Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!
Color
Background color
Background image
Border Color
Font Type
Font Size
  1. - Huỳnh Liên, Huỳnh Liên!

    Hình như có tiếng ai gọi loáng thoáng tên mình, tôi không nghe rõ? Bởi cái nơ nơi quai nón cột bị sút ra đập vào chiếc nón lá nghe phành phạch, và xe đạp chạy ngược chiều gió. Tôi tấp vào lề, rà chân chõi cho xe khỏi ngã, rồi bỏ chân kia xuống đường. Nhìn qua nơi phát ra tiếng gọi hồi nãy, thấy một người đàn ông mặc quân phục băng qua lộ đi nhanh về phía tôi. Anh đến càng lúc càng gần chỗ tôi đứng đợi. Tôi cười tươi reo lên, hỏi một lèo:

    - Ồ, chào anh Vịnh, anh về hồi nào đó? Lâu quá mới gặp lại, anh vẫn khỏe chớ?

    Vẫn đôi mắt to ngời sáng, bờ mi cong buồn buồn, dáng người dong dỏng cao, nước da xạm nắng. Áo trây-di còn vướng bụi đường xa, nụ cười nửa miệng, anh chào:

    - Vâng, lâu quá không gặp! Từ ngày Nguyệt Thu ra đi đến giờ anh ít về thành phố nầy. Nhưng Tây Đô vẫn là Tây Đô của thuở nào. Mỗi ngày Tây Đô càng thêm tấp nập, phồn thịnh hơn. Huỳnh Liên vẫn khỏe, và đi học thường chớ?

    Tôi vui vẻ trả lời:

    - Cảm ơn anh, Huỳnh Liên khỏe lắm, vẫn đi học bình thường. Anh về phép thường niên hay tạm dừng lại trên đường quân đi?

    Anh Vịnh nhìn tôi như dò xét, bảo:

    - Anh nghỉ mấy ngày phép. Không làm gì nên gặp dịp có xe ở hậu cứ đi lãnh thuốc men cho đơn vị, anh quá giang về đây thăm thằng bạn bị thương đang nằm ở quân y viện, và tiện dịp ngắm lại cảnh thành phố trong Ngày Quân Lực 19 tháng 6.

    Tôi vỗ nhẹ vào trán, cười:

    - Thiệt tình, dạo nầy Huỳnh Liên bận học thi tối tăm mày mặt nên lẩm cẩm, và hay quên quá anh ơi! Thì ra, mốt là ngày lễ rồi. Anh được thư Nguyệt Thu thường chớ?

    Anh Vịnh chớp chớp mắt, nhẹ giọng:

    - Thỉnh thoảng, nhưng anh không hy vọng gì ở tương lai. Ờ, bộ Huỳnh Liên không có đi dự lễ năm nay sao?

    Tôi lắc đầu cười:

    - Dạ thưa anh không. Nhà trường chỉ cho lớp Đệ Thất, Đệ Lục, Đệ Ngũ và Đệ Tam đi thôi. Còn lớp Đệ Tứ, Đệ Nhị, và Đệ Nhứt là năm thi, nên không được đi.

    Anh Vịnh mời:

    - Vậy à? Nè, Huỳnh Liên có ngại đến tiệm giải khát bên kia đường, dùng với anh ly nước không?

    Tôi nhìn theo hướng tay của anh Vịnh chỉ. Liếc mắt vào cái đồng hồ của mình, thấy đã trễ giờ của lớp học thêm. Tôi định từ chối, nhưng không nỡ, nên gật đầu:

    - Thưa, được anh.

    Anh Vịnh vui nét mặt:

    - Vậy, chúng ta đi.

    Thuở đó, bọn chúng tôi còn là học sinh trường nữ Trung Học Đoàn Thị Điểm (Cần Thơ). Đồng phục của chúng tôi là áo dài trắng quần đen hay quần trắng. Vào giờ ra chơi, hay tan học chúng tôi từ các lớp túa ra rồi nhởn nhơ như đàn bươm bướm trắng.

    Buổi tan trường hôm nay mặt đứa nào cũng tươi rói như hoa nở mùa xuân. Vì chiều thứ sáu, và sáng ngày mai thứ bảy là ngày Quân Lực nữa. Lớp Đệ Tam của chúng tôi năm nay được đi dự lễ ở khán đài đặt trước cửa Dinh Tỉnh Trưởng kế bên tổng hành dinh của Quân Đoàn IV.

    Chúng tôi gồm có 4 đứa bạn rất thân (kể cả tôi). Và mỗi đứa rõ tánh tình của nhau mồn một: Chị Trà Mi lớn nhứt trong bọn, hơn 3 đứa tôi một tuổi. Nguyệt Thu lớn hơn tôi 6 tháng, còn Ái Chi thì nhỏ hơn tôi ba tháng. Chúng tôi tự đặt cho bọn mình cái tên thật là kêu, thật là gồ ghề “Tứ Nữ La Sát”. Cái biệt danh nghe oai phong lắm lắm và nghe dữ dằn như cọp cái! Nhưng thật ra đứa nào đứa nấy nhát còn hơn thỏ đế, và “rất dễ thương”.

    Con nhỏ Ái Chi là em út trong bọn, mà nó lại bự hơn cả chị Trà Mi. Bởi nó ăn hàng thầy chạy! Cái miệng nó ăn xàm xạp tối ngày như heo ăn cám. Trước cửa trường, các chủ xe bán nước mía, đậu đỏ, bánh lọt, cốc, ổi, chùm ruột, xoài sống ghim đường, khô mực nướng… đều biết mặt và biết cả tên nó nữa!

    Cô ta có nước da trắng hồng, thân hình tròn trịa, tánh tình cởi mở vui vẻ, dễ khóc, dễ cười ít hay hờn giận ai, phá thầy chọc bạn cũng không ai hơn nó. Con nhỏ học đâu nhớ đó, thông minh, sáng dạ chi lạ! Thường một hai tuần trước ngày thi, cả bọn học bài muốn té thở, muốn ngất ngư con tàu đi. Còn nó trước giờ thi, lấy sách lật qua lật lại xem ngấu xem nghiến thôi. Ấy vậy mà lần nào kết quả điểm bài thi của nó cũng trội hơn tôi.

    Chị Trà Mi có tánh tình đoan trang, điềm đạm. Dáng chị cao, gầy, nước da ngăm ngăm, đôi mắt sáng ngời. Nụ cười cởi mở và mỗi khi miệng chị cười thì đôi mắt cũng cười theo. Chị học giỏi nhưng khiêm nhường, chớ không phải ba hoa chích chòe như con chim chèo bẻo Nguyệt Thu.

    Nguyệt Thu và tôi hay chọc ghẹo bạn và đùa giỡn ngầm. Hai đứa giận hờn nhau hoài, nhưng chừng đôi ngày không gặp thì lại tìm kiếm nhau.

    Tôi thường khen Nguyệt Thu có vẻ đẹp thướt tha, ẻo lả như nàng Thúy Kiều trong truyện Kiều chúng tôi đang học. Bởi nó có thân hình ốm yếu, cao, khuôn mặt trái soan, da trắng xanh, hai hàng lông mi cong e ấp đôi tròng mắt đen lay láy, to và ướt rượt. Có lần nhìn nó một hồi, con Ái Chi bảo:

    - Trong số 4 đứa mình, tao thấy mầy đẹp nhứt đó Nguyệt Thu! Nhưng cặp mắt mầy thiệt là đa tình, và ủy mị, lẳng lơ quá đi thôi! Coi chừng sẽ làm hại chết đàn ông, thanh niên đó nghe mậy!

    Đi gần bên bọn chúng, không nhịn được tôi cười ha hả, và giở giọng thầy đời, cắt nghĩa:

    - Thấy chưa Nguyệt Thu? Hôm trước, tao chỉ nói mầy yểu điệu đẹp như Thúy Kiều thì mầy giận tao cả tuần lễ. Nồi đất nồi đồng ơi, hôm nay con nhỏ Ái Chi khen mầy đẹp theo kiểu của nó thì mầy làm ơn, làm phước đừng có mừng húm, mà tưởng bở là nó khen thiệt nghen. Tao biết nó muốn nói mầy có cái mặt đẹp nhưng cái lòng thì của bà phù thủy xấu xa trong truyện “Bạch Tuyết 7 Chú Lùn” chuyên làm chuyện hại người tốt không hà. Như vậy thì là nặng nề và độc địa lắm đó mầy à!

    Thế là cả bọn chúng tôi cười vui như vỡ chợ, cười như tuôn ánh sáng. Và bị nhỏ Nguyệt Thu rượt đánh, chạy tứ tung ngoài đường, ngoài sá. Chúng tôi đã quên mình, đứa nào cũng tuổi mười bảy, mười tám. Ở tuổi hồng Nguyên Đán! Cái tuổi thích nhìn sao, ưa ngắm trăng! Cái tuổi ưa thơ và nhạc tình của lính! Cái tuổi biết buồn và biết mộng mơ…

    Ngày Quân Lực đến mỗi năm. Đại diện các binh chủng đều có mặt trong ngày đại lễ nầy. Lễ được tổ chức trên đài cao hơn mặt lộ ngoài cửa lớn của dinh tỉnh trưởng. Nơi góc đường Phan Đình Phùng (kế công viên), Đại Lộ Hòa Bình (trước văn phòng Bộ Chỉ Huy Quân Đoàn IV), đường Phan Thanh Giản (hông trại gia binh).

    Thành phố Tây Đô mấy bữa nay rộn rịp khác thường. Mọi ngày thì chỉ ở các công sở, trường học mới treo cờ vàng ba sọc đỏ. Hôm nay, công tư sở, tất cả mọi nơi, nhà nhà, các cột đèn, công viên, các xe nhà, xe hành khách… đều treo cờ. Lá cờ Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa bay phấp phới dưới bầu trời xanh thẳm, gió mát lồng lộng chan hòa màu nắng thủy tinh. Màu nắng đẹp của miền Nam ấp ủ dân tình hiền hòa đôn hậu.

    Từ sáng sớm, bọn nữ sinh chúng tôi chỉnh tề từng nhóm, từng nhóm đứng ngoài sân trường chờ Giám thị và cô hướng dẫn đi dự lễ ngày Quân Lực.

    Trước lễ đài, có đủ mặt đại diện các binh chủng, dân, cán, chánh trong vùng IV về tham dự. Sau nghi thức buổi lễ khai mạc được hoàn tất, thì đến phần diễn hành.

    Trên không gian, những chiếc phi cơ biểu diễn: Từng chiếc máy bay nhẹ nhàng bay vút lên cao, hạ xuống thấp, nghiêng cánh đại bàng, chiếc nầy nối tiếp chiếc kia, nhào lộn… Rồi cả đoàn phi cơ bay hàng ngang thả khói màu, dệt cờ vàng ba sọc đỏ lồng lộng trên cao có nền trời xanh biếc và tiếng nổ dòn của động cơ.

    Các chiến sĩ Thiên Thần Mũ Đỏ với những chiếc dù lờ lững trên không trung. Rồi những chiếc thiết giáp chạy rầm rập trên đường. Pháo binh với những cây đại pháo bên cạnh những chàng trai hùng hiên ngang sẵn sàng nghinh chiến chống địch quân xâm lăng bờ cõi.
    Đoàn người nhái với thân mình vạm vỡ rắn chắc. Binh chủng Hải quân với quân phục đại lễ bên cạnh những chiếc tàu chiến, những chiến hạm…

    Kế tiếp đoàn Thiếu Sinh Quân.. Nữ Quân Nhân, Biệt Động Quân, Thám Báo, Địa Phương Quân, Nhân Dân Tự Vệ, Sư Đoàn 7, Sư Đoàn 9, Sư Đoàn 21 (có biệt danh là Sét Miền Tây), Xây Dựng Nông Thôn, Nghĩa quân… Sinh viên, học sinh, công chức… Tiếp nối diễn hành qua các con đường trong thành phố được hướng dẫn.

    Một lực lượng quân nhân tinh nhuệ, một guồng máy chánh quyền hùng hậu như vậy thì từ Bến Hải đến Cà Mau người dân an cư lạc nghiệp. Nam nữ thanh niên đã đem trí tài mình tô đậm cho dải giang san gấm vóc miền Nam dưới chính thể Cộng Hòa. Thì dân miền Nam không ấm no hạnh phúc tươi màu sao được.

    Dân cư trong thành phố, ở các vùng lân cận, lũ lượt kéo đến dự lễ, chiêm ngưỡng những chàng trai anh dũng về từ các chiến trường. Dân, quân vui hưởng hạnh phúc trong mấy ngày lễ lớn nầy đã làm cho Tây Đô nhộn nhịp, rộn ràng, tươi trẻ hẳn lên…. Ông bà cha mẹ mừng cháu, con, người thân của mình trở lại thăm nhà. Gia đình đoàn tựu, bạn bè họp mặt, em gái hậu phương đón mừng anh trai từ các chiến trường xa xôi ở địa đầu giới tuyến. Những nơi công cộng, công viên, những rạp hát… Đâu đâu cũng rợp bóng dáng những chàng chiến binh oai hùng.

    Trong 4 đứa bạn thân, lúc nào tôi bị ba con kia trêu ghẹo và đặt cho cái biệt danh là “Thị Nở”. Khi nào vui thì bọn nó gọi tôi: “Đông Thi” (ngược lại Tây Thi có quốc sắc thiên hương, là ái thiếp của một ông vua đời nhà Đường). Tôi không giận chút nào mà khoái chí cười hí hí chấp nhận, vì biết mình xấu xí. Tôi không đẹp nên không nói làm gì, còn ba con kia tự cho mình có sắc đẹp nghiêng nước nghiêng thùng mà chẳng có mống “bồ” nào là chàng trai hùng lính chiến để “Ngày về phép anh hẹn mình dạo phố/ Tay chinh nhân đang năm ngón tay mềm…” Ôi, thiệt buồn ơi là buồn, và tội nghiệp thì thôi!

    Chiều đến nhà tôi mượn cuốn sách “Hồn Bướm Mơ Tiên”, đem về nhà đọc cho đỡ cảm thấy cô đơn, chị Trà Mi than vắn, thở dài:

    - Ngày lễ, thấy mấy con nhỏ bạn đi chơi vui mà mắc ham. Bọn mình, đứa nào cũng vậy, ăn no ngồi co một đống! Tao nhứt định sẽ tìm một chàng lính chiến miền xa để làm đẹp phố phường cho mầy coi…

    Tôi cười mỉm chi cọp định chọc quê nàng ta. Nhưng chưa kịp mở miêng thì bỗng ngoài hàng rào nhà tôi có người lính, quân phục hẳn hoi gọi mở cửa. Tôi nhướng mắt nhìn kỹ, thì ra anh Phúc, con nhà bác tôi. Anh là lính Sư Đoàn 9/BB, thường đóng quân ở vùng Sa Đéc, Thất Sơn, Châu Đốc về dự lễ ghé qua thăm. Tôi nheo mắt cười tươi nhỏ giọng “khịa” chị Trà Mi trước khi đi ra mở cửa:

    - Khỏi cần tìm đâu cho mệt, anh chàng lính chiến miền xa chị muốn tìm, đã lù lù tới rồi kia.

    Ra mở cửa, hai anh em tôi vừa đi vào vừa hỏi thăm nhau vui vẻ. Bỗng anh bảo:

    - Hồi nãy anh thấy hình như có ai ngồi đây với em mà?

    Tôi cười, lớn họng gọi:

    - Bạn học của em. Chị Trà Mi ơi. Chị đâu rồi?

    Tôi bèn đi nhanh ra sân sau, vào nhà tìm kiếm Nhưng bóng hồng Sa Mạc của chị Trà Mi đâu mất tiêu không thấy? A, thì ra nàng ta mắc cỡ, mở cửa sau trốn về mất. Anh Phúc biết được cười nửa miệng không nói gì! Anh thăm hỏi qua loa rồi từ giã. Và anh còn bảo trước ngày trở ra đơn vị sẽ ghé qua thăm ba má tôi.

    Họ đi rồi, tôi ngồi lơ đãng nhìn bầu trời xanh bát ngát, điểm lác đác vài cụm mây hồng, mây trắng xa xa. Ánh nắng hôm nay đẹp như trải lụa lên trần thế. Gió mát rười rượi, lồng lộng tung bay những lá Quốc Kỳ màu vàng rực rỡ. Đường phố dập dìu nam thanh, nữ tú, muôn hồng ngàn tía đã tạo cho Tây Đô sắc thái thêm tươi trẻ, huy hoàng…

    Ngoại cảnh đã làm nội tâm con bé lọ lem và cù lần như tôi cũng bị giao động! Tôi cảm thấy thương thương, buồn buồn trong nỗi nhớ nhẹ nhàng lâng lâng. Nhưng không rõ nguyên nhân có từ đâu? Tôi thấy e thẹn cười thầm “Tôi buồn không biết vì sao tôi buồn” đích thị là đây! Rồi bỗng dưng tôi cảm thấy mắc cỡ với chính mình.

    Lại tiếng gọi ơi ơí của ai ngoài cửa nhà, làm con nhỏ nầy trở về thực tế vậy cà? Hình như giọng eo éo của Ái Chi? Phải, nhỏ Ái Chi đó. Nó thướt tha trong chiếc áo dài màu hoa cà, quần sa-teng đen có rô-đê dưới lai, guốc sơn vẽ hoa, vẽ bướm, gót cao. Ôi chao, con nhỏ hôm nay sao mà diện quá ta? Trên cổ đeo xâu chuỗi, và đôi bông tai bằng ngọc trai màu ngà voi. Mèn ơi, nhỏ còn xí xọn xách bóp tay, che dù hồng nữa!

    Tôi mở to mắt đôi mắt ốc bươu của mình định quở, nhưng dội ngược. Vì có hai chàng chiến binh đang kè kè đi bên cạnh nó. Mở cửa ra, làm tôi ngạc nhiên quá đổi.

    Người bên trái của Ái Chi là anh Tân. Bọn “Tứ Nữ La Sát” chúng tôi đều biết anh qua đêm đốt lửa trại liên trường, gồm có các: Phan Thanh Giản, Đoàn Thị Điểm (Cần Thơ), Tống Phước Hiệp (Vĩnh Long), Thoại Ngọc Hầu (Long xuyên), Nguyễn Trung Trực (Rạch Giá), Nguyễn Đình Chiểu (Mỹ Tho)…

    Thuở đó chúng tôi vừa thi xong trung học đệ nhất cấp và anh Tân vừa thi tú tài hai (chưa biết kết quả).

    Rồi bẵng đi thời gian dài, hôm nay gặp lại! Anh oai phong trong bộ quân phục màu cỏ úa, bên vai áo gắn huy hiệu vệt sét. Đó là biệt danh Sét Miền Tây của binh chủng SĐ 21/BB trấn đóng ở vùng rừng U Minh Thượng, U Minh Hạ thuộc tỉnh Cà Mau. Hai chàng ta cười chào tôi. Nhỏ Ái Chi hướng mắt về anh Tân, lanh miệng:

    - Huỳnh Liên, còn nhớ ai đây không?

    Tôi cười, khẽ gật đầu chào anh Tân và một quân nhân khác đi bên cạnh anh:

    - Anh Tân phải không? Lâu quá không gặp. Mời hai anh và Ái Chi vào nhà.

    Hai chàng quân nhân và Ái Chi muốn ngồi nói chuyện ở ghế đá ngoài sân dưới tàng cây lệ liễu cho mát. Tôi vào trong rót nước bưng ra mời khách. Anh Tân giới thiệu, anh Hải ở cùng binh chủng và là anh em bạn dì của anh. Họ ghé qua, rủ tôi đi ăn chiều và sau đó đi xem phim “Mùa Thu Lá Bay” phỏng theo tiểu thuyết của bà sẩm Quỳnh Dao đang chiếu ở rạp Tây Đô. Tôi hứa với bọn họ đi xem phim thôi. Vì chiều nay tôi phải theo ba má qua ăn cơm gia đình ở nhà bác ruột tôi trong ngày lễ lớn nầy.

    Thời gian có chờ đợi ai? Nó qua mau như cơn gió lốc. Mấy năm sau ngày Quân Lực đó. Chị Trà Mi tròn mộng ước, có người yêu là anh Phúc con bác tôi. Khi biết họ là bồ bịch với nhau tôi ngạc nhiên quá đỗi, tra hỏi. Chị cười mỉm bẽn lẽn, nhưng mắt long lanh động chân tình, thố lộ:

    - Có gì đâu, lúc anh Phúc vào nhà mầy, tao lẻn cửa sau đi về, không ngờ lính quính thế nào mà ống quần vướng vào hàng rào kẽm gai. Tao còn đang tháo gỡ thì anh Phúc hiện ra. Thế là chúng tao quen nhau…

    Tôi cười hí hí:

    - Vậy là hai người phải cảm ơn cái hàng rào nhà tui mới được!

    Ái Chi sau khi đậu Tú tài một, thi tuyển đậu vào trường Sư Phạm Vĩnh Long. Anh Tân và nó sẽ đám cưới sau khi nó tốt nghiêp.

    Con Nguyệt Thu thì kín đáo làm sao! Không biết nó đi học khóa người nhái hồi nào, mà sau buổi sáng cả bọn dự lễ ngày Quân Lực đó, thì nó lặn mất tiêu! Nó lặn thật kỹ! Nó lặn thật sâu! Lặn cả tháng sau, con nhỏ mới trồi lên và thì thầm kể lể, bởi sợ “Tứ Nữ La Sát” sẽ mở phiên tòa bất thường, xử tội tên không thành thật khai báo nầy! Nguyệt Thu cười ngỏn ngoẻn khi bị bọn tôi tra khảo hạch hỏi lung tung. Nó nói:

    - Lỗi đâu phải tại tao không khai báo. Bây nghĩ coi: Ba đứa bây là cái thứ chằng ăn trăn quấn, sấu táp ăn 7 ngày không hết còn lại cái đùi. Ai mà qua mặt tụi bây được? Và nghe đây, tụi bây mỗi đứa còn có 2 con mắt, 3 đứa cộng lại là 6 con mắt, sáu lỗ tai. Bộ tụi bây điếc, tụi bây đui hết sao mà không thấy tao ra choàng vòng hoa chiến thắng?

    Tôi nổi nóng, nguýt nó:

    - Đồ con mắc toi! Nói vậy mà nghe được à? Người đông như kiến cỏ. Đừng có xạo để chối quanh nghen mậy. Trước đó mầy có nói với bọn tao là mầy đi choàng vòng hoa chiến thắng đâu?

    Chị Trà Mi trầm tĩnh hơn:

    - Thôi hãy kể tại sao, nguyên nhân nào mà mầy quen với anh Vịnh cho bọn tao nghe đi? Không được ăn gian nói dối. Nếu lọt lỗ tai thì bọn tao sẽ khoan hồng tha cho không xử tội…

    Mắt Ái Chi sáng ngời, nhưng cũng tru tréo hăm he:

    - Phải thành thật khai ra đừng có đía dóc, hoặc nói xạo thì bọn tao sẽ quết mầy nhừ như mấy bà Bắc Kỳ quết giò sống để làm chả lụa đó nghen.

    Cả bọn ôm bụng cười bò lăn, bò lộn. Tôi nôn nóng, hối:

    - Nói đi mậy, nói nhanh đi, bọn tao đang chờ nghe chuyện tình đôi mươi lâm ly bi đát, hết thuốc chữa của mầy đây.

    Nhỏ Nguyệt Thu háy tôi con mắt có đuôi. Rồi trề môi nói:

    - Vô duyên, ai cần chữa! Chuyện của tao chớ bộ chuyện của mầy sao mà mầy nóng quá vậy?

    Tôi bị nó mắng chưa kịp cự lại, thì con nhỏ Ái Chi cười hí hí, xen vào:

    - Ờ há, mầy nói đúng, thật sự con Huỳnh Liên không có «viên» nào hết. Nhưng tụi tao muốn nghe duyên của hai đứa bây kìa.

    Mấy đứa nó lại phá lên cười. Tôi ngu ngơ, định mở miệng nhưng chưa kịp hỏi tại sao chúng cười? Thì tôi lại bị con Ái Chi mắng át:

    - Mầy chậm tiêu quá Huỳnh Liên! Thôi nín đi, hãy nghe con Nguyệt Thu kể.

    Nguyệt Thu nhướng nhướng đôi mắt phượng, sáng ngời long lanh gợn sóng tình, cười mím chi bảo:

    - Số là sáng ngày lễ tao có biết mô tê chi đâu. Tao cũng đi dự lễ như tụi bây thôi. Sắp vào lễ, bà Giám thị bươn bả đi kiếm tao thế chỗ cho con nhỏ Thân Ngu (Thu Ngân) lớp Đệ Tam 3, có tên trong danh sách choàng vòng hoa chiến thắng hôm đó, mà nó bị bịnh không đi được. Ngộ thiệt, người tao choàng lại là anh Vịnh. Tụi bây có đứa nào mà không biết ảnh? Ảnh ở xóm nhà tao trong chợ Tham Tướng đó mà. Trước kia mặc dù ở cùng đường, hàng ngày đi học gặp nhau, nhưng tao có quen ảnh đâu? Sau khi đậu phần hai, ảnh tình nguyện vào trường Võ Bị Đà Lạt. Tốt nghiệp, anh được bổ xung vào binh chủng SĐ21/BB đóng quân ở Cà Mau, Năm Căn… Sau ngày lễ tao được choàng vòng hoa cho ảnh đó, chúng tao hẹn nhau đi ăn, đi dạo trong mấy ngày anh nghỉ phép. Rồi thư đi, thư về để bây giờ thì tao trở thành người yêu của lính. Ảnh là lính chiến rày đây may đó. Sự sống bấp bênh tội lắm. Nhưng «Làm người yêu lính chiến là chấp nhận thương đau là chấp nhận xa nhau» mà lại…

    Mắt tôi buồn buồn, tay xoay xoay ly nước mía nghĩ ngợi xa xôi. Vì nay bọn «Tứ Nữ La Sát» của chúng tôi đã tản lạc hết rồi. Trà Mi trở thành chị dâu sau khi lấy anh Phúc con bác tôi. Ái Chi học trường Sư Phạm ở Vĩnh Long, ít khi thư từ cho tôi vì nó đang lặn ngụp trong tình yêu bên anh Tân, thì còn thì giờ đâu nhớ đến con bạn nầy nữa. Nhưng tôi không buồn mà mừng và chúc phúc cho bọn nó. Nguyệt Thu sau khi đậu Tú tài một, nó được hội Cha Mẹ Nuôi Quốc Tế bảo lãnh qua bên Mỹ học 4 năm. Vì tương lai, nó từ giã người yêu ra đi cũng gần 2 năm rồi.

    - Huỳnh Liên nghĩ gì mà có vẻ xuất thần quá vậy?

    Tôi giựt mình nuốt vội ngụm nước mía, trả lời:

    - Em nghĩ chuyện ngày xưa.

    Anh Vịnh hỏi xuôi:

    - Vậy sao? Huỳnh Liên không nghĩ đến chuyện tương lai?

    Tôi cười, tự nhiên:

    - Dạ, có chớ anh.

    - Liên nghĩ gì về tương lai?

    Tôi cười*e thẹn:

    - Năm rồi em trợt vỏ chuối, năm nay hy vọng sẽ thi đậu phần hai.

    - Chỉ vậy thôi sao?

    - Thưa anh, chỉ vậy thôi. Tham lam quá thì Trời Phật không đáp lại sự yêu cầu của mình. Em nghe nói Nguyệt Thu sắp dời qua tiểu bang khác? Nó học hành theo kịp người ta không? Em mong được dự đám cưới của hai người…

    Thời gian lặng lẽ qua mau! Nay cũng gần 40 năm rồi. Mỗi cái tích tắc của kim đồng hồ thì trên thế gian nầy có biết bao nhiêu vật đổi sao dời! Bây giờ tôi đã hai màu tóc. Hàng ngày giữ hai đứa cháu ngoại kháu khỉnh dễ thương. Sống an nhàn với tuổi già không còn háo thắng, tranh đua, bươn chải như mấy mươi năm trước lúc gia đình bôn đào khỏi quê hương lưu lạc đến xứ người.

    Sau cuộc đổi đời đó, bạn bè xưa kẻ còn người mất, mỗi đứa một nơi. Vợ chồng anh Phúc và Trà Mi vẫn kẹt bên nhà. Họ đã là ông bà nội, ngoại rồi. Tội nghiệp, Ái Chi sống nghèo khổ với 4 đứa con, từ khi giặc vào nó bị nghỉ dạy và anh Tân chết trong tù cải tạo. Mà thỉnh thoảng tôi cũng gởi quà về cho nó nhưng có nhằm nhò thấm tháp gì đâu! Như cơn nắng hạ nhễu vài giọt mưa. Còn Nguyệt Thu thì tôi không có tin tức gì của nó cả. Mặc dù sau nầy tôi có nhờ các đài, và báo chì kiếm tìm nhưng bóng chim tăm cá.

    Người ta tưởng ở Mỹ sung sướng lắm! Nhứt là trong tâm tư của những họ hàng tôi còn kẹt lại ở quê nhà. Sau những năm tháng dài làm việc vất vả để phụ chồng nuôi con ăn học. Bây giờ mấy đứa nhỏ của chúng tôi ra trường đi làm có tiền, chúng không còn nhờ vào hai bộ xương già nầy nữa. Thật sự nếu có nhờ cũng hết xí-quách rồi, còn sức đâu đi cày như hồi chân ướt, chân ráo mới đến xứ nầy.

    Ở Mỹ sung sướng thật, đó là tự do. Mùa hè năm nay, từ tiểu bang xa tôi đi qua qua miền Nam California dự đám cưới đứa cháu con của người em cô cậu với phu quân tôi. Trong dịp nầy chúng tôi lấy hai tuần nghỉ hè để viếng vài thắng cảnh nổi tiếng của Thung Lũng Hoa Vàng và Vùng Vịnh nầy cho mãn nhãn.

    Hôm đó, vợ chồng cô em họ, rủ chúng tôi đi dự ngày Quân Lực 19 tháng 6. Do cựu Tù Nhân Chánh Trị, và cựu Quân Nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tổ chức tại một hội trường lớn. Người người đến dự đại hội đông đảo, các hàng ghế dài người ngồi chật hết. Còn một số quan khách khá đông đứng sau, và dọc theo hai bên hông của hội trường.

    Thú thật, trong đời tôi từ đi học cho đến bây giờ, tôi mê và thích hát nhứt bài Quốc Ca Việt Nam Cộng Hòa. Vì ngay từ còn đi học tôi được hát mỗi buổi sáng trước khi vào lớp. Tôi được hát vào các buổi lễ đông người lúc còn ở quê hương cũng như lúc bôn đào nơi hải ngoại. Tôi được tự do hát. Tôi hát trong tâm hồn phơi phới, hát trong hiên ngang, hát trong niềm phấn khởi, hát trong niềm tự hào, hát trong niềm kiêu hãnh dâng lên. Tôi hát mà đắm hồn mình theo lời ca điệu nhạc rền vọng nơi hội trường, và vang vang trong không gian.

    Trên 3 hàng ghế tôi ngồi, xéo bên tay phải có một phụ nữ dáng người thư thả, nét mặt thanh tú dễ nhìn mà tôi cảm thấy hình như đã gặp bà ta ở đâu? Suốt buổi lễ, mắt tôi cứ dán vào người đàn bà ấy. Tôi cố moi trí mình để nhớ, và hồi tưởng… Nhưng vô hiệu! Bỗng người đàn bà đó quay nhìn xuống. Mắt chúng tôi chạm nhau. Rồi cả hai mỉm cười lịch sự cùng nhẹ gật đầu chào.

    Sau phần nói về ý nghĩa ngày Quân Lực của ban tổ chức, thì đến phần văn nghệ bỏ túi, lính hát, lính nghe. Không khí hội trường trở nên ồn ào, náo nhiệt, vui tươi. Những bộ quân phục các anh mặc, và huy hiệu gắn trên áo các anh tượng trưng cho từng binh chủng một, như: SĐ7/BB, SĐ9/BB, SĐ Dù, Chiến Tranh Chánh Trị, Biệt Động Quân, Không Quân, Hải Quân… Ngày hôm nay, gần như đủ mặt cựu quân nhân các binh chủng trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Kẻ ngồi người đứng hàn huyên tâm sự, ăn uống, truyện trò thỏa thích. Tôi cảm thấy lòng bồi hồi xúc động nhớ đến thuở ngày xưa!

    - Chị ơi, xin lỗi chị ở đâu đến, sao trông mặt chị quen quá?

    Tôi quay lại. Thì ra người phụ nữ ngồi trên tôi lúc nãy. Tôi cười*:

    - Tôi ở tiểu bang xa mới qua đây. Tôi cũng thấy chị quen mặt lắm. Xin lỗi chị tên gì và đến Mỹ năm nào?

    Tôi lại đường đột hỏi chị! Tôi đã phạm vào một trong những điều kỵ về lịch sự xã giao mà người dân bản xứ không bao giờ hỏi nhau như vậy. Nhưng tôi là người Á Đông! Lại là người Việt và nhứt là ở miền Tây nữa!

    Người phụ nữ đối diện tôi, tuy đứng tuổi, nhưng vẫn còn nét trang nhã, nhứt là miệng chị cười tươi như hoa nở. Chị vui vẻ trả lời*:

    - Tôi du học trước ngày Việt Cộng chiếm miền Nam, Thu là tên của tôi. Còn chị đến đây năm nào? Việt Nam chị ở đâu, và chị tên gì nhỉ?

    Đó, thấy chưa? Tôi tự biện hộ cho mình như vậy, có sai đâu? Chị ta cũng hỏi tôi thế mà! Tôi cởi mở, cười bảo*:

    - Tôi ở Cần Thơ, tên Liên. Việt Cộng vào, chạy bỏ xứ!

    Không ai bảo. Bỗng dưng chúng tôi cùng một lúc chỉ mặt nhau, và cùng một lúc nói như hét: «Huỳnh Liên! Nguyệt Thu!». Rồi chúng tôi ôm chầm lấy nhau, nức nở, nghẹn ngào!

    Tôi vẫn nhớ rất rõ, Nguyệt Thu sang Mỹ học. Chúng tôi thỉnh thoảng thư từ thăm hỏi nhau. Sau ngày 30 tháng 4 năm 75, Việt Cộng chiếm miền Nam thì chúng tôi hoàn toàn mất liên lạc cho đến nay.

    Nỗi vui mừng, cảm động, bùi ngùi quấn chặt hai đứa. Bỗng Nguyệt Thu buông tôi ra, nước mắt còn ràn rụa, mà miệng cười tích toác,*bảo:

    - Mầy đứng đây, đừng đi đâu hết, đợi tao một chút nghen Huỳnh Liên.

    Tôi chưa kịp phản ứng, nó lẻn vào đám đông mất dạng. Vài phút sau, con nhỏ săng sái kéo lôi tay một người đàn ông có dáng gầy, cao, đi về phía tôi:

    - Huỳnh Liên, mầy nhìn kỹ xem ai đây?

    Tôi chớp mắt, ngỡ ngàng, miệng lắp bắp như đang bị mắc nghẹn:

    - Anh, Anh… Anh Vịnh! Phải anh Vịnh không*? Nồi đồng, nồi đất ơi, tui có nằm mơ không cà?

    Hơn 40 năm rồi, chúng tôi mới gặp lại! Vợ chồng tôi đến nhà nó ngủ một đêm. Hai ông chồng chúng tôi khề khà bên mấy lon bia kể chuyện vui buồn lúc còn trong đời quân ngũ. Những thống khổ, đoạn trường lúc trong tù cải tạo. Còn tôi và nó tha hồ kể cho nhau những chuyện ngày xưa. Tôi kể những chuyện xảy ra, nhứt là lúc nó rời quê hương đi du học, và sau khi Việt cộng chiếm miền Nam… Hai đứa chúng tôi có lúc cười như điên, có lúc thì đầm đìa nước mắt.

    Nó bảo:

    - Mầy biết không Huỳnh Liên? Trước ngày tao du học. Tao và anh Vịnh hẹn là sẽ đợi chờ nhau. Khi tao đi học 4 năm trở về sẽ làm đám cưới. Như mầy biết, tao đi chưa được 3 năm, thì miền Nam bị mất, và bọn tao cũng mất liên lạc từ đó. Cho mãi cách đây 4 năm, ảnh và tao tình cờ gặp lại. Thì ra ảnh đến Mỹ theo diện H.O từ 5 năm trước. Chúng tao ở cùng thành phố, chỉ cách nhau mấy con đường thôi. Vợ ảnh đã qua đời, để lại 3 đứa con. Đứa nhỏ nhứt cũng đã đi làm và lập gia đình năm rồi.

    Nói đến đây, nó nhìn tôi cười chúm chím, tiếp:

    - Mầy xem, cuộc đời như một giấc chiêm bao! Giờ thì bọn tao sống chung với nhau. Từ trước cho đến gặp lại ảnh tao vẫn chưa lập gia đình. Cũng có nhiều cơ hội để tao lấy chồng chớ. Nhưng không biết sao tao không muốn. Có lẽ số tao mắc nợ ông Vịnh nầy! Bọn tao đã hưu trí rồi, nên hay đi viếng chỗ nầy chỗ kia trên nước Mỹ. Có khi đi qua các nước khác, nhưng chưa về Việt Nam lần nào… Vì ba má tao đã qua đời, chị và anh tao cũng chết mấy năm trước. Hai đứa em tao bảo lãnh qua, cũng ở gần đây… Bây giờ thì bọn tao là đôi bạn già sớm tối có nhau, vui vẻ lắm… Còn bọn mầy thì sao? Anh Hải còn tiếp tục ngành luật như thuở ngày xưa ở quê nhà không?

    Nheo mắt cười buồn nhìn nó, tôi lí lắc:

    - Qua bao nhiêu thăng trầm dâu bể của cuộc đời! Qua chuyến vượt biên thừa chết thiếu sống, bọn tao đến đây “lỡ chợ, lỡ quê” nên chẳng còn tâm trí đâu để mà giồi mài kinh sử. Đến xứ tạm dung, vợ chồng tao làm “cu li” đi cày mệt nghỉ để nuôi đám nhỏ học hành. Bây giờ chúng đã lớn, có công ăn việc làm tự lo hết rồi. Ông chồng tao đã hưu trí, bây giờ một tuần đôi ba lần ra dòm ngó giúp cho công việc của con gái, và ngày ngày đưa rước hai đứa cháu ngoại đi học là niềm vui của ổng. Còn tao vẫn là câu mầy hay bảo lúc xưa “Con Huỳnh Liên đặng không mừng, mất không lo… lơ thơ tơ liễu buông mành…” Để hoài niệm một thời đã qua, tao hay viết lách bày tỏ nỗi lòng của mình và của tha nhân! Mầy nghĩ coi, có ai mà biết trước được ngày sau sẽ ra sao!


    Tệ xá Diễm Diễm Khánh An
    DƯ THỊ DIỄM BUỒN

    Trong tuyển tập truyện ngắn “Những Chặng Đường Tôi Đã Đi Qua”
    Điện thoại: (530) 822 5922
    Email: dtdbuon@hotmail.com

  2. Ba ơi, mai là đến ngày báo hiếu người cha rồi! Con nhớ quê hương mình không có ngày lễ báo hiếu từ mẫu “Mother’s Day” hay ngày báo hiếu từ phụ “Father’s Day” như cái xứ con đang tạm dung đó ba! Con biết ba sẽ cười hiền lành mà bảo rằng:

    “Con bé nầy nhiều chuyện rườm rà… Xứ mình cha mẹ mở mắt không lên vì chạy gạo hàng ngày cho cả nhà… thì còn có tâm tình gì mà nghĩ đến ngày báo hiếu, báo ơn… Công ơn cha mẹ trả không chỉ có ngày đó đâu con. Nhớ lúc đi tu nghiệp ở Mỹ, ba cũng biết ngày lễ báo hiếu từ mẫu hay từ phụ chớ. Nếu ở gần thì con đưa cha mẹ đi ăn sáng, ăn trưa, ăn chiều… ở xa thì mua gởi cho cái áo, cái khăn… hay gởi cho mấy chục, có tiền thì được một trăm, hay nhiều hơn… Theo ba thì ơn cha mẹ sanh thành dưỡng dục như núi Thái, như đại dương vô bờ vô tận… chớ đâu chỉ có ngày đó thôi con à…”

    Con sẽ vùi đầu vào ngực, ôm chầm lấy vai ba, mà bảo với ba rằng:

    “Ba ơi, theo con biết, mỗi năm xứ người có ngày báo hiếu là để gợi nhớ, để hâm nóng, để nhắc nhở lòng tôn kính, thương yêu, hiếu thảo của con đối với cha mẹ. Đó cũng còn tùy thuộc vào tâm tình và hoàn cảnh của mỗi người nữa ba. Còn con thì ba đừng có lo nghe! Con nhớ thương và kính yêu ba dài dài, đều đều… cho đến chết không hề lạt phai chút nào hết đó ba!”

    Nghĩa chép miệng thở ra! Cô nhìn những cánh hải âu bay lượn giỡn đùa, cùng tiếng kêu vang vang của chúng trên trời cao. Và cây mọc trong nước sát mé bờ, nhánh gie ra ngoài… Chim mẹ đang đút từng miếng mồi nhỏ vào miệng lũ chim con… Cô cảm thấy buồn nao cõi lòng, và thở dài nghĩ ngợi!

    Vì cho đến bây giờ thật sự tôi cũng chưa biết mẹ mình là ai? Có thể mẹ tôi đã qua đời rồi chăng? Có thể vì hoàn cảnh nào đó bà không nhận con? Có thể, có thể, và có thể… Bao nhiêu nguyên nhân khiến tôi nghĩ và đặt câu hỏi trong đầu… Nhưng từ nhỏ đến giờ vẫn không có câu giải đáp. Vì tôi vẫn chưa bao giờ gặp người khi tôi biết đánh vần chữ “Mẹ” Khi tôi biết nhận xét, khi tôi hiểu, khi tôi biết nghĩ suy, và tôi biết tủi thân khi thấy những đứa trẻ tuổi cỡ mình có mẹ!

    Bởi mẹ bỏ tôi cho nội, khi con bà chưa đầy 2 tuổi. Ngôi nhà cũ trống không của ông bà để lại, là di vật cuối cùng của gia đình cũng bị giặc tịch thu lấy làm chỗ hội họp cho đám thanh niên trong phường. Họ bảo đó là nhà của “Ngụy quân” Và bà cháu tôi đương nhiên có tên trong danh sách phải đi kinh tế mới, khi cha tôi còn bị họ nhốt trong tù cải tạo…

    Bà đùm túm cháu, lang thang sống hẩm hiu lây lất với nhau bữa khoai bữa đậu… ở xó chợ, gầm cầu! Vì chúng tôi không nhà, bà đã già còn bịnh tật liên miên nữa. Cho đến ngày giặc thả ba về! Vì ba tôi bị bịnh phù thủng trầm kha không lao dịch nỗi. Giặc cho về vì lý do đơn giản ông ở lại chỉ tốn kém, chớ không có lợi lộc chi cả, chúng còn thêm tội nhốt người vô tội trong tù, bịnh hoạn không thuốc men cho đến chết!

    Tội nghiệp ba tôi, sau bao nhiêu năm bị đày đọa từ thể xác đến tâm hồn trong tù cải tạo. Khi trở về ông mất tất cả, cái gì cũng không có, chỉ có nhiều thứ bịnh…

    Nỗi đau buồn mất mát đeo dính ba người chúng tôi. Không có ăn thì tiền đâu thang thuốc… Vì bịnh tật, thiếu thốn, khổ đau, và nỗi buồn nối tiếp buồn theo… Ba tôi như người mất trí vì bà nội qua đời sau khi ông thả về chưa đầy ba tháng!

    Uất hận ngập lòng, nhiều lần ba tôi đã ngữa mặt lên trời nghẹn ngào mà than rằng:

    - Ông Trời có bất công không? Hay kiếp trước tôi đã gây nhiều oan khiên cay nghiệt nên bây giờ nhận lãnh bao nhiêu đau khổ buồn thương lần lượt chụp phủ xuống cha con tôi! Tội nghiệp con tôi còn nhỏ quá, xin cho tôi nhận lãnh tất cả mọi sự việc đã vay. Mong Ơn Trên linh thiêng giúp cho cháu có cuộc sống an ổn, cuộc sống thật sự của kiếp một con người bình thường trên cõi đời nầy…

    Không còn lối thoát, ba tôi phải đi xin ăn! Đó là việc làm duy nhứt để kiếm sống cho hai cha con tôi thôi. Vì khốn khổ chất chồng, và thương đau khóc mẹ, đôi mắt ông đã bị mù lòa! Tội nghiệp ba sống không bằng chết! Ông sống trong tâm tối không được ánh sáng mặt trời chiếu rọi, cùng nỗi đau đớn xâu xé, và xấu hổ ngữa tay xin tiền… Trông nhờ vào từ tâm của thế nhân!

    Tuy đôi mắt bị mù lòa, nhưng tâm hồn ba tôi trong sáng như nhật nguyệt. Ông thường dạy dỗ và nhắc nhở cho tôi biết ai là bạn, ai là kẻ thù… Ông cũng không vì bịnh tật và hoàn cảnh hiện tại của mình mà thất chí, rồi làm những chuyện không nên, hay nói năng xàm xỡ với những người chung quanh... Ông luôn giữ câu của người xưa: “Lành cho sạch/ Rách cho thơm”

    Ba tôi đi xin ăn từ sáng sớm tới chiều tối mới về. Nhưng không bao giờ cho tôi đi theo. Tôi được ở trong chùa để sư sai vặt và dạy cho học biết chữ. Với trí non nớt của mình, tôi không biết ông đang nghĩ suy gì? Nhưng tôi biết chắc chắn một điều là ý chí mãnh liệt để ba tôi sinh tồn vì không muốn con mình côi cút, bơ vơ…

    Bấy lâu nay cha con tôi nhờ sư cụ thương tình cho ở mé hiên chùa. Những ngày gió lạnh mưa chan về đến chỗ ở, có khi ông bị lạnh cóng cả người… Tôi la cầu cứu, sư cho uống nước gừng nóng, đốt củi lửa hơ, và sức dầu nắn bóp ông giãn gân cốt, và từ từ khỏe lại…
    Và hai năm nay, sau khi được một đồng đội ngày xưa, giờ là ngoại kiều về thăm quê hương bất ngờ gặp lại. Ông tốt bụng đã cho ba tôi tiền để làm vốn bán vé số. Kể từ sau đó ba tôi không còn đi xin ăn nữa! Gánh nặng xót xa trong lòng ông phần nào được nhẹ đi.

    Cứ sáng sớm, vầng thái dương còn e ấp ở phương đông, chim chốc gọi đàn bay đi tìm mồi… Thành phố rộn tiếng còi, tiếng động cơ xe cộ, tiếng nguời bán hàng, tiếng trẻ con cười nói trên đường đến trường… Thấy chúng ôm tập sách, mặc áo quần lành lẽ… Hồn tôi se thắt, với những ước mơ thầm kín nở lớn trong lòng! Tôi dắt ba ra ngả tư đầu đường nhiều người qua lại. Giúp treo tấm ni-long che nắng che mưa để ông ngồi bán vé số. Và chiều chiều tôi đến dắt ba về…

    Mỗi đêm về, thành phố lên đèn, dưới chân gốc những nhà cao cửa rộng, những nhà hàng khách sạn cao chọc trời… của bọn tư bản đỏ sống trong đau khổ của dân… cha con hẫm hút có nhau. Khi vui ông thường kể cho tôi nghe những chuyện ngày xưa lúc còn là lính chiến… Ba tôi kể trong say xưa, trong niềm tinh lẫn niềm xúc động nghẹn ngào… Trong niềm tinh, niềm hy vọng thầm kín… Dần dà ba tôi đã lấy lại mức sống bình thường trong tâm hồn. Và thỉnh thoảng tôi còn bắt gặp niềm vui trong giọng nói, hoặc nụ cười nhẹ trên môi ông.


    *Nắng Sài Gòn mấy ngày nay đẹp lắm… Phố phường vàng màu cờ và sắc áo lính đại diện các bịnh chủng từ chiến trường trở về thành phố… trong ngày lễ lớn.

    Ngồi chung với mấy bà tán dóc, bà Tám y tá (chích thuốc theo toa bác sĩ) lên tiếng trước:

    - Mấy chị biết con bà Hai bán bánh bò, bánh da lợn… ngoài chợ là cậu Nhân chớ? Tôi thấy cậu mặc bộ đồ lính Thủy Quân Lục Chiến, cùng một số quân nhân đại diện đơn vị về diễn hành ngày 19 tháng 6… Ôi đẹp trai thì thôi, và thật oai phong quá chừng chừng đi!

    Bà Tư bán gạo, góp chuyện:

    - Thế cho nên, sau mùa quân lực đó, khi thấy bóng dáng thấp thoáng chàng về phép, thì các em trong xóm lượn qua lượn lại nườm nượp. Họ mong coi có được lọt mắt xanh chàng, để làm người yêu của lính chiến miền xa không?

    Chị Tám Dung thợ uốn tóc ngạc nhiên, lên tiếng:

    - Mấy chị nói thiệt hay nói giỡn, bộ có vậy sao?

    Chị Út Nga vợ ông Sáu Hiến, tài xế xe đò đường Long An-Sài Gòn. Chị là phụ nữ trẻ nhất trong nhóm đang bàn chuyện thiên hạ sự. Tánh tình vui vẻ và hay nói tiếu. Ngồi kế bà Tư chị cười khè khè chêm vào những lời lẽ vui nhộn… Tiếng cười chưa dứt, thì chị gống gân cổ trổi giọng:

    - Có chớ, sao không thật! Mấy bà nghĩ xem: “Bạn ơi quan hà xin cạn chén ly bôi/ Ngày mai tôi đã đã đi xa rồi… Giữa đoàn hùng binh có tôi đi hàng đầu/Trở về là khi nước non vui bình yên…” Rồi chị bắc qua bài khác, hát câu đầu nầy nhảy qua câu đầu kia: “Đừng chê anh lính đám cưới nhà binh em ơi/ Em sẽ là cô dâu đẹp tuyệt vời …/Đám cưới bọn ta tưng bừng biết mấy…/… Tám xe lội nước theo sau/Chín xe đại bá đi đầu… Cưới em nhỏ lắm em ơi/cưới em mời mấy trăm người… Có ai bằng đôi ta đâu…” Mèn ơi, mấy em nghe đến đó quýnh đít thiếu điều năn nỉ ĩ ôi xin sửa túi nâng khăn là đàng khác…

    Coi bộ chưa đã, chị hứng chí lớn tiếng:

    - Nhưng “Sức mấy! Bỏ qua đi tám!” Bây giờ thì hai bông mai vàng trên ve áo cậu Nhân, đã bịt miệng các em cho mình là kiều nữ trong xóm… Bởi lúc chàng còn đi học, các nàng chê là thằng con bà bán bánh nghèo mạt rệp… Anh chàng lính chiến Nhân “nhà nghèo, nhưng học giỏi, và đẹp giai” tảng lờ làm ngơ các cô nàng trong xóm… Khiến các em vừa tức vừa tiếc hùi hụi, bởi ngày xưa lỡ dại chê nhằm người ta!

    Các bà phá lên cười rộ vui vẻ rồi trở về nhà ai phận nấy. Họ là những người phụ nữ lam lũ ở xòm nghèo, bình dân, vui vẻ, tốt bụng giúp đỡ chòm xóm khi ai đau bịnh, tối lửa tắt đèn… Họ hay chọc ghẹo đối phương nhưng để vui cười chung rồi qua đi chớ không nói xấu, nói hành nói tỏi, hay ác ý với ai…

    Cho đến ngày kia, chàng Nhân dắt về giới thiệu với mẹ, cô Hồng Thủy làm ở sở Mỹ nơi chàng thường theo mấy người bạn ngoại quốc ghé mua hàng “PX” (cửa hàng của quân đội đồng minh, không có thuế) Bà Hai má Nhân là người mẹ dễ dãi, thương yêu và luôn chiều chuộng con. Bà nghĩ giờ anh cũng đã lớn rồi, có thương cô nào thì bà cưới cô ấy cho anh.
    Thế là đám cưới nhà binh được tổ chức đơn sơ nhưng đầy đủ lục lễ cho con mình. Dù là cảnh nhà mẹ góa con côi. Bà đi đủ lễ, chớ không nói đơn sơ mà giảm quà lễ để thiên hạ cười chê mẹ con bà.

    Sau ngày cưới, Hồng Thủy về sống với mẹ chồng. Còn Nhân thì luôn bôn ba ngoài chiến trận, đôi ba tháng mới về thăm gia đình một lần. Khi dâu sanh đứa con gái, bà nội đặt cho tên Nghĩa (Nguyễn Thị Nhân Nghĩa) con của ông Nguyễn Vĩnh Nhân và bà Trương Hồng Thủy…

    Bà Hai nghỉ buôn bán, vui mừng sung sướng ở nhà trông coi tâm can bửu bối, là đứa cháu nội bé nhỏ của bà đó đa! Cho con mình yên lòng ngoài chiến tuyến, và con dâu đi làm!
    Một góc nhỏ xíu ở phương trời miền Nam tự do. Có gia đình bà Hai, không giàu sang nhung lụa, nhưng ấm êm hạnh phúc dâng đầy.

    Rồi thời thế đổi thay, “Ngày 30 tháng 4 năm 1975” thì giặc phương Bắc tràn vào cưỡng chíếm miền Nam. Gia đình bà Hai tan nát, Nhân bị giặc bắt cầm tù trong cải tạo. Hồng Thủy ra buôn bán hàng ở chợ trời, nhưng không bao lâu vợ anh đi luôn không về nữa! Bà Hai già yếu phải đi bươi rác, lượm lon… khổ cực biết chừng nào để chắt chiu nuôi cháu, và bám víu cuộc sống nghèo nàn chờ ngày con trai trở về…

    Đó là những gì Nghĩa nghe bà kể lại, và cô hiểu biết suy xét theo thời gian tuổi lớn khôn dần…

    *Bà chủ tiệm nước Cao Thăng ở chợ thành Mỹ Tho, thường đi chùa làm việc từ thiện… Qua lời sư, bà biết được tình cảnh cha con tôi. Nên khi sắp sửa trốn chạy khỏi nuớc Cộng sản cưỡng chiếm… bà cho một người trong hai cha con tôi một chỗ ngồi rất nhỏ ở dưới tàu chở mấy trăm người vượt biên. “Một chỗ ngồi nhỏ xíu dưới hầm tàu, nhưng to lớn vô cùng, to lớn như một thế giới cho những kẻ đi tìm tự do! Và đó đã thể hiện một tấm lòng thương người, một tấm lòng Bồ Tát bao la như đại dương của bà chủ tiệm Cao Thăng và là chủ tàu vượt biên… đối với cha con chúng tôi”

    Tôi khóc sướt mướt vùi đầu vào ngực ba:

    - Con không đi, con không đi… con không thể xa ba… Chết sống chúng ta có nhau ba ơi…

    Cặp mắt sâu hõm hàng ngày như hai cái hố nhỏ của ba càng sâu hơn. Ông lạnh lùng bảo tôi:

    - Nghĩa, hãy trả lời ba: “Con có thương, và muốn trả hiếu cho ba không?”

    - Dạ có, dạ có trên cõi đời nầy người con kính yêu nhứt là bà nội và ba… Ba chết con sẽ chết theo, ba ở đâu con sẽ ở đó… Xin ba đừng bắt con phải xa ba… Cho dù nơi con sắp đến là chốn Bồng lai tiên giới… nếu không có ba, con cũng không đi đâu ba ơi…

    Ba ôm lấy đầu, và vuốt tóc tôi dịu giọng bảo nhỏ:

    - Ba cũng không muốn xa con gái ba, nhưng vì tương lai của con… Qua bên đó may ra con còn gặp được tấm lòng nhân của người khác xứ được đi học, và tiến thân… Con ở lại là gánh nặng cho ba, vì ba không lo cho con được! Dù muốn lo nhưng tình cảnh ba mù lòa, lại là một người thất bại bị kẻ thù trù dập cố tình hủy diệt… Ở đây chúng ta ăn không no, lạnh không áo, vô gia cư, không nghề nghiệp, thì tương lai con sẽ về đâu? Và con còn chuyện phải thay ba đang làm dang dở… Trả hiếu cho ba, thì con hãy nghe lời ba. Nghe lời ba tức là đã trả hiếu cho ba rồi đó con…

    Tôi ôm chầm lấy ba vừa khóc vừa trả lời: “Dạ con nghe ba… Con sẽ quyết làm những gì ba đã dặn dò… Con thương ba lắm ba ơi!”

    *Trong cuộc đời bé nhỏ của tôi, chưa bao giờ tôi sung sướng bằng! Dù sau nầy ngày tôi ra trường y khoa, nhận bằng bác sĩ ở Mỹ, cũng không bằng! Tôi vẫn nhớ hoài, nhớ suốt đời kiếp nầy để không bao giờ quên ơn người, ơn đời.

    Sáng nay trời trong, mây tạnh nhưng nắng gay gắt vô cùng. Tôi ngồi ôm bọc áo quần cũ vá chằng vá chịt của cha con tôi. Nhưng lòng tôi ngập tràn hạnh phúc… Cho dù trước mắt là hầm chông, là bẫy mìn… tôi vẫn thản nhiên tiến bước… vì có ba tôi bên cạnh. Mặc dù ông không nói lời nào, trong đôi mắt sâu thẩm không còn thấy ánh sáng mặt trời, nhưng trên khuôn mặt hằn nét thống khổ, kiên cường, bất khuất đó đã cho tôi sức sống, niềm tinh và niềm hy vọng…

    Tiếng của đoàn người ngồi chờ xuống tàu lào xào, ồn ào lúc to lúc nhỏ, mặc dù người dẫn đường đã nhiều lần nhắc nhở giữ yên lặng…

    Tôi nhớ rất rõ, mấy hôm trước khi phải theo đoàn người vượt biên. Tôi buồn rầu vì phải sắp xa cha tật nguyền, bịnh hoạn của mình. Ngồi bẹp dưới góc cây trắc bá diệp ngoài sân chùa, nghe sư tụng kinh có ca có kệ, khi lòng đang ngổn ngang trăm mối đau buồn, khiến tôi càng thêm sầu thúi ruột… Thút thít ngồi dựa gốc cây khóc một mình, lơ đãng đưa mắt nhìn trời xanh mây trắng, nhưng trong tâm tư tôi trời như đang tối sầm, tưởng chừng như mây khói đèn đang kín trên cao, và tôi cũng nghĩ dại mong trời sập xuống chết hết cho rồi!

    Từ trong chánh điện bước ra, dáng sư cao gầy. Mặt sư lúc nào cũng trang nghiêm, trầm tỉnh. Thấy tôi sư bảo:

    - Nghĩa, cha con đâu, ông đi bán vé số rồi à? Chừng nào ba con về, dắt lên gặp sư nghe… Con đang khóc đó hả?

    Tôi lau vội những giọt nước mắt còn động trên mi:

    - Dạ, con khóc vì không muốn xa ba con! Tội nghiệp ba mù lòa, con đi rồi không ai đưa ông ra chỗ bán vé số, không ai rót nước, đút cơm khi ông bịnh hoạn… Con thương ba con lắm sư ơi…

    Nhịn không được, tôi khóc ồ lên lớn. Sư vuốt tóc tôi chép miệng nhẹ thở dài rồi trở vào chùa… Tiếng cầu kinh hòa cùng tiếng mõ chuông lại ngân nga, êm êm vang vang trong không gian… Mùi khói, nhang, trầm hương theo gió nhè nhẹ thoảng đưa…

    Chiều đó tôi dắt ba đến gặp như sư đã dặn. Tôi thấy sư đang tỉa nhành chết, lá úa của những cây kiểng trước sân chùa. Sư vẫn điềm đạm, nét mặt suy tư, và chầm chậm nói với chúng tôi:

    - Nghe thấy hoàn cảnh của cha con anh, ông chủ Cao Thăng bảo vợ cho cả hai cha con cùng đi luôn…

    Cha con tôi quỳ xuống lạy sư! Không nói gì tay sư lần chuỗi, mắt u buồn hiền lành, từ tốn khẽ bảo:

    - Cầu xin Phật Tổ phù hộ cho cha con anh! Tôi chẳng giúp gì được, có lẽ do lòng thương con của một người cha như anh, đã làm động lòng người đời và động lòng Trời khiến xui như vậy… Phải luôn ăn hiền ở lành, bởi Ơn Trên không bao giờ phụ kẻ có lòng…

    Sư quay qua vuốt tóc tôi:

    - Nghĩa, sư biết con là đứa trẻ ngoan! Qua tới bờ bến tự do con ráng học hành… làm người tốt, để trả hiếu cho cha con và trả ơn đời…

    Mười mấy ngày trên đường vượt tuyến sóng gió biển khơi. Rồi tàu cũng được cặp một bến ở Nam Dương Quần Đảo. Trên Hành trình vượt biên của tàu mang số “Mỹ Tho 2736” của chúng tôi chết gần cả trăm người vừa già vừa trẻ em, vì sóng gió dập dồn và yếu sức…

    Huyệt mộ người cha kính yêu của tôi, cũng ở lòng đại dương trong chuyến bôn đào bằng đường biển nầy!

    *Hôm nay cũng trên chuyến tàu ra biển, tôi theo đoàn y tế thiện nguyện, đi trị bịnh cho những tù nhân trong trại tù Alcatraz, ở hòn đảo Alcatraz gần San Fransico thuộc tiểu bang California. Tôi nhìn trời nước bao la, nhìn thành phố San Fransico nhà cái cao, cái thấp… chập chùng san sát như dính liền nhau. Cả thành phố dưới bầu trời rạng rỡ nắng mai, và như nằm lững lờ trên mặt nước trong xanh lao xao sóng bủa.

    Ba ơi, con đang ở trên một nước tự do, ngắm nhìn trời xanh, in những vầng mây trắng cuồn cuộn nhẹ trôi là đà. Nắng mai chiếu lung linh, gió mát thổi bồng mái tóc con… Màu nước biển xanh và trong vắt thấy cả cá lội nhỡn nhơ… Con nhớ ba lắm, con thương ba vô cùng… Con gái ba không phụ lòng ba, giờ con đã thành tài như ba ước mong… Ngoài những giờ làm việc ở bịnh viện chuyên khoa về mắt… Thời gian còn lại, con ghi danh hành nghề trong các đoàn y tế thiện nguyện. Con đã đi Thái Lan, Cam-Bô-Chia, các nước vùng dân nghèo… Cả ở Ép-Phi-Ca… nữa đó ba. Nhưng con chưa trở về cố quốc! Vì nơi đó chưa đổi lại màu cờ ngày xưa của Việt Nam Cộng Hòa. Sư cụ giúp chúng ta đã viên tịch… Gia đình ông Cao Thăng đang ở Gia Nã Đại (bà qua đời từ mấy năm trước) Các con ông đã thành nhân.

    Ba và lời ba đã dạy dỗ là kim chỉ Nam đã và sẽ làm hành trình cho con suốt cuộc đời nầy! Ngày xưa ba đi lính vì an nguy cho gia đình và dân tộc. Không kể đến thân mình, ba cùng đồng đội bảo vệ lãnh thổ, lãnh hải quê hương đất nước, cho một miền Nam Cộng Hòa Tự Do của chúng ta. Bây giờ con gái ba làm những gì con có thể làm được như ba dạy bảo là giúp người, giúp đời, và…

    Ba ơi, mặc dù ba nay đã ra người thiên cổ, nhưng con biết ba lúc nào cũng quanh quẩn bên con, nhắc nhở con, giúp đỡ con gái ba. Con thấy tủi thân không có ba như các bạn bè. Ai còn cha thì xôn xao mua quà nầy quà kia cho cha, trong ngày lễ vinh danh người cha…

    Thưa ba, mỗi năm ngày báo hiếu từ phụ, lại cận kề ngày Quân Lực của Việt Nam Cộng Hòa. Con xin gởi ba tấm lòng thành ghi nhớ ơn tiền nhân, nhớ ơn ba trong ngày báo hiếu từ phụ.
    Ba đã cho con dáng dáp hình hài lành lặn nầy. Ba cho con tâm hồn tươi vui, khỏe mạnh nầy. Ba đã cho con tất cả, tất cả những gì con hiện có… Con đã làm những việc thiện mà ba dặn dò chỉ dạy…

    Nhưng con vẫn còn nợ ba! Trước khi lìa đời, ba đã trăn trối: “Hãy dong ruỗi con đường ba đi còn dang dở…” Thưa ba, chúng con những người trẻ lưu vong sẽ hoàn tất trong ngày không xa…

    Ba ơi, “Con Còn Nợ Ba”


    Mùa báo hiếu từ phụ
    Mùa Quân Lực VNCH, 19 tháng 6
    Tệ xá Diễm Diễm Khánh An
    DƯ THỊ DIỄM BUỒN
  3. Tấm ảnh sinh viên Việt Nam ở Pháp tuần hành trên đường phố Paris. Để tang cho Việt Nam. Ngày 27 tháng 4 năm 1975



    Cuối tháng Tư Đen! Sửng sờ tôi khóc!
    Ngoài đường xe, người hớt hải cuống lên
    Trong nhiệm sở kẻ vò đầu, bứt tóc…
    Mây xám giăng, mưa pháo rít vang rền!

    Ai có nghe máy trực thăng lên xuống?
    Đèn chớp, hụ còi hối hả tải thương…
    Người âu lo, vội vàng, lui, tới muộn…
    Đêm từng đêm, tôi khắc khoải đoạn trường!

    Bởi chồng còn miệt mài ngoài biên trấn
    Mấy tháng qua rồi vẫn vắng bặt tin
    Hai Mươi Bảy, Tháng Tư! Niềm thống hận!
    Giặc giã nhiễu nhương… súng đạn vô tình!

    Hai con dại nằm nôi còn bé nhỏ
    Vợ thương chồng, lo ngại lẫn chờ mong
    Từ thị thành đến thôn quê… bỏ ngỏ
    Cha mẹ, người thân… nát dạ, tan lòng!

    Cảnh người bươn bả tìm đường lánh nạn
    Chiến binh trở về, uất hận riêng mang!
    Ba Mươi Tháng Tư! Việt Nam Cộng sản!
    Có đau nào bằng, đau mất giang san?

    Tôi chết lặng! Lắng nghe dòng lịch sử!
    Ôi đoạn trường! Nước Việt lật sang trang!
    Người lính Cộng Hòa, khí hùng bất tử!
    Tuẫn tiết quyên sinh, quyết chẳng đầu hàng!

    Thế giới bàng hoàng cúi đầu mặc niệm!
    Dân Việt ngậm ngùi! Hờn oán thiên thu!
    Biết bao người đã liều thân vượt biển
    Biết bao nhiêu kẻ cải tạo trong tù…

    Giặc cắt Lạng Sơn, Hoàng Sa, Bản Giốc…
    Đem đất đai, lãnh hải… bán cho người
    Dân chúng lầm than, khốn cùng còi cọc
    Cộng sản tan tành, đất nước an vui

    Quê hương mất! Anh đớn đau tủi nhục!
    Lệ thảm sầu nuốt vội! Chít khăn tang!
    Tấm ảnh xưa! Cho tôi nhiều cảm xúc
    Se thắt tâm tư! Mắt lệ dâng tràn!

    Có vết thương, cả đời còn rướm máu!
    Có nỗi buồn, mãi mãi vẫn không phai!
    Lớp trẻ về! Niềm tự hào, cao ngạo…
    Các anh về, thay chế độ ngày mai…

    Quyết đuổi bọn phi nhân, phường bán nước
    Đem tự do, no ấm… khắp mọi miền
    Nước Việt Nam từ đây tròn ơn phước
    Tự chủ, tự cường, an hưởng… đoàn viên

    Tạ ơn tiền nhân, những người… gìn giữ
    Chánh thể Cộng hòa, biển lặng sông trong
    Chúng ta sẽ về quên đời lữ thứ…
    Việt Nam ơi! Hạnh phúc ngập cõi lòng!

    DƯ THỊ DIỄM BUỒN
  4. Khi tôi chết đừng liệm tôi dưới mộ
    Xác thân nầy xin thiêu đốt lửa hồng
    Và tro cốt xin gởi về cố thổ
    Rải lên ruộng vườn, khe, rạch, kinh, sông

    Rải lên đồi, lên rừng sâu núi thẩm
    Nơi Tổ Tiên đã gầy dựng bao đời
    Cho cháu con được cơm no áo ấm
    Dân an bình, lạc nghiệp Việt Nam tươi

    Đất phù sa, hòa thêm phần tro cốt
    Cùng nắng hiền, mưa thuận trái đơm cây
    Nương rẫy trúng mùa, lúa oằn nặng hột
    Thôn xóm an vui, tình nghĩa đong đầy

    Quê Hương đó từ ngún ngòi chinh chiến
    Bởi Cộng về gây tang tóc đau thương
    Huế thảm sát, pháo giặc bừa Chương Thiện
    Ôi, oan khiên quằn quại khắp nẻo đường

    Xin rải cốt tro lên vùng chiến tích
    Dầu Tiếng, Khe xanh, An Lộc, Tháp Mười…
    Nơi lính Cộng Hòa liệt oanh chống địch
    Đất ông cha, bồi đắp máu xương tươi

    Khi tôi chết đừng đưa tôi ra biển
    Bởi xác phàm, sẽ hoen ố Biển Đông
    Để tro cốt theo gió ngàn cuốn quyện
    Làm phân cỏ cây thấm mát ruộng đồng

    DƯ THỊ DIỄM BUỒN
  5. Mùa Quân Lực 19 tháng 6

    DTDB




    Em dắt con thăm chồng nơi đất Bắc
    Ngày giặc vào cháu chưa được lên hai
    Vì sa cơ, cha lâm cảnh tù đày…
    Giặc chụp mũ tội: “Ngụy Quân bán nước...”

    Trại cải tạo giam những người trí thức
    Của miền Nam, mài miệt ghế nhà trường
    Ra ngành nghề... làm lính trấn biên cương
    Khắp các ái địa đầu vùng tuyến lửa...

    Chàng yên tâm có em lo nhà cửa
    Bốn Quân khu, Bến Hải đến Cà Mau...
    Chặn thù, tiếp Miên, chiến đấu Hạ Lào…
    Cùng đồng đội xông pha lòng đất địch

    Lính Cộng Hòa hào hùng xây chiến tích
    Chống xâm lăng càn quét lũ bạo tàn
    Bọn Cộng nô phải vỡ mật, teo gan
    Hải, Lục, Không Quân, Thiên Thần Mũ Đỏ…

    Bao thống khổ nước nhà sau bỏ ngỏ!
    Tháng Tư Đen! Bức tử phải tan hàng
    Những chàng trai đi gìn giữ giang san
    Bị giặc bắt ải đày nơi hiểm nghiệt!

    Bao nhiêu năm đau lòng dân tộc Việt
    Bấy nhiêu năm đất nước phủ màu tang
    Giặc cắt chia lãnh thổ hiến ngoại bang
    Dẫn Tàu Cộng! Làm tan hoang đất nước

    Em dắt con thăm nuôi chồng xuôi ngược
    Nam Hà, Hàm Tân, Tiên Lãnh, Vườn Đào...
    Chồng em tù ngục lận đận lao đao…
    Ngày trở lại, cháu đã tròn đôi chín!

    Đó là tuổi mộng mơ yêu màu tím
    Thuở ngày xưa, em sung sướng đến trường
    Nay con em vì đất nước tan thương!
    Cha cải tạo, đói ăn, không lành áo...

    Mọi thủ đoạn giặc dối lừa chao đảo
    Đảng độc tài nghiền nát tuổi xuân xanh
    Nhồi sọ, nhiễu nhương... bóp vỡ mộng lành
    Lớp trẻ Việt... tương lai như bọt biển!

    Chồng của em tròn đời là lính chiến
    Chàng vững lòng dù thời cuộc đổi thay
    Vẫn kiên tâm chờ đợi có một ngày
    Dân tộc Việt đứng lên giành Chánh nghĩa

    Giờ đã điểm! Mọi người đà thấm thía...
    Biết khổ đau dưới ách kẻ vô nhân…
    Hiểu thế nào lòng dạ bọn vô thần…
    Khi nước nhà đấm chìm trong tay giặc!

    Mười Chín Tháng Sáu! Là ngày Quân Lực!
    Nhớ ngày xưa! Lòng xao xác bâng khuâng!
    Xót quê hương! Tàu Cộng chiếm đoạt dần...
    Ghét kẻ nối giáo, hận phường bán nước…

    Người lính Cộng Hòa bôn ba xuôi ngược
    Thân héo mòn như chiếc lá chiều thu
    Vẫn kiên tâm bền chí diệt Cộng thù
    Tôi luyện lớp trẻ… chờ ngày phục quốc


    DƯ THỊ DIỄM BUỒN
  6. Một hôm trời chớm vào Thu, những nghệ sĩ cổ nhạc tới thăm tôi. Từ Paris xuống Le Plessis Robinson hơi xa. Từ Việt Nam sang Pháp còn xa hơn. Các nghệ sĩ xuýt xoát tuổi nhau. Có một cô được học bổng của Pháp tuyển lựa, theo học trường Sorbonne, chuẩn bị hai năm tốt nghiệp tiến sĩ cổ nhạc Việt Nam! Cô này, hãng phim 3 B Productions nhờ sáng tác một nhạc khúc cổ điển Việt Nam xen kẽ vào cuốn phim Poussières de vie phóng tác tiểu thuyết La colline de Fanta của tôi, rủ bạn bè ái mộ truyện tuổi thơ của tôi, đến nhà tôi, vừa để trình bầy khúc nhạc phim, vừa để thăm tôi. Bốn cô khệ nệ mang nhạc khí đựng trong những cái étui theo. Cô nào cô nấy mặc áo dài Việt Nam. Ái Nhi gẩy đàn bầu. Đàn bà, thiếu nữ, bây giờ, chơi đàn bầu, và mê nghệ thuật đàn bầu, không như đàn bà, thiếu nữ, thời xưa. Ca dao đàn bầu đã lỗi thời chăng?

    Đàn bầu khéo gẩy thì nghe
    Làm thân con gái chớ mê đàn bầu.


    Đàn bầu lãng mạn vô cùng. Con gái mê đàn bầu sẽ cùng người chơi đàn bầu đi hết nẻo đường gió bụi. Con trai mê đàn bầu thì sao? Ca dao không nói tới, và đời nay, con gái gẩy đàn bầu mặc kệ con trai xúc động từng thớ thịt.

    Đàm Hoa kéo nhị. Ca dao diễn tả:

    Nhị kia réo rắt ngân vang
    Làm xao xuyến khúc xự xang xê hồ.


    Bản nhạc Việt Nam nào thiếu năm nốt hồ xự xang xê cống? Hò xự xang xê cống đã xao xuyến lòng người, khi tiếng nhị rung lên. Tôi nhớ lại, đã thấy 36 năm cũ, mình ca ngợi đàn bầu và nhị trong truyện ngắn Bóng mây kỷ niệm...

    "Sau mỗi cuộc rượu tàn, bác Nhị không quên rủ cha tôi sang nhà bác hòa đàn. Tôi lẽo đẽo theo sau, xách giùm cha tôi cái nhị. Dưới bóng mát của giàn hoa lý gần cầu ao, cha tôi trịnh trọng so giây nắn phím.

    Tiếng đàn nguyệt rung lên, tiếng đàn nghệ sĩ tặng nghệ sĩ thì còn chê vào đâu được nữa! Sao tôi vẫn không thấy cảm? Tai tôi nghe nhạc, mà mắt tôi cữ mải nhìn lũ chim chào mào líu ríu mổ sung chín. Và, lẫn vào âm hưởng của cây đàn nguyệt, tiếng sung rụng lõm bõm dưới nước, tiếng ve sầu rên rỉ giữa trưa hè. Cùng một lúc, tôi nghe cả ba thư âm nhạc. Bản đàn nguyệt dứt, cha tôi kéo nhị, trong khi, tôi vẫn mơ màng ngắm chim chào mào mổ sung. Đến khi chim bay đi, tôi mới kịp để ý đến cha tôi. Người có vẻ khác lúc thường, nét mặt biến đổi từng giây phút. Tiếng nhị êm êm, dịu hiền như mầu hoa lý, đôi khi réo rắt, réo rắt mà không dâm dật, réo rắt chỉ làm lòng ta phấn khởi say sưa. Thỉnh thoảng, âm thanh trầm lắng, đẹp như câu ca dao thoát ra từ đôi môi thôn nữ xuân thì. Sao tai lôi vẫn còn nghe rõ tiếng cu gáy đằng xa? Tôi muốn hỏi bác đồ Nhị nhưng bác tôi đang lim rim đôi mắt ra chiều say mê tận hưởng tài nghệ của cha tôi, một nghệ sĩ bình dân đã từng làm rung động bao nhiêu người Ở bao nhiêu chân trời Có trăng Có lúa. Bản nhạc dứt, âm thanh loãng dần. Cha tôi lấy khăn lau mồ hôi đổ rồi hỏi bác Nhi:

    - Thưa bác, bác nghe tiếng đàn em dạo này thế nào?

    -Kém ngọt hơn mấy năm về trước. Chú ít luyện tập?

    -Vâng, quả có thế, lâu nay em bỏ đàn địch. Bác tính từ ngày em tạm nghỉ đời giang hồ đến giờ, có khi nào tâm hồn em thanh thản đâu.

    - Phải rồi, tâm hồn mà vướng mắc, tiếng nhạc nghe nặng nhọc lắm, khó thoát lên được. Chú thử nghe tôi dạo khúc đàn bầu xem sao.

    Nói dứt câu, bác đồ Nhị cởi phăng áo, để mình trần, với cây đàn bầu. Cây đàn của bác cổ kính quá chừng. Tôi nhớ rõ ràng, nó bẩn lắm. Màng nhện chăng đầy. Ở dưới đáy, bụi phủ kín mặt đàn. Miếng tre để gẩy đã sạm mầu đen, đồ lên giây mọt ăn vào quá nửa. Bác tôi nhè nhẹ vặn giây. Bác lấy miếng giẻ vuốt sợi giây sắt, rồi bắt đầu khởi nhạc. Tiếng đàn bầu dìu ngân khoan thai thánh thót. Trời bỗng như nhiều gió hơn, và không gian chừng dễ thở quá. Đàn bầu, ồ, chỉ có một sợi giây thôi, linh cảm phức tạp nhất của con người gửi gấm cả vào đấy. Tay phải làm cho phát ra âm thanh, tay trái lựa sao cho nét nhạc hoa mỹ, tuyệt vời. Ngồi khom lưng, một chân đè lên thành đàn, người bác nghệ sĩ của tôi thay lời nói lên tình trời đất. Tâm tư bác vướng trên giây, hình ảnh tối tăm hiện tại biến đi, chỉ còn thế giới âm thanh lắng vào mênh mông, vô tận. Tiếng đàn khi nũng nịu như cô gái mới lấy chồng, tha thiết như tình mẫu tử, rạo rực như lòng thiếu nữ dậy thì, và băn khoăn như giấc mộng nửa đêm. Mặc cho mấy chú muỗi bám vào lưng, bác đồ Nhị đăm đăm thả hồn theo âm nhạc. Tiếng đàn cơ hồ gió ngàn, lúc dâng lên ta tưởng có trận phong ba chớm dậy trong lòng, xui ta giận dỗi, hờn oán. Lúc dịu đi, ta trạnh nghĩ một hoàng hôn nắng vàng thoi thóp. Âm hưởng bay vút lên khơi như nước thủy triều dâng bao la, bát ngát. Ta tưởng chừng tình đời đơm nở ngát thơm mùi lúa chín được mùa, đẹp hơn cả môi hồng trinh nữ. Tiếng đàn lắng xuống trầm trầm, im lặng, cô quạnh khao khát yêu đương, buồn như khách giang hồ lỡ chuyên đò ngang, hoang mang như mối tình đầu thất vọng. Và, ta cảm động không ngăn kịp lệ rơi. Sao giọng con ve sầu, lời con cu gáy vắng bặt? Âm nhạc quê hương nhiệm mầu đuổi chúng bay xa rồi chăng? Hay chúng võ vàng nín thinh để hớp lấy những phút giây thiêng liêng vạn kỷ? Trong tôi, lúc ấy, mới hoàn toàn thấu đượm âm thanh, tuy trước khi bác Nhị rung tơ lòng, con bé hàng xóm ru em to quá, tiếng vơng kẽo kẹt càng to hơn. Tiếng đàn của tay lão tài tử đã cảm hóa được tôi bấy giờ, và cả bây giờ nữa. Cung đàn ngừng lại. Tôi thấy còn giang dở, còn thiếu một cái gì khó nói. Bác tôi cũng nghĩ vậy, bác ngồi mơ màng hối tiếc. Thế nào bóng kỷ niệm chả rủ nhau về gõ cửa tim bác, khi tiếng đàn xa khơi. Lúc lâu, bác rời đàn buông tiếng hỏi:

    -Chú nghe thế nào?

    -Dạ, tiếng đàn của bác tuyệt diệu, có một không hai trong thiên hạ.

    Bác tôi gật đầu sung sướng:

    -Đánh đàn cần phải tự do, chú ạ? Hồn tài tử như mây trôi, như nước mưa giữa trời theo nhịp thở của trái tim ta, không có sức mạnh nào lái lòng ta được. Này chú...

    -Dạ.

    - Ta đàn tặng tri kỷ tiếng mới ngọt thế đấy. Chứ, cũng lại vì miếng đỉnh chung của thời đại nhố nhăng này, mà mặc quần áo đẹp, ngồi trên ghế khảm xà cừ, rung tơ lòng cho bọng vương giả nghe thì tơ lòng đến đứt quãng tứ tung mất thôi.

    -Thưa bác, đàn bầu vốn dĩ...

    -Là loại khó. Ừ, đàn bầu khó chơi nhất, nó cũng như nhị ấy, không có phím để mà phân biệt. Lại nữa, mình hiếm sách dậy, nên rồi nó sẽ mai một như cánh áo the lương, như cái khăn xếp, như đôi giầy Gia Định, hay như... cái khố y. Tội nghiệp người bình dân, người quê hương sẽ mất mát kho tàng giá trị"...

    Thụy Anh thổi sáo. Ca dao diễn tả:

    Sáo ơi buồn quá đi thôi
    Không vui lên để tình tôi lỡ làng


    Cây sáo ống tre trúc thổi ngang dùng hơi thở để nói lên tư tưởng của mình. Cổ nhạc nước ta hiếm phong cầm, càng hiếm... hơi cầm! Có lẽ, chỉ có một thứ kèn: kèn đám ma. Kèn thổi ở nơi ma chay. Nó bất hủ hòa tấu với trống cơm, nửa đêm mùa Đông. Có lẽ, chỉ có một thứ sáo; sáo thổi ngang. Cây sáo này, Thế Lữ đã bùi ngùi, cảm xúc trong Tiếng dịch tuyệt vời.

    Tiếng địch thổi đâu đây
    Cớ sao mà réo rắt
    Lơ lửng cao đưa tận lưng trời xanh ngắt.
    Mây bay gió quyến mây bay
    Tiếng vi vút như than van như dìu dặt
    Như hắt hiu càng hơi gió heo may...

    Thế Lữ cảm xúc thêm, trong giấc mơ lên thiên thai, gặp bên rừng thổi sáo một hai kim đồng. Tiếng vui ra sao, tiếng buồn thế nào...

    Theo chim tiếng sáo lên khơi
    Lại theo giòng hạc bên người tiên nga
    Khi cao vút tận mây mờ
    Khi gần vắt véo bên bờ cây xanh...


    Cây sáo duy nhất của nền cổ nhạc Việt Nam đấy. Phục chưa? Quỳnh Dao chơi đàn tranh. Ở quê hương miền Bắc của tôi, cũng có thứ đàn gọi là đàn tranh. Nó ngắn hơn đàn nguyệt hai giây. Thưở còn bé, tôi coi đàn tranh hôm nay là đàn thập lục, mười giây. Đàn tam thập lục, ba mươi giây. Bên Trung quốc sẵn hai loại đàn này. Họ chơi y hệt người Việt Nam chơi. Tôi đã tận mắt xem ban nhạc hát chèo, ban nhạc đình đám, chẳng hề. Thấy đàn thập lục trong ban nhạc. Cho nên, tôi không hiểu đàn thập lục của Tầu hay của Ta. Và, nó xuất hiện ồ ạt vào năm nào, cả hai miền Bắc và Nam. Nhưng, hôm nay, người ta bảo đàn tranh (thập lục) là nhạc khí của cổ nhạc Việt Nam, tôi đành nghe theo, trong ngờ vực. Vì, ca dao không nói đến đàn thập lục!

    Cô Ái Nhi, đàn bầu;
    Cô Đàm Hoa, nhị;
    Cô Thụy Anh, sáo;
    Cô Quỳnh Dao, đàn tranh.


    Bốn nghệ sĩ cổ nhạc sẽ hòa tấu khúc nhạc làm cho phim Poussières de vie - Bụi đời, báo Le Monde viết buidoi - Sau những thủ tục tiếp đón lỉnh kỉnh, các cô mở nắp étui lôi nhạc cụ ra, so giây nắn phím. Tôi lấy cái máy cassette chuẩn bị thu tiếng nhạc của tài tử miền Bắc nước Việt Nam.

    Chơi xong khúc nhạc cổ điển sáng tác cho phim ảnh, các cô quên hỏi tôi có hài lòng chăng. Thấy cảnh tượng vui vui, Cô Quỳnh Dao cao hứng:

    -Anh thích thơ không?.

    -Thích chứ.

    -Thơ Đường cơ?

    -Tôi mê lắm.

    -Em ngâm bài của Trương Kế nhé? Rồi, em ngâm bài dịch của Tản Đà luôn.

    -Cô biết tiếng Quảng Đông chứ?

    -Em biết.

    -Ngâm thơ Quảng nữa

    -Vâng.

    Cô Quỳnh Dao dạo đàn tranh. Các cô đàn bầu, nhị, sáo chỉ chơi nhạc đệm, đi rất nhẹ. Cô Quỳnh Dào tay đàn miệng ngâm.

    Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
    Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
    Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn tự
    Dạ bán trung thanh đáo khách thuyền


    Vụt loọc lú thầy sương mũn thín
    Cúng phóng dùy phổ tối sầu mìn
    Cú sầu sình ngồi Hồn Sán chỉ
    Dề pún chúng sinh tâu hạc xuỳn

    (Chứ) Trăng tà chiếc quạ kêu sương
    Lửa chài gợi ánh sầu thương giấc hồ
    (Chứ) Thuyền ai đậu bến Cô Tô
    Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San


    Cô Quỳnh Dao ngâm tiếp bài Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu.

    Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ
    Thử địa không du hoàng hạc lâu
    Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản
    Bạch vân thiên tải không du du
    Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ
    Phương thảo thê thê Anh Vũ châu
    Nhật mộ hương quan hà xứ thị
    Yên ba giang thượng sử nhân sầu


    Và bài dịch của Tản Đà.

    Hạc vàng ai cưỡi đi đâu
    Mà nay hoàng hạc riêng lầu còn trơ
    Hạc vàng đi mất từ xưa
    Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay
    Hán Dương sông tạnh cây bầy
    Bãi xa Anh Vũ xanh đầy cỏ non
    Quê hương khuất bóng hoàng hôn
    Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai.


    Tiếng đàn ngừng. Giọng ngâm chấm dứt ngay. Cô Quỳnh Dao hỏi tôi:

    -Được không anh?

    Tôi đáp:

    -Được. Cô biết một điệu chèo nào không?

    Cô Quỳnh Đào vui vẻ:

    -Biết, biết.

    Tôi dục:

    - Cô hát thử coi.

    Đàn địch vang vang.
    Ba mươi tết tết lại ba mươi
    Vợ thằng Ngô đốt vàng cho chú Khách
    Một tay cô cầm dù rách
    Một tay cô xách cái chăn bông
    Cô ra đứng bờ sông
    Cô gọi tên người
    Ới chú Chiệc ơi là chú Chiệc
    Một tay cô cầm quan tiền
    Một tay cô cầm thằng bù nhìn
    Cô vất xuống sông
    Quan tiền nặng thì quan tiền chìm.
    Bù nhìn nhẹ thì bù nhìn nổi.
    Ới ai ơi của nặng hơn người


    Tôi vỗ tay, khen ngợi:

    -Hay lắm

    Cô Quỳnh Dao trách khéo:

    -Bây giờ mới thấy anh nói hay lắm. Tại sao thế anh?

    Tôi cười:

    -Ngót 45 năm, tôi không được nghe hát chèo, được ngắm người hát chèo, được nhìn những người xừ dụng nhạc khí chèo. Hôm nay, bất ngờ, ở Robinson, vùng ngoại ô Paris, cô Ái Nhi nầy đàn bầu, cô Đàm Hoa kéo nhị, cô Thụy Anh thổi sáo, cô Quỳnh Dao hát điệu nhạc dân tộc cho một mình tôi nghe, hỏi sao tôi nói hay lắm? Tôi đã cố nén xúc động, để khỏi phải khóc đấy thôi. Cô Quỳnh Dao chọn bài hát tuyệt vời. Quan tiền nặng thì quan tiền chìm, Bù nhìn nhẹ thì bù nhìn nổi, ơi ai ơi của nặng hơn người. Quê người, đồng tiền nặng. Quê nhà, đồng tiền nhẹ. Và, tình người nặng chĩu đôi vai chúng ta. Quê người, xác con người không quý bằng xác con vật. Cho nên, tôi bị bại chân liệt tay một cách cay nghiệt, vì những lý do vẩn vơ. Này, tôi muốn nghe điệu hát xẩm, các cô chơi được không?

    - Được, được, anh ạ.

    - Các cô chiều tôi một tí nhé?

    - Chiều anh suốt đời chúng em...

    -Cô hát bài Xẩm Chợ của Vô Danh.

    Cô Thụy Anh hát, cô Đàm Hoa kéo nhị, cô Quỳnh Dao và cô ái Nhi ngồi im nghe.

    Sông kia nước chảy đôi giòng
    Đèn khêu hai ngọn anh trông ngọn nào.
    Muốn tắm mát lên ngọn con sông Đào
    Muốn ăn sim chín thì vào rừng xanh
    Đôi tay vin cả đôi cành
    Quả chín thì hái quả xanh thì đừng
    Ba bốn năm nay anh ở trên rừng
    Chim kêu vượn hót nửa mừng nửa lo
    Xa chân lở bước xuống đò.
    Gieo mình xuống sập còn lo nỗi gì
    Gặp nhau thiên tải nhất thì


    Tôi nhắm mắt lại, tưởng tượng ra một người mù lòa, tay kéo nhị, miệng hát Xẩm kiếm kế sinh nhai, ở bến đò, ở đầu chợ, ở góc đình... Thửa xưa hình như, nước tôi không có ăn mày. Người mù lòa hát xẩm cũng chẳng mở lời van xin tiền phước thiện. Thi sĩ bình dân đã sáng tác thơ cho họ biểu diễn văn nghệ. Ai thấy họ hát hay, thì quăng tiền biếu họ. Người nghệ sĩ hát xẩm mù lòa vẫn giữ được tư cách. Đôi khi, thi sĩ dùng nghệ sĩ nói lên tâm trạng của mình. Thí dụ, đả kích Hàn mua, thi sĩ đã viết: "Ông thì hàn, ông thì hàn, chứ ông hàn chảo hàn xanh hàn nồi"..., và nghệ sĩ hát xẩm đã phổ biến cùng hết khắp đất nước. Người hát xẩm ngày trước là cán bộ tuyên truyền bấy giờ. Tôi mở mắt nhìn cô Thụy Anh. Cô Thụy Anh mỉm cười, nhìn tôi:

    -Em giống xẩm không anh?

    -Hôm nay, hết xẩm rồi; bến đò, xó chợ buồn tênh. Thi sĩ sáng tác xẩm chợ, xẩm nhà trò cũng chết hết. Từ khi Tản Đà giã từ trần thế, xẩm tự tử đồng loạt. Tôi cố hình tưởng, cô giống xẩm y hệt, Cô làm sống lại thời đại đã mất tích trong mù khơi, bằng nghệ thuật hát xẩm của cô và cái nhị của cô Đàm Hoa nghe muốn đứt ruôït. Tôi muốn một thứ nữa.

    -Gì anh?

    -Cô nào thuộc thơ Nguyễn Bính?

    - Em, cô Đàm Hoa nói.

    - Thơ Nguyễn Bính lục bát?

    - Em thuộc nhiều.

    - Bài thơ mới nhất, trước khi Nguyễn Bính lìa đời.

    - Vâng, Tỉnh giấc chiêm bao.

    - Cô ngâm đi.

    Cô Quỳnh Đào đàn tranh, cô Thụy Anh thổi sáo, cô Ái Nhi gẩy đàn bầu.

    Chín năm đốt đuốc soi rừng
    Về đây ánh điện ngập ngừng bước chân
    Cửa xanh màn trúc còn ngăn
    Góc tường vẫn đọng trăng xuân thưở nào
    Làng xa bản nhỏ đèo cao
    Gió bay tà áo chiêm bao nửa chừng
    Anh về luyến núi thương rừng
    Nhớ em đêm sáng một vùng thủ đô
    Bồi hồi chuyện cũ năm xưa
    Gặp nhau lần cuối trang thư lệ nhòa
    Thư rằng thôi nhé đôi ta
    Tình sao không phụ mà ra phụ tình
    Duyên nhau đã dựng trường đình.
    Mẹ em đã xé tan tành gối thêu
    Trăng khuya sang núi gươm đèo
    Anh đi thư vẫn nằm theo bên mình
    Lửa sàn nét chữ chênh chênh
    Nếp thư đến rách chưa lành vêt thương
    Đằm đằm hoa sữa lên hương
    Chân anh đương bước giữa đường cái đây
    Néo hồ song cửa lá bay
    Sáng trưng bóng dạng bao ngày yêu xưa
    Trăm năm đã lỡ hẹn hò
    Cây đa bến cũ con đò còn không
    Tình cờ gặp giữa phố đông
    Em đi ríu rít tay chồng tay con
    Nét cười âu yếm môi son.
    Áo bay nhắc buổi trăng tròn sánh vai
    Chín năm bão tối mưa ngày.
    Nước non để có hôm nay sáng trời
    Em đi hạnh phúc hồng tươi
    Anh nhìn tận mắt cuộc đời đẹp sao
    Sắc hương muôn nẻo tuôn trào
    Tiếc mà chỉ ước chiêm bao một mình
    Anh về viết lại thư anh
    Để cho bến mát cây xanh đôi bờ
    Cho sông cho nước tự giờ
    Chẳng còn lỡ chuyện con đò sang ngang
    Lứa đôi nhưng bức thư vàng
    Chẳng còn chữ chữ hàng hàng lệ rơi
    Chim hồng chim nhạn em ơi
    Trên nền gối cưới đời đời yêu nhau

    -Cô Đàm Hoa làm 9 năm kháng chiến chống Pháp Nguyễn Bính ê chệ hơn. Ông ấy chết ở quê nhà?

    -Vâng, ở Nam Định, quê em.

    -A, Cô người cùng quê hương Nguyễn Bính.

    - Ông ấy chết năm 48 tuổi.

    -Nguyễn Bính không nên sống lâu hơn. Có cô nào thuộc ca dao không?

    - Có em.

    - Bốn cô đều thuộc ca dao, nhất đấy nhé! Cô Quỳnh Dao đã hát chèo, cô Thụy Anh đã hát xẩm, cô Đàm Hoa đã ngâm thơ Nguyễn Bính, tôi mời Cô Ái Nhi ngâm ca dao.

    -Vâng, anh thích bài nào?

    -Vì nhớ mà buồn

    - Em ngâm bài ấy.

    Ba cô dạo nhạc cho một cô về với ca dao.

    Đêm qua ra đứng bờ ao
    Trông cá cá lặn trông sao sao mờ
    Buồn trông con nhện giăng tơ
    Nhện ơi nhện hỡi nhện chờ mối ai
    Buồn trông chênh chếch sao Mai
    Sao ơi sao hỡi nhớ ai sao mờ
    Đêm đêm tưởng giải Ngân hà
    Chuôi sao Tinh Đấu đã ba năm tròn
    Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn
    Tào khê nước chảy vẫn còn trơ trơ


    Buồn và nhớ quá. Cô Ái Nhi bắt người đã chết về với người đang sống cùng nhớ vì buồn, cùng buồn vì nhớ. Các cô đã tung hê chút nghệ thuật cho tôi thưởng thức. Cảm động lắm. Bây giờ, tôi tắt máy cassette đi, cho trở lại từ đầu. Để các cô uống trà nóng thưởng thức tài nghệ của chính mình. Mời các cô dùng trà Trà Ninh Thái ướp sen đó. Quan phủ Thái Ninh uống trà Ninh Thái. Trà Ninh Thái đã đi vào câu đối, làm vẻ vang phủ Thái Ninh. tỉnh Thái Bình.

    -Nó đang nổi tiếng ở Paris..

    -Không đâu, ít người Việt Nam uống trà Ninh Thái, và ít người ở phủ Thái Ninh gửi trà miền Bắc sang cho người Việt Nam ở Paris.

    Tôi mở cassette cho to to một chút. Im lặng. Chúng tôi uống trà, nghe nhạc phim, nghe thơ Đường, nghe hát chèo, nghe hát xẩm, nghe thơ Nguyễn Bính, nghe ca dao.

    Hết bài ca dao, chương trình văn nghệ chấm dứt. Các cô yêu cầu tôi phê bình cuốn cassette thu tài nghệ của các cô.

    -Tôi đã đọc báo Hànội, thành phố Hồ Chí Minh, người ta khen các cô không để đâu hết. Cần gì tôi phê bình nữa!

    -Thưa anh, chúng em ngoài 30 tuổi rồi, đã lớn rồi, nên thẩm thấu lời cổ nhân: Kẻ nào khen ta đúng, là bạn ta: Kẻ nào khen ta sai, là thù nhân của ta. Kẻ nào chê ta là bọn đố kỵ, ghen ghét ta. Kẻ nào chê ta đúng là bậc thầy của ta. Chúng em đã có nhiều bạn, nhiều kẻ thù, nhiều kẻ đố kỵ Vẫn thiếu một bậc thầy. Mong anh,vì nghệ thuật, vì chúng em đáng hàng con cái anh, phê bình giùm.

    -Các cô đừng đặt vấn đề con cháu, anh em vào lãnh vực nghệ thuật. Tôi xin coi các cô là những người ít tuổi, đi sau tôi. Còn phê bình thiên hạ, từ ngày tôi bị thân bại danh liệt, thề rằng, không thèm hé môi nói chuyện ấy nữa.

    -Tại sao vậy?

    -Vì phê bình đúng đắn, chỉ mang lại nhiều kẻ thù. Phê bình, hiểu theo chữ nghĩa của thời đại, là bốc thơm tận mạng, là chẳng còn chỗ nào để chê. Tôi không làm được việc khen ngợi trái với lòng mình như thế. Phê bình, theo tôi, là khen và chê; không khen láo, chê láo. Người phê bình phải biết cảm thông với người làm nghệ thuật muốn họ tiến xa, tiến sâu, hay dài, hay rộng, chứ không đả kích họ vô tội vạ, khen họ cho sướng miệng.

    -Anh cứ phê bình chúng em đi, không ngại làm mất lòng chúng em đâu. Người làm nghệ thuật ví mình như tấm da thú căng ra, để chịu đựng những mũi tên phê bình, dù phần đông những mũi tên tẩm thuốc độc. Cần gì, chỉ một mũi tên chứa đựng lẽ phải và sự thật, sẽ bắn những mũi tên tẩm thuốc độc tan biến.

    -Thật ư?

    - Chúng em đem danh dự của tuổi trẻ ra thề.

    -Tôi nhận xét tài nghệ của các cô, theo ý của riêng tôi. Theo tôi, các cô biểu diễn nghệ thuật đã tới, nhưng ra tới cái đích của nghệ thuật. Trước hết, nói về nhạc khúc cô Quỳnh Dao sáng tác cho phim Poussières de vie, cộng tác theo tiểu thuyết la colline de Fanta của tôi. Tôi không hân hạnh chút nào về tiểu thuyết của mình lên màn ảnh Pháp. Tôi ký hợp đồng với nhà xuất bản, lg thời, ký luôn hợp đồng sách của tôi sẽ được lên n ảnh với nhà xuất bản. Nhà Belfond ký với hãng m 3 B Productions. Tác quyền chia đôi, nhà xuất bản t nửa, tác giả một nửa. Tiền đặt cọc, hãng phim 3 B Productions đưa cho nhà Belfond, nhà Belfond nghiến y một nửa. Mới hay, nhà xuất bản ăn từ đầu đến đít nhà văn! Hãng phim 3 B Productions đã về Việt Nam chọn đất, và tài tử Việt Nam để quay phim Poussières de vie. Họ thất bại chuyện Việt Nam. Tôi cũng chán chuyện Việt Nam. Năm ngoái (1993), 3 B Productions phải quay ở Mã lai, tài tử Mã lai. Truyện không dính líu về Việt Nam nữa. Tài tử nhóc con Việt Nam không có trong phim Việt Nam! Cô Quỳnh Đào được 3 B Productions thuê làm nhạc cổ điển Việt Nam, chơi ở phim Việt Nam, do người Pháp thực hiện, người Mã Lai diễn xuất, tôi không có ý kiến gì về bản nhạc của cô ấy. Nhạc hay hoặc không hay, tôi chẳng lưu ý. Cô Quỳnh Dao có buồn, tôi đành chịu lỗi.

    Nhấp một ngụm trà Ninh Thái, tôi tiếp:

    -Nhưng, tôi lưu ý nhất hai bài Đường thi của Trương Kế và Thôi Hiệu, mà cô Quỳnh Dao đã diễn tả. Cô Quỳnh Dao, chắc chắn, không biết bến Cô Tô, chùa Hàn San, sông Hán Dương, bãi Anh Vũ ở đâu, bên Trung quốc. Cô đã biết, phải biết bến Phà Đen, sông Nhị Hà, ở Thăng Long, thủ đô Hà nội, Việt Nam, nơi có Tôn Sĩ Nghị bỏ cả ấn tín chạy trốn, nơi có hàng vạn quân xâm lược Mãn Thanh máu đỏ ngập sông Nhị Hà. CÔ đã biết phải biết bãi Phan Lương, sông LÔ ở Việt Bắc, nơi có đầy tầu Pháp bị bắn chìm, nơi có hàng ngàn xác thực dân Tây trôi lêu bêu. Bỏ những cái mình đã biết, nghĩ về những cái mình chưa biết, thật là lỗi lầm lớn. Tại sao mình phải ca ngợi Đường thi? Tại sao mình phải ngưỡng mộ bến Cô Tô, chùa Hàn San, bãi Anh Vũ, sông Hán Dương? Tại sao mình phải vọng tưởng nòi Hán? Tại sao mình phải suy tôn thờ Trung quốc? Nước mình, dân tộc mình có bao nhiêu thi sĩ bình dân và bác học. Nước mình, dân tộc mình có 4000 năm ca dao, lấy đấu đong hàng đời chưa hết. Âm nhạc cổ điển Việt Nam, âm nhạc dân tộc Việt Nam, nhạc khí cổ nhạc Việt Nam, tài năng cổ nhạc Việt Nam lại chơi thơ Tầu, thì buồn cười biết mấy, chua xót biết mấy! Rồi đây, sẽ chơi thơ Pháp, thơ Nhật, thơ Nga, thơ Mỹ...

    Cô Quỳnh Dao chớp mắt thật mau:

    -Em biết cái lầm lẫn ấy.

    Tôi nói:

    - Phê bình các cô, tôi muốn đọc đoạn văn ở Bóng mây kỷ niệm: "Diễn tả bản nhạc là một nghệ thuật siêu đẳng. Người tài tử lúc ngồi nắn phím so giây, thì hoàn toàn sống với tâm tư. Ảnh hình ngoại giới, lúc ấy, mờ đi để chỉ thấy hiện trước mắt mình chân trời bao la nghệ thuật gói ghém tình thương yêu, lòng bác ái. Người tài tử càng rung cảm bao nhiêu, chân trời siêu đẳng càng rộng mở bấy nhiêu. Cho nên, có thể; nghe tiếng đàn mà đoán tâm tính người chơi. Như đứa vũ phu thì tiếng đàn yếu ớt, loãng dần. Người mẫu mực thì tiếng đàn thong thả, đều đều. Người hào hoa thì tiếng đàn phóng túng, buông trôi. Người có tâm hồn tranh đấu thì tiếng đàn thôi thúc, vội vã. Người mang tâm sự thầm kín thì tiếng đàn mung lung, huyền bí. Tất cả những hạng người kể trên, đều không phải là tài tử. Người tài tử khác hẳn. Tiếng đàn rung lên, thính giả có thể khóc, có thể buồn, có thể yêu thương, có thể giận dỗi, có thể oán hận, hay ray rứt, đứng ngồi không yên. Muốn luyện ngón đàn như thế, tất phải sống, phải đi nhiều, phải mang tuổi trẻ mua lấy chua cay, khinh bỉ của thế nhân, để biết khóc, biết cười, biết oán hận, biết yêu thương, thì mới hòng làm cho người khác khóc, cười, yêu thương, oán giận, ghen hờn. Nhưng đời nay, cái đời kim tiền khốn nan này, đã làm hồn tài tử lịm chết, làm tai nhân thế điếc đi rồi"!...Các cô thấy thế nào?

    - Chúng em mới chỉ là nhạc công, chưa được là tài tử.

    -Các cô sẽ là tài tử

    - Làm cách nào?

    - Chưa suy nghĩ, chưa chịu khó suy nghĩ đấy thôi. Quỳnh Dao hát chèo để mà hát chèo thôi. Nếu cô biết tâm sự của tác giả gói ghém trong điệu chèo; tiếng đàn sẽ trách móc gay gắt, tiếng hát sẽ giận hờn khôn nguôi, người nghe sẽ băn khoăn, tức tối. Đấy là điểm thành tài tử. Như cô Thụy Anh hát điệu Xẩm Chợ, không nghĩ hát xẩm đã biệt hương, không bao giờ hồi hương nữa. Hát với giọng hoài cổ, hoài xẩm tha thiết, não nùng. Đàm Hoa với tiếng nhị man mác, nuối tiếc; người nghe tưởng chừng mình gặp lại người mù hát xẩm ở ngày nào đó xa xôi. Đấy là điểm thành tài tử. Như cô Ái Nhi ngâm bài ca dao Vì nhớ mà buồn, không mà buồn, và nỗi buồn đi đâu. Tôi xin nhắc các cô một đoạn văn viết về Vì nhớ mà buồn: "Nhìn dưới nước, cá thương cảm nỗi gì, lặn sâu hun hút. Nhìn lên bờ, nhện chờ mối ai, hiu hắt giăng tơ. Nhìn lên trời, sao nhớ nhung chuyện chi, mờ nhạt đi thế. Con người vụt buồn tênh, nhớ đến cảnh vật, nhớ đến loài vật, nhớ đến tinh tú. Không nhớ tới mình. Đêm nào cũng như đêm qua, đứng ở ở bờ ao ngắm cả Ngân Hà hình tưởng thiên thai. Rồi, nỗi buồn của con người tan loãng vào hư vô. Con người vẫn là con người lòng dạ còn nguyên, chẳng giống đá mòn vẹt kinh khủng, vì suối Tào Khê nước chảy vun vút. Nghĩ một chút đi, ai vì nhớ mà buồn? Không mình cũng chẳng ta. Không chàng cũng chẳng nàng. Không em cũng chẳng anh. Thế thì tiếng ai sang sảng bên bờ ao, đêm qua? Tiếng nói dân tộc đấy. Và, tiếng nói ấy, từ sâu trong lòng đất phóng lên tỏa lan khắp vùng trời quê ta. Dân tộc quen ngậm nỗi buồn, chả bao giờ nói nỗi buồn. Qua những nghìn năm khổ tủi, dân tộc vẫn giữ tâm hồn nguyên vẹn". Nỗi buồn siêu việt, ở trong ca dao. Ca dao không chỉ có những nỗi buồn, mà còn tình yêu, niềm vui, hạnh phúc... Nếu cô Ái Nhi ngâm ca dao, làm cho Vì nhớ mà buồn bay vào hư vô, cả cô cũng bay vào hư vô khoảnh khắc, thì đấy là điểm các cô trở thành tài tử.

    -Anh là bậc thầy chúng em..

    - Không, tôi chỉ là người thưởng ngoạn nghệ thuật của các cô. Làm bậc thầy, vĩ đại quá, tôi không dám. Theo tôi, cổ nhạc Việt Nam phải gắn liền với điệu ca dân tộc. Hát chèo, hát quan họ, hát cò lả, hát trống quân, hát vọng cổ, hát xàng xê, hát thủ phong nguyệt... là những điệu hát của dân tộc. Tân nhạc không nên xử dụng nhạc khí cổ nhạc. Có thể, nhạc khí cổ nhạc chơi dân ca đúng nghĩa. Ca dao là nhất. Không thể thiếu điệu ngâm ca dao trong ban cổ nhạc của các cô. Thiếu ca dao, thiếu linh hồn dân tộc, các cô sẽ bơ vơ. Tôi ước mơ, sau này các cô sẽ sáng tác những đại trường ca cổ nhạc Trê cóc, Thạch Sanh Lý Thông, Phạm Công Cúc Hoa, Bích Câu kỳ ngộ..., sẽ phổ nhạc hàng ngàn bài ca dao, làm rạng danh cổ nhạc Việt Nam. Các cô phải yêu ca dao, phải hiểu ca dao. Ca dao sẽ đưa các cô từ cuộc phiêu lưu nghệ thuật này sang cuộc phiêu lưu nghệ thuật nọ. Các cô sẽ không bao giờ bị đào thải, nếu giữ ca dao làm gốc gác để tôn thờ. Tôi gởi các cô những lời nhắn nhủ thơm nồng tình nghĩa.

    - Cảm ơn anh, chúng em cám ơn anh. Ba tháng sau, chúng em sẽ tặng anh cuốn cassette khác, ghi những bài hát chèo, hát xẩm, ngâm ca dao như hôm nay.

    - Một cuộc thách đố?

    - Coi như vậy, anh ạ! Thách đố và làm việc không ngừng.

    Bốn nghệ sĩ cổ nhạc ra về. Họ khuất bóng. Tôi đã mường tượng Quỳnh Đào, Ái Nhi, Đàm Hoa, Thụy Anh sắp cùng nghệ thuật bước vào hư vô...

    Duyên Anh
  7. Má ơi thuở đó trời chưa sáng
    Lẽo đẽo con theo nhóm chợ làng
    Bánh, trái, vịt, gà, rau... bày bán
    Xóm chài tôm cá họ đưa sang

    Ửng hồng phương Đông trời lóe nắng
    Dắt con đi học đến sân chơi
    Gói xôi lá cẩm còn âm ấm
    Nhìn má ra về, nước mắt rơi

    Má cứ thế sáng đưa chiều đón
    Thời gian êm ái lướt qua mau
    Giờ đây con cũng vừa khôn lớn
    Thích nhìn trăng, và ưa đếm sao

    Xa nhà con bước vào trung học
    Má tiễn đưa qua mấy chặng đò
    Tha thiết dặn dò rồi má khóc
    "...Xa nhà, con phải biết chăm lo...”

    Má đâu sá kể đêm đông quạnh
    Vất vả vì con phải ngược xuôi
    Đầu chợ, cuối thôn dầm mưa lạnh
    Chỉ mong con trẻ được nên người

    Con bước vào đời, nghề nghiệp vững
    Được cùng với má sống bên nhau
    Đất mền má vẫn đôi chân cứng
    Dù nhớ vườn cau với líp trầu

    Lòng thương của má trai như gái
    Gái dịu dàng, nên gần gũi hơn
    Con nếu sống xa thì má ngại
    Các con trai của má ganh hờn

    Tre tàn nhường chỗ măng non mọc
    Gái lớn theo chồng đẹp phận dâu
    Kịp lứa, phải se tơ kết tóc
    Có người xin, má nhận cau trầu

    Con làm mẹ lúc hai mươi tuổi
    Có má đỡ đần ngoài lẫn trong
    Nào quản mưa chan cùng nắng gội
    Cháu ngoan tay bế với tay bồng

    Cố hương nay cách xa biền biệt
    Con khuyên má trở về viếng thăm
    Để thỏa bao ngày qua nhớ tiếc
    Gặp cô, dì, cậu... kẻ thương thân

    Má trở về thăm vào dịp Tết
    Là lúc nhà đông đủ họ hàng
    Khách viếng má vui quên nhọc mệt
    Tiếng cười trong tiếng pháo rền vang

    Trên cây mít chín chờ má hái
    Bánh tổ, đường om chuối khô ngào
    Kho lạt dầm me soong cá cháy
    Bánh tráng, bánh phồng, mứt bí đao

    Sau chòm mả đám cây trâm ổi
    Trước mộ ba vàng rực khóm mai
    Lá rộn lao xao cơn gió thổi
    Như hồn ba đợi bước chân ai!

    "... Con hỡi, xa nhà vì lũ địch
    Nhắc đến quê hương nước mắt trào
    Những buổi tàn canh trên đất trích
    Thầm thương vận nước chịu lao đao

    Lũ giặc gây bao điều má thấy
    Mậu Thân đất Huế chất chồng xương
    Đồng không mông quạnh oan hồn dậy
    Than khóc dài theo mấy nẻo đường

    Đợi ai đốt lá thay nhang khói
    Cầu cho kẻ chết được siêu sinh
    Để bao người sống nhìn nhau đợi
    Ánh sáng vinh quang buổi thái bình

    Thảm cảnh quê hương con biết đó
    Đô thị loạn cuồng tủi nước non
    Thôn dã chất chồng bao khốn khó
    Má về thăm, khi giặc không còn...



    DƯ THỊ DIỄM BUỒN
  8. [​IMG]

    Con năm tuổi đi học trường mẫu giáo
    Mẹ gọi thức dậy mỗi sáng tinh sương
    Chiếc bàn chải sẵn kem cùng quần áo
    Đây cháo khoai, đỡ dạ trước đến trường

    Cả tháng đầu mẹ trông chờ mệt nhọc
    Dù đứng xa cũng thấy được con luôn
    Lòng quanh quẩn theo sân trường lớp học
    Bởi mẹ sợ con mẹ khóc vì buồn!

    Gió bấc lạnh lùng, mưa bay lướt thướt
    Mẹ cõng con, tay ôm cặp che dù
    Áo vải mũ, con mặc vào khỏi ướt
    Còn Mẹ hiền nhòa đẫm nước mưa thu

    Những chữ cái trong cuốn vần Quốc Ngữ
    Học thuộc lòng, tập vẽ viết ở trường
    Cha xa vắng, mẹ chắt chiu mọi thứ
    Cầm tay con đồ đậm chữ Quê Hương

    Trời tháng giêng, nắng như thiêu như đốt
    Mẹ đến cổng trường chờ trống ra chơi
    Miệng suýt soa, con giỡn mèo bắt chuột
    Té lấm áo quần, lem luốc mặt môi

    Nơi xứ người, mùa đông cay nghiệt lắm!
    Vì thương con chẳng kể đến thân mình
    Cha đã mất, mẹ dải dầu mưa nắng
    Con hiểu dần lòng mẹ, đức hy sinh...

    Nghĩa trang lạnh, mẹ ơi nằm chi đó?
    Con về thăm, sao mẹ chẳng mừng vui?
    Nhớ lần đầu, đi xa về đến ngõ
    Mẹ ôm chầm âu yếm gọi "con tôi!"

    Nắng chênh chếch giữa chiều vàng bóng xế
    Mồ cỏ xanh, bia đá dựng chơ vơ
    Kể từ khi mẹ hiền lìa cõi thế
    Con chỉ còn gặp mẹ ở trong mơ...

    DƯ THỊ DIỄM BUỒN
  9. Mùa Trung Thu năm đó
    Em còn nhớ không em?
    Mang giấy màu vào lớp
    Nhờ tôi xếp lồng đèn
    Mùa Trung Thu năm sau
    Tôi chờ nơi cuối phố
    Dẫn em dâng cộ đèn
    Trăng Trung Thu thật đẹp
    Ánh trăng thật dịu hiền
    Làm lòng tôi xao xuyến
    Không bằng đôi mắt em
    Rồi những mùa Thu qua
    Em vẫn chờ chốn đó
    Nơi hẹn hò năm xưa
    Sau Trung Thu tôi về
    Mưa giăng buồn khắp lối
    Tôi đứng ngoài hiên đợi
    Em mời tôi vào nhà
    Má ửng hồng hây hây
    Tay loay hoay chiếc nón
    Tâm hồn tôi say say
    Đã biết mình yêu em
    Mà không dám tỏ lời
    Vì yêu tôi phải đợi



    Khi nước nhà tan võ
    Tôi ở lại vào bưng
    Đi làm anh kháng chiến
    Yêu em yêu núi sông
    Nhớ đêm Thu trăng sao
    Em đến thăm lần cuối
    Tôi ngại chưa dám nói
    Sẽ yêu em suốt đời
    Em nhỏ tôi yêu ơi
    Trung Thu nầy phương xa
    Em còn nhớ quê nhà?
    Nhớ những mùa Thu trước
    Giờ nghìn trùng cách xa
    Bởi trời sinh tôi ra
    Mang thân làm lính chiến
    Xin thôi đừng lưu luyến
    Xin thôi hãy quên tôi
    Vì yêu, em phải đợi
    Tội em lắm em ơi!