Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!
Color
Background color
Background image
Border Color
Font Type
Font Size
  1. Mẹ qua đời tôi chưa tròn một tuổi
    Sống với bà, nhờ chén nước cơm vo
    Cha cải tạo, không biết đến bao giờ?
    Từ giặc chiếm phải xa cha, lìa mẹ!

    Tôi không được vào trường như bạn trẻ
    Bởi con “ngụy” liên hệ tội của cha
    Ăn không no, bà yếu sức tuổi già
    Sống lây lất bo bo thay cơm cháo

    Cay đắng nào hơn, tuổi vừa lên sáu
    Bà qua đời trong khốn khổ, ốm đau!
    Tôi lang thang bươi rác, ngủ gầm cầu
    Kiếm từng bữa, ngày qua ngày tiếp nối

    Lất phất mưa bay, trời chạng vạng tối
    Chị hàng rong dừng gánh, ở bên đường
    Cho gối xôi, mắt ấm áp tình thương...
    Ôi hạnh phúc, nghẹn ngào tôi bật khóc!

    Và từ đó đời bớt phần cô độc
    Sống với chị, nhờ vào gánh hàng rong
    Lâu lắm rồi, giữa đêm tối mùa đông!
    Bờ sống vắng, tôi lên xuồng ba lá

    Trước, sau xuồng có hai người khách lạ
    Họ bơi nhanh từ sáng đến xế chiều
    Qua những vùng thôn hoang vắng đìu hiu
    Trời khuất núi, xuồng vẫn chưa ghé bến

    Tôi không hỏi đi đâu, bao giờ đến?
    Qua đồng xanh lác đác cụm trâm bầu
    Bông súng vàng hơn hớn dưới đầm sâu
    Cá nhảy ngược, dầm bơi làm quấy động

    Gió vi vu, xuồng lướt êm trên sóng
    Tôi lặng thinh, ngắm đếm những sao trời
    Chăm chú nhìn chờ sao xẹt, đổi ngôi…
    Thành Tâm nguyện, sẽ ứng linh lập tức

    Tiếng ai gọi? Bàng hoàng tôi chợt thức!
    “…Con ơi con, hãy tỉnh giấc đi con
    Cha đây! Con tôi thân xác gầy còm
    Tuổi thơ dại, sớm chịu nhiều đau khổ…”

    Chị thiết tha, vuốt tóc tôi bảo nhỏ:
    “…Gọi đi em, người đó chính là cha…”
    Tôi ôm cha, mắt lệ mãi chan hòa!
    Cha ôm tôi trong vòng tay trìu mến!

    “…Ngày cha ra đi, miền Nam giặc chiếm…
    Bà qua đời rồi con sống với ai?
    Nhận ra con nhờ có tấm thẻ bài
    Là di vật cuối cùng cha để lại…”

    Hôm nay đây, mình tôi nơi hải ngoại!
    Tuy bạn bè và đồng đội rất đông
    Đoàn tựu rồi, vẫn cách núi ngăn sông…
    Nhưng cùng dạ, chung lòng cho Chánh Nghĩa


    DƯ THỊ DIỄM BUỒN
  2. Nhớ xóm đạo, vang lời kinh cầu nguyện
    Trăng thượng tuần lơ lững vượt hàng cau
    Ngôi giáo đường in bóng dải sông sâu
    Cồn bần chớp sáng muôn đèn đom đóm

    Mỗi canh qua gà ó o... cuối xóm
    Đầu canh tư, bếp đỏ lửa nấu cơm
    Vui bước ra đồng đập lúa, cào rơm
    Kẻ tưới rẫy, người bón phân vô thuốc

    Tờ mờ sáng tiếng gào dai tát nước
    Lúa mập xanh, no nưỡng hột đòng đòng
    Nắng ban mai, thôn nữ má ửng hồng
    Chàng niên thiếu đa tình cao giọng hát

    Cá ăn mống, vịt trời kêu oang oác
    Bầy chuồn chuồn xanh đỏ, lượn quanh ao
    Đàn vịt le về bãi sậy bờ lau
    Bên lùm cỏ, sáo đen xà xuống thấp

    Ghe lưới về, xóm chài thêm tấp nập
    Chuông đinh đong thanh thoát tự giáo đường
    Bóng con chiên lũ lượt dưới hàng dương
    Sáng Chủ Nhật, đến nhà thờ rước lễ

    Cây Thánh Giá, gác chuông cao ngạo nghễ
    Sân vách còn loang vết tích chiến chinh
    Giáo dân chơn chất, son sắt, nghĩa tình
    Thờ Chúa, vững tâm trước đời dâu bể

    Đêm Noel Chúa Hài Đồng giáng thế
    Mang bình yên cho tất cả mọi người
    Xin dừng chân nơi xóm đạo làng tôi
    Dân khốn khổ mỏi mòn mong ơn phước

    Từ giặc tràn vào, chịu chung thảm cuộc
    Người trốn đi, kẻ dưới ách bạo quyền
    Chịu biết bao nỗi nghiệt ngã oan khiên
    Xóm đạo buồn, âm vang lời cầu nguyện...

    DƯ THỊ DIỄM BUỒN
  3. Mình Chúa đóng đinh trên Thánh Giá
    Mắt dịu hiền Đức Mẹ đồng trinh
    Chúa Hài Đồng nằm trong hang đá
    Vạn ngàn sao chiếu sáng lung linh

    Con ngoại đạo nhưng tin có Chúa
    Dưới tượng ngài khấn nguyện lâm râm
    Chiên quỳ mọp, Thiên Thần lượn múa
    Nỗi niềm riêng khe khẽ thì thầm:

    “…Con có người yêu làm lính chiến
    Hứa sẽ trở về mùa Giáng Sinh
    Bôn ba đuổi giặc ngoài chiến tuyến
    Xin Chúa ban ơn được an bình...

    Chúa ơi, đêm đông trời lạnh giá
    Vợ mong chồng trong nỗi quạnh hiu
    Lạy Chúa trên cao ban phước cả
    Mọi kẻ thương yêu... hạnh phúc nhiều

    Đất nước nhiễu nhương cơn thống hận
    Chiến tranh sao độc ác vô tình!
    Chúa có nghe chăng lời thành khẩn...
    Nước Việt Nam khốn khổ điêu linh…

    Tiền đồn biên trấn bao hung hiểm
    Con không trách hờn buồn giận đâu
    Đã chấp nhận người yêu lính chiến
    Chàng mãi bôn ba ở tuyến đầu…”


    Lời nguyện cầu lệ vương mi mắt
    Theo chuông ngân quyện tỏa không gian
    Đêm Giáng Sinh ngập đầy hương sắc
    Đón mừng ơn Thánh Chúa vô vàn

    Cảm ơn Chúa người yêu trở lại
    Từ chiến trường xa đã bị thương
    Viên đạn thù gây bao oan trái…
    Đồ thán sanh linh... khắp nẻo đường

    Nay người trở lại không toàn vẹn
    Lòng con sau trước vẫn yêu thương
    Người yêu lính chiến không lỗi hẹn
    Nửa phần thân thể... hiến quê hương!

    Xứ người Giáng Sinh... trong tuyết bão
    Cây thông xanh lấp lánh đèn màu
    Chúng con vẫn là người ngoại đạo
    Xin thành tâm tha thiết nguyện

    DƯ THỊ DIỄM BUỒN
  4. Làm sao quên, giặc về dân trôi nổi…
    Nhà tản cư ở đậu đất người ta!
    Ngoài ao bèo điên điển bông vàng ối
    Người sầu lo! Hoa làm dáng mặc hoa

    Nhà mình thuở đó: cấy, trồng, phơi, bó…
    Lúa nếp gặt về đập chứa đầy bồ
    Những đêm nước kém đặt lờ, kéo vó…
    Chuối, mít, dừa… lớp bán, lớp phơi khô

    Má tháo vát nên chân bùn, tay lấm…
    Chẳng ngại nhọc nhằn phụ giúp chồng con
    Cá, vịt, heo, gà… ủ rơm nuôi nấm
    Dây trầu xanh quấn quít gốc cau hòn

    Nông thôn ơi! Tươi vàng tơ nắng lụa
    Tim nồng nàn tha thiết thắm tình xuân
    Người dân quê hiền lành như bông lúa
    Ba má vui, bên con cháu quay quần…

    Thời cuộc đổi thay, quê hương nhuộm đỏ!
    Nước loạn ly, con tứ tán khắp nơi…
    Nặng nghĩa ân, ba không lìa thôn nhỏ
    Dù đất đai bị cắt bảy, chia mười…

    Năm tháng dài, nhớ cố hương chi lạ!
    Mấy mươi năm, con trở lại thăm quê
    Bước chân lên tàu nghe lòng rộn rã
    Thời thanh xuân, ngày đẹp cũ quay về

    Con sẽ tâm sự suốt đêm với má…
    Kể ba nghe, chuyện lạ xứ người ta…
    Sau giặc chiếm, làng thôn nghèo khổ quá!
    Quê hương mình giờ thay đổi, lạ xa…

    Mõi mắt dõi tìm bóng hình yêu dấu!
    Đâu hàng rào Bông Bụp, khóm Huỳnh Anh?
    Con sửng sờ, nát lòng nào ai thấu!
    Hai nấm mộ buồn bên liếp trầu xanh!


    Dư Thị Diễm Buồn
  5. Từ Sài Gòn xuôi về miền Lục Tỉnh
    Vườn mênh mông hoa trái trĩu quằn cây
    Cô bán hàng rám nắng má hây hây
    Trên vai mỏng mâm dứa thơm Bến Lức

    Hành khách đông trưa hè càng oi bức
    Xe chạy đều, gió ào ạt tạt ngang
    Gói cốm chuồi trắng dẻo chợ Long An
    Thơm sầu riêng, béo dừa, dòn đậu phọng

    Đám mạ xanh rạp theo chiều gió lộng
    Bầy chuồn chuồn săn muỗi dọc bờ mương
    Xe tạm dừng nghỉ tạm bến Trung Lương
    Mận hồng đào, mía ghim cùng kẹo chuối…

    Qua Sầm Giang lòng buồn thương tiếc nuối
    Chiến công xưa hiển hách dễ nào quên
    Cái Bè, Cai Lậy… chiến sử ghi tên
    Bao ân nghĩa dành cho người lính chiến

    Đồng Tháp Mười, rực khung trời kỷ niệm
    Quê ngoại nghèo, tang tóc bởi đao binh
    Mong người dân được nếp sống an bình
    Bã danh lợi vẫn không hề vướng bận

    Xe dừng lại chờ qua đò Mỹ Thuận
    Cam, mít, xoài, ổi xá lỵ chín cây
    Thịt nướng, tôm càng, cá chẻm, chim quay…
    Vùng Châu Thổ, món ăn ngon thơm phức

    Bờ Cữu Long bông ô môi tím rực
    Dịu gió hiền, mát rượi nước phù sa
    Ghe thương hồ xuôi ngược sóng giang hà
    Rẽ sang phải, đường đi về Sa Đéc…

    Ngày quang đãng hay bão bùng sấm sét
    Đêm trăng trong hay chiều tối mưa rơi
    Qua Vĩnh Long khách nhớ mận da người
    Nha Mân đó, nem chua còn hương vị!

    Bạn tôi thất tình học làm thi sĩ
    Thơ khen Thiền Đức, thích chợ Trường An
    Đìa ấu xanh nằm dọc lộ Ba Càng
    Em Vĩnh Bình, học trường Tống Phước Hiệp

    Qua Cái Vồn, bắc Cần Thơ nối tiếp
    Tiếng động cơ dòn nổ ở phi trường
    Nhớ mãi những chiều đưa đón người thương
    Sau phi vụ, Đại Bàng về Trà Nóc

    Đoàn Thị Điểm, ôi thuở còn đi học
    Phan Thanh Giản trước lớp sóng phế hưng
    Vẫn hiên ngang như cây đứng giữa rừng
    Cho đất nước những thanh niên ưu tú

    Nhãn Bạc Liêu, cá duồng mùa nước lũ
    Gạo nàng hương phơi trắng chợ Sóc Trăng
    Tới Cà Mau rừng tràm đước bạc ngàn
    Dấu binh lửa vùng vị Thanh, Cờ Đỏ…

    Bến Năng Gù, đò đưa qua thôn nhỏ
    Dân trường trai không xem nặng lợi danh
    Trồng trọt, ruộng nương hướng đạo tâm lành
    Làng Hòa Hảo ngân vang hồi kinh kệ

    Vận nước nổi trôi, trần gian dâu bể
    Sấm giảng truyền, Thánh Địa tiếng chuông ngân
    Lấy đức ở đời bể ải trầm luân...
    Kinh “Báo Tứ Ân” ấm lòng nhân thế

    Đây dòng An Giang, Thất Sơn ngạo nghễ
    Trái cây mười tám, một chục đủ đầu
    Nắng miền Nam hong mượt lãnh Tân Châu
    Bến Tre đó, nước dừa tươi mát lịm

    Chùa Vĩnh Tràng, Mỹ Tho còn vang tiếng
    Hải sản ngon... Vàm Láng biển Gò Công
    Trái sê-ri chính mọng chợ Hòa Đồng
    Ghế đá công viên... nỗi niềm lưu luyến

    Mộc Hóa giặc cày, pháo bừa Chương Thiện
    Em Hà Tiên tóc chải lược đồi mồi
    Đến Hòn Chông nghe sóng vỗ chơi vơi
    Ra Hòn Trẹm nhớ bóng người tu nữ

    Cao Lãnh, Cà Mau… chạnh lòng cô lữ
    Phiêu bạc chân trời, gan ruột héo hon
    Cố hương ơi, ta vẫn đợi mõi mòn...
    Ngày trở lại để nguôi lòng thương nhớ.


    Dư Thị Diễm Buồn
  6. Bao năm xa cách trở về đây
    Đường cũ chùa xưa cỏ phủ đầy
    Sừng sững tam quan rào nghiêng đổ
    Xạc xào... chỉ có gió rung cây

    Nhớ giọng kinh cầu của sư Ông
    Ngân nga theo tiếng đại hồng chung
    Thành tâm chị thấp hương cầu nguyện
    Nét liễu lung linh ngọn nến hồng

    Bên chị tôi quỳ... hương nhang bay
    Nhìn qua song cửa bóng chàng trai
    Mắt ngời... ngắm chị qua làn khói
    Vương tỏa chập chờn trên tóc mây

    Đãnh lễ vừa xong chị định rời
    Đâu ngờ lính quýnh ngã vào tôi
    Chị ơi, má chị thêm hồng thắm!
    Chợt thấy người kia mỉm miệng cười

    Từ đó chị tôi thẩn thờ luôn...
    Tư lự dõi nhìn nắng chiều buông
    Bâng khuâng ngắm mây bay tha thướt...
    Lắng nghe rời rạc... tiếng mưa buồn

    Thế rồi năm ấy mùa Vu Lan
    Nhà trai tề chỉnh gấm, lụa... sang
    Trà, rượu, cau, trầu, mâm bánh, trái...
    Người theo cha mẹ... đến hỏi nàng

    Ngoài cửa trong sân ngập pháo hồng
    Nhà tôi chòm xóm đến thêm đông...
    Mẹ cha thân quyến vui như Tết
    E thẹn, chị tôi bước cạnh chồng

    Anh là lính chiến của khắp nơi...
    Huế, Cà Mau, Đồng Hới, Tháp Mười...
    Giẫm gót thù... bốn vùng chiến thuật
    Chị thường cầu nguyện... dưới sao rơi!

    Tin anh ngã... chiến lửa Bờ Bao!
    Pháo giặc bừa, chụp lên chiến hào
    Người đã hy sinh cùng đồng đội...
    Chị tôi chết đứng, lệ dâng trào!

    Hôm nay chị trở lại thăm quê!
    Cảnh đấy, chùa đây vắng tư bề
    Người xưa ẩn hiện trong niềm nhớ
    Một thoáng hương xưa vụt trở về

    Ái ngại lén nhìn phía chị tôi
    Nỗi buồn cô đọng tím khung trời
    Lệ sầu từng giọt lăn trên má...
    Thương chị cô đơn... nửa cuộc đời!
  7. Sương mù còn giăng mắc trên cỏ cây, hoa lá, và cơn gió sáng đầu mùa xuân mát rượi lướt qua. Cái lạnh chỉ the the nhưng da tay dễ bị nổi gai và khiến người phải rùng mình. Trên không gian còn mờ đục hơi sương mà đã thấy bóng dáng những cánh chim trời nhàn hạ lững lờ bay lượn. Đó là vùng trời Thung Lũng Sương Mù (Yuba City) đất mới với kẻ tha hương như chúng tôi, đã tạm cư hơn mười năm qua.

    Không giấu gì quý vị, gia đình tôi đã dùng thuyền chài vượt biển Đông đến được đảo nhỏ Terempa của quần đảo nước Nam Dương (Indonesia). Những ngày tháng lây lất kiếp sống tha hương của thuyền nhân Việt Nam tị nạn Cộng Sản thật vất vả trăm chiều! Nhưng hạnh phúc lắm, và tâm hồn ngập tràn niềm tin, niềm hy vọng hơn thân nhân, người dân.... còn kẹt lại bên kia bức màn tre! Để rồi mấy tháng ở trai tị nạn nặng nề trôi qua, gia đình chúng tôi vui mừng vô cùng kể là có tên trong danh sách được vào định cư ở nước Hoa Kỳ.

    Mỹ là một nước thiên đường mà người dân trong các nước Cộng Sản như là nước Việt Nam luôn uớc mơ và nguyện cầu có ngày được đến cái xứ tự do nầy. Mặc dầu miệng chúng luôn gọi là đế quốc Mỹ, và có người sẽ không bằng lòng với ý nghĩ trên, nếu đem phân tích mọi thứ và so sánh với các nước tự do... rồi kết luận rằng cái xứ Mỹ không phải là thiên đường bằng các nước tự do khác! Thôi thì hãy nhận xét và dễ dãi một chút đi, bởi nếu không phải là xứ “thiên đường” thì làm sao các đảng viên Việt Cộng, các nhà giàu lắm tiền nhiều bạc, các đại gia... lạy lục xin xỏ được định cư ở Mỹ, và cho con qua Mỹ du học tốn bạc tỷ... Rồi sau đó cưới vợ gả chồng để ở lại Mỹ và hội nhập vào nước Mỹ vậy nè?

    Lúc gia đình chúng tôi bôn đào chỉ mong rời khỏi Việt Nam đến được nước thứ ba tự do nào trên thế giới thì mừng lắm rồi! May quá, hình như không nước Cộng Sản nào có văn phòng nhận người vượt biên tị nạn Việt Cộng giống như Gia Nã Đại, Pháp, Đức, Bỉ, Hòa Lan, Mỹ... thì phải? Cảm ơn Thượng Đế, ơn phước Chúa, Phật tổ từ bi chớ nếu có chắc chắn thuyền nhân chẳng ai dám điền đơn vào tị nạn ở nước Cộng Sản cả! Đã bỏ quê hương xứ sở, mồ mả ông bà... chạy thục mạng khỏi Việt Nam Cộng sản thì bộ điên sao mà xin vào một nước Cộng Sản khác!

    Đầu hôm sớm mai gia đình chúng tôi được định cư ở vùng Chicago, thuộc tiểu bang Illinois Mỹ Quốc. Ở đâu cũng được, vào Mỹ là ngon lành là mừng húm rồi, còn ở đó mà muốn vùng nầy vùng kia, tiểu bang nầy tiểu bang nọ... Bởi từ cha sanh mẹ đẻ ra đến giờ, chúng tôi có đặt chân đến nước Mỹ lần nào đâu mà kén với chọn, hoặc so sánh khí hậu lạnh, nóng... thế thái nhân tình tốt xấu, vui, buồn... Miễn được vào Mỹ thì mừng quá thể không đòi hỏi chi cả... Mà đòi hỏi cái gì nhỉ? Khi xứ của người ta vì lòng nhân đạo đã giúp đỡ và cưu mang suốt quãng đời còn lại của mình...

    Chúng tôi đến vùng Chicago vào đầu mùa xuân, mà mỗi khi nhớ lại không khỏi tức cười. Bởi còn ngồi ở trại chờ mà vợ chồng con cái dệt mộng rồi: Sẽ nhìn thấy hồ Chicago nước xanh trong leo lẻo, bầu trời Chicago trong như lọc, nắng Chicago như trải lụa Hà Đông trên cỏ cây hoa lá tỏa hương, khoe sắc đẹp muôn màu... hòa cùng những kỳ hương dị thảo hiếm quý khác trên thế giới được đem đến trồng ở đây... vân vân và vân vân...

    Mười mấy tiếng ngồi máy bay, qua hai chặng tạm dừng, đó là Nhật, Los Angeles, rồi mới đến phi trường O’Hare của Chicago.

    Khi vợ chồng con cái lếch thếch đi ra chỗ đậu xe thì “Úi giời ơi, lạnh teo phèo teo phổi! Lạnh quíu tay quíu chân, lạnh đến đổi da thịt như bị đông cứng lại, không còn cảm giác hay không run lập cập được!” Ấy vậy mà gia đình chúng tôi ở đó gần hai mươi lăm (25) năm. Cho đến khi sắp nhỏ ra trường đi làm, thì chúng tôi mới có cơ hội rời xa vùng một năm hơn sáu tháng giá băng tuyết đổ muôn chiều nầy...

    Tháng Tư năm 2004, gia đình tôi dời qua miền Bắc của miền Nam nước Mỹ có khí hậu ôn hòa nắng ấm thuộc tiểu bang California. Thiệt là đỡ thương anh hùng hết sức, chớ mỗi năm người sống ở Illinois phải đương đầu với giá rét lạnh lùng, tuyết rơi lả chả từ giữa mùa thu sang đến gần cuối mùa xuân. Giờ nơi tạm cư mới của chúng tôi là California, gần như ấm áp quanh năm. Sân trước vườn sau của nhà tôi lúc nào cũng cây xanh lá thắm, về mùa hè có những loại trái lấy giống từ miền nhiệt đới ở Châu Á, đem sang trồng bên nầy như: Hồng (mềm, giòn), nhãn, ổi, táo tàu, bưởi Biên Hòa, cam hồng mật, xoài cát đen, chuối xiêm, mận hồng đào...
    Cũng nhờ thời tiết California tốt nên dân Á Châu nhứt là Việt Nam sống nhiều ở vùng nầy. Lâu ngày, chầy tháng họ rủ rê gia đình, bè bạn... ở miền lạnh dời về đây cư ngụ rất đông, rất đông... Cho nên ở miền Nam tiểu bang California có thành phố Wesminster, ở miền Bắc có thành phố San Jose dân Việt Nam nhiều nhứt nhì trên nước Mỹ.

    Ai đi qua hai thành phố ở miền Nam nước Mỹ California đều có nhận xét: “Vào Wesminster, đến San Jose chúng ta sẽ có cảm giác giống y chang như đi trên phố Sài Gòn, Chợ Lớn năm xưa...”. Vì từ các cơ quan chánh quyền, thương mại, kỹ nghệ, y tế, cảnh sát... Nói tóm lại kỹ, nông, công, thương, binh... mọi ngành nghề trong các cơ sở đều có người Việt Nam làm việc. Còn các cửa hàng thương mại lớn, nhỏ... đa số do người Việt làm chủ...

    Những người lớn tuổi ở Việt Nam di dân qua sống ở hai thành phố nầy thì khó lòng mà hiểu và nói được tiếng của dân bản xứ... Vì đâu đâu cũng có người Việt, nói tiếng Việt...

    Thí dụ điển hình nhứt như trường hợp anh chị Hai tôi được con gái rước qua sống ở Wesminster hơn tám năm rồi... mà chữ “Hello, good bye” chị hãy còn lọng cọng lắm! Tôi không khỏi bật cười khi đứa cháu kể lại: Số là, mặc dù trước khi con dâu Út của anh chị là người Mỹ ở tiểu bang khác lần đầu tiên đến ra mắt ông bà già chồng, thì con gái, và mấy đứa cháu ngoại đã dợt kỹ cho chị lắm rồi.

    Thế mà thần hoàng thổ địa ơi! Con dâu vừa bước vào cửa chào. Chị Hai tôi cảm động ứa nước mắt, cười vui vẻ gật đầu, tay vuốt lưng dâu có vẻ hài lòng lắm, lắm... Rồi chị thân thiện bắt tay con dâu lớn tiếng chào “Good bye...” Cả nhà đứng gần há hốc miệng? Rồi chồng, con, rể, cháu... ôm bụng cười ngất nga ngất nghéo, cười bò lăn bò lộn, cười thiếu đều muốn vỡ cả mái nhà... Chị tôi và cô dâu Mỹ cũng cười theo.

    Biết bị chọc quê, chị nguýt chồng con, bảo:

    - Tao già rồi học chữ Mỹ để làm gì, ở đây nhiều người Việt đi đâu cũng có thể nói tiếng của mình như bên nhà dễ dàng thấy bà, thì học chữ Mỹ, nói tiếng Mỹ chi cho mệt! Bởi miệng nói còn hai cái tay phải ra dấu phụ thêm thì người ta mới hiểu mình nói gì... sẽ nhức mỏi phải tốn tiền mua dầu cù là bóp tay nữa...

    Còn hụt hẫng trong tiếng cười, anh rể tôi lắc đầu nhìn vợ:

    - Thôi kệ bả đi, và tụi bây để coi đây rồi khi con dâu chào mẹ chồng ra về thì bả sẽ giã từ bằng chữ “Hello... welcome...” cho mà coi...

    Thế là cả nhà lại cười thêm một chập nữa... Tôi bỗng nhớ lại năm rồi có vợ chồng người bạn của phu quân tôi từ nước khác sang chơi. Anh chị khen các cửa tiệm Việt Nam ở Phước Lộc Thọ lớn, trưng bày các mặt hàng vừa đẹp vừa sang có thua gì các tiệm Mỹ đâu. Đến khi vào cầu vệ sinh chị ngại không dám chê lớn, mà nói nhỏ với tôi “nặng mùi... quá!” và thấy thiếu giấy đi cầu, thiếu giấy trùm bồn cầu để ngồi lên cho sạch... Tôi tìm người có phận sự, nhờ giúp lấy hộ những thứ cần thiết đó... Nhân viên người ngoại quốc nầy nhanh nhẹn, mỉm cười trả lời gọn hơ:

    - Hết rồi!

    Tôi tròn xoe mắt ngạc nhiên, chưa kịp lên tiếng, thì ông ta như hiểu ý tươi cười, tiếp:

    - Xin lỗi bà đừng lấy làm lạ, phòng vệ sinh ở chợ nầy thiếu mấy thứ đó là việc hết sức bình thường, chớ không có gì mới cả...

    Mặc dù chúng tôi dời về tiểu bang California, nhưng ở xa hai thành phố đông người Việt đó. Muốn đến Wesminster phải lái xe mất khoảng bảy, tám giờ, nên mỗi năm chừng vài lần, vào Hội Chợ Tết Nguyên Đán do sinh viên tổ chức đông người và vui lắm. Đi đám tiệc hoặc lâu lâu đi ăn quà vì nơi đó nhiều nhà hàng có cá tôm tươi, nấu ăn ngon và giá rất phải chẳng. Còn San Jose gần hơn nhưng cũng ba giờ lái xe, chúng tôi hay đi vào những lễ lớn của cựu quân nhân, cựu tù nhân chánh trị tổ chức như là Ngày Quốc Hận của Việt Nam (30-4). Ngày Quân Lực 19 tháng 6... Bạn văn thơ ra mắt sách, picnic liên trường Trung học, đám cưới, nghe các diễn giả nói về một đề tài nào mà chúng tôi thích...

    Đã lâu rồi, thỉnh thoảng chúng tôi bảo nhau, nếu có dịp về vùng San Jose vào sáng thứ Bảy thì ghé qua “Cà-phê Lính” Được biết do quý anh cựu quân nhân nơi đó đã mở gần ba năm... Hôm nay không báo trước, vợ chồng tôi sáng sớm đã khăn áo chỉnh tề vượt khoảng đường xa gần ba trăm cây số. Nếu tính theo đường bộ thì hôm nay chúng tôi chỉ đi một bận thôi, tính ra cũng gần bằng đường dài đi từ Mỹ Tho đến Vũng Tàu, và Vũng Tàu trở về Mỹ Tho. Bởi vậy cho nên đã sửa soạn từ trời còn tờ mờ, để đến kịp giờ Cà Phê Lính bắt đầu từ tám giờ rưởi (8.30) sáng...

    Ra khỏi thành phố Suơng Mùa Yuba City (nơi chúng tôi đang tạm dung) bắt qua xa lộ. Mất gần hai giờ nữa, qua nhiều ngã rẽ tâm tình mới vào được xa lộ 680 hướng về San Jose.

    Xe bon bon trên đường qua các đồi thấp núi cao lúc xa, lúc gần... vì có những quãng đường cắt ngang qua núi, sát chân núi... Dốc đồi dáng núi dưới ánh nắng bình minh có màu xám da chuột, và lác đác chen chúc bên vách hoặc dưới chân là những cây hoang dã xởn xơ xanh lá vì đã vào mùa xuân... Xe qua những cánh đồng còn phơi gốc cỏ khô úa vàng, có chỗ dân địa phương cấy, trồng hoa hướng dương trổ vàng cả vùng rộng lớn mấy chục mẫu đất để nhữ ong lấy mật. Có chỗ trồng các loại rau, cải bản xứ, trồng bắp, trồng nho để cất rượu... cây lá xanh dòng rộng, và dài ngút mút mắt. Mặc dù từ năm qua chánh quyền báo động California thiếu nước...

    Ánh bình minh nhấp nhánh mặt nước hồ, nước trên dòng sông nhân tạo. Chánh phủ đã đào sông, làm hồ lớn rộng thênh thang chứa nước cho nhà nông tưới cây, cho nước vào ruộng lúa... Vì thế dù ở chân núi cỏ khô khan nhưng cây trái vẫn xanh um, cho hoa trái nặng quằn. Ở quanh trên bờ hồ trồng cây cao bóng mát có băng ngồi... vì dưới hồ chánh phủ còn cho thả cá để dân đến câu. Nhưng hạn chế mỗi người là bao nhiêu con, và những con cá đó có kích thước câu được thì đem về. Còn lỡ câu nhầm cá nhỏ hơn kích thước ấn định thì phải thả trở xuống hồ để nó lớn... Những ngày nóng nực các con tôi ra ngoại ô câu cá về, chúng kể lại như vậy cho gia đình nghe.

    Nhìn bầy chim trời xoãi đôi cánh chập chờn bay lượn trên bầu trời tự do không bẫy rập, không cung tên của người thợ săn... Nơi đây không gian thật an bình và trong lành, khiến tôi không khỏi chạnh lòng nghĩ ngợi ngậm ngùi và quay quắc nhớ về cố hương quê Nam một cõi! Nơi đó tôi được sanh ra và lớn... nơi đó có tuổi học trò, thời thanh xuân... Sau khi học nghề xong, ra bươn chải với đời trong tâm hồn vô tư đầy nhiệt huyết... dưới Chánh Thể Cộng Hòa tự do, no ấm...

    Bỗng phu quân tôi vừa chăm chú lái xe, vừa đều giọng bảo:

    - Thấy dân ở xứ người ta được chánh Phủ lo cho mọi thứ, cả nước tưới cây ở đèo heo hút gió núi non trùng điệp, rồi nhớ về đất nước mà đau lòng xót dạ cho dân mình thiệt tội nghiệp quá! Sau ngày Việt Cộng cưỡng chiếm miền Nam, chúng rước Tàu Cộng vào dầy mồ mã ông cha, đã gây biết bao nhiêu đau thương tang tóc... Chúng cướp nhà, giựt của, xung công ruộng đất, tài sản, đổi tiền... để bần cùng hóa dân Việt! Còn những người trí thức thì bị đày ải để khiến cho họ nhục chí, và giết mòn họ trong ngục tù cải tạo!

    Chàng lại chép miệng thở dài thườn thượt, tiếp:

    - Lòng tham của con người thiệt là không đáy! Nước Tàu rộng lớn như vậy, dân nghèo đói thấy bà mà không lo cải tổ giúp đỡ cho dân. Bọn chúng xây mộng bá vương, cố đồng hóa dân tộc Việt thành Tàu và biến nước Việt Nam thành cái tỉnh hay cái quận của chúng để cai trị, rồi cướp bóc tài nguyên...

    Tôi cũng đồng ý với chồng:

    - Anh nói chẳng sai, sư thật đã rành rành trước mắt! Các nước chư hầu của Tàu Cộng là do chúng lấn chiếm nước láng giềng lân cận gần bên, như là: Đại Lý, Yến, Tần, Hán, Sở, Lệ Giang, Quế Châu... Nghe nói chúng đang giằng co cố chiếm cho được nước Tây Tạng nữa... Vậy là thời gian không xa nước Tàu sẽ chiếm Việt Nam, cho dù chưa chiếm lấy thì bọn cầm quyền Cộng Sản Việt Nam cũng đem dâng hiến để đền đáp, hoặc để trả nợ... Bởi ai mà chẳng biết khi Việt Cộng nhúm ngòi gây chiến với Việt Nam Cộng Hòa, thì Việt Cộng ở miền Bắc đã mời các nước Cộng Sản sư phụ vào để tàn sát chủng tộc từ Bắc xuống Nam... Chúng kể chi việc làm “nồi da xáo thịt” miễn sao ý đồ của chúng thành công cưỡng chiếm miền Nam và nhuộm đỏ toàn lãnh thổ là đuợc rồi. Nay thì đã thỏa mãn chiếm được toàn cõi Việt Nam, nên chúng phải đem tài nguyên quốc gia, lãnh hải, lãnh thổ như Bản Giốc, Trường Sa, Hoàng Sa... dâng hiến cho bọn Cộng Sản đã đánh thuê, giết mướn dân tộc cho chúng chớ...

    Xe đang chạy ngon trớn trên xa lộ đến thành phố San Jose. Bỗng phu quân tôi bẻ đèn quẹo, rồi cho xe chậm chậm rẽ vào đường King. Tôi chợt biết đã đến thành phố có mệnh danh rất đẹp là “Thung Lũng Hoa Vàng” Nơi đây còn là cái nôi của Văn Học Nghệ Thuật và còn là thành đồng vách sắt chống Cộng nữa.

    Phu quân tôi liếc vợ mỉm cười, chọc quê:

    - Mèn ơi, hễ nghe nhắc đến Việt Cộng là em hằn học liền hà! Bởi vậy có lần nhà văn Hồ Trường An đã bảo: “Trên đời nầy, bà DTDB không thù ghét ai cả, mà chỉ thù ghét Việt Cộng thôi...”

    Nghe chồng nhắc lại tôi gật gật đầu, cười lỏn lẻn:

    - Không nổi nóng ứa gan, ngứa phổi sao được? Anh xem cả một miền Nam toàn dân sống dưới Chính Thể Cộng Hòa no ấm, an vui, hạnh phúc... như vậy. Mà Việt Cộng cùng đồng bọn Cộng Sản ào ạt tràn vào cưỡng chiếm, rồi cày tan nát... Mấy mươi năm cầm quyền và cai trị đất nước còn được những gì? Cái gì cũng “dõm” thuở nay bắc cầu ngang sông cho xe chạy, xây nhà lầu mà cột đổ xi măng “cốt tre” thay vì cột sắt! Cây trái, rau cải... dùng toàn hóa chất trong trồng tỉa, trái mau lớn, mau chín... Đảng thì giàu nức đố vách, tiền bạc phải xây hầm mà chứa, còn dân thì ôi thôi đói nghèo tận cùng bằng số! Thế hệ trẻ Việt Nam bây giờ đại đa số từ gia đình, học đường, ngoài xã hội gian dối, nghiện ngập, cướp của, giết người như rươi... Thiệt nhớ tới đâu thì tim, gan, phèo phổi nhức nhối quá đi thôi...

    Những gì muốn nói, đã nói ra, tôi như được sổ hết những ấm ức trong lòng. Phu quân tôi vẫn lái xe và mà mắt chàng chớp chớp như vương vướng nỗi buồn mênh mông...

    Trước mắt tôi là thành phố San Jose đây rồi. Đúng như mọi người nhận xét “ngựa xe như nước, áo quần như nêm” khu thương mại của người Á Châu nằm dọc theo những con đường dài hun hút, có cây cao gie bóng... Bầu trời San Jose hôm nay cao vòi vọi, trong xanh xa xa đùn những vầng mây trắng lửng lờ bay theo hướng gió. Chim bồ câu lông xám có cả bầy năm bảy con, chúng rất dạn lắm chẳng sợ gì cả, bay ào ào trước các xe đang chạy chầm chậm.

    Xe chạy qua khu chợ Việt Nam các cửa tiệm lúc nào cũng đông người bán buôn: các quán ăn, các tiệm bán gia dụng, bán quà tặng, tiệm bánh, tiệm vàng, áo quần, giầy dép, thời trang.... lúc nào cũng rộn rịp.

    Tôi đang thả hồn theo mây gió nhìn trời đất, phố xá cái nầy nối tiếp cái kia hiển hiện trước mắt, rồi so sánh, rồi hồi tưởng về thời nhiều mộng đẹp... Nhớ ơi là nhớ, nhớ thương tiếc nuối về phương trời quê hương mà cảm thấy lòng càng thêm hiu quạnh!

    Xe dừng lại, phu quân tôi cười tươi, bảo:

    - Tới rồi, đây đúng là địa chỉ nơi chúng mình muốn đến...

    Nhìn quanh ngôi nhà khang trang, nằm thoải mái một góc ở ngả ba đường, tôi chợt nghĩ thầm: Ngôi nhà trệt, không lầu, không mới, nhưng khang trang chiếm một vị trí rộng rãi trên mặt tiền của con đường lớn ở vùng “củi quế gạo châu” nổi tiếng có giá nhà cao tới tận mây xanh (mắc nhứt nhì nước Mỹ) nầy, thì phải nói gia chủ rất giỏi...

    Còn đang nghĩ ngợi lung tung đúng là tánh đàn bà của mình, chợt nghe giọng nói vui vẻ vừa lịch sự, vừa khách sáo:

    - Chào anh chị, hân hạnh được tiếp đón... mời anh chị vào! Xin lỗi thấy anh chị rất quen mặt... xin cho biết quý danh...

    Mặc dù phu quân tôi là cựu lính trận miền xa, nhưng đi đâu ông thường dùng tên “cúng cơm” của vợ để giới thiệu. Cho dù hôm nay đến họp mặt với mấy ông nhà binh của chàng cũng vậy! Tôi đứng gần chồng không nói gì, nhưng trong bụng cũng khoái chí lắm, và ngầm nở phồng mũi với chồng và bọn ranh con mình! Bởi trong nhà, chồng và các con luôn nghĩ tôi là bà nội trợ “dở hơi” (nấu ăn dở ẹt) không hơn không kém! Tôi không thể chối cãi được, vì sự thật rất đúng! Nhưng tui không ưa cha con họ nghĩ như vậy... thế mới tức cười chớ!

    Mở cửa bước vào, sau hậu viên, phía mái tây hiên của ngôi Cổ Nguyệt Đường. Ngồi hai hàng dọc theo những chiếc bàn dài ghép lại, khoảng sáu mươi (60) nam nhân và một ít phụ nữ. Các anh đại đa số là cựu quân nhân các binh chủng, trong Quân lực Nam Cộng Hòa ngày xưa. Người giới thiệu rất tế nhị là các anh, các chị ở binh chủng nào, công tác ở đâu... chớ không giới thiệu chức vị! Trên bàn dài có cà-phê, nước trà, bánh ngọt, bánh xu-xê, pa-tê-sô chầu quảy, bánh tiêu, bánh bò, xôi... trước mặt mọi người. Nói tóm lại đó là những thức ăn nhẹ cho bữa ăn sáng, và sát vách trên chiếc bàn dài có bình nấu bằng điện, nước lúc nào cũng sôi sùng sục, cà-phê bột (instant) quậy uống liền, có sữa hộp (sửa bò) sữa bột, đường, trà... Để ai thích thì cứ tự nhiên pha cho vừa miệng mà uống.

    Tôi được biết anh Nguyễn Hữu Nhân đương kiêm “chủ tịch Liên Trường Sĩ Quan Trừ Bị Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa” và một số anh em cựu quân nhân có sáng kiến tổ chức Cà Phê Lính cho biết là: Cứ hai sáng thứ Bảy một lần trong mỗi tháng có Cà Phê Lính, và hiện hữu liên tục ở San Jose hơn ba năm qua. Lúc đầu chưa ai biết nên chỉ năm mười người, bây giờ thì mỗi buổi thứ Bảy Cà Phê Lính có hơn sáu bảy chục anh em đến dự trong tinh thần hết sức vui vẻ...

    Theo anh Nguyễn Hữu Nhân mục đích mở “Cà Phê Lính” là để các anh có thời gian rổi rãnh, có chỗ yên tịnh gặp nhau cuối tuần. Các anh có thể chia ngọt, sẻ bùi, hàn huyên tâm sự... Các anh kể cho nhau nghe những chuyện ngày xưa, thời son trẻ, thuở còn trong quân ngũ, lúc bị giặc bắt cải tạo tù đày, những tin tức về hiện tình đất nước ở cố hương, ở hải ngoại của cộng đồng người Việt khắp nơi trên thế giới. Và không ai (trừ chị nhà) cấm các anh kể chuyện tình đôi mươi: Cô áo Hường, cô áo Tím, cô áo Trắng, cô áo Xanh... Mỗi bến mỗi tình của một thời thanh xuân... bởi vì anh là lính đa tình, bởi vì anh là lính xa nhà... đó mà! Các anh em có thể giúp đỡ, an ủi trong tình “huynh đệ chi binh” giữa các cựu quân nhân, thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa ở trong vùng, còn kẹt bên kia bức màn tre... hay đang tạm dung ở xứ khác... Thí dụ, như thỉnh thoảng các bạn đến Cà Phê Lính biết có việc... cần giúp đỡ, thì anh em tự động đâu đậu lại chớ không có sự kêu gọi, hoặc khuyên đóng góp... Cà Phê Lính độc lập, không phân biệt binh chủng, không dính líu hoặc bị ràng buộc hay chi phối với bất cứ hội đoàn, đoàn thể hay cá nhân nào... Mọi người đến với Cà Phê Lính sáng thứ Bảy, không phải trả tiền hoặc đóng góp một lệ phí nhỏ nào trong việc uống ăn buổi sáng hôm đó...

    Tôi hơi khựng và tò mò tự hỏi, không phải trả tiền thì ai đã mua sắm những món bánh, trái, trà, cà phê, nước trái cây, rồi khăn giấy, ly, dĩa giấy, còn muỗng, nỉa... và còn nhiều thứ khác nữa chi?

    Được anh Nguyễn Đình Cai là một trong những anh chị mở Cà Phê Lính, vui vẻ cho biết:

    - Nơi chúng ta đang ngồi, là nhờ chị Nguyễn Hữu Nhân bỏ tiền túi sửa chữa, lợp mái, tráng nền sạch sẽ, trang trí đẹp... Các anh em trong Cà Phê Lính đâu đậu tiền mua truyền hình lớn sáu bảy chục in (inches), cùng hai ba thứ máy phụ thuộc... để xem tin tức, nghe nhạc lính, thông báo... Còn các món ăn, các nước uống... và mọi thứ linh tinh là do quý anh chị đem đến để hưởng dụng chung trong Cà Phê Lính... Từ lúc mở Cà Phê Lính tới giờ chưa bao giờ thiếu... Có lúc bánh trái còn nhiều quá phải “năn nỉ” mấy chị chia nhau đem về nhà dùm...

    Ngồi đối diện người đầu tiên bắt chuyện với tôi:

    - Nầy chị Diễm, tôi nhớ cách nay khoảng bảy, tám năm gặp chị một lần trong dịp lễ “Ngày Quân Lực 19 tháng 6” thì phải, chị còn nhớ không?

    Tôi nhíu mày cố nhớ lại, nhưng cười trừ lắc đầu! Anh cũng cười, bảo:

    - Lúc đó chị có tặng tôi quyển sách, và hỏi tôi tên gì để viết tặng. Nghe bảo tôi tên “Hùng Sùi” thì chị buông sách cười lớn “Tên Hùng đã đẹp quá chừng rồi, sao anh còn cho kéo rờ mọt thêm Sùi chi vậy...?” tôi cũng cười trừ! Và hôm nay anh em mình có duyên gặp lại, xin trả lời với chị là ngày xưa, lúc đó tôi khỏe mạnh nên “sùi” giờ ngoài tám mươi thì “sùi” hết nổi rồi chị ơi...

    Mọi người nghe anh Hùng nói vỗ tay cười lớn. Anh Hùng nheo mắt cười lí lắc, bảo với tôi:

    - Bây giờ tôi xin hỏi lại chị, tên “Diễm” là đẹp rồi sao còn có chữ Buồn nữa vậy chị Diễm?

    Tôi giựt mình bị anh hỏi bất ngờ! Và quý vị ngồi đây đang đổ vồn mắt nhìn chờ câu trả lời kìa! Tôi cố tạo nở nụ cười “tàn nhẫn” lấy lại bình tỉnh, và bắt qua chuyện khác nói trớ để lờ câu anh hỏi:

    - Tôi nhớ ra rồi... và hình như anh hỏi tôi có quen với anh Trần Quốc Lịch không? Tôi trả lời, tôi là bạn với em gái anh Lịch, lúc đi đám cưới con chị ấy, có gia đình anh Lịch dự nữa... chỉ đã giới thiệu chúng tôi với anh chị Lịch... Ờ bây giờ anh chị Lịch ở đâu vậy anh Hùng... Sùi?

    - Ổng ở quận Cam. Mấy mươi năm từ 30 tháng Tư đến giờ, chúng tôi người nào cũng có tuổi hết rồi. Ông Lịch cũng vậy ốm yếu chớ không còn phong độ như xưa... À chị viết lách, vậy mà có biết Văn Quang không?

    - Anh Văn Quang “Chân Trời Tím” phải không? Dạ có, nhưng “văn kỳ thanh bất kiến kỳ hình” thỉnh thoảng có điện thư thăm chớ chưa gặp lần nào... Vì tôi mới quen anh Văn Quang sau nầy thôi, chớ khi anh Văn Quang thành danh thì tôi còn là học trò. Tôi có đọc truyện và xem phim mà truyện phim anh Văn Quang là tác giả... Anh có hay liên lạc với anh Văn Quang không?

    - Có, chúng tôi email hoặc điện thoại hà rầm hà chị ơi... Nhưng chị vẫn chưa trả lời tôi vì sao có tên “Buồn”...
    Định lướt qua nhưng không được rồi, tôi đành phải ậm ự trả lời:

    - Có nhiều thứ buồn lắm anh Hùng ơi! Vì Việt Cộng tràn vào bỏ nước chạy trối chết, vượt biên thừa chết thiếu sống, thì không buồn sao được? Còn nếu “tôi buồn không biết vì sao tôi buồn” lý do nầy thì trả lời không được rồi đó anh Hùng!

    Trong lúc nói chuyện khào, anh Nguyên bảo anh “Hùng Sùi” tên là Nguyễn Mộng Hùng, ngày xưa là tài tử đóng phim... Rồi chị Thu Tâm ngâm tao đàn, bài thơ lính ngọt ngào như mía lùi, như đường cát, mát như đường phèn... Chị Khánh Hà mời ra mắt CD thơ. Anh Bảo Tố báo cho biết nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh giờ yếu lắm! Anh còn cho mọi người biết ngày giờ và địa điểm triển lãm ảnh của ông Nguyễn Ngọc Hạnh, để anh chị đến dự và thăm ổng luôn...

    Tôi chợt nhớ có viết bài khi xem ảnh của bác Nguyễn Ngọc Hạnh, triển lãm ở Chicago gần hai mươi năm trước! Lúc đó tôi được nghe bác kể trong màn lệ mỏng, trường hợp nào bác có được tác phẩm “Cát Bụi”. Cảm nhận được tâm tình của bác đối với đồng đội, tôi viết bài “Tình Chiến Hữu” Đó là một trong những bài thơ tôi ưng ý nhứt.


    TÌNH CHIẾN HỮU

    Cảm đề tác phẩm“Cát Bụi”
    Của nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh

    DTDB

    Tôi quen anh trong quân trường Thủ Đức
    Hai đứa cận kề, giường dưới giường trên
    Anh chôn nhau cắt rúng ở Hưng Yên
    Phải bỏ xứ từ Bắc Nam chia cắt

    Lúc di cư cha anh bị giặc bắt
    Chẳng tin về, sống chết biết ra sao?
    Nhắc chuyện xưa mẹ nức nở nghẹn ngào
    Buổi tái hợp, vẫn còn xa vời vợi

    Ra đơn vị, anh về miền Đồng Hới
    Tôi toán quân Biệt Kích sống tung hoành
    Khi Đồng Xoài, lúc Chương Thiện, Khe Sanh
    Sáng Giồng Trôm, chiều Bà Bèo, Long Định

    Tình chiến hữu làm đẹp tâm hồn lính
    Vui bất ngờ có lần gặp lại anh
    Khi quân về quét giặc ở Phước Thành
    Vùng xôi đậu, chiến khu Đ của địch

    Đêm tao ngộ, hàn huyên chưa thỏa thích
    Pháo giặc bừa, bao đồng đội thương vong
    Anh cõng tôi vượt mìn, bẫy, hầm chông
    Ra quốc lộ, chờ trực thăng vận chuyển

    Ngày tháng dài dưỡng thương quân y viện
    Tôi gẫm đời như tơ nắng mong manh
    Mạng sống lung lay trên nước chiến tranh
    Lòng ái quốc mới thật là vĩnh cữu…

    Dạ trung kiên tự bao đời hiện hữu
    Tạo cho người tiết tháo đẹp vô biên
    Yêu nước, thương nòi, đọc sách thánh hiền
    Ơn người trước sáng ngời lòng dũng cảm

    Rời bệnh viện, tôi ra miền Thạch Hãn
    Bước chinh nhân đường bôn tập cheo leo
    Khi dừng chân cắm trại dưới chân đèo
    Khi giải nắng vượt qua vùng cát trắng

    Anh ngã gục giữa một chiều tắt nắng!
    Khi lọt vòng Tam Giác Sắt miền Đông
    Vợ của anh không tìm được xác chồng
    Vẫn tưởng niệm quấn vành khăn tang trắng

    Hai năm sau, trong tình cờ cay đắng
    Tôi gặp anh không trọn vẹn hình hài
    Máu thịt khô còn bám tấm thẻ bài
    Tên họ với số quân còn rõ nét!

    Anh nằm đó, trải mưa dầm gió rét!
    Thịt rã tan ngấm đất, bón cây lành
    Cho hoa tươi, cho chồi lá thêm xanh
    Xin cầu nguyện anh về miền vĩnh độ

    Ở nơi đó không hận thù, thống khổ
    Có mùa xuân vĩnh viễn đẹp huy hoàng
    Có tình thương và hạnh phúc miên man
    Hoa nhân ái trong lòng người nở rộ...

    Khắc bia cây, đá chất thành nấm mộ
    Nén hương lòng âm ỉ thắp tim tôi
    Nhớ mắt anh ngày mãn khóa sáng ngời
    Thao trường vọng lời: “Trừ gian diệt bạo!”

    Anh nằm đó hay bên giòng Nhật Tảo
    Dưới Trường Sơn hay nhánh cuối Cửu Long
    Ải Địa Đầu, vùng Cực Bắc Phước Long
    Đâu đâu cũng vẫn trong lòng đất Việt

    Tôi giở nón, nổ súng chào giã biệt
    Bước quân hành mong ta được bên nhau
    Đường đấu tranh gian khổ, tôi tự hào
    Có hồn phách anh linh người chiến hữu!

    Hôm nay chúng tôi đổ đường xa đến với Cà Phê Lính vì chàng của tôi là cựu chiến binh. Và chính tôi cũng muốn tìm lại hương vị xa xưa của “Thuở nước non trong thời chinh chiến/ Làm vợ lính nhiều nỗi gian nan...”

    Và lời người xưa có nói: “Trong thế giới đầy đau khổ này luôn có niềm hy vọng. Và nó bắt đầu với mỗi người trong chúng ta. Hãy làm những điều tốt đẹp dù lớn dù nhỏ... ngay hôm nay để bạn sẽ không bao giờ phải hối tiếc”.

    Trong tôi sự thật đúng như vậy! Nếu không đến Cà Phê Lính thì chúng tôi đâu có gặp và biết đồng khóa với nhà tôi như là anh Nguyễn Hữu Nhân, anh Huyền cùng binh chủng Sư Đoàn 21 Bộ Binh có mệnh danh là “Sét Miền Tây” chiến thắng U Minh Rừng! Tôi gặp lại vợ chồng chị Giàu anh Võ ở gần nhà và chị học chung trường nữ Trung Học Đoàn Thị Điểm Cần Thơ với tôi thuở xa xưa... Mà những ngày thơ mộng dấu yêu đó, mỗi lần gặp nhau, nhứt là ông anh thân mến của tôi (khoái chị Giàu lắm...) nhưng anh là học trò hay mắc cỡ, chỉ đứng xa xa nhìn và len lén lõm bõm sửa lời bài hát của người ta, ngân nga: “Nhà tôi sau nhà người em gái, cách nhau con đường dài...”.

    Chân thành cảm ơn ban khởi xướng có thiện ý đẹp đã tổ chức “Cà Phê Lính” San Jose. Cảm ơn quý anh chị Nguyễn Hữu Nhân, cảm ơn những người vợ lính trong thời gian chồng tại ngũ bị Việt Cộng đày đọa trong ngục tù cải tạo... Nay đến xứ người quý chị lúc nào cũng trước sau, sau vậy, cảm thông và hết lòng vì chồng là lính, là cựu quân nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.


    Thung Lũng Sương Mù, Yuba City
    Tệ Xá Diễm Diễm Khánh An

    Dư Thị Diễm Buồn
    Trong tuyển tập văn “Giọt Sương Long Lanh” phát hành 2015
  8. Chiều hôm đó vợ chồng đứa em trai tôi nướng thịt ở sau vườn nhà. Chúng nó có mời một số bạn bè. Trong những người được mời, có một vài cặp cũng quen biết với chúng tôi. Hôm nay trời nắng đẹp nắng đẹp, ngày tạm rảnh rỗi của những người đang trong thời kỳ làm việc toàn phần (tối thiểu làm 5 ngày mỗi tuần, từ 35 đến 40 giờ).

    Những cặp vợ chồng đến vui chơi nhà cô em, có anh chị Tuấn là bạn cùng hoạn nạn trong chuyến bôn đào vượt biển, có nghĩa là chung chuyển hải hành với chúng tôi. Khi đến được trại tị nạn, cúng tôi ở cùng trong dãy nhà tiền chế, nối dài có mười mấy gia đình, và trên 50 người kể cả già, trẻ, lớn, bé. Từ khi vào trại tị nạn cho đến hai gia đình chúng tôi kẻ trước, người sau rời đảo để đến đệ tam quốc gia.

    Trong suốt khoảng thời gian vượt biên ở dưới đáy tàu thừa chết thiếu sống, vì thiếu không khí để thở, thiếu ăn, thiếu uống và nhứt là vệ sinh cá nhân. Cũng như khi đến trại tị nạn, chúng tôi luôn giúp đỡ lẫn nhau, khi hai gia đình gặp phải những việc phiền toái về giấy tờ, và ốm đau triền miên... Những tưởng sau ngày rời trại tị nạn mỗi người trôi dạt một nơi sẽ không còn gặp nhau nữa. Nhưng không ngờ, trái đất tròn, rộng lớn, mà vẫn còn hẹp lắm. Nơi xứ lạ, quê người anh chị Tuấn và chúng tôi thật có duyên, gặp lại mà còn ở cùng làng, chỉ cách nhau chừng hai mươi phút lái xe thôi.

    Đời sống của đám dân ngu khu đen chạy loạn, với đôi bàn tay trắng làm thân chùm gởi ở xứ người, gần như đều na ná giống nhau. Lúc chân ướt chân ráo được định cư ở vùng Chicago lạnh lẽo, khỉ ho cò gáy chó ăn nước đá, gà ăn tuyết nầy, thì chúng tôi đi cày chăm dữ lắm! Cày mệt nghỉ, cày bỏ mạng sa trường, cày không kể ngày, đêm, cuối tuần, hay lễ lộc... miễn ở sở cần là “OK” đi làm ngay.

    Vì vất vả trăm chiều chỉ mấy năm ở chế độ Cộng Sản nên mọi người đều ngất ngư nên phải bồng bế trốn đi. Nay đã được đến bờ bến tự do rồi thì ai nấy đều cần mẫn, chịu cực, chịu khó, kiên nhẫn, bươn chải làm việc có tiền… Cốt là để tạo dựng cho đời sống gia đình được vững chắc, và tương lai của con cái, học hành… Dù thời gian rất hiếm hoi, nhưng dần dần đời sống chúng tôi dễ chịu, thoải mái để dung hòa và hội nhập hòa đồng vào nếp sống của người dân bản xứ.

    Thời gian qua nhanh như cơn gió, “vạn sự khởi đầu nan” cũng đã qua. Khoảnh khắc ngoảnh lại đa số những người vượt biển bỏ quê hương, trốn chạy Cộng Sản ít nhứt cũng mười mấy, hai mươi năm sống ở xứ người rồi. Bây giờ gia đình ai nấy đã đâu vào đó, ổn định. Hầu hết mọi người đều có nhà cửa để trú ẩn an toàn, các con đến trường học hành. Có người đã hai màu tóc, có sui gia, hoặc đã là ngoại, nội của người ta rồi. Nếu mọi người sống an phận, không đua đòi căn nhà lớn, chiếc xe đẹp và nhứt là buồn tình, hận đời, hận người, lúc tâm tư phiền nảo, bối rối, lỡ dại ghé tạt vào sòng bài (casino) để giải trí, để tiêu sầu… Thì thiệt mệt lắm ai ơi!

    Khi nếp sống của gia đình ổn định thì mọi người mới nghĩ đến những chuyện khác như là đi dự hội hè, đám tiệc, xã giao, bè bạn… Bởi có đồng vô đồng ra thư thả, thì sanh lễ nghĩa là việc thường tình mà! Cho nên mới có những ngày cuối tuần đi ăn giỗ, thôi nôi, đầy tháng, con ra trường, cưới, hỏi, hoặc những buổi họp bạn, ăn uống ngoài trời... Những xã giao lành mạnh đó đáng quý lắm chớ! Cho nên vợ chồng tôi vui vẻ tiếp nhận không chút từ chối, hoặc mệt mỏi khi được bạn bè mời mọc, rủ rê.

    Năm nay thời tiết dễ chịu hơn mọi năm, mới chớm Xuân mà ngoài trời ấm áp có hôm lên đến 75, 80 độ F. Chớ không như những năm trước, đã vào giữa mùa xuân rồi mà tuyết vẫn còn phơi phới lả lướt vũ khúc nghệ thường bay bay trắng xóa bầu trời!

    Hể có dịp là chúng tôi bạn bè gặp lại nhau tay bắt mặt mừng, hỏi chào vui vẻ. Thường ngoài ăn uống hàn huyên tâm sự, kể lễ cho nhau nghe những chuyện vui buồn của gia đình, chuyện trời trăng mây gió, thiên hạ sự… Từ thuở ngày xưa, và những chuyện trên bước đường lưu lạc nơi xứ ngời. Đến khi trời sụp tối, mấy con muỗi bay kêu vo ve, thì bắt đầu hát hò, karaoke, có đám còn khiêu vũ nữa.

    Khi nghe chúng tôi sắp đi du lịch ở Miên, thì anh chị Tuấn và con Út (em gái tôi) với ánh mắt ngờ ngợ nhìn tôi mỉm cười chớ không có ý kiến hay bàn ra tán vào. Nhưng cô em Út nầy của tôi, nổi tiếng là đứa nhanh nhẩu, lét chét, lanh chanh cái miêng nhứt xứ. Có lẽ nó kềm lòng không đặng vì bị ức hiếp bởi những thắc mắc ấm ách trong bụng chịu không nỗi, nên lên tiếng bảo với tôi rằng:

    - Hết chỗ để đi du lịch rồi hả, mà anh chị đi Miên? Bộ không sợ bị bọn Khờ Me đỏ “cáp duồng” (chặt đầu) hay sao mà qua bên đó tìm chúng?

    Đã có người khơi chuyện trước. Chờ có thế, chị Tuấn lên tiếng liền:

    - Bộ hai ông bà tính đi du lịch Campuchia à? Sao không du lịch Việt Nam một chuyến xem thế nào? Từ ngày vượt biên đến giờ gần 30 năm rồi, chúng tôi thật sự cũng chưa trở lại Việt Nam lần nào, nhưng nghe nhiều người đi về khen bên đó bây giờ giàu, và đẹp lắm. Mọi thứ đều đổi mới, từ nhà cửa, đường sá đến thức ăn, vật dụng rẻ như bèo. Còn trái cây, tôm, cá cho đến áo quần, giầy dép cũng rẻ tàn, rẻ mạt, rẻ thúi... Anh chị mà đem tiền Mỹ về bên Việt Nam xài đã đời…

    Tôi chưa kịp trả lời chị Tuấn, thì con Út tài lanh già đầu mà vẫn còn cái tật cười ha hả trước khi nói. Cho nên ngày xưa lúc sanh tiền, má tôi thường hay mắng nó: “Con gái mà không biết giữ gìn ý tứ gì hết! Chưa nói mà cười chưa đi mà chạy là người vô duyên… Con có biết không?” Bây giờ mấy chục năm qua rồi mà con nầy vẫn vậy, nó không thay đổi chút nào hết! Với ánh mắt ngời sáng đầy tinh nghịch, cái miệng thì tía lia như sợ ai giành nói trước:

    - “Bòn ơi tâu na? Giơ! Đàn ta tâu lên…” Thôi đi bà ơi, hãy bỏ ý định qua Miên mà về Việt Nam du lịch cho nó sướng! Về đó sẽ để dành được nhiều tiền và cũng là quê cha đất tổ của mình, thăm họ hàng, mồ mả ông bà cùng ba má luôn thể…

    Con yêu lồi nầy không biết nghe lóm, bắt chước ai, hay ai dạy… mà nó giả giọng trài trại rồi vừa cười sặc sụa vừa nói câu tiếng Miên! Tôi còn lớ ngớ không hiểu nó nói cái giống gì, và muốn dở trò khỉ chi nữa đây? Thì anh Tuấn đang đứng kế bên vợ, cười hề hề lên tiếng:

    - Câu cổ nói đó có nghĩa là: “Anh ơi đi đâu? Ờ tôi đi trên kia…” Tôi cũng nghe người ta giải nghĩa lại như vậy, chớ thật ra không biết có đúng không?

    Thấy điệu bộ hí hửng đắc ý của em gái mình, tôi vừa mắc ghét vừa mắc cười, liếc xéo nó rồi nạt vải:

    - Xì, mầy biết cái khỉ khô gì mà nhiều chuyện? Mầy làm như mình thần thông quãng đại đã chu du tứ hải và đã về Việt Nam cả chục lần rồi vậy? Hãy rửa cái lỗ tai mà nghe nè con cà chớn chống xâm lăng kia.

    Tôi chợt nhớ, quay qua vợ chồng anh Tuấn, cười hỏi:

    - Ông bà còn nhớ chị Bảy Hồng Tươi ở cùng trại tị nạn với bọn mình bên đảo. Gia đình chị ta ở sát vách anh chị đó, có nhớ không?

    Anh chị bạn tôi mắt đăm chiêu như cố nhớ lại, chị vợ bảo:

    - Nhớ, tôi nhớ ra rồi, có phải bà Tươi chồng chết trong tù cải tạo. Dắt 4 đứa con theo ghe anh mình vượt biên đó không? Chị vẫn còn liên lạc với bả hả? Tôi nhớ bả có mấy đứa con trai thật là thần sầu quỉ khóc, phá làng phá xóm không ai chịu nổi! Nhưng nghĩ lại cũng tội nghiệp bả. Một người đàn bà đơn độc mà dìu dắt 4 đứa con nhỏ (1 gái, 3 trai) ở lứa tuổi 12, 13… thiệt cũng vất và trăm chiều chớ không phải chơi đâu! Mẹ con bả bây giờ ra sao, ở đâu? Chắc mấy đứa nhỏ của bả nay cũng lớn đại rồi hả chị?

    Tôi nhẹ giọng:

    - Bả ở đâu bên tiểu bang Connecticut. Nhờ ông bà chở che, mấy đứa con bả khi lớn lên trụ hình không còn phá phách nữa, mà chúng biết lo làm ăn để dành tiền cưới vợ, mua nhà mua cửa và lo cho mẹ nó… Nên bây giờ chị ấy khỏe lắm, cũng đã có cháu ngoại, cháu nội. Tháng trước đây, không biết ông ứng bà hành thế nào mà bả nói với tôi là mấy năm rồi có dắt 4 đứa con về Việt Nam để thăm mồ mả ông bà, cha mẹ. Tiện sẵn dịp mua sắm đồ cưới cho con gái sắp lấy chồng, vì nghe nói bên đó rẻ...

    Lơ đãng nhìn bầu trời trong xanh, điểm những vầng mây trắng bảng lảng bay qua. Tôi quay lại cười nhẹ, nói tiếp:

    - Tôi biết đó là cái cớ thôi, chớ thật ra bả muốn về để khoe khoang, để bái tổ vinh quy và để thỏa lòng trả thù mấy mụ chị em bạn dâu, và mấy anh chị bên gia đình chồng. Bởi lúc xưa họ tỏ ra khinh khi, nói bả là “con dâu mà không được cha mẹ chồng cưới…” Chị Tuấn có biết không? Thường thì chuyện gì của gia đình, cuối tuần bả cũng hay gọi để tâm sự với tôi lắm. Nhưng chuyến về Việt Nam năm rồi, trước đó thì bả giấu biệt. Chắc chị còn nhớ cái tánh chị Hồng Tươi hả? Bởi bả thường hay tâm sự với người quen là: “Chuyện gì để lâu trong bụng, thà để tôi lên đoạn lầu đài còn sướng hơn!” Cho nên có lẽ chịu không nỗi chuyện giấu giếm về Việt Nam, nên bả đã gọi điện thoại kể lể hết ngọn ngành với tôi, để trút bầu tâm sự đang lên khơi ấm ách không chịu nổi chăng?

    Buổi họp bạn đã bắt đầu ẫm thực lai rai. Bạn bè của em tôi kẻ ngồi, người đứng dụm năm, dụm ba ăn uống nói cười, kể chuyện tiếu vui vẻ. Anh chị Tuấn đi lấy thức ăn rồi anh tạt qua ngồi nhập bọn với mấy bạn mày râu khề khà lon bia… Chỉ có chị trở lại, và cô em Út xí xọn của tôi cũng đi lấy đầy dĩa thức ăn rồi đến ngồi sát bên, để chị em ăn chung.

    Tôi biết con yêu lồi nầy lập công, vì nó đang muốn nghe chuyện mẹ con bà Hồng Khô (tên nầy tôi đặt) về thăm Việt Nam vừa qua. Tôi cũng không hẹp hòi chi, mà không rộng lượng kể cho nó và chị Tuấn nghe. Và dựa vào đó để tôi có cớ sai vặt con nhỏ:

    - Tháng trước, vào ngày cuối tuần chị Hồng Khô gọi điện thoại qua kể rằng: “Hè năm đó, tui dắt cả 4 đứa nhỏ về Việt Nam thăm mồ mả ông bà để quang tông diệu tổ và tiện dịp mua sắm đồ cưới luôn cho con gái tui. Nghe nói ở bển đồ đạt rẻ lắm, dù chất lượng không tốt cũng không sao, miễn rẻ và đẹp là được rồi. Chỉ mặc trong ngày lễ cưới xong thì bỏ, chớ có mặc đi đâu được mà sắm đồ mắc tiền chi cho uổng. Ở Việt Nam, vào buổi trưa nắng tốt, mẹ con tui đi chợ Bến Thành. Mới xuống xe tắc xi còn đang đứng lớ ngớ thì 2 thằng ngồi cùng chiếc xe hon-đa chạy vụt ngang qua. Chúng giựt mạnh sợi dây chuyền đang đeo trên cổ của con gái tui. Con nhỏ mất thăng bằng té nhủi và cổ bị rướm máu. Hai mẹ con chưa biết phải làm gì thì hai thằng trời đánh đó chạy trờ trở lại. Trên tay còn quơ quơ sợi dây chuyền của con tui, bất thần nó vố vào mặt con nhỏ cái bốp như trời giáng, làm con nhỏ xiểng niểng rồi chạy mất. Tôi còn nghe tiếng cười nhạo của bọn chúng văng vẳng "Việt Kiều gì mà phèn quá! Sao đeo sợi dây chuyền nhẹ hều mỏng te vậy em Hai…”. Con gái tui ra phi trường đổi chuyến bay trở về Mỹ liền ngày đó! Nó thề bán mạng, bảo là từ đây Việt Nam với nó là một ác mộng đêm dài…”

    Chị Tuấn và cô em gái Út tôi mắt mở to, miệng há hốc. Chị nhăn mặt:

    - Trời đất quỉ thần ơi, thiệt là hết nói nỗi!

    Tôi cũng lắc đầu cười mỉa mai:

    - Thật “Khóc hổ ngươi, cười ra nước mắt!” Nhưng chưa xong đâu! Ngày kia, chị Hồng Khô cùng 3 thằng con trai (chưa về lại Mỹ) đi xe lửa ra miền Trung thăm họ hàng nhà nội. Chị đi xe lửa, họ bao phòng thượng hạng để được tiện nghi và an toàn cho mấy mẹ con. Khi xe đến nơi 4 người tỉnh ngủ thì mới biết, mỗi người chỉ còn bộ đồ dính da trên mình thôi! Tất cả hành lý, giấy tờ đều không cánh mà bay mất, trong khi các cửa sổ, cửa ra vào vẫn còn khóa kín? Thì ra trộm từ gầm phòng chui lên! Chị đi cớ ở trạm công an tại bến xe. Ngồì đợi làm thủ tục cả buổi mới xong… Chừng hai giờ sau, mấy người công an cho biết là ở hai trạm phía trước có người lượm được giấy tờ của mẹ con chị… Nếu muốn nhận lại giấy tờ của 4 người (mẹ, và 3 đứa con) thì phải trả cho chúng mỗi người là 100 đô la! Nghĩa là chị Hồng Khô phải trả tổng cộng là 400 đô la!

    Chị Tuấn không dằn được, trợn mắt hằn học:

    - Bộ có chuyện đó thật vậy sao? Thiệt là đồ cướp cạn, lưu manh, xảo trá cả phồn cả lủ giữa ban ngày mà! Thì cũng là cái bọn chúng nó toa rập làm ra hết chớ có ai trồng khoai đất nầy?

    Em gái tôi cũng lớn tiếng trù rủa:

    - Sao không thiệt chị Tuấn? Đồ cái thứ trời đánh thánh đâm! Đồ cái thứ chết toi, chết dịch, chết yểu, chết tiệt, chết liệt, chết không kịp ngáp, chết không kịp chối, chết bờ, chết bụi, chết không hòm chôn, chết không đất vùi thây… Để cho chó tha, cọp xé, quạ rỉa, kênh kênh mổ…

    Tôi buồn giọng:

    - Thôi mầy đừng rủa nữa mà sẽ mang khẩu nghiệp. Còn bọn chúng sẽ sống nhăn răng. Với chúng nó ở hiền thì chết yểu, ác thì sẽ: sống dẻo, sống dai, sống dầy, sống dài, sống hoài, sống mãi, sống nhăn… Rủa xả chúng làm chi cho mỏi cái miệng và cũng như nước đổ lá môn, như nuớc đổ đầu vịt thôi chớ có nhầm nhò chi đâu? “Bần cùng sanh đạo tặc” mà, nghèo đói quá không cướp giựt sao được? Cuối cùng sau cuộc điều đình, bà Hồng Khô phải trả 100 dola chuộc giấy tờ lại để bốn mẹ con trở về Mỹ.

    Chị Tuấn và con em đang lắng tai nghe kể chuyện bà Hồng Khô đến đây chợt ngạc nhiên lơ láo. Vì bỗng dưng tôi cười thành tiếng:

    - Xin lỗi, để tôi kể tiếp. Trong lúc bà Hồng Khô kể, thì bỗng tôi chợt nhớ đến cái điệu bộ phùng mang, trợn trắng, miệng xùi bọt nước miếng khi bả giận… Làm ở đầu dây điện thoại bên nầy không nhịn được, tui cười muốn bể cái bụng! Khi kể lại cho tôi nghe, bả vẫn chưa hả tức giận, ở đầu dây bên kia bả lên giọng, hùng hổ, rang rảng: “Tui nói cho chị biết là tui đã thề bán mạng, từ rày sắp tới đừng hồng ai dụ dỗ khúc ruột ngàn dậm nầy về thăm chùm khế ngọt nữa! Ai mà rủ con Hồng Tươi nầy về nước Cộng Sản Việt Nam thì nó sẽ thí mạng đánh lộn với người đó, chửi lộn với người đó tắt bếp mới thôi… Bởi tui nghe lời cái con mụ Hiến ở xóm tui xúi về, mụ ta còn nói: Việt Nam bây giờ đẹp lắm, bà không về thăm một lần cho biết thì bà sẽ hối hận… Tui thiệt là ngu dại quá, sao mà đi nghe lời con mẹ tào lao đó… Về Việt Nam rồi, tôi mới thấy hối hận đó chị à…” Nghe bả kể, theo lẽ tui phải nói vài câu an ủI, để tỏ ra cảm thông mới phải… Nhưng không nói ra lời được, tui ôm bụng cười bò càn bò niểng, cười muốn mất thở luôn!

    Chị Tuấn và cô em tôi nghe kể không nhịn được, cũng cười thành tiếng. Tôi bảo với họ:

    - Quý vị thấy chưa? Vậy mà còn xúi dại tui đi du lịch bên Việt Nam nữa? Dẫu biết rằng không phải ai về cái xứ đó cũng bị… Nhưng tui làm ra tiền cực khổ lắm, nên khi trả tiền để đi du lịch thì phải xứng đáng với đồng tiền của tui. Nhứt là phải an toàn, vui vẻ, thoải mái mới có tâm trí để tui chiêm ngưỡng phong cảnh đẹp, di tích lịch sử và mọi điều hay cái lạ trên trần thế… Chớ đến cái xứ ra đường thì sợ bị giựt bóp, sợ móc túi, ăn uống sợ nhiễm trùng, sợ nhiễm độc. Thở thì sợ không khí ô nhiễm… Ở khách sạn thì không dám ngủ vì sợ bị thủ tiêu đầu một nơi, mình một nẽo (Những chuyện đó từ internet và báo chí quốc nội hàng ngày loan ra). Có cả vạn ngàn chuyện họ chỉ dám nói một chuyện thôi. Bộ không thấy sao, mà mấy người còn xúi dại tui về du lịch ở bển? Còn có biết bao nhiêu chuyện rắc rối khác, mà những người về Việt Nam gặp phải, khi trở qua ngậm bồ hòn không dám nói ra, hay than thở lấy nửa lời, vì sợ họ hàng bên đó bị trả thù. Hoặc họ mắc cỡ thiên hạ chê là dại, ngu, khùng, lú… Chưa nói đến hôm nào bọn công an bị vợ xài xể, hay hết tiền bao gái… Buồn buồn mời Việt Kiều đến trụ sở làm việc… Rồi vui vui đẩy vào tù cải tạo thì mệt lắm! Ôi nước Cộng Sản cái gì cũng giả thì luật lệ, và tin được hay sao?

    Tiếng bánh xe của máy bay chạm mặt đường nhựa cà giựt, cà giựt và âm thanh lồ cồ, lọc cọc trên phi trường cắt ngang dòng hồi tưởng của tôi.

    Trên chiếc phi cơ Thái Lan đưa chúng tôi và hành khách chừng 100 người (đa số là du khách) đến vùng đất có di tích lịch sử ở Siem Riap của nước Cam Bốt để thăm viếng những kỳ quan thế giới tiếng tăm lừng lẫy ở xứ Chùa Tháp nầy.

    Chúng tôi cùng những người chung chuyến không hành xuống máy bay, đi bộ một khoảng chừng vài trăm thước từ nơi máy bay đậu. Chúng tôi đến phòng tiếp đón người phương xa (ngoại quốc) để làm thủ tục nhập cảnh. Và để an ninh khám xét hành lý.

    Tôi nhớ không lầm từ Mỹ đến các nước khác, thì đây là lần đầu tiên và cũng là nước đầu tiên đến phi trường rồi, mới làm giấy nhập cảnh như ở xứ Miên nầy!

    Những hành khách ngoại quốc như chúng tôi đều giống nhau. Đứng sắp thành hàng chờ vào trước ở từng ô cửa nhỏ, có nhân viên làm việc (đa số là đàn ông). Trên tay mỗi người phải thủ sẵn 20 đô la US (tiền mặt) 2 tấm bán ảnh. Hình có khuôn khổ giống như ảnh để dán hồ sơ xin vào quốc tịch Mỹ. Nếu ai không có ảnh đem theo thì sẽ chụp lấy liền tại chỗ (hỏi có trả tiền không? Tôi không biết! Nhưng ông xã tôi thì thầm trên đời có việc gì mà làm không công đâu?)

    Đứng chờ làm giấy nhập cảnh cũng không lâu lắm, mất 10 hoặc 15 phút cho mỗi người. Nhân viên làm giấy nhập cảnh mặc đồng phục (như quân phục?) màu cỏ úa, đội nón lưỡi trai, có viền vàng. Trên ve áo có phù hiệu, huy hiệu và chức sắc của mỗi người.

    Người bản xứ đa số có màu da sậm sòi, mắt to, trồng trắng nhiều hơn trồng đen. Mèn ơi, làm việc ở đây sao mà người nào mặt mày cũng hầm hầm đầy sát khí, và lạnh tanh như tảng nước đá phủ mạt cưa! Họ không có một nụ cười dù là nhếch mép, như của chủ nhà lịch sự ra mở cửa khi khách đến thăm! Tôi cảm thấy ngột ngạt, và tưởng chừng như sẽ bị “thộp đầu” tống giam ngay không cần nguyên nhân và không chút nương tay, nếu ai vô tình lỡ làm gì đụng chạm đến họ.

    Ở Mỹ người phụ nữ luôn được ưu tiên. Tôi quen tật nầy rồi, nhưng khi thấy mấy ông làm giấy nhập cảnh ở đây sao mặt mày có “ngầu” quá cũng ớn! Nên vào hàng đứng lùi lại sau lưng phu quân tôi, chớ thường lúc nào tôi cũng giành đứng trước chồng!

    Giờ nhớ lại, tôi khoái chí nhứt là đứng sau ông, mà giấy nhập cảnh của mình có trước mới là lạ! Tôi cầm tờ giấy nhập cảnh mân mê rồi đi qua góc bên kia chờ đợi phu quân tôi xong giấy tờ, để cùng ra cửa. Môt người sau ông đã xong đi qua, 2 người đã xong đi qua, 3 người, 4 người…

    Tôi sốt ruột không biết chuyện gì sẽ xảy ra nữa đây? Phu quân tôi không phải người Cam Bốt, nhưng nước da bánh ích ngọt đường hủ (vàng đen) của ổng cũng không thua gì dân bản xứ! Tội nghiệp ông đứng đợi nãy giờ, màu da mặn mòi của chàng hình như từ đen đã tái trở thành màu xám xanh của màu chàm đó.

    Bỗng có một nhân viên trong cầu vệ sinh bươn bả đi ra. Ông ta lật đật xem lại giấy tờ trên bàn rồi đưa cho ông xã tui giấy nhập cảnh!

    Chúng tôi thở phào nhẹ nhỏm, rồi cùng ra nhà chờ đợi. Vừa đi ổng vừa nhăn mặt lầm bầm:

    - Đồ cái tên ôn dịch, sao không chết luôn trong cầu tiêu cho rồi đi! Có chột bụng ỉa chảy thì đưa cho người khác làm chớ… Làm ăn gì mà kỳ cục quá vậy…

    Tôi cười hì hì, chọc quê:

    - Tui biết lúc nãy ông hồi hợp lắm phải không xếp Ba? Dù gì cũng xong rồi, đây là nước Miên chớ có phải là vùng quê hương Đồng Khởi (Bến Tre) xứ dừa ở cố quốc ông đâu, mà chúng đẩy ông đi tù cải tạo lần nữa!

    Phu quân tôi quay lại lườm vợ, rồi vã lã quay lại bắt tay tour guide đang cầm tấm bảng, có viết tên của chúng tôi ân cần niềm nở chào hỏi.

    Người tài xế đứng bên chiếc xe Cadillac màu đen mở cửa cúi đầu thấp chào và chờ chúng tôi bước lên xe. Sau nầy để ý tôi mới biết, hể lúc nào xe dừng lại thì tour guide một bên, tài xế một bên mở cửa chờ chúng tôi lên xe, hay xuống xe một cách lễ phép và trịnh trọng. Không biết đó có phải là cung cách lịch sự của tour guide ở xứ nầy không (?). Nhưng sự trịnh trọng và quá cung kính của họ đã làm cho tôi một người bình dân Nam Kỳ Lục Tỉnh thiệt tình cảm thấy không quen chút nào!

    Thành phố Siem Riep khang trang, sạch sẽ, nhà cửa hai bên đường xây cất theo kiểu của Pháp nhiều hơn. Xe cộ rần rộ, nhiều xe hon-đa, xe đạp hơn xe hơi nhà. Ở đây có trạm bán xăng dầu, và những người bán lẻ từng lít (4 lít là 1 galon) rải rác dọc hai bên đường.

    Chúng tôi đến Siem Riep vào 11 giờ 30 trưa, nên trên đường rước chúng tôi từ phi trường vào trung tâm thành phố, tour guide cho ghé qua nhà hàng để ăn trưa và sau đó mới đi thăm thắng cảnh.

    Đã ăn ngày 3 bữa (sáng, trưa, chiều) cho 10 ngày ở nước Tàu vĩ đại. Hôm nay bữa ăn đầu tiên ở Miên! Nhà hàng đẹp, có không khí thoải mái, gió luồn lách qua cửa sổ mát mẻ. Tiếng lá reo trên các cây ngoài hàng hiên, tiếng chim kêu hòa với tiếng nhạc Tây phương êm dịu của nhà hàng làm tâm hồn chúng tôi dễ chịu sau khi rửa mặt, rửa tay xong và ra bàn uống nước chai mát lạnh để chờ các món ăn.

    Thú thật với quý vị, là kẻ sanh ra và lớn lên ở miền Nam nước Việt mà tui lại dị ứng với các thứ mắm nên không ăn được! Đó có phải là một mất mát lớn cho tui không? Tour guide không hỏi trước, gọi thế nào mà nhà hàng đem ra 4 món ăn đều là mắm! Chắc ở Miên nổi tiếng ngon là mắm? Hay hắn tưởng chúng tôi ở Mỹ ưa và thèm mắm lắm sao? Tôi chới với muốn chóng mặt, dõi mắt tìm tour guide và tài xế nhưng tìm hoài không thấy. Tôi không biết tiếng Miên… người hầu bàn không biết tiếng Anh! Không biết làm sao bây giờ, tôi đành phải ăn cơm với muối tiêu (hai chai muối và tiêu có trên bàn) thêm nửa chai nước lọc cho dễ nuốt!

    Thấy du khách là những con cừu mập mạp! Chúng tôi mỗi người chỉ uống 1 chai nước lọc, và đòi hỏi mỗi người thêm một chai để đem theo. Nhà hàng tính chúng tôi phải trả 4 chai nước là 8 đô la (Miên dùng tiền Cam Bốt Riel và Mỹ Kim). Khi lên xe, tour guide vui vẻ hỏi:

    - Thưa, ông bà ăn ngon miệng bữa cơm trưa nầy?

    Nếu anh ta không hỏi tôi cũng sẽ đề cập đến việc ăn uống trong mấy ngày sắp tới ở đây. Tôi mau miệng trả lời ngay:

    - Mùi mắm nặng quá, tôi không ăn được! Từ rày trước khi gọi món ăn, xin anh cho chúng tôi biết trước là tốt nhứt.

    Nhờ vậy mà những ngày du lịch ở Cam Bốt, ngoài những buổi ăn buffet, khi vào nhà hàng thì chúng tôi tự chọn lấy món ăn. Nhưng đó là những món trong thực đơn dành riêng cho chúng tôi, còn muốn gọi những món khác thì phải tự trả tiền.

    Rời nhà hàng 2 giờ trưa, chúng tôi đi xe thẳng khoảng 20 cây số đường có khúc trải đá, có đoạn đường đất lồi lõm mà lục lộ đang tu bổ và làm đường mới…

    Nước Miên có đất rộng, nhiều sông ngòi kinh rạch, vườn tược, ruộng nương… Nhà cửa tuy nhỏ nhưng khang trang, sạch sẽ, mái lá, mái tranh và nhiều mái ngói được xây cất trên mảnh vườn có trồng nhiều cây ăn trái, như đường từ Xa Cảng Miền Tây xuôi về miệt Hậu Giang của Việt Nam ngày xưa. Mặc dù hoa màu không được trù phú như miền Nam nước Việt.

    Chúng tôi đi thăm “Chong Kheas Village” gọi tắt chỗ sanh sống của dân ở vùng nước nầy là làng Chong. Làng Chong nằm trên mặt nước ngọt mà ngoại kiều Việt Nam sanh sống ở đất Miên lâu đời đã có them cái tên nữa mà người ta thường gọi là Biển Hồ.

    Từ đất liền chúng tôi dùng ghe tam bản có gắn máy đuôi tôm để ra thăm vùng dân cư xây đời trên sóng nước. Nhánh sông đào đưa ra Làng Chong dài chừng 3 cây số. Con sông đào nầy hẹp bề ngang, lòng sông cạn nên khi hai chiếc ghe có máy đuôi tôm chạy qua phải cặp sát vào bờ. Cánh quạt của máy đuôi tôm chạm bùng non, sình non theo nước quặn lên cuồn cuộn và đục ngàu màu đất phù sa. Nhưng khi ghe máy ra đến vùng nước giáp mí với làng Chong thì nước trong leo lẻo.

    Mắt thường chúng ta có thể nhìn thấy hai bờ là dạng cây của rừng (lake forest) xa xa, mập mờ không rõ rệt. Dòng sông chạy dài mút mắt, và phạm vi của làng Chong là một khúc sông cạn. Từ mặt nước xuống lòng sông chỗ sâu nhứt là 7 thước, và nơi cạn nhứt là 1 thước. Bề rộng bờ nầy qua bờ kia khoảng 40 cây số (40.000 thước), dài khoảng 150 cây số (150.000 thước). Đây cũng coi như là vùng giáp nước(?) vì nó chiếm một phần của sông Mê-\ Kông và một phần của Biển Hồ.

    Theo người hướng đạo cho biết. Cứ mỗi năm vào mùa mưa bắt đầu vào tháng sáu, thì từ thượng nguồn nước mưa tràn xuống. Và nước càng ngày càng dâng cao, dâng cao qua khỏi ngọn cây trên bờ.

    Nước sông lai láng, mênh mông không thấy bến bờ như cái biển. Mực nước lên cao nhưng thấp hơn ngọn núi và cao hơn ngọn cây chung quanh. Đến lưng chừng thì mực nước sẽ dừng lại ở đó, không dâng cao nữa. Mực nước ở độ cao nầy kéo dài chừng 40 đến 45 ngày thì rút. Nước rút mất khoảng thời gian từ 3 đến 4 tháng, mới trở lại mực nước bình thường.

    Dân cư sanh sống trên vùng Biển Hồ có khoảng 2 ngàn (2,000) gia đình, khoảng 7 ngàn nhân số (không chính xác lắm), nhưng mỗi ngày dân số một tăng. Mỗi gia đình ở trên một chiếc ghe bởi ghe là nhà. Ghe lớn, ghe nhỏ, rộng, hẹp, đẹp, đầy đủ tiện nghi hay không là do mỗi gia đình có nếp sống sung túc hay nghèo.

    Đa số dân sống ở làng Chong sinh nhai bằng nghề bắt cá (chài, lưới), hoặc nuôi các thủy sản là: nuôi tôm, nuôi cá nước ngọt như cá trê, cá lóc, cá rô… Họ còn nuôi cá sấu, ba ba, cua đinh, càng đước, rùa, lươn…

    Ở đất liền ngày xưa chúng ta nuôi cá trong mương, trong hầm. Ở Biển Hồ họ đóng những cái bè lớn, bao lưới chung quanh. Be có chiều sâu lớn hay nhỏ là tùy theo khả năng của chủ muốn chứa bao nhiêu thủy sản cá, tôm muốn nuôi. Họ nuôi thủy sản cho ăn thức ăn nhân tạo. Đó là tấm, cám, đất sét nhão, cùng các chất khác… họ biến chế vò từng viên thảy xuống nước cho bầy cá nuôi ăn. Nghe hơi mồi, cá nhảy soi sói tranh giành ăn, con nào con nấy nặng cả ký lô mập ú vàng nghín…

    Những gia đình giàu ở làng Chong đánh cá sông, chài, lưới lớn. Có hộ làm chủ cả chục miệng lưới. Họ bắt cá, rồi mối lái bán trong nước và bán cho thương buôn chở về miệt dưới (các tỉnh giáp ranh như Châu Đốc, Hồng Ngự… của Việt Nam). Phần dân còn lại sống nhờ vào du khách. Họ có đò đưa du khách ra thăm làng Chong. Họ bơi xuồng theo ghe bán thức ăn, trái cây, nước uống… cho du khách.

    Ở đâu quen đó, “Ngộ biến phải tùng quyền”. Vì sự sinh tồn, những trẻ con nơi đây chừng 7, 8 tuổi đã biết bơi xuồng bán hàng theo sông cho du khách. Chúng lanh lẹ, bặt thiệp rao mời khách mua hàng lời lẽ ngọt ngào, trèo trẹo, dẽo đeo… Và chúng chèo xuồng giỏi, lặn hụp, bơi lội lanh lẹ dưới nước như con rái (một trong những con vật có hình dáng như con chuột lớn sống dưới nước)

    Những chiếc ghe làm nhà ở lớn, ghe nhỏ sơn màu xanh, màu vàng, màu xám… đậu cận kề san sát bên nhau. Màu nước có chỗ đục màu phù sa (ở nơi nào cạn và nhiều xuồng ghe tới lui). Nước trong xanh cho những khúc sông sâu và nhà (ghe) chỉ lác đác xa xa. Họ cất nhà trên ghe, mái ghe là mái nhà. Tất cả các mái thường được lợp bằng tôn, bằng lá… Các nhà lớn có nền (lườn ghe) nặng, vững chắc, khi đi trên ghe chúng ta không thấy lao chao, lắc lư… nên đã quên là mình đi trên ghe đang neo trên sông nước (Xin đừng nghĩ là nó lớn như những chiếc du thuyền chở du khách từ nước nầy sang nước nọ)

    Trên 2,000 chiếc ghe, có dân số trên dưới 7,000 người. Họ sống nổi trôi theo mực thủy triều bằng những ghe chen chúc đậu san sát bên nhau. Chúng tôi ghé qua thăm trường Tiểu học (Elemantery School) của làng. Đứng trên ghe (trường học) nhìn qua hướng trái, tôi thấy cây Thánh giá vươn cao sừng sửng dưới trời. Chúng tôi biết rằng đó là nhà thờ của đạo Thiên Chúa… Đối diện với nhà thờ là thánh đường của đạo Tin Lành… Thờ một con mắt là đạo Cao Đài, và bên kia cây cờ màu và đó là trụ sở của đạo Hòa Hảo …

    Nắng chiều mênh mông trải những tia vàng, xanh, tím, đỏ… phản chiếu lấp lánh trên mặt nước sông lăn tăn gợn sóng một màu xanh biêng biếc. Nền trời trong như ngọc, in từng cụm mây trắng phau phau, lững lờ bay bay. Tôi bồi hồi xúc động nghe tiếng chuông mõ, câu kinh ngân nga rền vọng trên sông nước theo làn gió thổi vi vu… Tôi dõi mắt kiếm tìm ngôi chùa Phật khiêm nhường mái lá, vách tre trên chiếc ghe nhỏ nằm lẻ loi xa những chiếc ghe lớn đồ sộ đầy đủ tiện nghi bên kia.

    Rồi ghe chở chúng tôi chạy loanh quanh làng Chong. Ghé trụ sở làng có bản đồ phân phối từng khu một trên sông cho du khách biết. Khu chợ có tiệm hàng xén, có quán nhạc, có hát Karaoke, có truyền hình, phim bộ, có sân đánh bóng rổ… Quán phở, quán hủ tíu, cà-phê, tiệm hớt tóc, tiệm làm móng tay (nail), tiệm uốn tóc, may áo quần, tiệm thợ bạc, tiệm nhổ răng.

    Làng Chong nhóm chợ trên sông, thôn dân sống trên sông… Nhưng họ mua bán mọi thứ một ít đầy đủ gần giống như một làng nhỏ trên đất liền.

    Có 60% dân Miên sanh sống ở làng Chong, trong đó có người Tàu lai Miên, Chàm lai Miên… Còn lại ở đây là 40% người Việt Nam(?).

    Chúng tôi được biết, đa số những người Việt sống rải rác khắp nơi trên lãnh thổ Miên là do Việt Cộng gài người. Giống như Tàu gài người trên đất Việt để đồng hóa người Việt thành người Tàu (?)

    Những người Việt đang sống ở làng Chong đại đa số là những người có nghề chài lưới, đánh cá sông. Và những người làm thợ mộc, thợ rèn, hoặc buôn bán… Đây thường là những bộ đội mấy năm trước đi đánh Miên có vợ con … Vì thương gia đình mà ở lại đất khách không trở về cố quốc. Một số người Việt trốn qua đây lập nghiệp thay vì bị đi kinh tế mới…

    Sư di chuyển của dân trên làng Chong thường thì bằng xuồng nhỏ, bằng xuồng thúng (giống xuồng ở miền Bắc Việt Nam năm 1954), bằng những cái thau mủ lớn, thau nhôm lớn (cho trẻ con bơi đi bán hàng)

    Trên dưới 7,000 dân làng Chong tay làm hàm nhai, thiếu thốn tiện nghi đủ mọi thứ, mọi bề… Nhưng cuộc sống của họ thảnh thơi, không tranh giành quyền lợi. Tâm tình họ vui vẻ theo con nước lớn nước ròng, nổi trôi trên sông mà mỗi năm đến mùa nước lên cả mấy ngàn gia đình phải tự dời đi hết lên vùng núi cao để lánh nạn mưa gió bão bùng. Và chờ khi nước rút, đất trời quang đãng, họ cùng đùm túm trở về bến xưa tiếp nối kiếp đời với Biển Hồ, vùng trời, mây, nước tự do của họ.

    Trong số dân cư sống ở làng Chong, chúng tôi biết có gần nửa dân Việt Nam sống ở vùng thủy lưu luân chuyển. Cũng có những Việt kiều sống rải khắp nơi trên xứ Chùa Tháp với kiếp tha hương cầu thực! Vì đây cũng là tụ điểm trong chương trình của chánh quyền Việt Cộng rập khuôn theo giáo điều của đàn anh Tàu. Họ trồng người trên xứ bạn để đồng hóa, để bành trướng lãnh thổ, mà Tàu đã áp dụng trên nước Việt Nam sau khi toàn lãnh thổ bị nhuộm đỏ.

    Hai bên đường đi trên đất liền đến bờ sông để dùng ghe ra làng Chong có nhiều xe đang ủi đất, cào đất, đổ đất đá… động cơ xe cộ, máy móc rầm rầm, bụi bay mịt mù và thợ thầy lăng xăng làm việc. Đó là những hãng thầu của Nam Hàn đang xây cất nhà cửa, mở mang đường sá cho vùng đất Campuchia nầy. Chánh phủ Miên trù tính xây dựng làng Chong trở thành nơi du lịch nổi tiếng của vùng Đông Nam Á. Mong được như vậy, để dân làng Chong sẽ có đời sống khá hơn! Trong tương lai không biết dân làng Chong đến khi nào mới có đời sống khá?

    Nhưng theo cá nhân tôi nhận thấy, những người dân làng Chong hiện tại đang sống rất thiếu thốn, nghèo nàn, và vô vọng ở tương lai tươi! Trong ánh mắt của họ, trong lớp trẻ ở tuổi đôi mưoi, tôi tìm thấy sự thỏa mãn, an nhiên tự tại không chút ưu phiền… Có phải chăng dù đời sống vật chất không tươm tất, không tiện nghi… nhưng họ đã sinh ra và lớn ở hoàn cảnh hiện tại quanh quẩn trong làng Chong? Đó là đời sống của mọi người sanh ra lúc còn 6, 7 tuổi đến trường học cho biết đọc biết viết. Đến 12, 13 tuổi theo cha mẹ ông bà đi bắt cá bắt tôm. Và 16, 17 tuổi thì cưới vợ, gả chồng ở riêng làm nhiều ăn nhiều, làm ít ăn ít. Sang 18, 19 tuổi đã làm cha, làm mẹ… Thì họ có biết gì thế giới bên ngoài?

    Đa số những người dân bản xứ từ sanh ra cho đến chết, có người chưa lần đặt chân đến thủ đô của họ, thì làm sao mà so sánh, mà suy tư về đời sống đang có của mình? Họ hài lòng với nếp sống hiện tại, thoải mái, an vui giữa trời nước bao la… Họ tuy nghèo khó, nhưng không bị quấy nhiểu, âu lo, giựt giành, chèn ép, hà hiếp, bóc lột, là quá tốt đẹp và đủ lắm rồi chăng?

    Tàu chở chúng tôi tách rời dần dần xa bến. Làng Chong nằm lung linh bồng bềnh trên sóng nước, Biển Hồ mênh mông bát ngát xanh biếc một màu. Hướng trời tây, vầng thái dương như quả trứng gà màu vàng cam chói lọi treo lưng chừng trên nền trời trong như ngọc. Nắng hoàng hôn dần dà chỉ còn le lói, dìu dịu… Từng đoàn chim bắt cá mỏ sắc bén, màu lông trắng, đen, xanh két, vàng nâu… xoãi đôi cánh bay lượn thỏa thích trên không gian rạng rỡ trong lành. Chúng bay từng bầy dập dìu, rồi cất tiếng kêu oang oác giữa bầu trời cao rộng. Mờ xa rồi rõ dạng từng đoàn ghe lưới, sau ngày làm việc lác đác trở về bến. Tiếng hò khoan “dô ta, dô ta…” rền vọng, vui tươi, lanh lảnh, dập dồn xa đưa theo gió và cơn thủy triều…

    Nếu tàu quay đầu chạy ngược lại chừng khoảng 3 giờ, thì sẽ đưa chúng tôi trở về Việt Nam! “Quê hương yêu dấu ơi, bao giờ màu cờ vàng ba sọc đỏ phấp phới lồng lộng trời xanh, thì chúng tôi sẽ trở về thăm lại cố quốc để thỏa lòng thương nhớ!”


    Mùa Xuân, năm 2008

    Tệ Xá Diễm Diễm Khánh An


    DƯ THỊ DIỄM BUỒN

    Trong tuyển tập văn
    “Hương Cau Quê Mẹ”
  9. “... Cô bạn tôi ơi, sao lặng thinh?
    Đường đi hiểm trở chỉ một mình?
    Lại đây, em hãy ngồi gần chị
    Ta sẽ tìm ra bến thái bình...

    Nước cháo đỡ lòng uống đi em
    Trời mưa tầm tã, phủ màng đen
    Con tàu trên Biển Đông cuồng nộ
    Say sóng vài ngày em sẽ quen...”

    Chị tới lui khắp chỗ trên tàu
    Luôn giúp trẻ, già... đang yếu đau
    Từ đó dần dà tôi mến chị...
    Đồng cam cộng khổ chuyến bôn đào

    Chị kể cho nghe khi giặc về
    Tóc tang xao xác khắp thôn quê
    Chồng đi cải tạo nơi rừng núi...
    Chẳng biết bao năm được trở về?

    Nhớ chồng theo tàu đi khắp nơi
    Khi thì sông rạch, lúc ngoài khơi
    Say đời thủy thủ, anh vui sống...
    Trôì nổi bao năm khắp biển trời

    Thuở xưa thôn xóm thật an lành
    Mái lá ẩn trong tàn cao xanh
    Sống giữa ruộng vườn cây say trái
    Bên dòng sông Cửu nước vờn quanh

    Có những đêm rằm ngát khói hương
    Trăng lên soi sáng rực khu vườn
    Thuyền trôi trên sóng hiu hiu gió
    Tình tứ giọng hò điệu mến thương

    Bỏ cảnh quê xưa, bỏ mái nhà
    Bỏ dòng sông nước quyện phù sa
    Tấm lòng để lại trên bưng lán
    Trên rặng trâm bầu trong bóng đa

    Chị dắt trẻ vượt biển bao la
    Từ bé con chưa hề biết cha
    Dẫu biết đi là vào ác hiễm!
    Đi là vĩnh biệt chốn quê nhà...

    Lênh đênh tàu chạy mấy ngày liền
    Sống nổi dập dồn, gió đảo điên
    Có kẻ nằm vùi thoi thóp thở
    Có người bất tĩnh nói quàng xiêng

    “...Mẹ tôi tha thiết đọc kinh cầu
    Nguyện Phật, cầu thần linh biển sâu
    Ơn phước xin ban người vượt biển
    Tự do bến đợi chẳng dài lâu...”

    Mơ màng như đến chốn hoang sơ...
    Tiếng hét làm tôi tỉnh giấc mơ
    Rũ rượi chị ngồi im chết điếng!
    Đau thương khuôn mặt hóa ngây khờ

    Vụt nhanh như chiếc lá rơi tòm
    Đôi cánh tay gầy ôm xác con
    Chị đã chìm sâu vào lòng biển!
    Mông lung đêm tối, nước đen ngòm!

    Bao năm qua rồi hởi chị ơi!
    Mỗi lần bất chợt thấy sao rơi
    Mỗi lần có dịp qua vùng biển
    Nhớ chuyến vượt biên cổ nghẹn lời!


    DƯ THỊ DIỄM BUỒN
  10. CÁC ANH ĐI

    Kính anh lính chiến VNCH,
    Với tất cả lòng chân thành biết ơn của Dư Thị Diễm Buồn


    Miền Nam mất, kẻ đi người bị bắt
    Bi đày cải tạo núi thẳm rừng sâu
    Từ Nam Quan cho đến mũi Cà Mau
    Biệt giam hải đảo Côn Sơn, Phú Quốc...

    Bao người bỏ thây, rừng thiêng nước độc
    Vùng tử thần, ranh biên giới Việt Hoa
    Ngày nắng cháy, đêm lạnh cắt thịt da
    Thiếu áo, đói ăn, đông về gió bấc

    Tẩy não tâm linh, héo hon thể chất
    Cä năm trời không thấy bóng sơn nhân
    Xa thật xa trại tù Biệt Kích Quân
    Những chiến sï Việt hào hùng khí phách

    Anh bị bắt trong xiềng gông của giặc
    Bị khảo tra hành hạ đã bao năm
    Nỗi thương đau, uất hận lẫn hờn căm
    Trong ánh mắt sáng ngời niềm bất khuất

    Trong lòng anh niềm tin không rã mục
    Ngày xưa đất địch càng quét täo thanh
    Cuộc diện trở mình, lũ giặc tan tành
    Chiến trường sục sôi, hóa thành bình địa

    Lào Kay, Kon tum, Năm Căn, Hậu Nghïa...
    Thái Nguyên, Bắc Cạn, Châu Đốc, Thừa Thiên...
    Bước chân anh đã dẫm khắp ba miền
    Cho lý tưởng, vì dân tiêu diệt bạo

    Anh cho chúng tôi tự hào, cao ngạo
    Khi huy hoàng hay trong lúc sa cơ
    Chí dũng, tâm hùng sắt đá trơ trơ
    Dù đứng trước cảnh nhất sanh thập tử

    Anh xứng đáng hiên ngang vào chiến sử
    Thời đã qua và cho đến ngàn sau
    Trong tay giặc, hay ở khắp Năm Châu
    Các anh là niềm tin, niềm hãnh diện...


    DƯ THỊ DIỄM BUỒN
  11. [​IMG]


    MỘT VÀI NÉT VỀ NHẠC SĨ THÔNG ĐẠT-VĂN GIẢNG



    Nhạc sĩ Thông Đạt-Văn Giảng sinh ngày 12, tháng 5, năm 1924 tại Huế.

    Ông là giám đốc trường Quốc Gia Âm Nhạc Huế

    Trưởng phòng Học Vụ Nha Mỹ Thuật, đảm trách học vấn của các trường Quốc Gia Âm Nhạc Sài Gòn, Huế và các trường Cao Đẳng Mỹ Thuật.

    Năm 1970 ông được huy chương vàng giải Văn Học Nghệ Thuật (âm nhạc loại A) của Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa.

    Nhạc sĩ Thông Đạt-Văn giảng là tác giả những bài hành khúc hùng tráng và là tác giả nhạc phẩm bất hủ “Ai Về Sông Tương”.

    “Ai có về bên bến sông Tương/ Nhắn người em gái tôi thương/ Bao ngày ôm mối tơ vương...” Đó là một đoạn ngắn trong bản nhạc tình bất hữu “Ai Về Sông Tương” của nhạc sĩ Thông Đạt-Văn Giảng đã đi vào lòng người mộ điệu Việt Nam qua nhiều thế hệ.

    Cũng như bao nhiêu học sinh, sinh viên ở thời tuổi ngọc dưới chánh thể Cộng Hòa. Tôi muốn nhắc là thuở đó người Việt sống trong miền Nam hoàn toàn tự do, tự do làm theo sở thích của mình. Tự do yêu, hận, ghét, thương... Miễn sao đừng làm phiền người khác và phạm pháp.

    Thuở đó những bản nhạc của những nhạc sĩ tôi thích nghe và đôi khi còn hát theo những ca sĩ tài danh trong radio, trong băng nhựa (cassette) “Ai Về Sông Tương” đó là bản nhạc của nhạc sĩ Thông Đạt-Văn Giảng, bài “Trăng Mờ Bên Suối” của nhạc sĩ Lê Mộng Nguyên. Riêng bài “Chiều Lên Bảng Thượng” của nhạc sĩ Lê Dinh tôi không thể nào quên được. Vì đó là bài hát đệm cho bọn nam nữ học sinh chúng tôi gồm có 8 đứa, múa biểu diễn trong ngày mãn khóa học năm Đệ tứ (lớp 9) trước mấy trăm phụ huynh học sinh và chánh quyền tham dự. Và tôi còn thích rất nhiều, rất nhiều những bản nhạc bát ngát tình người, tình lính, tình quê hương khác, của các nhạc sĩ khác...

    Vận nước nỗi trôi, sau 30 tháng 4 năm 1975 nước Việt Nam hoàn toàn rơi vào tay quỹ dữ! Theo đoàn người chạy loạn, gia đình tôi bôn ba đến xứ người, và khi nếp sống gia đình tạm thời yên ổn trong một nước tự do, vợ chồng đi làm, con cái đến trường... Thì lúc đó tâm trí tôi mới trở lại với chính mình là thèm muốn những riêng tư phải có cho sự đòi hỏi của tâm hồn. Tôi thèm nghe nhạc, thèm đọc sách, và nỗi đam mê viết lách bắt đầu âm ĩ ngún ngòi!

    Ở thập niên 80, không biết vùng tôi tạm cư Chicago (Illinois) có bao nhiêu người Việt tị nạn Cộng Sản, và bao nhiêu du học sinh miền Nam trước năm 1975. Nhưng chỉ có một tiệm duy nhứt của người Việt lai Tàu bán những vật dụng và gia dụng Á Đông (có các thứ của Việt Nam).

    Nhà tôi đến chợ nầy phải mất một giờ lái xe. Hôm đó tôi vô cùng mừng rỡ, mằn mò từ kệ hàng nầy qua kệ kia mới tìm được 6 băng cassette nhạc Việt Nam, thu đâu hồi năm ngoái kỳ xưa ở Sài Gòn.

    Xin quý vị đừng cười cho “Bà Tư Kẹo” (đó là cái tên cúng cơm do các chị, em đặt cho) mà mấy mươi năm rồi, giờ tôi mới chợt nhớ!

    Mèn ơi, bởi khi ra tính tiền những băng nhạc tôi tá hỏa tam tinh 7$/1 cassette (7 đô la một băng)! Trong khi quý vị à tôi làm có 3$15 xu/1 giờ, ngoài chợ Mỹ bán thịt đùi heo 19 xu/1bls, 12 trứng gà /10 xu, thịt gà đùi 14 xu/1bls... Tôi xót xa trong bụng, 6 băng nhạc nhiều lần cầm lên rồi để xuống... Phu quân tôi nhìn thấy biết vợ cái mặt méo xẹo vì tiếc tiền! Chàng tỏ ra tự nhiên hào sảng, bảo nhỏ: “Em thích thì mua về nghe đi...”

    Tôi nhìn chồng biết ơn và e dè như người có tội, mua 3 cái, trả lại ba cái mà lòng đầy tiếc nuối. Nhưng eo ơi, có lẽ vì băng thu lại lâu đời, dùng nhiều nên về nhà 3 băng nhạc, chỉ có 1 băng hát nghe đỡ một chút, còn hai cái kia cái bị cà lăm, cái bị rè không nghe được...

    Thuở đó được đồng hương trong vùng cho mượn sách, tập truyện, báo cũ... Việt ngữ thì quý và vui mừng lắm. Rồi dần dà tìm được địa chỉ một vài nguyệt san ở Nam, Bắc California... tôi chắc mót gởi mua sáu tháng, một năm... thì chủ báo gởi nhiều lắm là hai ba, lần... rồi mất tiêu luôn... Hoặc gởi tiền đi nhưng báo không bao giờ đến, gọi hỏi toà soạn không ai trả lời...

    Nghe tôi láp dáp cằn nhằn mấy tờ báo đời đó, phu quân tôi cười khì:

    - Thôi bỏ đi, đền hoặc thưa gởi ai bây giờ? Đã mất tiền còn buồn bực làm chi cho mệt, ở đời người ta thiếu mình sướng hơn, chớ đừng để mình thiếu người ta... mang tội!

    Bị dối gạt mất tiền, lòng còn đang hết sức bực bội mà nghe ổng xã mình nói chuyện huề vốn thấy mắc ghét! Tôi háy ổng con mắt có đuôi như dao cạo râu, rồi bỏ ra ngoài sân nhìn trời hiu quạnh cho thoải mái tâm hồn!

    Trong dịp tình cờ, năm đó tôi đọc được bài của nhạc sĩ Lê Dinh viết về nhạc sĩ Thông Đạt-Văn Giảng trên nguyệt san Nghệ Thuật (của nhạc sĩ Lê Dinh). Từ lâu tôi đã cảm mến về nhạc của ông, giờ đây đọc được bài viết về ông, khiến tôi càng kính phục về người nhạc sĩ tài hoa Thông Đạt-Văn Giảng nhiều hơn.

    Nhờ nhạc sĩ Lê Dinh cho địa chỉ, tôi mạo muội gởi tặng ông Thông Đạt-Văn Giảng hai thi tập của mình để làm quen. Sau tháng gởi thi phẩm tặng, tôi nhận được thiệp cảm ơn của ông, và trong thiệp ông có hỏi “Chị còn có thi tập nào nữa không...?”. Tôi mừng húm, lật đật gởi tiếp ông 4 thi tập còn lại! Bởi theo thiển nghĩ của tôi: “Viết ra là mong tác phẩm của mình được đến tay người đọc... Có độc giả càng nhiều càng tốt, văn thơ được đi xa, xa tít khắp năm châu bốn biển càng hay... Và được có người cảm nhận văn thơ mình thì tôi sung sướng hạnh phúc vô cùng...”

    Nhạc sĩ Thông Đạt-Văn Giảng ở nước Úc, chúng tôi ở nước Mỹ, hai châu khác nhau. Trên bản đồ thế giới hai nước cách xa hơn nửa vòng trái đất, một biển Thái Bình Dương bao la, các múi kinh tuyến, các tầng vĩ tuyến. Phải mất khoảng 16 giờ máy bay không ngừng nghỉ từ Hoa Kỳ mới đến Úc Đại Lợi.

    Vào năm 2003 du lịch ở Úc, có đi qua vùng Melbourne nơi nhạc sĩ tạm cư. Chúng tôi điện thoại đến, xin được ghé qua thăm ông. Và kể từ sau lần thăm, tôi gọi ông bằng bác (ông cùng tuổi với ba tôi)

    Bác Thông Đạt-Văn Giảng tôi gặp năm đó có vóc dáng cao ráo, ốm, khuôn mặt phúc hậu, nước da trắng xanh. Nét mặt nghiêm trang, giọng Huế của bác nhỏ nhẹ, ôn tồn, ấm áp... Bác lắng nghe người đối diện nói nhiều hơn bác nói. Bác khiêm tốn, có phong cách phương phi, điềm đạm của một nhà mô phạm chân chính hơn là một nghệ sĩ...

    Chúng tôi vì phải theo đoàn du lịch qua tiểu bang khác trong ngày, nên dừng lại thăm bác chỉ một giờ thôi. Bác đãi chúng tôi tách trà Mai Quế Hoa với bánh “Phục Linh” (loại bánh in nhỏ bằng ngón tay cái, để vào miệng không cần nhai mà bánh thao ra) ngọt đường, béo nước cốt dừa và phảng phất hương lá dứa. Bánh có màu xanh nhạt, màu hồng phấn và màu lá cẩm đặt trên chiếc dĩa kiểu mạ vàng trên vành.

    Nhân dịp đến thăm, tôi tặng bác món cổ ngoạn nhỏ để bàn, đó là tượng phật Quan Âm bằng ngọc thạch nhân tạo, có vân xanh da trời và trắng màu mây. Mấy năm trước du lịch tôi đã mua trong một ngôi chùa bên khu Tam Giác Vàng (nơi đây có ba dòng sông của ba nước: Thái Lan, Lào, và Miến Điện) nhập lại.

    Đưa chúng tôi ra cửa, bác bảo nhỏ:

    - Chúc thượng lộ bình an, cảm ơn anh chị đến thăm, và tặng món cổ ngoạn... Từ rày thỉnh thoảng gởi sách, hoặc thơ chị viết cho tôi đọc là quý lắm rồi... Tôi không nhận quà nữa nghe...

    Tôi ngầm sung sướng và vui mừng nhận được những bài thơ của mình được bác phổ nhạc... Và tôi vô cùng cảm động nhận được lời thư dưới đây nguyên văn của bác:

    “.....................

    Nhận được mấy thi tập của nhà thơ Dư Thị Diễm Buồn gửi tặng đầu năm 2001. Tôi nghĩ rằng một nhà thơ chưa quen biết mà gởi tác phẩm tặng, có lẽ muốn mình phổ nhạc. Nếu không phổ một bài nào e mình thiếu lịch sự! Nên tôi bắt đầu đọc thơ của Dư Thị Diễm Buồn để kiếm một bài phổ nhạc làm quà quen biết với nhà thơ, người có ý tốt hâm mộ tôi.

    Tôi đã chọn được bài thơ “Nhớ” phổ theo âm hưởng Huế làm món quà văn nghệ ban sơ... Mấy ngày sau tiếp tục đọc kỹ thì thấy có nhiều bài hay, ý tứ súc tích, từ ngữ phong phú, mộc mạc, chất phác, tình cảm đậm đà, nhất là chất nhạc dồi dào rất gợi cảm cho người phổ nhạc. Do đó tôi viết thêm bài thứ hai, thứ ba và tiếp tục từ bài nầy đến bài khác... Tôi ngâm nga lời thơ để viết nhạc một cách lý thú...

    Tôi có thói quen khi viết được khúc nhạc nào cảm thấy hay hay, thì thường hát cho vợ con nghe, đặc biệt câu nào thích nhứt trong bài, tôi thường hát lập đi, lập lại nhiều lần để tự mình và những người thân trong gia đình thưởng thức. Thỉnh thoảng tôi hỏi họ: Đã nghe... câu ấy chưa, được không?”. Khi họ trả lời: “Nghe hay, dễ nhớ...” Lúc đó tôi mới hạ bút viết thành nhạc...

    Khi phổ đến bài thơ thứ năm, tôi thấy cũng đủ rồi, ngưng là vừa... Thế rồi lật tập thơ khác ra đọc tiếp, thì cảm hứng dấy lên tôi muốn phổ nhạc thêm... Như vậy đủ thấy thơ Dư Thị Diễm Buồn thật là phong phú tình cảm, nhạc tính dồi dào dễ rung động người đọc.

    Tôi có ý định phổ thơ cho đủ chị làm một CD... Cuối cùng tôi đã thực hiện xong ý mình, và tôi lại tiếp tục phổ nhạc thơ của Dư Thị Diễm Buồn nhiều hơn đã định...

    Melburne, ngày 12 tháng 4 năm 2001


    VĂN GIẢNG-THÔNG ĐẠT”
    (Trích trong tập nhạc của ba nhạc sĩ: Văn Giảng-Thông Đạt, Võ Tá Hân, và Hiếu Anh)


    Đôi ba tháng tôi điện thoại thăm bác một lần, hoặc gởi bác cái thiệp vấn an. Sách nào, CD ngâm thơ tao đàn nào khi phát hành tôi cũng gởi tặng bác...

    Có lần bác bảo:

    - Chị có định ra CD nhạc chưa?

    - Kính bác, cháu có hỏi thăm những nhà làm nhạc thu vào CD ở California. Họ bảo trung bình làm một CD gốc, ca sĩ thường hát nghe được thì từ 7000$ (bảy ngàn Mỹ) còn những ca sĩ hát hay nổi tiếng phải từ 12000$ (mười hai ngàn đô la) đó bác ạ... Cháu chưa có khả năng...

    Bác từ tốn bảo:

    - Ờ nhiều tiền quá hả? Thôi thì cứ để đó đi... Khuyên chị đừng gởi vể bển thâu rồi họ sửa đổi bậy bạ... Tôi viết nhạc lâu nên chẳng ngại chi cả, còn chị là cây viết trẻ... có cái cớ để bị chụp mủ thì nhiều phiền phức lắm!

    Rồi một năm, hai, năm sau, những bài nhạc bác phổ cho thơ tôi vẫn còn nằm yên đó. Có một hôm tôi gởi tặng bác CD nhạc của anh Lê Quang Diệp (sư huynh đồng môn Trung Học Phan Thanh Giản & Đoàn Thị Diểm) thời xa xưa tặng tôi, vì trong đó có bài thơ tôi được anh phổ nhạc.

    Nghe xong CD, bác bảo:

    - Bây giờ chị có thể gởi những bài nhạc tôi phổ thơ về bên ấy, cho họ soạn hòa âm và làm CD được rồi... Và nhớ yêu cầu những ca sĩ đã hát trong CD chị cho tôi, hát cho CD của chị nghe...

    Thế là: Tình khúc thơ phổ nhạc CD 1“Con Đường Xưa Mưa Bay” thơ Dư Thị Diễm Buồn, nhạc Thông Đạt-Văn Giảng được hiện hữu trên thế gian nầy vào mùa Xuân California ngày đẹp nắng.

    Nhờ sự chiếu cố của thính giả, năm sau tình khúc thơ phổ nhạc CD 2 “Ướp Hồng Tuổi Ngọc” nhạc sĩ Thông Đạt-Văn Giảng phổ thơ Dư Thị Diễm Buồn, được ra đời.

    Mỗi lần nghe tôi sắp ra CD bác rất vui. Bác chăm chúc sửa chữa lại chỗ nào chưa ưng ý, sắp xếp bài nào hát trước, bài nào hát sau, và đặt cho CD cái tên đẹp! Khi ra CD xong tôi hỏi bác muốn bao nhiêu cái để tôi gởi qua. Bác cười hiền: “Chị gởi cho tôi xin 10 CD để tặng... con cháu”

    Chúng tôi trở lại Úc, nhận dịp trường xưa tổ chức “Đại Hội Cựu Học Sinh Phan Thanh Giản và Đoàn Thị Điểm Thế Giới Năm 2010” ở Victoria. Và sau ngày tới vùng Melbourne, tôi gọi điện thoại xin được đến thăm bác Thông Đạt-Văn Giảng.

    Phòng khách của bác giản dị, và tượng ngọc thạch Quan Âm tặng bác năm nào vẫn còn trên bàn viết. Bác vui vẻ đón tiếp chúng tôi...

    Trong lúc trà đàm, tôi hỏi thăm:

    - Thưa bác cháu thấy nhiều nhạc sĩ nổi tiếng như bác thường hay lên truyền hình, hay DVD trong những trung tâm băn nhạc lớn... Và cháu có nghe nhạc bác luôn trong DVD họ phát hành... vậy họ có trả tác quyền những bản nhạc của bác không, thưa bác?

    Bác cười nhẹ:

    - Chỉ có Trung Tâm Asia, mặc dù tôi không đòi hỏi nhưng họ có gởi tặng chút tiền uống trà. Họ cũng có mời sang bên đó... nhưng tôi từ chối, vì tuổi tác lớn rồi, đi đứng khó khăn và đường quá xa xôi.

    - Hàng ngày ở nhà rảnh rỗi, bác làm gi, và còn viết nhạc nữa không?

    - Hôm nào trời nắng ráo, tôi đi vòng quanh những con đường nhỏ gần nhà để giản gân cốt... Con tằm phải nhã tơ mà chị, tôi vẫn thường viết nhạc đạo. Hơn 20 năm rồi tôi không có viết nhạc tình, gần đâychỉ phổ nhạc thơ của chị thôi... và về sau nầy tôi sẽ chuyên viết nhạc đạo...

    Lần đó tôi có mời bác đến dự Đại hội trường tôi, nhưng bác từ chối:

    - Từ sang đây đến giờ tôi không có tham dự lần nào hội họp, hay lễ Tết ở bên ngoài. Cảm ơn anh chị có nhã ý mời, xin thông cảm cho...

    Anh bạn thân đưa chúng tôi đến thăm bác Văn Giảng là một nhà văn và chủ của một tờ báo lớn ở Úc, nhưng đưa chúng tôi đến đó thì đi chớ anh không vào. Lần đến thăm nầy tôi mang từ Mỹ qua tặng bác gói thanh trà nguyên chất, và hộp kẹo sô-cô-lat hiệu See’s

    Thời gian có chừa một ai lão hóa! Bác Văn Giảng trông già hơn lần chúng tôi đến thăm lần trước nhưng bác khỏe mạnh nét mặt phương phi và vẫn điềm đạm trong phong cách của một người đứng tuổi. Đến thăm bác chừng một giờ chúng tôi cáo từ.

    Phu quân tôi gọi nhờ anh bạn đưa lúc nảy rước về. Đến chở chúng tôi về nhà, bây giờ trên xe ngoài vợ chồng tôi còn có anh Bùi Hữu Trạng (Úc) Huỳnh Ngọc Minh (TX, Hoa Kỳ) Anh bạn lái xe nhìn tôi như dò xét rồi chân tình, dè dặt bảo:

    - Hỏi thiệt chị chớ nhạc sĩ Thông Đạt-Văn Giảng phổ nhạc thơ chị ổng lấy bao nhiêu tiền một bản vậy?

    Tôi ngạc nhiên, mở to mắt hỏi lại anh:

    - Bộ bác Thông Đạt phổ nhạc thơ cho người ta ăn tiền hả? Không anh, tôi không có trả cho bác đồng nào, bác cũng chưa hề nhắc hay đề cập với chúng tôi vấn đề tiền bạc... Thật ra khi nhận được thư, tôi mới biết những bài thơ mình được bác phổ nhạc.

    Thấy anh cười cười như không tin, tôi bảo tiếp:

    - Ra CD, tôi chỉ tốn tiền trả cho ca sĩ, ngâm sĩ ở Việt Nam làm cho tôi bản gốc nhạc, hoặc ngâm thơ Tao Đàn thôi. Khi được những bản gốc rồi tôi gởi xuống trung tâm làm CD ở Nam California nhờ họ in ra... Giá cả tương đối, có thể chịu được, không cao ngất trời xanh đâu... Chớ nhiều tiền quá chúng tôi sẽ không làm sao kham nổi... Anh cũng biết, sách, nhạc, thơ... phát hành sẽ tặng nhiều hơn là được ủng hộ. Các nhà văn nhà thơ lớn thì có thể bán được nhiều tiền, còn tôi là tép rong tép rêu trong ao đìa... viết in thành sách, và làm CD với tâm tình ưa thích và đam mê văn nghệ thôi. Tôi cũng không phải là người nổi tiếng, vả lại “Văn chương hạ giới rẻ như bèo” mà! Ờ, tại sao anh lại hỏi tôi như vậy?

    Anh bạn tôi vừa lái xe vừa trả lời:

    - Người ta đồn cụ Văn Giảng-Thông Đạt rất nghiêm khắc, khó tánh lắm. Cụ sống âm thầm ít giao tiếp bên ngoài, tôi ở đây mấy chục năm rồi chưa bao giờ thấy cụ đi dự các hội họp, lễ, Tết... của cộng đồng, đoàn thể, đảng phái, hay cựu quân nhân... chi cả. Cũng không thấy bài vở, nhạc... của cụ mới viết gởi đi trên cách sách báo Việt ngữ hay các diễn đàn điện tử... Và rất nhiều người như tôi ở đây lâu cũng chưa hề biết mặt cụ... Hôm nay nếu không chở anh chị đến thăm, tôi cũng chưa biết chính xác cụ ở đâu... Tôi cũng chưa nghe bản nhạc nào cụ phổ nhạc thơ người khác... Nhưng thấy 2 CD nhạc của cụ phổ thơ chị, nhiều quá nên tôi tò mò hỏi thôi...

    Tôi lí lắc cười hì hì, trả lời anh:

    - Đó là nhờ cái duyên văn nghệ của Dư Thị Tiễm Buồn. Cũng có lẽ bác thấy tôi là con nhỏ có cái mặt bơ bơ, quê mùa khờ khạo, chân chưa sạch phèn ở vùng sanh tôi ra và lớn“Con cá gô, bỏ chông gổ nhẩy gồ gồ” thật tội nghiệp đó mà!

    Hai ông anh đồng môn trên xe cười ồ, ồ... chọc ghẹo tôi:

    - Thôi đủ rồi nghe chị Diễm, khiêm nhường vừa vừa thôi chớ...

    Bầu trời Úc nắng chang chang, nóng muốn la làng nếu trong xe không có máy lạnh đang chạy rè rè. Vì vào cuối mùa hè của nước Úc, lại là cuối mùa đông nối tiếp đầu mùa xuân ở nước Mỹ.

    Tôi cười nhẹ nói tiếp:

    - Bác Thông Đạt-Văn Giảng khó tánh đâu tôi không biết. Nhưng mấy anh cũng thấy, tôi là một đứa nói cười tự nhiên hỉ, nộ, ái... hiện rõ trên nét mặt, và trong cử chỉ của mình. Nhưng trước cái từ tốn, hiền lành, nghiêm trang, thâm trầm của bác... đã khiến tôi phải chùn lại! Để mỗi khi điện đàm với bác, hay nói chuyện trực tiếp với bác tôi phải lựa lời, và cười phải đúng chỗ... chớ không dám chí chóe, tía lia nữa.

    Trên xe không ai nói lời nào, mỗi người theo đuổi ý nghĩ riêng của mình. Nền trời Melbourne hôm nay trong như lọc, vẫn còn sao nắng chấp chóa thấy được ngoài kiến xe... Anh bạn tôi tế nhị mở CD nhạc “Con Đường Xưa Mưa Bay” của bác Văn Giảng-Thông Đạt đã phổ nhạc thơ tôicho cả xe cùng nghe.

    Anh ta vẻ mặt an nhiên, bảo:

    - Nghe nhạc êm dịu của nhạc sĩ Thông Đạt-Văn Giảng, khiến người ta cảm thấy tâm hồn lâng lâng, nhẹ nhàng dễ chịu làm sao...

    Trong xe không ai có ý kiến gì qua lời nhận xét của anh. Nhưng không một người Việt nào mà không thừa nhận,bác Thông Đạt-Văn Giảng là một nhạc sĩ tài hoa đức độ, chĩ thế cũng khiến cho bao nhiêu người ngưỡng mộ và kính phục...

    Hôm nay thời tiết nước Mỹ đã vào chánh mùa xuân, thì ở nước Úc vào đông. Hai phương trời bên hai bờ Thái Bình Dương khác biệt từ thời gian, khí hậu chuyển sang mùa...

    Tôi bàng hoàng xúc động, tin từ các diễn đàn điện tử:


    CHIA BUỒN


    Nhạc sĩ

    VĂN GIẢNG-THÔNG ĐẠT
    Vừa từ trần tại Victoria, Úc Đại Lợi
    Ngày 9 tháng Năm, 2013
    Hưởng thọ 89 tuổi.
    Chúng tôi xin thành kính phân ưu cùng tang quyếnKính nguyện anh linh nhạc sĩ

    Thông Đạt-Văn Giảng

    An vui nơi miền tịnh độ

    Nhạc sĩ Việt Nam Thông Đạt-Văn Giảng vừa nằm xuống! Bác ra đi để lại buồn thương tiếc nuối cho gia đình, một mất mát lớn cho nền Âm nhạc Việt Nam! Dẫu biết rằng sanh lão bệnh tử là kiếp con người trên trần thế, kẻ trước người sau không ai tránh khỏi. Nhưng lòng tôi cảm thấy ưu hoài thương tiếc bác một nhạc sĩ tài hoa khả kính.

    “...................................
    Tin bác ra đi bàng hoàng xao xác!
    Xuân Cali ôi nhòa nhạt xám giăng
    Để chiều nay nhìn mây tím băn khoăn
    Tôi nghe vẳng thơ nhạc lòng ai hát...

    Bác an bình trên bầutrời ấm mát
    Chốn hồng trần là cõi tạm mông lung...
    Lòng xót xa và kính ngưỡng vô cùng
    Hương tưởng niệm thắp cho người quá cố

    Hương linh bác sớm về miền vĩnh độ
    Mảnh u hồn sẽ trở lại cố hương
    Thăm làng xưa và viếng lại miếu đường
    Hưởng nhang khói trong đêm rằm tháng Bảy...”


    Hôm nay ngày 14 tháng 5 năm 2013, bác nhạc sĩ Thông Đạt-Văn Giảng được gia đình hỏa táng. Tôi xin nói lên một vài kỷ niệm, mà trong tôi bác là một người thầy đức độ, một người cha hiền, một nhạc sĩ tài hoa khả kính. Kiếp đời nầy tôi sẽ không bao giờ quên ơn bác đã bỏ công sức phổ nhạc cho tôi hơn hai mươi bài thơ vào CD. Dòng nhạc êm dịu du dương của bác ru hồn bao nhiêu người ái mộ, và dòng nhạc hùng, những bảng hùng ca của bác trong các quân trường của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, đã đi vào chiến sử Việt Nam.

    “Kính cẩn thắp nén hương lòng hướng về phương trời nước Úc.
    Cầu nguyện Ơn Trên hộ độ hương linh bác
    Nhạc sĩ Thông Đạt-Văn Giảng sớm về cõi vĩnh hằng...”


    Kính bái


    DƯ THỊ DIỄM BUỒN
  12. Em ra đời mùa Thu năm đó, vào ngày Rằm tháng Tám Âm lịch. Đem so với ngày Dương Lịch đúng y chang trong tờ giấy khai sanh của em. Mẹ thường kể cho cả nhà nghe, vào những lúc vui hay là ngày mừng em sinh nhựt:

    – Nằm trong nhà bảo sanh mẹ nghe tiếng hò, tiếng hát, reo vui của thiếu nhi. Cùng tiếng phèng la, tiếng chiên trống múa lân của đoàn dâng cộ đèn mừng Tết Trung Thu, hay Tết Nhi Đồng của nước ta thuở đó, vào thời Việt Nam Cộng Hòa. Theo lẽ mẹ đặt cho con cái tên là Thu, là Nguyệt, là Hằng, là Nga, là Thu Nga, là Thu Hằng, là Nguyệt Thu hay Thu Nguyệt… Mới đúng nghĩa với ngày sanh tháng đẻ của con. Nhưng lần về thăm đâu hai tháng trước khi con ra đời. Lúc ra đi, ba đưa cho mẹ phong thư, bảo chừng nào làm khai sanh thì dở ra xem. Ba đã đặt tên cho con cái tên rồi!

    Mẹ em chép miệng trầm ngâm một hồi, tiếp:

    – Quê hương mình chinh chiến triền miên. Ba con theo đơn vị đóng quân mãi ở miệt rừng U Minh Thượng, U Minh Hạ… tận Cà Mau lận. Tội nghiệp ba, biết khoảng giữa tháng đó đứa con đầu lòng chào đời, mà ông hằng mong đợi nhưng vẫn không ở nhà được, để nghe “Con khóc oa, oa… khi lọt lòng mẹ. Còn ông bà, họ hàng thì cười tươi vui mừng đón con…”

    Em lớn khôn dần trong vòng tay mẹ, và tình thương yêu vô bờ của hai đấng sanh thành. Ba em là lính chiến luôn xa nhà, cả trong những mùa Trung Thu là ngày ra đời con gái cưng của mình, mà ông cũng ít khi có dịp về nhà vui với vợ con…

    Rồi mùa Trung Thu năm em vào học lớp Năm (lớp Một) của trường Nữ Tiểu Học Trưng Vương. Ngôi trường nữ, hai tầng có vách tường, mái ngói màu gạch tôm, khang trang nằm trên đường ông bà Nguyễn Trung Long (Mỹ Tho) ra bến bắc Rạch Miễu qua sông có nhiều cồn nhỏ, cồn lớn… Cồn Ông Đạo Dừa, rồi đi về tỉnh Bến Tre.
    Địa phận tỉnh Định Tường có Thành phố Mỹ Tho, nổi tiếng hiền hòa nằm mơ màng trên dòng sông Cửu Long… Mà những câu hò, câu hát bình dân khen ngợi ở nhiều khía cạnh nào đó về thành phố khá ái nầy.

    “Mỹ Tho đẹp lắm, đi tắm Cầu Dầu
    Anh hỏi em đang ở nơi đâu?
    Để cha mẹ anh đến cau trầu cưới em…”


    “Mỹ Tho có kẹo hột điều
    Có cô thôn nữ mỹ miều dễ thương
    Ai về Chợ Cũ, Trung Lương…
    Hồng đào chín mộng, có đường mạch nha
    Đêm thu đẹp ánh trăng ngà
    Mái chèo dưa đẩy qua nhà thăm em…”


    Miệng truyền miệng trong dân gian, là câu: “Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ/ Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ ngọn lu/ Anh về học lấy chữ nhu/ Chín trăng em đợi, mười thu em chờ…”

    Ở xứ mình, thường tiệm buôn bán trong các chợ, chủ nhà ở phía sau, hoặc trên lầu, còn phía trước, mặt tiền thì bày hàng để buôn bán.

    Mỗi năm, cứ vào cuối tháng Sáu, đầu tháng Bảy Âm lịch là thành phố Mỹ Tho trong các cửa tiệm thấy rõ rệt màu sắc tươi vui rộn ràng. Bởi các dãy phố tiệm ở chợ gần như đều trưng bày bán các loại bánh Trung Thu. Họ còn treo bán đầy đủ các loại lồng đèn giấy màu sặc sỡ, có vẽ thêm hoa, bướm hoặc những nét đặc biệt lên hình dáng mỗi thứ lồng đèn như: Đèn kéo quân, đèn cá chép, đèn con rồng, đèn ngôi sao, đèn máy bay, đèn xe tăng, thiết giáp, đèn tàu, đèn chuồn chuồn, đèn trái bí, đèn xếp…

    Bánh Trung Thu Thập Cẩm có bốn trứng, ba trứng, hai trứng, một trứng hột vịt muối để trong nhưn có lạp xưởng, thịt khô, vi cá… đó là những bánh mặn. Còn bánh Trung Thu Thập Cẩm Chay không có thịt và hột vịt, bánh nhưn đậu đỏ, nhưn mứt… Cùng bánh dẻo nhưn mứt, nhưn đậu xanh…

    Riêng em thích nhứt vẫn là bánh ông Địa. Chắc là bánh có hình dáng như ông Địa trên bàn thờ nên gọị là bánh ông Địa? Trên đầu bánh còn có sợi chỉ đỏ dài. Bánh ông địa ăn ngọt, giòn thơm mùi trái vị, ngũ vị hương, mùi quế… rất đặc biệt.

    Trong dãy phố công chức đó, có nhà của gia đình em ở. Vào tối mười ba, mười bốn, Rằm tháng Tám là trẻ con đốt lồng đèn cầm chạy chơi quanh xóm. Nhà nhà treo lồng đèn trong nhà ngoài ngõ, hương khói nhang, mùi bánh trung thu thơm tho cúng ở bàn thờ Ông Thiên, cùng mùi trà Tàu, hoa, quả… thơm lừng phảng phất trong gió thoảng bay.

    Em vui vẻ tung tăng chạy nhảy, theo đuôi các bạn quanh quẩn trước sân của năm bảy căn nhà quen biết sát bên, ở trong xóm chớ không dám đi xa hơn. Vì mẹ đã căn dặn em từ mấy ngày trước:

    – Tối con được đốt lồng đèn chơi trong vài nhà gần. Để khi mẹ gọi thì nghe mà lên tiếng… Không được đi xa, mẹ gọi, con không nghe để trả lời thì sẽ có đòn nghe chưa…

    Em vâng dạ nghe lời, vì không phải mẹ em không có lý do… Bởi gần đây giặc giã càng sôi động… Đêm đêm Việt Cộng thường pháo kích ầm ầm vào thành phố… Đạn pháo vô tình tàn phá nhà cửa, thây phơi, máu đổ… khiến sanh linh đồ thán, trời sầu, đất thảm… Và từ đó tuổi thơ em sớm nhuốm màu chinh chiến!

    Đã hai mùa Trung Thu rồi, bận rộn ba em không về! Vì đoàn quân ba em trấn giữ, chặn thù… khi ở Vị Thanh, Cờ Đỏ (một địa danh ở mền Tây), khi Tịnh Biên, Đồng Tháp Mười nơi nổi tiếng “đỉa lội như bánh canh”. Còn thường trực ở chỗ có “muỗi kêu như sáo thổi” và nhiều con vắt… Đó là rừng U Minh Thượng, U Minh Hạ… Bởi ba em là lính chiến thuộc Sư Đoàn 21/Bộ Binh, còn có biệt danh là Sét Miền Tây.

    Hôm nay, từ chạng vạng thì phố xá đã lên đèn… Tiếng hát vang vang rền vọng, tiếng chiên trống lân giục giã trên các nẻo đường của thành phố, làm lòng dạ em nôn nao, náo nức lắm… Mấy đứa cùng xóm đến trước rào nhà, rủ rê nhập bọn đi dâng cộ đèn, hoặc cầm đèn qua nhà chúng chơi.

    Nhưng nghe lời má dặn, và nhớ ba em muốn khóc! Em lắc đầu xua tay nguầy nguậy có ý bảo với chúng là em không đi. Ba em đang dãi dầu ngoài trận tuyến! Với những người lính chiến như ba thì làm sao có ngày lễ. Cho dù là lễ Tết hay phép thường niên cũng vậy, ít khi được như ý… Ba em chợt đi, chợt đến ghé thăm nhà bất ngờ không hẹn trước.

    Đêm nay các nhà trong xóm đều đốt lồng đèn trước cửa. Hương trầm, bánh, trái, hòa với mùi thơm của nước trà Tàu… ấm cúng mừng đón Trung Thu. Riêng nhà em lạnh lẽo vắng tanh! Má không buồn đốt đèn dù là đèn điện. Chiều đi học về sau khi ăn cơm, má còn căn dặn em:

    – Con ra sân đốt lồng đèn chơi một mình, đừng đi đâu nghe… Nhà mình ba không về nên đêm nay không có mừng Trung Thu… Ít bữa ba về mình sẽ ăn Trung Thu muộn, nghe con…

    Em cầm lồng đèn đi tới đi lui trong sân nhà với chú mèo tam thể, “meo, meo…” tiếng kêu, quấn quít bên chân em. Gió hiu hiu mát rượi, đưa đẩy cây lệ liễu hông nhà, làm những cành lá tha thướt lay động lồng bóng trăng tròn. Trăng rực rỡ tỏa ánh sáng thanh thoát xuống muôn loài…

    Em nghe trẻ hàng xóm trước nhà hát những bài Trung Thu: “…Đêm Trung Thu em đốt đèn đi chơi… Em đốt đèn đi khắp phố phường… Đèn Ông Sao với đèn cá chép, đèn thiên nga với đèn trái bí…”

    Và em còn nghe anh chị con nhỏ Bạch Nhạn nhà bên cạnh hát ca líu lo. Khiến em ganh tị thấy mắc ghét lắm! Em cũng biết hát vậy chớ bộ! Liền rống họng, em cất tiếng hát lanh lảnh, cố tình cho tụi nó ngán chơi:

    “Hôm nay đêm rằm, rằm là rằm tháng Tám? Ông Trăng kia đã lên cao rồi ông nhìn chúng em ông tủm tỉm cười! Ông Trăng ơi, nầy ông Trăng ơi, xuống đây với chúng em cùng vui chơi! Ông Trăng ơi nầy ông Trăng ơi, Xuống đây chúng ta cùng ca hát vang trời… Có chi nữa không? Có trống ếch cà lùng tùng xèng… Có chi nữa không? Có bánh ngọt thơm phưng phức… Có chi nữa không? Có những đèn Trung Thu ở miền Nam tự do, ấm no hạnh phúc… ông Trăng ơi! Ông Trăng ơi, xuống đây với chúng em cùng vui chơi… Xuống đây chúng ta cùng ca hát vang trời… ông Trăng ơi… nầy ông Trăng ơi, ơi…”

    Tiếng vỗ tay lớn và nhanh, làm em ngạc nhiên quá đỗi! Mèn ơi, ai mà vỗ tay khen tặng em dữ vậy cà? Chắc chị anh mấy con nhỏ hàng xóm chớ gì? Còn khuya à, chúng nó ganh tị chẳng thèm nghe em hát, thiếu điều muốn bịt hai cái lỗ tai lại nữa kìa. Chớ ở đó mà chúng vỗ tay khen em hát…

    Sừng sững lồng dưới ánh trăng rằm lộng lẫy! Người lính chiến hiên ngang, oai phong đứng đó! Ông mặc bộ trây-di màu cỏ úa, đầu đội nón sắt, và trên thắt lưng cây súng nhỏ… Giầy sô cao ống bám bụi đường xa, mùi nắng cháy khen khét quen thuộc… trìu mến nhìn em mỉm miệng cười! Rồi ông hơi khum lưng xuống, đưa hai tay đón chờ…

    Thảy cái lồng đèn dưới sân, em phóng tới ôm chầm thật chặt lấy ba. Hôn tứ tung lên mặt, lên mũi, lên ngực, lên áo ba… Giọng em rộn ràng, vui mừng và ơi ới gọi lớn:

    – Mẹ ơi, mẹ ơi ba về! Ba về, ba về mẹ ơi…

    Trong nhà nhanh chân bước ra tới hàng ba. Mẹ nhìn hai cha con em nở nụ cười mà mắt hoen dòng lệ hạnh phúc.

    Đèn điện nhà em được thắp sáng! Lồng đèn treo hai bên cửa trước, trong nhà, và sân sau được ba châm lửa đốt đèn cầy. Ánh lửa dạ giấy màu, hồng, vàng, tím xanh… tươi trẻ, vui mắt. Trong nhà má lúi húi nấu nước châm trà, cắt bánh Trung Thu… Em vui mừng chạy qua mẹ, rồi chạy sang ba… Em ôm cổ ba, nói cười líu lo như con chim chích chòe vào buổi bình minh… Và nhà em, những nhà trên trần thế được thắp sáng ánh trăng vàng của đêm Trung thu.

    Ngày 30 tháng 4 năm 1975 miền Nam bị giặc cưỡng chiếm! Năm đó trẻ con chúng em không có lễ Trung Thu! Ba em bị bắt tù cải tạo… Nhà cửa em trống trơn vì phải bán lần, bán hồi các đồ vật trong nhà… Rồi má em đi bán chợ trời… Đó là kế sinh nhai duy nhứt của mẹ con em, và chắt chiu dành dụm để dành đi thăm nuôi ba.

    Những năm về sau, vào đêm Rằm tháng Tám không ai còn nghe tiếng hát hò, trống múa lân của đoàn dâng cộ đèn nữa. Chợ búa không có bánh Trung Thu bày bán tự do khắp nơi như xưa. Có chăng họ chỉ làm chui, bán lén… vì đó là mặt hàng xa xí phẩm! Thành phố em ở nhà nhà xác xao, cửa đóng then gày dưới ánh trăng thu dìu dịu hắt hiu buồn!

    Những đứa nhỏ hàng xóm sống gần nhà em thưa dần, vì chúng theo gia đình về quê ngoại, quê nội, hoặc đi kinh tế mới… Và em không có đèn lồng trái bí dễ xếp cất, dễ đốt mẹ mua cho như những năm qua!

    Sau bao nhiêu năm giặc chiếm miền Nam là bấy nhiêu năm ba em bị giặc nhốt trong tù cải tạo! Hôm nay không định trước, mẹ dắt em đi thăm ba, lại lọt đúng vào ngày Rằm của mùa Trung Thu.

    Mẹ con em vượt qua biết bao nhiêu chặng đường lồi lõm có khi đi bằng xe hơi. Có lúc lội bộ, có lúc bằng xe tàu mo, đò chèo… Khi thì mẹ gánh em ngồi trong thúng bên đầu gióng nầy, đầu gióng kia chất chồng đồ ăn, áo quần cũ, thuốc men.

    Mẹ con em đi từ một hai giờ khuya đến chiều tối ngày sau mới đến nơi! Khi đến trại tù thì đã quá giờ thăm nuôi. Nên mẹ con em và một vài bà khác cũng đi thăm nuôi chồng con. Những kẻ lỡ bước chúng em được chủ vườn ở gần trại tù (cách mấy cây số) tốt bụng cho ngủ trong trại ruộng của nhà họ.

    Tối đó, mọi người lỡ đường vùi mình vào đống cỏ khô dưới nền đất sét nứt nẻ, thiếp đi vì mệt mỏi… May mà cả đêm qua trời không mưa, nhưng gió núi tê tái lạnh lùng. Hai mẹ con em nằm chèo queo một góc trong tại ruộng không vách, không phên.

    Em nhìn trăng qua nhiều lỗ trống không trên mái chòi. Trăng Rằm lên cao, càng lên cao ánh trăng càng sáng vằng vặc. Sương khuya xuống mờ đỉnh núi và chập chờn trên dải đồi mờ ảo xa xa. Tiếng côn trùng về đêm, hòa cùng tiếng dế tỉ tê… Những con chim ăn đêm bay qua ẩn hiện mịt mờ, kêu oang oác trên trời cao… Tiếng gió hú qua đồi làm xào xạc nhành cây lá chung quanh, khiến em sợ hãi rúc vào lòng mẹ.

    Để rồi sáng dậy ra mặt, tay, chân… người nào cũng đầy vết muỗi cắn. Bầy muỗi đêm qua được ăn bữa giỗ no nê! Chúng thiệt là ác độc, nỡ đành hút máu của những kẻ lỡ đường ngủ trong trại ruộng!

    Mẹ em lồm cồm ngồi dậy khi nghe vẳng tiếng gà gáy trong xóm xa… Bà sửa soạn lại túi nải chờ rạng đông đi vào trại tù thăm chồng. Bỗng bà thấy hai bóng đen lù lù xuất hiện khi mờ khi tỏ trong màn sương sớm. Càng lúc họ đến càng gần… mẹ em sợ quá gọi mấy người kia thức dậy, để cùng đối phó nếu rủi gặp kẻ xấu, hoặc chuyện không may!

    Họ càng đến gần trời cũng sáng thấy rõ hơn… Thì ra là hai người thanh niên đi giỡ bẫy chim, chuột, gà rừng… Nói chuyện một hồi thì mấy bà cùng mẹ con em vào nhà cha mẹ họ là chủ trại ruộng nầy để xin nước uống…

    Mẹ em nhớ lại đã bao nhiêu năm rồi mới đi thăm nuôi chồng. Ba đói khổ lắm, mẹ liền cởi chiếc nhẫn cưới bằng vàng 18K đang đeo trên ngón tay áp út ra. Đó là di vật sau cùng của ba tặng bà trong ngày đính hôn! Má đem đổi lấy con gà giò (gà mới lớn nhổ lông xong, còn hơn nắm tay) và lít gạo trắng của chủ nhà… Rồi mượn nồi niu của họ làm gà rô ti và nấu nồi cơm còn nóng hổi đem cho ba em!

    Bao nhiêu năm tù tội… Đến bây giờ vợ, chồng, con mới gặp lại nhau! Má em khóc sướt mướt chẳng nói nên lời! Ba ôm em vào lòng nghẹn ngào thổn thức… Ba trông thật tiều tụy, ông ốm gầy, tay chân lỏng thỏng, mặt mày hốc hác, mắt hõm sâu, da đen chì, mét chẹt, nắng cháy nám đen… Chân tay ghẻ chốc, thẹo vít chỗ lành, chỗ lở…

    Ba em già quá nhiều! Nếu bất ngờ gặp ngoài đường không ai nói, chắc em sẽ không nhận ra, và sẽ không tin tù nhân đó chính là cha của mình! Em xót xa thương ba vô cùng, ôm chặt ba nức nở khóc òa…

    Gần hết giờ thăm nuôi, mẹ đưa cho ba tất cả đồ đem theo, trong đó có con gà được chặt ra làm bốn và nồi cơm đầy… Ba em múc hết nồi cơm, cạo lấy luôn cơm cháy, đưa nồi không còn dính một hột để chút nữa đây trên đường về má em ghé trả lại người cho mượn. Ba lấy hai cục thịt gà (nửa con) đưa cho má và em.
    Mắt ba u buồn và rưng rưng dòng lệ mỏng. Ông nhẹ giọng bảo:

    – Em và con đem theo ăn, trên đường về. Chắc con và em đói khổ lắm? Thôi mẹ con về đi, anh sẽ giữ gìn sức khỏe. Đường quá xa xôi, khó khăn đừng… đừng có lên thăm nữa…

    Má em nước mắt dâng tròng, lật đật lấy gà để trở vào gói cho ba, mếu máo:

    – Ở nhà không gì vất vả cả, chỉ lo cho anh thôi. Anh đem gà vào ăn đi. Mẹ con em tới bến xe sẽ mua ăn, thiếu gì đồ ăn họ bán…

    Dáng ba thất thểu đi vào trại tù… Và cửa tù từ từ kéo đóng lại! Mẹ em nát dạ tan lòng đứng nhìn theo, rồi lủi thủi dắt con ra về… Vừa đi bà vừa lau dòng lệ đau thương lã chã chảy dài xuống má. Còn em nước mắt cũng trào tuôn…

    Đường về nhà em còn xa xôi lắm, lại gặp cơn nắng cháy, mưa sa! Hai mẹ con không ai nói với ai lời nào, mỗi người theo đuổi ý nghĩ riêng của mình… Trong đầu óc thơ ngây bé nhỏ của em lúc bấy giờ! Ba em ngày xưa là sinh viên trường Luật. Bởi “Đất nước lâm nguy/ Thất phu hữu trách” Ba em học nửa chừng thì vào quân ngũ. Ba em có giành dân lấn đất hay cướp giựt của họ đâu! Vậy thì ba em có tội tình gì? Phải chăng tội ông làm bổn phận người trai trong thời loạn vì an nguy của gia đình và bảo toàn lãnh thổ? Giờ đây họ bắt nhốt trong tù nơi xa xôi hiểm trở? Để ba em và đồng đội đau không thuốc uống, đói không có ăn, lạnh không đủ ấm! Lại bị nhốt trong vùng hoang dã đìu hiu đi cả ngày không thấy bóng người như thế nầy?

    Mẹ con em đã đi gần đến tối mà vẫn chưa đến nhà. Giờ đây em vừa khát và mỏi mệt cả tứ chi. Em kêu đói bụng, mẹ chép miệng bảo:

    – Ráng nhịn về nhà sẽ có đồ ăn, vì mẹ chỉ còn đủ tiền để đi xe thôi. Lúc nãy mẹ định bới cơm cho ba, còn miếng cơm cháy mẹ con ăn cho đỡ dạ đi về. Nhưng thấy ba vét sạch nồi cơm nên mẹ làm thinh! Tội nghiệp ba ở trong tù đói khát nhọc nhằn lắm con ơi…

    Nói đến đó, mẹ em nghẹn lời sụt sùi dòng lệ khổ! Về đến nhà, em không sao ngủ được. Hoàn cảnh trại tù, ba em và đồng đội của ông bị hành hạ đọa đày cứ lởn vởn trong đầu óc thơ dại của em. Từ đó nỗi hờn oán nhen nhúm ngày càng lớn trong tâm hồn em: “Không bao giờ! Phải, không bao giờ em quên, và tha thứ cho những kẻ đã đày đọa ba em, và những đồng đội của ba em…”

    Vào Rằm tháng Tám năm sau, em thẫn thờ ngồi bên cửa sổ vò võ nhìn bầu trời cao rộng, trong sáng ánh trăng thu! Và con mèo tam thể dễ thương đó, vẫn cào, kéo lai quần em. Nó chạy nhảy tung tăng, kêu “meo, meo…” giỡn trăng như để làm vui lòng cô chủ nhỏ.

    Thấy em buồn, má cũng chẳng vui gì hơn! Một lúc sau, bà tìm ra cái lồng đèn trái bí mấy năm trước đã cũ mèm, giấy dán đổi màu và bị chuột cắn tưa mấy lỗ. Nhớ lại lâu lắm rồi, em đã cẩn thận nhét cái lồng đèn đó dưới chót, ở trong thùng tập vở, sách truyện, và báo cũ của ba em.

    Đã mấy mùa Trung Thu qua đi, ba em vẫn chưa được thả về. Em lơ là nhìn cái lồng đèn nghe chừng xa lạ, mà cảm thấy lòng xao xác héo hắt buồn loang! Làm sao em vui được khi ba em còn bị đày nơi rừng sâu Việt Bắc, nơi nổi tiếng rừng thiêng, và nước độc! Nước độc đến nỗi, từ bờ suối bên nầy, lội qua bờ suối bên kia thì lông chân bị rụng hết! Ở đó họ chỉ uống được nước mưa. Và có khi đi cả mấy tháng trời, cũng không thấy bóng sơn nhân, hay lâm nhân…

    Em lại càng xót xa đau buồn nhức nhối hơn! Mỗi khi em bắt gặp nửa đêm trở giấc, nghe mẹ khóc lén, khóc thầm!

    Thế nhân dù có buồn vui! Nhưng đêm nay trăng thu vẫn ngạo nghễ lên cao. Càng lên cao, trăng càng trải ánh sáng ngà ngọc xuống muôn loài. Gió thu vẫn nhè nhẹ man mác và mây thu vẫn bàng bạc bay bay về phương trời vô định… Những cánh chim đêm thu, in chập chờn trên không gian rồi hối hả bay đi… Chúng như ngầm hiểu nỗi thống khổ đoạn trường của con người theo vận nước nổi trôi! Và cảm thông trời miền Nam tự do ấm no dã không còn nữa… Cả loài chim muông mà còn biết buông tiếng kêu áo não, như oán, hờn, trách, hận…

    Sau khi ba em được thả về, gia đình đùm túm theo thuyền chài vượt biển Đông! Mười mấy ngày lênh đênh trên biển cả, gió dồn, sóng dập, đói khát thảm thê. Tưởng chừng cả gia đình dìm dưới mồ huyệt lạnh của đại dương rồi…

    Hành trình vượt biên trùng trùng hiểm nguy thừa chết thiếu sống! Nhờ Ơn Trên, rồi gia đình em cũng trôi giạt vào Nam Dương (Indonesia) quần đảo với những thuyền nhân chung chuyến tàu.

    Sống lang thang từ đảo nầy qua đảo khác: Pacikata, Terrempa, Ku Ku, rồi Galang (Trung Tâm Tị Nạn Cộng Sản vùng Đông Nam Á). Tại trại tị nạn Galang, nếp sống của người tị nạn Cộng Sản có quy củ và khá hơn về nhiều mặt. Nhứt là vấn đề y tế! Nơi đây có trường học dạy Anh văn, có nhà thương, có nhà thờ, có chùa, có bệnh viện… Có văn phòng Cao Ủy Tị Nạn làm việc, để nhận người vào đệ tam quốc gia… Và nhiều tiệm buôn bán gia dụng nấu ăn của dân bản xứ… Dần dà có quán phở, quán hủ tíu, quán nhạc, quán cà phê, quán sinh tố…

    Galang là một trong những hòn đảo đẹp của Nam Dương. Chùa được cất trên đồi cao gần các dãy trại để dân tị nạn dễ dàng chiêm ngưỡng và cúng bái. Ngôi chùa khang trang có nhiều tượng phật cao lớn hơn người… được tàu và trực thăng chở đến… Phí tổn của ngôi chùa nầy nghe đâu do các thương gia ở Nam Dương và Tân Gia Ba góp gom để xây cất…

    Sáng sớm và chiều tối nào em cũng theo ba má lên chùa. Vì trên chùa gió mát, và đôi khi em được các sư cho trái cây hoặc bánh, kẹo… của bá tánh đã cúng Phật. Ở đảo đói khát thấy mồ, em thèm đủ mọi thứ. Hôm nào được đồ ăn dư của Phật thì em mừng húm! Em nghĩ bụng đồ ăn thừa của Phật sẽ được phước đức (và má em cũng nói như vậy).

    Đi lên sau chùa chừng hơn trăm thước cao nữa. Phóng tầm mắt nhìn, chúng ta có thể thấy rõ bốn hướng của biển cả mênh mông vô bờ, vô tận… Em hạnh phúc đứng bên ba má em nhìn hoàng hôn xuống.

    Buổi hoàng hôn, mặt trời ráng màu đỏ nghệ như quả trứng gà, treo lơ lửng trên nền trời nhiều mây có vân ngũ sắc ở hướng tây. Nắng vàng trải trên mặt thủy triều bao la xanh ngát một màu. Ánh nắng lung linh chấp chóa lúc mây tạnh gió yên. Vào những buổi sáng mờ sương, biển thanh thoát và hiền dịu vô cùng… Mặt nước lăn tăn gợn sóng theo từng đợt gió đùa… Nền trời trong như ngọc, lác đác từng làn mây trắng mỏng như nằm bất động có pha những sắc màu rực rỡ do những tia nắng bắn ra từ mặt trời cao ngạo vừa nhú lên ở phương đông. Rồi sương mờ dần tan, chỉ trong chốc lác thôi… Biển tịnh yên, mặt biển xanh lơ, và vầng hồng rạng rỡ cho nắng ấm, gió the the man mác lay nhẹ chòm lau, khóm đước và hòa cùng lá thông reo tạo ra âm thanh êm ả dễ chịu vô cùng…

    Hải âu xoãi cánh bàng bạc loang loáng trong ánh bình minh… “Chim én không làm thành mùa xuân/ Nhưng có chim én mùa xuân thêm phần ý nghĩa” Ở chốn hải đảo nầy, em xin nói lên thiển ý của mình rằng: “Nếu biển cả không có cánh hải âu thì biển cả mất đi phần thi vị”.

    Có hôm dưới mái hiên chùa, em phóng tầm mắt nhìn trời biển động! Gió thổi vùn vụt, cây cối ngả nghiêng. Sấm ầm ầm, sét nổ giòn, những tia chớp sáng lòe lên rồi phụt tắt! Mưa nặng hột tầm tã ào ào. Biển nộ cuồng từng cột sóng dâng cao như muốn đảo lộn càn khôn! Thật dễ sợ cho sự nổi trận lôi đình của Thủy Long Vương trong lòng biển cả(?) Em ngồi co ro, chợt nhớ câu: “Đời không đau khổ đời vô vị/ Biển chẳng phong ba, biển chẳng hùng”.

    Ba em khéo tay làm cho em cái lồng đèn trái bí bằng lon nhôm coca cola, trong mùa Trung Thu ở trên hải đảo Galang. Lon nhôm sau khi rửa sạch, lau khô, ba em kiên nhẫn dùng nhiều cục đá có cạnh nhọn, bén… Ông đục từng đường dài, nhắm sao cho ngay và đều… Ba ngồi cả ngày trời tẳn mẳn đục, chà cạnh cho hết bén… Rồi nhẹ tay bóp cho những cọng lon nhôm cong (không gãy) mà ông đã bỏ không biết bao nhiêu cái lon nhôm. Bị xuể tay, rướm máu mới làm được một cái lồng đèn trái bí, tạm vừa ý cho con gái mình!

    Thuở đó gần cuối năm 1979, đảo Galang có mấy chục ngàn người dân tị nạn Cộng Sản, đại đa số là từ miền Nam Việt Nam. Họ bôn đào khi miền Nam bị Cộng Sản và Việt Cộng cưỡng chiếm!

    Chiều đến cầm lồng đèn trái bí ba làm cho. Lòng em tươi vui phơi phới như hoa nở mùa xuân. Len ten theo bọn trẻ con, em đi dâng cộ đèn vòng vòng trong các trại do những anh chị hướng dẫn.

    Ôi hải đảo phủ ánh trăng thanh thoát giữa vùng mây nước, có tiếng sóng biển bủa rạt rào, tiếng gió vi vu hòa cùng tiếng hát mừng Trung Thu vang dội, rền vọng ngút trời xanh… Của những đứa trẻ đã cùng gia đình trốn chạy khỏi vùng Cộng Sản để đi tìm phương trời tự do…

    Đêm Trung Thu đó, chúng em được ăn nhiều bánh kẹo, uống nước trái cây thơm ngọt, từ các nhà hảo tâm của xứ người chở đến cả tàu, cả xe đến tặng. Họ còn đem cho cả lồng đèn làm đủ kiểu hình thù các con vật… được sơn phết, dán giấy, vẽ, tô đẹp đẽ, màu sắc rực rỡ, chói lộng hấp dẫn và quyến rũ vô cùng…
    Nhưng em không nhận đâu, bởi ba đã làm cho em lồng đèn trái bí bằng lon nhôm rồi. Em quý cái lồng đèn nầy hơn tất cả mọi lồng đèn trên thế giới, trong mùa Trung Thu. Bởi cái lồng đèn trái bí bằng lon coca làm thành đó, ngoài tốn nhiều công sức, còn là tâm ý và gói ghém cả tình cha thương con của ba em…

    Mùa Trung Thu ở trại tị nạn Cộng Sản Galang khắc ghi đậm nét trong đời, cho em niềm nhớ không nguôi… và làm hành trang em mang theo trong ký ức trên khắp quãng đường lưu lạc.

    Đã mấy mươi năm ở xứ người… Ba má em vất vả nuôi dưỡng chăm lo cho em học hành đỗ đạt nên người… Ngày nay em đã thành nhân, ông bà có cháu ngoại để bồng bế thương yêu, nuông chiều…

    Và thời gian thắm thoát trôi mãi trôi, nay ba má em đã ngoài tám mươi! Ông bà ở tuổi “Bát thập cổ lai hy”. Cái tuổi dễ bịnh hoạn, và gần đất xa trời! Em buồn đau thắm thía trong lòng, mỗi khi nghĩ đến! Nhưng phải làm sao đây? Vì đó là định luật của tạo hóa, mà trót sanh ra làm kiếp con người thì kẻ trước, người sau không một ai tránh khỏi!

    Rồi ngày đó cũng đã đến, một mất mát lớn cho gia đình! Má em đã qua đời! Giờ đây, đêm đêm em luôn nguyện cầu, xin Ơn Trên cho ba em ăn ngon, ngủ khỏe… Và em cố gắng làm mọi thứ để ba được an ổn tâm hồn, vui vẻ hạnh phúc trong thời gian ngắn ngủi còn lại bên cháu con!

    Dẫu biết rằng, trong cuộc đời có đầy dẫy hỉ, nộ, ái, ố… thăng trầm, dâu bể, phế hưng… Nhứt là trên quê hương khốn khổ Việt Nam của em sau ngày Cộng Sản và Việt Cộng chiếm đóng! Giặc đã mang nền giáo dục (ở mọi khía cạnh, mọi phương diện) của làn sóng đỏ từ ngoài miền Bắc tràn vào miền Nam. Hoàn cảnh xã hội miền Bắc mấy mươi năm theo chế độ Cộng Sản đã gây và ảnh hưởng tác hại đến mọi mặt, tâm lý, cách sống, đời sống… Đã thấm nhuần, và ăn sâu trong tâm hồn, trong máu huyết của con người từ trong gia đình, ra ngoài xã hội. Với những điều nghịch lý, giả nhân, giả nghĩa, lừa bịp, dối gian, tính toán, tinh ma… Đã xẩy ra hàng ngày với cha con, anh em, bạn bè… thì nói chi đến tình nghĩa vợ chồng… nặng nợ nước non…
    Vì thế, những đổ vỡ của gia đình nhan nhản xẩy ra hàng ngày trước mắt, và khắp nơi… không sao đếm cho xuể! Khuôn ngọc thước vàng từ nghìn xưa ông cha ta để lại “Tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” dưới chế độ Cộng sản vô thần, giờ đây đã bị thui chột, vô nghĩa hết rồi! Thì thử hỏi xã hội Việt Nam ngày nay làm sao không rối bời? Và quê hương đất nước Việt Nam làm sao không nát tan, không bị chia năm xẻ bảy… hiến dâng cho ngoại bang!

    Hôm nay là ngày Rằm tháng Tám, đã vào chánh mùa Trung Thu. Em đẩy ba ngồi trên xe lăn chầm chậm rẽ vào chợ (vì cả hai chân ba đều yếu). Vùng gia đình em tạm cư, có rất nhiều chợ Á Đông. Cả tháng nay, tiệm nào cũng bán đầy dẫy bánh Trung Thu.

    Bánh Trung Thu đủ loại ở địa phương, nội địa sản xuất… và bánh từ các nước khác nhập vào. Bánh trung thu nằm phơi phới trong các hộp vẽ hoa bướm màu sắc tươi trẻ rực rỡ. Các hộp đều có nắp đậy bằng kiếng, nhìn thấy rõ bánh bên trong… gợi thèm cho khách vào ra chợ.

    Em nghĩ, năm nay các bánh được làm từ nước Tàu Cộng, Việt Cộng chắc hẳn ít ai dám rớ tới? Vì lợi ích riêng, họ không nghĩ đến sức khỏe của người tiêu thụ, đã dùng quá nhiều hóa chất … Ăn vào dễ, lấy ra khó, sẽ hại cho thân thể, và có khi còn chết người!

    Ba em nhìn từng hộp bánh… trong tủ kiếng. Ông lựa rồi chỉ tay, muốn mua một hộp bánh Trung Thu có trứng, và lấy thêm hộp bánh dẻo nữa. Nhà em ngoài ba, chỉ có hai vợ chồng em và hai đứa nhỏ (nhưng chúng không thích bánh Trung Thu) Ai cũng sợ ngọt, nên chắc chắn sẽ ăn không hết… Chỉ cần mua một hộp, hai bánh nầy, hai bánh kia đủ rồi. Nhưng em lấy cả hai hộp bánh người bán đặt vào bao xách, máng trên xe cho ba vui lòng. Ba em chỉ hai chiếc lồng đèn treo trên vách. Em nghĩ chắc ba mua cho hai cháu ngoại… Trả tiền xong em định đẩy ba đi ra, nhưng ông chỉ thêm cái lồng đèn trái bí, làm em ngạc nhiên nhìn ba?

    Ông nhìn em mỉm cười, trìu mến:

    – Ba mua lồng đèn trái bí cho con! Nhớ thuở con còn bé nhỏ thích chơi đèn Trung Thu với đám trẻ con trong xóm… Năm đó đi lính xa, bất ngờ được về thăm nhà trong đêm Trung Thu. Ba đứng sau lưng cả buổi mà con không hay! Khi thấy ba, con phóng tới ôm chầm thật chặt như sợ ba vuột mất… Rồi con mừng rỡ, líu lo gọi mẹ báo tin ba về…

    Mắt già nua trắng dã, ba em cảm động nghẹn lời! Ông tiếp:

    – Ba mua bánh về cúng má, lúc sanh thời bả ưa bánh Trung Thu và bánh dẻo lắm… Cho dù con gái ba bây giờ tuổi đời có lớn hay già đi nữa, nhưng trong mắt ba lúc nào con cũng còn nhỏ bé! Và tình thương con trong lòng ba càng ngày càng lớn vô bờ, vô tận con ơi!

    Em dang đôi tay ôm chầm lấy ba! Hôn lên trán ba em, mà mắt rưng rưng dòng lệ kính yêu và hạnh phúc thổn thức ngập cõi lòng!

    Em may mắn được sanh ra trong miền Nam! Em diễm phúc được thừa hưởng rất nhiều, rất nhiều thứ mà chỉ ở miền tư do dưới chánh thể Cộng Hòa mới có… Em đã nghe được câu nói của ai đó, để riêng mình thẩm thấu và nghiệm thấy rằng: “Trên cõi đời nhiều hệ lụy khổ ải nầy, có hai người đàn ông để cho em kính nể và yêu thương nhứt. Đó là ba em và chồng em!”

    Đường phố đã lên đèn, nhưng ánh trăng thu rực rỡ cao ngạo, thanh thoát áp chế ánh đèn đường vàng võ. Cha con em dừng lại bên lề nhìn đoàn múa lân dẫn đầu, các thiếu nhi dâng cộ đèn náo nhiệt đi qua.

    Trên đất nước tự do, các em vô tư, thảnh thơi, mặt mày hớn hở nhịp nhàng cất tiếng hát vang vang: “Đêm Trung Thu em đốt đèn đi chơi/ Em đốt đèn đi khắp phố phường/ Đèn ông sao với đèn trái bí/ Đèn xe tăng với đèn cá chép… Em đốt đèn đi khắp phố phường…”

    California, Tệ xá Diễm Diễm Khánh An
  13. Hởi anh bộ đội kia ơi,
    Cho tôi xin có đôi lời hỏi thăm
    Anh sang Mỹ được bao năm?
    Ai đưa, ai rước lăng xăng đón chào
    Trao cờ... trợn mắt nhướng cao
    “Nền vàng sọc đỏ”
    anh nào để tâm!

    Chiếm Sài Gòn năm bảy lăm
    Cải tạo, giết tận... dân Nam Cộng Hòa
    Giờ anh lại đến Cờ Hoa
    Ai người đã rước vào nhà... Ca Li?
    Nhóm nào hỗ trợ anh đi
    Diễn hành chợ Tết lì xì đầu năm
    Nay đây, mai đó viếng thăm...
    Cộng đồng người Việt làm ăn rộn ràng
    Những đại nhạc hội nhộn nhàng...
    Làm khách danh dự ngồi hàng ghế trên
    Tưởng được chào đón, làm quen...
    Lẻ loi anh chỉ mình “ên” thẩn thờ...

    Anh ơi, đừng có nằm mơ...
    Bộ điên sao lại giặc Hồ mà tin
    Bao năm đất nước điêu linh
    Bọn anh mang Cộng viễn chinh vào nhà
    Cướp giựt tài sản ông cha...
    Lãnh thổ, lãnh hải... Trung Hoa chiếm rồi...

    Nay cùng những tên cò mồi
    Tiếp tay cho Cộng vững ngồi trên cao
    Xin hỏi, anh nghĩ thế nào?
    Người Việt hải ngoại tin vào ở anh?
    Một lần lầm lở phải đành!
    Gia đình ly tán, tan tành nước non...
    Việt Nam Cộng sản vẫn còn
    Thì đừng miệng lưỡi tô son trét vàng
    Ai mà tin lủ ác tàn...
    Anh nói đại hải, tràn giang ngưỡng cầu
    Tưởng bở, rằng đã cắn câu...
    Nhưng chẳng bổ ích, chẳng sâu, tầm thường...
    Thanh niên Việt đã lên đường...
    Trở về dựng lại quê hương an lành
    Cờ vàng phấp phới trời xanh
    Ruộng vườn bát ngát cây cành nở hoa
    Thăm lại thôn mẹ, quê cha...
    Ba miền đất nước cửa nhà an vui

    Cộng Sản sắp tiệt giống rồi...
    Nên đừng xảo biện ngọt lời vuốt ve
    Dưới hàng ghế, kẻ ngồi nghe...
    Lào xào nói tiếu... khò khè ngủ say!
    Anh nói dứt, họ vỗ tay...
    Miệng cười hóm hỉnh... vươn vai lắc đầu
    Trông anh bộ đội thêm rầu...
    Ở dưới âm phủ tưởng đâu thiên đường
    Cổ vỏ Cộng Sản hết phương...
    Cho nên dân Việt xem thường, rẻ khinh

    Hởi anh bộ đội... lình xình...
    Đây là đất nước an bình tự do
    Xứ nầy ai cũng ấm no...
    Anh có trợ cấp... Mỹ cho hàng ngày...
    Còn Cộng cho anh gì đây?
    Dân Việt tị nạn... nơi nầy bền gan
    Khuyên anh về dưới cờ vàng
    Cùng nhau diệt Cộng, Việt Nam trở về
    Chúng tôi chung một nguyện thề
    Cộng Sản giải thể thì quê thanh bình
    Dân tộc Việt hết điêu linh...
    Chắc anh đã hiểu... biết mình làm sao!


    DƯ THỊ DIỄM BUỒN
  14. Tôi với anh sinh ra trên nước Việt
    Anh miền Bắc có sông Đuống sông Hồng
    Miền Nam tôi có chín nhánh Cửu Long
    Nuôi ruộng lúa Tiền, Hậu Giang, Đồng Tháp...

    Vườn cây quằn trái thênh thang bát ngát
    Cho dân Nam có cuộc sống ấm no
    Khi chúng tôi trong lứa tuổi học trò
    Chăm sách vở, kính thầy, yêu bè bạn...

    Gặp người khốn khổ trong cơn hoạn nạn
    Lễ phép đưa đường, giúp đỡ, viếng thăm...
    Khi ốm đau mọi chữa trị, thuốc thang...
    Chánh phủ cho, lo cả nhà dưỡng lão...

    Hãng xưởng thị thành, nông thôn nếp, gạo...
    Trường dạy nghề đào tạo những sinh viên
    Học kỹ thuật và đạo đức thánh hiền...
    Tương lai đẹp dựng, xây, bồi... đất nước

    Nền tảng đó có từ muôn thuở trước
    Trên nước Việt Nam hùng vĩ gấm hoa...
    Ai tội đồ, rước Cộng sản vào nhà?
    Để Nam Bắc cắt chia... dòng Bến Hải!

    Dân miền Nam sống hiền hòa nhân ái
    Luôn siêng năng trong tài trí, thiện tâm...
    Cùng quyết lòng xây dựng một miền Nam
    Chánh thể Cộng Hòa an cư, lạc nghiệp...

    Miền Bắc Cộng Sản ác gian, oan nghiệt...
    Bắt thiếu niên bỏ học, đào hầm chông...
    Gieo mầm thù hận, oán... tận đáy lòng
    Lẻn vào Nam gây “nồi da xáo thịt”

    Say máu Cộng không kể già, trẻ nít...
    Đại bác nả bừa tan tát giáo đường...
    Bịnh nhân chết... bởi pháo kích nhà thương
    Giết học trò giờ chơi trường Cai Lậy...

    Đất Thần Kinh đặt hầm chông, mìn, bẫy
    Tết Mậu Thân tàn sát cả vạn người...
    Những oan hồn biết đến thuở nào nguôi...
    Huế yêu ơi, Huế sầu thương chất ngất!

    Tôi với anh sống trên cùng dãy đất
    Chia cắt hai miền, Nam Việt sáng tươi
    Nơi đất Bắc Cộng kềm kẹp tơi bời
    Theo Tàu, Nga... toàn trái ngang, ác đức...

    Cưỡng chiếm miền Nam Việt Nam thống nhứt
    Mấy mươi năm, dân tộc có được gì?
    Chúng tôi, giờ anh làm kiếp chim di!
    Lãnh hải, lãnh thổ... Cộng đem chia bán

    Rước Tàu phù vào tạo lập doanh bản...
    Làm đường, xây nhà... chỉ để mị dân
    Tốt làm chi đó cái bọn vô thần...
    Chiếm nước ta... làm quận nhà chúng nó!

    “Độc lập tự do” cũng câu nói đó!
    Ai mà tin! Anh bị gạt nửa đời...
    Nỗi xác xao cay đắng mãi không nguôi...
    Hãy bỏ Cộng, cùng Quốc Gia dựng nước

    Quê hương sẽ thanh bình như thuở trước
    Màu cờ vàng phấp phới rợp trời xanh
    Sao xả thân cho chế độ gian manh?
    Tội gì anh, còn chần chờ chi nữa...

    Chạy thụt mạng qua được vùng đất hứa...
    Hãy cùng chúng tôi dưới bóng cờ vàng
    Ta trở về giải phóng cứu Việt Nam
    Nếu tim anh còn quê hương, dân tộc

    Anh đã biết dân bị Tàu đầu độc
    Ác, gian, bán trôn, cướp giựt, lao nô...
    Từ Bắc vào Nam nếp sống xô bồ...
    Cai trị dốt, tham... thương dân chẳng có!

    Không nhận Quốc Kỳ Vàng Ba Sọc Đỏ?
    Là anh không cùng Chánh Nghĩa Quốc Gia
    Là vĩnh viển anh không phải bạn ta!
    Dù tôi anh cùng giống dòng Hồng Lạc!


    DƯ THỊ DIỄM BUỒN
  15. Thuở xưa ấy chị tôi tròn đôi chín
    Mặt tươi vui, rạng rỡ nét hồn nhiên
    Cô gái ngoan đẹp chân chất dịu hiền
    Tóc thề xõa bờ vai gầy thanh tú

    Đệ thất tôi vào, chị lên Đệ ngũ
    Chiếc áo dài lụa trắng sát eo thon
    Má ửng hồng, mắt lóng lánh, môi son
    Cười e ấp dễ thương khi mắc cỡ

    Cha chúng tôi, một nhà nho vận lỡ
    Mẹ dạy con: “Từng cử chỉ, nói năng
    Đi khoan thai, không chạy nhảy tung tăng
    Nếp thục nữ, nói cười không lớn tiếng

    Khi hờn giận chớ đổi thay sắc diện
    Mềm mỏng, nhún nhường, giữ giọng ngọt ngào
    Khi gặp ai cũng vui vẻ hỏi chào
    Lấy thùy mị đoan trang làm đài các…”

    Chị đẹp lòng khắp họ hàng cô bác
    Bếp núc siêng năng, khéo léo thêu thùa
    Chốn học đường được bạn quý thầy ưa
    Tánh nhân hậu được bao người yêu mến

    Cha mẹ tôi rất tự hào hãnh diện
    Nên khi vừa thi đậu bằng Thành chung
    Đẹp tình duyên chị hớn hở theo chồng
    Đến tận ải địa đầu vùng giới tuyến

    Anh rể tôi dải dầu đời lính chiến
    Gót hành quân dẫm chốt địch tan tành
    Ngày trở về trong chiến thắng liệt oanh
    Quà cho vợ, hoa cắm trên đầu súng

    Truy lùng địch anh vào truông, thung lũng
    Vào rừng chồi, qua triền giốc cheo leo
    Nay vượt sông, mai lại trải qua đèo
    Chí hào kiệt, há bận tình nhi nữ…

    Chị theo chồng đó đây nơi hậu cứ
    Sống phập phồng theo từng bước chân anh
    Đêm giặc về đạn pháo nổ chung quanh
    Ôm con dại chui vào hầm ẩn trú!

    Chị mong trở lại xóm thôn xa cũ
    Khi không còn bóng giặc khắp quê nhà
    Mỗi lần nghe trực thăng tải thương qua
    Tưởng chừng như có chồng trong chuyến đó

    Sống lo lắng giữa chuỗi ngày thương nhớ
    Cầu Phật Trời luôn phù hộ cho chồng
    Đêm cao nguyên le lói ngọn đèn chong
    Ru con dại còn nằm nôi tròn giấc

    Tin đưa về, chiến trường anh ngã gục!
    Chị lặng câm! Tê điếng mắt lệ khô!
    Tóc đen huyền, phủ trắng chiếc khăn sô
    Tuổi hoa mộng hóa thành thân góa bụa

    Hạnh phúc vỡ tan, cô đơn vây bủa
    Bồng con về quê nội, cạnh mộ chồng
    Chăm sóc rẩy nương, cây trái, ruộng đồng
    Sống lặng lẽ, mặc cho đời dông bão!

    Nét mặt trầm tư, mắt buồn áo não
    Bóng âm thầm trên năm tháng xót xa
    Kỷ niệm xưa luôn âu yếm thiết tha
    Đời quả phụ tuổi chưa tròn hăm bốn!

    Chị âm thầm nuôi dạy con khôn lớn
    Không phụ lòng ủy thác của người xưa
    Ngày cháu vượt biên, trong lúc tiễn đưa
    Căn dặn con: "Gắng làm người hữu dụng

    Theo gương cha, phải giữ lòng tiết dũng
    Dù cha con không đi trọn đường đời
    Nhưng mẹ đây thầm cảm kích ơn Trời
    Đã cho mẹ một người chồng biết sống

    Biết đứng vững khi quê hương biến động
    Biết kê vai gánh vác nước non nhà
    Dù anh linh trong cõi chết bao la
    Vẫn sống mãi huy hoàng trong tim mẹ..."

    DƯ THỊ DIỄM BUỒN