Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Mười 2017 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2017 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!
Color
Background color
Background image
Border Color
Font Type
Font Size
  1. Cháu được thăm những danh lam thắng cảnh
    Sách sử ghi non nước đẹp tuyệt vời
    Nên biết rằng thế gian có một nơi
    Là nước Việt bên trời Nam hùng vĩ

    Bởi cháu sinh ra ở trên đất Mỹ
    Lớn lên nghe loáng thoáng tận trời xa
    Đó là nơi sinh trưởng của mẹ cha
    Phải lưu lạc nửa đời, vì giặc đỏ!

    Tang thương phủ trên chòm cây khóm cỏ
    Khói nhang tàn, ôi quạnh quẽ miếu lăng
    Bao oan hồn lởn vởn giữa đêm trăng
    Tiếng ai oán chập chờn trong gió lốc

    Mắt mẹ đỏ, khi nhắc về cố quốc
    Thấy dòng sông mang bóng dáng Củu Long
    Thành phố xưa có màu sắc Sài Gòn
    Là mẹ cháu sụt sùi rơi giòng lệ

    Ba thở dài mỗi lần nghe ai kể
    Chuyện chiến trường, từ ngoài Bắc vô Nam
    Từ Cà Mau cho đến Ải Nam Quan
    Mà ba cháu có lần qua nơi đó...

    Cùng đồng đội băng đầm lầy, đồng cỏ...
    Đồi núi cheo leo, sầm uất rú rừng...
    Những địa danh đầy chiến tích lẫy lừng
    Địch xuất hiện, đoàn quân ba tiến đến...

    Nay xứ người sống chuỗi ngày hoài niệm
    Cay đắng nào bằng nước mất nhà tan!
    Âm vọng đâu đây, vẵng tiếng gọi hàng
    Đau đớn lắm, cho cuộc đời binh nghiệp!

    Cháu trưởng thành, không ở trên đất Việt
    Nhưng trong người là dòng máu Việt Nam
    Xin hiên ngang chiêm ngưỡng bóng cờ vàng
    Để tiếp nối đường ba đi dang dở...

    DƯ THỊ DIỄM BUỒN
  2. “Ngày 20 tháng 7 năm 1954 Việt Nam chia đôi nơi dòng sông Bến Hải”



    Thương làm sao vùng quê thân yêu đó

    Nhớ làm sao những kỷ niệm đong đầy

    Khi hoàn hôn chầm chậm nẽo chân mây

    Lòng hiu quạnh mắt trông về chốn cũ


    Nhớ ngày nào con ra thành theo chú

    Mỗi khúc ruột mẹ, là mỗi đứa con!

    Cách chia nào không đau đớn héo hon

    Thương mẹ, nhớ em… đầm đìa nước mắt


    Xa vời vợi khi quê hương ngăn cách

    Chung một nước mà kẻ Bắc người Nam

    Biển rộng mênh mông, rừng núi ngút ngàn

    Sông Bến Hải cắt chia tình mẫu tử!


    Dù con được thương yêu gia đình chú

    Miền Nam cơm no, áo ấm, học hành…

    Nhưng không sao quên dáng mẹ hiền lành

    Khắc khoải nhớ thương đêm đêm lệ nhỏ...


    Rồi miền Nam rơi vào tay giặc đỏ!

    Con bôn ba chạy loạn lạc xứ người

    Mẹ tuổi đời chồng chất đã sáu mươi

    Lặn lội khắp nơi kiếm tìm con trẻ...


    Con xa mẹ khi hãy còn tấm bé

    Mẹ lìa con xao xác quá nửa đời!

    Xa càng xa… khi thời cuộc đổi dời

    Mỗi lần thay đổi ngàn trùng xa cách!


    Vạn lý hải tần nửa vòng trái đất!

    Nhớ chùa Tam Thanh, nhớ nước sông Thương

    Nhớ đào Mẫu Sơn nửa trắng, nửa hường

    Gỗ hoàng đàn, Thất Khê mùa mận chín…


    Mộc nhĩ, nấm hương, mật ong... Tràng Định

    Quên làm sao nắng chiều nhạt bãi dâu

    Đêm mưa rơi, sáng non nhẫn dây trầu

    Gió mát rượi mượt mà tàu lá chuối...


    Mẹ ơi khói lam, sương mờ đĩnh núi

    Nỗi nhớ thương dằng dặc thuở nào nguôi?

    Ở nơi đây muôn thuở vẫn xứ người

    Vật chất, tự do, văn minh… sang cả!


    Sao nước Việt vẫn nổi trôi đày đọa!

    Người dân lành luôn thiếu áo, đói ăn

    Lãnh hải, lãnh thổ dâng, bán... ngoại xâm

    Dân tộc khốn cùng, đản viên phú quí...


    Quê hương ta đã trãi bao thế kỷ

    Ông cha đời đời chẳng ngại gian lao

    Từng lớp người tiếp nối đổ máu đào

    Quyết gìn giữ một Việt Nam hạnh phúc


    Con bất hiếu chưa trọn tình cốt nhục

    Để mẹ nhớ thương khốn khổ đoạn trường...

    Và giờ đây xa cách quá quê hương…

    Luôn vật vả trong khát khao niềm nhớ


    Mẹ kính yêu, kiếp nhân sinh tạm bợ...

    Chữ hiếu đạo xin kết cỏ ngậm vành

    Nghĩa trả ơn đền ở kiếp lai sanh...

    Cành Nam chim đậu.... hướng về cố quốc


    Xin lỗi mẹ, con vẫn chưa về được

    Vì Cộng thù còn thống trị quê hương

    Khi toàn dân còn khốn khổ đoạn trường

    Lòng dạ nào thảnh thơi về thăm lại!


    Lời mẹ nhắn nhủ, con ghi nhớ mãi:

    “…Trước sao sau trước ph ải giữ lòng son

    Cộng gieo tóc tang, nhân nghĩa rụi mòn

    Đừng về con... quê hương còn bóng giặc!


    Từ xa con, mẹ quen rồi héo hắt...

    Đời thăng trầm qua bao cuộc bể dâu

    Dù chân trời gốc biển, hay tuyến đầu...

    Mẹ mãn nguyện, con theo đường Chính nghĩa…


    Nỗi nhớ thương lòng già thêm thấm thía...

    Hận thù Cộng... càng chất ngất dâng cao

    Đoàn tựu, me con mình hẹn kiếp sau...

    Sông Bến Hải chia đôi tình mẫu tử!”



    DƯ THỊ DIỄM BUỒN


    Email:dtdbuon@hotmail.com

    ĐT: (530)822 5622



    “Ngày 20 tháng 7 năm 1954
    Việt Nam chia đôi nơi dòng sông Bến Hải”




    Thương làm sao vùng quê thân yêu đó

    Nhớ làm sao những kỷ niệm đong đầy

    Khi hoàn hôn chầm chậm nẽo chân mây

    Lòng hiu quạnh mắt trông về chốn cũ


    Nhớ ngày nào con ra thành theo chú

    Mỗi khúc ruột mẹ, là mỗi đứa con!

    Cách chia nào không đau đớn héo hon

    Thương mẹ, nhớ em… đầm đìa nước mắt


    Xa vời vợi khi quê hương ngăn cách

    Chung một nước mà kẻ Bắc người Nam

    Biển rộng mênh mông, rừng núi ngút ngàn

    Sông Bến Hải cắt chia tình mẫu tử!


    Dù con được thương yêu gia đình chú

    Miền Nam cơm no, áo ấm, học hành…

    Nhưng không sao quên dáng mẹ hiền lành

    Khắc khoải nhớ thương đêm đêm lệ nhỏ...


    Rồi miền Nam rơi vào tay giặc đỏ!

    Con bôn ba chạy loạn lạc xứ người

    Mẹ tuổi đời chồng chất đã sáu mươi

    Lặn lội khắp nơi kiếm tìm con trẻ...


    Con xa mẹ khi hãy còn tấm bé

    Mẹ lìa con xao xác quá nửa đời!

    Xa càng xa… khi thời cuộc đổi dời

    Mỗi lần thay đổi ngàn trùng xa cách!


    Vạn lý hải tần nửa vòng trái đất!

    Nhớ chùa Tam Thanh, nhớ nước sông Thương

    Nhớ đào Mẫu Sơn nửa trắng, nửa hường

    Gỗ hoàng đàn, Thất Khê mùa mận chín…


    Mộc nhĩ, nấm hương, mật ong... Tràng Định

    Quên làm sao nắng chiều nhạt bãi dâu

    Đêm mưa rơi, sáng non nhẫn dây trầu

    Gió mát rượi mượt mà tàu lá chuối...


    Mẹ ơi khói lam, sương mờ đĩnh núi

    Nỗi nhớ thương dằng dặc thuở nào nguôi?

    Ở nơi đây muôn thuở vẫn xứ người

    Vật chất, tự do, văn minh… sang cả!


    Sao nước Việt vẫn nổi trôi đày đọa!

    Người dân lành luôn thiếu áo, đói ăn

    Lãnh hải, lãnh thổ dâng, bán... ngoại xâm

    Dân tộc khốn cùng, đản viên phú quí...


    Quê hương ta đã trãi bao thế kỷ

    Ông cha đời đời chẳng ngại gian lao

    Từng lớp người tiếp nối đổ máu đào

    Quyết gìn giữ một Việt Nam hạnh phúc


    Con bất hiếu chưa trọn tình cốt nhục

    Để mẹ nhớ thương khốn khổ đoạn trường...

    Và giờ đây xa cách quá quê hương…

    Luôn vật vả trong khát khao niềm nhớ


    Mẹ kính yêu, kiếp nhân sinh tạm bợ...

    Chữ hiếu đạo xin kết cỏ ngậm vành

    Nghĩa trả ơn đền ở kiếp lai sanh...

    Cành Nam chim đậu.... hướng về cố quốc


    Xin lỗi mẹ, con vẫn chưa về được

    Vì Cộng thù còn thống trị quê hương

    Khi toàn dân còn khốn khổ đoạn trường

    Lòng dạ nào thảnh thơi về thăm lại!


    Lời mẹ nhắn nhủ, con ghi nhớ mãi:

    “…Trước sao sau trước ph ải giữ lòng son

    Cộng gieo tóc tang, nhân nghĩa rụi mòn

    Đừng về con... quê hương còn bóng giặc!


    Từ xa con, mẹ quen rồi héo hắt...

    Đời thăng trầm qua bao cuộc bể dâu

    Dù chân trời góc biển, hay tuyến đầu...

    Mẹ mãn nguyện, con theo đường Chính nghĩa…


    Nỗi nhớ thương lòng già thêm thấm thía...

    Hận thù Cộng... càng chất ngất dâng cao

    Đoàn tựu, me con mình hẹn kiếp sau...

    Sông Bến Hải chia đôi tình mẫu tử!”



    DƯ THỊ DIỄM BUỒN
  3. “Trung học Phan Thanh Giản và
    Đoàn Thị Điểm Cần Thơ hiện hữu 100 năm.
    Nay Việt Cộng đã đập phá tan tành...”


    Thời niên thiếu vẫn âm thầm thương nhớ
    Đẹp ngút ngàn trong hồi tưởng dấu yêu
    Gío hiu hiu mát rượi bến Ninh Kiều
    Phượng hong nắng sân trường Đoàn Thị Điểm

    Tuổi xanh ơi, sao no tròn ngọt lịm!
    Vườn Ổi, Chợ Bà, Tham Tướng, Cái Răng...
    Ngày rong chơi, đêm ngắm bóng chị Hằng
    Ánh trăng sáng trải trên dòng "Bắc-sắc"

    Bên kia xóm Chài hiền hòa say giấc
    Trong ảo mờ le lói bóng xuồng câu
    Nhạn kêu sương lặng lẽ lướt về đâu?
    Lòng êm ả trước sông dài vắng lặng

    Các nam sinh của trường Phan Thanh Giản
    Tuy học trò mà quỷ quái tinh ranh
    Nữ sinh bọn tôi quen nếp ngoan lành
    Chăm sách vở nơi trường Đoàn Thị Điểm

    Rồi cao hứng đám nam sinh đánh tiếng
    Gởi thư mời dự lửa trại trường nhà
    Họ còn ra điều thách đố ba hoa:
    “Bọn trường nữ ai dám qua họp bạn...?”

    Chúng tôi ghét! Liền ghi tên trước hạn:
    “Phan Thanh Giản cứ tưởng bở! Đừng hòng!
    Chúng tôi đông, trăm gió góp thành dông
    Sẽ uy mãnh thổi bay phường rắn mắc…”

    Đêm lửa trại có liên trường góp mặt
    Trung Học Long Xuyên, Đại Học Y Khoa
    Vĩnh Long, Mỹ Tho, Rạch Gía, Biên Hòa
    Sa Đéc, Vĩnh Bình, Bến Tre, nhiều nữa...

    Vỗ tay hát hò, nhảy quanh đống lửa
    Đố vui, ăn uống, kể chuyện học hành
    Thầy cô chuyên cần dạy dỗ tuổi xanh
    Để chim nhỏ vững bay vào bão lộng

    Trời Tây Đô như chuyển mình rung động
    Cánh đại bàng từ Trà Nóc vút lên
    Hỏa châu rơi vàng úa khắp trời đêm
    Tuổi ngà ngọc sớm nhuốm màu chinh chiến!

    Đêm lửa trại tàn, chia tay lưu luyến
    Bạn mới thêm, bạn cũ vẫn keo sơn
    Phan Thanh Giản, Đoàn Thị Điểm hết hờn
    Tôi biết viết thư tình từ dạo đó...

    Chiến tranh dằng dai, quê hương nhuộm đỏ!
    Đã bao năm không có dịp trở về...
    Thương người thân, thương bè bạn, thương quê
    Thương lớp học, sân trường, hoa phượng thắm...



    DƯ THỊ DIỄM BUỒN
  4. Bốn tháng Bảy Mỹ mừng ngày Độc Lập
    Thấy người hân hoan... chạnh nhớ cố hương
    Tuổi hoa niên, thời mộng đẹp... đến trường
    Chúng ta cũng có... ngày Quốc Khánh

    Tiệc đãi, vui chơi... tùy theo hoàn cảnh
    Dân quê mừng lễ nhậu nhẹt, bánh trà...
    Thị thành diễn hành, ca nhạc, pháo hoa...
    Chỉ miền Nam, không phải là miền Bắc

    Bởi Bến Hải bên Cộng... là của giặc
    Miền Nam bên nầy, vùng đất Tự Do
    Ngô Tổng Thống lãnh đạo... dân ấm no
    “Hai Sáu Tháng Mười” là ngày “Quốc Khánh”

    Từ thị thành đến thôn quê thanh cảnh...
    Ruộng lúa chín vàng... cây trái sum sê
    Từ sáng tinh sương cho đến chiều về
    Thời thanh bình, dân an cư lạc nghiệp...

    Đêm trăng sáng, vẳng hát hò nối tiếp...
    Trai gái làng cùng giả gạo chài đôi
    Ghe thương hồ đối đáp... cũng xa rồi
    Chỉ còn tiếng chài... ánh trăng diễm uyển

    Việt Cộng lẻn vào khơi ngòi chinh chiến
    Miền Nam tan tác... dân chúng bi thương...
    Xếp bút nghiên... trai trẻ vào quân trường
    Vì gia đình, vì an nguy đất nước...

    Lịch sử Việt lật sang trang... tìến bước...
    Thay nguyên thủ... để hưng thịnh, phú cường
    Tạo đoàn quân hùng mạnh trấn biên cương
    “Quốc Khánh” đổi ngày “Một Tháng Mười Một”

    Các quân binh chủng... vẫn là rường cột
    Đánh đuổi thù chung, gìn giữ miền Nam
    Ba Mươi Tháng Tư, bức quyết tử rả hang!
    Đất nước tan hoang, gia đình đổ nát!

    Chúng ta bôn đào... xứ người lưu lạc
    Nơi có nhân quyền, dân chủ, tự do...
    Siêng năng làm, không phạm pháp quanh co...
    Trên đất nước có bình quyền, ấm mát...

    “Bốn Tháng Bảy” Mỹ là ngày “Độc Lập”
    Qua bao đời... trăng khuyết lại tròn trăng
    Kẻ tha hương lòng xao xác băn khoăn...
    Nay tất cả... chỉ còn trong hồi ức!

    Hoài niệm cố hương... tròn đời thắm rực
    Gương cha ông, hâu duệ đã lên đường...
    Đánh đuổi Cộng thù ra khỏi quê hương...
    Mừng Quốc Khánh... để thỏa lòng mong nhớ

    DƯ THỊ DIỄM BUỒN
  5. Hoa phượng nở, ve gọi hè réo rắc
    Ngày xưa ơi, áo trắng đẹp sân trường
    Anh lính Hậu Giang, An Lộc, Liên Khương
    Từ các nẻo... trên Bốn Vùng Chiến Thuật

    Ánh hồng lên sáng ngời Ngày Quân Lực
    Từng đoàn người lũ lượt kéo đi nhanh
    Vẳng từ xa, loa náo nhiệt phóng thanh
    Các đoàn thể, xếp thành hàng thứ tự...

    Nắng ban mai chói chan rừng biểu ngữ
    Nhạc Quốc Ca vang dội trong không gian
    Dân, Quân, Cán, Chánh... lần lượt diễn hành
    Xây Dựng, Bảo An, Trưng Vương, Vĩnh Ký

    Biệt Động, Người Nhái, Chiến Tranh Chánh Trị
    Cảnh Sát, Đà Lạt, Hành Chánh Quốc Gia
    Quốc kỳ vàng ba sọc đỏ, chiến sĩ Cộng Hòa

    Gió lồng lộng, quân kỳ bay phấp phới...
    Sư đoàn Mười Tám, Pháo Binh tiến tới
    Nghĩa Quân, Biệt Chính, đoàn Nữ Quân Nhân
    Thủ Đức, Công Binh, Dù, Thiếu Sinh Quân
    Biệt Kích, Hải Quân, Sư Đoàn Hai Mốt...

    Đại Bàng uốn mình, khói tuôn từng cột
    Dệt cờ vàng ba sọc đỏ trên không
    Rộn niềm vui, niềm kiêu hãnh ngập lòng
    Đoàn quân Nam ta hào hùng, tài, đức...

    Cô nữ sinh, dự lễ Ngày Quân Lực
    Niềm hân hoan bên bè bạn thầy cô
    Mái tóc thề trong vành nón bài thơ
    Vòng hoa chiến thắng, choàng lên lính trận

    Bình minh reo vui sáng màu hồng phấn
    Chong sách đèn dệt mộng đẹp tương lai
    Niềm tin yêu hứa hẹn một ngày mai
    Dâng dất nước những gì học, hiểu, biết...

    Nhưng trường đời lắm oan khiên cay nghiệt
    Và tình người thật tráo trở gian ngoa
    Giặc tràn vào gây tan cửa hại nhà
    Tài hoa diệt, lũ ác... tâm nhỏ hẹp

    Đau thương chất chồng, vỡ tan mộng đẹp
    Lặng thở dài, ngày ấy đã qua rồi!
    Nay chỉ còn âm vọng đáy tim tôi
    Khi miền Nam rơi vào tay quỉ đỏ...

    Phút mặc niệm, mắt rưng rưng lệ nhỏ
    Tâm tư chùng lặng, thương xót bâng khuâng
    Còn đâu nữa Ngày Quân Lực tưng bừng
    Còn đâu nữa thời tuổi xanh dệt mộng

    Có còn chăng, đây nỗi lòng trầm thống!
    Của người di tản buồn... khắp Năm Châu
    Cố hương nay đã tan nát héo sầu...
    Bởi Việt gian bán nước cho Tàu Cộng

    Quốc kỳ vàng tung bay trong gió lộng...
    Vẫn hiên ngang phấp phới dưới nắng trời
    Dù dân Nam đang nương náu xứ người...
    Vẫn nuôi chí một ngày về phục quốc

    Hậu duệ Việt, thừa trí tài, kiến thức...
    Tiếp nối cha ông... trở lại diệt thù
    Đánh đuổi Cộng nô dựng nghiệp thiên thu
    Xây nước Việt Nam tự do, hạnh phúc...


    DƯ THỊ DIỄM BUỒN
  6. Tưởng nhớ ba tôi
    Nhân mùa báo hiếu từ phụ


    Bao người háo hức tìm vui bên đó!
    Tôi cũng muốn về thăm lại cố hương
    Thời thanh xuân, ôi đẹp tợ thiên đường
    Nhưng cay đắng, vẫn như hình với bóng!

    Mẹ qua đời giặc tràn vào giải phóng
    Lần đổi tiền đánh tư sản đợt đầu
    Bị cướp nhà, chia ruộng đất, bắt trâu
    Còn mang bản án cường hào ác bá!

    Ở trong tù ba bị đày nghiệt ngã
    Tội góp công, tiếp sức giúp “ngụy quyền”
    Đào tạo nên người, thế hệ thanh niên
    Tuổi lục tuần, còn gặp phường độc ác

    Anh tôi cải tạo bỏ thây đất Bắc!
    Vì ngày xưa làm “lính Mỹ đánh thuê”
    Trả nợ máu nên chẳng có ngày về...
    Bởi tốt nghiệp từ trường Quân Y Sĩ!

    Dùng thủ đoạn giặc trả thù vị kỷ
    Không chút lý tình, luật lệ, nghĩa nhân
    Cha mẹ tôi đã cứu giúp bao lần
    Khi nhà họ gặp quẫn cùng, khốn khó

    Họ là học trò ba tôi thuở nọ!
    Mà bây giờ lấy oán trả ơn thầy
    Ba không buồn cho thế sự đổi thay
    Nhưng đau đớn, cõi lòng như dao cắt!

    Ba bịnh hoạn trong lao tù của giặc
    Bảo lãnh mấy lần chúng chẳng thả về
    Ngày qua ngày, bịnh trầm trọng não nề
    Khi phóng thích, ngã qụy vì kiệt sức!

    Ba suốt đời nêu sáng gương mẫu mực
    Dạy học trò, nay tẩu tán bốn phương...
    Theo chánh nghĩa, làm rạng rỡ tông đường
    Cũng có kẻ phản đồ theo giặc đỏ!

    Trước khi qua đời ba tôi nhắc nhở:
    “... Hoàn cảnh nào cũng phải giữ sắt son
    Cha âu lo nhân nghĩa sẽ không còn!
    Trên đất nước mấy ngàn năm Văn Hiến...”

    Dư Thị Diễm Buồn
    PHYTAN likes this.
  7. Thời gian qua bao thăng trầm hưng phế
    Con đường xưa lồi lõm đá chông chênh
    Nắng ban mai trải lụa cỏ nhung mềm
    Gió từng đợt gợn bồng bềnh sóng mạ

    Hàng me keo bên dốc cầu Mang Cá
    Bờ mẫu ngoằn ngoèo đưa đến Miễu Đôi
    Tàn thùy dương rủ bóng chiếc băng ngồi
    Những dòng chữ đã nhạt nhòa dấu khắc

    Chòm bông gạo rủ rê bầy chim sắt
    Đầm hoa sen nước trong vắt gợn rong
    Trời xanh lơ lác đác cụm mây hồng
    Cá ăn móng, nước phẳng gương vỡ vụn

    Lá so đũa gió đùa tua tủa rụng
    Bóng trúc che chòi tranh nhỏ tiêu sơ
    Ngồi đan tre, người luống tuổi thẩn thờ
    Nhìn khách viếng "Bà tìm ai?" Ông hỏi?

    "...Dạ thưa ông tôi muốn tìm Thanh Thoại
    Người bạn xưa, khác lớp, chung trường
    Xếp bút nghiêng, anh trấn giữ biên cương
    Tin tức bặt từ khi tôi xa xứ ..."

    Thanh tre rơi khỏi tay ông nắm giữ
    Thoáng ngỡ ngàng nhớ lại thuở xa xôi
    Mắt đăm chiêu, lòng xúc cảm bồi hồi
    Mi chớp nhẹ, ông vội vàng quay mặt

    Lời ngập ngừng, giọng run buồn hiu hắt:
    "... Bà là ai, tìm Thoại có việc chi ?
    Ảnh đi xa, muốn nhắn gởi lời gì ?
    Tôi có thể đưa tin dùm bà được..."

    "... Nhắn dùm Thoại, thời gian không trở ngược
    Giữ lời xưa, có kẻ vẫn đợi chờ
    Vẫn nhớ hoài, những mộng đẹp mùa thơ
    Bao người đã trở về như ước nguyện...
    Non sông nay ngập đau thương ác hiểm
    Họ trở về với tấc dạ sắt son...
    Nợ núi sông vẫn bền giữ vuông tròn
    Giữ suối ngọt ân tình thời niên thiếu... "

    Ông mỉm nhẹ nụ cười: "... Tôi đã hiểu!
    Người ra đi, người ở lại như nhau
    Lịch sử dù trong dông tố ba đào
    Còn sáng những tấm lòng như nhật nguyệt..."

    Khách giã từ, bóng dần xa biền biệt
    Ngọn gió trong lành lồng lộng thổi qua
    Hoàng hôn buông, mây trắng mỏng la đà
    Niềm tin yêu trong tim ông bừng sống!


    DƯ THỊ DIỄM BUỒN
  8. Có một hôm con về qua Xóm Đạo
    Mỹ Đông buồn thiếu bóng dáng thân yêu
    Cảnh vật xưa, ôi hoang vắng tiêu điều!
    Nghe thương nhớ, những ngày xưa thân ái

    Cha tác chiến, mẹ, con về quê ngoại
    Sống những ngày lo lắng nhớ thương cha
    Trước sân nhà ngoại trồng đủ loại hoa
    Con luôn phụ giúp bắt sâu, tỉa lá

    Có những hôm mẹ bận ngoài bệnh xá
    Theo bạn ra đồng câu cá bẫy chim
    Dòng sông Cái Thia tha thiết êm đềm
    Gió lay nhẹ, hàng dừa xiêm in bóng

    Cha trở về sau mùa vui thắng trận
    Đưa mẹ, con ra phố thị mua quà
    Quà cho con, cho mẹ, cho ông bà
    Khi xem hát, lúc dạo vườn bách thú

    Con đến tuổi được vào trường học chữ
    Mẹ thay cha nắn nót dạy từng câu
    Cuộc chiến gian nguy, cha mãi tuyến đầu
    Lâu lắm không về thăm con và mẹ…

    Bỗng một hôm đất trời như sụp đỗ!
    Mẹ qua đời trong khói lửa đau thương
    Sau tang mẹ, cha trở ra sa trường...
    Nhà mình vắng, vì quê hương chinh chiến

    Ba Mươi Tháng Tư! Cộng nô cưỡng chiếm
    Cha bị đày tù cải tạo chung thân!
    Con mười bảy, nguyện vào chí nguyện quân
    Tiêu diệt địch trên mọi miền đất nước

    Nay con đứng nơi nhà mình ngày trước
    Nghe lòng lưu luyến thương nhớ mẹ cha
    Cha ở đâu, Suối Máu hay Chí Hòa…
    Phú Quốc, U Minh… rừng già Bắc Việt?

    Chuông nhà thờ âm vang nghe tha thiết
    Nhưng giáo đường thưa thớt bóng giáo dân
    Bởi Cộng nô xây chủ nghĩa vô thần
    Con chua xót, ngậm ngùi thương Xóm Đạo!


    Mùa Quốc Hận, 30 tháng 4

    DƯ THỊ DIỄM BUỒN
  9. Ngày đó em tôi vừa mới lớn
    Trong veo ánh sáng khắp tâm hồn
    Gió lên, nắng ghẹo mây đùa giỡn
    Lất phất tóc thề, nhẹ mưa hôn

    Buổi sáng em đi, trời đẹp nắng
    Chiều về bóng nhạt lúc tan trường
    Tung tăng tà áo mềm sương trắng
    Nguyên vẹn lòng em chưa vết thương

    Thế rồi, Tết Mậu Thân năm đó!
    Giặc tràn về cày nát Huế thương
    Để cho tâm hồn em gái nhỏ
    Nỗi đau sầu se sắt vấn vương

    Làm sao quên mùa hè đỏ lửa?
    Cha em ngã gục giữa sa trường!
    Những ngày hoa mộng không còn nữa
    Nhà mất, đâu rồi quê mến thương?

    Dư Thị Diễm Buồn

    Xa tuổi hoa niên, xa kỷ niệm
    Người ơi chân yếu trải bao đường
    Nước non dầy dạn thời chinh chiến
    Em trở thành cô nữ cứu thương

    Từ đó, giã từ thời diễm mộng
    Đâu còn hạnh phúc để hoài mong
    Những sáng mưa tuôn, chiều gió lộng
    Nhớ thương gói kín tận trong lòng

    Bây giờ giữa xứ người lưu lạc
    Chiều đến ngoài song, nắng nhạt phai
    Có kẻ lưu vong buồn bã hát
    Trời đông lạnh giá tuyết bay bay

    DƯ THỊ DIỄM BUỒN
  10. Ngày xưa hởi, thời xuân xanh tuổi ngọc
    Hai buổi tan trường mẹ đón đưa con
    Giếng mắt chứa chan bao la hạnh phúc
    Hoài bảo ngập hồn, nợ nước tình non

    Giặc vào… cải tạo dãi dầu ba khổ!
    Tủi nhục tột cùng, uất hận riêng mang
    Thanh xuân theo mười bảy mùa lá đổ!
    Hồn xác xơ trong lao ngục nhọc nhằn

    Thư ba gởi từ trại tù Suối Máu
    Sau tin về đày ải chốn Năm Căn
    Ngày lao động và đêm đêm tẩy nảo
    Nước độc rừng thiêng đỉa vắt muỗi mòng

    Tiên Lãnh núi rừng lạnh lùng gió Bấc
    Vất vả thăm cha, tưởng mẹ qua đời
    Hiu quạnh, khó khăn lo buồn nội mất
    Khốn khổ chất chồng lên mẹ ba tôi!

    Ba tù đày, nhà chỉ còn có mẹ
    Đôn đáo sớm chiều cũng chẳng đủ ăn
    Rừng Việt Bắc ba mõi mòn kiệt quệ
    Mẹ héo hon trong năm tháng cỗi cằn

    Đã mấy lần con lều thân vượt biển
    Lỡ chuyến đò, giặc bắt nhốt “xà-lim”
    Lo con ra tù, không còn vốn liếng
    Gồng gánh gia đình vai mẹ nặng thêm

    Lời mẹ dặn, con khắc ghi tâm trí:
    “…Học làm người dân tốt nước Việt Nam
    Phải hãnh diện cha con tù Chánh Trị
    Hoàn cảnh nào… không thẹn với lương tâm”

    Mùa xuân nầy gia đình mình xum họp
    Mừng ba về từ địa ngục trần gian
    Ôi thảm cảnh quê hương chồng lớp lớp
    Biết bao người mơ vượt cảnh lầm than

    Những năm dài ba sống trong đày ải
    Bấy nhiêu năm, trong lận đận héo mòn
    Trên trần thế nếu hỏi ai vĩ đại?
    Không ngại ngùng con bảo: “Mẹ Ba” con

    DƯ THỊ DIỄM BUỒN
  11. Tháng Mười Một em lẩy lá mai
    Trời trong mây biếc nắng hây hây
    Lá rơi tua tủa như đàn bướm
    Vườn động nên ngàn bươm bướm bay

    Giữa tháng Chạp
    Cây trơ cành
    Đầu mùa xuân hoa mai nở
    Cả khu vườn thanh thoát màu vàng anh

    Gió man mác
    Sương long lanh
    Vườn xuân trái, rau phơi phới...
    Nắng hồng tươi nền trời xanh rất xanh

    Đàn én liện
    Trên tầng không
    Lính chờ xuân nơi tiền tuyến...
    Đem xuân an vui... với cả tấm lòng

    Hồn phơi phới
    Xuân bâng khuâng
    Muôn loài chờ mong năm mới
    Bầu trời Nam ngời sáng tỏa ánh xuân

    Chợ hoa em bán ngày cuối năm
    Dập dìu người đến thưởng hoa xuân
    Em giữa ngàn hoa khoe sắc thắm
    Không thắm bằng em thoáng thẹn thùng


    DƯ THỊ DIỄM BUỒN
  12. Cô giáo trẻ... nay tóc pha sương trắng
    Tết đến rồi! Sao hồi ức mênh mông!
    Trời Ca-Li hoa khoe hương sắc thắm
    Viễn khách ơi, hãy mừng đón xuân nồng...

    Nắng chói chang, nền trời xanh biêng biếc
    Mây nõn nà bay từng cụm lang thang
    Đôi cánh mỏng vỗ đều, chim mãi miết
    Qua bàu sen, cụm điên điển hoa vàng

    Nước quặn xoáy cá quẫy đuôi ăn móng
    Rau muống xanh, bông tím rực bờ ao
    Gió thổi nhẹ, cành tre già khua động
    Thằng bù nhìn giữ ruộng lắc lư chao

    Đâu đây thơm mùi đống ung rạ mới
    Chập chờn theo làn khói tỏa mơn man
    Ôi thôn dã mở vòng tay đón đợi
    Người về đây yêu nếp sống dịu dàng

    Thế mới biết vì sao chị lẫn tránh
    Nơi ồn ào tấp nập chốn thành đô
    Những giả tạo trong đèn màu lấp lánh
    Tiếng động cơ theo nhịp sống xô bồ

    Muốn thăm chị phải dùng xe, xuồng máy...
    Nắng trải dài ruộng Đồng Tháp mênh mông
    Đây gò nổng, rặng trâm bầu, nông trại...
    Vẫn thơm tho hương cỏ nội hoa đồng

    Chị rạng rỡ giữa khung trời bát ngát
    Căn nhà xinh có vườn chuối, quýt, cam...
    Tờ mờ sáng hương cau bay ngào ngạt
    Kèn tò te, đò đưa khách chợ Vàm

    Phụ huynh lễ, Tết... đến thăm cô giáo
    Khi tặng khoai, bắp, củ, trái, dưa leo...
    Xâu cá sặc, mớ tôm, lon ốc gạo...
    Lòng dân quê chân thật xóm thôn nghèo

    Đã bao năm không chuyển đi nơi khác
    Lúc ra trường chị chọn dạy nơi đây
    Yêu vườn ruộng, thương người dân đạm bạc
    Nghèo bạc tiền nhưng tình nghĩa đong đầy

    Có một hôm đoàn quân qua thôn xóm
    Chàng đi rồi, để lại mối tơ vương...
    Cô giáo trẻ mộng mơ nhìn hoa bướm
    Má hồng tươi, lòng mở lối thiên đường

    Nay Miên, mai Lào, Kon-Tum, Đồng Tháp...
    Giúp bạn, chặn thù... khắp nẻo, sơn khê
    Đoàn quân anh ạt ào như bão táp...
    Nỗi mừng vui... tin thắng trận đưa về

    Chị đài trang bên anh chồng lính chiến
    Trời thương tình cho hai kẻ nên duyên
    Ai mơ cao sang vá trời lấp biển...
    Chị bên chồng con... an phận vợ hiền

    Tin đau đớn... khiến bao người sờ sửng!
    Hắt hiu buồn... nhưng chẳng tiếng thở than
    Miểng pháo kích làm gãy lìa chân cứng
    Cô giáo ngoan hiền lâm cảnh nguy nan!

    Trước phong ba chị không hề lùi bước
    Chồng cải tạo đày rừng, núi... xa xôi
    Mấy đứa nhỏ giặc luôn đối xử ngược...
    Con của “Ngụy Quân”! Việt Cộng quá tồi!

    Chị dạy trẻ: “Phải lấy làm hãnh diện
    Vì cha con là Chánh Trị tù nhân...
    Qua xứ người, phải làm gì thực tiễn...
    Theo gương cha dù có phải hiến thân...”

    Cuộc đời hưng phế theo dòng cuốn xoáy!
    Mà thời gian thì cứ trôi mãi trôi...
    Dân tộc Việt mong chờ xuân đổi mới...
    Viễn xứ vui xuân... cô giáo ngậm ngùi!

    DƯ THỊ DIỄM BUỒN
  13. Mẹ qua đời tôi chưa tròn một tuổi
    Sống với bà, nhờ chén nước cơm vo
    Cha cải tạo, không biết đến bao giờ?
    Từ giặc chiếm phải xa cha, lìa mẹ!

    Tôi không được vào trường như bạn trẻ
    Bởi con “ngụy” liên hệ tội của cha
    Ăn không no, bà yếu sức tuổi già
    Sống lây lất bo bo thay cơm cháo

    Cay đắng nào hơn, tuổi vừa lên sáu
    Bà qua đời trong khốn khổ, ốm đau!
    Tôi lang thang bươi rác, ngủ gầm cầu
    Kiếm từng bữa, ngày qua ngày tiếp nối

    Lất phất mưa bay, trời chạng vạng tối
    Chị hàng rong dừng gánh, ở bên đường
    Cho gối xôi, mắt ấm áp tình thương...
    Ôi hạnh phúc, nghẹn ngào tôi bật khóc!

    Và từ đó đời bớt phần cô độc
    Sống với chị, nhờ vào gánh hàng rong
    Lâu lắm rồi, giữa đêm tối mùa đông!
    Bờ sống vắng, tôi lên xuồng ba lá

    Trước, sau xuồng có hai người khách lạ
    Họ bơi nhanh từ sáng đến xế chiều
    Qua những vùng thôn hoang vắng đìu hiu
    Trời khuất núi, xuồng vẫn chưa ghé bến

    Tôi không hỏi đi đâu, bao giờ đến?
    Qua đồng xanh lác đác cụm trâm bầu
    Bông súng vàng hơn hớn dưới đầm sâu
    Cá nhảy ngược, dầm bơi làm quấy động

    Gió vi vu, xuồng lướt êm trên sóng
    Tôi lặng thinh, ngắm đếm những sao trời
    Chăm chú nhìn chờ sao xẹt, đổi ngôi…
    Thành Tâm nguyện, sẽ ứng linh lập tức

    Tiếng ai gọi? Bàng hoàng tôi chợt thức!
    “…Con ơi con, hãy tỉnh giấc đi con
    Cha đây! Con tôi thân xác gầy còm
    Tuổi thơ dại, sớm chịu nhiều đau khổ…”

    Chị thiết tha, vuốt tóc tôi bảo nhỏ:
    “…Gọi đi em, người đó chính là cha…”
    Tôi ôm cha, mắt lệ mãi chan hòa!
    Cha ôm tôi trong vòng tay trìu mến!

    “…Ngày cha ra đi, miền Nam giặc chiếm…
    Bà qua đời rồi con sống với ai?
    Nhận ra con nhờ có tấm thẻ bài
    Là di vật cuối cùng cha để lại…”

    Hôm nay đây, mình tôi nơi hải ngoại!
    Tuy bạn bè và đồng đội rất đông
    Đoàn tựu rồi, vẫn cách núi ngăn sông…
    Nhưng cùng dạ, chung lòng cho Chánh Nghĩa


    DƯ THỊ DIỄM BUỒN