạnh xuống gạch. Nếu Tấn chỉ tung người Út Lé lên rồi mặc cho nó té xuống đâu thì té, có lẽ hồn Út Lé đã chu du địa phủ. Tên du đãng hết hồn hết vía, ngơ ngác mãi mà không đứng dậy được. Nhìn dáng vẻ bơ phờ của nó, Tấn thấy tội nghiệp, giơ tay ra đỡ nó đứng lên. Vừa sợ vừa hãi, Út Lé nhìn quanh về phía lũ con nít đang cười tồ tồ,vỗ tay loạn xạ. Út Lé mắc cở, quay qua gây với tụi nhóc:

    -Đủ..

    Vừa nói xong chữ “đủ”, Út Lé giật mình, thụt lưỡi lại, không dám tiếp tục. Tấn cười cười khi nhận ra sự thay đổi lớn trong đời tên du đãng nhóc này, anh nói:

    -Tốt, biết điều thế là tốt đấy. Thôi, tôi đi nghe, bạn.

    Anh xoay người, tính bước đi vừa lúc có tiếng nói hậm hực nghe như tiếng gừ của thú dữ:

    -Ê! Đứng lại! Đi đâu vội vậy, mày?

    Nhìn về phía tiếng nói, Tấn hơi giật mình thấy nguyên một băng du đãng đã đứng đón anh từ hồi nào rồi. Đứng trước hàng quân, là một du đãng thứ thiệt, ở trần, bắp múi ú na ú nần, mặc quần xà loỏn để lộ ra bắp chân chắc nịch. Những thớ gân nổi rõ lên cuồn cuộn. Anh hơi lo lo. Thế này là không xong rồi. Chắc lại đánh lộn nữa. Không tránh khỏi rắc rối to. Mà, tụi nó đông quá thế? Ở đâu ra mà nhiều vậy? Toàn những tay bậm trợn không à? Giải quyết làm sao đây? Dù sao, anh cũng cố hít vài hơi dài một cách nhẹ nhàng, vận khí cho tỉnh táo hơn. Chờ một vài giây cho hơi thở thấm vào cơ thể, Tấn mới hỏi từ tốn:

    -Các anh muốn gì mà chặn đường tôi?

    Ba Lẹm hất hàm về phía Út Lé:

    -Mày vừa đánh đo ván đệ tử tao?

    Tấn nhẹ giọng phân bua:

    -Tại anh đó, tự nhiên chặn tôi lại, còn chửi thề um xùm. Tôi đã nói anh ấy là không nên chửi tôi như thế, nhưng anh ấy lại còn tính nắm áo tôi nữa. Tôi phải tự vệ mà thôi.

    -Mày nói thế là đủ sao? Mày biết luật giang hồ không?

    -Luật giang hồ là cái gì? Tôi chưa từng nghe.

    -Mẹ! Luật giang hồ là luật giang hồ. Mày đánh đệ tử tao một cú, tao dọng lại mày một quả. Mày chơi đệ tử tao ngất ngư, tao phải dợt cho mày nằm đài luôn. Nếu mày không muốn nằm đài, mày phải xin lỗi tao, xin lỗi đệ tử tao.

    Giọng nói thì mạnh, nhưng dáng vẻ Ba Lẹm không có vẻ muốn cho Tấn “nốc ao” vì dù sao thì thấy thằng đệ tử của mình thường ngày đánh lộn cũng không đến nỗi nào mà chỉ bị có một cú đã nằm thẳng cẳng thì chắc thằng này cũng có “nghề” kha khá, chắc gì kẻ nằm đài là nó!

    Tấn cũng đoán thấy thằng du đãng kia cũng còn đang ngần ngại, nên anh nhún vai:

    -Tôi không biết mà có biết cũng chẳng làm sao hơn.

    Yên lặng một vài giây, Ba Lẹm đổi đề tài:

    -Tao thấy mày có vẻ cớm quá!

    Tấn lắc đầu:

    -Tôi không phải cớm. Tôi chỉ đi tìm một người bạn ở gần đây. Trước tôi có vào một lần, nhưng lâu quá, nên quên rồi.

    Ba Lẹm lại hất hàm:

    -Thằng bạn mày tên gì? Nói xạo, tao dợt cho mày một trận.

    Tấn suy nghĩ một hai giây rồi nói:

    -Bạn tôi là Trịnh. Trịnh Xù. Tóc nó lúc nào cũng rối bù xù lên.

    Vừa nghe tên Trịnh Xù, Ba Lẹm có vẻ thắc mắc:

    -Mày làm sao mà quen với nó?

    -Nó là bạn học của tôi năm ngoái.

    Ba Lẹm dịu giọng hơn:

    -Thiệt không? Tao cho người đi gọi nó. Mày nói láo, chết với tao.

    Tấn mừng rỡ:

    -Được vậy thì tôi cám ơn anh. Tôi không nhớ nhà nó nữa.

    -Được, mày đứng đây chờ.

    Nói xong, Ba Lẹm hất hàm về phía Út Lé. (Ba Lẹm luôn có thói quen hất hàm mỗi khi nói chuyện với đàn em.)

    -Mày đi gọi thằng Trịnh Xù lại đây.

    Út Lé chỉ chờ có cơ hội để chạy khỏi chỗ mình mới bị té nặng, mất mặt bầu cua, nên rảo bước đi ngay. Cả bọn đứng lại chờ, không ai nói một lời nào. Tấn đứng nhìn quanh quất vào xóm nhà lá lụp xụp; những mái tôn nham nhở, rỉ sét; những miếng ván làm vách đã muốn long ra; những cánh cửa xộc xệch; và con đường lởm chởm gạch, đất, xi măng. Tiếng con nít hò reo ở ngõ bên cạnh. Tiếng mẹ la hét, mắng con. Tiếng heo ủi đất ụt ụt và giọng người xướng ngôn viên nào đang nói lèo nhèo trên đài phát thanh giữa buổi trưa nắng, hợp lại thành một thứ âm thanh hỗn tạp nhưng quen thuộc của những xóm nghèo thành phố.

    Chừng năm sáu phút sau, có tiếng chân người bước tới và một giọng reo vui:

    -Ê! Đ. M.! Thằng Tấn Tây!

    Tấn quay lại để thấy Trịnh Xù đang vẹt lũ du đãng ra, phóng tới. Theo sau là Út Lé với vẻ mặt ngượng ngịu. Tấn cười:

    -Mày! Mẹ kiếp! Tao đi tìm mày bị lạc.

    Trịnh chỉ nhìn qua cũng rõ tình hình. Anh vội tiến tới chỗ Ba Lẹm, phân bua:

    -Anh Ba! Đây là thằng Tấn Tây, bạn thân của em. Nó học chung nội trú với em năm ngoái, đó, anh Ba!

    Rồi cười giã lả:

    -Nó trắng như Tây lai, nên tụi em gọi nó là Tấn Tây.

    Quay lại với Tấn, Trịnh nắm tay dắt tới, trịnh trọng như trong một nghi lễ:

    -Anh Ba, thằng này là Tấn Tây.

    Nháy mắt với Tấn, Trịnh tiếp:

    -Mày, đây là anh Ba của tao. Chào ảnh đi.

    Tấn không biết nói sao, chỉ cười cười:

    -Chào anh Ba.

    Ba Lẹm nhìn cả hai đứa với cặp mắt thân thiện hơn;

    -Thằng kia là Bắc Kỳ ăn cá rô cây, mày là Nam Kỳ ăn giá sống, sao lại thân nhau được?

    Tấn và Trịnh đều cười. Trịnh nói:

    -Tui đã nói với nó là hễ mày mà bị đụng xe, người ta thấy đít mày lòi ra cọng rau muống. Nó lại nói với tui là hễ tui mà bị đụng xe, thế nào cũng lòi ra cọng giá sống. Tụi tui đánh nhau tá lả, nhưng rồi cũng huề.

    Cả bọn cười hề hề. Không khí vui vẻ trở lại.

    Dù sao thì Trịnh không muốn đứng lâu tại chỗ này, anh lôi Tấn đi:

    -Thôi, anh Ba, tụi tui đi nghe. Hồi nào rảnh, tui dắt nó lại, rủ anh đi làm một ly xây chừng chơi, nghe anh Ba.

    Ba Lẹm hậm hừ, rồi quay lại, hất hàm cho lũ đàn em giải tán.

    Tấn vuốt ngực:

    -Mẹ! Hú hồn! Chút nữa thì tao lại phải đánh lộn nữa. Mày mà không ở nhà, thì tao không biết tính sao.

    Nghiêng người qua nhìn Tấn, Trịnh chửi thề:

    -Đ. m! Mày đã tới nhà tao ăn cơm rồi mà không nhớ gì hết trơn à! Mẹ! Tao ở ngay mặt đường, mày lại đi lòng dòng trong ngõ, không đụng chuyện sao được. Mày hôm nay hên lắm, Ba Lẹm chưa ra tay đó. Cỡ mấy cái đòn Judo của mày làm sao đánh với anh ấy được.

    Tấn cười:

    -Tao biết là Ba Lẹm có cái đòn đá ống quyển đã truyền lại cho mày, dĩ nhiên là phải ngon hơn mày với tao rồi. Nhất là hôm nay..

    Tấn ngưng lại nửa chừng làm Trịnh sốt ruột. Trịnh hỏi:

    -Đ. m! Hôm nay làm sao? Bộ mày bệnh hả?

    Câu hỏi chân tình làm Tấn rung động. Có lẽ chưa có ai chơi với anh như cái kiểu của

    Trịnh, vừa du đãng, vừa tình cảm. Tấn cười buồn:

    -Trên đời này, chỉ có mày là “đ. m” với tao mà không bị nằm đài. Mày hỏi thăm tao một câu là chửi má tao hai câu.

    Trịnh hơi hối hận:

    -Tao xin lỗi. Tật tao quen rồi. Mày đừng giận.

    -Giận thế chó nào được mà giận. Giận thì tao đã không đến tìm mày.

    Suy nghĩ một lát, Tấn nói tiếp:

    -Hồi nãy, tí nữa thì tao té. Đánh thằng lé mắt kia mà tao gượng mãi mới đứng được.

    Trịnh nhìn thẳng vào mắt Tấn:

    -Sao vậy? Mày bệnh hả?

    Tấn thở dài:

    -Không phải bệnh, mà là tao... đói.. Hai ngày nay, tao không có gì ăn.

    Trịnh kêu lên:

    -Trời đất! Mẹ kiếp! Sao mày không nói ngay?

    Rồi, lúng túng, Trịnh hỏi:

    -Đ. m.. Ủa, tao xin lỗi. Sao mày không về nhà?

    Ngước mặt nhìn lên trời như tìm một ngôi sao số phận nào đó hiện ra vào giữa trưa, Tấn buồn bã nói:

    -Tao bỏ nhà đi rồi. Không muốn về nữa. Tháng trước, tao viết thư cho bà già tao là khi nào tao làm nên sự nghiệp, tao mới về.

    Trịnh yên lặng. Tấn tiếp:

    -Mày biết là sau khi tao đậu Tú Tài, mẹ tao bắt tao đi kiếm việc làm, làm gì cũng được, miễn là đem tiền về nhà. Tao tìm việc không ra, bả cứ la tao hoài, tao hận đời quá, cãi lại bả, nói bả chỉ ham tiền. Bả dợt tao một trận tới cữ luôn. Sáng, tao dậy sớm, để lại cái thư cho bả rồi chuồn.

    -Vậy... mày ở đâu?

    -Tao ở nhà thằng bạn. Nó cho tao tá túc tại căn gác riêng của nó. Có điều là tao không muốn làm phiền nhà nó về việc ăn uống, nên nói láo là có chổ ăn cơm tháng rồi. Để cho họ khỏi nghi, tao cứ đi lang thang suốt ngày ngoài đường. Tao đi kiếm việc. Đầu tiên, tao đi kèm trẻ em. Được mấy tháng thì nghỉ. Sau, tao đến bà mợ tao bán thịt bò ở chợ Tân Định, làm được ít hôm thì bỏ. Lý do dài giòng lắm, tao sẽ kể sau.

    Ngừng lại một giây, nhìn thấy mắt Trịnh đang theo dõi say mê, Tấn đành kể tiếp:

    -Tao... đến mấy chỗ cậu, mợ, chú, dì; đâu đâu cũng từ chối. Đến một ông anh họ, ông cũng đang lao đao không giúp được gì tao, nhưng ông có hẹn sẽ lo cho tao tối đa. Trước mắt, ông ấy cho tao ít tiền rồi dục tao về nhà, ăn đỡ, sau sẽ tính, nhưng tao nhất định không về. Mới viết thư từ giã mà vác cái mặt về ăn bám, tao thà chết không làm. Hai ngày nay, tao không có gì bỏ bụng. Sau đó thì cũng ông anh họ đó cho tao cái đồng hồ vàng để đem đi cầm, lấy tiền ăn. Hết tiền, ổng lại cho tao cái áo vét, tao cũng đem đi cầm luôn. Rồi ông ấy cho tao cái bút Parker, cầm tuốt. Bây giờ, hết đồ cho rồi. Ông bác tao biết, chửi ông anh họ tao quá chừng. Ông ấy bảo: “Có cái quần xi líp cũng đem cho nó đi.” Tao xấu hổ quá, chỉ muốn chết. Tao không muốn làm phiền ông anh họ tao nữa.

    -Oâng ấy tốt dữ vậy mày?

    -Ừ, tao chưa thấy ai tốt như ông ấy, dù ông chỉ là con ông bác họ, cũng xa xa rồi. Nguời như ông ấy rất hiếm. Hôm ông ấy bị ông bác tao chửi, tao xấu hổ quá, mới tháo cái đồng hồ ông ấy cho, để lại trong phòng ông ấy rồi chạy. Oång chạy theo tao ra ngoài ngõ, nhà ông ấy ở trong ngõ đường Thoại ngọc Hầu, gần nghĩa địa Thánh Minh Tương Tế, ông cứ dúi vào tay tao cái đồng hồ, nói: “Cái này là của tao cho mày, không phải của bác. Mày cứ cầm lấy, không tao giận mày, hết anh em luôn.” Tao phải cầm mà nước mắt cứ chẩy ra.

    Trịnh cúi đầu, cái dáng vẻ cao bồi du đãng cũng muốn biến đi đâu mất:

    -Còn mấy ông anh, bà chị mày đâu? Không ai giúp mày cái gì à?

    -Anh cả tao thì theo vợ, quên luôn đứa em út. Chị dâu tao thì khắc khe lắm. Hôm qua, tao đói quá, mò vào nhà ông ấy ở Trương công Định, nhà ông ấy làm thợ may. Vừa bước vào cửa, thấy mùi canh cải cúc thơm lừng, tao nghiến răng tính lì mặt ra, ở lại ăn đỡ, nhưng bà chị tao “táp pi” tao liền. Bả nói: “Hôm nọ, chú còn mượn tôi hai mươi đồng, bao giờ trả đây?” Tao lúng túng một hơi rồi lặng lẽ ra khỏi nhà. Mày biết, hai mươi đồng được bốn ổ bánh mì, mỗi ổ năm đồng. Ăn được hai ngày thì hết. Tao có qua nhà ông anh họ tao ở Ngã Sáu, vừa mới thò miệng ra hỏi mượn tiền, bà chị tao ré lên ngay: “Gớm, ngày hôm nay nhà tôi cũng không có tép ăn, có đâu ra tiền mà cho chú mượn.” Tao phải nuốt lệ ra về. Còn mỗi bà chị Hai của tao, thương tao, nhưng lại theo ông anh rể đi lên Cần Thơ đóng quân rồi. Mấy anh chị khác của tao tản lạc cả. Không biết ở đâu. Mẹ tao buồn bực quá nên dồn đòn vào thằng út là tao, đánh chí tử. Mấy lần tao bị đánh nặng quá, đã mê đi “bắt chuồn chuồn” rồi.

    -“Bắt chuồn chuồn” là cái quái gì?

    -Ở quê tao, mỗi khi đi bắt chuồn chuồn thì mấy ngón tay cứ quíu lại. Người nào sắp chết cũng thấy mấy ngón tay quíu lại, nguời ta gọi là bắt chuồn chuồn.

    -Má mày dữ vậy à?

    -Bà nóng tính, tao lại chọc gan bả. Khi bà lên cơn giận, chửi tao, tao lặng lẽ cởi trần ra, kéo cái ghế đẩu ngồi giữa nhà, chọc tức bả “Này, mẹ đánh con đi!” Thế là bà nổi cơn, đánh tao bất tỉnh. Mới đầu bà còn đánh vào lưng, tao lại gan lì đếm “một, hai, ba, bốn..”, đến khi bà điên lên, quất cả cây thước gỗ vào đầu tao thì tao lăn quay ra. Có lần bà quất tao bằng cây sắt khều than, có lần bằng xe điếu bằng đồng, quăn cả xe điếu luôn. Bả vớ được gì quật cái đấy.

    Trịnh bùi ngùi:

    -Mẹ, đời! Nhưng cũng tại mày cà chớn, chọc bả làm chi.

    Tấn cười buồn, dỡn bằng câu tiếng Pháp:

    -Đời, “c’est la vie”, Tình, “c’est l’amour”, Tiền, “c’est l’argent” mà mày.

    Trịnh chửi thề:

    -Mẹ kiếp, giờ này mà còn tiếng Tây, tiếng u cái con khỉ...

    Tấn cười ha hả. Lẫn trong tiếng cười có nước mắt.

    Ngậm ngùi một lát, Trịnh đột ngột ngửng đầu lên:

    -Mẹ, tao đi kiếm tiền cho mày.

    Tấn ngơ ngác:

    -Mày kiếm tiền cách nào?

    Trịnh quả quyết:

    -Cứ đi theo tao. Tao bảo làm gì, mày làm đấy là được.

    Rồi kéo Tấn xăm xăm bước đi.

    CHƯƠNG BỐN

    ĐEN BẠC

    Kim thở dài, ngày ấy nay còn đâu? Kim bây giờ không còn là Kim Nhí nữa mà là Kim Salem rồi. Không còn làm nũng ai, không còn nuớc mắt long lanh nữa, Kim đã là người của thiên hạ. Tuy không bán thân mà chỉ làm gái nhẩy, Kim Salem, người đẹp của vũ trường Diamond, vẫn là chỉ đuợc coi là một con đĩ hạng sang trước mắt khách hàng, nên mọi người chỉ muốn hưởng thụ, dầy xéo. Thực sự, Kim không giống như những em “ca-va” khác, lúc nào cũng sẵn sàng đi với khách, kiếm thêm tiền. Trong khi các chị em giành nhau lẳng lơ để trở thành vợ bé của một vài nhân vật “bảo vệ” của tiệm như tay Đại Uùy Chỉ Huy Phó Cảnh Sát Quận, ông Trưởng Toán Bài Trừ Du Đãng... hoặc một vài nhân vật lớn khác, Kim chỉ đứng làm đẹp cho quán, tiếp đãi khách một cách lịch sự, để khách mê mẩn trở đi trở lại hoài. Những tay khách sộp lại thường biết điều, lẳng lặng đến, lẳng lặng đi, không ồn ào, và còn chi đẹp cho các em nữa. Họ cũng sợ vợ con, sợ tai tiếng, sợ mất nồi cơm ngon. Tính nết của Kim như vậy, nên khách đến chơi cũng có phần đối xử đặc biệt không như những em “ca-va” khác. Đa số khách đến để gặp Kim và tán tỉnh vài câu bay bướm. Nhưng cũng không thiếu vài thằng ba búa, nhậu như hũ chìm, vừa gặp Kim là tay chân líu quíu chỉ muốn bốc hốt. Kim cứ phải né đạn, phải làm bộ đau nhức, ốm, bệnh, để cho những thằng ấy de ra. Nhưng mấy tay nham nhở vẫn nhào dô, bậm trợn:

    -Có bịnh gì đi nữa, anh cũng vẫn muốn yêu em. Em đẹp thế mà, không yêu thì chết không nhắm mắt.

    Nhiều thằng làm hỗn quá, khiến chị quản lý phải can thiệp:

    -Thôi, cậu, cậu tha cho em nó đi. Nó đang bệnh mà. Không nhìn thấy mặt em nó xanh lè thế kia à?

    Kim chán nản, nhiều khi chỉ muốn chết quách. Sao đàn ông lại chỉ là những thằng đực lúc nào cũng chỉ áp dụng có mấy động từ bậy bạ, không còn gì khác hơn nữa sao? Có động từ “yêu” không? Còn khuya ạ! Làm chó gì có yêu với đương! Chắc chỉ trong truyện tiểu thuyết hoang tưởng hay trong phim, đóng giả với mục đích gạt gẫm con người ta mà thôi. Kim lắc đầu, thở dài. Em không ngờ đời em lại trôi vào cái ngõ cụt dơ bẩn như thế này. Chỉ vì một phút yếu lòng với thằng khốn nạn đó, cái thằng miệng ngọt như mía lùi, nhưng lòng dạ khốn nạn còn hơn những thằng khốn nạn khác ngàn lần, vì nó là bà con xa nữa. Thằng Kiểm, con nhà chụp hình. Hắn lợi dụng tình họ hàng, lợi dụng những giấc mơ của Kim đã kể cho hắn nghe, để tung một chiến dịch ra hòng chiếm được em, khi Kim mơ màng vì những món quà đáng giá mà hắn tặng, những lời nói ngang tàng, hùng dũng như hoàng tử, những hứa hẹn mạnh bạo, và những lần đụng chạm thân tình. Trong một ngày kỷ niệm sinh nhật hắn, Kiểm đã xin phép cho Kim tới nhà chơi. Nghe nói Kiểm muốn nhờ Kim mai mối cho một cô bạn nào đó, mẹ Kim không do dự gì, cho Kim đi ngay, vì nghĩ tình họ hàng xa, vả lại nhà Kiểm cũng không xa nhà Kim mấy. Đến nhà Kiểm, thấy chỉ có vài người bạn, Kim đã định về, nhưng Kiểm cứ giữ lại:

    -Bộ chê nhà anh nghèo, không thèm ở lại hả? Hay là chê anh “văn dốt, vũ dát”, không có nhiều bạn?

    Kim ngần ngại:

    -Không phải thế, nhưng mà... không có nhiều bạn gái, toàn đàn ông không hà! Em ngại quá!

    Kiểm sẵng giọng:

    -Thế cô cho tôi là hạng nào? Tôi không bảo vệ nổi cô sao?

    Thấy Kiểm làm mặt giận, Kim vội vàng dịu giọng:

    -Thôi, được, em ở lại, nhưng anh phải cản mấy ông bạn anh đó. Em thấy mấy người ấy... trông dữ quá à!

    Và Kiểm bảo vệ Kim thật kỹ, cứ ép Kim uống hết chút này đến chút khác, để đến khi Kim say ngất ngư tại căn nhà của hắn, Kiểm đã chiếm đoạt được sự trinh trắng của Kim. Sau khi lầm lỡ, Kim vừa sợ hãi, vừa giận dữ, hối tiếc muốn phát điên. Nhưng vì bản tính cả tin, và biết dầu gì cũng đã nhúng chàm một lần, Kim đã để Kiểm dắt dẫn từng bước, từng bước vào mê lộ, không rút chân ra khỏi được nữa. Đến khi biết Kim có thai, hắn bắt đầu nói dối quanh, trốn trách nhiệm, nào là “chúng mình là bà con, anh sợ đổ bể ra thì họ hàng giết chết,” nào là “dù sao, anh cũng chưa ra trường, bây giờ còn đang sống nhờ bố mẹ, mà bố mẹ khắc khe lắm, nói chuyện vợ con lúc này là thác với ông bà ấy..” Chỉ qua vài lần thoái thác, là Kim hiểu ý ngay, trong khi cái bụng bắt đầu to dần. Kim tuyệt vọng đã nghĩ đến chuyện tự tử thì gặp cứu tinh, một người bạn ông anh cả làm bác sĩ, chỉ cho Kim con đường phá thai. Lúc đầu thì Kim kinh hoảng khi tưởng tượng đến việc giết một hài nhi, sau thì không còn chọn lựa nào khác, Kim đành nhắm mắt đưa chân.

    Việc phá thai xong, Kim lại phải “lỡ” thêm một lần nữa với vị cứu tinh. Ông anh muốn đòi công xá, nhưng không bằng tiền mặt mà bằng thân xác Kim. “Kim hiểu cho anh chứ? Anh vẫn thương Kim, vẫn muốn .. gần Kim từ lâu. Anh không cần tiền, chỉ cần em thương lại anh.. một lần thôi. Mọi chuyện trước tới nay, anh sẽ quên hết.” Thế là Kim đành phải trả nợ, nhưng lần này có sự giúp ý kiến của anh bác sĩ đó, Kim không mang hậu quả gì. Rồi, nhìn thấy cuộc đời chán chường quá, Kim bỏ nhà đi luôn, thành Kim-Sa-Lem cũng không lâu. Kim muốn trả thù đời, muốn hành hạ các thằng khốn nạn chỉ luôn muốn chiếm đoạt gái rồi bỏ chạy.

    Kim thở dài. Đã tới giờ lên đường đi làm. Hai tiếng “đi làm” vang trong tai Kim như tiếng chuông. Làm gì? Làm đĩ... đĩ... đĩ... Kim bịt tai lại, cố lắc đầu cho tiếng vang đó tan đi, nhưng không nổi, đành phải chạy lại cái máy manhêtôphôn bật lên. Một tiếng “cách” nhỏ, cái cần gật sang một bên. Cuộn băng to bằng cái đĩa bắt đầu quay vòng. Tiếng nhạc dìu dịu vang lên. Giọng Syvie Vartan, một ca sĩ trẻ đẹp, thần tượng của Pháp, nhõng nhẽo, ngọt ngào:

    “C’est le temp de l’amour, le temp de copains, et de la venture ...” Đâu rồi thời gian của tình yêu, của bạn bè, của phiêu lưu? Có thật có thời gian đó hay không? Em không còn nhớ nữa. Hình như chỉ là giấc mơ.. Kim chầm chậm tô son lên môi, đôi môi mọng thơm ngày nào giờ này đã trầy trụa.

    Đưa tay khép cửa lại, xỏ chìa khóa vào, vặn một vòng, Kim đi chầm chậm xuống thang. Biết rằng có mấy cặp mắt thèm thuồng của mấy gã đàn ông có vợ ở gần phòng đang lom lom nhìn theo, Kim hơi cúi đầu xuống. Mái tóc ngắn kiểu “đờ-mi gạc-xông” nửa con trai của Kim cũng che khuất được gần nửa khuôn mặt.

    Ra tới đường, Kim uể oải đứng đợi xích lô. Chừng hai phút sau, một chiếc xe trờ tới, tiếng phanh thắng lại nghe rít lên, chói tai. Cô đi đâu? Tới Dancing Diamond trên đường Tự Do. Mời cô lên.

    Chiếc xe chao đi một chút rồi lướt băng băng trong giòng xe cộ đông đúc của buổi chiều tan sở. Kim nhìn ra hai bên đường. Những gánh hàng rong vội vã. Những chiếc xe đạp chở đầy một dề rau muống. Những đứa trẻ ở trần, mặc quần xà loỏn chạy theo mấy cái niềng xe đạp bằng sắt, tay cầm cái que đẩy cho cái niềng xe chạy vòng vòng. Một vài chiếc tắc xi hiệu Đô phin của Pháp sơn xanh vàng vọt qua. Chiếc xe nhà binh chạy ngược chiều, trên xe chở những người lính đội nón sắt, súng chống xuống sàn xe. Giòng người tất bật, vội vã. Đi về đâu, hỡi những con người tất tả?


    CHƯƠNG NĂM

    TRƯỜNG NỘI TRÚ

    Vừa bước chân theo Trịnh, Tấn vừa ngẫm nghĩ. Kể ra thằng Trịnh này có khí tiết, có hậu với bạn bè. Chưa biết nó làm gì, nhưng chắc là có tiền ăn bữa nay đã. Tấn thân với Trịnh từ hồi học nội trú với nó trong trường Thánh Minh ở Gia Định. Không biết sao mà hai thằng lại thân nhau dù tính tình và gia cảnh hoàn toàn khác hẳn nhau. Tấn thì hiền lành, thư sinh, con nhà nghèo, vô nội trú vì mẹ và anh không muốn lông bông; Trịnh thì cô hồn các đẳng, con nhà giầu, phá của nên cha mẹ tống vào nội trú một thời gian cho bớt quậy. Trường nội trú công giáo Thánh Minh vốn là nơi nhốt những tay quậy, vì có Thầy Quản Trạc, một giám thị nghiêm khắc nổi tiếng, lại có võ nghệ nữa. Đứa nào lạng quạng, thầy không ngần ngại phất cho vài roi. Kỷ luật nghiêm minh, nên nhiều người muốn con mình vào đấy để hiền lại. Trường có một dẫy lớp học dài ngang, một đầu tiếp với khu nội trú, đầu kia nối với khu tu sinh và nhà cơm. Nhà thờ trụ ở giữa sân. Một hang đá Đức Mẹ được xây ở gần lối vào khu tu sinh, cho các tu sinh có ra khấn Đức Mẹ thì rất gần.

    Tấn nhớ mãi lần mẹ nói vơí anh hai:

    -Thôi thì anh không lo cho tôi thì thôi, còn thằng em út đấy, anh liệu cho nó đi học, để nó ở ngoài, thi trượt hoài. Làm sao mà đi làm ăn gì được. Tôi nghe nói có trường nội trú Thánh Minh dậy học giỏi lắm, muốn cho nó vào đấy để nên người.

    Anh hai trầm ngâm vài giây, rồi nói:

    -Được, mẹ cứ hỏi tiền học đi, con sẽ đóng cho nó.

    Thế là mẹ đưa Tấn lên trường, xin với Cha Hiệu Trưởng, lại kể lể hoàn cảnh nghèo khổ, Cha lại bớt cho một trăm đồng. Tất cả là một ngàn một trăm, kể cả tiền ăn, học, thay vì một ngàn hai trăm như người ta. Ngày Tấn lên trường, anh không để ý mấy tới cái dáng củaTrịnh, trông lấc ca lấc cấc, quần Polyester túm ống, áo Têtơrông bỏ ngoài, cái mặt thì kên kên, tóc chải kem “brilăngtin” xù ra trông thấy ghét. Nhưng xui xẻo làm sao, Tấn lại đuợc xếp nằm gần với Trịnh, hai thằng hai giường trên. Giường dưới thì Thanh-răng-dàng, vì nó có hai cái răng vàng ngay cửa. Anh em cứ thấy nó là vỗ tay và hát: “Cười lên đi cho răng dàng sáng chói, hát lên đi để răng dàng le lói..” Thằng Thanh tức lắm, không làm gì được cả lũ mất dậy, đành ôm hận và chờ giờ phục hận. Hôm đó, xui xẻo cho Tấn đứng gần nó quá ở dưới cái giường đôi, vừa giơ tay ra vỗ và hát, thì bất ngờ thằng răng vàng điên lên, giọng ngay một quả đấm vào mặt Tấn, đỡ không kịp. Tấn lảo đảo vì quả đấm hằn thù bao ngày đã lên kílô nặng lắm trúng ngay vào mắt. Đấm xong, thấy chột dạ, Thanh vùng bỏ chạy, Tấn rượt theo vòng vòng, nhưng thấy tội nghiệp nó và nghĩ lại thấy lỗi của chính mình, nên Tấn lại đến xin lỗi nó. Thằng Thanh vừa nhận lời xin lỗi vừa dợm chạy vì biết Tấn “có nghề”. Còn thằng Thanh-Bùi-Như-Lạc nữa, bởi nó họ Bùi, lúc nào nó cũng khoe có ông chú làm Tỉnh Trưởng mà ăn trộm như ranh. Thằng nào giơ cái bút đẹp ra khoe là kể như sắp mất. Nó có cái tật sưu tầm bút. Một lần, cả bọn tức tối vì mất bút quá nhiều, nghi ngờ Thanh-Bùi-Như-Lạc, mới dàn hàng ngang ra, đè thằng này ra khám cặp. Khi vừa mở cặp nó ra, mọi người chưng hửng vì nguyên một hàng dây gài đầy đủ tất cả các bút máy, bút Bic đã từng mất được xếp rất ngay ngắn, không thiếu một cái nào. Hóa ra nó mắc bệnh nặng: bệnh chĩa đồ. Kế nữa là thằng Hiến Mù, lúc nào cũng đeo kính cận to tổ bố, miệng mồm lúc nào cũng oang oang. Thằng này dân Bảo Lộc, nhưng lại học giỏi nhất lớp. Thằng Doanh-vua-nhà-lá, cứ mở miệng là ban phát lệnh y như vua, nhà ở cư xá Phú Nhuận. Cái thằng này có con em xinh quá là xinh, hay mặc áo dài vàng, mỗi Chủ Nhật lên thăm anh, làm bạn bè lé mắt. Cách thằng Doanh-vua-nhà-lá là thằng Lâm-Sì-cà-cồ. Không hiểu tại sao thằng Trịnh lại gọi nó là Sì-cà-cồ, có lần Tấn hỏi thì Trịnh gật gù:

    -Mày không để ý nó hay xài “chị năm” hả? Sáng ra mặt phờ phạc, học không vô. Không gọi nó là sì-cà-cồ thì gọi nó là gì?

    Vừa nghe tới đây, cả bọn lăn ra cười.

    Gần đó là thằng Long sứt, học đệ tam, con nhà thuốc bắc Con nai vàng ở Tân Định, ỷ nhà giầu, hay ra cái điều ta đây, thấy gái là tán như điên. Thằng Quang cận, học đệ tứ, cũng hơi dễ thương. Rồi mấy thằng đàn em học lớp dưới nữa, Tấn không để ý. Chỉ có thằng Trịnh là Tấn không mấy ưa, nhưng rồi một cơ hội làm Tấn khoái chơi với nó.

    Hôm đó, một thằng lớp đệ tam bất thần bị hai thằng du đãng ở đâu nhẩy vô trường đập. Cu cậu học đệ tam nhưng can đảm chỉ cỡ đệ thất, nên chịu trận ôm đầu cho hai thằng kia đấm đá liên hồi. Tấn và Trịnh nghe ồn ào, chạy ra khỏi lớp. Nhìn anh chàng học trò kia bị nện, Tấn chưa kịp phản ứng gì vì bản tính vốn hiền, lại chưa quen đánh lộn thiệt, Trịnh đã lao ra như cái máy. Một tay gạt thằng du đãng ra, một tay đẩy anh học trò này vào lớp, Trịnh hất hàm với hai thằng kia:

    -Đ. m. tụi bay, đến đây đánh bạn tao, hả mầy?

    Hai tên du đãng nghinh nghinh, vung tay xông tới. Một thằng sừng sộ:

    -Đ. m. mầy, thằng này bạn mày hồi nào?

    Trịnh điềm nhiên:

    -Không cần biết. Hễ ai học trường này đều là bạn tao. Mày ngon thì nhào dô.

    Một thằng lao tới, tung quả đấm to đùng ra. Trịnh không thèm đỡ mà chỉ lách mình qua, giơ chân đạp luôn vào đầu gối thằng nọ, nghe một cái “rốp”, tên kia kêu “ối” lên rồi gục xuống, thê thảm. Trịnh nhún vai, bỏ đi. Tên còn lại mới đầu còn ngỡ ngàng, sau lại xung lên, chạy rượt theo Trịnh đang hướng về cửa lớp. Đợi cho tên kia vừa gần tầm quả đấm, Trịnh bất thần quay lại, xoạc chân ra, dùng thế “hồi mã thương”, dích một cái cùi chỏ vào ngực tên kia nghe “hự” một tiếng. Tên rượt theo lảo đảo ôm ngực một lúc thì cố gượng dậy lôi thằng bạn kia bỏ chạy thất thểu ra đường, vừa lúc thầy Quản Trạc đi tới với cây roi mây dài thòong:

    -Đứa nào đánh lộn đó hả?

    Chẳng ai trả lời. Cả mấy lớp đang đứng đầy hành lang trường, cứ yên lặng đi vào lớp học, mặc thầy Trạc đứng ngơ ngẩn ngoài sân.

    Tấn phục Trịnh quá. Tên này anh hùng mã thượng, dám bênh bạn bè, dù đó chỉ là đàn em không biết mặt. Từ đó, Tấn thân với Trịnh hơn, nhưng chưa đủ để thân thiết, cho đến một hôm, nói chuyện về đánh lộn, Lâm-sì-cà-cồ bốc hứng nói giỡn:

    -Mẹ! Thằng Tấn-tây-lai này đẻ ra đúng một năm sau khi lính Tây càn vào làng.

    Cả bọn cười hừng hực. Tấn nóng mặt:

    -Đùa vừa phải thôi chứ, mày! Tao ghét đứa nào nói bậy về mẹ tao.

    Thật ra, Lâm chỉ nói đùa thôi, vì trong cả trường, Tấn khá đẹp trai, chỉ thua Hân-tu-sinh (sau làm Cha sở), da lại trắng trẻo, cao ráo, trông rất giống tây lai. Thành ra cả trường đều gọi là Tấn Tây. Lâm bốc chưa đã, bồi thêm:

    -Tụi mày thấy tao nói đúng không? Năm thằng Tấn đẻ ra là những năm Tây càn vào làng. Cả làng bỏ chạy chỉ trừ mẹ thằng Tấn.

    Tấn tức quá, nhẩy tới, dùng ngay chiêu “Tai-Otoshi”, một chiêu của Nhu đạo, tay trái nắm tay phải của Lâm, tay phải chụp vào áo ngực áo cu cậu, chân xoạc dài ra sau, dùng hết sức hai tay, ném Lâm “ầm”một cái vào tường. Lâm đau lặng nguời đi, không nói năng gì. Tấn cũng bối rối vì đánh bạn khá nặng tay. Đang lúc đó, Trịnh làu bàu:

    -Mẹ! Ỷ võ bắt nạt thằng không có võ. Ngon thì bắt nạt thằng có nghề xem.

    Tấn đang vừa buồn vừa tức, nghe câu nói khích thì cũng đỏ mặt lên:

    -Mẹ kiếp! Tụi mày đùa quá trớn. Mày ngon thì đánh lộn coi. Mẹ! Mày chỉ có mỗi cú đá ống quyển và cú hồi mã thương, chả có chó gì. Thằng du đãng vặt. Dám đánh với tao, tao quật cho một đòn là tắt thở.

    Trịnh cũng nóng mặt:

    -Đánh thì đánh. Chúng mày làm chứng cho tao. Thằng Tấn thách tao trước.

    Đứng ngay ở cửa phòng ngủ, Tấn khuỳnh tay, hất hàm:

    -Chờ ăn cơm xong, chơi liền!

    Thế là hai bên chuẩn bị một trận đấu lừng trời. Cả lũ xì xào, vì ai cũng biết tài đánh lộn của Trịnh rồi. Còn Tấn thì vừa thấy ra đòn. Đã biết Trịnh là vua đánh lộn, chém mướn ở gần chợ Cầu Ông Lãnh mà dám thách đấu thì chắc cũng chả vừa gì. Tấn bình tĩnh chờ tới lúc đấu. Anh đã từng học Nhu đạo, Thái cực đạo, và Hiệp khí đạo từ lâu.

    Không hiểu sao, Tấn lại mê võ nghệ đến như vậy. Hồi đó, cứ có tiền chị Hai cho, là phóng đi xem cinê. Những phim võ đạo của Nhật là mê như điếu đổ. Nào là “Hiệp sĩ Mù” nghe gió kiếm, “Độc thủ đại hiệp” có vai chính cụt tay, rồi “Nữ độc thủ đại hiệp” là một cô què tay, rút kiếm bằng răng, múa kiếm nhanh như gió. Anh mê nhất là Toshiro Mifuné, một vai lớn tuổi lầm lầm lì lì, không bao giờ cười, nhưng đánh thì mạnh vô cùng, rồi đến Yoshiho Yoshida, một hiệp sĩ trẻ, ném búa như trò chơi, và ông hiệp sĩ mù già, mập mập, mắt nhấp nháy, chống cây kiếm nhỏ đi lờ quờ ngoài đường, nhưng có chuyện gì là vung kiếm lên nhanh hơn ánh chớp. Chú ruồi bay qua, quấy quả, bị ông vút kiếm lên là đời chú ruồi đứt làm hai! Vì vậy, mà Tấn mê mải xin tiền chị cho đi học võ, trong khi mẹ Tấn lại không thích tí nào võ nghệ. Chị Hai cho tiền mua quần áo võ sinh, nhưng phải dấu mẹ, nếu Mẹ bắt gặp được là bà cụ xé liền. Tấn lại đi năn nỉ chị lúc đó ở nhà chồng rồi. Chị Hai thương Tấn nên xin gì cũng cho. Mỗi lần Tấn đến, nhìn vẻ mặt thảm não của đứa em, chị lại “hừ hừ” rồi hỏi:

    -Lại muốn gì đây? Chị hết tiền rồi.

    Nói thì nói vậy, chứ chị Hai không thể từ chối em được cái gì. Thỉnh thoảng chị có ra điều kiện, như khi chưa đậu Trung Học, Tấn xin chị đi học vẽ, chị hứa sẽ cho nếu Tấn đậu Trung Học. Thế là Tấn đậu Bình Thứ. Đi học vẽ ở một lớp Hội Họa trên đường Phan Thanh Giản. Nhưng số Tấn không làm họa sĩ được vì khi đi học, chẳng vẽ gì, lại chỉ vẽ hình đàn ông, đàn bà ở truồng, mẹ xé ráo, cấm Tấn học vẽ. Tấn còn nhớ như in, ngày đầu tiên đến lớp, đang đứng trước giá vẽ với cây bút chì, Tấn ngạc nhiên thấy một cô gái mặc áo dài trắng từ từ bước lên bục, từ từ giật “tắc, tắc, tắc” những nút bấm của chiếc áo dài ra, từ từ vươn người gỡ tay áo, từ từ lột chiếc áo ra khỏi thân thể... Tấn há hốc mồm, hơi thở như ngưng lại khi thấy chiếc áo lót trắng vun lên. Nhưng chưa hết, cô bé lại vươn tay về phía sau, bật một cái, chiếc nịt ngực tuột ra, và toàn bộ tòa nhà thiên nhiên hiện rỡ ràng trước mắt Tấn. Cô gái lặng lẽ ngồi xuống trên chiếc ghế đẩu đặt sẵn, gác một tay lên chiếc giá bên cạnh, và nhìn vào một chỗ hư vô nào đó. Run rẩy một hồi, không biết là thầy đã đến bên cạnh. Thầy “cốc” vào đầu Tấn một cái và nói:

    -Vẽ đi, đứng thần người ra đó làm gì!

    Và, thầy bắt đầu chỉ cho Tấn cách cầm cái bút chì lên, giơ thẳng tay, nhắm vào cô người mẫu, lấy kích thước. Này nhé, nhắm một mắt lại, dùng ngón tay cái bấm lên bút chì lấy cỡ của cái đầu, làm chuẩn, xong đưa xuống ngực, xem đường dưới của bộ ngực bằng bao nhiêu phần của đầu, xong lại đưa xuống bụng, xem là toàn bộ từ đỉnh tóc đến dưới bụng là bao nhiêu cái đầu. Nhắm xem một cái đầu là mấy cái mông, mấy phần chân, mấy phần tay. Rồi lấy bút gạch một khung chuẩn bằng một cái đầu ở trên tờ giấy, đo xuống mấy lần cái đầu, gạch ngang, nhớ lấy một phần đầu nữa xem có tới chỗ ngực chưa, tới chỗ chuẩn nào thì gạch chỗ đấy. Rồi cũng như vậy, lấy bề ngang của cái đầu, xem từ bờ vai này qua bờ vai kia là bao nhiêu lần đầu, gạch một cái.. Nhớ là đừng để ngực sệ xuống, bên cao bên thấp trông kỳ lắm...

    Những lời thầy dậy cứ ù ù cạc cạc trong đầu anh thanh niên mới lớn, sung sức, chưa một lần nhìn thấy đàn bà. Tấn cứ mê đi, gạch bừa, này mắt, mũi, miệng, ngực, bụng, đùi, hông... Bức hình đầu tiên vẽ sau mấy tuần trông như ma nhát. Mắt thì méo, ngực bên to bên nhỏ, mông thì chẩy xệ xuống. Nhưng thầy thấy vậy lại không chê, còn khích lệ nữa. Lần đầu mà vẽ như vậy là tốt rồi. Lần sau khá hơn. Lần sau khá hơn thật, người ngợm đã đủ dáng vẻ khêu gợi hơn. Cứ thế, mà Tấn say mê với những hình khỏa thân để mẹ xé đi hoài. Lần đầu nhìn thấy bức tranh, mẹ điên lên. Thằng quỷ này, vẽ gì mà toàn ma quỷ không à? Ma quỷ! Ma quỷ! Tấn ú ớ bào chữa. Đâu có ma quỷ gì đâu, mấy minh tinh mà! Brigitte Bardot này. Xê Xê này. Sophia Loren mà! Nhưng những tên đó không gợi được trong tâm mẹ một chút hứng thú nào, chỉ là mấy con ma con quỷ, con nhà Satăng, nên mỗi lần vẽ xong, Tấn phải dấu tranh của mình tại nhà bạn, không dám mang về, rồi bị mấy thằng trời đánh kia “chôm”(19) luôn.

    Nhưng dấu mãi cũng không thể che hết khe hở, mẹ lại biết, mẹ cấm tiệt. Nếu con Hai mà còn cho thằng Tấn học vẽ nữa thì biết tay tao. Thế là chấm dứt hội họa. Tấn tiếc hùi hụi, vì mẹ không thông cảm mà thế giới mất đi một “nhân tài hội họa”! Tấn lại xin học võ. Chị Hai bắt Tấn phải đậu Tú Tài, Tấn hứa cố gắng. Nhưng đi học võ rồi thì mê quá, quên học chữ, Tấn rớt hai lần, chưa kể những tai nạn xẩy ra thường xuyên khi học võ như gẫy vai, trật đầu gối, lọi tay, cụp xương hông.. làm chị cúp tiền võ nghệ. Rồi mẹ phải tống Tấn vào nội trú để mong thi đậu. Mẹ đâu biết hôm nay con mẹ thách đấu với thằng Trịnh Xù, vua du đãng nội trú.

    Hai thằng đợi ăn cơm chiều xong một lúc lâu, thầy Trạc đi đọc kinh trong nhà xứ, chả còn ai trông coi lũ quỷ non, thì kéo nhau ra sân. Cả bọn nội trú lừng lững đi theo, không gây một tiếng động nào. Tất cả yên lặng ngồi, đứng dài dài theo cửa lớp, vẻ mặt nghiêm trọng.

    Tấn và Trịnh bước ra sân. Không nói một câu nào, không chửi thề, hai thằng đối mặt nhau, gờm gờm. Tấn thủ thế đinh tấn, chân co chân duỗi, hai tay xòe ra. Trịnh thủ Chảo mã tấn, chân trước co lại, chân sau trụ vững. Chợt Trịnh ra tay trước, dứ một cú đấm giả vào mặt Tấn, để chờ cơ hội tung quả đấm thật, nhưng Tấn thừa biết cái đòn đó rồi. Tấn chỉ nghiêng người ra sau né quả đấm, không giơ tay đỡ. Thấy Tấn tránh được chiêu này, Trịnh ngay lập tức biến chiêu, đẩy mạnh cú đấm giả thành đấm thiệt, đồng thời cất cao chân phóng một cú đá chân trái sấm sét vào Tấn. Với cú này thì không thể không tránh, Tấn mau lẹ nhún chân trái, búng người tới về phía phải của Trịnh. Khi ngón chân vừa chạm đất, Tấn xoay mạnh người theo một vòng cung sang bên phải, lập tức người Tấn đã ở phía sau lưng Trịnh theo một thế di hoán của Aikido định đánh tập hậu. Trịnh cũng không vừa, với kinh nghiệm bao năm đâm chém, đánh lộn ngoài đường, Trịnh nhẩy ngay về phía trước mà không nhìn lại phía sau, vì nếu chỉ quay đầu lại tìm địch thủ thì sẽ nhận ngay một cú đì rếch vào mặt trong tích tắc. Nếu Tấn nhẩy theo là dính ngay cú “hồi mã thương” của Trịnh. Nhưng vì Tấn đã biết tỏng cú này rồi,

    nên không rượt theo. Hai tay địch thủ đều đứng lại, khâm phục lẫn nhau. Lũ khán giả đứng coi vỗ tay ào ào.

    Lại thủ thế. Tấn xuống đinh tấn, hai tay khum khum để trước mặt, chuẩn bị cú đá chân phải một khi chuyển sức nặng sang chân trái là chân hư để biến thành chân trụ, trong khi chân phải đang trụ lại biến thành chân đá. Trịnh đứng nhìn Tấn chuyển chân qua lại, suy nghĩ tìm đường tấn công. Điệu này xử dụng đòn đá khó quá. Không biết nó sẽ sử dụng chân nào để đá mình đây? Thôi đành chơi đòn nhập nội rồi tính. Bất ngờ Trịnh phóng tới, vút một quả đấm trái vào mặt Tấn, đợi Tấn hơi nghiêng người tránh, liền xoay người đúng một vòng, giật cùi chỏ phải vào ngực Tấn. Cũng là “hồi mã thương” nhưng lần này là đòn thế liên tục của một chiêu hư. Vừa lúc ấy, Tấn giơ tay chụp lấy cùi chỏ Trịnh, vặn sang một bên. Trịnh chỉ chờ có thế, xoay vòng ngược người lại, dập thêm một cú cùi chỏ thứ hai bằng khuyủ tay trái. Cú này mới là cú thật, khó có thể đỡ, sức mạnh kinh người. Trịnh đinh ninh là với hai thế liên tục ngược chiều như thế này thì trừ Ba Lẹm ra, không ai tránh khỏi dập ngực, choáng váng cả ngày. Nhưng, tiếc là Trịnh đã gặp Tấn, nên cú đỡ cùi chỏ phải chỉ là đỡ hư, chờ cho Trịnh xoay hẳn người lại, lọt vào trong lòng Tấn với cái cùi chỏ ấy, Tấn dùng luôn thế “Kubi Nage” là một loại đòn kẹp cổ của nhu đạo, tay phải kẹp cổ Trịnh, hông hất lên một cái là Trịnh nằm thẳng cẳng dưới đất, trong khi tay Tấn vẫn vòng qua cổ Trịnh. Tấn đã thắng. Nhưng, một con người chuyên đánh lộn, không cần võ thuật như Trịnh đâu có lý lại thua một cách dễ dàng như vậy. Vì đòn “Kubi Nage” này chưa được xử dụng chuẩn xác thành ra người xử dụng vẫn phải ghì chặt người bị đánh dưới đất, thay vì đúng lý ra, chỉ quật cho đối thủ tung lên rồi buông tay thì kẻ bị đánh sẽ đo ván đau đớn hoặc nếu kẹp đúng chỗ thì chỉ hai phút là đối thủ đầu hàng vì nghẹt thở. Còn ở đây, Tấn vẫn phải tiếp tục kẹp cổ Trịnh hoài, chờ đổi chiêu mới. Nhưng, tình thế không phải như vậy. Lợi dụng lúc mặt Tấn nằm ngang gần mặt đất, Trịnh dùng hai tay chụp lấy tóc của Tấn, rồi một tay ghì tóc, một tay ghè mạnh mặt Tấn xuống sân trường, lúc đó chưa được đổ xi măng, còn nguyên đá xanh vụn, lởm chởm những cạnh sắc như dao, mà nghiến răng cọ sát mặt Tấn trên mặt đá. Tấn cố chống lại, nhưng tay Trịnh khỏe quá, nên mặt Tấn bị cà trên những cạnh sắc của đá, đau điếng. Chừng một lúc, cảm thấy máu bắt đầu rịn ra trên má và khuôn mặt đẹp trai của mình sắp sửa tiêu vong vì sẹo, trong khi còn lâu Trịnh mới bị nghẹt thở, Tấn vội vàng buông tay ra:

    -Thôi, tao thua. Mày chơi ác quá. Đòn giang hồ của mày, tao đánh không lại.

    Thế là cuộc chiến tan. Khán giả đứng dậy, bàng hoàng, vỗ tay râm ran. “Đ. m., hai thằng đánh đẹp quá!” Để rồi, sau đó, cảm phục tài nhau, Trịnh và Tấn thân nhau thắm thiết. Tấn bảo Trịnh:

    -Mẹ kiếp! Mày hay thật! Đánh đòn kiểu “cà- chớn-chống-xâm-lăng” như mày thì võ sư nào chịu nổi.

    Trịnh nói với Tấn:

    -Mẹ! Mày đánh đẹp thiệt! Nhưng chơi đòn kiểu quân tử như mày có bữa mất mạng. Du đãng như tao không cần đánh đẹp. Lúc thua, cũng có thể nhào vô cắn, xé, đâm, dập, giật tóc, đá vô dái, hay làm bất cứ cái gì để thắng trận hoặc sống còn.

    Như vậy mà thân nhau. Cứ cuối tuần, lũ “con bà Phước”, danh từ đặt cho lũ học trò nội trú không có người nhà tới thăm như Tấn, Trịnh, và Lâm sì-cà- cồ, lại rủ nhau leo rào ra ngoài ăn “cơm chùa.” Nghĩa là nếu Trịnh hay Lâm có tiền, thì ăn phở xong, trả tiền đàng hoàng, nhưng bao nhiêu trái chanh trên bàn, bao nhiêu hũ đường đều bị đổ vào túi hết. Tăm bị bưng đi cả hộp. Sau khi lũ “con bà Phước” này ra khỏi tiệm thì quán gần như hết đường, tăm, và chanh. Nếu không có tiền, thì Tấn phải “nằm vali”, có nghĩa là Trịnh và Lâm làm bộ ra trước, còn lại mình Tấn, ngồi một hồi không thấy ai trở lại, bèn mếu máo, kể lể, bị bạn bè gạt. Chủ tiệm thấy Tấn hiền lành, trắng trẻo, ăn nói nhỏ nhẹ, đều tin lời và “tha Tào”, cho về. Cả bọn biết rằng chỉ có Tấn đóng đuợc vai trò này, vì nếu để bất cứ tên ba trợn nào ở lại, chủ tiệm sẽ nhìn vào vẻ mặt và dáng người mà gọi cảnh sát bắt bỏ bót ngay. Còn Tấn, luôn luôn ra về thênh thang, lại được thêm câu: “Tội nghiệp, cậu này hiền quá, dễ bị bạn bè gạt!” Nếu có mấy cô con bà chủ đứng bán thì thể nào cũng có tiếng thở dài, và lời mời “hôm nào, trở lại nhé!” Tấn cứ lợi dụng cái vẻ thư sinh bề ngoài của mình mà ăn cơm chùa hoài, còn khi về trường, lại đàn đúm với lũ mất dậy, trở thành một tên láu cá như ranh.

    Nhìn bề ngoài, trường nội trú thường cho các bậc cha mẹ cái cảm giác là con cái mình sẽ được rèn luyện nhân cách, giáo dục kỹ hơn trường tư, nhưng thật sự, lại là nơi mà những kẻ ngây thơ vào đây, sau khi ra trường sẽ chửi thề, nói tục, trai gái, lừa gạt như ma cạo. Tấn cũng thế, khi vào trường thì ngoan như cừu, nhưng rồi thì biến chất thành mất dậy. Được cái là bề ngoài Tấn lúc nào cũng ăn mặc gọn ghẽ, áo bỏ trong quần, đi xăng đan da, đầu cắt ngắn, nên ai cũng tưởng Tấn ngoan. Nếu có chuyện xẩy ra, không ai nghi ngờ gì Tấn, chỉ chú mục vào mấy tên ngông nghênh như Trịnh, Lâm, hay Gừng, mà không ai hỏi thăm Tấn cả. Như lần bốn cây cọc mùng bằng gỗ cứng của thầy Trạc bị đá gẫy, đành rằng đó là tác phẩm của Trịnh, nhưng người xúi bẩy lại là Tấn. (Giường của thầy Trạc đặt ngay cửa ra vào phòng ngủ của mấy thằng lựu đạn, để canh không cho thằng nào trốn đi ban đêm.) Như lần đi cầu rồi gói phân trong tờ báo, để lên nóc mùng của thầy Trạc, làm nửa đêm, ngửi thấy thối, thầy nhổm dậy, đụng ngay vào gói phân, bể ra tung tóe, phải đi giặt mùng và tắm suốt cả đêm, thầy không tí gì nghi là Tấn, chỉ đổ cho thằng Trịnh, Gừng, và Lâm, hoặc Thanh-răng-dàng mà thôi. Như những lần hút thuốc lá lén lút trong cầu tiêu ban đêm, hoặc ăn trộm mấy miếng cơm cháy trong nhà bếp, đem vào giường, đợi thầy Trạc ngủ rồi thì mang ra gặm “rộp rộp”, thầy luôn nghĩ rằng thủ phạm là mấy tên kia. Cha Hiệu trưởng cũng thế. Cứ nghĩ là Tấn hiền lành, ngoan ngoãn, học cũng đường được, nên một hôm, ngài gọi Tấn lên, dỗ ngọt:

    -Mày theo cha làm “cha” không? Cha thấy mày cũng được lắm đấy!

    Tấn hết hồn hết vía. Con lạy Cha, “mea culpa, mea culpa, mea maxima culpa”, (tiếng Latinh là lỗi tại tôi, lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng), Cha đâu biết rằng con là một thằng mất dậy, hư hỏng lắm rồi. Cha có biết ai là thủ phạm ném cục phấn tẩm mực tím vào chiếc mũ trắng tinh của nhỏ Thiên làm con bé khóc thét lên cả tiếng đồng hồ không? Cha có hay rằng tên ném phá thầy Anh Văn, làm thầy điên lên, quay xuống chửi kinh hồn không? Nào là “tao thách thằng xóm nhà lá nào đánh nhau với tao”, nào là “tao đánh chết mẹ nó, rồi tao bán nhà đi theo kiện với chúng mày...” Còn thủ phạm đổ cát vào bình xăng xe Vêlô của con nhỏ Xuân Duyên nữa? Thằng nào leo rào trốn ra ngoài tối thứ Sáu hôm trước khiến Cha đuổi không kịp? Xin Cha tha cho con, con chỉ tương lai làm “bố” mấy đứa nhỏ thì được, làm Cha không nổi rồi.

    Tấn cứ tàn tàn vậy mà được thầy yêu, bạn quý. Mấy cô con gái trong lớp cũng không chê nếu Tấn chịu nói chuyện. Lớp Tấn có năm cô nữ sinh. Đặc biệt có tới ba cô cùng tên Duyên. Một cô là Ngọc Duyên, biệt hiệu mà tụi xóm nhà lá đặt là Duyên-ba-tê, lý do, theo Trịnh nói, “nó ngon như một miếng ba-tê gan.” Cô Khổng thị Duyên thì hiền lành quá cỡ, không tay mất dậy nào nỡ chọc ghẹo, cô cứ một điều “các anh, em” thì ai dám hó hé gì. Còn cô Xuân Duyên, bị Tấn bỏ cát vào bình xăng, được gọi là Duyên Vêlô, vì cả lớp, chỉ có mỗi mình nàng có chiếc xe Vêlô Sôlếch đen, còn lại toàn đi xe đạp. Nàng điệu rơi điệu rụng, đi học chỉ lo tán thầy giáo, làm thầy toán mê mệt, em làm bài dở ẹt, nhưng kỳ nào cũng được mười mấy điểm. Thầy nào, em cũng làm duyên khi không thuộc bài, chỉ có thầy Nguyễn văn Đ. dậy Vạn Vật, nghiêm như hòn đá tảng, thì em không dám ho he. Thầy Nguyễn văn K., dậy Pháp văn cũng thế. Thầy lại bị cụt một bàn tay, dùng bàn tay giả, và lại rất nghiêm, tuy thỉnh thoảng thầy cũng hát vài bài tiếng Pháp. Tấn nhớ là thầy hay hát ru trong khi hai tay thì vòng ra trước bụng làm bộ đu đưa võng em bé. (Thầy về sau làm đại sứ, vì thầy có ông anh làm trùm miền Nam.) Còn Thanh thì thiệt là thùy mị, người lúc nào cũng nghiêm nghị, chỉ cười nhẹ nhàng, dễ thương, nhưng không thích nói chuyện linh tinh lang tang như các nàng khác. Cuối cùng là Ngô thị Thiên, người đẹp nõn nường, còn điệu hơn Xuân Duyên nữa, vì lúc nào cũng áo dài trắng lốp. Mười bẩy tuổi mà nàng chín mùi như mít tố nữ nên người đẹp không thèm nói chuyện với ai, ngay cả với bạn gái cùng bàn. Ngồi tuốt trong vách, nàng treo chiếc mũ trắng tinh của nàng trên cái đinh vô tình được đóng ở trên đầu. Thế là một hôm, Tấn ngứa mắt, đợi em ra chơi, nhúng cục phấn vào mực tím, bắn “tách” một cái lên trúng chiếc mũ. Mực tím bay vào chiếc mũ biến chiếc mũ đẹp thành một miếng giẻ, làm em khóc thét lên cả giờ đồng hồ, mà không cảnh sát nào tìm ra thủ phạm.

    Cuối năm ấy, Tấn đỗ Tú Tài thoải mái. Những bạn cũ thay trường, đổi bạn, thằng Hiến Mù định theo nghề Y, thằng Chính theo Dược, mấy thằng khác tính làm giáo sư, trong đó có Thanh, còn Tấn thì tiếp tục lang bang. Nhà nghèo, không có tiền học tiếp, mẹ bắt đi làm, nhưng đâu kiếm ra việc với cái bằng Tú một quèn. Và, bây giờ, gặp Trịnh trong một thế đói khổ cùng cực. Tấn thở dài. Que Sera Sera. Kệ, tới đâu hay tới đó.

    CHƯƠNG SÁU

    GIANG HỒ ĐẠI ĐẠO



    Tấn đi theo Trịnh ra tới đường Yên Đổ, góc ngã tư Hai Bà Trưng. Ở đây có nhiều ngõ hẻm chạy lung tung, trong đó có hẻm vào trường Tân Thạnh, nơi đó, Trịnh đã từng bị đuổi trước khi vào Đắc Lộ. Theo lời kể của Trịnh, hôm đó, vì lý do không thuộc bài, thầy giáo gọi Trịnh đứng lên, chửi cho một mách. Trịnh nóng mặt, vì bị quê với mấy đứa con gái, nên cãi lại. Thầy giận quá, hét lên, đuổi Trịnh ra ngoài. Bẽ mặt, Trịnh chơi ẩu. Đứng ngay tại bàn, Trịnh đáp:

    -Nghỉ thì nghỉ, sợ đếch gì.

    Rồi tàn tàn đi ra ngoài. Thầy giơ tay vung nắm đấm về phía Trịnh, cậu công tử bột mì này trợn mắt lên:

    -Nè, tui nói thầy hay nghe, tui là nhịn thầy lắm đó, đừng để tui nóng lên, là vợ con thầy khóc ré lên.

    Thầy giận muốn phát điên, lắp bắp:

    -Cái thằng... mất dậy. Đồ con nhà.. vô giáo dục! Du đãng.. lựu đạn..

    Trịnh nghe một tràng đại liên chửi bới như thế thì cơn du đãng thứ thiệt nổi lên. Đứng ngay giữa bàn, giữa mấy chục cặp mắt nhìn vào, cả nam cả nữ, Trịnh hát lớn “Bi bốp à lu lá”, một bài hát nổi tiếng của Mỹ hồi đó, rồi làm một cử chỉ bằng tay rất mất dậy! Cả lớp rú lên, con gái thì cắm đầu xuống bàn, con trai thì cười như điên, cũng có vài tay chửi đổng “đồ khốn nạn!” Trịnh từ từ đi ra khỏi lớp trong sự xôn xao khủng khiếp của ông thầy và học trò.

    Tấn liếc qua cái trường Tân Thạnh rồi liếc lại góc đường, nơi mà Trịnh bảo Tấn đứng chờ. Trịnh bảo:

    -Mày chỉ đứng làm nhiệm vụ “gác cò”, “gác cớm”, nghĩa là thấy cớm ở trên đường Hai bà Trưng đến thì huýt gió lên bài “cầu sông Kwai”, hễ thấy cớm ở phía rạp Văn Hoa đi lại thì hát bài “Ô mê ly”, nghe chưa? Nếu thằng khốn nạn nào mà cự lại tao, hoặc là nó có cứu bồ, thì mày nhào vô đánh hội đồng cho nó sợ luôn. Lỡ gặp cớm, mày cứ chạy về phía đường Trần khắc Chân, chờ tao ở quán nước mía.

    Nghe dặn dò mà tim Tấn đập như trống làng. Lần đầu tham gia cướp cạn, Tấn sợ đến nhũn người ra. Nhưng mà nếu không nghe lời nó, nó giận mình luôn, hết bạn. Vì mình mà nó nẩy ra ý nghĩ này, vì mình mà nó liều mạng cho mình có chút tiền.. làm sao mà từ chối. Tấn cứ đứng mà run rẩy trong khi Trịnh thì tỉnh bơ như không. Nó đi đi lại lại, chờ mồi. Thật ra, câu chuyện cũng chẳng có gì là ghê gớm. Mọi chuyện diễn ra như trong một phim xi nê ngắn ngủi. Một thằng công tử bột mặc áo sơ mi trắng lốp, hở ngực, đi kên kên lại góc đường chỗ Trịnh đang đứng. Đúng là số nó xui tận mạng ngày hôm đó, đeo tòng teng một sợi dây chuyền vàng, mà lại mặc áo hở ngực. Tấn chỉ thấy chớp nháng một cái, Trịnh đã tiến tới trước mặt thằng xui xẻo đó, tay trái thì chụp ngay cái sợi dây chuyền, tay phải vung lên cùng với tiếng gằn giọng:

    -Đ. m. mày, du đãng hả?

    Nói xong, một quả đấm bay ra trúng vào mặt thằng con, bật ra sau. Trong chớp mắt, sợi dây đã nằm trong tay Trịnh. Thằng bé ú ớ:

    _Ủa.. ủa.. tui.. tui.. anh ...anh..

    -Đ. m., còn chối hả? Không chạy ngay về nhà, tao lại dện cho thêm một đạp bây giờ.

    Trịnh vừa dí mặt sát mặt thằng bé vừa giơ nắm đấm lên, dứ dứ. Thằng con hoảng hốt trước vẻ mặt rất cô hồn của tên cướp cạn, lẩy bẩy, lắp bắp vài câu rồi rút lui. Trịnh quay lại nhìn Tấn, thoải mái:

    -Đi mầy, chạy lẹ lên kẻo nó về mách má nó là lôi thôi to.

    Nói xong, hai đứa co cẳng chạy biến vào trong ngõ đối diện bên kia đường. Đến khi thấy chắc không ai đuổi theo, Trịnh đứng lại, ấn sợi dây chuyền vào tay Tấn:

    -Mày cầm lấy, đi tới tiệm cầm đồ nào xa xa chỗ này, tới chỗ Nguyễn Huỳnh Đức thì tốt hơn. Góc đường Võ di Nguy và Nguyễn Huỳnh Đức ấy. Vào trong đường ấy, tiệm cầm đồ ở bên tay phải, trong nó hơi dơ dơ, cầm đại lấy hai trăm, cái này khoảng năm trăm, mày cầm rẻ chả ai hỏi han chi. Đừng đòi cao, nó lại hỏi giấy tờ, rồi kêu cảnh sát là mày rồi đời.

    Rồi quay đi:

    -Thôi, tao về. Tối, tao lại mày đưa mày đi chơi.

    Tấn lắp bắp:

    -Thôi, thôi, mày ơi, để tao kiếm mày. Mày đừng lại chỗ tao ở nhờ. Ông già nghiêm khắc lắm. Thấy cái đầu xù của mày tới, cả nhà phát hoảng lên ngay.

    Trịnh cười:

    -Mẹ! Mày làm như tao là ăn cướp thứ dữ.

    Tấn ráng cười:

    -Mày không là cướp thì là giật đồ. Trông thấy mặt mày, ai cũng hãi.

    Trịnh cười cười, vừa lầm bầm vừa bước đi:

    -Đời mà mày! Cá ăn kiến, kiến ăn cá.

    Tấn đứng nhìn theo dáng Trịnh cô hồn đi vòng kiềng. Chiếc quần túm ống chật chội, co lên co xuống.

    Lần đầu tiên trong đời, Tấn tham gia vào một vụ cướp cạn. Cậu thư sinh đã thành tòng phạm. Tấn Tây đã không còn trong trắng nữa. Anh cúi đầu bước đi. Nhớ lại lời cha Hiệu Trưởng: “Mày theo cha làm cha không? Cha thấy mày cũng được lắm đấy!” Tấn bùi ngùi muốn ứa nước mắt. Cha ơi! Nếu cha mà nhìn thấy con lúc này..

    Tấn bây giờ đã lột xác, không còn là chú bé lúc nào cũng bám bên chân người mẹ hiền, để được mẹ cho đi chơi khắp chốn. Vì mẹ buôn hàng chuyến, nên phải đi rất nhiều đến các tỉnh xa. Từ Phủ Lý với những mái nhà ngói cũ xì, Nam Định với những căn gác nhỏ, trên gác là cái chiếu bẩn đục, không bao giờ giặt vì chỉ để cho ông chú họ nằm dài ra hút thuốc phiện, đến tận Lạng Sơn nơi núi cao chập chùng, sương rơi mù mịt, những người dân đi chân đất trên tất cả mọi địa hình, Hải Phòng với những ngôi chợ đông như kiến, ai lạ vào cũng lạc mất lối ra, rồi Hải Dương, Thái Bình... Bao nhiêu là nơi, Tấn không thể nào nhớ hết. Những con thuyền đinh cao thật cao đối với bước chân nhỏ bé của Tấn, leo lên run rẩy, để bàng hoàng ngồi dưới một cái đèn dầu có cái chụp bằng một cái chai đập mất đít chao qua chao lại. Những chiếc xe “ca” dằn vật khách như tra tấn trong một không gian đầy bụi đỏ của những xe đi trước. Và “canô” là chiếc tầu cũ kỹ đến run người. Muốn lên “canô”, phải đi trên một tấm ván bồng bềnh gác từ tầu vào bờ làm bao nhiêu người rơi xuống sông vô tội vạ.

    Tấn cứ quấn lấy mẹ đi ăn nhiều món lạ. Như món ăn “tả pí lù” bất hủ mà mẹ hay gọi cho ăn ở chợ: bỏ bánh cuốn thanh trì vào phở, ăn ngon lạ lùng. Những chiếc bánh bèo to như chiếc guốc, bè bè ra, trên là hành mỡ béo ngậy. Món trứng đúc “rươi” là những con trùng xanh xanh đỏ đỏ vàng vàng mà người ta vớt trên mặt ruộng khi thời tiết thay đổi, thơm lừng mũi... Cho đến những ngày trước khi di cư, mẹ cưng chiều Tấn vô cùng, hai mẹ con cùng ăn, cùng ngủ, cùng bắt muỗi. Mỗi tối, sau khi bỏ mùng, mẹ mang cái đèn dầu Hoa Kỳ vào, lừa lứa chú muỗi nào đang đậu trên mùng, là mẹ dí đèn vào đít muỗi, chú muỗi lăn quay ra ngay, cháy xèo. Tấn cũng tranh làm với mẹ, hai mẹ con rủ rỉ mãi mới ngủ. Trước khi ngủ, Tấn còn sờ tí mẹ rồi mới nhắm mắt. Mãi cho tới khi vào Sàigòn, làm ăn vất vả quá, mẹ lại bị mấy mẹ con nhà Tâm, bạn của chị, lừa hết vốn, mẹ đâm bẳn gắt suốt ngày, Tấn lại hay trêu ngươi mẹ, nên mẹ trở nên cộc cằn, đánh Tấn tưng bừng, mấy lần tưởng chết, bác sĩ ở nhà thương đã mấy lần thở dài....

    Nhìn chung quanh một vòng không thấy ai, Tấn thò tay vào túi, lôi sợi dây chuyền ra ngắm. Sợi dây sáng lấp lánh trong tay.
  6. SAN JOSE CÓ GÌ LẠ KHÔNG, EM?



    Có lẽ trong số dân trung niên, tầm tầm, rất ít người không biết đến câu: “Paris có gì lạ không, em?” Hồi ấy, nghe câu thơ này, tự dưng trong hồn thấy cơn lãng mạn dâng trào, con trai thì phải làm ngay một ly cà phê cho đã, hoặc “rít” một hơi thuốc lá cho tới tận cuống, rồi bâng khuâng nhả khói chầm chậm, nhẹ nhàng để làn khói bay lảng vảng trong không một lúc rồi mới tan đi. Còn con gái? Nho nhỏ thì ôm lấy cuốn “Lưu bút ngày xanh” vào lòng, mắt lơ đãng nhìn vào những tấm hình bạn bè và những dòng chữ thân thương, để nhớ đến cánh bướm vàng khô ép trong cuốn vở trắng tinh, những lời gán ghép đỏ mặt,và những giây phút vui đùa rũ rượi bên nhau. Nhớn nhớn một chút thì cắn môi, tay vân vê những sợi tóc dài buông thả trên bờ vai, nhìn qua cửa sổ, hướng về phía cánh cửa nhà của “chàng” cách đấy không xa, lắng nghe tiếng đàn ghi-ta chập chững của chàng mà tơ tưởng đến một thành phố diệu vợi bên trời Tây biền biệt kia, có dòng sông Seine lờ lững uốn quanh phố thị như cánh tay của nàng Venus đa tình đang vươn ra, mời mọc.

    Nhưng rồi, thời gian qua, có dịp đến Paris, để thấy Paris chẳng có gì lạ cả! Y hệt như trong những tấm “carte postal” ngày xưa. Dù hai, ba chục năm trôi qua, Paris vẫn thế, vẫn nóc thánh đường cổ kính, vẫn tháp Eiffel xương xẩu, và những con đường chật hẹp chỉ đủ lọt một chiếc xe hơi và một chiếc xe đạp. Dân Paris đi làm, ăn mặc chững chạc, “complê, cravát”, nhưng tay lại cắp một ổ bánh mì dài thòng không nhân, cuộn trong một tờ giấy vàng ố. Ðường xá nhiều xe, nhưng đa số là xe tàn và tắc xi, những anh tắc xi “chém” bạo hơn máy chém thời Robespiere, vừa bước lên xe đã thấy đồng hồ nhẩy vài đôla rồi; hỏi tài xế thì cho biết đó là tiền “baga”, nghĩa là tiền chở đồ! Vào tiệm uống cà phê thì coi chừng cà phê Paris làm loãng máu, vì giá dành riêng cho du khách được tính đặc biệt, uống xong một ly thì xây xẩm mặt mày, máu tan ra như nước. Nếu đói bụng mà muốn thưởng thức cơm Tầu, Paris đãi khách bằng loại hủ tiếu không thịt, chỉ toàn bánh và nước. Muốn có thịt, phải kêu riêng một tô thịt riêng, giá tương đương với tô bánh. Paris chật hẹp, Paris không có nước xài thả giàn như ở Mỹ, dân Paris hai, ba ngày tắm một lần, nên nước hoa Paris bán đầy phố. Khách sạn Paris có hai loại: Loại quyền quý, loại trung bình. Loại quyền quý thì không dám bước chân vào, sợ khi trả buồng, bước ra thì cụt cẳng. Loại trung bình thì chán phè, buồng chật, thang máy hẹp, phòng tắm bé tẻo tèo teo, nhìn khăn trải giường không dám nằm úp mặt xuống. Bởi vậy, Paris chẳng có gì lạ cả. Chắc thêm ba chục năm nữa, Paris vẫn là một vũ nữ về chiều, ngồi trên ghế đá, lắc lư đầu nhìn khách vội vã bước qua.

    Trong khi đó, thì tại tiểu bang miền viễn Tây này, có một thành phố mà lúc nào lên chơi cũng thấy lạ: San Jose!

    Từ Orange lên miền Bắc, xe vượt qua những con đèo ngoằn ngoèo, rồi tới một khoảng dài xa lộ mà chỉ có một “lane”, đi ban đêm, tim đập thình thịch, chỉ sợ vừa quẹo ra là thấy lù lù một chiếc xe tải khổng lồ đâm sầm tới. Và những khúc xa lộ chạy trong thành phố, những vườn nho lẩn giữa những trang trại kiểu xưa đột ngột biến hiện trong những tòa nhà đang xây cất hiện đại. Rồi thung lũng hoa vàng từ từ hiện ra, rất sương khói, rất mờ nhạt, và rất lạ. Xa lộ cũng từng ấy “lane” mà hình như khác với xa lộ Orange, không diễn tả được. Cũng kẹt xe, cũng xe cộ nối đuôi nhau, nhưng một khi vào tới xa lộ San Jose rồi, thì cảm giác lâng lâng sao đó, không còn cảm thấy sự căng thẳng của lái xe lâu giờ, không thấy “road rage” làm muốn chửi thề liên tục, không thích bấm còi dầu người bên cạnh lái ẩu, mà chỉ muốn tha thứ, muốn mỉm cười với người không quen. Sao vậy, nhỉ? San Jose có chi lạ mà mỗi lần lên, lại như trẻ hẳn ra? Quán ăn San Jose cũng bàn, cũng ghế, cũng phở, cũng bún bò Huế, cũng hủ tiếu, cơm tấm, nhưng hình như bà chủ San Jose dễ thương hơn, tươi mát hơn, nên thức ăn có vị đậm đà hơn.

    Quán cà phê San Jose buổi sáng vắng hoe, không ồn ào như Orange, nên thưởng thức một ly nong nóng vào lúc sương còn lảng vảng trong hồn, thấy như cà phê San Jose độc nhất vô nhị. Trong cà phê có pha sương, trong sữa đậu nành có chút gió, trong tô phở có nụ cười. Giá sống ở đây trắng nuốt như nàng sơn nữ Phà Ca, rau răm ở đây nhấp nháy như cặp mắt ai Quan Họ. Ăn uống ở đây, tình tứ và lãng mạn hơn Paris nhiều.

    Buổi tối, lái xe đi vòng vòng thành phố, thấy San Jose như cô thiếu nữ kiều diễm, nửa Tây Phương, nửa Châu Á, thay đổi mầu áo từng giờ, từng phút. Những quán sách, dĩ nhiên ít sách hơn ở Orange, nhưng lại cám dỗ vô cùng. Những chợ, những quán “to go”, dĩ nhiên nhỏ hơn Orange, nhưng lại đầm ấm hơn, thân thiết hơn, bước vào chỉ muốn mua một chút gì đó, rồi tần ngần bước ra, muốn để một chân lại trong cửa. Hình như khí hậu ẩm ẩm, lành lạnh làm cho San Jose có một không khí lúc nào cũng lạ.

    Như thế, đến San Jose rồi là không muốn về, dù San Jose đất chật, người đông. Nhất là một hôm, San Jose tặng cho một kỷ niệm đẹp, mãi mãi không quên. Chiều Chủ Nhật ấy, San Jose mưa như mưa tháng Bẩy, người Orange đi lễ tại một ngôi nhà thờ cổ kính nằm giữa lòng thành phố. Orange đậu xe lại, giương dù định bước ra, chợt thấy ngay bên cạnh, San Jose cũng vừa đậu xe, mà ngập ngừng nhìn lên trời, đếm những hột mưa ào ào rơi xuống như những sợi chỉ thủy tinh trắng trong. San Jose quên dù ở nhà mất rồi! Orange suy nghĩ trong một giây, rồi bước đến cạnh xe San Jose, gõ cửa nhè nhẹ, rồi lấy tay chỉ chỉ vào cây dù. Cặp mắt nai San Jose mở to, ngần ngại trong giây lát rồi khép nhẹ. Cánh tay nhẹ nhàng đưa xuống mở cửa. Cây dù của Orange nghiêng vào, che mái tóc, rồi che cho cả chiếc váy đen dài của San Jose. Từ ấy, dưới mái dù ấy, chân Orange và San Jose đi cạnh nhau, tránh vũng nước này, nhẩy lên viên gạch nọ, lách qua bụi cây, bước lên thềm giáo đường. Tới dưới mái hiên, dù gấp lại, và nghe rõ tiếng cây dù thở dài. Sao mưa không tạt vào ướt cả thánh đường để dù được giương lên mãi? Dù bâng khuâng, và ráng mỉm miệng cười khi nghe tiếng “thanks” nhỏ nhẹ, ngân vang trong lòng dù.

    Thánh lễ hôm ấy hình như dài hơn mọi hôm. Cha giảng hình như hơi nhiều, người ta chịu lễ hơi đông. Và rồi, chờ mãi thì cũng thấy lễ tất. Bước ra khỏi cửa, gặp ngay cặp mắt San Jose đang đứng chờ. Vẫn lặng lẽ, không một lời chào, không một gật đầu, dù giương cao, che cho mái tóc San Jose khỏi ướt, và lại trở lại con đường cũ. Không, không phải, đường này sai rồi, tại cây dù lúng túng nên đi lạc rồi, không thấy xe đâu. Hay Orange cố tình đi lạc? Không phải đâu, Orange đang cố dõi mắt tìm xe chứ! Ðây, đây rồi. Xe San Jose đậu cạnh xe Orange đây. Cánh cửa mở ra, San Jose bước vào và ngước lên nhìn. Mắt San Jose mở lớn đến nỗi Orange thấy cả mình trong đó. “Thanks.” Tiếng nói thứ hai và là tiếng cuối cùng. Xe San Jose từ từ chuyển bánh. Orange bỗng tự nhiên thấy mình già hẳn. Mới phút trước là chàng thanh niên trung niên, hùng tráng, mạnh bạo; chỉ phút sau, chân đã lập cập kiểu ông già tám mươi, tay rung rung cắm chìa khóa mãi mà không vào, đóng cửa mãi mà không kín, “đề” mãi mà xe không nổ máy làm nước mưa tung tóe vào, ướt cả tóc tai... Tự dưng, Orange muốn ngâm câu thơ cuối của một bài thơ xưa: “Orange ơi! Hồn ở đâu bây giờ?” nhưng thấy một câu thơ không đủ, người Orange bèn phải viết nguyên một bài thơ tặng cho San Jose như sau:



    San Jose có gì lạ không, em?



    San Jose có gì lạ không, em?
    Hình như, ở đó, tóc em rất mềm
    Hình như gió núi làm em mỏng
    Ðêm lạnh, thở dài, bỗng lạnh thêm.

    San Jose có gì lạ không, em?
    Cà phê buổi sáng chưa đã cơn thèm
    Nhìn qua cửa sổ, như chim sâu nhỏ
    Nửa muốn nằm vùi, nửa muốn bay lên

    San Jose có gì lạ không, em?
    Quán xá về khuya, khách ngồi như thiền
    Thinh lặng ngó hồn theo dòng nhạc
    Thơ thẩn về nơi rất thân quen

    San Jose có gì lạ không, em?
    Chủ Nhật, mưa bay, đi dù rất hiền
    Chân “ma sơ” chạm chân trần thế
    Anh bỗng thèm một vòng lưng êm

    San Jose có gì lạ không, em?
    Giữa ban ngày mà lòng như đêm
    Giọt mưa hôm ấy còn lành lạnh
    Cánh cửa nào đã khép lại hồn em?

    Và San Jose lúc nào cũng lạ
    Người tình lúc nào cũng lãng đãng xa
    Ðến hoài mà vẫn như tờ giấy trắng
    Chưa nụ hôn nào nóng bỏng môi ta.
  7. CHIM HÓT TRONG LỒNG




    Ngày Tết, đi tản bộ dòng dòng quanh các chợ Hoa Bolsa, bất ngờ gặp Thầy Tư Bolsa cũng đang ngao du quanh mấy chậu hoa. Người viết vội khom người cúi chào:

    -Cha chả! Hôm nay Thầy Tư hưỡn đãi dữ? Không ở nhà với Cô Tư nấu bánh tét như mọi năm ư?

    Thầy Tư nhướng cặp kính cận lên:

    -Nấu hôm qua rồi. Hôm nay đi ngắm hoa.

    Người viết cười tủm:

    -Ngắm hoa chi? Hoa biết nói hay hoa không biết nói?

    Thầy Tư hỉnh mũi lên:

    -Tao đâu có còn trẻ như mày đâu mà ngắm hoa biết nói! Ngắm hoa thiệt sướng cặp mắt hơn. Thời buổi này, hoa biết nói nó lạng quạng lắm. Một là nó mê mày, hai là nó chê mày. Không có thái độ đứng giữa, nghĩa là không có thành phần thứ ba.

    Người viết cười hì hì:

    -Thầy Tư Bolsa đã sấp xỉ bẩy bó rồi, mà còn lanh miệng chán! Thôi thì mời thầy đi cà phê “Quên Đi’ làm một phát cà phê chơi.

    Thầy Tư Bolsa lại hỉnh mũi:

    -”Dĩ Vãng” tao còn không tới nữa là “Quên Đi”! Quên làm quái gì! Nhớ thì sướng hơn chứ! Người mất trí nhớ thì còn chi là người!

    Thấy Thầy Tư hôm nay hơi cộc cằn, có lẽ Thầy Tư mới bị Cô Tư quạt cho một vố. Thế thì đành rủ Thầy Tư hôm nay làm một ly cà phê ở tiệm cà phê nhạc... Thầy Tư nhận lời liền.

    Hai thầy trò bước vào quán nhạc hơi vắng khách. Có lẽ tại cà phê không ngon. Nhưng không sao, cứ thử xem.

    Cô chủ quán bật nhạc theo ý Thầy Tư. Thầy có vẻ như khoan khoái lắm, ngồi dựa ngửa người theo tiêng nhạc.

    Hôm nay được nghe bản nhạc “Cô Láng Giềng” trong cát-sét do một ca sĩ nam Bắc kỳ thượng thặng hát : “Hôm nay, trời xuân bao tươi thắm, dừng gót phiêu lưu về thăm nhà, tôi bước trên con đường đầy hoa..”, người viết thấy “phê” quá. Giọng anh ca sĩ này nghe sao mà ngọt, mà ấm áp, làm người nghe tưởng chừng đang lững thững xách cây đàn ghi ta đi trên một con đường quê, có bướm vàng lượn quanh, có sáo diều vi vút, và những lữy tre xanh mượt mà vươn mình trong gió. Rồi cũng từ những câu hát muợt mà đó mà nguời nghe thấy cả một trời lãng mạn thuở nào trở về, những mơ mộng cuả chàng trai mới lớn về những thoáng mắt ai lấp ló bên kia rào, về một bóng dáng thuớt tha vừa luớt qua cánh cửa sổ mở rộng, về một tràng cuời khúc khích nghe vưà ngọt vừa thanh như khi cắn vào một quả mận Đà Lạt mới chín đỏ. Bất ngờ, đang chơi vơi với mộng với mơ, chợt tim người nghe thót lại, làm bật dậy, ngơ ngác như vừa bị ai đó đánh một cú đấm trúng tim. Tiếng hát của anh ca sĩ vang lên: “Coâ Lán Giền ơi! Không biết cô còn nhớ đến tôi..” Trời đất! hát gì mà kỳ dậy, anh hai? Tiếng Việt làm gì có “Cô lán giền”! Chỉ có “Cô láng giềng” thôi! Hay là tại băng bị hư? Hay là tai mình bắt đầu... lãng?

    Thầy Tư hình như cũng cùng một tư tưởng. Thầy ngồi thẳng người lên, giơ tay ra hiệu:-Ngừng lại! Ngừng lại! Quay lại, nghe lại!

    Hồi hộp... Giọng ca trầm ấm kia lại cất lên: “Cô .. lán.. giền.. ơi... !” Thôi rồi, không biết anh chàng này bị lai tiếng nuớc nào đây? Mỹ lai thì không phải? Tây lai? Lào lai? Camphuchia lai?

    Người viết bực dọc:

    -Thầy thấy chưa? Chán nản quá! Trời ạ! Tiếng Việt mình đâu đến nỗi tệ vậy. Nghe mà bắt cái mình!

    Thầy tư lẩm bẩm như nói một mình:

    -Chưa hết đâu. Mày mà nghe mấy cô ca sĩ ký-điệu hát thì còn bực hơn nữa. Rồi thầy Tư kể:

    -Hồi trước đó, tao đang say sưa nghe mấy cô ca sĩ Bắc Kỳ hát một bên Tân Nhạc cũng viết bởi mấy anh nhạc sĩ “ăn cá rô cây”, mà tự dưng cô ca sĩ lại nhái giọng người Nam để ngân lên rằng: “Những chiều hôn có em, phố nhỏ buồn hoan vắn..” hay “thuơn.. em thì thuơn.. rất nhiều mà duyên kiếp lỡ làn rồi!” ,tao nổi cơn giận quá! Nguời ta thuờng nói: “Chửi cha không bằng pha tiếng!” Hát tân nhạc Bắc thì cứ hát cho đúng chữ, đâu có sao đâu mà không hiểu lý do gì cứ phải uốn giọng đi một cách kỳ cục như vậy? Đâu có hay hơn hay hấp dẫn hơn? Nguợc lại là đằng khác.

    Rồi thầy Tư giận dữ nói luôn một hơi:

    -Thông thuờng, với những bài hát có tính cách dân ca Nam Bộ, hay sáng tác tân nhạc nhưng theo kiểu Nam Bộ như “Còn Thương Rau Đắng Mọc Sau Hè”, “Chiếc Áo Bà Ba”.. thì những chữ hát cắt xén như thế đó của nguời Nam lại rất “tình”, rất lãng mạn, mà nếu hát đúng văn phạm lại đâm ra khô khan và không diễn tả nổi cái dễ thương cuả những câu tình tứ của nguời Nam! Những bài tình ca đuợc trai gái hát ở trên sông rạch miền Nam, hát trong những dịp hội hè, hát trong chuơng trình cải luơng, tuồng cổ, hay những bài thuần tuý miền Nam mà hát “không” là “không” sẽ chẳng thể hay bằng hát chữ “khơng” thành “hôn” hay “hông”. Như câu “hổng biết ăn có thương em hôn?” nghe rạo rực và mát lòng, trong khi nói “không biết anh có thương em không?” nghe khô khan và chán ngắt. Nhiều bài ca khác diễn tả cảnh đồng quê miền Nam thì bắt buộc phải hát lai giọng Nam Kỳ, nghe mới thật là đã. Đối lại, với những bài hát “Làng tôi có cây đa cao ngất từng xanh..” mà hát thành “Làn tôi có cây đa cao ngất từn xanh”, hay hát rằng “từn là từn là khi không mà có..”, hoặc “từn cho không, biếu không..” thì thật là quái đản. Chữ “từn” trong câu truớc nguyên gốc là “từng”, hai chữ sau nguyên gốc là “tình”, khác nhau thật xa, không thể nhập nhằng đuợc. Dĩ nhiên cũng có truờng hợp ngoại lệ, chẳng hạn như câu: “Ai cho tôi tình yêu..” mà hát là: “Ai cho tôi từn yêu..” có thể chấp nhận đuợc, nghe thấy dễ thuơng nếu cô ca sĩ là nguời Nam thực sự, không phải Bắc Kỳ giả giọng.

    -Thế thì... Thầy có thể cho biết tại sao mà mấy anh, chị ca sĩ cứ phải đổi giọng như vậy không?

    -Tao cũng không biết! Tao chỉ biết có nhiều nguời hát tiếng Bắc mà không dám buông những chữ “g” ở sau cùng, hình như sợ nếu buông chữ “g” xuống thì xui xẻo hay sao ý. Cho nên họ hát “thuơng” thì hát bằng “thuơn”, “tháng” thì hát bằng “thán”, (Bây giờ thán mấy rồi hỡi em?), vànhư truờng hợp ở trên, “láng” đổi ra “lán”, “giềng” lại thành “giền”.. Nghe muốn phát sùng luôn! Hát vậy thì thà làm luôn một hơi “lói thì nắm, nàm thì nuời, nàm không chất nuợng mà cứ đòi ăn lo” cho nguời nghe biết rằng mình đang biểu diễn một bài hát Bắc kỳ, theo giọng nguời “quan họ Bắc Linh” của chúng em cho rồi!

    Thầy Tư làm một hơi cà phê rồi tiếp:

    -Ai cũng biết rằng một khi đã thành ca sĩ là phải mất bao nhiêu thời gian tập luyện, sáng trưa chiều tối, hát thử giọng xem có hợp với bài hát hay không, rồi mới tập hát cho thuộc, thuộc rồi, phải tập cho điêu luyện, cho ngọt ngào, xong lại tập với giàn nhạc. Như vậy thì thời gian tập một bài phải nhiều lắm, thì dứt khoát không thể quên sót, lạc giọng đuợc, và nếu có những sai sót trong cách phát ầm thì cũng dứt khoát là do ca sĩ cố tình tạo ra như thế. Vậy tại sao lại biến đổi chữ Việt trong cách phát âm theo kiểu như thế đó để làm gì? Phải chăng là làm điệu cho khác nguời? Nhưng làm điệu mà làm cho nguời ta say thì tốt, còn nguợc lại, điệu rơi điêụ rụng như thế chỉ làm cho nguời nghe hết hồn hết “diá”, chạy vắt giò lên cổ.

    -Chu choa! Thầy Tư hôm nay nÕổi hứng-Tết hay sao mà lên lớp dữ quá?

    -Lên lớp cái gì đâu? Tại bực cái mình! Để tao nói luôn cho mày nghe. Nói về hát sai, lại không thể không nói đến nhiều truờng hợp hát đổi “anh” thành “em” và nguợc lại. Có những bài hát dành cho nam ca sĩ hát mà thôi, nếu nữ ca sĩ hát mà đổi lời thì nghe rất quái. Chẳng hạn như câu: “Tôi yêu ly trà và điếu thuốc..” phải dành cho một giọng đực hát thì hợp lý thôi, đàn ông đa số uống cà phê, trà, và hút thuốc, nhưng một cô ca sĩ mà hát “tôi yêu đi dạo, uống trà, và hút thuốc” thì.. chắc mấy cậu đang say mê thần tuợng phải bỏ chạy xa. Bài “em đến thăm anh một chiều mưa” cũng chỉ dành cho nam giới. Tuởng tuợng một chiều “mưa dầm dề, đuờng trơn uớt tiêu điều” mà em lội mưa tới thăm anh, sao mà lãng mạn quá sức đi thôi. Đổi lại, nếu một cô đứng nhìn anh lội mưa tới thăm em, tầm lãng mạn bị giảm đi một nửa, và nếu “em uớc mong một chiều thêu nắng, anh đến chơi quên niềm cay đắng và quên đuờng về..” thì đúng “gu” cuả các chàng rồi, chàng khoái chí tử đi chứ, chả cần em mời lần thứ hai, nhào dô liền một khi, em văn minh tân kỳ quá trời, còn chi là lãng mạn theo ý tác giả nữa! Có nguời lại còn bạo gan hơn, hát rằng: “Tôi đến thăm em một chiều mưa..” Trời ơi là trời!

    Tuy nhiên, đổi lời như vậy cũng chưa ghê bằng đổi nhịp điệu của các bài nhạc cũ có tính chất hơi cổ điển. Một truờng hợp khá phổ biến trong làng âm nhạc sau này là dùng những bài nhạc cũ nhưng chơi theo điệu giật của thời đại mơí. Bản nguyên thuỷ là “Slow”, chơi theo nhịp chậm 4/4, nghe dịu dàng và đã lọt vào tủ trí nhớ của những nguời trung niên đến cao tuổi rôì, tự nhiên chế lại “cha cha cha”, thành “paso”, thành nhịp 2/4 giật lắc như điên, nghe ghê cả nguời. Đáng lẽ những lời tình tứ lãng mạn của những tâm hồn đang yêu đuợc thổ lộ ra duới âm điệu nhẹ nhàng, lại bị nhạc giật biến thành những câu hùng hổ, mất hết ý nghiã. Tỷ dụ câu “Em nhé! mình yêu nhau muôn đời!” khi đuợc hát nhẹ nhàng, nghe như lời thủ thỉ của hai kẻ e lệ yêu nhau thì dễ thuơng biết bao nhiêu, nhưng khi đuợc tiếng trống đánh phụ hoạ um xùm, tiếng đàn “bass” giật đùng đùng, anh ca sĩ nhẩy loi choi, phồng mang trợn mắt lên hát: “EM NHÉ! NHÉ! MÌNH YÊU NHAU MUÔN ĐỜI! ĐỜI!”, chẳng khác gì một câu hăm dọa “Cô mà không yêu tôi thì cô chết với tôi! Tôi sẽ vác súng tới nhà cô, phơ cho cô một phát nát thây!!!”

    Người viết cười ha hả. Thấy Tư đệm nốt câu cuối cùng:

    -Âm nhạc vốn là phuơng tiện để giải trí, là một loại hình sinh hoạt tinh thần cần thiết cho đời sống con nguời vốn khô khan, vốn căng thẳng. Không có âm nhạc, đời sống chán ngắt, tẻ nhạt. Cho nên, vai trò cuả âm nhạc rất quan trọng, không nên dùng âm nhạc như một dụng cụ để phô truơng cá tính cuả mình, để “giật le”, cũng không nên làm giảm giá trị cuả âm nhạc bằng cách biến âm nhạc thành phuơng tiện chọc cuời thiên hạ.

    Rồi Thầy Tư lại cười:

    -Tao nhớ có một lần nghe kể chuyện một anh giám khảo cuộc thi hát kia khó tính quá! Có một cô thí sinh cũng hát cái kiểu bỏ chữ “dê” dưới, bị anh ta tương ngay một câu: “Cô hát điệu quá! Mà lại hát bỏ chữ “dê” dưới nữa! Tôi hỏi cô, nếu phải hát câu chim hót trong lồng thì cô hát làm sao? Cô kia mới đầu đứng đực ra, lẩm nhẩm một phút rồi tự nhiên đỏ mặt, ù té chạy vê nhà, méc mẹ!

    Nói xong, Thầy Tư cười muốn sặc. Người viết cũng muốn tắc thở luôn. Phải bỏ chạy về nhà, nhưng vừa đi vừa lẩm bẩm: Chim hót trong lồng, chim hót trong lồng! Ha ha ha!

    (Trích từ tuyển tập "Bôn-Sa Có Gì Lạ không, em?")
  8. HAI CHỊ EM





    Tự nãy giờ, Lan cứ chạy ra chạy vào mãi, không một lúc nào cô bé đứng yên đuợc năm, mười phút. Tay Lan lóng nóng, cầm cái gì cũng muốn làm đổ. Nếm chút canh thì uớt áo. Vo tí gạo thì vuơng vãi đầy nhà. Lan cứ rủa thầm mình hoài. Rõ nỡm! Khỉ ạ! Cô hai để đầu óc đi đâu đấy? Tiểu thư nhà tôi lúng túng như ăn vụng bột ấy! Toàn những câu mà mẹ hay mắng ngày xưa. Nhưng giờ thì chả có ai mắng Lan cả. Mẹ đã không còn để cốc đầu Lan, để la mắng Lan. Mẹ đã yên nghỉ rồi. Mà yên nghỉ ở đâu nhỉ? Trên lớp bùn đại duơng hay ... trong bụng cá? Vừa chợt thoáng nghĩ tới đây, Lan bỗng thấy chung quanh như nhoè hẳn đi. Nuớc mắt tràn ra dàn dụa. Lan gục đầu vào tuờng, nức nở. Mẹ ơi! Mẹ ơi! Bố ơi! Chân Lan nhũn ra. Lan chỉ muốn ngồi xụp xuống, ngồi bệt duới đất hay nằm lăn ra nhà rồi nhắm mắt lại, và chết. Mặc cuộc đời. Mặc tất cả. Chết là hết! Hết sầu, hết khổ, hết cô đơn, hết lo đong gạo từng ngày. Nhưng... còn Linh? Linh ư? Mặc nó luôn! Không đuợc! Không kệ nó đuợc! Em cuả chị mà! Em yêu quý cuả chị mà! Linh! Linh đâu rồi? Lan đứng thẳng dậy, vuốt nuớc mắt, nuớc mũi, nhìn ra phía cửa. Vẫn chẳng thấy ai. Ngõ hẻm vẫn vắng lặng. Giờ này lũ con nít chưa đi học về, chỉ có mấy đưá bé thò lò mũi xanh đang ở trong nhà với bà nội hay bà ngoại. Nguời lớn đang cầy cuốc hay ngồi bên đống hồ sơ, duới mấy câu khẩu hiệu dài dán ngang trên tuờng: "Hồ chủ tịch vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp cuả chúng ta" hoặc "Không có gì quý hơn Độc Lập, Tự Do."

    Lan buớc ra hẳn ngòai cửa, đứng tưạ bên hàng rào gỗ cũng xiêu vẹo, thẫn thờ y như tâm hồn Lan đang ngả nghiêng, tơi tả. Bố Lan đi cải tạo. Nguời ta bảo muời ngày thì về, nhưng mãi mấy năm rồi vẫn chả thấy lệnh tha, bố bỏ trốn, bị bắt và bị bắn tại chỗ. Mẹ Lan khóc liệt giuờng mấy tháng rồi dẫn hai đưá con, một đưá muời bẩy, một đưá muời sáu, tìm đuờng vuợt biên, vì ở ngay gần biển nên đi dễ dàng. Không ngờ tầu quá nhỏ mà số nguời đi "can me", nghĩa là đi lậu, không chung tiền, nhiều quá, nên chìm ngay cửa sông. Nguời trên tầu nháo nhào đạp nhau nhẩy xuống. Mẹ Lan cuống cuồng ôm chặt hai đưá con vào lòng và hét vào tai các con:

    -Từ từ! Guợm đã! Đừng ra mà chết!

    Mẹ đợi cho nguời ta chen nhau ra bớt rồi mới đẩy con ra, tay ôm hai can nhưạ mà bà đã lén chộp đuợc khi vưà nghe tiếng la "tầu chìm", mọi nguời kinh hoảng lao xuống sông không ai để ý. Mẹ dúi vào tay mỗi đưá một cái rồi dặn phải ôm cho chặt, bất cứ giá nào cũng không buông ra, còn mẹ, mẹ ngần ngừ một chút rồi nhắm mắt nhẩy xuống, hai tay cuốn lấy tay hai con. Sức nặng cuả cả ba mẹ con dính vào nhau làm tất cả chìm lỉm mất mấy giây rồi mới ngoi lên đuợc. Lan và Linh, mỗi đưá một tay đập liên hồi để cố nôỉ lên với cái can nhưạ, trong khi đó, mẹ bị vuớng quần áo nhiều quá, vì mẹ đã mặc sẵn ba bốn lớp để phòng khi cần thay đổi, nên chỉ một vài phút sau, mẹ muốn chìm. Nuớc sặc vào miệng mẹ, nuớc làm quần áo mẹ nặng như cối đá, và nuớc từ từ kéo mẹ xuống duới sâu cùng với chiếc tầu. Lan và Linh gào thét tên mẹ như điên cuồng. Lan gào to nhất đến nỗi muốn khan cả cổ đi mà chẳng có ai bận tâm vì ai cũng lo bơi lấy một mình. Trong khi đó, thì Linh cố nắm lấy tay chị, nắm lấy cái can nhựa để lôi chị đi. Lan như mê man, dẫy dụa, giằng tay Linh ra để bơi quýnh quáng quanh chỗ mẹ vừa chìm, nhưng Linh mếu máo:

    -Chị ơi! Chị ơi! Chị Lan ơi! Đi đi! Bơi đi! Em... mệt lắm rôì!

    Lan vẫn không nghe, cứ quờ quạng, tru tréo, mãi cho đến khi Linh kêu lên:

    -Chị ơi! Em... muốn xỉu..

    Lúc ấy, Lan mới sực tỉnh nhìn em, thấy mặt em đã xanh tái, da đã dúm lại, cô mới chợt nhớ đến bổn phận làm chị, hốt hoảng dìu em bơi đi, vưà bơi vừa ngoái lại, nuớc mắt nuớc biển choàm ngoàm. Vì hai chị em vốn dân miền biển nên bơi vào bờ không khó, nhất là lại có cái can nhưạ. Đến bờ, hai chị em nhìn lại, chỉ thấy rải rác đâu đây một cánh tay vẫy gọi, vài mớ tóc bồng bềnh, vài miếng vải, miếng ván lênh đênh...

    Từ đó, hai chị em cô đơn sống nhờ vào tình thuơng cuả chòm xóm. Mới đầu, họ chỉ cho Lan và Linh đi mót cá đem bán, rồi bán rau. Sau vài tháng, đuợc thằng bạn mách, Linh theo nó ra chợ trời, làm cò mồi kiếm ăn. Dần dà, Linh bán đồng hồ dỏm, thuốc lá dỏm. Có bữa, Linh bị dân mua hàng đánh cho thê thảm. Nhưng đã lì lợm rồi, cậu bé muời bẩy tuổi này thành cáo già, chẳng sợ gì. Linh càng ngày càng chơi bạo hơn. Hễ ai hớ hênh là chôm tuốt. Lần đầu tiên Linh mang về nhà một cái bóp, thở hổn hển:

    -Chị Lan ơi! Em nhặt đuợc cái này...

    Lan hiểu ngay, cô tái mặt nhìn em, nói không ra hơi:

    -Em... em...sao em dám...

    Vưà bỏ ra sau bếp tìm nuớc uống, Linh vưà lẩm bẩm gắt:

    -Dám với lại không dám! Đói tới nơi rồi!

    Không dám nói thêm gì với em, Lan thẫn thờ, nhìn chiếc bóp Linh vất tênh hênh trên bàn, mấy miếng giấy, mấy đồng bạc trơ trẽn. Cô đau xót, như có ai cầm dao đâm vào tim mình. Trời ơi! Đã đến nỗi này ư? Bố mẹ ơi! Bố mẹ có linh thiêng thì về mà dậy con cái.. Linh nó đã đi ... ăn cắp rồi! Nghĩ đến chữ "ăn cắp", Lan giật mình nhìn dáo dác ra cửa. Cô thót nguời lại, sợ hãi. Trời ơi! Nếu nó bị bắt thì đời cô ra sao? Chỉ có hai chị em cô quạnh như hai con gà con, lủi thủi kiếm ăn góc vuờn mà lỡ ra một con có mệnh hệ nào, con kia làm sao sống đuợc?

    Tự nhiên, cô hét lên:

    -Linh!

    Tiếng hét cuả cô bất ngờ quá làm Linh hốt hoảng ló mặt ra sau khung cửa bếp:

    -Gì vậy, chị?

    Lan lặng nguời nhìn khuôn mặt thất thần của em một lúc rồi mới mếu máo:

    -Em... lỡ bị nguời ta bắt thì sao?

    Thở ra một hơi dài, Linh nhín vai, rất kịch:

    -Đành vậy! Bắt rồi lại thả. Có giết nguời đâu mà sợ?

    Cậu bưng ly nuớc ra cạnh bàn, lật tung cái bóp lên đếm tiền, rồi cuời:

    -Đã làm không sợ, đã sợ không làm.

    Cậu chìa mớ tiền về phiá chị:

    -Chị cầm lấy này. Đi chợ. Mai chị khỏi cần bán rau nữa.

    Lan né nguời làm như tiền có lửa, dẫy nẩy:

    -Không , chị không cầm đâu. Không ... không...

    Linh thở dài, cậu nhét tiền vào túi, tỉnh queo:

    -Chị không cầm thì em đút túi. Chốc, em đi mua bánh mì cho chị ăn.

    Rồi làm bộ tếu, Linh nheo mắt với chị:

    -Mua thêm chai ruợu quốc doanh nữa, em với chị cụng ly.

    Lan bịt tai, lắc đầu quầy quậy:

    -Thôi, đừng nói nữa. Chị không nghe đâu.

    Lững thững đi ra cửa, Linh huýt sáo như một kẻ lõi đời chính hiệu. Tiếng huýt sáo cuả Linh nghe đứt quãng, khàn khàn. Còn lại một mình, Lan thẩn thờ nhìn lên hai tấm hình trên bàn thờ. Nuớc mắt cô trào ra, vưà thuơng em, vưà chua xót, phẫn hận.

    Mấy ngày sau, như đuợc "tổ phù hộ", Linh chôm về nhà lia liạ. Lúc thì ví đàn ông, lúc thì bóp đàn bà, lúc lại một mớ lẩm cẩm. Linh hào hển kể lại những "chiến công", những thủ đoạn, mánh mung mà cậu đã dùng để "mõi" đồ thiên hạ. Cậu vênh váo:

    -Mẹ kiếp! Không lấy không đuợc. Trong khi mọi nguời đều rách ruới cả, lại có những con mẹ cán bộ đi sắm vàng. Mình thì đi bộ mỏi cả chân, xe đạp rách cũng không có, lại có những đưá đi gắn máy veò vèo. Không phải là lũ "cán, cối", lợi dụng cách mạng để làm giầu, cũng là lũ gian thuơng bóc lột. Chúng hè nhau bóc lột dân nghèo trơ cả khố ra...

    Toàn những câu hoang toàng mà cậu học đuợc từ những chuyến phiêu lưu trong chợ, trong ngõhẻm, những nơi nghèo nàn khốn khổ mà bọn công can không thèm ngó đến.

    Linh lại còn triết lý vụn:

    -Lấy tiền cuả chúng là trả thù cho nhân dân. Lũ "cối, cán" và lũ gian thuơng đã lấy tiền đâu ra để mà hoang phí, đèo bòng vợ nọ con kia, ngoài việc bóc lột và trấn áp. Ta "chôm" đồ cuả chúng là làm việc chính nghiã.

    Lan nghe mà không bao giờ trả lời. Nửa phần thấy em đúng, nửa phần thấy em sai. Nhưng cô không biết cãi nhau với em, chỉ lấy tình thuơng cuả nguời chị, nay là nguời mẹ, ra mà đùm bọc, che dấu cho em. Dần dần, cô không còn thấy sầu khổ, xấu hổ như truớc nữamà chỉ thấy sợ. Sợ vô cùng. Sợ một ngày nào em cô bị bắt. Thậm chí, bị đánh chết, như cô đã nghe nói có những nguời bị Công an bắt, rồi hôm sau, nguời nhà đuợc báo tin "lên mà nhận xác, thằng ấy đã tự tử trong nhà giam rồi!" Tự tử gì mà bầm tím, bụng truơng lên, tay chân đầy vết đập. Nhưng ai dám kêu ca, kiện tụng gì, Công an là vua mà! Kêu tới Thiên đình thì tội trạng vẫn còn rành rành đó. Nhiều khi thân nhân còn bị hù dọa là "tiếp tay với địch, đánh phá Cách Mạng" nữa. Thôi thì đành nuốt nuớc mắt mà lo chôn cất con em. Nghĩ đến đấy, Lan rùng mình, nhắm mắt. Đôi lúc, cô chạy a lại chỗ em ngồi, vòng tay ôm lấy em, khóc nức nở:

    -Linh ơi! Nghe chị đi! Đừng đi chôm nữa! Chị bán rau đủ nuôi em rồi mà!

    Linh gạt tay cô ra, mặt nhăn lại, định gắt chị, nhưng lại tôị nghiệp, câụ chỉ "hừ hừ" rồi bỏ đi nơi khác:

    -Chị này! chỉ vớ vẩn!

    Lan cứ nghĩ thế nào rồi "đi đêm cũng có ngày gặp ma!" Mà, ngày ấy có lẽ đã đến rồi! Hai hôm nay Linh không về. Cô tất tuởi đi dọ hỏi khắp nơi, đến mọi chỗ Linh hay lui tới, gặp tất cả bạn nhậu cuả Linh, nhưng hình như mọi nguời đều lảng tránh Lan. Mãi sáng nay, một câụ thân nhất cuả Linh, hứa hẹn sẽ đi tìm tin cho Lan. Lan chờ mãi...



    ****

    Trời đã tối mịt. Bụng Lan đói như cào như cấu, nhưng cô nuốt không nổi một hột cơm. 9 giờ. 10 giờ. Rồi 10 giờ 30... Cô gần xỉu đi vì mệt vì căng thẳng thì có bóng nguời len lách vào. Chồm dậy như muốn vồ lấy nguời mới tới, Lan run giọng:

    -Tân hả! Sao? Có tin gì không em?

    Nguời mới vào nhìn quanh quất một lúc mới chậm rãi ngồi xuống ghế:

    -Linh nó đi rồi! Bình yên rồi!

    Lan nắm lấy vai cậu thanh niên, lắc mạnh:

    -Đi? Mà đi đâu?

    Tân mệt mỏi nhìn Lan:

    -Nó vô Sàigon rồi! Bị theo dõi sát nút, nó đi không kịp về nhà báo chị hay. Tụi tui đợi nó đi hai ngày mới báo cho chị, sợ chị làm tùm lum lên thì chết toi cả đám.

    Lan rã rời ngồi phịch xuống ghế, cô ngơ ngác:

    -Vô Sàigon, Sàigon.. Mà ở với ai?

    Cậu thanh niên cuời hì hì,trấn an:

    -Chị đừng lo, Linh nó giỏi xoay sở lắm. Dễ gì ai bắt nạt đuợc nó.

    Chừng như ngại bị hỏi han lôi thôi, Tân đứng dậy lí nhí:

    -Thôi, chị ỡ lại. Tui về. Có tin gì, tui sẽ báo chị hay sau.

    Lan bàng hoàng nhìn theo bóng Tân đi khuất sau mấy dâỹ hàng rào, không kịp cầm giữ, hỏi han thêm. Đi Saigon.. Saigon... Vậy là Linh đi rồi? Sao em không nói cho chị hay, để chị theo với? Em vào trong đó, ai giặt quần áo cho em? Ai săn sóc em? Ai cạo gió cho em mỗi khi em kêu nhức đầu, chóng mặt? Ai nấu cơm cho em ăn nữa? Nghe nói dân chơi Saigon hung dữ lắm, trộm cuớp trong đó có băng có đảng, có dao súng, lại có cả lựu đạn nữa.. Em bơ vơ, thế nào cũng bị chúng đánh, chúng đập, chúng hành hạ em.. Rồi chúng có thể ... giết em nữa...

    Một cơn gió lạnh luà qua khe cửa hở làm Lan choáng váng. Linh ơi! Em yêu quý cuả chị! Giờ này em ở đâư? Em nỡ bỏ chị cô đơn thế này sao?

    Lan gục đầu vào bàn, nức nở. Vai cô bé 18 tuổi rung lên bần bật. Từng thớ thịt co lại, giật trong tấm áo mỏng thô sơ. Bố mẹ ơi! Bố mẹ ơi! Bên khung cửa, gío biển vẫn lồng lộng thổi. Những nóc nhà tôn cựa mình rên rỉ.



    *****



    Đuờng xá nghẹt nguời. Những tiếng rao hàng dồn dập. Tiếng còi xe inh ỏi. Tiếng la "dô! dô! ép dô!" cuả mấy ông xích lô máy, xích lô đạp. Tiếng tu huýt ré lên cuả công an làm Lan cứ giật mình thon thót. Cô ôm chặt gói đồ vỏn vẹn có vài cái quần áo, khăn mặt, bàn chải đánh răng, mấy cuốn vở ghi chép, mấy món đồ linh tinh cuả con gái và chút tiền dành dụm. Mắt cô dáo dác nhìn quanh. Giờ cô mới thấy sợ, thấy hối hận là đã bỏ quê ra Saigon. Nỗi sợ càng lúc càng tăng, dù tâm hồn cô có chai đá, dạn dầy hơn hôm qua rất nhiều. Cô bỏ Đà nẵng ra Saigon tìm em, tuởng không khó khăn lắm. Cô nghĩ nó sẽ đến ông chú ở Gò vấp, nhưng không ngờ khi cô tìm tới nơi, nhà ông đã dọn đi kinh tế mới rồi. Thế là cô luống cuống trở lại ga Saigon nửa tìm đuờng về quê, nửa muốn nấn ná mấy bữa xem tin tức. Nhớ lại lúc đầu mới lên xe lưả cô kinh hoàng quá. Hành khách nhộn nhạo, la hét om xòm. Đồ đạc gồng gánh lủ khủ, bạ chỗ nào nhét chỗ đó. Ghế ngồi cuả mình có khi là hũ mắm, có khi là mấy bó củi. Ai mà xớ rớ động vào là có chầu ăn đấm đá, bạt tai, hoặc cãi nhau ỏm tỏi. Toàn những khuôn mặt cô hồn các đảng, buôn chuyến, buôn lậu. Một cô bé khoảng chừng hơn hai muơi tuổi, răng sún gần hết mà chỉ huy mấy tay đàn em nhồi nhét mấy bao tải đựng nhôm vụn vào chân ghế hành khách. Một thanh niên vừa lên tiếng phản đối liền thấy một ánh thép loà lên truớc mặt. "Khôn hồn thì câm ngay!" Mọi nguời đều câm. Kể cả anh soát vé. Tới mỗi cửa ga, là từng bó củi bay ra ngoài cửa toa, phóng xuống đuờng rầm rầm. Trúng ai chết ráng chịu. Dân buôn chuyến là vua mà. Dân "mõi" cũng thế. Chúng đã chi chác cho các tay soát vé và tài xế hết rồi, nên không ai dám phản đối một tiếng. Lan từng chứng kiến ngay truớc mặt, một bà bị móc túi la lên, hành khách đổ xô lại can thì tên cuớp cạn bỏ đi tỉnh bơ. Một lúc sau, hắn trở lại với chừng muơi tên nữa, chỉ vào từng nguời can thiệp, chửi thề:

    -Đ.Mẹ. Đưá nào láng cháng là ăn dao đó nghe! Bầy đặt anh hùng rơm hả!

    Bà con im re. Riêng nguời bị móc túi ăn thêm một cái tát dúi dụi. Lan nín thở, thu mình duới đất cho đến khi cặp bến Hoà Hưng, Lan càng hãi thêm vì cảnh cuớp giựt khơi khơi mà không ai ra tay. Công an chỉ đi một vòng cho có lệ rồi kiếm chỗ hút thuốc ba số mà những tay buôn lậu chia cho. Hôm nay, ra tới bến xe lửa Sài Gòn, Lan đang rung thì một tay thanh niên nham nhở tiến đến gần, bập bập điếu thuốc:

    -Em mới lên hả! Đi chơi với anh nghe!

    Cô bé hoảng kinh, lùi ra xa. Mấy tên lưu manh khác cuời ha hả. Cả chục cặp mắt nhìn theo Lan, tò mò. Cô bé có cảm giác như nguời bị chọc tiết, cả nguời nổi gai lên. Một nữ chúa bụi đời khác vẫy vài tên ma cô lại gần Lan, búng tay:

    -Em này còn "uớt" lắm! cho "nhập nha" đuợc đó!

    Lan hết hồn, bỏ chạy, chả cần biết "uớt" với "nhập nha" là gì. Trong lúc bối rối, cô bé đâm sầm vào một bà sồn sồn đang đi tới, làm bà kia lảo đảo. Lan luống cuống, lắp bắp:

    -Bà... bà.. cháu xin lỗi..

    Nguời bị đụng nhìn Lan đăm đăm rồi hỏi giọng rất tử tế:

    -Này, cháu, có phải vưà mới duới tỉnh lên không?

    Lan lắp bắp:

    -Sao ... sao bà biết?

    Bà tử tế kia cuời mỉm:

    -Biết chứ sao không? Nhìn là biết liền hà!

    Lan xấu hổ, đỏ mặt, cúi đầu xuống. Bà kia lại hỏi, giọng ân cần:

    -Thế cháu đã tìm ra nguời nhà chưa? Có chỗ ở chưa mà đứng đây?

    Lúng búng mãi, Lan mới dám trả lời"

    -Dạ, chưa, bà ạ.

    Bà tử tế kia cầm lấy tay Lan, ân cần:

    -Thế ... thế.. về nhà tôi nhé. Tôi đang đi tìm một nguời giúp việc nhà. May mà lại gặp cháu đây. Trông cháu hiền lành quá. Tôi vui lắm. Nếu cháu muốn, thì về ở với tôi. Tôi trả luơng cao lắm.

    Không ngờ lại có câu nói đó, Lan sửng sốt. Dịp may đã đến chăng? Sao trên đời lại có chuyện may mắn thế! Cô nhìn bà tử tế kia đăm đăm. Trông bà tốt tuớng, mát mẻ trong bộ đồ sa teng bóng. Nụ cuời rất tuơi. Cô chưa biết trả lời sao, thì bà tốt bụng kia đã nắm tay Lan ân cần:

    -Thôi, đừng nghĩ ngợi gì nữa. Theo tôi đi ngay. Ở đây, nhiều lưu manh lắm.

    Rồi bà nói nhỏ vào tai Lan:

    -Bọn chúng chỉ đi tìm những cô gái nhà quê như cháu để bắt làm điếm đấy.

    Và bà lôi Lan đi. Cô bé chẳng biết nói sao, cứ lẳng lặng đi theo. Lên xích lô rồi, Lan vẫn còn ngơ ngác. Bà chủ vuốt tóc Lan, nhìn kỹ thân thể cô bé làm Lan ngượng, cứ né né. Bà chủ cuời:

    -Đuợc lắm. Cô bé xinh lắm. Về nhà tôi tha hồ sung suớng.

    Lan chả biết tha hồ sung suớng như thế nào. Mãi đến khi buớc vào một căn nhà trong một con hẻm lớn, thấy mấy cô gái cỡ tuổi Lan hoặc già hơn, phấn son loè loẹt, đang ngồi đánh bài, người mắt nhìn lên Lan, chép miệng:

    -Lại một "con mòng"..

    Thì Lan hơi hoang mang, ngờ ngợ. Nhưng không kịp nữa rồi. Một vòng tay rắn chắc đã ôm choàng lấy Lan. Lan ngộp thở, dẫy duạ. Nguời con gái tỉnh lẻ thét lên, ú ớ...

    ****

    Đã cả năm trôi qua. Lan không còn biết đến thời gian nữa. Ngày nào cũng vậy, nhục nhã ê chề, bị dầy vò như củ khoai, Lan mất hết cảm giác. Nguời chị đi tìm em đã trở thành một cái xác không hồn. Ăn, uống, ngủ, nghỉ như cái máy. Tiếp khách, tiếp khách... Cho đến một hôm, như thuờng lệ, Lan nằm dài trong phòng, nghe tiếng mẹ chủ chứa, ngọt ngào, sang sảng:

    -Có em mới đây này, thơm lắm. Mới ở tỉnh lên, cậu chịu không?

    Lan không thèm liếc ra cửa nữa, đợi khách mở cửa phòng buớc vào, rón rén. Cô lẳng lặng ngôì dậy, cởi áo ra. Nguời khách đứng lặng nhìn Lan, không cử động. Ngạc nhiên với cử chỉ khác thuờng, vì mọi ông khách vừa tới cửa là vồ vập, ngấu nghiến Lan như chết đói, Lan ngẩng lên, đanh đá:

    -Sao, hả? Sao không cởi ra đi?

    Bỗng Lan rú lên, ôm mặt, lùi sát vào tuờng. Cô thảng thốt kêu lên:

    -Linh!

    Phải, ông khách mới vào chính là Linh. Cậu đứng sững nhìn chị trần truồng trên giuờng, bàng hoàng dụi mắt, không nói một lời. Một lát, cậu "hực" lên một tiếng, lao đầu ra cửa như một thằng điên. Lan chới với, giơ tay với theo bóng em, miệng há hốc. Chữ "em" chưa ra khỏi cửa miệng đã vụt trở thành giòng nuớc lũ, nức nở. Cô oà lên. Bao phẫn nộ, bao thuơng đau, bao nhung nhớ, kỷ niệm, oan trái chợt uà đến vùi cô trên giường, chiếc giường nhơ bẩn của cuộc đời, của xã hôị, khiến cô không còn sức chống cự nữa. Cô lả đi, xỉu dần theo tiếng nấc:

    -Em ơi!

    Trong một thoáng, tấm thân cô bé bỗng trở nên trắng tinh, thanh khiết. Như bông sen, bông huệ vuơn cao rực rỡ. Như cánh chim thiên nga sáng nào uể oải không muốn bay cao. Trái tim cô đã ngừng đập, để hồn cô vỗ cánh chậm chạp, nhưng huớng tới chỗ vô cùng tuyệt đối bình an, dành riêng cho những tâm hồn yêu thuơng tha thiết.

    Ngoài xa, chợt có tiếng xe rít bánh. Tiếng va đập. Tiếng nguời la lên: "Đụng rồi! Chết rồi! Cậu kia! Chết rồi! Ai kêu công an đi..."
    Chu Tất Tiến.